“Gọi tên gì cho cuộc chiến Việt Nam – Campuchia 1979”?

Ba’o Tieng Dan

Trương Nhân Tuấn

6-1-2024

Trên RFA có bài phỏng vấn GS Vũ Tường bên Mỹ về chủ đề “Gọi tên gì cho cuộc chiến Việt Nam – Campuchia 1979?”.

Theo nhận xét của tôi thì bài này có [rất] nhiều sự kiện cần được bàn luận lại. Hiện thời trong nước có rất nhiều sử gia, nhiều nhân chứng “có tham dự” cuộc chiến Việt Nam – Campuchia. Dĩ nhiên có rất [nhiều người] thông thạo về cuộc chiến này. Hy vọng họ sẽ lên tiếng để “rộng đường dư luận”.

Cá nhân tôi, “chuyên gia nghiệp dư về biên giới và lãnh thổ”, cũng có một số kiến thức về cuộc chiến này. Theo tôi thì Việt Nam gọi cuộc chiến này là “Chiến tranh biên giới Tây Nam”. Một số học giả quốc tế gọi đây là “chiến tranh ủy nhiệm. Khmer đỏ đánh Việt Nam là đánh cho Trung Quốc. Việt Nam lấy danh nghĩa ‘tự vệ chính đáng’ nhưng khi đánh qua Campuchia là đánh cho Liên Xô”.

Cá nhân tôi cho rằng cả hai cái tên này đều đúng. Nhưng nguyên nhân sâu xa khiến chiến tranh xảy ra là vấn đề lãnh thổ. Trung Quốc luôn lợi dụng mâu thuẫn giữa Việt Nam và Campuchia về lãnh thổ để ngư ông đắc lợi. Bài viết sau đây trích lại từ một khảo luận của tôi về biên giới Việt Nam – Campuchia từ hai thập niên trước. Đăng lại cũng để “rộng đường dư luận”.

***

Biên giới Việt-Miên từ năm 1862 đến năm 1945:

Năm 1856, vua Khmer là Norodom (Nặc Ông Dương) thỉnh cầu được sự bảo hộ của Pháp. Ngày 11 tháng 8 năm 1863 hai bên ký hiệp định, vương quốc Khmer, lúc đó có tên mới là Cambodge, được đặt dưới quyền bảo hộ của Pháp. Từ đó Pháp đại diện cho vương quốc Khmer trong các lãnh vực đối ngoại và đối nội.

[Trong] nội dung kết ước này vua Norodom không hề nói tới lãnh thổ, biên giới của vương quốc mình có từ đâu tới đâu.

Lãnh đạo Pháp ở địa phương, đô đốc Pierre-Paul de La Grandière, quyết định phân định biên giới (Việt Nam – Campuchia và Campuchia – Thái Lan), mục đích xác định lãnh vực thuộc quyền quản trị của Pháp. Nhưng sự mù mờ của biên giới, cùng với sự thiếu hiểu biết tình hình địa chính trị của khu vực, ông này đã làm cho phía Thái Lan hưởng lợi.

Pháp (đại diện bên Campuchia) ký kết hiệp ước với Xiêm vào ngày 15 tháng 6 năm 1867, theo đó Xiêm cam kết từ bỏ quyền “thuợng quốc” của Xiêm đối với Khmer. Đổi lại, Pháp phải nhượng cho Thái lãnh thổ Khmer vùng hữu ngạn sông Cửu Long, tức ½ lãnh thổ Campuchia hiện nay, gồm các tỉnh Battambang, Sisophon và Siemreap hiện nay.

Việc phân định biên giới Thái Lan – Khmer phù hợp với thực tế “biên giới hiện trạng”. Trước khi Pháp vào Campuchia, vương quốc Khmer phải chịu thần phục cả hai bên Việt Nam và Thái Lan. Tả ngạn sông Cửu long thuộc ảnh hưởng triều đình Huế và hữu ngạn thuộc Thái Lan.

Lập trường ở Paris, khi ký hiệp ước 1862 với triều đình nhà Nguyễn, nước Pháp có thẩm quyền thay thế nhà Nguyễn về quyền thượng quốc ở vương quốc Khmer. Kết ước giữa Pháp với Nặc Ông Dương ký năm 1863, chỉ có ý nghĩa tượng trưng chứ không mang tính bó buộc của pháp lý. Tức là có hay không có kết ước 1863 thì lãnh thổ Khmer vẫn chịu sự bảo hộ của Việt Nam. Việt Nam chịu bảo hộ của Pháp thì Khmer cũng chịu sự bảo hộ này. Điều này hoàn toàn phù hợp với “luật lệ quốc tế” trong thời kỳ.

Về lãnh thổ của Khmer nhượng cho Thái theo hiệp ước 1867, Pháp sửa chữa lại nhân ký hiệp ước Pháp – Xiêm 1893 phân định lãnh thổ. Các tỉnh của Campuchia nhượng cho Thái trước kia được Pháp lấy lại.

Biên giới Việt – Miên được phân định qua hai thời kỳ: Năm 1870 và năm 1873. Cuộc phân định năm 1870 có sự hiện diện của quan chức Khmer, cắm được 60 mốc. Vùng đất gọi là “Mỏ vịt” (tỉnh Sveyrieng) thuộc về Việt Nam. Sau đó phía Miên phản đối, đòi lại vùng đất này. Pháp đồng ý vạch lại biên giới, trả lại vùng này cho Campuchia. Cuộc phân định năm 1873 gồm 64 mốc.

Năm 1887, khối Đông Dương được thành lập. Campuchia là một thành phần, cùng với Cochinchine (Nam Kỳ), An Nam (Trung Kỳ) và Tonkin (Bắc Kỳ). Quốc gia Lào chỉ được thành lập năm 1893, do yêu cầu của ông August Pavie.

Đường biên giới giữa Cochinchine (miền Nam) và Campuchia trở thành đường biên giới hành chánh, nội bộ của Đông Dương, thuộc thẩm quyền của quan Toàn Quyền người Pháp.

Vùng Darlac thì được sáp nhập vào Việt Nam năm 1895. Điều này xảy ra do việc trao đổi đất đai: Việt Nam nhượng đất Trấn Ninh cho Lào, đồng thời Lào nhượng vùng đất phía nam nước này cho Campuchia. Năm 1923, vùng Kontum cũng được nhập vào Darlac, đồng thời với vùng đất đỏ phía nam là Buôn Mê Thuộc.

Về lãnh thổ trên biển thì được xác định năm 1939, do nghị quyết của Toàn quyền Brévié. Đó là một đường thẳng 140° so với bờ biển, theo đó các đảo phía bắc đường này thuộc Campuchia và các đảo phía nam thuộc Việt Nam, trong đó bao gồm đảo Phú Quốc.

Đến năm 1939, biên giới trên đất liền hai bên Việt – Khmer được phân định hoàn tất. Biên giới này là biên giới thuộc địa, thuộc nội bộ của nước Pháp, chứ không phải là đường biên giới quốc tế giữa quốc gia với quốc gia.

Một số học giả Campuchia hiện nay cho rằng, Pháp đã thiên vị Việt Nam lúc phân định biên giới. Vì vậy họ có khuynh hướng không nhìn nhận đường biên giới này. Dĩ nhiên điều này không phù hợp với các luật lệ cũng như tập quán quốc tế.

Theo nguyên tắc “Uti possidetis” của công pháp quốc tế, áp dụng cho lãnh thổ các nước thuộc địa sau khi lấy lại được nền độc lập. Trong thời kỳ thuộc địa, lãnh thổ đó do bên này quản lý, thì sau khi dành được độc lập, vùng đất đó sẽ tiếp tục do bên này quản lý.

Vì vậy, lập luận của một vài học giả Campuchia hiện nay, khi lên tiếng đòi lại đất của VN, như đảo Phú Quốc, vùng lãnh thổ gọi là Khmer Krom (tức là vùng đất hiện nay thuộc tỉnh Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu…), đều không thuyết phục, nếu không nói là trái ngược với luật lệ và tập quán quốc tế.

Thử tưởng tượng, ai cũng có thể đòi lại đất như vậy, thì nước Mỹ, nước Úc, Canada v.v… sẽ biến mất, vì đất đó là của người dân bản địa, chứ không phải của dân da trắng hiện nay. Cũng như nhiều nước Nam Mỹ, các nước Châu Phi… sẽ không còn tồn tại. Nên biết là đường biên giới các nước Phi Châu là do hai đế quốc thực dân Anh và Pháp phân định. Để ý thì thấy là đường biên giới ở đây thường đi theo đường thẳng, đường kinh tuyến, vĩ tuyến… nguyên nhân vì hai bên phân định trong văn phòng, trên bản đồ. Hậu quả của việc phân định như thế làm cho nhiều dân tộc không có quốc gia, hay một dân tộc bị chia cắt ra, mỗi phần ở trên một quốc gia khác nhau. Và ta thấy rằng các đường biên giới đó vẫn còn giá trị pháp lý cho đến hôm nay.

Vì thế, đòi hỏi của các học giả Khmer đi ngược lại tinh thần của quốc tế công pháp. Điều cần nhấn mạnh là các cuộc phân giới, mặc dầu do quan người Pháp điều khiển, nhưng các quan chức người Miên và người Việt đều có hiện diện. Vấn đề là họ không phản đối lúc phân định mà chỉ phản đối khi phân định đã hoàn tất. Sau này ta sẽ thấy, lập luận của Sihanouk về biên giới luôn thay đổi. Ông này lúc thì dựa vào Nhật, lúc thì dựa vào Trung Quốc để yêu sách Việt Nam về lãnh thổ.

Năm 1945, khi Nhật đến thì Sihanouk lập tức nhảy sang Nhật. Khi thấy thế lực Trung Cộng nổi lên, Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch tháng 10 năm 1949, Sihanouk lại có khuynh hướng dựa vào Trung Cộng. Trong thời gian hội nghị Genève 1954, Sihanouk nghĩ rằng sẽ được Trung Quốc giúp đỡ lấy lại đất, do đó đưa ra những yêu sách rất phi lý. Trong thời chiến tranh Việt Nam, Sihanouk lại thiên về phía CSVN, giúp phe này, hy vọng khi họ chiến thắng sẽ trả lại đất đai. Rồi sau 1975, các phe Campuchia, kể cả Sihanouk, cũng lại chống Việt Nam vì họ cho rằng lãnh đạo CSVN không giữ lời hứa trả lại đất.

Từ đó cho đến nay, vấn đề biên giới, lãnh thổ, hải phận… giữa Việt Nam và Campuchia, lúc nóng, lúc lạnh tùy thuộc vào sự tốt lành quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Trung Quốc.

Biên giới Việt-Miên 1945-1954

Sau khi Nhật đảo chánh Pháp ngày 9 tháng 3 năm 1945, Sihanouk đơn phương tuyên bố Campuchia độc lập.

Tháng 6 năm 1945, Sihanouk đưa kiến nghị lên lãnh đạo Nhật, xin Nhật trả lại Nam Kỳ cho Campuchia, thay vì trả cho triều đinh Huế.

Nên biết, lúc đó Nam Kỳ có quy chế là thuộc địa của Pháp, tương tự các lãnh thổ hải ngoại của Pháp hiện nay như Calédonie, Gyuane hay Réunion.

Quan chức Nhật chưa quyết định gì thì thua trận Đại chiến trước Đồng minh.

Pháp vào lại Việt Nam, gặp nhiều sự kháng cự của kháng chiến Việt Nam, trong khi chính phủ của ông Hồ tuyên bố thành lập nước VNDCCH ngày 2-9-1945 ở miền Bắc. Pháp vào lại Việt Nam, tổ chức lại các nước Đông Dương trở thành Khối liên hiệp Pháp.

Về phía Việt Nam, Bảo Đại được Pháp đề nghị trả lại lãnh thổ mà nhà Nguyễn đã ký giao cho Pháp trước kia. Bảo Đại hứa đồng ý nếu Pháp trả Nam Kỳ và Pháp nhìn nhận nước Việt Nam là một nước thống nhất ba miền Bắc, Trung, Nam. Pháp đồng ý nguyên tắc này và điều này được lập lại trong Hiệp định Genève 1954.

Quốc gia Việt Nam được thành lập vào năm 1949, đúng với thể thức quốc tế công pháp. Việt Nam cùng với Lào và Campuchia, trở thành những “quốc gia liên kết” trong khối Liên hiệp Pháp.

Phái đoàn của Campuchia được gởi qua Paris điều trần ngày 2 tháng 4 năm 1949, mục đích thuyết phục quốc hội Pháp trả lại Nam Kỳ cho Campuchia. Lý lẽ của phái đoàn Campuchia là lúc ký hiệp định bảo hộ với Pháp năm 1863, nội dung kết ước không nói đến số phận của Nam Kỳ vì vương quốc này nhường đất này cho Pháp sử dụng. Bây giờ Pháp không cần đến lãnh thổ này nữa, hợp lý là phải trả lại cho Campuchia chớ không thể trả cho triều đình Huế.

Lý lẽ này không thuyết phục được chính giới Pháp vì lẽ, các tỉnh Nam Kỳ là do triều đình Huế nhượng cho Pháp theo các hiệp ước 1862 và 1874. Trong khi hiệp định 1863 giữa Pháp và Miên thì không hề có một điều bảo lưu nào về lãnh thổ.

Quốc hội bác yêu sách này với đa số. Nhưng yêu sách về lãnh thổ của Campuchia thì được một số dân biểu cánh tả của quốc hội Pháp ủng hộ.

Thấy đòi nguyên cả Nam Kỳ không xong, ngày 2-5-1949 Quốc hội Campuchia cho ra một kiến nghị yêu cầu nhà nước Pháp phân định lại biên giới. Những người này cho rằng, biên giới giữa Nam Kỳ và Campuchia chưa bao giờ được phân định. Các cuộc phân định trước hoàn toàn mang tính cách thiên vị, gây thiệt hại cho Campuchia. Kiến nghị này cũng bị quốc hội Pháp bác bỏ.

Căm hận Pháp đã không thỏa mãn các yêu sách của mình, Sihanouk có khuynh hướng nghiêng về Trung Cộng, là một thế lực đang lên, đứng sau chính phủ Hồ Chí Minh, đối đầu với Pháp trong vấn đề Việt Nam. Ông này nghĩ rằng TQ sẽ dùng chính phủ của ông chống lại Pháp ở mặt trận phía tây.

Hội nghị Genève 1954, Sihanouk công bố trước các đại cường yêu sách về lãnh thổ của Campuchia gồm 6 giải pháp, nội dung dẫn lại sơ lược như sau:

Hoặc trả lại cho Campuchia toàn vùng đất phía hữu ngạn sông Hậu Giang, bao gồm thêm các tỉnh Trà Vinh, đảo Phú Quốc và vùng đất giới hạn giữa kinh Tân Châu và sông Tiền Giang, đồng thời tàu bè Campuchia có quyền quá cảnh ở Sài Gòn.

Hoặc là trả lại các vùng lãnh thổ trải dài cho tới hữu ngạn sông Tiền Giang, gồm các tỉnh Hà Tiên, Châu Đốc, Long Xuyên, Cần Thơ, Sóc Trăng, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sa Đéc và đảo Phú Quốc, quyền được quá cảnh ở Sài Gòn đồng thời dân Khmer sống trên đất Việt Nam phải được bảo vệ.

Hoặc phải “quốc tế hóa Nam Kỳ”, kinh Vĩnh Tế và hải cảng Sài Gòn có quy chế tự do, bãi miễn thuế quan. Còn không là phải đặt Nam Kỳ và đảo Phú Quốc dưới sự quản trị của LHQ.

Các đòi hỏi phi lý này không được nước nào ủng hộ. Tuy vậy, kết cuộc hội nghị nhìn nhận Campuchia được quyền thông lưu trên sông Cửu Long để ra biển cũng như được quyền sử dụng thương cảng Sài Gòn. Nhưng các điều này bị VNCH bảo lưu, lý do cần xem xét lại luật lệ quốc tế để xem rằng Campuchia có chính đáng được hưởng các quyền này hay không? Cuối cùng thì các quyền này của Campuchia bị Việt Nam bác bỏ dưới thời ông Diệm.

Biên giới Việt Nam – Campuchia 1954 đến 1975

Sau thất bại ở hội nghị Genève 1954, Sihanouk nuôi dưỡng ý định trả thù. Ông này dung dưỡng mọi thế lực chống lại chính phủ Bảo Đại, sau này là Ngô Đình Diệm.

Một số thí dụ, các lực lượng tôn giáo chống ông Diệm được Sihanouk cho phép lập sào huyệt trên đất Miên. Vì vậy để tảo thanh, quân VNCH buộc phải đi vào đất của Campuchia. Các xung đột này bắt đầu từ năm 1955. Dĩ nhiên, Sihanouk lợi dụng các việc này vừa tố cáo Việt Nam, trong khi trên thực địa thì cho người dời cột mốc phân giới sang phía Việt Nam. Để trả đũa, ông Diệm tuyên bố hủy bỏ mọi “quyền lịch sử” của Campuchia trên lãnh thổ Việt Nam.

Đến năm 1960 lực lượng Mặt trận Giải phóng Miền Nam (MTGPMN) được thành lập. Tổ chức này cũng xây dựng sào huyệt trên lãnh thổ Campuchia, dĩ nhiên dưới sự đồng ý ám thị của Sihanouk. Theo một số tài liệu, phía VNDCCH “nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Campuchia”, trong khi MTGPMN, cũng như nhiều cán bộ cấp cao của CSVN, thì hứa hẹn, nếu thắng được VNCH thì sẽ thương lượng lại với Campuchia về vấn đề lãnh thổ.

Vì các hứa hẹn này các đường mòn gọi là đường mòn Hồ Chí Minh được Sihanouk đồng ý cho thiết lập. Con đường huyết mạch tiếp tế lương thực và vũ khí cho quân MTGPMN cũng như quân chính quy miền Bắc sau này.

Quan hệ giữa Sihanouk và VNDCCH thân thiết đến mức độ vào tháng 8 năm 1963, Campuchia tuyên bố chấm dứt ngoại giao với VNCH.

Sau khi ông Diệm bị đảo chánh ngày 1-11-1963, quan hệ hai bên VNCH và Campuchia vẫn không ấm áp trở lại, mà còn tệ hai hơn. Nguyên nhân, người Mỹ chính thức đổ quân vào Việt Nam, các cuộc hành quân, càn quét, dội bom trên đất Campuchia nhằm phá hoại đường mòn Hồ Chí Minh… các việc này gây ra những thiệt hại đáng tiếc cho phía thường dân Campuchia.

Tháng 7 năm 1965, Sihanouk kiện VNCH lên LHQ về việc xâm phạm lãnh thổ. LHQ có điều tra nhưng chỉ kết luận rằng VNCH có vào lãnh thổ Campuchia sau đó rút về, vì lý do bên Campuchia có dung chứa các lực lượng đối kháng, chứ VNCH không có xâm chiếm lãnh thổ của Campuchia.

Không hài lòng kết quả điều tra của LHQ, Sihanouk lên tiếng kêu gọi quốc tế ủng hộ Campuchia, nhìn nhận “đường biên giới hiện trạng” của nước này. Một số nước ủng hộ, trong đó có Pháp. Năm 1966, Pháp ủng hộ Campuchia “trung lập”. Nhưng việc này không thuyết phục vì trên lãnh thổ Campuchia vẫn còn nguyên các sào huyệt của MTGPMN cũng như các con đường tiếp tế từ bắc vào nam gọi là đường mòn Hồ Chí Minh.

Cuối cùng thì Sihanouk bị tướng Lon Nol lật đổ năm 1970. Sau khi lên nắm quyền, Lon Nol yêu cầu tất cả các lực lượng của CSVN rút khỏi Campuchia. Cũng như bất kỳ một người Campuchia nào khác, Lon Nol cũng rất bài Việt.

Trong khi đảo chánh xảy ra, các cuộc thảm sát thường dân Việt Nam đã diễn ra, thây người thả đầy trên sông Cửu Long. Một số lớn người Việt phải hồi hương. Việc này càng tạo thêm gánh nặng và sự bất ổn trong xã hội miền Nam.

Lực lượng Khmer đỏ được thành lập dưới sự yểm trợ và huấn luyện của CSVN. Trên thực tế, vùng phía bắc lãnh thổ Campuchia hoàn toàn do quân đội CSVN kiểm soát. Nhưng trong nội bộ của Khmer đỏ lại có nhóm có khuynh hướng bài Việt. Những nhóm này cũng giết chóc, khủng bố, đồng thời trục xuất người Việt, như những lãnh đạo không cộng sản khác của Campuchia.

Tóm lại, thời kỳ này đường biên giới, cũng như kiều dân Việt Nam sống trên đất Campuchia, trở thành con tin bị các phía Campuchia trao đổi quyền lợi chính trị. Trong thời chiến, vấn đề biên giới không kiểm soát được, nhưng dân chúng Việt Nam là nạn nhân trực tiếp của các tranh chấp này.

Từ năm 1975 đến nay

Từ năm 1975 cho đến 1990, ta có thể nói rằng khu vực Đông Dương vừa là một chiến trường, vừa là một bàn cờ địa chiến lược của các thế lực quốc tế, gồm có các nước liên hệ trong khu vực và các đại cường Trung Cộng, Liên Xô và dĩ nhiên là Mỹ.

Vấn đề biên giới, Campuchia không chỉ có tranh chấp với Việt Nam mà còn có tranh chấp với Thái Lan về chủ quyền ngôi đền Préah Viheart, cũng như ranh giới ngoài biển, từ sau khi lấy lại độc lập năm 1953. Trong thời gian này vấn đề biên giới giữa các bên không chính thức đặt ra, nhưng nó luôn là cái cớ để chiến tranh bùng nổ. Nhất là đối với hai nước Việt – Miên.

Sau khi quân Pol Pot tiến vào Nam Vang, cũng như quân miền Bắc chiếm Sài Gòn, tháng 6 năm 1975, một phái đoàn của Khmer đỏ gởi đến Hà Nội để nhắc lại những cam kết của CSVN: “Nhìn nhận đường biên giới hiện trạng của Campuchia” trong thập niên 1960 về vấn đề lãnh thổ của Campuchia. Những người này, theo dự kiến là sẽ ký kết ước với Hà Nội để bảo đảm sự “toàn vẹn lãnh thổ” của hai nước.

Nhưng nhóm Khmer đỏ thân Trung Quốc trong phái đoàn bất đồng ý kiến với nhóm thân Hà Nội. Phe thân Bắc Kinh lên tiếng đòi Việt Nam trả lại cho họ vùng lãnh thổ gọi là “Khmer Krom”.

Điều nên biết, chiến thắng ngày 30-4-1975 của CS miền Bắc đã làm cho lãnh đạo Bắc Kinh tức tối. Chủ trương của Trung Quốc từ xưa nay là chống lại Việt Nam thống nhất, cũng như chống lại việc Việt Nam quá thân thiện hay lệ thuộc vào Liên Xô. Phía bắc, áp lực của Liên Xô đã trầm trọng, quân Liên Xô đóng dài dài trên biên giới gây áp lực. Biển Hoa Đông thì bị Nhật, Đài Loan án ngữ. Biển Đông thì hạm đội Liên Xô đã có mặt tại Cam Ranh. Nếu Campuchia hòa hoãn hay thân thiện với Việt Nam thì Trung Quốc sẽ không có cách gì để phá vỡ thế cô lập.

Mặt khác, quyền lợi của Mỹ cũng bị đe dọa, các nước chung quanh như Thái Lan, Mã Lai v.v… sẽ sụp đổ, theo như thuyết Domino của Mỹ. Vì vậy Bắc Kinh, cũng như “đồng minh bất đắc dĩ” của Trung Quốc là Mỹ, chắc chắn phải tìm cách đẩy hai bên Việt Nam và Campuchia vào thế đối đầu. Vì thế, cả hai đại cường, Mỹ và Trung Quốc, một tư bản, một cộng sản, do cùng mục tiêu ngăn chặn Liên Xô bành trướng, lại hợp tác với nhau, ra mặt ủng hộ Pol Pot chống lại Việt Nam.

Dĩ nhiên, nguyên nhân bên ngoài là tranh chấp đất đai, nhưng bên trong là sự tranh giành ảnh hưởng địa chiến lược trong khu vực của các đại cường. Vì vậy, như đã nói, lãnh thổ trong quảng thời gian này là cái cớ để chiến tranh bùng nổ.

Để kích thích Việt Nam vào vòng chiến, trong lúc phái đoàn Khmer đỏ còn ở Hà Nội thì quân Khmer đỏ đã đánh chiếm cù lao Poulo Wai trong vịnh Thái Lan. Dọc biên giới thì quân Khmer đỏ đã sẵn sàng dàn quân ứng chiến. Như thường lệ, những người dân Việt Nam sinh sống ở Campuchia lại trở thành nạn nhân. Trên 150.000 người bị ngược đãi, trục xuất về Việt Nam. Con số bị giết không biết là bao nhiêu, nhưng chắc chắn không nhỏ.

Tháng 6 năm 1976, Việt Nam gởi sứ giả sang Nam Vang hy vọng làm dịu tình hình, nhưng phía Khmer đỏ đòi phải phân định lại biên giới, thay đổi đường biên giới theo các bản đồ của Sở địa dư Đông Dương ấn hành năm 1954, trong khi phía Việt Nam thì nhìn nhận đường biên giới hiện trạng là đường biên giới thể hiện trên bộ bản đồ này. Mặt khác, hai bên cũng không đồng thuận về biên giới trên biển.

Phía Khmer đỏ gia tăng khiêu khích, từ năm 1975 đến 1978, bọn này đã tiến sang Việt Nam đánh phá và tàn sát dân chúng ở 25 huyện và 96 xã, gây ra trên 257.000 nạn nhân màn trời chiếu đất. Trong năm 1977, Pol Pot cho quân lính tiến sang Tây Ninh tàn sát dân chúng sinh sống ở đây, nhưng sự phản ứng của quân Việt Nam, do thiện chiến hơn, đã làm cho quân Khmer thiệt hại nặng. Và cũng để trả đũa những vụ tàn sát dân lành vô tội sinh sống các tỉnh dọc biên giới, tháng 12 năm 1977, Việt Nam mở một cuộc hành quân thần tốc vào tỉnh Svay Rieng, khiến quân Khmer đỏ thiệt hại nặng nề. Cuối năm, Pol Pot tuyên bố chấm dứt quan hệ ngoại giao với Việt Nam.

Chiến tranh Việt – Miên bùng nổ. Dưới sự quan sát của các học giả quốc tế, cuộc chiến này là một cuộc chiến “ủy nhiệm”. Pol Pot đánh Việt Nam là đánh cho Trung quốc. Còn Việt Nam đánh [Khmer đỏ] là đánh cho Liên Xô.

Tháng 12 năm 1978, quân Việt Nam tiến vào Nam Vang, đánh đuổi Pol Pot và thành lập chính phủ thân Việt Nam ở đây. Cùng với chính phủ này, Việt Nam đã ký kết các hiệp định “các nguyên tắc giải quyết các vấn đề biên giới”. Trên đất liền ký năm 1982, trên biển ký năm 1983.

Trả lời phỏng vấn báo chí, Nguyễn Cơ Thạch cho rằng, Việt Nam tôn trọng đường biên giới hiện trạng theo bộ bản đồ Đông Dương 1/100.000. Nhưng Sihanouk, năm 1984, tố cáo trước dư luận, qua thủ tướng Thái Lan, rằng Việt Nam đã chiếm vùng “mỏ vịt”, tức là tỉnh Svay Rieng.

Về biên giới trên biển, theo nội dung các văn bản tham khảo được thì hai bên cùng đồng ý “lấy đường Brévié được vạch ra năm 1939 làm đường phân chia các đảo trong khu vực này”, hai bên đồng thuận về “vùng nước lịch sử” trong khu vực đảo Phú Quốc và “sẽ thương lượng vào thời gian thích hợp… để hoạch định đường biên giới biển giữa hai nước”.

Đảo Wai được Việt Nam trả lại cho Campuchia

Tháng 12 năm 1985 hai bên ký lại “Hiệp ước hoạch định biên giới”. Ngày 10-10-2005 ký thêm “Hiệp ước bổ sung” về biên giới. Hai bên bắt đầu cắm mốc từ năm 2006. Ta thấy tỉnh Svay Riêng, tức vùng Mỏ vịt, vẫn thuộc lãnh thổ của Campuchia. Tức là lời tố cáo của Sihanouk là không đúng.

Điều nên biết, sau khi quân Pol Pot vào Nam Vang thành lập chính quyền thì Sihanouk được mời về làm quốc trưởng. Nhưng liền sau đó thì bị bạc đãi, tính mạng bị đe dọa. Bắc Kinh tìm cách can thiệp và đưa ông này đi Trung Quốc. Ở Bắc Kinh, Sihanouk được đối đãi như là một thuợng khách. Bởi vì lãnh đạo Trung Nam Hải biết được giá trị ở con cờ Sihanouk. Ông vua này có thể làm bất cứ điều gì để chống lại Việt Nam.

Cũng vì lý do này mà đất nước Campuchia điêu linh, thần dân của ông bị nhà nước Khmer đỏ tiêu diệt gần 1/3, trong đó có họ hàng thân thích của ông. Điều trớ trêu là, nhà nước này do Trung Quốc dựng lên, lúc đó ông là một thành phần của nhà nước này.

Tuy vậy, hiện nay Trung Quốc vẫn là một đồng minh được ưa chuộng tại Campuchia. Người Việt ở đây bị kỳ thị bao nhiêu thì người Hoa được ưu đãi bấy nhiêu. Toàn thể huyết mạch kinh tế Trung Quốc hiện nay là do 10 dòng họ người Hoa nắm giữ. Liên minh Trung Hoa – Khmer hứa hẹn sẽ bền chặt lâu dài mà chất keo hàn gắn hai bên là tinh thần bài Việt. Vấn đề lãnh thổ luôn được các bên sử dụng như là một cái cớ để khích động dân chúng chống đối Việt Nam.


 

Sắp hầu tòa vụ ‘diễn xiếc trên mô tô,’ người mẫu Ngọc Trinh ‘xin khoan hồng’

Ba’o Nguoi-Viet

January 6, 2024

SÀI GÒN, Việt Nam (NV) – Công An ở Sài Gòn loan báo vừa hoàn tất bản kết luận điều tra và lệnh truy tố cô Trần Thị Ngọc Trinh, 34 tuổi, tức người mẫu Ngọc Trinh, với cáo buộc “gây rối trật tự công cộng.”

Ngọc Trinh được công luận biết đến là người mẫu nội y và những phát ngôn gây tranh cãi như “Yêu mà không có tiền thì cạp đất mà ăn à?” Cô cũng từng khiến công luận bàn tán khi có quan hệ yêu đương chóng vánh với “đại gia” Việt kiều Mỹ Hoàng Kiều.

Hình ảnh mới nhất của người mẫu Ngọc Trinh trong trại giam. (Hình: Dân Trí)

Theo báo Dân Trí hôm 6 Tháng Giêng, cùng bị truy tố với cô Ngọc Trinh trong vụ án nêu trên là ông Trần Xuân Đông ở quận 4, Sài Gòn, nhưng ông này được tại ngoại hậu tra.

Bản tin cho biết, sau thời gian bị bắt tạm giam, cô Ngọc Trinh “đã nhận thức được hành vi vi phạm pháp luật” và “bày tỏ mong muốn nhận được sự khoan hồng của pháp luật.”

Hồ sơ của công an cho hay, hôm 8 Tháng Mười năm ngoái, mạng xã hội lan truyền đoạn video clip ghi lại cảnh cô Ngọc Trinh “diễn xiếc” khi lái mô tô tại khu vực hầm Thủ Thiêm: Cô được nhìn thấy trình diễn một loạt động tác nguy hiểm như quỳ, bò, ngồi hai chân một bên, dang cả hai tay khi chạy xe với tốc độ cao…

Video clip này được hiểu là nhằm để quảng cáo cho một thương hiệu xe mô tô.

Sau khi đoạn clip gây tranh cãi, Công An Thành Phố Thủ Đức, Sài Gòn, đã triệu tập và xử phạt hành chính đối với cô Ngọc Trinh về hành vi chưa có bằng lái xe A2 nhưng vẫn lái mô tô phân khối lớn với các động tác nguy hiểm.

Tuy vậy, việc Công An ở Sài Gòn sau đó bắt giam cô Ngọc Trinh hôm 19 Tháng Mười cùng năm khiến công luận dấy lên chỉ trích về chuyện áp đặt tội danh “gây rối trật tự công cộng” trong lúc hành vi của nữ người mẫu là đăng tải video clip trên mạng xã hội.

Người mẫu Ngọc Trinh đã bị bắt tạm giam gần ba tháng. (Hình: Dân Trí)

Đề cập về tội danh nêu trên, Luật Sư Đặng Đình Mạnh bình luận trên trang cá nhân: “…Việc nới rộng, bành trướng khái niệm ‘nơi công cộng’ bao gồm cả không gian mạng đã thể hiện tham vọng lẫn ý đồ không hề đơn giản của cơ quan an ninh. Họ sẽ vươn đôi tay trừng phạt dài hơn, sâu rộng hơn để bảo đảm trấn áp mọi tiếng nói, nhất là tiếng nói đang thu hút sự quan tâm của đông đảo quần chúng. Theo đó, cô Ngọc Trinh, một nhân vật đầy lý tưởng cho vai trò nạn nhân đầu tiên để mở màn cho sự bành trướng của cơ quan an ninh.”

Hiện chưa rõ thời điểm cô Ngọc Trinh sẽ phải hầu tòa cùng với đồng phạm Trần Xuân Đông. Tuy vậy, theo thủ tục tố tụng ở Việt Nam, từ lúc có lệnh truy tố bị can đến khi mở phiên tòa thường là khoảng một tháng. (N.H.K)


 

Ăn mặc không kín đáo

PHỞ TUẤN – 250, Giếng Đồn, TP Hạ long – Những câu chuyện vui

Một cô gái ăn mặc không được kín đáo đi vô tiệm. Ông chủ tiệm là một người nghiêm nghị, uyên bác; ông nhìn cô xong bèn mời cô ngồi.

Ông nhìn thẳng vào mắt cô và nói đôi điều mà suốt đời cô không bao giờ quên:

“Cô à, mọi thứ thật giá trị do thượng đế tạo ra đều được che đậy, khó tìm kiếm. Ví dụ:

1/ Hột xoàn được tìm thấy ở đâu?

Trong lòng đất, được bao phủ, lấp kín.

2/Ngọc trai được tìm thấy ở đâu?

Dưới lòng biển sâu được che chở bảo bọc bởi hai vỏ cứng đẹp đẽ.

3/ Vàng được tìm thấy ở đâu?

Dưới lòng đất, dưới nhiều lớp đất đá, muốn lấy được vàng ta phải đào xới khổ nhọc.

Ông nhìn vào cô lần nữa và phán “Cơ thể cô là bất khả xâm phạm là độc nhất vô nhị của thượng đế.

Giá trị của cô quá quí báu hơn cả vàng, kim cương hay ngọc trai, thế nên cô cũng cần phải che đậy nữa chứ. Nếu cô giữ kỹ các mỏ đá quí như vàng, kim cương hay ngọc trai…thì những người chuyên đào mỏ với nhiều máy móc cần thiết sẽ làm việc/khai thác cả nhiều năm trời:

1/Trước hết, họ phải xin phép chánh quyền (cha mẹ)

2/Thứ hai, họ phải ký hợp đồng hẳn hoi (hôn thú)

3/Thứ ba, họ phải biết khai thác quặng mỏ một cách chuyên nghiệp và biết tinh luyện để lấy những phẩm chất quí giá đó (hạnh phúc trong hôn nhân).

Nhưng nếu cô cứ để “những mỏ quí” của cô nằm khơi khơi trên mặt đất (khoe khoang với mọi người), thì cô đã khuyến khích những người khai thác mỏ bất hợp pháp đi vào. Họ sẽ tìm tòi, đào xới bất hợp pháp và sẽ lấy đi những thứ quí giá mà thượng đế ban tặng.

Nhớ nhen, các cô là tài sản quí báu.


 

TỰ NHỦ LÒNG…

Gieo Mầm Ơn Gọi

Tự nhủ lòng học cách sống bình yên

Chẳng hơn thua chuyện thiệt hơn trần thế

Bởi cuộc đời vốn chông chênh dâu bể

Cãi tranh chi để vướng bận trong lòng?

 

Cứ bình thản đón nhận những bão giông

Xuân muốn đến cần trải đông giá lạnh

Nếu có lỡ gặp khổ đau bất hạnh

Chớ nản lòng cứ mạnh mẽ vượt qua.

 

Rồi ai cũng đến tuổi bóng xế tà

Thác về đất thân hòa vào cát bụi

Chén canh đắng quên muộn sầu buồn tủi

Nơi thế nhân chẳng nhung nhớ điều gì.

 

Xa tranh giành chen lấn chốn thị phi

Như những cánh thiên di không ngừng nghỉ

Cứ bay đến khắp vùng trời thiên ý

“Bĩ cực rồi” cũng tới lúc ” thái lai”.

 

Tự nhủ mình một kiếp dẫu ngắn dài

Chân thiện sống như ngày mai sẽ chết

Buông bỏ hết muộn phiền không cần thiết

Để tâm hồn thật vui vẻ an nhiên.

ST


 

Vụ Việt Á: Toàn bộ quan chức đều nhận hối lộ bằng đô la Mỹ

Ba’o Nguoi-Viet

January 5, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Một tình tiết bên lề trong phiên tòa xử vụ Việt Á khiến công luận chú ý là toàn bộ quan chức, từ bộ trưởng, thứ trưởng đến bí thư tỉnh, chủ tịch thành phố đều nhận hối lộ của doanh nghiệp này bằng đô la Mỹ, chứ không phải tiền đồng.

Theo báo VNExpress hôm 5 Tháng Giêng, tại phiên tòa, khi được hỏi về nguồn tiền đô la Mỹ dùng trong các lần “lót tay” cho quan chức từ trung ương đến địa phương, bị cáo Phan Quốc Việt, tổng giám đốc công ty Việt Á, khai mình thường rút tiền mặt tại ngân hàng đổi sang ngoại tệ.

Bị cáo Phan Quốc Việt (giữa), tổng giám đốc công ty Việt Á, bị dẫn giải đến tòa vào sáng hôm 5 Tháng Giêng. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Chẳng hạn, trong lần hối lộ ông Phạm Công Tạc, cựu thứ trưởng Khoa Học và Công Nghệ Việt Nam $50,000, bị cáo Việt khai khi đó mình đang ở thành phố Đà Nẵng, “ra ATM rút 5.1 tỷ đồng,” rồi đem số tiền này đi đổi được $200,000 rồi đưa người phó, Vũ Đình Hiệp cất giữ để “khi nào cần ‘ngoại giao’ thì dùng dần.”

Bị cáo Hiệp sau đó xác nhận điều Việt khai, khẳng định các lần “đi ngoại giao” quan chức đều sử dụng đô la Mỹ.

Tuy vậy, bị cáo Phạm Công Tạc phủ nhận con số $50,000 và khai rằng mình chỉ nhận 100 triệu đồng ($4,103).

Trong số 38 bị cáo của vụ án Việt Á, ông Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế Việt Nam, bị cáo buộc nhận nhiều tiền nhất từ Việt Á – $2.2 triệu, để “can thiệp, chỉ đạo” giúp công ty Việt Á được Bộ Y Tế cấp số đăng ký lưu hành bộ kit xét nghiệm COVID-19 với giá cao gấp 3.5 lần giá thực tế.

Cũng tại phiên tòa Việt Á, theo báo ZNews hôm 5 Tháng Giêng, một chi tiết gây bàn tán là bị cáo Chu Ngọc Anh, cựu chủ tịch thành phố Hà Nội, cựu bộ trưởng Khoa Học và Công Nghệ, khai rằng mình đã làm “thất lạc” khoản tiền $200,000 mà Phan Quốc Việt hối lộ.

“Túi quà của Phan Quốc Việt đưa, ban đầu bị cáo [tôi] không biết bên trong có tiền. Nhận xong, bị cáo để trên sàn nhà trong phòng làm việc, mãi sau này mở ra xem mới thấy có tiền và bị cáo suy nghĩ việc nhận này dù thế nào cũng là sai lầm,” ông Ngọc Anh được dẫn lời.

Bị cáo Nguyễn Huỳnh (giữa), thư ký của ông Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế

Việt Nam, là người kết nối khoản hối lộ $2.2 triệu của Phan Quốc Việt. (Hình: Ngọc Thành/VNExpress)

Cựu chủ tịch thành phố Hà Nội nói thêm rằng mình đã bỏ số tiền nêu trên vào một chiếc vali nhờ người chở về nhà riêng và sau đó, do “bận đi công tác lâu ngày” nên không nhớ rõ cái vali để ở đâu.

Ông Ngọc Anh đưa ra lý do này để giải thích chuyện mình đã nộp tiền “khắc phục hậu quả” bằng khoản tiền đồng tương đương $200,000, hòng được cho bản án nhẹ khi tòa công bố phán quyết. (N.H.K)


 

Nếu luật pháp không nghiêm minh thì tất yếu sẽ loạn

Ba’o Tiengg Dan

Thái Hạo

5-1-2024

Sáng dậy thấy một loạt báo đưa tin, đọc, nhưng không biết vì sao ông Thích Trúc Thái Minh bị kỷ luật, cũng không hiểu vì sao ông này phải sám hối! Đây cũng là các câu hỏi tràn ngập mạng xã hội từ đêm qua đến giờ, và hầu như ai cũng tỏ ra khó hiểu, thất vọng.

Xin hỏi lại, ông Thích Trúc Thái Minh phạm vào tội lỗi gì? Nếu vì tổ chức hoạt động trưng bày trái quy định thì chủ yếu là vi phạm pháp luật, mà vi phạm pháp luật thì phải bị chế tài theo luật nhà nước, chứ sao lại chỉ bị Giáo hội kỷ luật và chỉ “sám hối”?

Rốt cuộc, cái cọng ngọ ngậy kia là gì, có đúng là xá lợi tóc phật như ông Thích Trúc Thái Minh tuyên truyền không? Hoặc ít nhất, nó có đúng là một trong tám “sợi tóc xá lợi” thuộc quốc bảo của Myanmar không, hay ông Thích Trúc Thái Minh mua ở một cửa hàng kinh doanh đồ thờ được gọi là “bảo tàng xá lợi”? Điều này nhà chức trách hoàn toàn có thể làm sáng tỏ trong một nốt nhạc.

Và nếu nó là giả mạo, không đúng như lời tuyên truyền, lại thêm sự hợp tác với người nước ngoài để lừa dối Phật tử thì phải chịu trách nhiệm thế nào trước pháp luật?

Có hay không sự lừa dối để trục lợi? Và những người bị thiệt hại về vật chất lẫn tinh thần sẽ phải được trả lại công bằng như thế nào?

Việc bên giáo hội thì chiếu theo giáo luật, việc xã hội thì chiếu theo pháp luật, không thể qua loa chiếu lệ cho xong chuyện.

Rồi lại hỏi: Sau khi nhận lỗi (không biết lỗi gì!), ông Thích Trúc Thái Minh sẽ nói gì với Phật tử chùa Ba Vàng? Hay ông lại nói như các đệ tử của ông đang lang thang “tác chiến” trên khắp các mặt trận, rằng những kẻ kỷ luật và phê phán ông là vô minh và phải chịu quả báo? Ông sẽ tiếp tục tuyên truyền, bơm thổi gì vào đầu óc tín đồ?

Đây không phải lần đầu tiên ông Thích Trúc Thái Minh vi phạm và bị xử lý. Với tư cách là một tu sĩ Phật giáo, trụ trì một ngôi chùa lớn, nếu cứ vi phạm hết lần này đến lần khác và chỉ bị phạt một cách hời hợt như thế, xin hỏi trách nhiệm của Giáo hội đã đầy đủ chưa và ông Thích Trúc Thái Minh có xứng đáng đứng trong tăng đoàn nữa không?

Luật (cả giáo luật và pháp luật) nếu không NGHIÊM MINH thì loạn là tất yếu, không gì cứu vãn được.


 

TẬP….

Gieo Mầm Ơn Gọi

TẬP….

Tập cảm thông tha thứ
Trước lỗi lầm đắng cay
Vì đời cần biết mấy
Yêu thương trong tim này

Tập điềm nhiên tĩnh lặng
Trước điều tiếng thị phi
Sóng gió dù đủ kiểu
Rồi cũng sẽ tan đi

Tập khiêm nhường nhẫn nhịn
Trước giành giật hơn thua
Lá xanh dù thắm mấy
Cũng vàng phai theo mùa

Tập lắng lòng tĩnh táo
Trước thế sự đảo điên
Có nhiều khi em ạ
Mọi sự để tùy duyên


 

 Vụ tham ô làm sáng tỏ nạn tham nhũng ở Việt Nam.

Ba’o Tan Dai Viet

Posted on 01/01/2024 

Các chuyên gia cho rằng vụ bê bối 12,5 tỷ USD chỉ là ‘phần nổi của tảng băng chìm’.

Bởi RFA tiếng Việt – 21/11/2023

Bà Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát Holdings. Tập đoàn Vạn Thịnh Phát Holdings

Các chuyên gia nói với Đài Á Châu Tự Do rằng vụ bê bối tham ô hàng tỷ đô la gần đây ở Việt Nam chỉ là “phần nổi của tảng băng trôi” trong hệ thống ngân hàng tham nhũng của đất nước – và chính phủ không được trang bị đầy đủ để giải quyết vấn đề này.

Tuần trước, Bộ Công an Việt Nam công bố kết luận điều tra cho thấy Trương Mỹ Lan, Chủ tịch Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, hay VTP, đã biển thủ 304 nghìn tỷ đồng (12,5 tỷ USD) bằng cách sử dụng “công ty ma” và Ngân hàng TMCP Sài Gòn, hay SCB, ngân hàng liên kết của tập đoàn.

Vụ án được coi là một trong những vụ tham nhũng lớn nhất từ trước đến nay ở Việt Nam và giá trị số tiền tham ô được biết lên tới khoảng 6% GDP của Việt Nam.

Trong báo cáo công bố ngày 17 tháng 11 năm 2023, Cơ quan Điều tra Cảnh sát Bộ đề nghị truy tố 86 người liên quan đến vụ án, trong đó có Lan, người phải đối mặt với cáo buộc hối lộ, tham ô và vi phạm quy định ngân hàng.

Công an cũng đề nghị khởi tố hàng chục nhân viên Ngân hàng SCB và các công ty thuộc Tập đoàn VTP về tội tham ô, vi phạm quy định về ngân hàng, cùng 2 nhân viên SCB và một nguyên quyền Chánh Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tội trốn tránh trách nhiệm.

Ngoài ra, người ta còn phát hiện ra rằng khi xử lý vụ án này, các thanh tra đã bị hối lộ để làm sai lệch kết quả của họ.

Vấn đề về cơ cấu

Chuyên gia kinh tế Bùi Kiến Thành nói với RFA Vietnamese rằng có những vấn đề cơ cấu nghiêm trọng trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Ông nói: “Ngoài vụ bê bối SCB, bất động sản là một bong bóng khác có thể vỡ [bất cứ lúc nào] ở Việt Nam. “Các ngân hàng cung cấp nhiều khoản vay [cho các công ty bất động sản]. Các tập đoàn lớn thường vay những khoản vay có giá trị gấp bảy, tám lần giá trị tài sản của họ. Không có [hệ thống ngân hàng] của quốc gia nào hoạt động theo cách đó.”

Ông cho biết hiện tượng bong bóng rõ ràng cho thấy chính phủ đang quản lý sai các ngân hàng.

“Và khi bong bóng vỡ, câu chuyện 12 tỷ USD của SCB sẽ chỉ là phần nổi của tảng băng trôi”, ông nói.

Một người đàn ông đi xe máy chở tôn qua Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại Hà Nội vào ngày 27/7/2023. Ảnh: Nhac Nguyen/AFP

Theo kết luận điều tra, Tập đoàn Vạn Thịnh Phát đã thành lập hơn 1.000 công ty, bao gồm các công ty con, công ty thành viên trong và ngoài nước, trong đó có nhiều công ty chuyên về ngân hàng, đầu tư chứng khoán, bất động sản.

Theo kết luận điều tra, một lượng lớn “công ty ma” này được thành lập chỉ để lấy tiền từ ngân hàng SCB cho Lan sử dụng.

Chuyên gia kinh tế Nguyễn Huy Vũ nói với RFA rằng Ngân hàng SCB và các công ty con của Tập đoàn Vạn Thịnh Phát được kết nối với nhau thông qua hình thức sở hữu chéo.

“Thông qua hệ thống ngân hàng SCB, vốn và trái phiếu của SCB của các công ty con thuộc Tập đoàn Vạn Thịnh Phát được huy động để sử dụng cho các dự án của Tập đoàn. Điều này tạo ra rủi ro cực kỳ cao cho người gửi tiền và nhà đầu tư [trái phiếu].”

Sau khi truy tố, bắt giữ Trương Mỹ Lan và hàng loạt lãnh đạo khác của VTP, nhiều người gửi tiền SCB và những người mua trái phiếu của Tập đoàn VTP cũng như các sản phẩm, dịch vụ khác qua SCB đã xuống đường tập trung tại trụ sở SCB để đòi lại tiền.

Nạn nhân của VTP tiếp tục tổ chức biểu tình Họ thậm chí còn tạo nhóm riêng trên nền tảng mạng xã hội Facebook và Zalo.

‘Giống như một tiệm cầm đồ’

Thanh giải thích rằng vụ việc cho thấy sự yếu kém của hệ thống ngân hàng Việt Nam.

Ông nói: “Việt Nam có hơn 30 ngân hàng, nhưng [những ngân hàng này] không đào tạo chuyên môn phù hợp cho nhân viên của họ”.

Ông nói: “Hoạt động này chủ yếu tập trung vào cho vay thế chấp, nhưng thực tế hoạt động giống như một cửa hàng cầm đồ”. “Nhân viên ngân hàng không thực sự nghiên cứu xem dự án có khả thi và có thể trả được khoản vay hay không mà họ chỉ nhìn vào khoản thế chấp trong đơn xin vay”.

Ông cho rằng việc giám sát lỏng lẻo như vậy là phổ biến trong hệ thống ngân hàng Việt Nam.

“Kết quả là, [sự mất mát] có thể không chỉ là 12 tỷ USD mà còn hàng chục tỷ USD nữa vẫn chưa được phát hiện.”

Bộ Tài chính ước tính tổng nợ xấu của 28 ngân hàng tăng 52% trong quý 3 năm 2023 và nợ xấu của một số ngân hàng tăng gấp hai hoặc ba lần, theo báo cáo trên Báo Thanh tra, một ấn phẩm chính thức của Bộ Tài chính. Thanh tra Chính phủ.

Ông Thành cho biết, Chính phủ nhận thức rõ ràng về nợ xấu nhưng chưa thể quản lý hiệu quả và hiệu quả.

“Chính phủ giao cho Công ty Quản lý Tài sản Việt Nam nhưng [họ] không xử lý được. Tóm lại, Ngân hàng Nhà nước chưa làm tròn vai trò thanh tra, kiểm tra ngân hàng.”

Tham nhũng trong hệ thống ngân hàng

Vụ án cấp cao đã thu hút nhiều sự chú ý của công chúng, khiến nhiều người đặt câu hỏi về vai trò quản lý của chính phủ do mức độ nghiêm trọng của hành vi tham ô xảy ra trong một thời gian dài.

“Kết luận điều tra cho thấy mức độ tội ác khủng khiếp mà Tập đoàn Vạn Thịnh Phát gây ra”, ông Đặng Đình Mạnh, người từng làm luật sư ở Việt Nam hơn 20 năm và hiện đang cư trú tại Hoa Kỳ, nói với RFA.

“Tuy nhiên, điều khiến tôi chú ý nhất là khía cạnh pháp lý của vụ việc. Theo đó, hàng loạt rào cản pháp lý nhằm đảm bảo kiểm soát lành mạnh hoạt động kinh doanh đều đã được Vạn Thịnh Phát vô hiệu hóa một cách hiệu quả với sự thông đồng của hơn một số quan chức chính phủ.”

Kết luận của cơ quan điều tra cho biết, toàn bộ 18 thành viên trong đoàn điều tra do Đỗ Thị Nhàn, nguyên Chánh Văn phòng Thanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà nước làm trưởng đoàn đều nhận hối lộ để thay đổi kết quả thanh tra, che đậy sai phạm của Ngân hàng SCB. Với tư cách là trưởng đoàn, ông Nhân đã nhận hối lộ trị giá 5,2 triệu USD.

“Có thể các thanh tra nhận hối lộ trong vụ Vạn Thịnh Phát trước đó cũng đã phạm tội khi thanh tra các doanh nghiệp khác, nhưng không có cơ chế nào ngăn cản họ làm điều đó cho đến khi vụ Vạn Thịnh Phát bị phát hiện”, ông Mạnh nói.

Ông Thanh cũng bày tỏ lo ngại về chất lượng hoạt động thanh tra, giám sát của Ngân hàng Nhà nước.

Ông nói: “Việc để ngân hàng hoạt động thiếu trung thực, không đúng pháp luật là rất có hại và nguy hiểm. “Cho phép lạm dụng quyền sở hữu ngân hàng để vay tiền không giới hạn… là không tuân theo Luật các tổ chức tín dụng.”

Theo ông Thành, tham nhũng khá tràn lan trong hoạt động thanh tra ngân hàng ở Việt Nam và có khả năng vượt ra ngoài vụ SCB.

“Nhiều ngân hàng khác có thể cũng rơi vào tình trạng tương tự nhưng chưa bị phát hiện”.

Anna Vũ dịch. Biên tập bởi Eugene Wong và Malcolm Foster.

https://bitly.ws/38kqj

[Lê Văn dịch lại]

Tin đang lan truyền trên các mạng XH về các ngân hàng tại VN  

https://www.facebook.com/share/r/YZ7NzorgvqnTnKzK/?mibextid=uKSjGR


 

Phiên tòa Việt Á: Báo Việt Nam không dám nhắc tên Nguyễn Xuân Phúc liên quan

Ba’o Nguoi-Viet

January 4, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tất cả các bản tin trên báo Việt Nam khi tường thuật lời khai của bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thủy tại phiên tòa xử vụ Việt Á, đều không dám nhắc tên ông Nguyễn Xuân Phúc, cựu chủ tịch nước Việt Nam.

Bà Thủy, cựu chuyên viên nhà xuất bản Giáo Dục Việt Nam, được công luận tin là người nhà của ông Nguyễn Xuân Phúc.

Bị cáo Nguyễn Thị Thanh Thủy được cho là người nhà của ông Nguyễn Xuân Phúc, cựu chủ tịch nước Việt Nam. (Hình: Giang Long/Tuổi Trẻ)

Hồi đầu năm ngoái, thời điểm ông Phúc mất ghế chủ tịch nước, tin đồn trên mạng xã hội nói rằng bà Nguyễn Thị Thanh Thủy là cháu ruột bà Trần Thị Nguyệt Thu, vợ ông Phúc.

Tuy vậy, cũng có một số trang báo độc lập khẳng định bà Thủy là “em họ Nguyễn Xuân Phúc.”

Trong vụ án Việt Á, hai bị cáo Thủy và Nguyễn Bạch Thùy Linh, giám đốc công ty SNB Holdings, đều bị cáo buộc tội danh “lợi dụng ảnh hưởng đối với người có chức vụ, quyền hạn để trục lợi.”

Cả báo Tuổi Trẻ lẫn VietNamNet hôm 4 Tháng Giêng, đều mô tả bị cáo Thủy đã lợi dụng mối quan hệ cá nhân với “một lãnh đạo cấp cao thuộc chính phủ” để mời ông Nguyễn Thanh Long, khi đó còn là thứ trưởng Y Tế, có mặt tại buổi lễ trao kit xét nghiệm của Việt Á do công ty CapitaLand tài trợ.

Dường như Hội Đồng Xét Xử không hỏi thêm về danh tính “một lãnh đạo cấp cao thuộc chính phủ” mà công luận hiểu là ông Nguyễn Xuân Phúc.

Liên quan tình tiết này, thoạt đầu, thể theo lời đề nghị của Nguyễn Bạch Thùy Linh, bà Thủy gọi điện thoại mời ông Long tham dự sự kiện nêu trên, ông này chỉ nói đúng một câu “Trao tặng theo quy định thì bên nhận là Mặt Trận Tổ Quốc” rồi cúp máy.

Sau khi ông Long xuất hiện tại buổi lễ trao kit xét nghiệm, hồi Tháng Tư, 2020, bà Thủy được bà Linh đến nhà đưa 2 tỷ đồng ($82,009) “để cám ơn.”

“Bị cáo chưa vi phạm pháp luật bao giờ, luôn tôn trọng các quy định pháp luật và không bao giờ nghĩ mình sẽ vi phạm. Bị cáo đã tích cực hợp tác và khắc phục nộp lại toàn bộ số tiền nhận từ Việt Á. Bị cáo đang bị bệnh hiểm nghèo, ung thư di căn lên phổi,” bà Thủy vừa nói vừa khóc tại phiên tòa.

Bị cáo Nguyễn Thanh Long, cựu bộ trưởng Y Tế. (Hình: VietNamNet)

 Trong khi đó, bị cáo Nguyễn Bạch Thùy Linh được ghi nhận nộp 8 tỷ đồng ($328,036) tiền “khắc phục hậu quả.”

Đây là khoản tiền mà bà Linh khai rằng mình được công ty Việt Á chi 40% giá trị hợp đồng mua bán kit xét nghiệm trong những tháng dịch COVID-19 hoành hành ở Việt Nam. (N.H.K) 


 

Mấy Mươi Năm Nhìn Rõ Hình Hài – Nguyễn Thế Giác

Giac Le Nguyen

Nguyễn Thế Giác

Mấy mươi năm bên kia mừng chiến thắng.

Giống da vàng bầy vẽ chuyện thơ ngây.

Mẹ gục mặt tóc mỗi ngày bạc trắng.(mẹ việt nam)

Lê thân già héo hắt sống qua ngày.

 

Mấy mươi năm bên này thằng khóc hận.

Mảnh đạn cầy nhức nhối vết thương xưa.

Nhìn đất nước bằng chiều dài vô tận.

Yêu Quê Hương không biết nói sao vừa.

 

Mấy mươi năm ngủ chập chờn mộng mị.

Hồn đi hoang từ dạo đó đến giờ.

Đuốc sắp tắt chưa gặp người tri kỷ.

Gởi nỗi niềm của kẻ rủi sa cơ.

 

Mấy mươi năm kiếp lạc đà dun rủi.

Sa mạc đời đốt cháy mảnh hình hài.

Đứa thua cuộc sống nhọc nhằn buồn tủi.

Mặt trời lên chẳng thấy bóng tương lai.

 

Mấy mươi năm tìm giao kèo bán nước.

Văn tự nào khai tử dải đất thiêng?

Thằng bại trận chắt chiu đời vô phước.

Đứa vinh quang nhặt xác khắp mọi miền.

 

Mấy mươi năm giở chúc thư của Mẹ.

Không thấy chia, thấy cắt cõi sơn hà.

Ôi tuyệt đẹp! Non sông mình ngạo nghễ.

Đến bây giờ lầy lội cả Quê Cha.

 

Mấy mươi năm nghe chuyến tàu Thống Nhất.

Nhưng ba miền thúc thủ chẳng nhìn nhau.

Thằng chiến thắng đã không còn thành thật.

Hòa bình sao dân quá đỗi cơ cầu?

 

Mấy mươi năm bên này buồn chiến bại.

Vạch lưng mình vết chém thấy chưa lành.

Khi biết được Dân Tộc đầy oan trái.

Sử ngàn trang lật mãi vẫn hôi tanh.

 

Mấy mươi năm học được gì Hải Ngoại?

Vẫn miệt mài vẽ chữ S xinh xinh.

Ôm Nam Hải sóng bập bềnh mời gọi.

Ngại Trường Sơn mồn một cảnh đao binh.

 

Mấy mươi năm mỗi thằng đều đánh mất!

Mà khoe khoang thêm nhục giống Lạc Hồng.

Thằng ray rứt: Mình Góp Phần Tổ Quốc.

Đứa huyênh hoang: Có Tội Với Non Sông!

 

Rồi được gì? Hỡi lũ người chiến thắng!

Anh em mày xâu xé thật thương tâm.

Mừng Độc Lập chỉ hai bàn tay trắng.

Quảy lên vai nửa thế kỷ lỗi lầm.

Nguyễn Thế Giác


 

SỰ PHẢN BỘI CỦA CÁC LÃNH ĐẠO ĐẢNG CỘNG SẢN LIÊN XÔ?

Tran Thien Cong is with Đoàn Xuân Đài.

Ngay sau khi Lenin qua đời (1924), người thứ hai trong đảng, đồng chí Trotsky, là một kẻ phản bội. Kamenev, Zinoviev, Bukharin và Stalin đã lật đổ Trotsky và trục xuất ông ta khỏi Liên Xô (1927).

Nhưng sau vài năm, hóa ra Kamenev, Zinoviev và Bukharin cũng là kẻ thù và là loài sâu bọ.

Sau đó đồng chí dũng cảm Heinrich Yagoda bắt họ (1936).

Chưa đầy 1 năm sau, Yagoda bị Yezhov bắt giữ vì làm điệp viên cho kẻ thù (1937). Nhưng sau một năm nữa, hóa ra Yezhov không phải là đồng chí, mà là một kẻ phản bội tầm thường và là tay sai của kẻ thù. Và Yezhov bị Beria bắt (1938).

Sau cái chết của Stalin, mọi người đều nhận ra rằng Beria cũng là một kẻ phản bội. Sau đó Zhukov bắt Beria (1953).

Nhưng ngay sau đó Khrushchev biết được Zhukov là kẻ có âm mưu. Và ông đã đày Zhukov đến Ural, tước mọi quyền hành cho đến chết.

Và một thời gian sau, người ta tiết lộ rằng Stalin là kẻ thù, kẻ phá hoạt và kẻ phản bội (1956). Và cùng với ông ta là hầu hết Bộ Chính trị đương thời. Sau đó, Stalin được đưa ra khỏi lăng, Bộ Chính trị và Shepilov, những người cùng hội cùng thuyền với họ, đã bị giải tán bởi các đảng viên trung thực do Khrushchev lãnh đạo (1957).

Nhiều năm trôi qua và các lãnh đạo trẻ hơn phát hiện: hóa ra Khrushchev là một người bốc đồng, bất hảo, phiêu lưu và cũng là kẻ thù của đảng và nhân dân Xô Viết. Sau đó Brezhnev tống Khrushchev về hưu và sống ẩn dật (1964). Sau cái chết của Brezhnev, mới thấy hóa ra ông là kẻ gây hại và là nguyên nhân của sự trì trệ (1964 – 1982).

Sau đó, có hai người nữa mà không ai đủ rảnh để nhớ ra (1982 – 1985) là Chernhenko và Andropov. Nhưng rồi một Gorbachev trẻ trung, năng động lên nắm quyền. Và hóa ra toàn bộ đảng là đảng của những kẻ tàn phá và kẻ thù. Gorbachev bắt tay vào sửa chữa mọi thứ ngay lập tức. Cái mà người ta gọi là Cải tổ, Đổi mới, Perestroyka … đó

Thế rồi, cải không kịp, Liên Xô sụp đổ (1991).

Và Gorbachev thành ra kẻ tội đồ, là kẻ thù và kẻ phản bội lại tất cả những kẻ phản bội trước đó … Rồi Elsin lãnh đạo nước Nga khi về hưu cũng bị quy là kẻ phản bội này nọ.

Tóm lại duy nhất chỉ có Putin hiện nay là “vị lãnh tụ vĩ đại của dân Nga”.

* Tác giả của câu chuyện này là Stanislav Sadalsky.