Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 2)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tiếp theo phần 1

Trong khi các lực lượng bộ binh Mỹ chưa ghi nhận thành tích chiến thắng nào, thì  Mặt trận GPMN liên tục chiếm được nhiều vùng tại nông thôn và chính phủ VNCH cho biết là chỉ còn khả năng kiểm soát tại Sài Gòn và nhiều thành phố lớn khác.

Gây lo âu cho Johnson trong giai đoạn này không phải chỉ có tiền tuyến Việt mà còn hậu phương Mỹ. Mike Mansfield và Goerg McGovern, hai tiếng nói quan trọng thuộc đảng Dân chủ, đòi hỏi phải tìm một giải pháp đàm phán.

Ngay cả Tổng thư Ký Liên Hiệp Quốc U Thant và Thủ tướng Canada Lester Pearson cũng lên tiếng Mỹ phải giải thích mục tiêu theo đuổi chiến tranh, kết thúc không chiến và kêu gọi đàm phán.

Giới truyền thông Washington trước đây nhiệt tình ủng hộ cho Johnson, nay cũng chuyển hướng khi số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ lên cao. New York Times, Boston Globe và Newsweeks đồng loạt nêu việc xem lại ý nghĩa tham chiến, nhưng không đòi hỏi triệt để là Mỹ phải rút quân.

Các phong trào phản chiến lần lượt ra đời cùng với lập luận là việc tham chiến không phản ảnh được ý nghĩa giá trị chiến lược hay dân chủ cho nước Mỹ.

Để đáp ứng tình thế  ngày càng sôi bỏng, trong một bài diễn văn đọc tại Đại học Johns Hopkins, Baltimore ngày 7 tháng 4, Johnson thông báo sẳn sàng thương thuyết với Hà Nội và đề ra một phương thức viện trợ kinh tế theo mô hình Great Society với ngân khoản 1 tỷ đô la cho các nước Đông Nam Á. Đến tháng 5, để bày tỏ thiện chí, Johnson ra lệnh ngưng oanh kích trong năm ngày để yêu cầu CSBV đàm phán.

Dù lòng thành tín muốn kết thúc chiến cuộc không thể nghi ngờ, nhưng thực ra, Johnson không có một chiến lược cụ thể cho tiến trình hay một tương nhượng cho đối phương. Giống như các bậc tiền nhiệm, Johnson chỉ đề cao việc tôn trọng quyền toàn vẹn lãnh thổ của VNCH và không chấp nhận sự hiện diện của MTGPMN tại miền Nam.

Ngược lại với mọi dự đoán của Johnson, tháng 5 năm 1965, để đáp trả, CSBV kiên quyết không chấp nhận hoà đàm, mà lý do chính là đang nhận được nhiều viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc, vì tin là chiến thắng quân sự đã gần kề, nên cũng bác bỏ áp lực đàm phán của Liên Xô.

Để gây tiếng vang với công luận, Hà Nội cũng đề nghị bốn điểm đối nghịch: Mỹ rút quân khỏi miền Nam không điều kiện, chấm dứt oanh tạc miền Bắc, thành lập một chính phủ liên hiệp tại miền Nam với các thành phần yêu chuộng hoà bình và thống nhất đất nước.

Thái độ hiếu hoà của Johnson làm cho giới phản chiến dịu giọng, và đầu tháng 5, Quốc hội thuận chi 700 triệu đô la để yểm trợ cho các cuộc hành quân tại miền Nam.

Hầu hết chính giới tại Washington như Wheeler, McNamara, Rostow, Rush, Westmoreland và các tướng lãnh tại Ngũ Giác Đài cùng đi đến một nhận định chung là, đã đến lúc tình thế không thể đảo ngược; Mỹ phải quyết định táo bạo bằng cách mở rộng không kích, tăng cường quân số bộ binh và bổ sung nhiều chiến lược khác, cho dù phải chấp nhận nhiều hậu quả nghiêm trọng hơn.

Chỉ có Taylor đành im lặng và tìm cách thích ứng trong khi Ball tiếp tục cảnh cáo thiệt hại của Mỹ càng trở nên khó lường đoán.

Tháng 6 năm 1965, việc leo thang thực sự bắt đầu khi Johnson ra lệnh gởi thêm 50.000 quân. Cuối năm 1965, quân số Mỹ lên đến 184.000; cuối năm 1967 là 485.000.

Việc tăng quân liên tục làm cho công luận và Quốc hội phản ứng mạnh. Vô số các khuyến nghị của chính giới và truyền thông hay công luận đều bị Johnson bác bỏ. Điển hình là Henry Cabot Lodge (1902-1985) đã lên tiếng: “Tại sao gởi một số lượng lớn quân đến Việt Nam mà không một lời giải thích?”

Trong năm 1967, cục diện chiến trường thay đổi khi tương quan lực lượng của hai phía không còn cân xứng, nghiêng hẳn về phía Mỹ và VNCH.

Ngoài hơn nửa triệu quân Mỹ đang hiện diện, QLVNCH có trên 660.000 quân, miền Nam còn có 50.000 binh sĩ Nam Hàn và một số lượng của các quốc gia thân hữu khác là Philippines (2061), Úc (50.000) và Tân Tây Lan (356) hợp tác.

Có mặt trên chiến trường miền Nam ước khoảng trên 200.000 binh sĩ miền Bắc và 80.000 quân MTGPMN. Nhưng dị biệt về binh pháp là vấn đề chính.

CSBV chủ yếu vẫn dựa vào du kích chiến của Mao Trạch Đông và lấy nông dân tại nông thôn làm cơ sở. Thực ra, CSBV cũng không thể thay đổi chiến lược này trong toàn diện, trong khi các tỉnh đồng bằng miền Tây Nam bộ có nhiều thuận lợi về địa hình và nhân sự; ngược lại, các tỉnh miền Đông và ven biển miền Trung là không thích hợp.

Dù thất thế về quân số và hoả lực, nhưng tinh thần chiến đấu của cán binh Cộng sản lên cao độ với nhiều lý do.

Nhìn chung, bất chấp số lượng thương vong rất lớn là sức mạnh tinh thần. CSBV tin là nhiều người Việt sẽ chiến đấu kiên cường hơn người Mỹ và sẳn sàng chết nhiều hơn người Mỹ.

Hai “trận chiến long trời lở đất” Điện Biên Phủ và Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975 là bằng chứng không ai quan tâm các con số tổn thất.

Tướng Westmoreland từng nhận định, thành công trong trận Điện Biên Phủ không phải là một bài học chiến lược quý giá để cho các tướng lãnh các nước phương Tây noi theo, kể cả ông cũng cho việc sát quân là không phù hợp. Cho đến nay, chưa có nơi nào trên thế giới áp dụng  kinh nghiệm này.

Trong lịch sử chiến tranh thế giới, chưa có tổn thất của phe thắng trận nào mà nặng nề và thảm khốc hơn phe thua trận như tại Việt Nam (1 triệu 1 cho CSBV so với 330 ngàn của VNCH).

Không nêu cao vai trò đấu tranh giai cấp để bảo vệ quyền lợi công nhân như các xã hội công nghiệp phương Tây; ngược lại, Bắc Việt tuyên truyền rằng Mỹ xâm lược tàn bạo, làm cho nhân dân miền Nam nghèo đói tận cùng và đang rên xiết, và trông chờ Giải phóng quân miền Bắc đến giải cứu. Lập luận này trở thành dụng cụ tuyên truyền hữu hiệu; tấm gương hào hùng chống thực dân Pháp  là một chứng minh lịch sử, đấu tranh giải phóng dân tộc bắt đầu có lý do để biện minh, nhất là khi không quân Mỹ ném bom gây ra hình ảnh bi thương cho đất nước.

Hơn thế, lập luận chống Mỹ xâm lăng có thể thuyết phục được cả các thành phần trước đây thuộc loại lưng chừng: nông dân và một phần thị dân như sinh viên và trí thức, nhất là tự do đấu tranh ngoại vận của thành phần “ăn cơm Quốc gia thờ ma Cộng sản”, lên tiếng hỗ trợ gây được nhiều tiếng vang nhờ có các phong trào phản chiến tại phương Tây tiếp sức.

Các tài liệu về sau hé lộ rằng, có khoảng 310.000 quân Trung Quốc lo bảo vệ miền Bắc, nhưng không có một cuộc thảo luận công khai hay hình thức chống đối nào trong chính giới hay dân chúng về sự hiện diện này, vì CSBV kiểm soát tuyệt đối lĩnh vực truyền thông ngoại vận và quốc nội, đó một lợi thế của miền Bắc; trong khi miền Nam không có và còn thất bại nặng nề trong đấu tranh phát huy chính nghĩa quốc gia, từ nông thôn cho đến hải ngoại, khi so với  hơn 485.000 lính Mỹ đồn trú tại miền Nam.

Đối sách của Mỹ là một thất bại thảm hại mà việc sử dụng vũ khí hoá học là điển hình. Phá huỷ các căn cứ quân sự của MTGPMN bằng bom Napalm và hoá học cũng có nghĩa là hủy diệt môi trường sống cho nông dân.

Nhiều khu vực rộng lớn được Mỹ quy định thành khu oanh kích tự do (free fire zones)  trong khi một số khu rừng rậm tại một số tỉnh được chính quyền xem là Indian country, nghĩa là trong các cuộc hành quân truy tìm và tận diệt (search and destroy) các binh sĩ Mỹ và VNCH có quyền bắn tự do những gì còn lay động.

Các binh pháp của Mỹ đã thành công trong Đệ nhị Thế chiến và tại Triều Tiên được Tướng Westmoreland đem ra áp dụng đều không kết quả như mong đợi mà sự khác biệt ở đây là phân công  Mỹ-Việt:

Sau khi binh sĩ Mỹ truy lùng, diệt dịch và tái chiếm, QLVNCH đảm trách công việc bình định nông thôn. Đại sứ Taylor đã cảnh báo là các binh sĩ VNCH không có khả năng đấu tranh chính trị để gây thiện cảm với nông dân trong lâu dài. Đó là nhiệm vụ mà về sau lực lượng Cán bộ Xây dựng Nông thôn thành hình và đảm trách.

Cuộc chiến không còn để thu phục nhân tâm, mà thành tích chiến thắng chỉ dựa trên việc đếm xác đối phương, một thất bại về tâm lý chiến, nhưng Mỹ và VNCH cần đến các thống kê để phô trương trước truyền thông và công luận hơn bao giờ hết.

Hậu quả

Việc Mỹ hoá chiến tranh gây nhiều bất mãn cho chính giới. Cuối năm 1965,  McNamara cho là chiến thắng quân sự khó khả thi và phải tìm cách đàm phán. Năm 1967, ông kiên quyết phải chấm dứt không kích để tránh các nguy cơ lan rộng. Mâu thuẩn với Johnson và Westmoreland không thể hoà giải; cuối cùng, đến tháng 12 năm 1967, ông chấp nhận chức vụ mới là lãnh đạo Ngân hàng Thế giới và Clark M. Clifford thay ông làm Bộ trưởng Quốc phòng. Cũng trong tâm trạng này, George Ball và McGeorg Bundy rời khỏi nội các Johnson.

Ngoài khó khăn về nhân sự, Johnson cũng cố tìm cách để thương thuyết với Hà Nội, không phải chỉ trong các cuộc vận động chính thức, mà còn qua các sáng kiến tư nhân của các nhà ngoại giao tên tuổi từ các nước Anh, Pháp, Ý, Ba Lan và Liên Xô. Tất cả đều không đem lại kết quả vì bị Hà Nội cự tuyệt.

Nhìn chung, các chiến thuật đàm phán trong ngắn hạn của Hà Nội cũng như Mỹ không khác nhau.

Hà Nội, dù là ngỏ ý đàm phán, nhưng không có thái độ nghiêm chỉnh, mục tiêu là kéo dài cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ VNCH.

Ngoài ra, Hà Nội cũng muốn lo giữ thể diện là chính. Kinh nghiệm lịch sử đàm phán lại có một lý do khác: hai lần thất bại thương thuyết, một trong năm 1946, lúc cuối Đệ nhất Thế chiến, và một trong năm 1954, lúc cuối chiến tranh Đông Dương. Đó là lý do tại sao Hà Nội không muốn thất bại lần thứ ba.

Lý do chọn giải pháp quân sự ưu tiên vì  viện trợ còn dồi dào và vẫn chờ tin vui chiến trường.

Còn Mỹ? Thái độ của Mỹ cũng không chân thành hơn. Trong cả hai trận tuyến đàm phán và chiến trường, tình hình chung là bế tắc.

Đến cuối tháng 9 năm 1967, Johnson quyết định chuyển hướng sang phương thức mới mang tên “San Antonio”, nghĩa là, Mỹ đề nghị ngưng ném bom và chấp nhận vai trò của MTGPMN trong việc tái thiết hậu chiến, nếu Hà Nội nghiêm chỉnh thương thuyết.

Thực ra, Mỹ ước tính rằng sẽ đánh bại MTGPMN cả về chính trị lẫn quân sự. Dù tôn trọng VNCH là một chính phủ độc lập về hình thức; Mỹ tìm cách để cho VNCH càng lệ thuộc nhiều hơn về mọi mặt.

Còn hai trận tuyến tại hậu phương Mỹ mà Johnson phải lo đối phó là Quốc Hội, truyền thông và công luận phản chiến.

Trước Quốc hội, Johnson phải tìm ngân sách bổ sung để tài trợ cho cuộc chiến được kéo dài. Trong năm 1967, kinh phí quốc phòng đã lên đến đỉnh là 20,3 tỷ đô la, tương đương với công chi cho chương trình Great Society.

Tình trạng khiếm hụt ngân sách khoảng 28 tỷ đô la bắt buộc Johnson phải lo tăng thuế và kiểm soát công chi nghiêm nhặt hơn. Johnson phải lo đương đầu là cán cân thanh toán bất quân bình, đồng đô la mất giá và lãi xuất tăng nhanh.

Cuối cùng, Johnson đạt được giải pháp thoả hiệp với Quốc hội, đồng ý tăng thuế và giảm chi cho chương trình Great Society khoảng 6 tỷ đô la.

Kết luận

Sau khi nhậm chức, Johnson tự hào là “bảo đảm vị trí của mình trong lịch sử Hoa Kỳ với tư cách là người thừa kế hàng đầu của Roosevelt“.

Trong chính sách đối nội, với Luật về Dân Quyền năm 1964 và Đạo luật Quyền Bầu cử năm 1965, Johnson cải thiện được những sai lầm trong di sản của Roosevelt.

Ngược lại, các biện pháp để tạo ra một nhà nước lo phúc lợi cho dân chúng trong hoàn cảnh tham chiến tại Việt Nam là nghịch lý. Johnson cũng gặp thất bại qua biện pháp Medicare. Kết quả là cơ sở vững chắc của đảng Dân chủ tại miền Nam chạy theo đảng Cộng hòa.

Trong chính sách đối ngoại, Johnson quyết tâm tiếp nối truyền thống của Roosevelt khi cho cả hai tình hình thế giới trước đây và Việt Nam hiện nay là tương đồng. Khi Roosevelt lo đối đầu với Hitler thì phản ứng của Johnson trong việc CSBV xâm lăng miền Nam là khác hẳn. Thực ra, nhận định chung của Johnson là sai lầm: Việt Nam khác với Đức và đã kết thúc trong bi kịch khác.

Đến cuối năm 1967, chiến tranh Việt Nam còn kéo dài triền miên trong khi các giải pháp hoàn toàn lâm vào cảnh bế tắc. Chuyển biến quan trọng nhất là mặt trận truyền thông và công luận phản chiến đã không còn ủng hộ cho Mỹ tiếp tục tham chiến và việc kêu gọi rút quân trở nên khẩn thiết hơn.

Do hoạt động của các phong trào phản chiến lên cao điểm, năm 1968 trở thành một năm kinh hoàng cho Johnson khi mọi sinh hoạt công quyền bị tê liệt và khi CSBV đồng loạt tiến hành cuộc chiến Tết Mậu Thân toàn dân miền Nam phải sống trong đau thương.

Cả hai tác động chiến lược này đã đưa đến việc Mỹ ký kết Hiệp định Paris 1973 và sự sụp đổ của VNCH vào năm 1975.

Johnson ra đi vào ngày 22 tháng 1 năm 1973 nên không chứng kiến hồi kết cuộc của bi kịch Việt Nam.

______

Các diễn tiến từ năm 1968 xin xem tiếp các bài: Công luận và truyền thông phản chiến Mỹ làm miền Nam sụp đổ? Chiến cuộc Tết Mậu Thân,  Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự Sụp Đổ Của Miền Nam

Lyndon B. Johnson và tình trạng leo thang chiến tranh Việt Nam (1964-1967) (Phần 1)

Báo Tiếng Dân

Đỗ Kim Thêm

Tổng thống Lyndon B. Johnson công du Việt Nam bên cạnh Tướng William Westmoreland, Trung tướng Nguyễn văn Thiệu và Thiếu tướng Nguyễn Cao Kỳ. Nguồn: Yoichi Okamoto

Bối cảnh

Lyndon Baines Johnson (1908-1973) xuất thân là một nhà giáo ở Texas, tham gia đảng Dân chủ và lần lượt đảm nhận chức vụ dân biểu quốc hội (1937- 1949), Thượng nghị sĩ (1949-1961) và Phó tổng thống từ năm (1961-1963).

Khác với Kennedy, Johnson không toả sáng được một phong cách trí thức hay quý tộc hay một tài năng nổi bật nào gây thu hút được chính giới tại Washington. Ngay trong tiểu bang Texas, Johnson cũng không đứng về thành phần bảo thủ nồng cốt của đảng Dân chủ. Vì tự nhận mang nhiều ảnh hưởng của Franklin Delano Roosevelt (1881- 1945) trong chính sách New Deal, nên trước công luận, ông luôn tự hào là một “New Dealer” trong thời đại mới.

Ngày 22 tháng 11 năm 1963 Tổng thống John F. Kennedy bị mưu sát tại Dallas là một cơ hội bất ngờ cho Johnson trong việc thăng tiến chính trị. Ngay trong ngày này, theo thủ tục khẩn cấp, Johnson tuyên thệ nhậm chức tổng thống thứ 36 của Hoa Kỳ trên chuyến phi cơ Air Force One.

Sau khi nhậm chức tổng thống cho đến cuối năm 1964, ông quyết tâm tiếp tục thực hiện các chương trình cải cách xã hội của Kennedy.

Những thành công đáng kể nhất của Johnson là việc giảm thuế qua Johnson Tax Act và cải thiện được một phần nào tình trạng phân biệt chủng tộc tại các trường học, nhà hàng, khách sạn và điểm giao thông qua Civil Rights Act. Trong trận chiến chống nghèo đói (War on Poverty), Johnson được Quốc hội tài trợ 1 tỷ đô la để trợ cấp cho các nhà trẻ và trường học địa phương, đặc biệt giúp cho gia đình có lợi tức thấp; biện pháp này tạo thêm thanh danh cho ông.

Ngược lại, chính sách về vấn đề chiến tranh Việt Nam của hai bậc tiền nhiệm Kennedy và Eisenhower trở thành một di sản nặng nề cho Johnson.

Đến cuối năm 1963, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ làm việc bên cạnh Quân lực VNCH đã tăng lên đến 16.000 người.

Cũng trong thời gian này, đường mòn Hồ Chí Minh đã mở ra thành một trục lộ giao thông rộng lớn nên việc thâm nhập hàng ngàn binh sĩ và vận tải quân cụ cho miền Nam được an toàn và dễ dàng. Nhờ thế, Cộng sản Bắc Việt gia tăng hoạt động rõ rệt.

Các tướng lãnh tham gia đảo chánh năm 1963 xung đột nhau làm cho nội tình miền Nam bất đầu bất ổn. Tướng Dương văn Minh (1916-2001), người lãnh đạo quân đội, đã chủ trương ngấm ngầm đàm phán với Mặt trận GPMN. Khuynh hướng hiếu hoà này bị đa số tướng lãnh Việt và chính giới Mỹ phát hiện và phản đối.

Tháng Giêng năm 1964, trong một cuộc đảo chánh không đổ máu, mà báo giới miền Nam gọi là chỉnh lý, tướng Nguyễn Khánh (1927-2013) lên nắm quyền và được Washington hỗ trợ đắc lực về chính trị và quân sự.

Hai khuôn mặt Mỹ mới bắt đầu xuất hiện trên chính trường Việt là Tướng Maxwell D. Taylor (1901- 1987), Đại sứ Mỹ tại Việt Nam và Tướng William C. Westmorland (1914-2005), Chỉ huy trưởng Viện trợ Quân sự (Chef of Military Assistance Command). Lực lượng cố vấn Mỹ tăng lên 23.000 người lúc cuối năm 1964.

Nội tình của miền Nam không khả quan khi Tướng Khánh tự quyền soạn thảo Hiến pháp mang danh Hiến chương Vũng Tàu ngày 16 tháng 8 năm 1964 và tự phong cùng lúc hai chức vụ Quốc trưởng và Thủ tướng. Dù được Đại sứ Taylor hỗ trợ, nhưng các phong trào chống đối của sinh viên và Phật giáo gia tăng.

Tình thế càng hỗn loạn là cơ hội cho CSBV đưa binh sĩ thâm nhập miền Nam nhiều hơn. Mức độ gia tăng đáng ngại làm cho cơ quan CIA phải lên tiếng báo động cho Đại sứ Taylor và Tổng thống Johnson biết là nên cấp thời giải quyết. Nhưng Johnson chần chờ mà lý do là chính trường Mỹ đang bắt đầu mùa tranh cử.

Barry Goldwater (1909-1998), đối thủ thuộc đảng Cộng hoà, tiểu bang Arizona, là một thành phần chống cộng cực đoan, không phải vì muốn trực diện chống Liên Xô với tinh thần đối kháng ý thức hệ mà quyết tâm chiến thắng Cộng sản Việt Nam trên chiến trường và bất chấp mọi hậu quả, kể cả việc sử dụng vũ khí nguyên tử.

Nhận ra khuyết điểm này của Goldwater, trước cử tri Johnson tỏ ra mềm dẻo khi đề ra một chính sách có nhiều ý thức trách nhiệm hơn. Ông hứa hẹn kiên quyết chống cộng, nhưng không thể phản ứng thái quá và vụng về như trong vụ Vịnh Bắc bộ xảy ra ngày 10 tháng 8 năm 1964 và cũng không bằng lòng việc gởi con em đến Việt Nam để chiến đấu, nơi mà giới trẻ địa phương phải tự lo bảo vệ cho chính mình.

Kết quả là ngày 3 tháng 11, Johnson thắng cử với tỷ lệ 61% hay 43, 1 triệu phiếu cử tri, trong khi Goldwater chỉ đạt được 38,5 % hay 27, 2 triệu phiếu cử tri.

Diễn biến

Ngay sau khi nhậm chức tổng thống, Johnson nhận thức rằng sẽ còn gặp nhiều trở ngại vì cục diện chiến tranh đang leo thang và chương trình cải cách xã hội (Great Society) khó được tiếp tục.

Nhìn chung, quan điểm của Johnson cũng giống như các bậc tiền nhiệm, chính sách ngăn chặn của Harry S. Truman (1884-1972) và thuyết Domino của Dwight D. Eisenhower (1890-1969) có giá trị thuyết phục nên cần theo đuổi. Khi CSBV xâm lăng và làm miền Nam sụp đổ, thì các nước trong vùng Đông Nam Á và Mỹ sẽ lâm nguy. Ngoại trưởng Dean Rusk (1909- 1994) và Bộ trưởng Quốc phòng Robert McNamara (1918-2009) cũng chia sẻ quan điểm này và ủng hộ chính sách phòng chống của Johnson.

Nhưng Johnson phải làm gì? Các giới am tường tình thế có nhiều đề xuất khác nhau. Theo Tướng Không quân Curtis LeMay (1906-1990), một giải pháp cực đoan nhất để sớm tận diệt CSBV là không quân Mỹ ném bom toàn diện và tối đa để đưa miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá.

Một trong những ý kiến phản chiến quan trọng khác là Georg Ball (1909-1994), Thứ trưởng Bộ Ngoại giao. Chứng kiến thảm bại của Pháp trong chiến tranh Đông Dương khi là nhân viên Toà Đại sứ Mỹ tại Paris, Ball cảnh báo Mỹ cần tránh các hậu quả mà Pháp đã gặp phải.

Trong một giác thư gởi cho Ngoại trưởng Rusk, Bộ truởng Quốc phòng McNamara và Cố vấn An ninh McGeorg Bundy (1919-1996), Ball cho rằng việc không kích Bắc Việt sẽ không giúp cho Miền Nam mạnh hơn hay làm cho Mặt trận GPMN yếu hơn, nhưng chắc chắn một điều là tình hình sẽ nghiêm trọng vì lòng căm thù Mỹ càng lên cao độ.

Tác hại ngoại giao khó lường đoán là uy tín của Mỹ đối với Đồng minh cũng vì thế sẽ suy giảm.

Hy vọng xây dựng cho VNCH thành một nước dân chủ, tự do và thịnh vượng, mà Eisenhower và Kennedy dày công theo đuổi, cũng chỉ thành vô vọng. Cho đến na,y tất cả sự sống còn của miền Nam lệ thuộc hoàn toàn vào viện trợ Mỹ.

Do đó, nếu để cho binh sĩ Mỹ càng tiến sâu vào rừng của Việt Nam để chiến đấu, thì chính giới Mỹ càng mất lối thoát trên chính trường. Diễn đạt theo lối người Việt, nghĩa là Mỹ đã leo lưng cọp và không còn biết tìm nơi nào an toàn để xuống lưng cọp. Để giữ thể diện, theo Ball, Mỹ phải triệt thoái là phương sách thích hợp.

Johnson phủ nhận cả hai giải pháp không kích toàn diện của LeMay và triệt thoái toàn bộ của Ball, vì không tin sẽ chấm dứt chiến cuộc, mà dung hoà bằng cách chia chiến lược tấn công CSBV qua hai giai đoạn.

Giai đoạn đầu là không kích trên các đoạn đường tiếp vận trong lãnh thổ Lào khoảng một tháng. Tùy theo mức độ phản ứng của CSBV, giai đoạn hai sẽ ném bom trên lãnh thổ Bắc Việt, khoảng sáu tháng và khi cần thiết sẽ bổ sung bằng cách gài mìn phong toả các hải cảng và đường vận chuyển biển. Các sự kết hợp này sẽ kết thúc chỉ khi nào tình hình miền Nam thực sự ổn định.

Tuy nhiên, cho đến tháng 12 năm 1964, Johnson vẫn chưa chính thức ra lệnh cho việc không kích trong giai đoạn hai. Thái độ chần chờ này gây cho Bộ Tư lệnh Liên quân nhiều bất bình.

Khác với ý kiến của các cố vấn và tướng lãnh, Johnson tỏ ra không kiên quyết đối đầu quân sự với Hà Nội. Lý do chủ yếu là nếu leo thang chiến tranh, phải gia tăng kinh phí quốc phòng và cắt giảm các tài trợ cho chương trình Great Sociey, một tình trạng tiến thoái lưỡng nan mà Johnson cố tránh.

Johnson phải làm gì? Chờ đợi trong vô vọng hoặc theo chủ trương của Ball? Cho dù theo quyết định nào đi nữa, thì Johnson cũng sẽ phải chấp nhận các chỉ trích của các cố vấn và công luận việc VNCH và Đông Nam Á sẽ lâm nguy, trong khi đang mơ ước ưu tiên thực hiện dự án Great Society. Thay vào đó, cũng trong tiến trình này, Johnson cố tìm cách gây ảnh hưởng đến phía VNCH, một khó khăn mà các vị tổng thống tiền nhiệm đã không thực hiện được.

Cụ thể, Johnson đòi hỏi chính phủ VNCH phải cải cách thể chế chính trị, tạo nhiều điều kiện dân chủ hơn. Nhờ thế, may ra, miền Nam tạo được một chính quyền ổn định và đoàn kết hơn, làm cho công cuộc chiến đấu chống cộng có hiệu năng hơn. Để khuyến khích, Johnson chấp thuận cho Tướng Khánh tăng thêm 100.000 quân, đưa quân số Quân lực VNCH lên đến 660.000 quân nhằm tăng cường hoả lực chiến đấu.

Dù thoả thuận tăng quân, nhưng giới lãnh đạo VNCH không quan tâm nhiều đến các cải cách chính trị như Mỹ đòi hỏi. Khi mối quan hệ Mỹ-Việt lệ thuộc nhau càng sâu đậm thì chuyển biến càng phức tạp, cho dù nhìn chung, phía Mỹ luôn muốn gia tăng các hỗ trợ cho Việt Nam.

Tình hình an ninh của miền Nam biến chuyển tệ hại càng làm cho chính giới Mỹ lo âu nhiều hơn. Điển hình là trong đêm Giáng sinh năm 1964, Đội Biệt động thành đã tấn công khách sạn Brink ngay trung tâm thành phố, gây tử thương cho nhiều cố vấn Mỹ. Mấy ngày sau, tại Bình Giã, một địa điểm cách Sài Gòn 70 cây số về hướng Tây Nam, một trận đánh cấp tiểu đoàn diễn ra khốc liệt với kết quả 445 binh sĩ VNCH và 16 cố vấn Mỹ thương vong và phía Việt Cộng mất 132 sinh mạng.

Trước các thảm bại liên tiếp, chính giới Mỹ cho rằng không thể chờ đợi cho đến khi nào mà chính phủ VNCH được ổn định, trước mắt phải tiến hành việc không kích Bắc Việt, vì sẽ mang kết quả thiết thực: Khi CSBV không thể tiếp tục thâm nhập miền Nam, thì MTGPMN không nhận được yểm trợ, đương nhiên phải suy yếu.

Điểm quan trọng nhất trong chiến lược này là Mỹ không muốn có một chiến thắng cấp thời và toàn diện mà ưu tiên nhằm ngăn trở không để cho VNCH sụp đổ. McGeorg Bundy, Cố vấn An ninh, bi quan khi tiên đoán là miền Nam không sống quá một năm trong khi biện pháp ném bom bắt đầu đưa Johnson đi vào một cuộc phiêu lưu mới: Mỹ hoá cuộc chiến Việt Nam.

Nhưng khi Johnson chưa kịp ra tay, thì MTGPMN lại phản ứng đầu tiên. Ngày 7 tháng 2 năm 1965 Việt Cộng đột kích một căn cứ không quân Mỹ tại Pleiku làm cho 8 cố vấn quân sự tử thương và 125 bị thương. Johnson ra lệnh phục thù mang tên chiến dịch Flamming Dart, 132 phi cơ của Thuỷ quân Lục chiến ném bom các căn cứ quân sự tại miền Bắc.

Ngày 10 tháng 2 năm 1965, MTGPMN tiếp tục tấn công một căn cứ quân sự Mỹ làm cho 20 binh sĩ Mỹ tử thương. Để phản ứng, Johnson ra tiếp một chiến dịch mới mang tên Rolling Thunder nhằm không kích miền Bắc vô thời hạn.

Điểm tác hại cho Johnson trong lúc này là không thông báo cho dân chúng biết đầy đủ về các diễn biến của tình hình, mà chỉ công bố là để trả thù trước các cuộc tấn công của Hà Nội, đặc biệt nhất là không đề cập đến yếu tố ném bom vô thời hạn.

Đến cuối tháng 2 năm 1965, cùng lúc với các viện trợ quân sự gia tăng, số lượng các cố vấn quân sự Mỹ đã lên đến 23300. Dù tình hình an ninh xấu đi, buộc QLVNCH lâm vào thế thủ để bảo vệ các cơ sở hạ tầng, nhưng chiến dịch Rolling Thunder hứa hẹn mang lại nhiều sinh khí mới cho dân chúng miền Nam.

Từ tháng 12 năm 1964, Tướng Khánh liên lạc với MTGPMN và tìm một giải pháp đàm phán. Các tướng lãnh khác phản ứng mạnh và kết thúc bằng một cuộc đảo chính không đổ máu. Do sự thu xếp của Đại sứ Taylor, miền Nam thực sự có chuyển biến mới khi một chánh quyền dân sự thành hình vào ngày 18 tháng 2 năm 1965 và Tướng Khánh chấp thuận rời khỏi Việt Nam ngày 24 tháng 2 năm 1965 với chức danh Đại sứ lưu động.

Dù mang danh là Uỷ ban Hành pháp Trung ương và Uỷ Ban Lãnh đạo Quốc gia, nhưng tất cả thành phần lãnh đạo đều là các tướng lãnh: Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) và Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001). Chủ trương của chính quyền mới là kiên quyết không thoả hiệp với MTGPMN và hợp tác chặt chẽ với Mỹ để đưa cuộc chiến đến thành công.

Lại một lần nữa, các cuộc tấn công dồn dập của MTGPMN tại các căn cứ không quân Biên Hoà và Pleiku chứng tỏ khả năng phòng ngự của hai lực lượng Mỹ-Việt không tương xứng.

Tình thế đổi thay khiến cho Tướng Westmoreland phải khẩn cấp lên tiếng đòi gia tăng binh lực để bảo vệ căn cứ Đà Nẵng. Yêu cầu này bị Đại sứ Taylor phản ứng kịch liệt với lý do là am tường tình thế Việt Nam toàn diện hơn Westmoreland, người chỉ chuyên về binh pháp.

Đại sứ Taylor lập luận rằng binh sĩ bộ binh Mỹ, cho dù trang bị vũ khí hiện đại và tinh thần chiến đấu cao độ, vẫn không phải là đối thủ tương xứng với các du kích quân tại khu vực rừng nhiệt đới. Kinh nghiệm Điện Biên Phủ cho thấy Pháp khi xưa đã thất bại, thì nay Mỹ không thể khá hơn. Điểm chủ yếu là binh sĩ Mỹ trong khi cận chiến không thể phân biệt được nông dân và Việt cộng.

Các ý kiến của Taylor không thuyết phục được Johnson. Do đó, ngày 8 tháng 3 năm 1965, Mỹ quyết định đưa hai tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến được trang bị với thiết giáp và pháo binh đến Đà Nẳng.

Được ưu thế tại Washington, Tướng Westmoreland càng đòi gởi quân nhiều và nhanh hơn. Đến cuối tháng 4, số lượng bộ binh Mỹ đổ bộ là 40.000. Theo nguyên tắc, các đơn vị này sẽ lập ra căn cứ quân sự và tổ chức các cuộc hành quân trong phạm vi 50 dặm chung quanh doanh trại.

Theo một tự sự sau này của Bùi Diễm (1923-2021), cựu Đại sứ VNCH tại Mỹ, cho biết, trong tiến trình quyết định gởi quân đến Đà Nẵng, Mỹ không tham khảo ý kiến của chính phủ VNCH; sau đó, để hợp pháp hoá việc hợp tác quân sự Mỹ-Việt, VNCH mới ra một tuyên bố công nhận việc đóng quân. Cho đến nay, không có một tài liệu chính thức nào xác nhận tham vọng xâm chiếm lãnh thổ hay thu tóm quyền lợi kinh tế của Mỹ như thực dân Pháp.

(Còn tiếp)

Nhà nước và người dân-Thái Hạo

Báo Tiếng Dân

Thái Hạo

24-4-2023

[Có rất nhiều người vẫn chưa hiểu nhà nước là gì, và có quan hệ thế nào với người dân. Bài viết này chỉ dành cho đối tượng bạn đọc ấy, nên viết một cách đơn giản và nôm na. Những vị đã biết thì xin bỏ qua để khỏi mất thời gian].

Hãy hình dung: có một nhóm người sinh sống trên một mảnh đất, ngoài cuộc sống riêng thì họ có những việc chung phát sinh, như vệ sinh môi trường, đường sá đi lại, trộm cắp trong làng, kẻ thù bên ngoài, v.v.. Đây là những việc “cha chung” nhưng phải có người “khóc”, không thể bỏ mặc được, vì nó ảnh hưởng tới sự tồn vong của cả cộng đồng.

Thế là tất cả dân làng họp nhau lại, bầu ra một cái ban chuyên lo những việc chung ấy. Ban này được dân làng giao nhiệm vụ soạn thảo ra các quy định tốt nhất và hợp lý nhất buộc tất cả phải tuân thủ, ai vi phạm thì sẽ bị xử phạt, ngay cả các thành viên trong cái Ban ấy cũng không ngoại lệ. Tuy nhiên, trước khi đưa ra áp dụng, thì các quy định này phải được dân làng đồng ý thông qua, nếu chưa thì tiếp tục bàn thảo, cho đến khi nào đa số người dân thấy “ngon lành” rồi thì mới quyết định sử dụng.

Đây chính là một hình dung về nhà nước và sự ra đời của nhà nước (dân chủ).

Như thế, nhà nước thực chất là một bộ máy do dân thiết kế ra. Ở đó, những người điều hành công việc chung là người làm thuê cho dân, được dân trao cho một số quyền nhất định để điều hành công việc và được dân trả công. Ai làm không tốt công việc được thuê khoán ấy thì dân sẽ không thuê nữa và tìm người khác thay vào. Nói bằng ngôn ngữ chữ nghĩa thì mối quan hệ giữa nhà nước và dân là một bản hợp đồng có điều kiện, mà ở đó dân là ông chủ còn thành viên nhà nước là người được dân ký kết hợp đồng lao động.

Rõ ràng, từ bản chất của mối quan hệ này, “cán bộ” không phải là cha mẹ dân, càng không phải là ông chủ của dân, mà phải hiểu ngược lại. Quyền lực là của dân, tiền bạc cũng của dân, bộ máy nhà nước ấy cũng là của dân. Nếu đến một lúc dân thấy cách thiết kế bộ máy điều hành như vậy không còn phù hợp nữa, thì họ sẽ thay đổi, thậm chí bỏ đi và dùng một mô hình khác tốt hơn.

Trên đây là nôm na về nhà nước dân chủ. Quay ngược về quá khứ, đã từng có những mô hình nhà nước không có bản chất mối quan hệ giữa 2 bên như vừa trình bày. Ví dụ, có một cá nhân nào đó tự tập hợp một nhóm người, dùng bạo lực áp đảo cả làng rồi tự lập ra các ban bệ, thiết lập các quy định (pháp luật) và bắt tất cả người dân phải tuân theo mà không ai có quyền đòi hỏi hay thay đổi.

Nhà nước loại này là mô hình quân chủ. Cái ông đứng đầu nhà nước ấy gọi là vua, tức là hiện thân của nhà nước; tất cả quan lại là người giúp việc cho ông ta, chứ không phải giúp việc cho dân. Nó không phải do dân lập ra và dân không có quyền hành gì cả. Nó cai trị dân bằng ý chí cá nhân, “luật là tao, tao là luật”; nếu người dân nào không tuân theo thì nó sẽ dùng lực lượng bạo lực của mình để trấn áp, bỏ tù hoặc giết chết. Lúc này, ngược lại với nhà nước dân chủ, người dân chỉ là người làm thuê, là bề tôi, là nô lệ – gọi chung là thần dân, cho đứng thì được đứng, bắt ngồi thì phải ngồi.

Trong mô hình nhà nước này, nếu gặp được một ông vua tốt bụng và có trí tuệ thì dân được nhờ chút đỉnh, bằng không thì lãnh đủ, cuộc sống tối tăm lầm than không bút mực nào tả xiết.

So sánh để thấy, nhà nước dân chủ tốt hơn, đảm bảo hơn, ổn định hơn và nhân văn hơn hẳn.

Nay, thời kỳ quân chủ đã đi qua, mỗi người dân cần ý thức một cách sâu sắc rằng, mình mới là ông chủ, còn “cán bộ” và “lãnh đạo” chỉ là người làm thuê, được mình trả công và phải thực hiện công việc được giao một cách nghiêm túc. Chớ hiểu rằng, cán bộ là vua quan còn mình chỉ là hạng tôi tớ. Ký hợp đồng, giao việc, và giám sát làm việc; nếu thấy ai trong bộ máy làm không đúng, không tốt thì nhắc nhở, vi phạm nặng thì đuổi đi. Người dân nào luôn luôn sống trong tâm thế và tư thế ấy thì gọi là công dân, còn ngược lại thì là thần dân, là nô lệ.

Nhiều người sẽ phản đối rằng, đây chỉ là lý thuyết, đừng có nằm mơ! Đúng, nhưng nếu không có suy nghĩ, tinh thần và ý thức của cái lý thuyết này trong đời sống cá nhân của mỗi người dân thì cũng sẽ không bao giờ có được thực tế như mong muốn.

Có câu, dân nào thì chính quyền ấy. Muốn có một chính quyền tiến bộ, thì người dân phải tiến bộ trong suy nghĩ trước đã. Có thể quên đi tất cả, nhưng dứt khoát không bao giờ được quên rằng mình là một người công dân.

Nguyễn Đình Cống

Sự hiểu biết quan hệ giữa Nhà nước và người Dân là vấn đề cơ bản của Dân trí . Dân trí của người Việt trong nước hiện nay rất thấp là vì sự hiểu biết rất kém vấn đề này. Ngay cả những người có học vị cao, có kiến thức khoa học sâu rộng (là Tiến sĩ này, Giáo sư nọ, cán bộ cấp cao kia của Nhà nước, của đảng) mà hiểu sai nội dung của Quan hệ giữa Nhà nước và Dân thì vẫn là loại người có Dân trí thấp. Một người dù có trình độ khoa học thấp nhưng vẫn là người có Dân trí cao khi hiểu đúng quan hệ giữa Nhà nước và Người Dân. Quan hệ này là đa dạng, có thể quy về hai kiểu : Độc tài và Dân chủ. Nhà nước độc tài gồm Quân chủ, Phát xít, Cộng sản. Nhà nước Dân chủ là Nhà nước mà Người Dân có quyên như Thái Hạo đã mô tả, còn Nhà nước theo chế độ Tam quyên phân lâp.. Nhà nước nào (Dân chủ, Độc tài) cũng có điểm mạnh và yếu, nhưng điểm yếu của Nhà nước Dân chủ dễ được khắc phục hơn. Như Thái Hạo đã viết, nhà nước quân chủ nhưng ông vua giỏi, có đạo đức thì vẫn tốt. Nói chung Nhà nước độc tài là xấu, nhưng xấu nhất là loại Nhà nước thực chất là độc tài (độc quyền toàn trị của một đảng), nhưng lại ra sức tuyên truyền rằng đó là Nhà nước Dân chủ nhất thế giới. ( Nói dối đến thế là cùng). Dân trí còn thể hiện sự hiểu biết về đảng chính trị. Đảng chính trị, dù là đảng cầm quyền thực ra chỉ là công cụ của một vài nhà chính trị chứ không phải là một vật thể thiêng liêng như sự tuyên truyền cúa ĐCSVN.

Singapore và Việt Nam

Phan Tran

Singapore và Việt Nam

Theo những điều tra gần đây nhất thì tổng số diện tích của Singapore vào khoảng 700 km2, trong đó phần đất liền là 682,7 km2. Điều này có nghĩa là toàn bộ diện tích Singapore chỉ hơn thành phố Cần Giờ của Việt Nam có một chút ít mà thôi.

Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2022, dân số Singapore ước tính là 5.967.114 người nghĩa là ít hơn 1 nửa thành phố Sài gòn

Quy mô nền kinh tế tính theo GDP danh nghĩa của Singapore lớn thứ 39 trên thế giới.

Năm 1979 tôi vượt biên được tàu Na Uy vớt rồi đóng tiền cho chúng tôi tạm trú ở Singapore.

Tôi quen mấy người bạn ở đây. Họ cực kỳ dễ thương…

Thế rồi sau gần 40 năm tôi trở lại du lịch Singapore những người bạn ấy dắt tôi thăm viếng đất nước họ.

Họ bảo hầu hết các công trình xây dựng đều do Trung Quốc đảm trách.

Tôi ngạc nhiên đưa nhận định về các nhà thầu Trung Quốc làm tại Việt Nam : tắc trách, nâng giá, không bao giờ làm đúng thời hạn.

Anh cười lớn : tất cả đều do lỗi của lãnh đạo các anh.

Anh coi đây : Anh chỉ khách sạn có hình một chiếc tàu trên nóc…đó là một hồ bơi thật lớn…nhà thầu Trung Quốc làm đấy…

Đã gần 40 năm rồi đất nước anh càng ngày càng thua chúng tôi !

Lãnh đạo đất nước các anh đã sai lầm trầm trọng về phát triển kinh tế.

Chúng tôi chế tạo một thiết bị điện toán chẳng hạn…chúng tôi đã lời hơn thu nhập một mùa của cả 4,5 gia đình làm ruộng của đẩt nước anh…

Kết luận chúng ta thua kém các quốc gia khác vì chúng ta điều hành đất nước…chỉ khá hơn những bộ lạc Phi châu 1 tí…

Ở YÊN TẠI CHỖ HOẶC ĐI VỀ PHÍA ĐÓ!-Lm Minh Anh

Tác giả: Lm Minh Anh

“Lòng chúng ta chẳng nóng lên sao?”.

Emmaus ở phía Tây so với Giêrusalem, phía Đông. Như thế, hai môn đệ đang đi về phía mặt trời lặn, phía của đêm tối, tuyệt vọng và chết chóc. May thay, trên đường đi, Chúa Phục Sinh kịp có mặt, dù ‘lúc ẩn, lúc hiện’ để làm cho lòng họ nóng lên. Ngài đưa hai người về lại Giêrusalem, phía mặt trời mọc, phía ‘Vầng Hồng Giêsu’ không còn ẩn giấu, nhưng ngời sáng, sẽ thắp lên trong họ niềm hy vọng đích thực. Và này, chính Giêrusalem, nơi họ phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó’, Ngài sẽ hiện ra một lần nữa, ban Thánh Thần và sai họ đi khắp cùng thế giới!

Kính thưa Anh Chị em,

Nhiều lúc trong cuộc sống, bạn và tôi thấy mình đi sai hướng! Chúng ta đi vào một khuôn mẫu nhất định, bất kể nó là gì, và cảm thấy nó không thực sự phù hợp. Ở một mức độ sâu xa nào đó, bạn không hài lòng với hướng đi đời mình. Thậm chí, có thể thấy mình đang xa rời một điều gì đó, một nơi nào đó; trong khi trên thực tế, chúng ta nên ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!’.

Đây cũng là hoàn cảnh của hai môn đệ trong Tin Mừng Chúa Nhật hôm nay. Họ rời Giêrusalem, nơi lẽ ra họ phải ở lại, vì chính tại Giêrusalem, Chúa Phục Sinh đã định ban Thánh Thần cho họ; cũng chính từ đó, Ngài sẽ sai họ đi đến tận cùng trái đất. Với Luca, Giêrusalem, nơi “khởi đầu của mọi khởi đầu!”. Vì thế, đi về Emmaus, họ đã đi sai hướng! Đau buồn, thất vọng và vỡ mộng khiến họ sai hướng. Họ muốn ra khỏi Giêrusalem, nơi Thầy họ bị đóng đinh càng sớm càng tốt. Họ quên điều Ngài đã nói, “Ngày thứ ba, Người sẽ trỗi dậy!”. Đôi khi sự đau buồn, tức giận, hoặc thất vọng sâu sắc của bản thân có thể khiến chúng ta đi sai hướng. Cảm xúc có thể làm lu mờ ký ức và che khuất lý trí, chúng ta thấy mình đang rời xa một nơi nào đó, một “Ai đó” có khả năng mang lại sức sống cho đời mình, nơi mà chúng ta lẽ ra phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!’.

Chúa Phục Sinh đồng hành với hai môn đệ, mặc dù họ đang sai hướng. Ngài cùng rảo bước với mục đích khiến họ đổi hướng, nhưng trước khi làm được điều đó, Ngài giả vờ đi sai hướng với họ một lúc. Ngài bước vào hoàn cảnh của họ; mời họ kể câu chuyện của mình. Câu chuyện của họ là lý do họ rời Giêrusalem. Đó là một câu chuyện buồn, nhưng nó không phải là toàn bộ. Họ đã bỏ lỡ phần kết! Họ kết thúc bằng cái chết, nhưng nó phải là sự sống! Đó là kết luận mà Ngài tiếp tục nói với họ, “Nào Đấng Kitô lại chẳng chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao?”. Sau khi nghe Ngài, họ đổi hướng; quay trở lại Giêrusalem, nơi họ phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó’. Tại đây, họ gặp lại mười một anh em và tuyệt vời, gặp lại chính Ngài!

Anh Chị em,

“Lòng chúng ta chẳng nóng lên sao?”. Cách Chúa Phục Sinh tiếp cận hai môn đệ cũng là cách Ngài đến với bạn và tôi! Ngài đồng hành với chúng ta, khiến lòng chúng ta nóng lên, cả khi bạn và tôi đi sai hướng. Ngài mời bạn và tôi kể cho Ngài câu chuyện đời mình; Ngài chăm chú lắng nghe, mặc dù thường không phải là toàn bộ. Theo cách riêng, Ngài cố cung cấp một bức tranh đầy đủ hơn, giúp chúng ta thấy phần cốt lõi có thể bỏ sót; và theo cách đó, Ngài thúc giục chúng ta đi theo một hướng khác, một con đường khác, điều sẽ mang lại sự sống hơn cho mình và cho người khác. Chúa Phục Sinh luôn gặp chúng ta nơi chúng ta đang ở, rất thường xuyên trong sự ‘tan vỡ’ của mỗi người, nhưng Ngài cũng hành động để dẫn chúng ta ra khỏi đó. Ngài luôn mở lòng để chúng ta nghe một câu chuyện lớn hơn. Câu chuyện Ngài hiến mình, đặc biệt trong Thánh Thể. Hãy đến với Ngài mỗi ngày trong Thánh Lễ, kể cho Ngài nghe, và lắng nghe Ngài!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin ở lại với con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn. Chiều của con, chỉ một mình Chúa biết, hơn cả con biết. Hãy đưa con về nơi mà lẽ ra con phải ‘ở yên tại chỗ hoặc đi về phía đó!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

TOMMY TRẦN một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới

Nguyễn MaiThiên Hạ Chuyện

Con cháu VNCH qua Mỹ diện HỌ . Ba của cháu này theo ông nội qua Mỹ theo diện HO.

TOMMY TRẦN một trong 6 học sinh giỏi nhất trên 4 triệu 700 ngàn học sinh dự thi trên toàn Thế Giới

VẺ VANG DÂN VIỆT

Thi: đánh bại mấy trăm ngàn thí sinh trên toàn thế giới,

Em trở thành một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới đạt điểm tuyệt đối trong kỳ thi Toán Giải tích.

*****

Tommy học sinh Evergreen (San Jose California) năm nay mới có 17 tuổi. với số điểm hoàn hão là em TOMMY TRẦN, đã cạnh tranh trong cuộc thi cuối cùng vào tháng 5 vừa qua cùng với 317,663 thí sinh khắp nơi trên thế giới. Trong cuộc thi này có 45 câu hỏi trắc nghiệm cùng 6 câu hỏi tự giải phương trình toán – Nếu học sinh giỏi thì có thể làm được 45 câu hỏi toàn hảo, tuy nhiên trong 6 câu tự giải phương trình sẽ làm cho học sinh rớt dễ dàng vì cần phải viết rõ ràng khi giải trình công thức. Ban chấm thi với hơn 1,000 thầy cô giáo sẽ phải trao đổi ý kiến để bầu chọn người ĐẦU BẢNG.

1,000 thầy cô giáo quyết định số điểm – Tommy Trần trở thành một trong 6 học sinh giỏi nhất thế giới đạt điểm tuyệt đối trong kỳ thi Toán Giải tích (Calculus AP) trong kỳ thi năm nay

Tommy Mới sinh ra mẹ đã qua đời. Bố cháu qua được Mỹ là nhờ ông nội dẫn một nửa gia đình đi theo diện HO. Cha của Tommy là anh Viên Trần cho biết cháu sinh ra tại Hoa Kỳ nhưng mẹ mất sớm nên đã trải qua một thời gian gà trống nuôi con.

FB Hoài Thạch Sơn

FB Nguyễn Viết Quý

LỊCH SỬ VIỆT NAM LÀ LỊCH SỬ CỦA SỰ LỪA DỐI

Hoai Linh Ngoc Duong

 Nói thật trước đây mỗi lần giở những trang sử Việt Nam tôi vô cùng tự hào với những chiến công hiển hách. Nào là “Phá Tống, Bình Nguyên, dẹp Minh, đạp Thanh”, nào là ” Hỡi sông Hồng tiếng hát 4000 nghìn năm. Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?. Lớn lên một tí tôi bắt đầu hoài nghi khi thấy 18 đời vua Hùng mà trị nước hơn 2000 năm, khi thấy triều đình nhà Lê tru di tam tộc một bậc khai quốc công thần là Nguyễn Trãi, khi nghe thuật lại huyền sử về vụ án Lệ Chi Viên, mối thù tranh giành quyền lực giữa anh em nhà Trần (Trần Cảnh và Trần Liễu) do một tay Trần Thủ Độ sắp xếp, về việc Lê Chiêu Thống sang cầu cứu nhà Thanh, Gia Long viện đến quân Xiêm để đánh Tây Sơn và Nguyễn Huệ thực chất cũng chả đánh nhau với 20 vạn quân Thanh mà chỉ là một dúm quân nhỏ của Tôn Sĩ Nghị sau đó vẫn cho sứ sang thần phục nhà Thanh để được yên ổn.

Sau khi suy ngẫm sâu sắc câu nói của người Mỹ “Mọi chế độ độc tài luôn bịa ra một kẻ thù để nhân dân không coi chúng là kẻ thù” tôi mới thấy rằng lịch sử Việt Nam đều là sản phẩm bịa của các nhà chép sử được các chế độ độc tài quân chủ trả lương.

Thật tình rằng sau khi đô hộ nước ta 1000 năm, các triều đại quân chủ Trung Hoa không bao giờ muốn chiếm nước ta để rồi cắt cử ra thái thú ban hành chính sách cai trị nữa. Một phần lãnh thổ Trung Hoa vô cùng rộng lớn không đủ sức cai quản, một phần phải đối phó với các cuộc khởi nghĩa nông dân dưới hình thức chống xâm lược rất hao người tốn của nên các triều đại quân chủ Trung Hoa chỉ muốn xem An Nam như một vùng đất chư hầu thần phục thiên triều. Mỗi năm chư hầu phải sang triều cống, nhận lệnh. Và các cuộc tảo thanh dưới vó ngựa thực chất không phải là xâm lược mà chỉ là để dạy cho chư hầu một bài học. Mỗi khi thấy nội bộ chư hầu lủng củng là triều đình đưa quân Nam tiến để dằn mặt. Sau đó kéo quân về khi triều đình mới tỏ ý thần phục.

Nhưng các cuộc tảo thanh này đều được các sử gia nô bộc của các triều đại quân chủ Việt Nam tung hô lên là những cuộc chiến chống xâm lược.

Tung hô lên để làm gì?

Mục đích là đánh đồng giữa chính quyền với nhân dân. Thực chất trong “Hội nghị Diên Hồng” chính quyền nhà Trần và các bô lão là hai thực thể chính trị khác nhau. Ngày nay giới chính trị có một câu nói bất hủ là ” Tin tưởng vào chính quyền là tự sát” nhưng bằng việc vẽ ra quân xâm lược nhà Trần đã khiến người dân tuân phục sự chính danh của thế lực cai trị.

Quyền lực có tính tha hóa. Triều đình nhà Trần cũng giống như các triều đại khác đều tha hóa như chế độ cộng sản hiện nay. Nghĩa là giữa các thế lực nắm hành pháp, lập pháp và tư pháp đều thông đồng với nhau để đàn áp, bóc lột người dân . Nhưng với việc hướng mũi dùi vào ngoại xâm , các nhà viết sử đã khiến Nho giáo “trung quân ,ái quốc” chói ngời trên các bài văn của các sĩ tử, trí thức mài đũng quần đọc sách thánh hiền và theo đạo “quân xử thần tử thần bất tử bất trung”.

Lịh sử 4000 năm ấy được Ban chuyên láo của Đảng CSVN khai thác mạnh ngay từ khi mới manh nha thành lập chính quyền. Cùng với việc tuyên truyền về thuyết “Con Rồng cháu Tiên”, các vua Hùng bịa đặt, các trang sử không kiểm chứng hoặc chỉ kiểm chứng bằng cảm tính Ban tuyên giáo đã khiến dân Việt Nam không phân biệt được nhân dân bị cai trị và tầng lớp thượng lưu chuyên nói láo để cai trị, để ăn trên ngồi trốc.

Các trang sử càng chói ngời oanh liệt càng thúc đẩy hàng triệu thế hệ thanh niên lao như con thiêu thân vào các cỗ máy chiến tranh để chết thế. Họ nghĩ rằng đi theo tiếng gọi của non sông, theo truyền thống của cha ông giết giặc cứu nước nhưng thực chất là chẳng hề cứu tổ quốc lâm nguy mà chỉ cứu cái đảng độc tài khỏi bị thiên triều truất phế, dạy cho một bài học hay cứu quyền lực của một đảng chính trị mượn một học thuyết kinh tế để nắm giữ quyền lực trong một quốc gia sau đó bành trướng ra khắp thế giới.

Tổng thống Mỹ Biden đã nói rất chí ý rằng ” Rất nhiều quốc gia đã được thiết lập dựa trên sắc tộc, nòi giống chỉ có nước Mỹ là được thiết lập dựa trên một ý tưởng. Đó là ý tưởng về sự kiểm soát quyền lực”

Các quốc gia xây dựng trên truyền thuyết về nòi giống, sắc tộc, tôn giáo đều cần các nhà chép sử, viết sử một chiều để thiết lập một truyền thống hào hùng, bất khuất. Thật ra truyền thống này chẳng giúp ích gì cho tự do,dân chủ, pháp luật , công lý mà chỉ siết chặt suy nghĩ của người dân vào cái vòng kim cô nô lệ cho quyền lực.

Bởi khi anh đánh đổ một thế lực ngoại xâm này để bảo vệ một triều đình nhưng triều đình này hàng năm lại sang triều cống , nhận lệnh thế lực ngoại xâm đó thì tinh thần chống ngoại xâm của anh cũng chỉ là vô ích.

Chỉ khi nào anh có một nền dân chủ đa đảng, có tam quyền phân lập, có đối lập thì lịch sử mới được soi rọi từ những góc nhìn đa chiều và từ đó có được sự trung thực đáng cho học sinh học tập.

Lịch sử phải được viết lại như những gì nó vốn có kể cả sai và đúng chứ không phải là lịch sử là những thứ được nhào nặn lại “xấu che tốt khoe” nhằm định hướng các thế hệ sau.

Khi lịch sử được các chế độ độc tài viết lại thì không nên học làm gì bởi mục đích cuối cùng của nó vẫn là để tạo ra các cỗ máy chết thế cho quyền lực của các ông vua chứ không bao giờ vì đất nước.

Lịch sử này đã biến dân tộc Việt thành một trong những dân tộc hiếu chiến bậc nhất thế giới. Xuyên suốt lịch sử này hầu hết các võ tướng được dựng tượng và đều có liên quan đến chiến trận, các quan văn xây dựng đất nước bằng chính sách đều bị bỏ quên. Cũng vì lịch sử này mà sau năm 1945 Việt Nam đã trải qua 4 cuộc chiến tranh, hy sinh hơn 3 triệu người nhưng vẫn không kiểm soát được sự tha hóa của quyền lực khiến những nấm mồ liệt sĩ chết cho chiến trận là vô nghĩa.

Hoa Kỳ có bỏ qua yếu tố nhân quyền trong nâng cấp quan hệ với Việt Nam?

RFA

“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”

2023.04.17

Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội

Reuters

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.

Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.

Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.

Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.

Ý nghĩa của chuyến thăm

Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.

Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:

“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.

Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặđó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”

Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:

“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.

Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.

Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.

Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”

Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:

“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếđể tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.

Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”

Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:

“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.

Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”

Ý nghĩa về nhân quyền

Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:

“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược. 

Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.

Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cậđến vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”

Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:

“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.

Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”

Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để  gây áp lực cho các nước khác.

Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.

Người Việt tị nạn ở Thái Lan cảm thấy bất an sau việc ông Đường Văn Thái bị bắt

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Nhà báo độc lập Đường Văn Thái phát biểu trên kênh YouTube Thái Văn Đường.

Người Việt tị nạn chính trị tại Thái Lan nói với VOA rằng họ rất “hoang mang, lo sợ” sau vụ nhà báo độc lập Đường Văn Thái bất ngờ mất tích ở Bangkok và sau đó được chính quyền Việt Nam loan rằng ông đã bị bắt vì “nhập cảnh trái phép”.

“Người tị nạn rất lo lắng, hoang mang bởi vì đây là trường hợp đầu tiên người đã có quy chế tị nạn và đã phỏng vấn tái định cư mà bị Cộng sản Việt Nam bắt cóc về”, ông Đoàn Huy Chương, cựu tù nhân chính trị Việt Nam, cho biết hôm 18/4.

Hôm 13/4, ông Đường Văn Thái, sử dụng mạng xã hội với tên Thái Văn Đường, đã biến mất tại phi trường Bangkok nơi ông chuẩn bị đón một người bạn.

Các nhà hoạt động cho biết vào buổi sáng ngày mất tích, ông Thái đã có một cuộc phỏng vấn tái định cư với Cao ủy Tị nạn LHQ (UNHCR), cơ quan đã cấp quy chế tị nạn cho ông từ năm 2020.

Đến ngày 16/4, truyền thông Việt Nam đồng loạt đưa tin rằng nhà chức trách Hà Tĩnh đã bắt giữ một “đối tượng” có tên Đường Văn Thái mà họ cho là “xâm nhập trái phép” vào Việt Nam.

Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Dương (Kelly Nguyễn)

Cong PhamThiên Hạ Chuyện

Trong hình là tiến sĩ Nguyễn Thị Hoàng Dương (Kelly Nguyễn), quê Quảng Ngãi. Hiện cô làm việc tại MRC-Phòng thí nghiệm về sinh học phân tử tại Cambridge, Anh quốc. Báo chí loan tin cô sẽ được trao huy chương Colworth năm 2024 vì những kết quả nghiên cứu xuất sắc. Cô là nhà khoa học người Việt đầu tiên nhận huy chương này trong lịch sử 60 năm của giải thưởng.

Con đường của tiến sĩ Hoàng Dương bắt đầu khi học xong lớp 10 ở tỉnh nhà, cô nhận học bổng toàn phần chương trình phổ thông tại Trường nữ sinh Wellington New Zealand. Khi tốt nghiệp xong, cô có thành tích rất tốt và thi đậu học bổng toàn phần học Hóa học tại đại học danh giá Australian National University (ANU). Ở đây, cô học rất giỏi và tốt nghiệp với hạng đứng đầu khóa học First Class Honours với một huy chương University Medal. Thường 1 năm chỉ có 1 sinh viên của khoa nhận vinh dự này.

Từ kết quả đó, năm 2010 cô được nhận vào học tiến sĩ với học bổng toàn phần tại University of Cambridge (Trinity College). Cô tốt nghiệp tiến sĩ khi mới chỉ 26 tuổi và ở lại trường làm công tác nghiên cứu. Cô cũng từng qua nghiên cứu tại Đại học California Berkeley, Mỹ.

Là một nhà nghiên cứu về sinh học phân tử đầy tiềm năng, cô đã từng nhận rất nhiều giải thưởng quốc tế danh giá về chuyên ngành.

Trinity College, nơi cô theo học tiến sĩ và đang làm việc là đại học tốt nhất của Viện đại học Cambridge- trường đại học chất lượng bậc nhất thế giới. Thành lập từ 1546, trường này đã có 34 thành viên nhận giải thưởng Nobel (trong số 121 giải thưởng mà các thành viên của Đại học Cambridge nhận được). Đây là trường mà nhà vật lý Isaac Newton và rất nhiều vĩ nhân từng theo học.

Trường chỉ hiện có tổng số 180 sinh viên tiến sĩ, do đó được vào đây học hành và đỗ đạt là vô cùng vinh dự.

Có một nhà khoa học Việt tại nước Anh, trong 1 trung tâm khoa học lớn của thế giới như tiến sỹ Hoàng Dương thật quý báu.

Chúc mừng cô và mong cô đạt nhiều thành tựu khoa học mới.

Nguyễn Thị Bích Hậu

(Hình: Viet Tan)

 

Leo lên được chức đó thì nó không hiền đâu em!

Báo Tiếng Dân

Chu Mộng Long

18-4-2023

Thật ngây ngô khi có nhiều trí thức tỏ ra tiếc nuối cho tài năng Nguyễn Quang Tuấn bị sa lưới pháp luật. Một tài năng được đi du học ở nước ngoài, được đánh giá như là… nếu không có ông ta, nhiều người sẽ chết vì tim mạch! Nhiều người còn chiêu tuyết cho tài năng, rằng thì là, làm quan trong cơ chế này ai cũng phải tham nhũng. Cơ chế mà họ nói không chỉ là cơ chế chung mà cụ thể ở đây là cơ chế thầu trang thiết bị y tế.

Ảnh: Ông Nguyễn Quang Tuấn, cựu Giám đốc Bệnh viện Tim Hà Nội. Ảnh trên mạng

Bề ngoài những lời tiếc nuối, những lập luận chiêu tuyết tưởng có lý, nhưng rất cảm tính đến vô lý.

Đi du học thì sao? Kim Jong Un chẳng phải du học ở nước dân chủ để trở về Triều Tiên thành nhà độc tài? Vô số con ông cháu cha đi du học về làm gì, ngoài kế thừa bố mẹ chúng, không làm quan thì cũng làm đại gia bằng cách phá nát cái đất nước này? Theo tôi, với thành phần đó, bất tài thì tham lam trắng trợn, nếu có tài năng thì thành lưu manh và tham lam trá hình với nhãn hiệu nhân văn, nhân đạo. Đằng nào cũng phá hoại hơn là có ích!

Ừ thì do cơ chế. Một cơ chế lỏng lẻo như trước đây, đúng là cái cửa mở toang hoác cho các dự án, đặc biệt là các gói thầu chui hết vào bụng quan. Nhưng chuyện gì xảy ra khi nhà nước siết cơ chế? Chỉ một Nghị định siết cơ chế đấu thầu mà từ Nam chí Bắc, các quan chức y tế đã đồng loạt “đình công”, hô hoán không thể nhập thuốc, nhập vật tư, mặc cho con bệnh nằm chờ chết để gây áp lực Chính phủ mở cửa cơ chế như cũ.

Do cơ chế thì sao chính nhà nước lại tóm cổ các nhóm lợi ích này vào lò?

Tham lam là cái gene truyền thống Việt. Cái truyền thống giáo dục toàn rao giảng đạo đức giả, nhân văn giả, cho nên mỗi cá nhân luôn bộc phát tham vọng, từ chạy đua quyền lực đến tham lam, vơ vét vô độ cho cái túi tham của mình.

Nhớ một lần, ngồi nói chuyện với thầy cũ của tôi. Tôi khoe ông bạn đồng môn đã lên sếp và khen anh ta hiền. Cũng là học trò của thầy, nhưng thầy cười rất mỉa mai: “Nó đã leo lên đến chức đó thì nó không hiền đâu em!” Có nghĩa là những người này đã tham từ gốc bằng con đường chạy quan chứ không phải do làm quan mới tham. Người ta đã tham ngay từ khi chưa làm quan chứ không phải làm quan rồi mới tham. Tôi không tin có cái gọi là “tha hóa quyền lực”!

Một lần tôi hỏi một đồng nghiệp: “Mày đua quan để làm gì?” Anh ta nói: “Vì dân vì nước!”. Tôi chửi: “Dối! Vì dân vì nước thì hy sinh ở chiến trường, không phải đua quan!”

Tóm lại là, anh ta phải như thế nào mới được cất nhắc, bổ nhiệm. “Như thế nào” ấy không thể là phẩm chất đạo đức tốt và tài năng xuất chúng.

Với tôi, thằng quan nào vào lò cũng đều đáng ghét. Không thương tiếc được! Tài năng như Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát,… mắc tội chống triều đình thối nát phải gặp họa tru di thì mới đáng chiêu tuyết, chứ đủ bằng chứng tham lam vô độ thì có oan đâu mà chiêu tuyết?

Cuộc sống vô thường

Nhà thiết kế và tác giả thời trang nổi tiếng thế giới “Crisda Rodriguez” đã viết đoản văn này trước khi bà qua đời vì bệnh ung thư:

  1. Tôi có chiếc ôtô thương hiệu đắt nhất thế giới trong ga ra của mình nhưng giờ tôi phải di chuyển bằng xe lăn.
  1. Nhà tôi có đầy đủ các loại quần áo hàng hiệu, giày dép vàđồ có giá trị. Nhưng cơ thể tôi được bọc trong một tấm vải nhỏ do bệnh viện cung cấp.
  2. Có đủ tiền trong ngân hàng. Nhưng bây giờ tôi không nhận được bất kỳ lợi ích từ số tiền này.
  1. Ngôi nhà của tôi giống như một cung điện nhưng tôi đang nằm trên chiếc giường đôi trong bệnh viện.
  1. Tôi có thể đi từ khách sạn năm sao này sang khách sạn năm sao khác.

Nhưng bây giờ tôi dành thời gian trong bệnh viện để di chuyển từ phòng thí nghiệm này sang phòng thí nghiệm khác.

  1. Tôi đã tặng chữ ký cho hàng trăm người. Ghi chú của bác sĩ ngày hôm nay là chữ ký của tôi.
  1. Tôi có bảy người thợ làm tóc đểtrang điểm cho mái tóc của mình – Hôm nay tôi không có một sợi tóc nào trên đầu.
  1. Trên chuyên cơ riêng, tôi có thể bay đến bất cứ đâu tôi muốn. Nhưng bây giờ tôi cần sự giúp đỡ của hai người để đến được cổng bệnh viện.
  1. Dù ăn nhiều nhưng khẩu phần ăn của tôi làngày hai viên và tối nhỏ vài giọt nước muối.

Ngôi nhà này, chiếc xe hơi này, chiếc máy bay phản lực này, đồ đạc này, rất nhiều tài khoản ngân hàng, rất nhiều danh vọng và tiếng tăm, không cái nào phù hợp với tôi cả. Không ai trong số này có thể giúp tôi nhẹ nhõm. Cuộc sống thực là để an ủi rất nhiều người và mang lại nụ cười trên khuôn mặt của họ.

Không có gì là thật ngoài cái chết.

Dương Phong gởi