HOLODOMOR: CUỘC ĐẠI CHẾT ĐÓI CỦA NGƯỜI DÂN UKRAINE DƯỚI BÀN TAY KHÁT MÁU STALIN

ĐHL 24/2/2022
Posted by GLN

JOSEPH STALIN VÀ CUỘC DIỆT CHỦNG NGƯỜI DÂN UKRAINE

https://cla.umn.edu/chgs/olocaust-genocide-education/resource-guides/holodomor
HOLODOMOR
(manmade famine = nạn đói do bàn tay con người dàn dựng)

Xác người dân Ukraine chết đói được mang đi thiêu 1932-33 dưới chế độ Stalin

Holodomor có nghĩa là NẠN ĐÓI VĨ ĐẠI (ĐẠI CHẾT ĐÓI)để chỉ một cuộc diệt chủng do Stalin hay đảng CS Sô Viết lên kế hoạch một cách cố ý (manmade famine) và thâm hiểm bằng cách giữ lại thực phẩm để hàng triệu người dân Ukraine phải chết đói oan khiên khi quốc gia họ bị đảng CS Liên Xô thống trị. Giáo sư Andrea Graziosi thuộc đại học Naples nước Ý Đại Lợi đã minh định như thế trong bài giảng về lịch sử.

UKRAINE TRƯỚC KHI BỊ LIÊN XÔ SÁT NHẬP LÀ AI?

                                         JOSEPH STALIN 

Bắt đầu thế kỷ thứ 18 đất nước Ukraine bị đế quốc Áo và đế quốc Nga phân chia. Sau Thế Chiến I và sau khi chế độ Nga Hoàng bị Lenin lật đổ vào năm 1917, Ukraine liền thành lập Chính Phủ Lâm Thời và tuyên bố thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Ukraine từng chiến đấu chống Hồng quân Bolshevik của Lenin trong 3 năm ròng rã từ 1918 cho đến 1921 nhưng bị Hồng Quân đánh bại và phần lớn đất nước Ukraine bị sát nhập vào lãnh thổ của Liên Xô tức là USSR vào năm 1922 Ukraine bị ép trở thành Cộng Hòa XHCN xô viết Ukraine (UkrSSR).

Liên xô dưới thời Lenin đã trưng dụng tất cả sản phẩm nông nghiệp dư thừa tại nông thôn dẫn đến nạn suy thoái kinh tế và bất mãn trong giới nông dân khiến Lenin mở ra chính sách KINH TẾ MỚI (New Economy Plan/ NEP) nới bàn tay sắt thống trị lên nông nghiệp tư nhân nhỏ và riêng lẻ hầu lấy lại sự ủng hộ của nông dân nhất và nông dân Ukraine.
Nhưng bắt đầu 1923 Liên Xô áp dụng phi dân tộc hóa để xóa tan phong trào Ukraine hóa của dân tộc Ukraine hầu phá đi phong trào dùng ngôn ngữ Ukraine trong văn hóa truyền thng cũng như kinh tế xã hội của Cộng Hòa XHCN Sô Viết Ukraine.

NẠN ĐÓI VĨ ĐẠI / HOLODOMOR

Trong lịch sử Ukraine, cuộc chống đối sự cai trị của Liên Xô rõ ràng là mối đe dọa với Sô Viết. Lenin từng lo ngại người dân Ukraine phản đối sẽ ly khai khỏi Sô Viết do đó ông ta đã ra chính sách ép đặt CHỈ TIÊU thu mua ngũ cốc cao hơn và nhiều hơn một cách phi thực tế ngoài khả năng.

Người Ukraine chen lấn đổi tất cả của cải giá trị nào hòng lấy cái ăn nhằm khỏi chết đói (hình lịch sử)

Song song với chỉ tiêu phi lý đó Lenin đã áp dụng các biện pháp hà khắc khác nhằm xóa đi một phần lãnh thổ Ukraine. Ví dụ vào tháng 8/1932 Lenin ra sắc lệnh “5 Nhành Lúa/ Five Stalks” quy định rằng bất kỳ ai dù là trẻ con nếu lấy đi dù chỉ một nhành lúa của cánh đồng hợp tác đều bị bỏ tù vào tội “TRỘM CẮP TÀI SẢN XHCN”. Tính ngang đầu năm 1933 đã có 54,645 người Ukraine bị kết án và 2000 người bị hành quyết một cách dã man.

Thu giữ nông phẩm nhiều như thế ngoài cả sức sản xuất của người Ukraine, đưa đến tình trạng người Ukraine phải từ bỏ nông thôn ra đi ngoài Ukraine kiếm sống.  Sau khi Lenin chết đi (1922) các chỉ thị của Stalin và người cộng sự đắc lực của y là Molotov đưa ra vào tháng Giêng 1933 ngăn cấm người Ukraine bỏ đi và phong tỏa gắt gao biên giới Ukraine. Thâm hiểm hơn, Stalin cho phát hành một hệ thống hộ chiếu trong nước nhằm hạn chế sự đi lại của nông dân Ukraine, không thể nào lên thành phố hay đi đó đây, không hề có được một vé tàu ngoại trừ trường hợp đặc biệt.

Vào thời Nạn Đói Vĩ Đại đó 1/3 số làng mạc của Ukraine bị vào “sổ đen” của Stalin do không đạt được “chỉ tiêu” mà Stalin đề ra. Những ngôi làng này bị quân đội Stalin bao vây và người dân Ukraine này bị phong tỏa hoàn toàn không được rời và cũng không có một nguồn cung cấp nào. Đây là một BẢN ÁN TỬ HÌNH TẬP THỂ do bàn tay sắt độc ác của Stalin và đảng CS Sô Viết đề ra. Các toán mật thám của Stalin được phái đến từng nhà tại vùng nông thôn của Ukraine bị ghi sổ đen đó. Bọn mật vụ Stalin khám xét từng nhà, từng chuồng lợn, không sót một mảy may. Bọn mật thám Stalin còn đào tường khoét bếp xem người Ukraine còn cất dấu thức ăn ở đâu chăng?

       Người Ukraine chết đói lang thang dưới chế độ Sô Viết 

Người Ukraine chết đói vất vưởng 

A crowd gathers around a man who has fallen, dead on the streets. Ukraine, USSR. 1933

Để thoát chết đói người Ukraine ăn tất cả những gì họ ăn được, từ cỏ, quả sồi … thậm chí chó mèo. Theo các tài liệu còn lại của mật thám Sô Viết ghi lại về nỗi thống khổ và tuyệt vọng của người Ukraine đã đến đường cùng. Họ chặt chém, ăn thịt đồng loại… nạn đói khủng khiếp đó được ghi chứng tích qua nhiều ngôi mồ tập thể đào lên từ vùng nông thôn Ukraine sau này.


      Con nít Ukraine tranh nhau moi đất hòng kiếm ra củ khoai tây nào còn sót lại (lịch sử chết đói Ukraine)

      Du kích CS gác kho thóc sẽ bắn những ai vào trộm 

Thời đỉnh cao của cuộc Đại Chết Đói này là vào tháng 6/ 1933 người Ukraine đã chết đến28,000 người một ngày. Có khoảng 3,9 triệu nạn nhân Ukraine đã chết đói dưới bàn tay khát máu của tên đồ tể Stalin bậc thầy của Putin người đang thi hành chính sách xâm lược Ukraine một lần nữa trong thế kỷ 21 hôm nay.

From: Đo Tan Hung & KimBang Nguyen

Xem thêm:

Ukraine: Mồ chôn tập thể lớn nhất từ thời Stalin và Nạn đói Holodomor (BBC)

Biên giới Canada – Hoa Kỳ

Mai Thanh Mai

Biên giới Canada – Hoa Kỳ dài gần 9000km kéo dài từ Thái Bình Dương sang Đại Tây Dương là đường biên giới dài nhất trên thế giới giữa hai quốc gia. Đây cũng là đường biên giới yên bình nhất, đường biên giới này không hề có biên phòng vũ trang cũng chẳng có cột mốc hàng rào thép gai loa phóng thanh gì cả.

Đường biên giới này đi qua các rừng cây, lúc này đường biên rộng 6m không có cây mọc, mỗi bên Mỹ và Canada tự trả kinh phí phụ trách 3m cắt cây để lộ một đường thẳng xuyên rừng.

Đường biên này đi qua cả sông hồ thác nước, nước thì không kẻ được, Mỹ và Canada kệ nó.

Đường biên đi qua cả các con phố, các thị trấn làng mạc, con phố… lúc này đường biên là các vạch kẻ sơn.

Đường biên đi qua cả những ngôi nhà, đất đai họ sở hữu tư nhân, nhà họ nằm giữa hai quốc gia kệ họ, không ai vào được. Có anh chị chủ sở hữu căn nhà có đường biên đi qua, một lần anh chủ nhà người Mỹ đứng trong nhà và đi ra ban công, nhưng ban công anh lại thò sang đất Canada. Khi đó tình cờ có sĩ quan Canada đi qua, anh sĩ quan dừng lại đứng dưới phố nhìn lên ban công và nói :

“ Chào mừng đến với Canada, chúc quý khách có một chuyến đi vui vẻ “
Đường biên giới này đi qua cả những thư viện, họ kẻ vạch khắp sàn nhà thư viện và để người dân hai nước tự  do ra vào thư viện và đọc sách miễn phí.

Đường biên này đi qua cả các quán bar, thông thường mọi người vào quán bar có kẻ vạch biên giới. Lúc mới vào, người Mỹ ngồi một bên, người Canada ngồi bên phần đất của họ, đến lúc riệu say rồi thì hai bên bắt đầu vượt biên và nhẩy múa.

Biên giới Mỹ- Canada, đường biên giới nhiều cảm xúc nhất, yên bình nhất và là đường biên nhiều du khách muốn khám phá nhất.

Mai Thanh Mai

From: Do Tan Hung & KimBang Nguyen

Việt Nam có nhiều “sứ mạng cao cả” thật

Việt Nam có nhiều “sứ mạng cao cả” thật. Từ cà phê của “qua” đến điện thoại thông minh của “Quảng nổ” và giờ là xe hơi điện của anh Vượng.
 
Nhưng cái sứ mạng cao cả nhất là của đảng cộng sản Việt Nam: dẫn dắt dân tộc này đến thiên đường XHCN.
 
Tuy nhiên, gần nửa thế kỷ rồi mà vẫn phải dựa vào bọn tư bản giẫy chết để tồn tại thì cái sứ mạng ấy chắc chắn cũng chỉ là hàng dỏm và “thùng rỗng kêu to” như cái điện thoại thông minh hay chiếc xe hơi điện VinFast mà thôi!

NGHỆ SĨ NHÂN DÂN VÀ TIẾN SĨ CÃI NHAU

Thu Vu

NGHỆ SĨ NHÂN DÂN VÀ TIẾN SĨ CÃI NHAU

Nghệ sĩ nhân dân do Bộ Văn trao danh hiệu. Tiến sĩ do Bộ Dục cấp bằng. Việc đề xuất Nghệ sĩ nhân dân tương đương Tiến sĩ bị Bộ Dục phản bác.

Cuộc nhậu tối nay, Nghệ sĩ nhân dân và Tiến sĩ cãi nhau dữ dội. Tiến sĩ ực nửa chừng ly rượu thì huỵch toẹt luôn:

– Mày chỉ giỏi hát hò ồn ào, mà từ khi có karaoke thì ai cũng hát được, cả đời học được mấy chữ mà đòi trình độ tương đương như là Tiến sĩ?

Nghệ sĩ Nhân dân nhổ toẹt ngụm rượu xuống đất, phang lại luôn:

– Gớm ỉa. Báo nói có người mới học xong lớp ba cũng làm được Tiến sĩ kia!

Xem chừng căng. Một người vội can:

– Đừng cãi nữa. Thời buổi này mà đem so sánh trình độ của Nghệ sĩ nhân dân với trình độ Tiến sĩ thì quá khó, chẳng có căn cứ nào.

Một người khác chen vào:

– Có một căn cứ khả dĩ. Mỗi người hãy uống hết một chai rồi tự khai thật xem. Danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân tốn bao nhiêu? Bằng Tiến sĩ tốn bao nhiêu? Cứ lấy tiền ra đo thì biết ai danh giá hơn ai!

Mọi người khen có lý, có lý…

Vậy là Nghệ sĩ nhân dân và Tiến sĩ thi nhau nốc hết chai. Và anh nào cũng tự đội giá lên đến mấy trăm triệu để chứng minh rằng, danh hiệu của người này danh giá hơn cái bằng của người kia. Tiến sĩ đưa ra mức giá 100 triệu thì Nghệ sĩ nhân dân gác lên giá 200 triệu. Tiến sĩ đưa ra mức giá 200 triệu thì Nghệ sĩ nhân dân gác lên 400 triệu. Đến khi Tiến sĩ đưa ra giá 500 triệu thì bị Nghệ sĩ nhân dân mắng:

– Dừng lại đi. Ông có tính đi tính lại, cộng gian mấy trăm lần phong bì cũng khó có cái giá 500 triệu hoặc hơn nữa để theo chúng tôi. Trừ quan chức ra, chúng tôi không theo được. Lương viên chức của ông bao nhiêu mà có số tiền ấy để bỏ phong bì? Nhưng đối với nghệ sĩ chúng tôi thì chỉ một vài đêm hát ở phòng trà, chứ chưa nói nhà hát lớn, đã có thừa số tiền ấy để lấy danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân. Nói vậy thôi là đã đủ biết ai danh giá hơn ai. Hiểu chưa?

Tôi khen, rằng trong hội chứng nổ hiện nay, cái sự nổ của hai anh lộ ra nhiều sự thật và rất có ý nghĩa, đáng ghi nhận…

Chu Mộng Long

14.000 đô la – Bình luận của Trần Mai (RFA)

RFA

Bình luận của Trần Mai

2023.03.04

L.T.T.L tại một phiên toà ở Nhật

Hiệp hội chung sống với người nước ngoài (Nhật Bản) cung cấp

14.000 đô la Mỹ, khoảng trên 300.000 triệu đồng Việt Nam. Đây là khoản nợ mà L.T.T.L phải gánh để trả cho công ty môi giới, đổi lấy việc cô được sang Nhật làm việc theo dạng thực tập sinh kỹ thuật, hay còn gọi là tu nghiệp sinh kỹ năng. Cả hai tên gọi đều là uyển ngữ của xuất khẩu lao động tay nghề thấp.

Hai triệu đồng-năm triệu đồng để sống tại Nhật

18 tuổi, L. bắt đầu làm việc trong một trang trại trồng quýt ở miền Nam Nhật Bản vào tháng 8.2018. Cô kiếm được 1.400 USD/tháng (150.000 yên, tương đương hơn 31 triệu đồng), nhưng gửi về nhà hầu hết số này để trả nợ và phụ giúp gia đình. Cô gửi đến 1.100 USD-1.200 USD (120.000 yên-130.000 yên) mỗi tháng, chỉ còn giữ 100 USD-200 USD (20.000 yên-30.000 yên), tức khoảng hơn hai triệu đến gần năm triệu đồng để chi phí cho cuộc sống của bản thân tại Nhật.

Mức sống của L. được đánh giá là “vô cùng khó khăn” (theo  một tờ báo Nhật).

Trung bình chi phí ăn uống, đi lại, thuê nhà… tối thiểu của thực tập sinh kỹ thuật như L., tại các vùng xa xa, có vật giá tương đối thấp hơn thủ đô Tokyo hay tỉnh Chiba… vào khoảng 50.000 yên-60.000 yên/tháng.

Một cô gái vừa mới chạm ngưỡng cửa trưởng thành, vẫn còn trong tuổi đang lớn, nhưng phải gần như tuyệt đối bóp mồm bóp miệng, nhịn ăn nhịn tiêu để chi phí hàng tháng giảm xuống chỉ còn một nửa hoặc hơn 1/3 đôi chút. Mức sống này còn eo hẹp hơn ở Việt Nam.

Nhưng nếu hàng tháng không gửi đủ tiền về, số nợ gia đình L. đã lo cho cô đi Nhật sẽ tăng lãi suất, khiến tổng số tiền phải trả nhiều hơn. Đồng nghĩa với việc sau khi kết thúc mấy năm lao động, L. sẽ dành dụm được ít tiền hơn để mang về Việt Nam làm vốn làm ăn.

Hoặc, như thường diễn ra-sau khi trả hết nợ, gia đình cô sẽ xây, sửa lại nhà cửa-nhà cửa của những người dân Việt Nam nghèo vùng nông thôn thường hết sức tạm bợ ọp ẹp. Xây nhà mới đồng nghĩa với việc mua sắm hoặc thay mới các phương tiện gia dụng khá đắt tiền, với những thứ được chọn lựa đầu tiên là xe máy-tivi-tủ lạnh-máy giặt-bếp ga… Tiếp theo là mua sắm nông cụ, nếu nhà làm nông. Mua thêm đất đai. Tiếp theo nữa có thể là dùng vốn để mở cửa hàng tạp hóa hay buôn bán nông sản, phân bón thuốc trừ sâu…v.v và từ giã nghề làm ruộng. Gia đình nào có con trai thì khi có tiền sẽ nuôi con tiếp tục đi học đến bậc đại học hoặc học nghề.

Đó là cả một quá trình đổi đời lâu dài của toàn bộ người trong gia đình, có thể tính bằng chục năm. Tất cả quá trình đó phụ thuộc, trông đợi vào đồng tiền mà đứa con đang lao động ở nước ngoài gửi về.

Một gánh gia đình

Tại nhiều vùng làm nông nghiệp miền Bắc và miền Trung Việt Nam, xuất khẩu lao động đem về nhiều tiền cho quê hương đến nỗi nó được chính quyền xác định là một trong những thế mạnh kinh tế. Huyện Yên Thành (tỉnh Nghệ An) có hơn 15.000 lao động đang làm việc ở nước ngoài, hàng năm gửi về trên 200 triệu USD, tức khoảng gần 5.000 tỷ đồng. Số tiền này gấp 13 lần tổng thu ngân sách toàn huyện (khoảng 380 tỷ đồng vào năm 2020).

Nguồn ngoại tệ mạnh do những người con lao động xa xứ gửi về để xây nhà cửa đã khiến bộ mặt làng xóm thay đổi toàn diện. Xã Đô Thành ở huyện Yên Thành nằm gần núi, trước kia dân chỉ sống bám vào cây lúa, rất khó khăn, nhưng sau nhiều năm ồ ạt đi lao động nước ngoài thì giờ đã thành “làng tỷ phú” xứ Nghệ. Làng có hơn 4.000 hộ thì ¾ có nhà cao tầng hoặc biệt thự. Người lớn tuổi không phải làm ruộng nữa, hầu hết chỉ ở nhà chăm cháu nếu bố mẹ chúng đều đi lao động nước ngoài.  Hầu như mỗi gia đình đều có người đi lao động nước ngoài, có những nhà đi 3-5 người, cả con trai, con gái, rể, dâu. Đó là những tấm gương sáng rực động viên và cổ vũ cho những gia đình khác.

Năm 2020, thu nhập bình quân của nông dân Việt Nam là 43 triệu đồng/năm, tương đương khoảng 3,5 triệu đồng/tháng (con số từ Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

18 tuổi, vẫn chỉ là đi làm nông nhưng L.T.T.L nhận được 1.400 USD/tháng tiền công. Theo tỷ giá USD trung bình là khoảng 31 triệu-33 triệu đồng. Nghĩa là gấp bảy tám lần 10 lần thu nhập bình quân nông dân ở Việt Nam. Nếu vẫn còn ở nhà, L. và gia đình có nằm mơ cũng không thể có.

Chính vì thế, tuy phải thế chấp nhà đất vay ngân hàng cộng với vay nợ bà con họ hàng, thậm chí vay lãi nặng thêm để có đủ ba bốn trăm triệu cho một suất “đi đơn hàng” tại những nước có thu nhập cao, yêu cầu về nhân công tay nghề thấp như Nhật, thì hầu như mọi gia đình đều sẵn lòng.

Lời xin lỗi nghẹn ngào vì “đường đi nước ngoài không thành”

Cuối năm 2019, thảm kịch 39 người Việt Nam chết trong thùng một chiếc xe tải đông lạnh ở Anh đã gây chấn động thế giới. Trong số các nạn nhân có 10 thanh thiếu niên, hai em nhỏ nhất 15 tuổi, một em 17 tuổi, bốn em 18 tuổi và ba em 19 tuổi. Những người còn lại ở độ tuổi 20-35, người lớn nhất 44 tuổi-đều trong lứa tuổi lao động.

Chúng tôi đã cố gắng lần tìm thông tin và nói chuyện với người nhà của một số nạn nhân. Có những người đã ở vài nước Đông Âu vài năm, làm nhiều công việc chân tay khác nhau trước chuyến đi này. Vợ của một số người đàn ông cho chúng tôi biết ngôi nhà ở quê đã được xây khang trang nhờ tiền của những chuyến đi trước. Tuy nhiên, ở Đông Âu không có nhiều việc và nhiều tiền, chồng họ định đi lần này nốt vài năm, kiếm thêm tiền làm vốn về Việt Nam chuyển nghề rồi ở lại hẳn.

Nguyễn Thị Trà My, cô gái 18 tuổi quê ở Nghèn, thị trấn nhỏ thuộc huyện Can Lộc, Hà Tĩnh, trước khi chết vì ngạt thở trong container đã nghẹn ngào xin lỗi bố mẹ vì con đường đi nước ngoài không thành.

Bố mẹ Trà My đã chuyển cho người môi giới 40.000 USD-gấp 100 lần tổng thu nhập hàng tháng của cả gia đình ở Việt Nam, để đưa Trà My sang Anh. Trà My đặt chân đến được nước Anh một lần trước khi chui vào thùng chiếc container định mệnh. Lần đó cô từ Pháp sang Anh, nhưng bị cảnh sát Anh bắt và buộc phải quay trở lại Pháp. Ở Pháp vài hôm, cô lại tìm cách sang Anh và cuối cùng có mặt trong chiếc container.

Bùi Thị Nhung, cô gái 18 tuổi thứ hai, sang Anh bằng tiền vay mượn của bạn bè. Lê Văn Hà, 30 tuổi, gia đình đã thế chấp hai miếng đất để vay 25.000 USD trả cho người môi giới. Anh C.H.D, một vợ hai con, vay 400 triệu đồng; anh C.H.T, một vợ bốn con, cầm cố nhà đất, vay 500 triệu đồng… Tất cả đều đã nằm lại ở Essex, để lại cho gia đình khoản nợ cụ thể và nỗi đau vô hình, tất cả đều khổng lồ.

Nhưng ngay trong những đêm đau đớn đầu tiên, khi danh sách các nạn nhân vừa được phía Cảnh sát Anh đưa ra, ngay khi các lực lượng pháp luật của Anh và Việt Nam đang rốt ráo thắt chặt mọi hoạt động kiểm soát việc buôn người thì vài gia đình cùng làng với một số chàng trai đã chết, vẫn nhận được tin tức đầy vui mừng của con trai họ. Chúng cũng chỉ mới 18, 19 tuổi, chụp ảnh trên trang mạng Facebook thông báo đã đến Pháp và đang chờ sang Anh. Một hai ngày sau, một chàng trai up tấm ảnh chụp ở Anh lên Facebook, báo hiệu chuyến đi thành công mỹ mãn.

Bên dưới có hàng trăm lời chúc mừng của bạn bè, những người họ hàng lớn tuổi, hàng xóm, người quen… Nhiều người cho biết bản thân hoặc người thân của họ cũng sắp bước vào hành trình này và hy vọng cũng được thuận lợi như vậy.

Niềm vui được mô tả là “vỡ òa” này cân xứng với gánh nặng tài chính mà người đó có nghĩa vụ đáp lại với toàn thể gia đình, như trên đã kể. Đó là một trọng trách vô cùng nặng nề.

Chính vì thế khi biết mình sắp chết, điều đầu tiên cô gái Nguyễn Thị Trà My trăng trối với bố mẹ không  phải là nỗi kinh hoàng về cái chết đang đến, mà lại là lời xin lỗi. Xin lỗi vì khi cô chết, bố mẹ sẽ phải gánh một khoản nợ cực lớn trong khi tương lai đổi đời đã tắt ngấm.

Trong giờ lâm chung, cô gái nạn nhân trong thảm kịch gây ra bởi bọn buôn người lại tự lên án mình, cho rằng mình chính là thủ phạm cho sự nghèo khổ của cả gia đình.

Xót xa, tội nghiệp và phẫn nộ làm sao!

Cô đơn và quẫn bách trên đất Nhật

Cũng như thế, khi biết mình mang thai, L.T.T.L cực kỳ lo sợ. Trước khi sang Nhật, công ty môi giới cảnh báo các cô gái rằng nếu mang thai, họ sẽ bị đưa về nước. Bị trả về nước nghĩa là chôn vùi hy vọng đổi đời cho chính các cô gái và cho cả gia đình, và món nợ gia đình đã vay sẽ trở thành khổng lồ, không thể trả nổi. Hơn thế, họ sẽ bị nhiều người khác chê cười và lên án là chỉ vì ham yêu đương, “đú đởn” mà đẩy cả gia đình vào bần cùng. Đó chính là tội đồ. Chính bản thân những cô gái cũng sẽ tự giày vò và không tha thứ cho mình vì việc ấy. Tuy đã ở thế kỷ 21 nhưng ở một số làng quê, cái tiếng con gái chưa chồng mà chửa, lại vì chửa mà bị đuổi về nước, chính là điều tiếng nhục nhã cho cả dòng họ.

Với vốn tiếng Nhật ít ỏi, L. không hề biết rằng chính phủ Nhật bảo đảm cho lao động nữ nước ngoài quyền được nghỉ thai sản và chăm sóc con cái như những đồng nghiệp Nhật Bản.

Nhưng trên thực tế, các doanh nghiệp trong các lĩnh vực thiếu lao động bao gồm nông nghiệp và ngư nghiệp yêu cầu các “thực tập sinh” làm việc liên tục trong thời gian hợp đồng (01-3 năm). Nếu nghỉ thai sản nghĩa là không thể làm việc, cũng có nghĩa là phá vỡ hợp đồng.

Nếu ở Việt Nam, L. có thể xưng một cái tên giả, được người yêu hoặc bạn thân đưa đến bất cứ bệnh viện nào có dịch vụ chấm dứt thai kỳ. Nhưng ở Nhật, do chế độ khuyến khích sinh sản nên việc phá thai đi kèm những điều kiện rất khắt khe mà người vi phạm có thể bị đi tù. Tùy vào bệnh viện và tình trạng thai nhi, chi phí phá thai thường dao động từ 80.000 yên đến 200.000-300.000 yên, tương đương 14 triệu đồng-hơn 50 triệu đồng/lần. Nếu tính thêm chi phí khám ban đầu như thử máu, thử nước tiểu, chụp phim… thì tổng chi phí tăng thêm từ 10.000 yên đến 20.000 yên nữa. Tức khoảng 16 triệu đồng đến 56 triệu đồng.

Một cô gái chỉ dám dành cho bản thân tối đa năm triệu đồng trên tổng số 31-33 triệu đồng kiếm được mỗi tháng, làm sao dám bỏ ra khoản tiền lớn đến thế để chấm dứt thai kỳ? Chưa kể, nếu em dám thì với sự thiếu hụt số tiền lớn đến vậy, L. sẽ rất khó giải thích khi gia đình hỏi han, thắc mắc.

Em cũng không dám hỏi ai vì sợ lộ chuyện.

Hoang mang và cô độc, L. chọn cách làm quen thuộc nhất với những người ở tuổi cô ở vùng quê Việt Nam: lên mạng mua thuốc phá thai và uống.

Thuốc phá thai mua trên mạng không giúp được L. Cái thai vẫn phát triển. Cô bó bụng và vẫn đi làm bình thường.

Giữa tháng 11/2020, L. sinh non khi chỉ có một mình tại phòng ở Ký túc xá. Cô sinh đôi và tự cắt dây rốn cho con, nhưng cả hai bé trai đều đã chết khi rời bụng mẹ. L. quấn thi thể hai con bằng chăn, đặt chúng vào hai lần hộp carton, viết một bức thư trong đó cô xin lỗi hai con, viết rõ tên họ của chúng, và cầu mong hai đứa bé sớm về nơi an lạc-như phong tục của người Việt Nam. Bức thư nhòe nước mắt chấm dứt bằng câu niệm “Nam mô a di đà Phật”. Câu niệm này người Việt theo đạo Phật thường đọc lên khi cần có sự bằng an trong lòng, cũng là câu niệm để tiễn chân người qua đời được bằng an trong lòng từ bi của Phật. Cô đặt hai chiếc hộp đã được dán băng keo kín lên chiếc giá bằng mây ở gần cửa phòng.

Ngày hôm sau, L. đến bệnh viện và kể với một bác sĩ về tình trạng của cô, để xin lời tư vấn.

Vị bác sĩ này sau khi nghe câu chuyện đã tố cáo cô với cảnh sát. L. bị bắt giữ về tội Từ bỏ thi thể. Tại phiên tòa đầu tiên, các công tố viên cho rằng cô đã có ý định vứt bỏ thi thể hai đứa bé để che giấu việc mang thai. L. bị kết án tám tháng tù treo, thử thách trong vòng ba năm.

Tại phiên tòa thứ hai vào ngày 21/01/2022, sau khi nhóm luật sư của L. viện dẫn tình cảnh cô đơn và quẫn bách của cô, L. được giảm án còn ba tháng tù treo, thử thách trong hai năm.

Ảnh hộp đựng thi thể trước khi hỏa táng. Nguồn ảnh: Hiệp hội chung sống với người nước ngoài (Nhật Bản) cung cấp.

Sự cay nghiệt của đồng hương

L. và cả nhóm luật sư của cô tiếp tục kháng cáo vì cho rằng mình vô tội. Cô nói việc đặt thi thể hai bé sinh đôi trong hộp là để chờ sau khi cô hồi phục sức khỏe sẽ chôn cất chúng chứ không có ý định vứt bỏ.

Tình cảnh của L. là câu chuyện đau buồn về một mặt tối trong hiện trạng nữ lao động nước ngoài tại Nhật. Bất chấp những hình ảnh lung linh về một nước Nhật tình nghĩa  và hy sinh cho nhau, bất chấp luật pháp của nước Nhật, những lao động nữ như L., biết tiếng Nhật ít, khả năng tìm hiểu văn hóa, pháp luật, gần như không có chỗ dựa tinh thần và luật pháp tại nước sở tại… đều bị nhiều chủ doanh nghiệp và các công ty môi giới xem là một cỗ máy lao động, chứ không hoàn toàn là một con người.

Đáng buồn là trong khi có những luật sư và người ủng hộ Nhật Bản rất nhiệt tình giúp đỡ và lên tiếng tìm sự đồng cảm cho L. thì ngay tại tổ quốc của cô, L. lại phải hứng chịu nhiều cuộc bạo hành tinh thần trên mạng. Hầu hết bình luận của những người cũng là tu nghiệp sinh kỹ thuật như L. đều chửi bới và lên án cô vì hành vi phá thai. Tuy cùng hoàn cảnh đi lao động xa xứ để giúp đỡ gia đình nhưng nhiều bình luận rất cay nghiệt, mà lý lẽ trong đó không khác gì lập luận của các công ty môi giới hoặc các chủ doanh nghiệp đã đề cập ở trên.

Sự nghèo khó có thể tha hóa con người đến như thế, đến nỗi bản thân những người trong cuộc cũng cho rằng tốt nhất họ nên là một cỗ máy, ít nhất trong ba năm “đi đơn” ở Nhật, chứ đừng là con người.

_____________

Tham khảo:

https://vnexpress.net/nhat-ket-an-thuc-tap-sinh-viet-voi-cao-buoc-vut-xac-con-4419036.html

https://vietnamnet.vn/lang-ty-phu-nho-xuat-khau-lao-dong-778841.html

https://yenthanh.nghean.gov.vn/kinh-te-xa-hoi-63073/yen-thanh-tong-ket-nganh-nong-nghiep-va-ptnt-nganh-tai-nguyen-moi-truong-484991

YÊU THƯƠNG KẺ THÙ

Kẻ Đi Tìm

Sau hơn 50 ngày bị bắt làm con tin và bị sút gần 20 ký vì sống trong thiếu thốn vật chất cũng như tinh thần, một nhà truyền giáo nọ đã bình tĩnh trả lời câu hỏi của các phóng viên về những gì mình đang suy tính trong lòng: “Tôi vẫn yêu mến đất nước và dân tộc đó, như ngày tôi mới đến truyền giáo cách đây 40 năm. Tôi đã tha thứ cho những kẻ bắt giữ và hành hạ tôi. Tôi muốn nói với họ rằng tôi không có gì thù ghét họ, nhưng vẫn yêu thương và sẵn sàng trở lại đó làm việc mục vụ”.

Những lời dạy của Chúa Giêsu mà Giáo Hội cho chúng ta lắng nghe hôm nay, cũng không mập mờ, không nhượng bộ hay chiều theo khuynh hướng tự nhiên của con người muốn giới hạn tình yêu của mình đối với tha nhân.

“Hãy yêu mến anh em mình”, mệnh lệnh này được ghi rõ trong sách Lêvi 19,18. Những “anh em” được nhắc đến ở đây chỉ những kẻ thân thuộc, đồng hương, thuộc về dân riêng của Chúa. Còn câu: “Hãy ghét kẻ thù địch” thì chúng ta không gặp thấy công thức nào tương tự như vậy trong Kinh Thánh. Những lời này có thể hiểu như một diễn tả tự nhiên của tâm lý thường tình nơi con người, một hậu quả của tình yêu thương có giới hạn trong khung cảnh những kẻ thân thuộc, những người thuộc về cùng một dân tộc, một xã hội. Theo tâm thức hạn hẹp của Cựu Ước, bất cứ ai không thuộc về Dân Chúa chọn, thì người đó là kẻ xa lạn, là kẻ thù địch, không được yêu thương.

Chúa Giêsu đã đến để mạc khải sứ điệp trọn hảo hơn, bẻ gẫy những giới hạn tự nhiên: “Còn Thầy, Thầy bảo các con: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi các con”. Chúng ta chú ý đến hai chi tiết trong lời dạy của Chúa Giêsu: thứ nhất: không còn ai bị loại ra khỏi tình yêu thương của người môn đệ Chúa và sự phân chia con người ra làm hai loại: thân thuộc và thù địch không còn nữa. Thứ hai: Tình yêu thương đó được thể hiện bằng những hành động cụ thể, và quan trọng nhất, đó là thi ân và cầu nguyện cho những kẻ không tự nhiên được chúng ta yêu thương, và đây không còn là tình yêu thương theo tình cảm, mà là tình yêu thương thực sự hướng đến lợi ích của người khác.

Nguồn: Giáo xứ Ba Thôn

BỨC ẢNH ĐẸP NHẤT CỦA SỰ CHẤP NHẬN…

Hình ảnh này được coi là một trong những bức ảnh đẹp nhất trong 10 năm qua, vì nó khiến người chụp rơi vào trạng thái….trầm cảm.

Câu chuyện xảy ra:

2 con báo cheetah này đã tấn công con linh dương vào lúc nó đang chơi đùa với con nhỏ.

Và thực tế là con linh dương có cơ hội trốn thoát. Khoảng cách và lối thoát cho mạng sống là có lợi cho bản thân nó. Nhưng nó quyết định đầu hàng 2 con báo hoa mai theo cách này.

Tại sao???

Để cho những đứa con nhỏ của nó có cơ hội trốn thoát … Bởi vì nếu nó rời đi trước, sẽ không có thời gian cho những đứa con nhỏ của nó trốn thoát.
Hình ảnh này là khoảnh khắc cuối cùng của linh dương mẹ, với cổ họng rơi vào hàm 2 con báo cheetah, khi nó nhìn lại để đảm bảo những đứa con nhỏ của mình thoát ra ngoài an toàn trước khi nó bị nuốt chửng.

Mẹ là người duy nhất trên thế giới này có thể hy sinh cuộc sống của mình cho bạn một cách vô hạn.

(Cang Huỳnh lược dịch từ Nature Merveilleuse)

From: Do Tan Hung & KimBằng Nguyễn 

NGƯỜI VIỆT, NGƯỜI TÀU VÀ CON ẾCH (CHRIS PHAN)

(CHRIS PHAN)

MƯA LÂU THẤM ĐẤT

Năm 1996, Daniel Quinn viết cuốn sách có tên là Truyện của B (The Story of B) nói về lịch sử nhân loại trong đó ông dành riêng một chương để viết về con ếch, với những dòng như sau:

Nếu ta bỏ một con ếch vào một nồi nước sôi, thì con ếch sẽ dẫy dụa và nhẩy ngay ra khỏi nồi nước. Nhưng nếu ta bỏ ếch vào nồi nước lạnh, để ếch nằm trong đó, rồi từ từ nâng nhiệt độ lên, thì ếch ngồi trong đó thoải mái cho đến khi bị luộc chín lúc nào không biết.

Olivier Clerc năm 2005 cũng viết một bài ngắn có tên hơi dài là «Con ếch không biết mình đang bị luộc….và những bài học khác ở đời», được Michel Debaig và Luis Maria Huette phổ biến dưới tiêu đề Sự Nghịch Lý của con ếch.

Sau này, để cảnh tỉnh nhân loại trước nguy cơ trái đất đang bị hâm nóng từ từ, cựu phó TT HK là ông Algore có thực hiện một cuốn phim gọi là Sự Thực Mất Lòng cũng khai thác đề tài này.

Câu chuyện bắt nguồn từ một tài liệu xuất hiện năm 1897 ghi lại một cuộc thí nghiệm tại Institut John-Hopkins năm 1982: Một con ếch bị bỏ trong một nồi nước lạnh, sau đó người ta nâng nhiệt độ lên một cách rất chậm, chỉ 0,002 độ C mỗi giây. Sau 2 giờ 30 phút, con ếch bị luộc chín mà không nhúc nhích gì.
Câu chuyện lý thú nói trên khiến người ta liên tưởng đến hoàn cảnh nước Việt Nam ta, với tà quyền CS trong nước, và khối người Việt Hải Ngoại.

Vào đầu thập niên 1980, những người Việt định cư tại nước ngoài căm thù CS đến thâm gan, tím cật. Ai nói đến CS, là người ta chống đối mãnh liệt. Rồi ngày tháng qua đi, CS thì vẫn thi hành một chính sách độc tài, độc đảng như cũ, vẫn hà hiếp, bóc lột người trong nước như xưa, nhưng người tỵ nạn thì không phải tiếp xúc trực tiếp với những cán bộ ác ôn hàng ngày. Mối hận thù cũng không thể quên, nhưng cường độ một ngày một giảm đi. Hơn nữa, sau một thời gian dài cần cù làm ăn, người tỵ nạn đã có của ăn, của để, họ nghĩ đến việc trở về cố hương, để trước là thăm nơi quê cha đất tổ, nhưng cũng có phần để lên mặt với đời.

Mới đầu, số người về rất ít, sau càng ngày càng nhiều, nhất là vào các dịp Tết,

Rồi Ông Nguyễn Cao Kỳ, Rồi ông Phạm Duy, rồi các ca sỹ nổi tiếng như Khánh Ly, Lệ Thu, Elvis Phương, gia đình Tuấn Ngọc, Khánh Hà..v..v.., ngày nào lếch thếch nơi Mã Lai. Hồng Kông, hay Thái Lan, Nam Dương, trong các trại tỵ nạn, nay áo quần diêm dúa, môi son đỏ choét, về lại cố hương, để có được «hạnh phúc hát trước đồng bào», làm như lòng yêu nước của họ to hơn số đô la chứa trong các phong bì mà họ nhận được sau những buổi trình diễn cuối đời.

Ngày nào, khi Đàm Vĩnh Hưng qua hát, người ta bảo nhau đi phản đối, tay cầm cờ vàng, miệng hô đả đảo. Ngày nay, Nguyễn Thanh Sơn, người quan trọng gấp mấy lần Đàm Vĩnh Hưng, đi Mỹ, đi Canada, chẳng ai thèm đặt vấn đề, lại còn bắt tay, phỏng vấn xỳ xèo.

Việc này, thực đâu có gì lạ, mà phải la làng, chỉ là một trong muôn ngàn thí dụ của «boiling frog syndrome»@

Trung Hoa là một nước láng giềng của Việt Nam. Anh chàng láng giềng này lúc nào cũng muốn nuốt chửng Việt Nam. Để thực hiện mưu đồ này, họ dùng 2 chiến thuật:

– Chiến thuật «tầm ăn dâu»: Từng bước, từng bước lấy của VN những tấc đất, những vùng biển, như Hoàng Sa, Trường Sa, Nam Quan, đất đai vùng biên giới, việc này gây ra sự chống đối mãnh liệt, nhưng ít quan trọng hơn so với chiến thuật thứ hai.

– Chiến thuật «luộc ếch»: Thâm độc hơn nhiều: Lập công ty Trung Hoa khai thác các tài nguyên thiên nhiên, di dân , lấy vợ, đẻ con, xây chùa chiền theo kiểu Tầu, viết chữ Tầu trên các mặt tiền và trong các chỗ thờ phương, các bảng hiệu, lập các làng Tầu trên đất Việt…v.v. Ngày một, ngày hai, người Việt sẽ thấy người Tầu, văn hóa Tầu, cách sống Tầu, quá thân thuộc với mình. Khi ấy, thì Việt Nam có thành một ngôi sao trên lá cờ Tầu, cũng chẳng có gì quan trọng.

Nghĩ đi, nghĩ lại, người Việt, và các con ếch, có gì khác nhau đâu?

(CHRIS PHAN)

Khoảng Cách Xa Nhất là Gì?

XA NHẤT…

Trong cuộc đời, khoảng cách xa nhất không phải là sống và chết, mà là sống gần nhau mà không hiểu nhau.

Khoảng cách xa nhất là mến thương nhau nhưng lại không giữ được.

Khoảng cách xa nhất không phải là không giữ được tình thương mến, mà là tình mến thương không được đáp trả.

Khoảng cách xa nhất không phải là tình thương không được đáp trả, mà là đem trái tim giá lạnh của mình đối lại với người thương mình.

Người sống bên cạnh mình, trong cùng một nhà, một cộng đoàn mà không thể hiểu mình; sống bên cạnh nhau, mà không thể yêu mến nhau và yêu mến nhau nhưng lại không thể nói ra được… đó mới là xa.

“Xa” hay “gần” … khoảng cách ấy hệ tại việc con người có “hòa hợp” với nhau không? Không hòa hợp thì “gần trong gang tấc mà xa ngàn trùng” ấy thôi… Cũng vậy, trong tương giao với Thiên Chúa, việc đọc kinh, dự lễ sẽ là gần Chúa, nếu chúng ta hòa tâm hồn vào lời kinh và Thánh Lễ. Bằng không, việc ta đọc kinh dự lễ ấy chỉ là “lòng chúng thì xa ta” mà thôi.

NHƯNG ANH ĐÃ KHÔNG

Pham Mylan Những Câu Chuyện Thú Vị – Ncctv.net

Một gia đình Mỹ gồm hai vợ chồng và đứa con gái chung sống bên nhau . Khi cô con gái lên bốn thì người cha nhập ngũ và được đưa đến chiến trường Việt Nam. Người lính tử trận nên đã không trở về. Người mẹ ở vậy nuôi con đến năm 70 tuổi thì mất. Khi bà qua đời, cô con gái soạn lại đồ đạc của mẹ thì thấy bài thơ này trong quyển nhật ký . Đó là bài “ But you didn’t “ và tôi dịch sang tiếng Việt phía dưới . Được biết tên bà quả phụ đó là MERRILL GLASS .

Mời quí anh chị và các bạn cùng đọc bản tiếng Anh của Merrill Glass và bản tiếng Việt của Quan Dương

BUT YOU DIDN’T

Remember the day I borrowed your brand

new car and dented it?

I thought you’d kill me,

but you didn’t.

And remember the time I dragged you to the beach,

and you said it would rain, and it did?

I thought you’d say, “I told you so”

But you didn’t.

Do you remember the time I flirted with all

the guys to make you jealous, and you were?

I thought you’d leave

but you didn’t.

Do you remember the time I spilled strawberry pie

all over your car rug?

I thought you’d hit me,

but you didn’t.

And remember the time I forgot to tell you the dance

was formal and you showed up in jeans?

I thought you’d drop me

but you didn’t.

Yes, there were lots of things you didn’t do

But you put up with me, and loved me, and protected me

There were lots of things I wanted to make up to you

when you returned from Vietnam.

But you didn’t.

MERRILL GLASS

Bản dịch của Quan Dương

NHƯNG ANH ĐÃ KHÔNG

Còn nhớ ngày em mượn chiếc xe anh

Chiếc xe mới toanh bị em làm móp thủng

Em thầm nghĩ thế nào anh cũng

giết chết em . Nhưng anh đã không

Có một lần em kéo anh ra biển

Anh nói rằng trời sẽ đổ cơn mưa

và mưa thật . Em nghĩ rằng anh trách

” đã bảo mà “. Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em đả đớt với đàn ông

Em khiến anh ghen và anh ghen thật

Em đã nghĩ đang trong cơn ghen tức

anh chia tay em . Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em làm chiếc bánh dâu

đổ ụp xuống trên sàn xe tung toé

Em đã nghĩ thế nào anh cũng sẽ

đánh đòn em. Nhưng anh đã không

Còn nhớ lần em quên nói với anh

buổi khiêu vũ vô cùng trang trọng

anh xuất hiện chiếc quần jean lạc lõng

em sợ anh bỏ về. Nhưng anh đã không

Vâng có nhiều điều mà anh đã không

Nhưng anh trân quí yêu em và bảo vệ

Cũng có nhiều điều mà lòng em tự hứa

bù đắp anh khi trở lại từ Việt Nam

Em đợi anh về. Nhưng anh đã không

August 01/2019

Quan Dương

Sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc là lòng tử tế

Sự khác biệt giữa hai miền Nam-Bắc là lòng tử tế

Tác giả Nguyễn Văn Lục

“Bản chất của chế độ ngụy là xấu vậy mà không hiểu sao nó lại đào tạo con người giỏi thế. Ai cũng lịch sự. Cứ mở miệng ra là cám ơn với xin lỗi. Ngồi ở trong nhà, có ai đi ngoài đường chõ miệng hỏi cái gì mà mình trả lời xong, cắp đít đi thẳng, không thèm cám ơn một tiếng, thì không cần nhìn, mình cũng biết ngay đó là dân Bắc Kỳ”

(Nhận xét của nhà phê bình văn học Hoài Thanh, sau 1975, Hoài Thanh và vợ dọn vào Sài gòn ở theo lời kể lại của nhà phê bình Vương Trí Nhàn)

Phần Một – Miền Bắc: biểu tượng của hận thù

Miền Bắc, sau 1954, được gọi là Bức màn tre do những hoàn cảnh xã hội, chính trị khắc nghiệt, khép kín. Kinh tế sau 1975 kiệt quệ vì nhiều lý do chủ quan và khách quan. Sau này phải nêu khẩu hiệu xóa đói, giảm nghèo. Chính những nhà lãnh đạo miền Bắc cũng không ai nhìn nhận những lỗi lầm tầy trời này: Dân chúng trong Nam vốn dư ăn, dư mặc nay phải ăn bo bo, khoai mì như tầng lớp dân chúng miền Bắc. Do thông tin một chiều, họ che đậy, dấu kín riết rồi họ không hiểu chính họ, hoặc hiểu mà không chịu hiểu thì làm thế nào họ hiểu nếp sống, con người miền Nam được.

Học giả Nguyễn Mạnh Tường viết: “Aucune sentence n’est prononcée. Les communistes ont le gout de la clandestinité. Toutes les décisions sont prises et appliquées dans un silence de mort. » (Không có bản án nào được công bố. Cộng sản có sở thích lén lút. Tất cả các quyết định được đưa ra và thực hiện trong im lặng chết chóc.) (Nguyễn Mạnh Tường. Un Ex-Communié. Hà Nội 1954-1991. Procès d;un intellectuel, trang 229)

Sự tử tế của miền Bắc hầu như không thể có theo như nhận xét của của nhà phê bình kỳ cựu Hoài Thanh.

Hơn ai hết, ông HT đã hiểu rõ chân tướng của dân miền Bắc cũng như chính quyền ấy. Chính quyền cộng sản chủ trương phân biệt Bạn-Thù dứt khoát, chính tà phải phân minh vì chủ nghĩa Marx- Lénine là chân lý sáng ngời, tuyệt đối. Thù thì phải bôi đen, triệt tiêu và chỉ đáng được được gọi là Thằng.Đó là một nửa đất nước đã bị nhồi sọ, bị đầu độc từ trên xuống dưới trở thành quán tính.Tỉ như bác sĩ nhi khoa Nguyễn Khắc Viện, người đã để nửa đời người sống bên Pháp, một trí thức hàng đầu hiểu rõ văn hóa, hiểu rõ thế nào là tự do dân chủ của nước Pháp.

Vậy mà khi viết một bài so sánh Cách Mạng và dân Sàigòn đăng trên báo Nhân Dân đã ví von Cách mạng là Sen, dân Sàigòn chỉ là Bùn và ông NKV đã bị phản ứng dữ dội từ giới trí thức Sàigon. Nguyễn Trọng Văn lên tiếng trên báo Nhân Dân, nhưng bài của NTV dĩ nhiên đã không được báo Nhân Dân đăng..Điều đó trước tiên bày tỏ một lập trường rõ rệt giữa Bạn-Thù và hàm ý sự khinh miệt. Cách mạng tốt đẹp quá, thơm tho quá!! Cách mạng là SEN. Dân Sài gòn chỉ là bọn rác rưởi thối tha là đĩ hoặc điếm. Vì thế Dân Sài gòn chỉ là Bùn.Thật ra chính nhờ có Bùn mới có sen. Chính nhờ Bùn nuôi dưỡng, tạo ra hương thơm tinh khiết cho Sen. Không có Bùn làm sao Sen nở hoa. Chỉ nhắc nhở ông có bài thơ:

Trong đầm gì đẹp bằng sen.
Lá xanh bông trắng lại xen nhị vàng.
Nhị vàng bông trắng lá sen.
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn..

Nhưng đối với cá nhân ông bác sĩ, điều quan trọng là: Chế diễu như thế là đi đúng đường lối của chế độ.Tỉ như Đào Duy Anh, sau 1975, một học giả ăn mòn bát đĩa cộng sản, hiểu cộng sản từ chân tơ kẽ tóc, hiểu những mánh khóe tiểu xảo. Vậy mà khi vào miền Nam gặp các trí thức trong Nam, ông theo thói quen quán tính vẫn gọi xách mé: thằng Diệm. Nhiều người lảng tránh ông. Đào Duy Anh là tác giả tập ký: Nhớ nghĩ chiều hôm. Cuốn tập ký lược thuật các công trình biên khảo của ông viết trong nhiều năm. Trần Huy Liệu khuyên ông: muốn sống, muốn tồn tại thì liệu viết mà lách nữa. Ở đây, quả thực ông đã thuộc bài do trần Huy Liệu chỉ dẫn. Tội cho tiếng tăm một học giả. Viết mà sợ, viết mà phải lách vì sợ bị liệt vị, bị thổi còi !!!

Có thể đây chỉ là một sự lỡ miệng, theo thói quen. Như một Lapsus linguae. Nhưng nó cũng chỉ ra rằng gọi thằng Diệm là đúng đường lối.Cũng chả trách được họ. Ông Hồ, theo ông Nguyễn Minh Cần (1928-2016) kể lại trong những buổi họp đảng, có những đồng chi tuổi 80 vẫn bị gọi là các chú theo cái cách cá mè một lứa.Nghĩ lại, tôi vẫn thấy tiếc nuối cho thời kỳ vàng son nhân hậu của cha ông để lại như thời của vua Lý Thánh Tông, thời trước thuộc địa. Nhà tù không phải là công cụ để trừng phạt. Do chịu ảnh hưởng của Nho giáo, lấy cái tâm, cái đức làm đầu. Nhà vua có lòng thương người chỉ thị cho triều thần phải phát mền, chiếu và gạo cho tù nhân vào năm 1055:“Sống trong cung điện có lồng ấp than sưởi và mặc nhiều áo ấm, mà trẫm còn thấy lạnh. Trẫm hiểu nỗi khổ của người tù bị gông cùm, không đủ cơm ăn, không đủ áo mặc ấm để che thân thể, nhiều tù nhân chết một cách oan uổng trước khi bị luận tội. Trẫm thương cho họ.” (Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tập I. Hà Nội 1972, trg 284)

Phải nhìn nhận với nhau rằng: thật không dễ để làm người tử tế. Còn khó hơn làm người anh hùng. Bởi vì làm người anh hừng chỉ là việc của một thời. Còn làm người tử tế là việc của cả một đời. Đất nước chúng ta do thời chiến tranh 1946-1954 và nhất là 1955-1975 đã tự đánh mất đi cái lòng thương người, mất đi cái lòng tử tế .

Ngoài cuộc chiến quân sự bạo tàn mà mạng người như cỏ rác, còn có cuộc chiến tuyên truyền ra rả mỗi ngày, đề cao cuộc chiến giải phóng, cứu nước thần thánh. Nhiều nhà lãnh đạo miền Bắc còn để lại các hồi ức như:Trần Cung, Bùi Công Trừng, Hà Phú Hải, Văn Tiến Dũng, Xuân Thủy. Họ từng nếm trải cơm tù như Đỗ Mười 5 năm tù Hỏa Lò, sau trốn thoát được vào năm 1945. Nguyễn Văn Linh, hai lần ở Côn Đảo 1930-1935 rồi 1940-1945 và nhất là Hồ Chí Minh với “Nhật Ký trong tù “. Những bài học cay đắng trong tù, được tích lũy thành một mối Nuôi Thù. Nuôi Thù ấy đổ lên đầu nhân dân miền Nam vốn hiền lành và vô tư sau 1975.

Trong các hồi ký đó, sự thật là bao nhiêu? Pha chế thêm mắm muối bao nhiêu? Nào ai biết được. Chỉ người trong cuộc mới biết được.Ngoài ra, còn những người tù không thuộc phe cộng sản đáng kính nể đòi đời ghi ơn như Nguyễn Thái Học với Đời trong ngục, 1935 tiếp theo là những nhân sĩ như Hồ Hữu Tường, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đức Kế. Những người tù này được xã hội kính nể nhất trong xã hội Đông Dương. Ngô Đức Kế được tôn xưng là chí sĩ Ngô Đức Kế. Phan Chu Trinh được chính ông Trùm thuộc địa Marius Moutet kính nể. Huỳnh Thúc Kháng được một người thợ may biếu ttặng cụ một bộ đồ không tính tiền.(Đọc thêm: The Colonial Bastille. A history of Imprisonment in Viet Nam 1862- 1940)

Về phía những người lãnh đạo cộng sản sau này như Đỗ Mười, Xuân Thủy, Nguyễn Văn Linh, Văn Tiến Dũng đều là những người nếm trải cơm tù. Chứng chỉ đi tù trở thành tấm thẻ bài đi vào cửa chính.Sau này, vẫn thái độ hận thù, miền Bắc vẫn tiếp tục ra rả luận điệu tuyên truyền với những khẩu hiệu: gọi là Mỹ-Ngụy- Mỹ xâm lược- thực Dân kiểu mới. Giải phóng miền Nam..Họ chỉ quên một điều là sau lưng họ còn có Nga, có Tàu. Ai kéo xe tăng, đại pháo vào miền Nam. Thế thì Ai xâm lược ai. Ai giải phóng ai? Miền Nam có cần ai giải phóng? Ai Ngụy hơn ai?

Vì thế, có lần ông Lê Đức Thọ và ông Xuân Thủy gặp phái đoàn miền Nam- đại diện là nhóm phản chiến, lực lượng thứ ba- được ra thăm miền Bắc, ở khách sạn Thắng Lợi. Ông Thọ nói rằng tiếng Ngụy cần bỏ đi. Ông Xuân Thủy phụ họa: Bây giờ mà còn dùng chữ Ngụy là mất dấu nặng. Là Nguy.Và xin trích dẫn văn bản chính thức của Cục báo chí xuất bản, số 06BCXB.

Kính gửi: Các cơ quan Thông Tấn Xã, Đài Phát Thanh, Đài Truyền Hình,các Báo chí Miền, Thành phố và các Tỉnh.Chấp hành ý kiến của lãnh đạo, chúng tôi xin thông báo các đồng chí được rõ:Kể
từ nay, các bài viết đăng trên báo và phát trên đài, ta nên thống nhất
dùng chữ: Những người trong quân đội và chính quyền cũ thay cho chữ:
Ngụy quân và ngụy quân Sài gòn đã dùng trước đây.Mong các đồng chí chú ý thực hiện đúng.Này 17 tháng hai năm 1976.

TM Ban lãnh đạo
Cục Báo chí Xuất bản.
(Ký tên và đóng dấu)T.T.T

(trích dẫn hồi ký của Hồ Ngọc Nhuận Đời hay Chuyện về những người tù của tôi, trg 52-53-.Ông vừa mới qua đời 1935-2022)

Tưởng rằng từ nay tiếng Ngụy đã đi vào dĩ vãng. Gần nửa thế kỷ, nó vẫn còn văng vẳng đâu đây.Nhà văn Dương Thu Hương (1947…)Một hình tượng phản diện của miền Bắc

Nhà văn Dương Thu Hương vốn là một đoàn viên Thanh niên xung phong của một thời oanh liệt về “một cuộc chiến khác mà hầu hết chúng ta không biết đến”. Họ trực diện với cuộc chiến và nỗi đau. Họ là những cô gái không được biết đến- họ có mặt mà như thể không có mặt-. Họ bị lãng quên trong cuộc chiến mà chủ yếu chỉ là quân đội. Họ thực ra là quân chủ lực của Đường mòn Hồ Chí Minh, với với hơn 52.000 người- hầu hết là phụ nữ gia nhập.

Cô Huỳnh Thị Tiếp nhớ lại:“ Da nổi ghẻ, tóc trên đầu nhiều cháy rận, các bộ phận kín trong người ngứa ngáy phát điên. Vấn đề vệ sinh vùng kín của phụ nữ ít được đề cập tới. Tình trạng vệ sinh kinh nguyệt thiếu thuốc men, thiếu băng vệ sinh, đồng phục để thay và ít có điều kiện tắm rửa.

(Trích tóm lược Francois Guillemot. « Trực diện với cái chết và nỗi đau. Vấn đề TNXP trong chiến tranh Việt Nam 1950-1975 ». Bản dịch Phương Hòa trên Talawas của Phạm Thị Hoài)

Phần DTH. chua chát về mối gắn bó giữa loài bọ và chiến tranh.: Tôi nằm xuống ván, gối đầu lên tay, đăm đăm nhìn kèo hầm. Dọc theo kẽ nứt của cây kèo, một đàn rệp béo mọng xếp hàng nằm nghỉ. Lũ rệp thời chiến là những ông hoàng, bà chúa. Chúng được tự do và luôn luôn no đủ. Người ta hiến máu cho chúng một cách vui vẻ so với lệ phí của bom đạn thì đó chỉ là những khoản thuế còm.(Dương Thu Hương, tiểu thuyết Vô Đề, trg 64)

Xông ra mặt trận từ tuổi 20-tuổi của ăn học, mơ mộng và tình yêu trai gái-. Bà là một chân dung tiêu biểu nhất của cuộc chiến thảm khốc này. Bà đã vẽ lại một một cảnh tượng hầu như phi thực về một cái chết bi thảm của 6 cô gái trong rừng mà mùi hôi thối giậy lên nồng nặc như thể dẫn đường cho những người sống đến tìm. ‘Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới Vực cô hồn, gặp 6 cái xác truồng..Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xanh. Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đấy là những con gái miền Bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị TNXP cơ động nào bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo.’

(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 8)

DTH vì thế còn là một biểu tượng cực đoan cùng cực, một ngòi bút dữ dằn như những lát gươm chém và hư cấu hiện thực vô bờ ngoài cả sức tưởng tượng. Bà là biểu tượng cho sự kinh tởm đến tuyệt đối về cuộc chiến. Sự lừa phỉnh của chiến tranh và sự che dấu một cách bài bản những điều cấm kỵ của những năm 90 của cấp lãnh đạo miền Bắc.

Bà đã bóc trần ra một cách trần truồng tình cảnh các chị em trong TNXP. Bà đã phơi bày việc xâm hại tình dục cũng như tàn phế do chiến tranh để lại và về những chấn thương tâm thần và thể xác cho lớp TNXP như bà.Theo bà, họ phát điên loạn lên. “Mấy cậu (chỉ mấy cô TNXP. NVL) sốt rét ác tính, điên rồ, cởi hết áo quần ra mà nhảy múa, la hét.”(DTH. Tiểu thuyết Vô Đề, trg 100)

Đó là những Hội chứng do chiến tranh vì nỗi nhớ nhà, từ đời sống bình thường yên hàn sang chiến tranh, từ lý tưởng cao vời đến thực tế khô trồi, từ những lo ngại hiểm nguy chết tróc rình rập, từ những mất mát và tuyệt vọng trở thành Nỗi điên tập thể. Về bệnh hay cười.Cộng thêm những ham muốn tình dục, những đòi hỏi khát vọng thỏa mãn và những cuộc tình vụng trộm bị cấm đoán cũng là là một phần của cuộc chiến này mà không ai lường trước được.

Đó là một cuộc sống như một bi kịch phi thực ngoài sức tưởng tượng của con người. Phần tôi có thể chỉ là người miền Nam, có thể đứng bên lề cuộc chiến tàn bạo và phi nhân ấy đành chỉ biết thầm lặng: Thì hãy mời bạn đọc miền Nam người tự mình cầm lấy và đọc: Tolle et Lege.Góc nhìn của David Lamb: « Nữ cán binh thời chiến, nỗi đau thời bình »

Ngoài cuộc chiến của TNXP do Francois Guillemont viết. Chiến tranh phi nhân ấy còn được mô tả dưới góc nhìn khác của David Lamb.Thay vì nói về những tàn khốc của cuộc chiến. Ông nói về: Nỗi đau thời bình.

Có thể nói không một nước nào- trừ Liên Xô- trên thế giới này xô đẩy ra chiến trường những đội binh nữ trẻ, tuổi mộng mơ vào một địa ngục trần gian chỉ để chu toàn một giấc mơ hão huyền của tuổi trẻ.Nhưng vấn đề quan trọng không hẳn là trong cuộc chiến mà là sau cuộc chiến khi hòa bình trở lại. Số phận những cô gái này ra sao. Hãy nghe một số nhân chứng sống sót trở về qua tâm sự của họ.

Lời bà Vũ Hoài Thư, một trong số 500 phụ nữ trong đoàn chiến binh 559, quê ở Ninh Bình, cách 60 dặm ở phía Nam Hà Nội. Người đã chiến đấu trong cái mà người cộng sản Việt Nam gọi là Cuộc Chiến Chống Mỹ. Bà than và tâm sự: ‘Ôi, rừng sâu đã làm tôi già đi biết bao nhiêu. Cuối cùng, tôi đã gặp một người con trai dễ thương. Anh ấy đã hỏi cưới tôi, nhưng cha mẹ anh không cho. Anh đã không muốn rời bỏ tôi, nhưng tôi đã thuyết phục anh là anh phải bỏ. Tôi đã quá yếu vì sốt rét và thiếu ăn. Tôi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ để sinh con đẻ cái cho anh ấy’.

Họ nói về chuyện trở về nhà với đời sống còn khó khăn hơn là đời sống mà họ đã rời bỏ. Họ cay đắng dai dẳng trong suốt bao nhiêu năm đã là những chiến sĩ bị bỏ quên trong một cuộc chiến tranh mà những người đàn ông chiến đấu- chứ không phải phụ nữ- đã trở thành anh hùng.

Theo lời bà Nguyễn thị Bình: ‘Tôi đã tưởng cuộc đời tôi sau chiến tranh sẽ giản dị và hạnh phúc, cân được 85 pounds khi trở về nhà. Nhưng tôi đã để cho người bạn trai tôi ra đi. Tôi đã nói với anh ấy rằng với những chứng bệnh của tôi, với một chân bị thương của tôi, tôi sẽ là một gánh nặng cho anh ấy.

Bà Bình đã sống một mình suốt 17 năm, một hình thức lưu vong trong một xã hội còn nặng thành kiến về phụ nữ trong gia đình, nhất là về hôn nhân. Thế rồi, do sự thúc dục của những cựu đồng chí trong đoàn phụ nữ- đoàn 559-, bà Bình đã lấy một người chồng qua đêm và sinh được một đứa con gái. Bà và đứa con tên Lan, hiện 10 tuổi, sống với nhau trên một cánh đồng lúa nhỏ do bà canh tác.

Trong số những phụ nữ của Đoàn 559, họ là 50 người đã trở về như những người tàn tật và 40 người đã không trở về. Trong một buổi họp ở Ninh Bình, người chỉ huy của đoàn là Trần thị Bình đã cùng nửa tá người mặc những đồng phục cũ tại một tiệm ăn nhỏ. Và khi bữa ăn được dọn ra, bà Bình đã chia xẻ với các bạn một bài thơ do bà sang tác: ‘Thời con gái’. Bà vừa ngâm và vừa nhắm mắt lại:

Tôi muốn đốt một nén hương
Cho những người con gái xấu số
Vẫn đợi chờ
Chúng tôi những cô gái Trường Sơn,
Tóc đã hoa râm và lòng tràn đầy kỷ niệm,
Tưởng nhớ những người bạn tình
Đã đi xa không bao giờ tìm được

Những phụ nữ khác tại bàn ngoảnh mặt đi. Một vài người úp mặt vào lòng bàn tay. Vài người lấy giấy thấm nước mắt.

Khi bà Bình chấm dứt, một sự im lặng bao trùm. Rồi có người lên tiếng: “Hãy làm cho ngày hôm nay là một ngày vui đi.”.Phúc âm của tội ác

Sau này, nhà văn DTH trong Tự Bạch cho rằng: sau chiến thắng, tác giả chỉ được một con búp bê về làm quà cho con, tác giả đau xót nhận ra rằng biết bao hy sinh mất mát để trả giá cho một vinh quang khải hoàn môn chỉ là ảo tưởng.

Nỗi đau xót ấy nêu bật lên nghi ngờ về mục tiêu của cuộc chiến mà bây giờ bà mới ngộ ra cũng như nhiều nhà văn nổi tiếng khác đã trở lại đạo làm người và cổ võ cho tinh thần xét lại như mội cải đạo. Sự nhìn lại ấy bây giờ trở thành sự cứu rỗi cuối cùng. Nó trở thành như Tấm áo giáp tinh thần lúc này giúp che chắn tâm hồn. Nay nó chính là Niềm TinNhư trong các cuốn: Bên Kia Bờ Ảo Vọng(1987), cuốn Thiên Đường Mù. (1988), Chốn Vắng. (2002).

Những cuốn sách này như một nhân chứng tố cáo sự lừa đảo tuyên truyền bánh vẽ mà thật sự chỉ là ảo vọng. Hầu hết các tác phẩm của bà đều được dịch ra tiếng Pháp, hoặc tiếng Anh, vì chúng bị cấm ở trong nước.

Đây là những cuốn sách mở đường cho sự tố cáo sự tàn bạo và dối trá, lừa đảo của cuộc chiến. Bà tuyên bố thẳng thừng: Không thể xếp tôi đứng với hàng ngũ những người mà tôi khinh bỉ.

(trong Bách Khoa toàn thư Wikipedia)

Sự lăn xả nhập cuộc như lên đồng trong chiến tranh lúc ban đầu cũng như sự dứt khoát khước từ khi không còn chiến tranh của bà là một tấu khúc hoàn hảo của toàn thể xã hội miền Bắc.

Biện chứng vào và ra là thái độ của nhiều đảng viên kỳ cựu khác- ước mơ-lầm lỡ và bội phản- như tướng Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Nhật ký Tô Hải « Hồi ký một thằng hèn » nhất là nhà văn Trần Đĩnh với cuốn Đèn Cù.

Họ đã lột xác trong đau đớn, bị khinh bỉ, tủi nhục và nỗi cô đơn.Tóm một lời: Khi biết được mình đã lầm lỡ thì tóc trên đầu đã bạc phơ!!B. Phần Hai về miền Nam với lòng tử tế.* Lòng tử tế qua các bài học vỡ lòng: Sách Quốc Văn Giáo Khoa Thư

SáchQuốc Văn Giáo Khoa Thư xuất bản từ năm 1935 do Nha Học Chính Đông Pháp. Soạn giả là các ông Trần Trọng Kim và các ông Nguyễn Văn Ngọc, Đặng Đình Phúc, Đỗ Soạn… Nó gồm 4 cuốn: một cuốn cho lớp đồng ấu tương đương lớp một. Một cuốn cho lớp dự bị tương đương lớp hai. Cuốn Sơ Đẳng tương đương lớp 3. Và cuốn Luân lý Giáo khoa thư nói chung.. Nó thâu tóm toàn bộ các bổn phận làm Người tử tế.

Nó bắt rễ sâu trong tâm thức người Việt Nam trong cách ứng xử với cha mẹ tổ tiên, với Trời đất, với thày dậy,với chính bản thân mình, với họ hàng, bạn bè, với kẻ ăn người ở, dĩ chí cả với súc vật. Nó như một gia tài đồ sộ, một thứ Văn Hóa Phi Vật Thể (Văn hóa phi vật thể là những giá trị tinh thần như Ca dao, Tục ngữc- khác với Văn hóa vật thể như Đền đài, lăng tẩm. NVL).

Văn hóa phi vật thể dành cho mọi người- không trừ- từ ngoài Bắc trước 54 và tồn tại trong Nam từ 1954-1975. Lớp trẻ tiểu học coi như những bài học vỡ lòng như hành trang chuẩn bị vào đời. Đây là những bài học giản dị, dễ hiểu, mỗi bài đều tóm tắt bằng một câu ngắn ngọn, khắc in vào đầu mà nay chính bản thân tôi còn nhớ được như:- Với Trời-Đất: Lạy Trời mưa xuống. Lấy nước tôi uống. Lấy ruộng tôi cày. Lấy đày bát cơm. Lấy rơm đun bếp…– Với Cha-Mẹ: Công cha như núi Thái Sơn. Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra. Một lòng thờ mẹ kính cha. Cho tròn chữ Hiếu mới là đạo con…– Với Con Trâu và Người đi cày: Trâu ơi ta bảo trâu nay. Trâu ra ngoài ruộng trâu cày với ta..– Nó còn vô số các bài học thực tiễn khác như:- Thờ cúng tổ tiên.- Anh em như thể tay chân.- Xuân đi học coi người hớn hở.- Một cây làm chẳng nên non, ba cây chụm lại nên hòn núi cao.- Lá rành đùm lá rách.- Một con ngựa đau, cả tàu không ăn cỏ.- Thấy người hoạn nạn thì thương.- Không tham của người.- Có học phải có hạnh.- Chớ nên nói xấu người.- Không nên hành hạ súc vật.- Học trò đối với Thày. Nhất là câu chuyện ông Carnot về thăm thày cũ dễ thương và cảm động: “ Thưa thày, con là Carnot đây.. thày còn nhớ con không?Nó được coi như cuốn cẩm nang hành trang cho tuổi trẻ vào đời.

Trong Hương rừng Cà Mâu của nhà văn Sơn Nam, xb năm 1962, có truyện ngắn: “Tình Nghĩa Giáo Khoa Thư” cho thấy dấu ấn tình tự con người bàng bạc trong thơ văn, trong nếp sống dân giã..của con người Đồng bằng sông Cửu Long, nơi còn được gọi là Văn minh miệt vườn.Sau này, ở miền Nam QCGKT được đổi ra thành môn Công Dân Giáo Dục thời VNCH.Nơi đây, tôi muốn bày tỏ riêng niềm tri ân đối với miền Nam mà tiêu biểu là các thày cô giáo bậc tiểu học đã cấy vào tâm hồn trẻ thơ của cả một lớp người trẻ trong tinh thần Giáo Khoa Thư và Luân lý Giáo khoa Thư. Không có họ, không có QVGKT mà cũng chẳng có lòng tử tế.

Miền Bắc ngay từ 1935 đến 1954 cũng được thừa hưởng gia tài của QVGKT như miền Nam qua người dân Hà Nội.. 

Rất tiếc, sau 1954, Sách QVGKT như nhiều tài liệu quy báu khác bị người cộng sản Hà Nội quăng vào sọt rác. Thay vì yêu cha, yêu mẹ, yêu tổ tiên ông bà. Thay vì yêu bạn bè, yêu súc vật thì nay thay thế bằng một hình tượng mới: Yêu Bác Hồ. Trẻ con đêm nằm mơ thay vì thấy Tiên thì nay thấy Bác Hồ. Mẫu người Người Tử Tế nay hiếm hoi mà thay bằng mẫu Người Anh Hùng đủ loại. Mẫu người anh hùng ở miền Bắc thì nhan nhản ngoài đường phố. Ra đầu ngõ là gặp.

Mẫu người Tử tế trong chính quyền miền Nam.

Miền nam có cái may mắn là được kế thừa lòng tử tế truyền lại. Vì thế, lãnh đạo chính quyền có các chính sách khoan hồng, hòa giải như chính sách binh vận, dân vận, nhất là Chiêu Hồi. Chính sách đó không hẳn là chính trị, nó vượt trên chính trị mà căn bản, nó dựa trên tình tự tình người như tình nghĩa đồng bào, tình nghĩa xóm làng, gia đình, họ hàng, bạn bè. Hiện tôi còn giữ trong tay tài liệu ghi rõ sự quan trọng của chính sách Chiêu Hồi thời đệ nhị Cộng Hòa:

Bộ Thông Tin và Chiêu Hồi.

Đánh nhau là truyện bất đắc dĩ. Chiêu Hồi mở đường cho sự gia nhập, hòa giải.Cho nên, các tình tự con người trong các chính sách đó được coi trọng hơn là lập trường chính trị nhất thời.Xin nêu ra một vài trường hợp được kể lại: Có lần nhà thơ Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ- một tướng võ biền đòi đem máy bay bỏ xuống miền Bắc- vào năm 1968 .Thanh Nghị vào khu. Cung Trầm Tưởng nói với tướng Kỳ cho phép anh đưa chị Tâm Vấn (vợ Thanh Nghị. Sau này bà Tâm Vấn lấy bác sĩ Nguyễn Đan Quế) vào ở cư xá Không quân TSN. Tướng Kỳ đồng ý và thỉnh thoảng hỏi thăm chị Tâm Vấn có khỏe không. Đó là tình người- người vượt ranh giới chính trị.

Trường hợp Thanh Lãng cùng với Nguyễn Văn Trung đi chiếc xe hơi từ Vũng Tàu về, bị lính Mỹ lấy đá chọi chơi bể kiếng xe. Ông đã gửi thư đến tòa Đại sứ Mỹ phản đối việc đó. Tòa Đại sứ đã viết thư xin lỗi và đề nghị tiền bồi thường. Người Mỹ biét tôn trọng dân chủ, biết tôn trọng luật pháp. Cứ giả dụ, thay vì lính Mỹ, đây là lính Tàu thì họ có bồi thường không?

Những người bạn cùng lớp với tôi thời sinh viên đại học Đà lạt như Dương Văn Ba, Nguyễn Trọng Văn đều theo bên kia hầu như công khai, nhưng vì tình bạn nên chúng tôi làm lơ, chả ai tố cáo gì. Mà có tố cáo thì còn có thủ tục pháp lý, có nhân chứng, có luật sư nữa. Rồi còn những nhóm thành phần thứ ba hàng vài chục người, thành phần phản chiến, hoạt động công khai như Hồ Ngọc Nhuận, Ngô Công Đức, Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung có sao đâu! Họ biết chắc một điều: Phản đối cứ phản đối. Họ không sợ đến an ninh của họ vì không có chuyện trả thù, không sợ công an chìm mò tới nhà bắt cóc mang đi.

Tôi nghĩ miền Nam thua miền Bắc vì cái tình người, cái lòng tử tế ấy.

Tôi hỏi và tự trả lời. Những hoạt động như thế có thể xảy ra ở Hà Nội hay không?Vì thế, nhiều người phía bên kia do chính sách Chiêu Hồi đã quay về với chính quyền miền Nam mà con số lên đến vài chục ngàn người.Tiêu biểu nhất có thể là nhà văn Xuân Vũ (ông là cán bộ miền Nam tập kết ra Bắc, rồi được điều động vào miền Nam trên đường Trường Sơn. Rồi chấp nhận chính sách Chiêu Hồi.1930-2004) ông đã có trên 90 đầu sách bao gồm truyện ngắn, truyện dài, hồi ký.

Tôi đã từng đọc ông một cách hứng thú với lối viết không dài dòng, trung thực mà không tuyên truyền bịa đặt, xuyên tạc, cũng không phỉ báng ai, dù là chế độ miền Bắc mà ông đã từng đi tập kết. Cuốn Đường Đi không đến, tập hồi ký vượt Trường Sơn đã được trao giải thưởng văn chương toàn quốc, năm 1973.Hiện tôi cũng còn giữ một tập tài liệu photocopy khá đặc biệt nhan đề: “Bội phản hay chân chính”. Tác giả là cán bộ nằm vùng tên Dư Văn Chất bị mạng lưới tình báo của Đoàn Công Tác Đặc Biệt miền Trung Ngô Đình Cẩn giam giữ tại trại Lê Văn Duyệt, đường Tô Hiến Thành. Sau 1975, những người bị tù này được thả ra và chính quyền cộng sản không tin dùng, vì bị lê Đức Thọ coi là: Có vấn đề. Có người bị nghi ngờ vu khống, mất chức hoặc chết oan uổng sau 1975 chỉ vì câu nói của Lê Đức Thọ, trưởng ban tổ chức Trung Ương. Họ với họ từng là đồng chí, nay nghi ngờ nhau.

Người cộng sản lại sợ chính người cộng sản.

Ông Dư Văn Chất đã viết tập tài liệu này để biện minh cho việc họ vẫn trung thành với đảng. Ông viết: “Bằng tác phẩm này, tôi muốn nói với Đảng, với người thân và bạn bè, với người yêu và kẻ ghét, nói thay cho người đã chết và cho cả người còn sống.’ Tập ký 233 trang đề 19 tháng 8 và 2 tháng 9, 1992 và tháng 7, 1993. Đặc biệt nhờ ông Trần Quốc Hương (tức Mười Hương), có thời là UVTƯĐ, linh hồn của cục tình báo viết thư tay cho ‘Anh Hai Tân, phó bí thư Thành Ủy và anh Tư Sang, phó bí thư Đảng Ủy TP. HCM, yêu cầu cho xuất bản. Không được bị từ chối. Họ đành in phocopy 100 bản và đây là một trong những bản ấy”.Xin trích dẫn một phần tập tài liệu đề cập đến trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn.Nhà tù không song sắt.

Dư văn Chất viết:” Ngủ có divan hoặc giường sắt hay ghế bố, mỗi người một cái,có mùng, có tấm đắp đàng hoàng. Có giờ, có giấc. Ăn uống cũng khá hơn chế độ thầu. Có câu lạc bộ, có phòng đọc sách, có sân banh giải trí, có bàn ping pong.‘Ăn cơm Tiều’, một danh từ được khai sinh trong trại Lê Văn Duyệt. Không biết bên chính quyền dự chi về ăn uống một người được bao nhiêu mà ở trại Lê Văn Duyệt thì chúng tôi được 5$50 tiền chợ mỗi trại viên hưởng một ngày. Đáng lý chúng tôi mỗi người ăn 5$50, nhưng chúng tôi khai cơm Tiều, nghĩa là một mâm 4 phần ăn. Chứng tôi ăn năm người.. Phần dư ra 5$50 thay nhau lãnh. Ăn sáng 1$ một người. Nếu nhịn thì một tháng cững được thêm 30$.Ở tù mà lãnh lương, ở tù mà cũng đi phép nghỉ. Có nhiều anh ở tù lâu, cuối tuần được nghỉ phép. Chiều thứ bảy về, sáng thứ haivô. Hoặc có anh về hằng đêm, 5 giờ 30 sau giờ làm việc ra cổng, sáng 7 giờ 30 về ở tù. Theo tôi, nhà tù trại giam Lê Văn Duyệt của ông Ngô Đình Cẩn là có một không hai trên thế giới. Đó là tù không song sắt. Nói ra thì không một ai tin. Nhưng sự thực là như vậy, do chính tù nhân trại giam viết lênNhững sự kiện như thế là một thực tế có thật, chỉ có thể xảy ra ở miền Nam mà không thể nào xảy ra ở miền Bắc.

Trong cuộc chiến Nam-Bắc, số tù binh cộng sản ở trong Nam hẳn là cần nhiều trại giam. Một phần chính quyền xử dụng những nhà tù có sẵn từ thời Pháp thuộc như Khám Lớn, nhất là tại Poulo-Condonré được coi như hỏa ngục của người sống. Rồi mỗi tỉnh thành trong Nam đều có nhà tù để giam giữ cán binh cộng sản. Vẫn không đủ sức chứa tù nên còn lập thêm các trại giam như trại Phú Lợi, trại Tân Hiệp. Riêng trại Tân Hiệp có lúc chứa đến 3000 người. Sự tàn nhẫn, đánh đập, hiếp đáp, ăn uống thiếu thốn- tôi thiển nghĩ- do lòng tham của ban Quản Đốc trại, thật khó mà tránh khỏi.Nhưng nếu so với các trại Tập Trung Cải Tạo sau 1975 thì chẳng thấm thía gì.

Tôi dám gọi các trại cải tạo ấy là một thứ tội ác chống lại con người. Ngụy quân, ngụy quyền bị nhồi sọ, tẩy não. Họ bị Giam không xét xử. Không thời hạn. Có người bị giam đến 17 năm tù” Đó là một thứ nghĩa địa chôn vùi cuộc sống của người tù. Tất cả là một sự tính toán tinh vi, tàn bạo để con người chết chậm, chết dần dần đến tàn tạ. Nhiều người khi được thả về chỉ còn là một tấm thân tàn phế như một phế vật.

Vì thế, tôi mới ngộ ra, các nhà văn miền Bắc có từ: Sống mòn. Gớm thay, tội ác của cộng sản. Người miền Nam khó có thể quên được.Lòng tử tế của miền Nam còn rộng mở đón nhận những tinh hoa từ miền Bắc.Điều này càng cho thấy đất Bắc không thực hiện được lòng tử tế, vì toàn bộ miền Bắc bao phủ cuộc chiến với hận thù với xác quân thù. Quân thù nào, là ai? Chúng ta cứ thử nghe bài quốc ca- còn được gọi là Tiến Quân Ca do Văn Cao sáng tác- được coi là là linh thiêng, là linh hồn của tổ quốc với nội dung rực lửa kể từ ngày 2 tháng chín năm 1945 đến nay đã hơn 70 năm!!:“ Đoàn quân Việt Nam đi . Chung lòng cứu quốcBước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước.Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.Đường vinh quang xây xác quân thù.Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khuVì nhân dân chiến đấu không ngừngTiến mau ra xa trường. Tiến lên. Cùng tiến lênNước non Việt Nam ta vững bền.Bài hát xem ra không hợp thời nữa. Đáng nhẽ phải đổi.Bản thân người viết đón nhận những nhà văn miền Bắc trong tâm tình tử tế và kính trọng.

Những nhà thơ, những nhạc sĩ như gia tài chung của Việt Nam mà không chút nề hà. Những nhà văn lớp Nho học còn sót lại như Ngô Tất Tố. Ông từng đả kích những ông quan đầu sỏ như Hoàng Trọng Phu, Phạm Quỳnh: “Ấy thế mà ông chủ bút Nam Phong chỉ nhảy đánh vọt một cái lên làm được ghế Thượng Thư bộ giáo dục, bàng quan ai cũng phải ngạc nhiên. Người ta tưởng tượng như đứng trước một trò rất phi thường trong rạp xiếc.”(Phê bình Văn Học, Nguyễn Huy Tưởng, Ngô Tất Tố, Tô Hoài , trg 149). Ông viết Việc Làng, Lều Chõng. Nhưng Tắt Đèn là tác phẩm hiện thực xuất sắc nhất với hình ảnh chị Dậu.Tôi đã có dịp đọc tất cả trong sự say sưa và nể phục.

Rồi những nhà văn như Trần Tiêu (tác phẩm Con Trâu),ông là em ruội Khái Hưng . Rồi một lượt những nhà văn như Nguyễn Tuân với Chùa Đàn, Tóc chị Hoài, nhất là Vang bóng một thời mà theo Vũ Thư Hiên ông được coi như bậc thầy của ngôn ngữ: << Chữ nào ông dùng cũng đắt, khó thay bằng chữ khác>>. Rồi đến Tô Hoài, Nguyên Hồng.Tôi còn giữ Tuyển tập Nguyên Hồng, xb 1985. Đọc mà ngậm ngùi. Tô Hoài với Dế mèn phiêu lưu ký(1941), O chuột, xóm Mới, Nhà nghèo.Cũng phải kể đến thi sĩ Hồ Dzếnh với những bài thơ lục bát mượt mà. Nói chi đến Xuân Diệu, Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Khái Hưng, Nhất Linh trong các giáo trình của các lớp trung học đệ nhị cấp của VNCH trước 1975. Lưu Trọng Lư còn đình đám hơn với bài Tiếng Thu , chỉ có 9 câu được phổ nhạc:

Em không nghe mùa thu.
Dưới trăng mờ thổn thức.
Em không nghe rạo rực.
Hình ảnh kẻ chinh phu.
Trong lòng người cô phụ

Nhạc có Văn Cao sánh vai cùng với Trịnh Công Sơn, Phạm Duy một thời. Nhưng số phận ông cũng hẩm hiu mặc dầu là người sáng tác ra bài Tiến quân ca.Nhưng trước hết và hơn cả là Nam Cao. Ông đã thênh thang vào ngưỡng cửa trường đại học văn khoa Sài gòn với truyện ngắn Chí Phèo. 

Đến ngay những nhà văn nổi tiếng một thời như Mai Thảo, Doãn Quốc Sĩ, Võ Phiến của miền Nam cũng không có được cái vinh dự ấy.Trong khi số phận những nhân tài đất Bắc, số phận họ ra sao? Họ đều phải Tự kiểm duyệt, nơm nớp sợ bị thổi còi như Nguyễn Tuân, như học giả Đào Duy Anh, như Văn Cao và rất nhiều văn nghệ sĩ khác.. Văn học miền Bắc đã có cắm cột mốc: muốn làm gì thì làm, nhưng không được động đến chính trị. Tôi nghĩ đến một xứ chột bị bịt mắt, bịt mồm. Đời sống thì lao đao túng bấn như Văn Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài.Tờ Đất Nước, tháng giêng 1968 đã dành hẳn một số để kỷ niệm: 50 năm Cách Mạng tháng mười

Đi thêm một bước nữa, tiến xa hơn, trong Nam, giới trí thức, nhất là thành phần thứ ba, nói viết và phản kháng, đòi dân chủ, đòi chấm dứt chiến tranh mà không sợ nhà cầm quyền bắt giam. Người ta vẫn có thể biểu lộ quyền yêu hay ghét cộng sản. Nhưng bao lâu chỗ nào còn lầm than áp bức, bất công, chủ nghĩa Mác vẫn là một sự quyến rũ, một niềm hy vọng giải phóng !!!! Riêng đối với các dân tộc bị trị, cộng sản có phải là con đường độc nhất và cuối cùng để thực hiện hai mục tiêu trên không.

Đất Nước, chủ bút Nguyễn Văn Trung đã tự hỏi. Vì thế đã có những bài:Cách Mạng Nga 1917 của Nguyễn Khắc Ngữ.Trí thức Nga trước Cách Mạng của Diễm ChâuTừ Cách Mạng tháng 10 đến Cách mạng tháng 8 Trương Bá CầnCảm nghĩ về cuộc Cách mạng Nga Lý Chánh Trung.Cộng sản người anh em của tôi Nguyễn Văn Trung.Nguyễn Văn Trung còn năng nổ viết cuốn: Hành Trình Trí thức của Karl Marx. (in xong 15-10- 1966. Có giấy phép số 666 BTT. NHK. PHNT) Trần Văn Toàn: “ Tìm hiểu Triết Học Karl Marx”.

Số phận những trí thức ấy ra sao sau 1975?

Còn ra sao nữa!! Bị Truy dập, bị tù đầy. Cả 200 giới văn nghệ sĩ Sài gòn đều bị bắt đi tù, đi cải tạo. Mà cái tội chỉ vì cầm bút. Như Vũ Hoàng Chương, Doãn Quốc Sỹ. Hoàng Hải Thủy, Tạ Tỵ, nhà văn Thảo Trường. v vv..Trong số đó có Nguyễn Văn Trung. Theo Nguyễn Văn Trung viết lại, một người trong Ủy Ban Quân Quản ĐHVK Sài gòn nói: “ Chúng tôi không bố trí anh dạy học vì không thích hợp với cách chúng tôi đang thực hiện và để anh tự ý nghiên cứu theo lối nhìn của anh, thì những công trình nghiên cứu của anh sẽ ích cho đất nước nhiều hơn”. Nhưng nếu không dạy học, không có lương lấy gì mà sống?Đã hết đâu, ba năm sau, ông bị bắt giam, kết tội là: Phản động, C.I.A cho Mỹ (có thể bị tử hình hoặc chung thân).

Vào chiều ngày 14-6-1978, một toán công an đến đọc bản án và xét nhà, ông đã chỉ cho họ các tài liệu để họ lấy mang đi đầy một xe LaDalat. Sáng hôm sau, một xe tải lớn đến tịch thu kho sách trên sân thượng. Nhưng nghĩ thế nào, họ lại thôi. Chỉ niêm phong. Ông bị biệt giam một mình. Ngày ngày chỉ viết các bản tự khai. Sợ quá tưởng chết, ông viết chúc thư xin lỗi bạn bè, nhất là bà con anh em ruột thịt về những lời nói việc làm của ông.

Con trai trưởng của ông chứng kiến cảnh bố bị bắt giam nên đã quyết định tìm đường vượt biển và đã sang định cư ở Canada. Làm C.I.A cho Mỹ mà NVT không nói được một câu tiếng Mỹ. Phải nhờ Đặng Tiến hay Nguyễn Hữu Thái thông dịch. C.I.A nào nó mướn? 6 tháng sau, bất ngờ ông được trả tự do ở sở công an với lý do: Tạm tha vì lý do sức khỏe… Từ Phản động đến tha là một điều không hiểu được.Tôi có cảm tưởng, 6 tháng tù biệt giam ấy, NVT không biết có rút ra cho mình được bài học gì không.

Phần tôi đã từng chứng kiến xác những người đàn ông, đàn bà, chết cong queo, ám khói đen, vì cộng sản gài mìn trên đường số 5-Hà Nội- Hải Phòng. Lúc 5,6 tuổi, ở nhà quê, tôi đã nhìn thấy xác ngươi bị bỏ rọ, trương phình như lợn quay vập vờ đập vào kè đá cửa sông Đáy.Tôi đã ghi lại trong một bài viết: Câu truyện của một dòng sông.

Đúng như nhà văn Bùi Ngọc Tấn tâm sự:” Có lẽ lại phải viết thôi. Viết về tuổi trẻ bị đánh mất. Viết về tuổi già xót xa tuổi trẻ. Về nỗi xót thương nhau trong những trái tim mệt mỏi, những mái đầu bạc đang tính đếm những ngày còn lại. » (Trả lời phỏng vấn với nhà thơ Phạm Tường Vân trong dịp cuốn” Chuyện kể năm 2000 » vừa được xuất bản)

Dù sao, sau này ông NVT cũng có được một câu để đời giống vài người như Lý Chánh Trung, Ngô Công Đức.Lý Chánh Trung trên báo Tuổi Trẻ, năm 1988 có viết một bài về môn học triết lý K. Marx mà trước đây ông đã chót từng ca tụng thì nay ông chế diễu “Về một môn học mà thày không muốn dạy, trò không muốn học”. Còn dân biểu Đối lập Ngô Công Đức thì thẳng thừng hơn: “Tôi có hai điều không ưa. Đó là tôi không thích những người công an.Tôi cũng không thích người Bắc Kỳ. »Nguyễn Văn Trung thì văn hoa hơn: “Tham gia cách mạng là tham gia vào một quá trình tự hủy diệt sau này.”Phần tôi, tôi khẳng định triệt để, tôi giã từ người cộng sản ngay từ khi lên máy bay từ phi trường Gia Lâm di cư vào miền Nam năm 1955..Bởi vì họ thiếu tình người. Bởi vì họ không là những người tử tế..

Nguyễn Văn Lục

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

Trước chiến tranh, đại đa số người Việt không nghe tới Ba Lan, thậm chí còn trường xuyên nhầm với Phần Lan, bản thân Ba Lan cũng rất ít ồn ào, lẳng lặng tập trung phát triển xã hội của họ. Sau 30 năm thay đổi chế độ, GDP của Ba Lan tăng gấp 10 lần (chính xác là 1030% – từ 66 tỷ usd năm 1990 lên 680 tỷ usd năm 2020), xã hội yên bình, ổn định, ít tội phạm thuộc loại nhất châu Âu, trong khi các điều kiện phúc lợi xã hội, miễn học phí, y tế, giáo dục cho toàn dân ngày càng được cải thiện.
 
Nhưng chỉ khi cuộc xâm lược của Nga vào Ukraina nổ ra, tất cả thế giới mới thực sự ngạc nhiên về thực lực của quốc gia 39 triệu dân này. Trong 1 năm qua, họ đã làm được nhiều điều không tưởng, chưa ai từng làm nổi – trong toàn bộ lịch sử loài người.
 
Việc đáng kinh ngạc nhất là tiếp nhận khoảng 2,5 triệu lượt người Ukraina qua tỵ nạn chiến tranh, thường trực luôn có khoảng 1,8 triệu người ở lại Ba Lan, hầu hết là phụ nữ, trẻ em, người già… những người chỉ “mang thêm gánh nặng” cho xã hội họ. Nhưng không có một khu lều trại ổ chuột nào phải lập ra, thậm chí ngoài các khu tiếp nhận, không hề có “trại tỵ nạn” nào được thành lập. Đại đa số người tỵ nạn Ukraina được nhận “ở nhờ” trong các gia đình Ba Lan cho tới khi tự ổn định được cuộc sống, kiếm được việc làm hoặc trở về nhà. Không có nạn buôn người, tỷ lệ tội phạm không tăng – điều được chính Cao ủy Liên Hiệp quốc về người tỵ nạn công nhận. Người ngoài đường đông hơn, tiếng Ukraina có thể nghe thấy thường xuyên trên phố, nhưng không có xáo trộn nhiều.
 
Việc thứ hai là hỗ trợ cho Ukraina chiến đấu. Hàng ngàn xe tăng, pháo, xe bọc thép cùng hàng triệu viên đạn, tên lửa… ùn ùn được chuyển sang, rồi hậu cần, huấn luyện binh sỹ, tới mức Ba Lan luôn luôn đứng ở nhóm đầu viện trợ cho Ukraina, sát ngay các cường quốc lớn và giàu có hơn nhiều như Mỹ và Anh, vượt cả Đức.
 
Việc thứ ba là đảm bảo cung cấp lương thực, thực phẩm… cho thêm ngần ấy con người. Chiến tranh gây ra lạm phát, khiến giá cả tăng cao, nhưng cần phải thấy một điều là chưa bao giờ bị thiếu cả. Rồi bị Nga cắt cung cấp khí đốt, dầu hỏa, nhiên liệu, (anh em lông hồng từng rên lên vì sung sướng) nhưng sau 1 năm qua, có ai chết rét hay thiếu thốn gì không ?
 
Sống ở Ba Lan 30 năm, chứng kiến toàn bộ thay đổi mà chính bản thân mình còn phải kinh ngạc về nhận thức con người cũng như nội lực của họ. Khác hẳn những dự đoán của phía thân Nga: “ôi dào, trụ được mấy tháng”, 1 năm trôi qua, Ba Lan không hề “nghèo” đi, mà ngược lại, ngày càng mạnh mẽ hơn, công tác hỗ trợ Ukraina vẫn tiếp tục và sẽ còn tiếp tục.
 
Ngược lại, nhìn sang “lãnh tụ vĩ đại” Vladimir Putin cùng với một nước Nga suốt ngày được ca ngợi, tuy ngồi trên một đống tài nguyên, sẽ chỉ thấy đủ các loại vấn đề mà họ không hề “mạnh” như vẫn thường xuyên truyền bá. Phải chăng, đó cũng là bài học cho chúng ta: giáo dục nhân bản, ý thức đối xử người với người dẫn tới nhận thức chung tốt thì xã hội sẽ giàu mạnh lên thôi ? Phùng phùng tẹt tẹt, to mồm hô hào “vĩ đại” với “tự hào”, nhưng động việc thì trốn, thấy người yếu, người lạ thì giở thói côn đồ “biết bố mày là ai không” để bắt nạt, chiếm ưu thế, hơi tý ra là dùng nắm đấm, chửi bới, đánh nhau… thì sẽ dẫn tới cái gì ?
 
Ở Ba Lan chẳng mấy ai quan tâm tới xe đẹp, nhà đẹp, kinh doanh ngàn tỷ, hàng hiệu sang chảnh…, cũng chẳng hô hào vĩ đại, vinh quang, phần nhiều chỉ để ý tới việc: bản thân đem lại giá trị gì tích cực cho xã hội. Cứ lướt 1 vòng báo chí là sẽ thấy, sự khác biệt của hai quốc gia Việt Nam – Ba Lan lớn tới như thế nào, là có thể thấy tại sao họ thế này, mà chúng ta như vậy.
Tất cả bắt đầu từ giáo dục con người, từ chính bản thân mỗi cá nhân trong xã hội đấy. Chúng ta không phải sống tốt cho ai cả, chúng ta sống tốt cho chính mình thôi.
 
Bởi dối trá có đem lại cái gì tử tế dài hạn đâu ?
 
—-
 
p.s. Nhiều bạn khen mình làm được cái này cái kia, thế này thế nọ, không phải đâu, mình y chang các bạn, chẳng qua may mắn được đào tạo trong môi trường này, chịu khó nhìn họ, rồi suy nghĩ, thay đổi nên nhận ra được vấn đề.
 
Việt Nam là nơi mình sinh ra, nhưng Ba Lan đào tạo và hình thành nên con người mình. Nhờ vào đó, mình có cuộc sống của mình ngày hôm nay. Ít nhiều không quan trọng, cái quan trọng là mình cảm thấy đầy đủ, có ích, trước tiên là cho bản thân, gia đình, rồi xã hội chung quanh mình.
 
Vậy nên người Việt, nếu có được môi trường tốt, sẽ có thể phát triển không ? Chắc chắn là được. Nhưng làm thế nào để có môi trường tốt ? Phải bắt đầu từ bản thân mỗi chúng ta thôi, từ hôm nay, bây giờ, thì dần dần sau này con cháu mới có nền tảng để phát triển tiếp, đúng không ?
 
Con đường của Ba Lan chính là ở chỗ đó.