Blinken đến thăm Việt Nam vào tuần tới, thượng nghị sĩ Hoa Kỳ nói

Theo nhật báo Nikkei Á Châu

HÀ NỘI (Reuters) – Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken sẽ thăm Việt Nam vào tuần tới, Thượng nghị sĩ Jeff Merkley cho biết trong một cuộc họp báo ở Hà Nội hôm thứ Bảy, như một phần trong nỗ lực của Washington nhằm thúc đẩy quan hệ ngoại giao với Hà Nội lên một tầm cao mới trong năm nay.

Chuyến thăm của Blinken, chưa được công bố chính thức, sẽ diễn ra sau khi Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden có cuộc điện  đàm vào tuần trước với người đứng đầu Đảng Cộng sản cầm quyền Việt Nam, Nguyễn Phú Trọng.
Hoa Kỳ hy vọng sẽ nâng cấp quan hệ với Hà Nội trong năm nay, lý tưởng nhất là trùng với dịp kỷ niệm 10 năm thiết lập quan hệ đối tác toàn diện với Việt Nam vào tháng 7.

“Tuần tới Ngoại trưởng sẽ có mặt tại đây,” Merkley nói với các phóng viên trong chuyến thăm Việt Nam của phái đoàn các nhà lập pháp Hoa Kỳ nhằm thúc đẩy quan hệ với Hà Nội.
Blinken dự kiến sẽ đến thăm Việt Nam, có thể là vào thứ Bảy, trước khi ông tham dự cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao của Nhóm bảy quốc gia công nghiệp tại Nhật Bản vào ngày 16 tháng 4 đến ngày 18 tháng 4.
Trong cuộc gọi, Biden và Trọng đã đồng ý tăng cường quan hệ, theo tuyên bố của cả hai bên sau cuộc trò chuyện của họ, nhưng không đề cập đến việc nâng cấp quan hệ chính thức.

Trước cuộc gọi, nhiều nhà phân tích đã nói rằng Việt Nam thận trọng về việc nâng cấp trong năm nay vì sợ điều đó có thể gây căng thẳng với Trung Quốc.

Mặc dù là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, Hoa Kỳ hiện được xếp hạng là đối tác ngoại giao cấp ba của Hà Nội. Cấp cao nhất của nó bao gồm Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Hàn Quốc, trong khi cấp thứ hai, mà Washington muốn tham gia, bao gồm các nước châu Âu và Nhật Bản.

******

Các nhà lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam đã nói chuyện qua điện thoại với các đối tác ở Trung Quốc và Hoa Kỳ trong tuần qua, nhấn mạnh những nỗ lực của Hà Nội trong việc tìm kiếm một nền tảng trung gian giữa các cường quốc cạnh tranh.

Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính, lãnh đạo số 3 trong Đảng Cộng sản, đã hội đàm với Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường hôm thứ Ba, chính phủ Việt Nam thông báo.

Chính đề nghị Trung Quốc thúc đẩy nhập khẩu hơn nữa, mở cửa thị trường cho hàng nông sản Việt Nam và tăng hạn ngạch đối với hàng hóa Việt Nam vận chuyển qua Trung Quốc sang nước thứ ba, theo thông báo của chính phủ Việt Nam.

Ông Chính cũng cho biết hai bên cần hợp tác để nâng cao năng lực và hiệu quả thông quan.

Các cuộc thảo luận này diễn ra ngay sau cuộc điện đàm riêng giữa Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Nguyễn Phú Trọng và Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden vào ngày 29 tháng 3.

Trong và Biden đã thảo luận về Khuôn khổ kinh tế Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương do Hoa Kỳ lãnh đạo và hai bên nhất trí duy trì hòa bình và ổn định ở khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, cũng như về sự cần thiết của việc đảm bảo tự do hàng hải, theo truyền thông địa phương.

Trọng, người đứng đầu hệ thống cầm quyền của đảng, đã trở thành nhà lãnh đạo thế giới đầu tiên gặp Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tại Bắc Kinh sau khi ông Tập đảm bảo nhiệm kỳ thứ ba với tư cách là tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc vào tháng 10.

Năm nay, chiến dịch chống tham nhũng của Trọng đã dẫn đến việc Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc , lãnh đạo quyền lực thứ hai trong đảng, phải từ chức. Phúc được biết đến là một phần của phe thân thiện với Hoa Kỳ, làm nảy sinh quan điểm rằng phe nghiêng về Trung Quốc đang giành được chỗ đứng trong Đảng Cộng sản.

Phan Sinh Trần 

Công lý đã thua và không thể phục hồi lại được

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn Duy Hậu

5-4-2023

Trong khi cả thế giới chú ý đến vụ việc Trump xuất hiện tại phiên tòa ở New York để nghe cáo trạng chống lại mình, thì tại Việt Nam, bản cáo trạng liên quan đến vụ án chuyến bay giải cứu có lẽ là đáng quan tâm hơn rất nhiều. Năm mươi bốn bị cáo đại diện cho một vòng tròn khép kín “làm ăn” trong suốt hai năm chống dịch, từ người phê duyệt chuyến bay, tổ chức chuyến bay, giám sát chuyến bay, đến cả người sau này nhận trách nhiệm điều tra, xử lý sai phạm liên quan đến chuyến bay – tất cả đều cảm thấy, theo cáo trạng, bản thân có quyền làm giàu từ chức phận của mình.

Tần suất các bị cáo liên hệ, gặp gỡ nhau cũng làm mọi người đáng kinh ngạc và nếu có ai đó vẽ một bản đồ những địa điểm và số lần các bị cáo gặp nhau trong mùa dịch để giao dịch, thì kết quả chắc cũng không kém phần sửng sốt như cách mà chúng ta từng contact tracing và lên án những F0 có lịch trình di chuyển nhiều ngày xưa. Điểm khác nhau đó là các F0 là người vô tội, nhưng thời điểm đó có lẽ họ cũng bị chính những bị cáo ngày hôm nay lên án. May mắn là pháp luật cuối cùng cũng được đem ra để phân xử tội trạng của những bị cáo này, và hy vọng đó là một phiên tòa công tâm.

Nhưng trong chính cái “may mắn” đó, mình vẫn có một chút gợn trong lòng khi đọc những comment của người dân trên các bản tin về vụ án. Ngoài những tiếng hô vang ủng hộ Đảng và chính phủ làm quyết liệt, mình để ý đến những người đã từng bất đắc dĩ tham gia vào guồng quay đó. Có người chia sẻ họ mất trắng công sức làm việc mấy năm trời ở xứ người chỉ để mua một vé máy bay combo trị giá vài ngàn đô-la để về nước. Có người bồi hồi nhớ lại người thân mình đã mất mà họ không về kịp để nhìn lần cuối. Đó là những nạn nhân thật sự. Họ có câu chuyện, và mất mát của họ là thực tế. Nhưng chắc là họ sẽ không có một tư cách nào trong phiên tòa sẽ diễn ra. Điều trớ trêu rằng tội phạm nhận hối lộ đang được truy tố có khách thể được bảo vệ không phải là những nạn nhân là con người, mà là những thứ trừu tượng hơn: uy tín của nhà nước với nhân dân, hoạt động bình thường của cơ quan Nhà nước v.v…

Trong một vụ án hối lộ, “người bị hại” nếu có chính là Nhà nước, chứ không phải hành khách trên các chuyến bay. Nói cách khác, vụ án sắp tới diễn ra sẽ là một vụ án mà những nạn nhân thực sự của nó không xuất hiện. Một vụ án với những người bị hại vô danh. Hành vi của các bị cáo nếu đúng với những gì cáo trạng kết tội thì là hành vi tham nhũng, theo luật định. Nhưng với những người dân bình thường, những nạn nhân thực sự của vụ án, thì hành vi đó đơn giản chỉ một từ: Cướp. Và đó là một vụ cướp tinh vi, được thực hiện bởi những người lẽ ra phải bảo vệ họ. Tham nhũng suy cho cùng chỉ là một uyển ngữ cho hành vi Cướp mà thôi.

Trong lịch sử, sau mỗi một cuộc bể dâu, người ta thường sử dụng các phiên tòa tư pháp để khép lại thời kỳ biến động. Trong những phiên tòa như vậy, diễn ngôn chính thức về thời kỳ biến động sẽ được xây dựng nên. Vì các hành vi của bị cáo mà khiến bao nhiêu người lầm than. Vì những gì các bị cáo làm mà việc chống dịch thêm phần thất bại. Nhưng quả thật không ai dám chắc rằng nếu vụ án không xảy ra, thì lịch sử có khác đi không. Không ai quan tâm, vì mục đích của phiên tòa là để khép lại, không phải để mở ra thêm các câu hỏi.

Vụ án này có lẽ cũng là một phiên tòa như vậy. Những tội vạ của hai năm chống dịch Covid đang một phần được đổ lên đầu của 54 bị cáo, và sẽ đổ lên đầu một số bị cáo khác trong vụ Việt Á. Nhưng cho dù làm cách nào, rất khó để những phiên tòa sắp diễn ra tránh khỏi vết xe đổ của những phiên tòa kể trên. Những câu hỏi sẽ vẫn còn, và khó có lời giải đáp. Liệu đây có phải là cách tốt nhất để khép lại cuộc bể dâu? Ai là nạn nhân, ai là thủ phạm trong những vụ án này? Và nạn nhân có được điều gì từ bản án? Ai trả công bằng cho những “thủ phạm” bất đắc dĩ khác trong mùa dịch?

Công lý đã thua và không thể phục hồi lại được.

Phần Lan thoát khỏi lời nguyền địa chính trị, khi nào thì tới Việt Nam?

Báo Tiếng Dân

Jackhammer Nguyễn

9-4-2023

Ngày 4-4-2023 lá cờ Phần Lan được kéo lên tại trụ sở Liên minh Bắc Đại Tây Dương (NATO) ở Brussels. Từ nay, bất cứ cuộc xâm lăng nào vào Phần Lan thì sẽ bị chống trả bởi 31 quốc gia có kỹ thuật và kinh tế hàng đầu thế giới.

Báo chí thế giới đưa tin này với sự nhấn mạnh đến sự thất bại chiến lược của tổng thống Nga Vladimir Putin. Ông Putin rất sợ chuyện biên giới NATO ngày càng ép sát vào nước Nga. Khi ông ta vô cớ tấn công Ukraine, ngoài tham vọng vĩ cuồng là tạo dựng lại đế quốc Nga (như thời Soviet) mênh mông, còn tiềm ẩn nỗi sợ NATO, theo như lý do ông ta nêu ra.

Thế nhưng, lợi bất cập hại là cuộc xâm lăng Ukraine lại đẩy đất nước vốn đề cao chủ trương trung lập là Phần Lan vào vòng tay NATO, giúp NATO có thêm một đội quân được đào tạo tinh nhuệ là quân đội Phần Lan, đứng ngay sát cửa nước Nga, cũng như giúp biên giới NATO – Nga kéo dài thêm 830 dặm (1.336km). (Biên giới NATO – Nga sau khi Phần Lan gia nhập là 1.584 dặm, khoảng 2.549km).

Tầm mức của cuộc chiến Ukraine cũng như tham vọng quá lớn, gần như phi lý của ông Putin, làm cho người ta quên đi một thay đổi vô cùng quan trọng, liên quan đến cả một khái niệm địa chính trị, đó là nước Phần Lan thoát ra khỏi một định mệnh kéo dài hàng trăm năm, mang tên Phần Lan, đó là khái niệm Phần Lan hóa (Finlandization).

Phần Lan hóa là gì?

Phần Lan hóa có nghĩa là trở nên giống như Phần Lan, trong đó một quốc gia nhỏ và yếu như Phần Lan (thống kê dân số năm 2021 chỉ độ khoảng 5,5 triệu dân), đành phải chịu sự ảnh hưởng của một cường quốc bên cạnh (nước Nga) để giữ vững sự độc lập của mình.

Trong một góc nhìn nào đó, Phần Lan hóa cũng là khái niệm đu dây, khi nói về quan hệ của nước Việt Nam nhỏ và yếu, bị mắc kẹt giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trong Phần Lan hóa, Phần Lan đu dây giữa một bên là Nga Sô (bây giờ là Nga) còn bên kia là thế giới phương Tây. Khái niệm (hay chính sách) Phần Lan hóa chính thức xuất hiện sau thế chiến thứ II.

Cho đến năm 1917, Phần Lan chưa bao giờ là một quốc gia độc lập trên danh nghĩa, mặc dù bản sắc văn hóa và ngôn ngữ của Phần Lan rất mạnh mẽ, chưa bao giờ bị hai cường quốc lớn từng kiểm soát họ là Thụy Điển (trước thế kỷ 19) và Nga (sau đó là Nga Soviet) đồng hóa họ.

Thời Nga hoàng trị vì ở nước Nga từ đầu thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, Phần Lan có tên là Đại Công quốc Phần Lan, với một viên toàn quyền được Nga hoàng bổ nhiệm. Lợi dụng sự rối ren của cuộc cách mạng cộng sản năm 1917, Phần Lan tuyên bố độc lập, và nước Nga Soviet phải chấp nhận điều đó.

Nhưng điều có thể đã làm cho Phần Lan trở nên… Phần Lan hóa sau thế chiến thứ hai, chính là Cuộc chiến mùa đông năm 1939, khi quân đội Nga Sô tràn sang tấn công sau khi Phần Lan từ chối cho đế quốc cộng sản này đặt căn cứ quân sự trong cuộc cạnh tranh với Đức Quốc xã.

Mặc dù gây cho kẻ địch tổn thất nặng nề, Phần Lan cuối cùng phải chịu một hiệp ước đình chiến bất lợi, mất nhiều lãnh thổ.

Kết quả phủ phàng của Cuộc chiến mùa đông 1939, trong đó các quốc gia phương Tây không có sự ủng hộ nào ngoài vài lời tuyên bố ngoại giao, có lẽ đã làm Phần Lan, như con chim sợ cây cong, tuyên bố đứng trung lập, chịu nhiều sức ép ngoại giao và chính trị của chế độ Soviet sau thế chiến thứ hai.

So sánh Phần Lan với trường hợp Việt Nam, đó là cuộc chiến biên giới Việt – Trung năm 1979, dù quân cộng sản Trung Quốc chịu nhiều tổn hại nặng nề trước đội quân cộng sản Việt Nam, đội quân vẫn còn thiện chiến sau cuộc chiến Việt Nam, và lúc đó vẫn còn tiến hành chiến tranh ở Cambodia, nhưng Việt Nam sau đó mất một số đất đai, cũng như ký một hiệp ước bình thường hóa quan hệ ngoại giao mà nhiều người cho là bất lợi.

Từ cuộc chiến 1979 đến nay, Việt Nam nằm trong vòng cương tỏa về chính trị và ngoại giao của Bắc Kinh, từa tựa như Phần Lan thời chiến tranh lạnh, dưới sức ép của Moscow.

Nhưng điều khác biệt lớn nhất giữa Phần Lan và Việt Nam là chế độ chính trị. Phần Lan là một trong những quốc gia có nền chính trị dân chủ bậc nhất thế giới, trong đó tự do báo chí, cùng với các láng giềng Bắc Âu, lúc nào cũng đứng đầu thế giới. Thể chế chính trị và tự do báo chí ấy không có gì giống với nước Nga (trước kia là Nga Sô) bên kia biên giới. Việt Nam và Trung Quốc lại có cùng một chế độ toàn trị trong đó tự do báo chí hoàn toàn vắng bóng.

Một điều quan trọng nữa là bàn cờ chính trị thế giới đã thay đổi rất nhiều. Khi Cuộc chiến mùa đông 1939 nổ ra, không có NATO, các đế quốc châu Âu như Anh, Pháp đang đi vào khủng hoảng, yếu ớt, không thể đứng ra bảo vệ Phần Lan, nước Mỹ thì ở xa và vẫn còn đang trong vòng ảnh hưởng của học thuyết Monroe, không vươn xa ra thế giới mà chỉ quanh quẩn sân nhà ở Tây bán cầu.

Khi cuộc chiến Ukraine bùng nổ, vũ khí và tiền bạc từ Mỹ và Tây Âu, Nhật Bản, lập tức đổ vào Ukraine. Chỉ trong vòng một đêm, tỷ lệ người Phần Lan ủng hộ việc gia nhập NATO vọt lên từ 30% đến 80%.

Giả sử có một liên minh NATO ở phương Đông (thực sự là nó đang hình thành), thì tôi tin rằng tỷ lệ người Việt ủng hộ gia nhập liên minh ấy cũng sẽ rất cao. Trên thực tế thì tỷ lệ dân chúng Việt Nam không có cảm tình với Trung Quốc lúc nào cũng đứng ở vị trí hàng đầu châu Á và Đông Nam Á. Như thế, những người đang cai trị Việt Nam hiện nay rơi vô một thế lưỡng nan, một bên là chế độ chính trị thân Trung Quốc, bên kia là lực hút của thế giới phương Tây.

Tính lưỡng nan đó làm cho Việt Nam tuy không phải là Phần Lan, nhưng thật sự là một quốc gia Phần Lan hóa nhất thế giới.

Tình hình đó đưa đến lá phiếu trắng của Hà Nội tại Liên Hiệp Quốc về cuộc chiến Ukraine. Hà Nội đứng về phe thiểu số vài chục quốc gia, trong đó có Trung Quốc, với lá phiếu y hệt như nhau.

Nhưng mặt khác, chính phủ Việt Nam biết rằng dân Việt Nam không ưa gì Trung Quốc và Nga, nên họ có những phát biểu lạ lùng và dở hơi như ông đương kim thủ tướng Phạm Minh Chính nói về lá phiếu trắng của Hà Nội, là Hà Nội chọn chính nghĩa (?) chứ không chọn phe (sic).

Thưa thủ tướng Chính, chính nghĩa hay không chính nghĩa là một khái niệm rất chủ quan, nhưng điều quan trọng hơn là lợi ích của dân chúng. Vì lợi ích ấy mà Phần Lan đã chọn phe, cũng là chọn chính nghĩa. Chính nghĩa đó chính là bảo vệ người dân Phần Lan khỏi những chiến binh man rợ người Nga của Putin, chứ không phải là một chính nghĩa chủ quan.

Trong tình trạng Phần Lan hóa của Việt Nam hiện nay, sẽ không có quốc gia NATO phương Đông nào ra tay, nếu Hà Nội bị Bắc Kinh tấn công.

Khi nhìn thấy lá cờ Phần Lan được kéo lên ở trụ sở NATO, tôi nhớ ngay đến một buổi sáng mùa đông lạnh giá, trước bức tượng kỷ niệm Cuộc chiến mùa đông 1939 tại thủ đô Helsinki, người phụ nữ Phần Lan kể với tôi rằng, có đến 200 ngàn quân Nga Sô tử trận trong cuộc chiến anh dũng của người Phần Lan.

Cũng đã có cả chục ngàn lính Trung Quốc tử trận trong cuộc xâm lăng 1979, nhưng Việt Nam vẫn nằm trong lời nguyền địa chính trị Phần Lan hóa.

TIN MỪNG TỪ NGHĨA ĐỊA

Tác giả: J. Braaten, www.sermons.faithlife.com

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

Lễ Phục Sinh chính là thời điểm tốt lành để vỗ tay nồng nhiệt trong nhà thờ. Đó là một ngày để các Kitô hữu vui vẻ ăn mừng chiến thắng của Chúa Kitô trước cái chết. Rõ ràng tâm trạng chủ đạo trong buổi lễ của chúng ta sáng nay là niềm vui. Đó là một ngày để ban nhạc nổ ra, vỗ tay và hát vang lên: “Hallelujah! Hallelujah!”

Nhưng nếu bạn từng đọc các trình thuật Tin Mừng về sự phục sinh, bạn sẽ khám phá ra một điều khác thường; 

Phản ứng đầu tiên của những người đàn ông và phụ nữ đến mộ Chúa Giêsu không phải là vui mừng – mà là hoang mang và sợ  hãi! Tác động tức thời của sự sống lại đối với những người theo Chúa Giêsu là sự hoang mang và lo sợ. Maria Mađalêna đã bị chấn động và các môn đệ rõ ràng là rất bối rối. Rốt cuộc, họ đã đi ra khỏi ngôi mộ đó và tự nhốt mình trong một căn phòng bí mật.

Trong bất cứ những gì mà những người theo Chúa Giêsu có thể hình dung ra được sau cuộc đóng đinh, và trong bất cứ những gì mà họ có thể mong đợi, họ đều không nghĩ đến sự sống lại. Việc phát hiện ra ngôi mộ trống khiến họ bối rối, do dự và sợ hãi.

Nếu chúng ta muốn hiểu sức mạnh ẩn chứa trong chính tâm điểm của Lễ Phục Sinh, chúng ta cần phải chấp nhận phản ứng lạ lùng của các môn đệ là hoang mang và sợ hãi. Điều đó khó thực hiện vì lễ Phục Sinh không có gì ngạc nhiên đối với chúng ta. Chúng ta đã chờ đợi lễ Phục Sinh suốt cả Mùa Chay. Chúng ta lên kế hoạch cho ngày Lễ. Và bởi vì chúng ta mong đợi ngày đó,  chúng ta có khuynh hướng đánh mất cảm giác sững sờ và ngạc nhiên.

Nhưng các môn đệ lại hoàn toàn ngạc nhiên. Một người đã chết được ba ngày không thể đứng dậy và bắt đầu sống lại; điều đó sẽ vi phạm tất cả các quy luật tự nhiên ai cũng biết.Họ là những người thông minh; họ biết điều đó.

Vì vậy, khi Maria Mađalêna, Phêrô và Gioan gặp Chúa Giêsu Phục Sinh, họ đã không nắm tay nhau bước đi trong ánh hừng đông và hân hoan hát vang: “Chúa nay thực đã Phục Sinh. Halleluia! Halleluia!”Trái lại! Họ vô cùng sợ hãi. Và chúng ta sẽ cần phải hiểu tại sao họ lại sợ hãi như vậy nếu chúng ta thăm dò những chiều sâu của sự phục sinh và nắm bắt lại trạng thái ngây ngất trong lễ Phục Sinh.

Những người theo Chúa Giêsu bối rối và chán nản trước cái chết của Ngài. Họ đã khóc ở thập giá. Họ khóc trướcmộ. Nhưng họ đành chấp nhận việc đó. Chúng ta đọc thấy rằng những người phụ nữ đến sớm, trong khi trời vẫn còn tối, có lẽ là để xức dầu thơm cho cơ thể của Chúa Giêsu. Họ đã chấp nhận sự thật rằng Ngài đã chết.Họ cam chịu điều đó; Rốt cuộc, rồi ra tất cả chúng ta đều chết. Họ đã sẵn sàng quay lại cuộc sống bình thường của mình sau những ngày họ đã quên mất cuộc sống đó khi Chúa Giêsu qua đời.

Nhiều người trong số chúng ta ở đây hôm nay đã học cáchchấp nhận đau buồn. Chúng ta cũng đã chấp nhận thực tếnghiệt ngã của cái chết.  Chúng ta học cách tiếp tục sống. Chúng ta phải vậy thôi. Nhưng đối với những người đầu tiên theo Chúa Giêsu, một phần của sự ngạc nhiên lớn lao đó là việc nhận ra rằng Thiên Chúa hành động qua đau khổ và cái chết. Bi kịch khủng khiếp xảy ra trên đồi Sọ đều nằm trong kế hoạch của Thiên Chúa! 

Chắc chắn rằng những môn đệ đầu tiên đó tin rằng có một cuộc sống chan chứa ở kiếp sau; Chúa Giêsu đã nói về điều đó nhiều lần rồi. Nhưng họ không nghĩ đến sự việc rằng mục đích cao cả của ân huệ Thiên Chúa sẽ được hoàn thành qua những điều như đau khổ và sự chết. Đương đầu với những thực tế khắc nghiệt như cái chết và sự vỡ mộng, sống với chúng, chấp nhận chúng là một chuyện nhưng đối mặt với thực tế rằng đây là cách Thiên Chúa chọn để hành động trong thế giới này lại là một chuyện hoàn toàn khác. Đây là những phương pháp mà qua đó các mục đích của Thiên Chúa được thực hiện. Bây giờ họ đã biết. Thiên Chúa không cứu chúng ta khỏi đau khổ và sự chết, nhưng Thiên Chúa cứu chúng ta qua đau khổ và sự chết. Thế giới tội lỗi, sa ngã này đã được đưa trở lại vòng tay yêu thương của Thiên Chúa qua những đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu, Con của Thiên Chúa.

Chúng ta tự hỏi, “Điều này có nghĩa là gì?” Sau đó, chúng ta nhớ lại rằng khi chúng ta chịu phép rửa tội, dấu thánh giá được in trên chúng ta như một dấu hiệu cho thấy chúng ta không chỉ chia sẻ quyền năng phục sinh của Chúa Giêsu, mà chúng ta còn biết thông phần với những đau khổ của Ngài. Dân Chúa được mời gọi chia sẻ những đau khổ của Chúa Giêsu Kitô.

Ở dạng nhẹ nhàng hơn, điều đó có thể có nghĩa là chúng ta được kêu gọi từ bỏ các biểu tượng địa vị xã hội mà người khác cho là rất quan trọng. Ở mức độ sâu xa hơn, chúng ta có thể được yêu cầu phải có những lập trường không như người khác, dẫn đến việc mất bạn bè hoặc gia đình xa lánh.

Có một khía cạnh khác dẫn đến sự hoang mang và sợ hãi của những người theo Chúa Giêsu mà chúng ta không được bỏ qua. Trước khi những người đàn ông và phụ nữ đầu tiên đó có thể trải nghiệm vinh quang choáng ngợp của Lễ Phục Sinh, họ phải chấp nhận sự thật rằng sự sống lại của Chúa Giêsu kéo theo sự phán xét sắp xảy ra. Khi tin tức về sự phục sinh của Chúa Giêsu được truyền đi từ tín đồ hoài nghi này sang tín đồ khác, nỗi sợ hãi bao trùm lấy họ! Họ sợ vì giờ đây người mà họ tưởng đã chết lại sống lại. Cùng với Ngài tất cả những thứ khác cũng trở lại. Đối với người ta, tất cả các môn đệ đã phản bội và chối bỏ Chúa của họ. Họ phải gặp mặt đối mặt Đấng mà họ đã phản bội, báng bổ và ruồng bỏ. Sẽ không có chuyện quên đi hay thoát khỏi những ký ức về những gì họ đã làm. Thảo nào các môn đệ sợ hãi. Thay vì có thể quên, họ buộc phải sống lại nỗi ô nhục của họ.

Có lẽ đó là lý do tại sao các trình thuật Tin Mừng thường nói từ đầu tiên không phải là “hãy vui lên”. Mà đúng hơn là “Đừng sợ”. Đừng sợ. Vì Đấng làm cho mọi sự sống lại chính là Đấng yêu thương bạn và phó chính mình vì bạn. Ngài không cho phép trốn thoát, không thể lãng quên, ngay cả khi chết, Ngài vẫn nhớ và u bạn. Tất nhiên không ai xứng đáng với tình yêu đó, những người đầu tiên theo Chúa đã không xứng đáng và chúng ta cũng vậy; Đó không phải là vấn đề. Vấn đề là Thiên Chúa yêu bạn và lễ Phục Sinh công bố thông điệp này to tiếng và rõ ràng. Thiên Chúa yêu thương bạn. Tạ ơn Chúa vì không có lối thoát khỏi tình yêu đó. Không có lối thoát, ngay cả trong cái chết!

Đó là kinh nghiệm của Maria Mađalêna. Cuộc gặp gỡ của cô với Chúa Giêsu đã nói rõ điều đó. Khi Chúa Giêsu cất tiếng nói, tình yêu thương và sự chấp nhận tỏa ra từ lời của Ngài làm cho cô ấy vui mừng đến nỗi cô chạy đến bên Ngài để được Ngài ôm lấy. Chúa Giêsu đã tìm kiếm cô trong tình yêu và lòng trắc ẩn;  Ngài đến với các môn đệ cũng như vậy, không phải để phán xét, nhưng với tình yêu … và Ngài vẫn đến với bạn, với bạn và tôi, một cách trìu mến, đầy trắc ẩn.

Điều đó có ý nghĩa rất lớn đối với chúng ta vì nó có nghĩa là chúng ta không phải chạy trốn khỏi Chúa nữa. Chúng ta không cần phải cố che giấu. Chúng ta không cần phải giả vờ, với Chúa, với người khác, hay với chính mình. Có nghĩa là Chúa Giêsu trở lại, không phải trong sự kết án, không phải trong sự phán xét, nhưng trong ân sủng và bình an. Chúa chúng ta trở lại để phục sinh chúng ta, để chúng ta, là những kẻ đã chết trong những vi phạm và tội lỗi của mình, không còn phải sống trong mặc cảm tội lỗi nữa, chúng ta không phải sợ hãi Thiên Chúa hay sự phán xét. Tất cả sự phán xét của Thiên  Chúa đổ trên Chúa Kitô. Khi viên đá chặn cửa mồ được lăn ra khỏi ngôi mộ của Ngài, trong sự phục sinh của Ngài, chúng ta được công chính hóa, được tuyên bố vô tội trước mặt Cha Trên Trời. 

Lễ Phục Sinh và sự phục sinh của Chúa Giêsu Kitô, tuyên bố rằng tất cả những cánh cửa đóng chặt chúng ta – sợ hãi, tội lỗi, lo lắng, bất an – tất cả đều đã bị vượt qua và chúng ta thoát khỏi chúng và những cánh cửa giờ đây đã được mở ra. Chúa Kitô mở những cánh cửa đó và ban cho bạn sự tự do. Ngài cũng mở cho chúng ta cánh cửa cuối cùng, cánh cửa của sự chết. Một số người tin rằng khi họ chết họ sẽ chết mãi mãi, nhưng điều đó không đúng. Bạn không xin được sinh ra, nhưng bạn được sinh ra. Bạn không chọn lựa khi nào bạn được sinh ra, nhưng bạn đã được sinh ra. Bạn đã không quyết định thức dậy sáng nay, nhưng bạn đã thức dậy. Vì vậy, bạn sẽ không yêu cầu được trỗi dậy từ cõi chết, nhưng bạn sẽ được trỗi dậy. Vì Chúa Kitô sẽ gọi bạn và bạn sẽ trỗi dậy và Ngài sẽ ban sự sống cho bạn. Những ai tin vào Ngài, vào sự tha thứ mà Ngài ban cho vì cái chết của Ngài, sẽ được sống lại từ cõi chết để bước vào đời sống mới trong Chúa Kitô.

Trong bài Tin Mừng của chúng ta, Thiên thần hỏi: “Sao các bà lại tìm Người Sống ở giữa kẻ chết?” (Lc 24: 5). Chắc chắn thiên thần ngụ ý rằng Chúa Giêsu không còn chết nữa và Ngài đã sống lại. Nhưng, có lẽ chúng ta có thể nhìn câu hỏi đó dưới một ánh sáng khác… dưới ánh sáng của sự phục sinh. Trước khi Chúa phục sinh, nghĩa địa thực sự là nơi chết chóc, vé một chiều. Giờ đây, những ngôi mộ của chúng ta có thể được coi là cánh cửa mà tất cả chúng ta phải bước qua, không phải dẫn đến cái chết, mà là dẫn đến cuộc sống vĩnh cửu. Bây giờ, trong hy vọng và đức tin, chúng ta có thể tìm kiếm người sống giữa những người chết.

Thật kỳ lạ làm sao khi sự sống có thể chảy ra từ nấm mồ. Nhưng sau đó, lại giống như Thiên Chúa. Ra khỏi các phiên tòa xét xử chiến tranh ở Nuremberg ở Đức sau Thế chiến thứ hai, có sự chứng kiến của một người đàn ông. Trong cuộc chiến gần Willma, Ba Lan, một nhóm người Do Thái thoát chết trong phòng hơi ngạt đã trú ẩn tại một nghĩa trang. Họ sống ở đó, túm tụm và ẩn mình dưới đáy những ngôi mộ đào sẵn. Một bé trai được sinh ra vào một buổi tối tại một trong những ngôi mộ đó. Người đào mộ, một người Do Thái chính thống, già dặn, nghiêm khắc, mặc đồ tang bằng vải lanh, đỡ đẻ. Khi đứa trẻ sơ sinh cất tiếng khóc đầu tiên, người đào mộ già kêu lên: “Lạy Thiên Chúa vĩ đại, cuối cùng có phải Ngài đã gửi Đấng Cứu Thế đến cho chúng tôi không? Vì ai khác ngoài Đấng Cứu Thế sẽ được sinh ra trong một ngôi mộ?” Kinh Thánh cho chúng ta biết rằng Chúa Giêsu, Đấng Mêsia, là người đầu tiên được sinh ra từ kẻ chết: “Ngài là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Ngài đứng hàng đầu. Vì Thiên Chúa đã muốn làm cho tất cả sự viên mãn hiện diện ở nơi Ngài, cũng như muốn nhờ Ngài mà làm cho muôn vật được hoà giải với mình. Nhờ máu Ngài đổ ra trên thập giá, Thiên Chúa đã đem lại bình an cho mọi loài dưới đất và muôn vật trên trời. (Col 1:18)

Sinh ra trong một ngôi mộ. Đó là chúng ta. Cuộc sống của chúng ta thực sự bước ra từ một ngôi mộ, ngôi mộ của Chúa Kitô! Làm thế nào giống như Thiên Chúa để làm một điều gì đó như thế. Sinh ra trong một ngôi mộ. Sinh ra để ăn mừng. Sinh ra để nhảy mừng, để sống trong niềm mong đợi vì quyền năng phục sinh của Thiên Chúa đã được trải ra trên thế giới này.

Đó là Tin Mừng từ nghĩa địa: Chúa Giêsu Kitô đã sống lại từ cõi chết để bạn và tôi có thể sống trong niềm tin chắc rằng cánh cửa sự sống đã mở ra cho chúng ta. Đó là cuộc chinh phục của thập giá, là chiến thắng của Sự Phục Sinh.

Vì vậy, chúng ta được mời gọi mở cánh cửa và bước vào cuộc sống với sứ điệp Phục Sinh kỳ diệu: Chúa Kitô không chỉ sống, mà còn ban sự sống, biến đổi sự sống, phục sinh sự sống.

Sự thật đó thật choáng ngợp, vượt xa khả năng diễn đạt hoặc hiểu biết của chúng ta. Hãy tin và để sự thật đó nắm giữ bạn. Tôi mời bạn ra khỏi nơi này, cầu xin Thiên Chúa cho bạn sống cuộc đời của bạn với niềm vui và sự công chính thảnh thơi, là điều phù hợp với một người đã nhận được rất nhiều ơn phúc nhờ Chúa Giêsu Kitô, Chúa Phục Sinh của chúng ta. Xin Chúa chúc lành cho bạn trong lễ Phục Sinh này và trong lễ mừng quyền năng kỳ diệu của Chúa Kitô trong cuộc đời bạn. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Hẹn gặp lại

CÙNG MẸ, MỘT NGÀY LẶNG YÊN

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ngài không có ở đây!”.

Tại các Giáo Phận, phần lớn giáo dân các họ đạo truyền thống có thói quen ngắm Mười Lăm Sự Thương Khó Đức Chúa Giêsu vào Mùa Chay. Riêng Tổng Giáo Phận Huế, kinh nguyện quý báu này được ngắm vào Tuần Thánh; đặc biệt, sáng thứ Năm, thứ Sáu và thứ Bảy. Nó được gọi là Kinh Lễ Đèn, vì có đến 15 ngọn nến hoặc đèn, được đốt lên trên cùng một giá. Cách thức đọc Kinh Lễ Đèn được hướng dẫn đến từng chi tiết; cách chung, ngắm một chặng, tắt một ngọn nến, đọc 1 kinh Lạy Cha, 10 Kinh Kính Mừng. Tuy nhiên, ở Lễ Đèn 3, tức sáng thứ Bảy, ngọn nến 15 sẽ không được tắt! Thật thú vị, nó được đem vào phòng thánh một chốc, đang khi cộng đoàn quỳ gối ngắm “Thánh Mẫu Thống Khổ Kinh”. Sau đó, ngọn nến này được đem tr
ở lại, đặt trên bàn thờ; ngọn nến đó tượng trưng cho Chúa Giêsu! Ngài đã chết, nhưng thực ra, cái chết của Ngài chỉ như một sự nghỉ ngơi trong mồ. Vì thế, thứ Bảy Tuần Thánh được coi như ngày mà Kitô hữu ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ đợi ngày Con Chúa phục sinh!

Kính thưa Anh Chị em,

Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội không có một nghi lễ nào, mãi cho đến buổi cử hành long trọng Đêm Vọng Phục Sinh. Hôm nay, Giáo Hội trầm tư suy gẫm chậm rãi với Đức Maria, Mẹ mình. Nắm lấy tay Mẹ, mỗi tín hữu tìm đến một ‘nơi vắng vẻ’, chiêm ngắm cuộc khổ nạn và cái chết của Chúa Giêsu; và nhất là, ‘cùng Mẹ, một ngày lặng yên’ để trải nghiệm các mầu nhiệm!

Phụng vụ của những ngày qua đầy cảm xúc với nhiều nghi lễ; thế nhưng, thứ Bảy Tuần Thánh lại trôi qua một cách lặng lẽ, thanh thản. Đó là một ngày để tận hưởng tất cả những tình cảm đan xen giữa trầm buồn lẫn hy vọng! Đừng để thứ Bảy Tuần Thánh trôi qua như bao ngày khác, hay chỉ là một ngày giữa thứ Sáu Tuần Thánh và Chúa Nhật Phục Sinh. Đó là một ngày mà tất cả chúng ta cùng Mẹ Maria và Mẹ Hội Thánh nữa, tĩnh lặng, chiêm ngắm và tôn thờ.

Chỉ trong sự suy gẫm thầm lặng này, các tông đồ, và cả chúng ta mới có thể nhìn thấy mọi sự đã xảy ra phù hợp và trùng khít với nhau thế nào. Chúa Giêsu đã nói với các tông đồ những gì sẽ xảy ra với Ngài, kể cả sự phục sinh; Ngài đã nói với họ, nhưng tâm trí họ chưa chuẩn bị đủ để hiểu. Chỉ trong sự im ắng của ngày thứ Bảy, và nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ Chúa Giêsu, họ mới có thể hiểu được những gì Thầy đã nói. Cũng thế, với chúng ta; cùng Mẹ Maria, chúng ta ghi nhớ những lời của Chúa Giêsu. Nhiều lần, chúng ta nghĩ, chúng ta biết Ngài là ai, dạy chúng ta điều gì, nhưng thực ra, những điều đó chưa đi vào trái tim chúng ta; bằng chứng là cuộc sống của bạn và tôi chưa biến đổi! Phải lắng nghe, cẩn thận suy gẫm những gì Chúa Giêsu nói trong Tin Mừng, chúng ta mới hiểu được sâu sắc để áp dụng vào cuộc sống mình!

Anh Chị em,

“Ngài không có ở đây!”. Sự im lặng của ngày hôm nay không phải là một sự i
m lặng của thoái chí và tuyệt vọng, nhưng là ‘im lặng thánh’, một sự im lặng của niềm mong đợi lớn lao sẵn sàng bùng lên trong niềm vui ngập tràn của Đêm Vọng Phục Sinh. Chúng ta sẽ ‘đến mộ’ Chúa cùng với các thánh nữ, không phải để xức dầu cho một xác chết, nhưng để vui mừng với các thiên thần khi nghe họ tuyên bố, “Ngài không có ở đây. Ngài đã sống lại!”; “Tại sao các bà lại tìm người sống nơi những kẻ chết?”. Và như thế, nhờ có một ngày lặng yên với Mẹ, chúng ta mới có thể vui mừng nói cùng Mẹ, “Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, hãy vui mừng, Halleluia!”, và với Mẹ, chúng ta hát khúc khải hoàn ca, “Chúa Đã Sống Lại, Halleluia!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Nữ Vương Thiên Đàng, xin dạy con biết chờ đợi Chúa như Mẹ. Không chỉ hôm nay, nhưng mỗi ngày, từng ngày, và ‘một đời với Mẹ’, con chờ đợi Chúa!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

RẤT ĐỖI VUI MỪNG

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Vào thời Đức Giêsu, phụ nữ không được coi trọng.  Với truyền thống văn hóa của người Do-thái thời đó, Đức Giêsu không thể gọi một nhóm phụ nữ đi theo mình khắp nơi để làm môn đệ.  Tuy nhiên, vẫn có một nhóm phụ nữ vùng Galilê mộ mến và chịu ơn Thầy Giêsu, nên đã đi theo Thầy.

Họ đã có mặt bên Thầy trong những ngày cuối.  Họ đã theo Thầy trên suốt chặng Đàng Thánh Giá, trong khi các môn đệ nam bỏ trốn vì sợ liên lụy, các bà đã đứng xa nhìn Thầy chịu đóng đinh.  Họ đã chăm chú xem ông Giô-xếp tẩn liệm Thầy trong ngôi mộ mới, đục sâu vào núi đá, và họ đã ngồi ngắm nhìn ngôi mộ (Mt 27,55-61).

Biến cố Thầy chịu đóng đinh là một biến cố kinh hoàng, vượt sức chịu đựng của các phụ nữ.  Họ đã trải qua một đêm thứ sáu và thứ bảy thật dài, mong ngóng mau hết ngày sa-bát để ra thăm mộ.  Ngôi mộ là nơi tập trung tất cả tình thương của họ.  Người ta đã giết Thầy rồi, xác Thầy là điều duy nhất họ còn giữ được.

Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, hai bà Maria là những phụ nữ đầu tiên ra viếng mộ.  Đơn giản họ muốn được gần xác Thầy, để khóc than, để nhớ thương, tiếc nuối…  Họ vẫn chưa hết bàng hoàng về chuyện đã xảy ra.  Cái chết của Thầy làm đức tin họ bị xao động.

Tại sao Thiên Chúa lại để cho xảy ra chuyện đó?  Khi đến mộ, các bà chẳng ngờ những gì sẽ xảy ra ở đây.  Đây không còn là ngôi mộ, với phiến đá to chắn ở cửa, vì bỗng nhiên mặt đất rung chuyển dữ dội, và phiến đá bị một vị thiên sứ lăn qua một bên.  Cửa mộ mở tung, cho thấy rõ những gì trong mộ.

Vị thiên sứ mang dáng vẻ của người thuộc thiên giới.  Cả khuôn mặt lẫn y phục đều bừng sáng trắng tinh.  Vị này khuyên các bà đừng sợ.  Thiên sứ tỏ ra hiểu biết lý do khiến các bà đến mộ: “Tôi biết các bà tìm Đức Giêsu, Đấng chịu đóng đinh.”  Thiên sứ giải thích tại sao ngôi mộ lại không còn xác Thầy: “Người không có ở đây, vì Người đã được phục sinh.”  Thiên sứ còn mời các bà lại gần chỗ đã đặt xác: “Các bà đến mà xem chỗ Người đã nằm.”  Nhưng quan trọng nhất là câu nói sau của vị thiên sứ: “Rồi các bà hãy đi cho nhanh, và nói với các môn đệ: Người đã được phục sinh từ cõi chết.”

Đây là Tin Mừng cho các bà còn đứng đó phân vân.  Thầy Giêsu đã sống lại thật rồi, đã ra khỏi mộ rồi.  Các bà có bổn phận báo cho các môn đệ biết tin đó.  Họ trở thành những sứ giả đầu tiên đi loan báo Tin Mừng.  Họ cũng phải nhắc lại cái hẹn của Thầy Giêsu với môn đệ: “Người đến Galilê trước các ông, ở đó các ông sẽ gặp Người.”

Các phụ nữ thành cầu nối để Thầy phục sinh gặp lại trò cũ.  Vừa sợ, vừa vui, nhưng vui thì lớn hơn sợ nhiều lần, các bà nhanh chóng rời khỏi ngôi mộ mà họ quyến luyến.  Họ có một sứ mạng lớn lao và khẩn trương, khiến họ phải chạy nhanh cho kịp.  Chẳng ai ngờ trên đường đến với các môn đệ thì họ lại gặp chính Thầy Giêsu phục sinh, hay đúng hơn, chính Thầy đón gặp họ trên đường.

Thầy là người mở lời chào: “Chị em hãy vui lên!”  Có vẻ các bà nhận ra Thầy ngay, vị Thầy mà họ thấy chết trên thập giá đã ba ngày rồi, đã được chôn, và họ đã không thấy xác nằm ở mộ nữa.  Bây giờ vị Thầy ấy đang đứng trước mặt họ.  Lòng họ đầy nỗi sợ hãi cùng với niềm vui khôn tả.  Nhưng họ không thể cưỡng được chuyện lại gần Thầy, bái lạy Thầy và ôm lấy chân.

Thầy đã phục sinh thật rồi, đúng như lời thiên sứ nói.  Đây không phải là một thị kiến, hay một giấc mơ.  Thầy không phải là một bóng ma hay ảo ảnh.  Chẳng những họ được thấy mà còn được chạm vào Thầy.  Thầy lại nhắc họ đi báo Tin Mừng Thầy được phục sinh cho các môn đệ, mà Ngài gọi là “anh em của Thầy.”

Đức Giêsu không nhắc đến những vấp ngã của các ông.  Ngài muốn làm hòa với họ và nối lại mối dây thân thiết.  Bài Tin Mừng trong lễ Vọng Phục sinh thật là vui.  Hai phụ nữ đã trải qua bao kinh nghiệm thiêng liêng, bao cung bậc của tình cảm, từ sợ hãi đến vui mừng, và cuối cùng là niềm hạnh phúc ngây ngất vì gặp Chúa.

Họ đi tìm xác Thầy, nhưng lại gặp Thầy đang sống.  Nước mắt đớn đau từ hai ngày qua được Thầy lau khô.  Hôm nay, Chúa phục sinh cũng đón chúng ta trên đường, khi chúng ta đang tìm kiếm, khổ đau, mất mát, thất vọng.  Chỉ cần nghe tiếng chào của Ngài là con tim sẽ vui trở lại.  Chỉ cần lại gần Ngài, chúng ta sẽ nói được: Ha-lê-lui-ya.

******

Lạy Chúa Giêsu phục sinhChúa đã sống đến cùng cuộc Vượt qua của Chúa, xin cho con biết sống cuộc Vượt qua mỗi ngày của con.  Vượt qua sự nhỏ mọn và ích kỷ.  Vượt qua những đam mê đang kéo ghì con xuống.  Vượt qua nỗi sợ khổ đau và nhục nhã.  Vượt qua đêm tăm tối cô đơn của Vườn Dầu.  Vượt qua những khắc khoải của niềm tin.  Vượt qua những thành kiến con có về người khác…  Chính vì Chúa đã phục sinh nên con vui sướng và can đảm vượt qua, dù phải chịu mất mát và thua thiệt.  Ước gì con biết noi gương Chúa phục sinh gieo rắc khắp nơi bình an và hy vọng, tin tưởng và niềm vui.  Ước gì ai gặp con cũng gặp thấy sự sống mãnh liệt của Chúa.

Lm Antôn Nguyễn Cao Siêu, SJ

Năm 2023

Nếu có thể…

Nếu có thể…

Nếu có thể, để nỗi buồn ngoài cửa

Giữ tâm an rồi hãy bước vào nhà

Như giày dép dẫu bao nhiêu bùn đất

Để hiên nhà sau mỗi dặm đường xa!

Nếu có thể, đừng giận hờn trách móc

Chuyện áo cơm cũng đủ mệt nhọc rồi

Khi lòng thấy có muộn phiền ấm ức

Mình nhẹ nhàng ngồi xuống bảo nhau thôi!

Nếu có thể, đừng than thân trách phận

Ở ngoài kia còn bao kẻ khốn cùng

Còn sức khoẻ là mình còn hy vọng

Đừng tự dọa mình rồi suy nghĩ lung tung!

Nếu có thể, thương nhau thêm một chút

Nay bên nhau mai chưa chắc đã còn

Đời dài ngắn nào đâu ai biết được

Trông đợi gì câu hẹn biển thề non!

Nếu có thể, nhường nhịn nhau một chút

Tranh phần hơn nào được lợi ích gì

Chịu thua thiệt không phải là nhu nhược

Chẳng truy cầu thì hà tất phải sân si

Nếu có thể, chúng mình cùng cố gắng

Sống bao dung, đừng tính toán chi nhiều

Tâm rộng mở, không gì là không thể

Hãy nhìn đời bằng đôi mắt thương yêu!

ST.

From: TRUONG LE

ĐÓNG ĐINH MỘT VỊ THẦN-Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Thứ Sáu Tuần Thánh, TƯỞNG NIỆM CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Chính Tôi đây!”.

Heywood Broun nói, “Không ai luôn nói về Chúa cho bằng những người cho rằng, ‘Không có Ngài!’”. Một nhà tu đức khác thì nói, “Không ai biết Đức Giêsu là Chúa mà lại đóng đinh Ngài! Nhưng, với ai tin Giêsu, mỗi lần phạm tội trọng, là họ đóng đinh Ngài; ‘đóng đinh một vị Thần!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Ghi lại Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu, chỉ một mình Gioan có được lời khẳng định tuyệt vời của Ngài, “Chính Tôi đây!”. Khẳng định này đưa chúng ta về với một sự thật vô cùng quan trọng. Rằng, Ngài là Thiên Chúa! Vì thế, đóng đinh Giêsu, nhân loại ‘đóng đinh một vị Thần!’.

“Chính Tôi đây!”, “Chính là Ta!”, “Tôi Là!”, hay “Tôi Hằng Hữu!” là những ‘danh xưng’ chỉ dành cho Thiên Chúa. Chính Thiên Chúa đã sử dụng danh hiệu này để mặc khải chính Ngài cho Môisen trên núi Sinai. Kitô giáo sử dụng nó để nói về Đấng tạo dựng muôn loài, nghĩa là tất cả mọi vật hiện hữu. Tuyệt vời thay, “Chính Tôi đây!” cũng là lời mà Chúa Giêsu công khai tuyên bố trước quân dữ. Như vậy, chẳng vô tình chút nào, Ngài muốn công khai thần tính của Ngài! Vì lý do đó, Gioan viết, “Nghe thế, họ giật lùi lại và ngã xuống đất!”. Suy gẫm cuộc khổ nạn của Chúa Kitô, chúng ta đừng bao giờ quên thần tính của Ngài; Ngài là một Thiên Chúa bị đóng đinh, cũng là Đấng Cứu Độ Thế Giới, một thế giới trong đó con người ‘đóng đinh một vị Thần!’.

Thú vị thay! Cũng trong bối cảnh này, Phêrô tuyên bố một lời ngược lại hoàn toàn, một lời ‘không thể phàm nhân hơn’: “Không phải tôi!”. Đó là lời nói dối của ông trước một cô gái. Mỉa mai thay, không phải trước một bà hoàng, nhưng trước một đầy tớ! “Không phải tôi” là ‘nội hàm’ cho tất cả yếu đuối và mỏng giòn nhất của con người; Phêrô là đại diện cho mỗi người chúng ta. Khi làm vậy, Phêrô xác nhận sự yếu hèn của bản thân cũng như nhu cầu của mình đối với ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Về điểm này, bạn và tôi nên đồng ý với Phêrô!

Bối cảnh thương khó của Chúa Giêsu đặt liền kề việc chối Thầy của Phêrô và bản án thập giá của Ngài. Mặc dù cái chết của Chúa Giêsu vẫn sẽ xảy ra nếu không có sự chối Thầy của Phêrô; nhưng ảnh hưởng của nó vẫn tác động đến ông. Ngài đã chết thay cho Phêrô và tất cả mọi người; qua đó, Ngài cứu cả nhân loại khỏi mọi tội lỗi. Sự thiếu đức tin và tình yêu  Phêrô không thay đổi được điều đó; nhưng một khi Phêrô quay trở lại và tin, ông nhận ra rằng, Chúa Giêsu đã làm tất cả cho ông. Từ đó, Phêrô loan báo chân lý này thật xa và thật rộng! Rằng, “Anh em đã dùng bàn tay kẻ dữ mà đóng đinh Ngài vào thập giá” khác nào ‘đóng đinh một vị Thần’. Nhưng “Thiên Chúa đã làm cho Ngài sống lại; đặt Ngài làm Đức Chúa và làm Đấng Kitô!”. Tác phẩm “Thập Giá Chiến Thắng” của Janice Alexander đã vẽ Ngài vui mừng, như một vị Vua đang dang tay ôm lấy cả nhân loại.

Anh Chị em,

“Chính Tôi đây!”. Khẳng định của Chúa Giêsu nói lên tất cả! Ngài là Thiên Chúa, Ngôi Lời làm người, sống dưới chế độ lề luật của con người, và chết bởi lề luật của nó. Ngài chấp nhận bản án, chấp nhận cho nó ‘đóng đinh một vị Thần’. Thế nhưng, chính nhờ sự chết và những đau khổ Ngài chịu, nhân loại nhận được công chính hoá. Đó là đường lối khôn ngoan nhiệm mầu của Thiên Chúa. Ngài là vị Thiên Sai mà Chúa Cha đã phán, “Tôi tớ công chính của Ta sẽ công chính hoá nhiều người, sẽ gánh lấy mọi tội ác của họ” như Isaia tiên báo qua bài đọc hôm nay; cũng là Đấng mà tác giả thư Do Thái hôm nay tuyên xưng, “Con Thiên Chúa trở nên căn nguyên ơn cứu độ đời đời cho tất cả những kẻ tùng phục Ngài”; hoặc đó còn là Đấng gọi Thiên Chúa là Cha như Thánh Vịnh đáp ca diễn tả, “Lạy Cha, con phó linh hồn con trong tay Cha!”.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, mỗi lần phạm tội, con đóng đinh Chúa, ‘đóng đinh một vị Thần!’. Như Phêrô, xin giúp con kiên trì xây dựng lại bản chất thứ hai; đó là khả năng thống hối và quay trở lại!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Phóng sự Nga: Sĩ quan phản chiến trong đội an ninh tinh nhuệ của Putin đã đào tẩu

Báo Tiếng Dân

AP

Tác giả: Erika Kinetz

Cù Tuấn biên dịch

5-4-2023

LONDON (AP) — Vào ngày 14 tháng 10, một kỹ sư người Nga tên là Gleb Karakulov đáp chuyến bay từ Kazakhstan đến Thổ Nhĩ Kỳ cùng vợ và con gái. Anh tắt điện thoại để không phải xem những tin nhắn khẩn cấp và tức giận, nói lời tạm biệt với cuộc sống ở Nga và cố gắng làm dịu trái tim đang đập nhanh của mình.

Nhưng đây không phải là một người Nga đào thoát bình thường. Karakulov là một sĩ quan trong cơ quan an ninh cá nhân ưu tú bí mật của Tổng thống Vladimir Putin – một trong số ít người Nga bỏ trốn công khai có cấp bậc, cũng như biết về các chi tiết thân mật về cuộc đời của Putin và các thông tin mật.

Karakulov, người chịu trách nhiệm về thông tin liên lạc an toàn, cho biết sự phản đối về mặt đạo đức đối với cuộc xâm lược Ukraine của Nga và nỗi sợ chết ở đó đã khiến anh phải lên tiếng, bất chấp rủi ro cho bản thân và gia đình.

Anh nói: “Tổng thống của chúng tôi đã trở thành tội phạm chiến tranh. Đã đến lúc kết thúc cuộc chiến này và ngừng im lặng”.

Lời kể của Karakulov nhìn chung phù hợp với những lời kể khác đã miêu tả tổng thống Nga là một nhà lãnh đạo từng có sức thu hút nhưng ngày càng bị cô lập, người không sử dụng điện thoại di động hoặc internet và khăng khăng đòi quyền được xem truyền hình nhà nước Nga ở bất cứ đâu.

Karakulov cũng đưa ra những chi tiết mới về chứng hoang tưởng của Putin dường như đã trở nên sâu sắc như thế nào kể từ khi ông ta quyết định xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022. Putin hiện tại tránh dùng máy bay và đi trên một đoàn tàu bọc thép đặc biệt, và Putin đã ra lệnh xây boong-ke tại Đại sứ quán Nga ở Kazakhstan đã trang bị một đường dây liên lạc an toàn vào tháng 10 – lần đầu tiên Karakulov đã trả lời như vậy.

Một quan chức xuất thân từ ngành an ninh của một quốc gia NATO, người đã nói với điều kiện giấu tên để thảo luận về các vấn đề chính trị nhạy cảm, cho biết một vụ đào tẩu như của Karakulov “được quan tâm rất nhiều”.

Ông nói: “Đó sẽ được coi là một đòn rất nghiêm trọng đối với bản thân Tổng thống vì ông ấy cực kỳ quan tâm đến vấn đề an ninh của mình và an ninh của ông ấy lại bị xâm phạm“.

Điện Kremlin đã không trả lời các yêu cầu bình luận. Cha hay anh trai của Karakulov cũng vậy.

Là một kỹ sư trong một đơn vị hiện trường của bộ phận truyền thông tổng thống của Cơ quan Bảo vệ Liên bang, hay FSO, Karakulov chịu trách nhiệm thiết lập thông tin liên lạc an toàn cho tổng thống và thủ tướng Nga ở bất cứ nơi nào họ đến. Mặc dù không phải là người thân tín của Putin, nhưng Karakulov đã dành nhiều năm phục vụ cho Putin, quan sát ông ta từ những khoảng cách gần bất thường từ năm 2009 đến cuối năm 2022.

Karakulov, vợ và con của anh ấy đã rút vào bí mật và không thể nói chuyện trực tiếp với họ do những hạn chế về an ninh.

Trung tâm Dossier, một nhóm điều tra có trụ sở tại London được tài trợ bởi nhân vật đối lập người Nga Mikhail Khodorkovsky, đã phỏng vấn Karakulov nhiều lần và chia sẻ video và bản ghi hơn sáu giờ của những cuộc phỏng vấn đó với Associated Press, cũng như Danish Broadcasting Corporation DR, Swedish Television SVT, và Norwegian Broadcasting Corporation NRK.

Trung tâm Hồ sơ đã xác nhận tính xác thực của hộ chiếu và chứng minh nhân dân FSO của Karakulov, đồng thời kiểm tra chéo các chi tiết về tiểu sử của anh với hồ sơ của chính phủ Nga, dữ liệu cá nhân bị rò rỉ và các bài đăng trên mạng xã hội, tất cả đều được AP xem xét.

AP cũng xác nhận danh tính của Karakulov một cách độc lập với ba nguồn tin ở Hoa Kỳ và Châu Âu, đồng thời chứng thực các chi tiết cá nhân của anh ta, bao gồm số hộ chiếu, ngày và nơi sinh, hai địa chỉ đã đăng ký, tên và tuổi của các thành viên trong gia đình. AP đã không thể xác minh tất cả các chi tiết về cuộc đào tẩu của Karakulov.

AP cũng xác nhận rằng Karakulov bị liệt vào danh sách truy nã trong cơ sở dữ liệu công khai về các nghi phạm hình sự của Bộ Nội vụ Nga. Bộ đã khởi xướng một cuộc điều tra hình sự đối với Karakulov vào ngày 26 tháng 10 vì tội đào ngũ trong thời gian bị động viên quân sự, theo các tài liệu mà Trung tâm Hồ sơ có được và được AP xem xét.

FSO là một trong những chi nhánh bí mật nhất của các dịch vụ an ninh của Nga.

Katya Hakim, một nhà nghiên cứu cấp cao tại Trung tâm Hồ sơ cho biết: “Ngay cả khi nghỉ việc, họ không bao giờ nói gì, nhưng họ biết rất nhiều chi tiết về cuộc sống riêng tư của tổng thống và thủ tướng.”

Karakulov di chuyển như một phần của đội tiên phong, thường mang theo đủ thiết bị liên lạc chuyên dụng để lấp đầy một chiếc xe tải KAMAZ. Ông cho biết ông đã thực hiện hơn 180 chuyến đi cùng tổng thống Nga, và trái với suy đoán của nhiều người, Putin dường như có thể trạng tốt hơn so với hầu hết những người cùng tuổi với ông. Ông Putin chỉ hủy một vài chuyến công du do bị đau ốm.

Karakulov cho biết, không giống như Thủ tướng Nga, Putin không yêu cầu truy cập internet an toàn trong các chuyến đi của mình.

Tôi chưa bao giờ nhìn thấy ông ấy với một chiếc điện thoại di động,” anh nói. “Tất cả thông tin ông ấy nhận được chỉ từ những người thân thiết với ông ấy. Nghĩa là ông ấy sống trong một loại chân không thông tin.”

Công việc của Karakulov đã đưa anh đến những khách sạn sang trọng dành cho các hội nghị thượng đỉnh, những khu nghỉ mát trên bãi biển ở Cuba, du thuyền – và trên một đoàn tàu bọc thép đặc biệt được trang bị cho tổng thống Nga.

Đoàn tàu của Putin trông giống như bất kỳ đoàn tàu nào khác, được sơn màu xám với sọc đỏ để hòa hợp với các toa tàu khác ở Nga. Ông Karakulov nói rằng, Putin không thích việc máy bay có thể bị theo dõi, ông thích khả năng tàng hình của một toa tàu có vẻ ngoài bình thường.

Tôi hiểu rằng ông ấy chỉ đơn giản là sợ hãi,” anh nói.

Karakulov cho biết Putin bắt đầu sử dụng tàu thường xuyên trước cuộc xâm lược Ukraine vào tháng 2 năm 2022. Thậm chí vào năm ngoái, Putin tiếp tục nhấn mạnh vào các biện pháp nghiêm ngặt chống COVID-19 và các nhân viên của FSO đã thay ca trong hai tuần cách ly để luôn có một nhóm người được phép đi cùng Putin trên tàu, anh nói.

Putin đã thiết lập các văn phòng giống hệt nhau ở nhiều địa điểm, với các chi tiết giống nhau từ bàn làm việc và tranh treo tường, và các báo cáo chính thức đôi khi nói rằng ông ấy ở một nơi trong khi thực tế ông ấy đang ở một nơi khác, theo Karakulov và báo cáo trước đó của một hãng truyền thông Nga.

Karakulov cho biết, khi Putin ở Sochi, các quan chức an ninh sẽ cố tình giả vờ rằng ông sắp rời đi, mang máy bay đến và cử một đoàn xe hộ tống, trong khi thực tế là Putin đang ở lại.

Tôi nghĩ rằng đây là một nỗ lực nhằm, thứ nhất, gây nhầm lẫn trong thông tin tình báo, và thứ hai, để không có âm mưu ám sát nào xảy ra,” anh nói.

Việc Karakulov đào tẩu là một bước ngoặt đáng ngạc nhiên đối với một gia đình có truyền thống quân sự yêu nước. Cha của Karakulov là một cựu quân nhân và anh trai của anh là một quan chức chính quyền địa phương.

Karakulov cho biết anh không thể nói với bố mẹ về sự vỡ mộng của mình, bởi vì tâm trí của họ đã bị xơ cứng do nhiều năm xem truyền hình nhà nước Nga. Vì vậy, anh không bao giờ nói với họ rằng anh ấy sẽ rời đi.

Nhưng Karakulov phủ nhận các cáo buộc rằng anh không yêu nước và kêu gọi những người khác phá vỡ sự im lặng của họ để ngăn chặn chiến tranh.

Anh nói: “Yêu nước là khi bạn yêu quê hương mình. Trong trường hợp này, quê hương của chúng ta cần được cứu vì một điều gì đó điên rồ và khủng khiếp đang xảy ra”.