Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Những thư Giáo hoàng John Paul II gửi bạn nữ

Hồng y Karol Wojtyla và bà Anna Teresa-Tymieniecka trong một lần đi trượt tuyết BBC đã được chứng kiến hàng trăm lá thư và ảnh cho thấy mối quan hệ thân thiết kéo dài hơn 30 năm giữa Đức Giáo hoàng John Paul II và một phụ nữ đã có chồng.

Những lá thư từ triết gia người Mỹ gốc Ba Lan, bà Anna-Teresa Tymieniecka được giữ kín suốt nhiều năm ở Thư viện Quốc gia Ba Lan.

Tài liệu cho thấy một khía cạnh khác của vị Đức Thánh Cha, qua đời năm 2005.

Tuy nhiên không có chứng cứ cho thấy ông phá lời nguyện trinh khiết.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka và Hồng y Wojtyla trong một lần đi cắm trại năm 1978

Tình bạn giữa hai người bắt đầu từ năm 1973 khi bà Tymieniecka liên hệ với Hồng y Karol Wojtyla (sau này là Giáo hoàng John Paull II), lúc đó là Tổng giám mục Krakow, về một cuốn sách triết học mà ông từng viết.

Người phụ nữ lúc đó 50 tuổi, từ Hoa Kỳ đã bay tới Ba Lan để bàn về công việc.

Hình ảnh bà Anna-Teresa Tymieniecka thời gặp Hồng y năm 1973. Ảnh do Bill và Jadwiga Smith cung cấp

Không lâu sau đó, hai bên bắt đầu thư từ qua lại. Ban đầu, những lá thư của vị Hồng y rất khách sáo nhưng tình bạn càng phát triển thì lời lẽ cũng thân mật hơn.

Cả hai quyết định viết chung một cuốn sách mở rộng từ cuốn sách ban đầu của ông Karol Wojtyla, The Acting Person. Họ gặp nhau nhiều lần – đôi khi có sự hiện diện của thư ký riêng của Giáo hoàng, đôi khi gặp riêng – và thường xuyên trao đổi.

Năm 1974, ông viết rằng trong vòng một tháng ông đã đọc lại bốn lá thư của bà Tymieniecka bởi những lá thư ấy “thật ý nghĩa và riêng tư sâu sắc”.

Những tấm ảnh chưa bao giờ xuất hiện trước công chúng cho thấy hình ảnh ông Karol Wojtyla trong những khoảnh khắc thoải mái nhất. Ông mời bà Tymieniecka cùng đi dạo ở đồng quê và trong các kỳ nghỉ trượt tuyết – bà thậm chí còn đi cùng một nhóm cắm trại với ông. Các bức ảnh cũng ghi lại lúc bà tới thăm ông ở Vatican.

“Đây là một số rất ít những nhân vật siêu việt có hình ảnh cuộc sống đời thường trong thế kỷ 20, người đứng đầu Giáo hội Công giáo, với mối quan hệ mãnh liệt với một phụ nữ quyến rũ,” Eamon Duffy, Giáo sư Lịch sử Công giáo ở Đại học Cambridge nói.

Năm 1976, Hồng y Wojtyla tham dự một hội nghị Công giáo ở Hoa Kỳ. Bà Tymieniecka mời ông tới ở nhà nghỉ ở quê của họ ở New England.

Có vẻ như bà đã bày tỏ tình cảm sâu đậm với ông vì những lá thư của ông ngay sau đó cho thấy một người đàn ông cố gắng cắt nghĩa mối quan hệ của mình theo quan niệm của Công giáo.

Trong một lá thư đề tháng 9/1976, ông viết: “Teresa thân yêu của tôi, tôi đã nhận được cả ba lá thư. Bà viết về việc phải xa nhau nhưng tôi không thể nào tìm được câu trả lời cho những lời lẽ này.”

Ông gọi bà là “món quà từ Chúa”.

Photo provided by Bill and Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka thăm Giáo hoàng John Paul II ở Vatican

BBC chưa được đọc bất kỳ lá thư nào của bà Tymieniecka. Chúng tôi tin rằng bản sao của những lá thư này cũng được giữ chung trong tài liệu lưu trữ do bà bán lại cho Thư viện Quốc gia Ba Lan năm 2008, sáu năm trước khi bà qua đời.

Tuy nhiên những lá thư này không nằm trong số thư của Giáo Hoàng được đưa ra cho BBC. Thư viện Quốc gia Ba Lan cũng không xác nhận liệu họ có thư của bà Tymieniecka hay không.

Marsha Malinowski, người chuyên kinh doanh bản thảo viết tay và đã giúp thương lượng vụ bán những lá thư trên, nói bà tin rằng Anna-Teresa Tymieniecka đã yêu vị Hồng y Wojtyla ngay từ những ngày đầu của mối quan hệ. “Tôi nghĩ những lá thư trao đổi hoàn toàn cho thấy điều này,” bà nói với BBC.

Những lá thư cũng hé lộ rằng ông Wojtyla tặng bà Tymieniecka một trong những đồ bất ly thân quý giá nhất của mình – scapular – loại vòng da viền cổ áo tu sỹ Công giáo, mang ảnh Đức mẹ.

Trong lá thư đề ngày 10/09/1976, ông viết: “Từ năm ngoái tôi đã đi tìm câu trả lời cho những từ này, ‘tôi thuộc về em,’ và cuối cùng, trước khi rời Ba Lan, tôi tìm ra một cách – scapular. Không gian mà tôi chấp nhận và cảm thấy em có ở khắp nơi trong mọi tình huống, khi em gần, và khi em xa.”

 Chiếc vòng scapular – quà tặng của Hồng y Wojtyla dành cho bà Tymieniecka

Sau khi trở thành Giáo hoàng, ông viết: “Tôi viết sau khi sự kiện này xảy ra, để cho thấy trao đổi giữa chúng ta vẫn nên được tiếp tục. Tôi hứa sẽ ghi nhớ tất cả mọi thứ ngay cả ở giai đoạn mới này trong hành trình của tôi.”

Hồng y Wojtyla có nhiều bạn nữ, trong đó có Wanda Poltawska, một bác sỹ tâm thần, người ông cũng trao đổi thư từ trong nhiều thập kỷ.

Nhưng những lá thư của ông dành cho bà Tymieniecka đôi khi chứa đầy tình cảm cảm mạnh mẽ, đôi khi là cuộc tranh đấu trong việc lý giải ý nghĩa của mối quan hệ này.

Đức Giáo hoàng John Paul II qua đời năm 2005, sau gần 27 năm lãnh đạo. Năm 2014 ông được tuyên Thánh.

Quá trình phong thánh thường đắt đỏ và tốn nhiều thời gian, nhưng Đức Giáo hoàng John Paul II được nhanh chóng trao Thánh chỉ trong chín năm.

Foto cedida por Bill y Jadwiga Smith

Bà Tymieniecka cùng chồng, Hendrik Houthakker

Thông thường, Vatican sẽ yêu cầu được xem toàn bộ tài liệu công và thư từ cá nhân khi xem xét phong thánh, nhưng BBC không thể kiểm chứng liệu những lá thư này đã được đọc hay chưa.

Bộ Tuyên Thánh nói tùy vào mỗi giáo hội Công giáo để quyết định xem có gửi những tài liệu này hay không.

“Toàn bộ trách nhiệm của chúng tôi đã được thực hiện,” Bộ nói với BBC trong một thông cáo. “Mọi tài liệu riêng, được gửi một cách trung thành để đáp lại sắc lệnh, và tài liệu được coi là thuộc những bộ lưu trữ quan trọng đã được xem xét.”

Thư viện Quốc gia Ba Lan tranh luận rằng đây là mối quan hệ đặc biệt, là một trong rất nhiều mối quan hệ bạn bè thân thiết mà Giáo hoàng có được trong suốt cuộc đời mình.

Mai Tôi Đi & Mốt Tôi Đến – NQH & NGUYỄN VĂN MỸ

 Mai tôi đi…      /                                                                                                 Mốt tôi đến…

Mai tôi đi…chẳng có gì quan trọng, /                                   Mốt tôi đến… đó mới là quan trọng

Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,/                                 Về quê trời, là ước vọng tương lai

Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,/                                       Nơi yên vui không cần đến tiền tài

Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn../                    Danh với vọng chẳng ai mơ màng tới

Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,/                  Bệnh chẳng sợ vì hồn đang phơi phới

Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,/                                Có đến thăm xin hãy đợi đôi ngày

Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,/                                   Vì hồn tôi như nửa tỉnh nửa say

Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt./                              Và vui sướng đêm ngày không biết tới!

Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết../               Trong khoảnh khắc là ngàn năm hạ giới

Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian. /                         Chẳng sợ gì mà đợi để đến sau

Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,/                         Nơi giàu sang đều hưởng lợi như nhau

Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi../                        Miền Miên Viễn sẽ toàn màu tuyết trắng!

Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,/               Không tranh chấp, mà những ngày phẳng lặng

Để đi vào ranh giới của âm dương,/                               Cứ vào đi Ngài luôn sẵn đợi chờ!

Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,/       Cõi Vĩnh Hằng toàn đẹp đẽ như mơ

Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…/                                   Không dành dựt bon chen như bên nớ

Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,/                           Hãy dứt khoát khi trả xong món nợ

Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,/                  Bỏ lại sau đừng tìm cớ đợi chờ

Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,/                     Hãy yên lòng và đừng có thờ ơ

Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…/                       Chết không hết, mà đổi bờ sang bến

Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ, /                       Khi tôi chết hãy thắp lên ngọn nến

Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu, /                  Ở trong lòng vì thương mến anh em

Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu./                    Hãy nghĩ rằng như nằm ngủ qua đêm

Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống../                 Vào giấc mộng êm đềm chưa thức giấc

Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,/                 Sống với chết thật gần trong gang tấc

Đến trần truồng và đi vẫn tay không. /                            Đời bên kia mới thật sẽ bền lâu

Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng, /                      Nơi yêu thương và hết sức nhiệm mầu

Nay rũ sạch…lên bờ, thuyền đến bến…/                          Vì công lý trước sau là như một

Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,/                   Trong cuộc sống hãy cố làm việc tốt

Nên xem như giải thoát một kiếp người,/                  Yêu thương nhau đừng dại dột hại người

Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,/                            Tâm hồn ta sẽ mai mãi thảnh thơi

Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp../                             Hồn với xác sẽ sống đời Thần Thánh

NQH 07/31/2013.                                                               NGUYỄN VĂN MỸ

Tấn công vào quần chúng

Tấn công vào quần chúng

Trần Duy Sơn (Danlambao) – Ngồi trước máy tính, đọc những bài viết trên facebook, đọc những bài nhận định trên web, bỏ máy tính xuống, bước ra khỏi ngôi nhà, đường phố vẫn đông đúc, người người vẫn chạy tất bật, nhà bên cạnh vẫn xem tivi nghe nhạc như thường ngày, tôi có cảm giác xã hội này dường như không cần đảng, có đảng cũng vậy, không có đảng cũng vậy, họ vẫn làm việc, vẫn sống, có facebook cũng vậy, không facebook cũng vậy, họ vẫn dững dưng, trên web tưởng như đảng sắp sập nay mai, một bước nữa thôi, một bước nữa đảng chết, nhưng không, xã hội vẫn bình thường, nhà bên cạnh vẫn nhậu nhẹt, như vẫn không biết cái gì đang xảy ra trên thế giới này.

Đó là sự thật của xã hội VN, web là một thế giới, đời thực là một thế giới khác, khác hoàn toàn với nó, bên cạnh Dòng Chúa Cứu thế 38 Kỳ đồng, Sài Gòn, tâm điểm hội họp của anh em PTDC, bao nhiêu chương trình giúp TPBVNCH ra đời, người dân vẫn như hoàn toàn không biết gì và không quan tâm. Bênh cạnh ngôi nhà của anh em bị “ăn bánh canh” liên tục người dân vẫn thờ ơ chứ không phải như những bà mẹ VN anh hùng năm xưa dấu cơm, dấu gạo ủng hộ chiến sỹ. Tại sao như vậy?

Phong trào đấu tranh dân chủ VN không có quần chúng.

Một lỗ hổng rất lớn từ trên web xuống đời thực, không có sự nối kết, không có sự chia sẻ. Anh em dân chủ chỉ chơi được trên facebook, không chơi được với hàng xóm, vô quán nhậu thì 9 bàn nói chuyện trên trời dưới đất, 1 bàn chém gió chính trị. Bạn bè tôi ngồi chửi cái tivi suốt ngày, nhưng kết bạn với một người bạn dân chủ trên facebook, thì không dám. Vậy biểu làm sao đất nước này thay đổi?

Đó là kết quả của xã hội Việt nNam từ chế độ phong kiến, qua thực dân, qua CS và hiện nay hậu CS toàn trị KTTT định hướng XHCN.

Người dân luôn bị ra rìa, đứng dưới cấp chính quyền và không thể tham gia vào vận mệnh đất nước. Tư tưởng chế độ phong kiến người dân là thần dân chỉ biết tuân lệnh và phục tùng. Hệ thống thứ bậc và chính danh, ai ai cứ làm việc nấy, làm tốt công công việc của mình, phấn đấu trở thành quân tử, phục tùng dưới vua, đã đẩy người dân thành những con cừu tốt, cừu quân tử để cho quan quyền chăn đắt, càng quân tử càng tuân lệnh trên. Tư tưởng Khổng giáo sống là phải dung hòa các mối quan hệ vừa được lòng bên vợ, được lòng bên chồng, hài lòng bên hàng xóm, vui vẻ bên bạn bè, tuân lệnh bên chính quyền, cho nên làm mất cá tính, sức bật nhận thức riêng của mỗi con người, Chuyển qua thời kỳ thực dân, vẫn trên tư tưởng như vậy, nhưng thêm chính sách Nam kỳ Trung kỳ, Bắc kỳ người dân càng chia rẽ hơn, hưởng ánh sáng văn minh châu Âu người dân được nâng cao dân trí nhưng vẫn ra rìa xã hội. Qua chế độ CS chắc ai cũng biết rồi, người dân bị đè bẹp thêm lần nữa. giai cấp tư sản, tiểu tư sản, tiểu thương địa chủ, khỏi cất lên tiếng nói luôn, cứ để bần cố nông làm việc. Kết quả là xã hội thụt lùi vô cảm.

Một quá trình tiến hóa lịch sử như vậy, người dân chỉ giỏi một chuyện: chống ngoại xâm. Chỉ khi có giặc ngoại xâm người Việt mới đoàn kết lại, đứng bên cạnh nhau, cùng chính quyền chống kẻ thù, bởi vì khi đó người dân mới được chính quyền thả cửa, cầu cạnh, cho họ thỏa chí tang bồng, thể hiện cái tôi của mình, kích thích lòng yếu nước bản năng cùng nhau giữ nước. Từ đó hình thành tính cách người Việt là gì? Nước tới chân mới nhảy, chỉ đoàn kết trong trường hợp cận kề hiểm nguy, chỉ lo làm ăn không quan tâm đến xã hội, không có khái niệm chống lại triều đình, không có ý tưởng tranh luận bàn hội nghị gọi là nghị trường, mà đối với kẻ thù chỉ có diệt và diệt, khác quan điểm là diệt, khác phe nhóm là diệt, khác tư duy là diệt như diệt giặc cho nên bị giặc nội xâm người Việt không biết đường mò. Chống ngoại xâm kẻ thù quá rõ, cầm gươm giáo, súng ống là diệt giặc được rồi, còn giặc nội xâm đâu biết ai là kẻ thù cũng không cầm súng được cho nên bó tay. Với chế độ CS bọn nó còn lưu manh chước quỷ hơn ngàn lần trước kia, vừa đấm vừa xoa, vừa bóp vừa thả nên người dân càng mờ ảo không nhận diện được kẻ thù, nên đảng dắt đi rong chơi.

Phân tích lịch sử để chi? Để thấy rằng bản chất người Việt như vậy đó, chúng ta đấu tranh cho dân chủ phải trên nền tảng cội nguồn tài nguyên như vậy đó, chứ không phải anh bắt người dân phải nhận thức như người Mỹ, lãnh đạo phải yêu nước như vua chúa để cho tui đấu tranh. Anh không thể bắt người dân phải thay đổi nhận thức mà làm sao để họ thay đổi nhận thức. Anh không thể bắt người dân phải quan tâm đến chính trị, mà phải làm sao để họ quan tâm đến đất nước khi xã hội đầy bất công xảy ra.

Xã hội KTTT định hướng XHCN hiện tại, ít nhất người dân cũng bước vào xã hội tiêu thụ, muốn gì có nấy, muốn điện thoại đời mới nhất có, muốn xe hơi có, muốn ăn chơi có, muốn thời trang có, thế giới thay đổi cái gì về công nghệ ở đây có, v.v… chính việc này càng làm người dân thờ ơ với chính trị hơn, họ tưởng lầm đó là cuộc sống mơ ước.

Những điều này giải thích tại sao phong trào đấu tranh không có quần chúng? Còn nhiều lý do khác, như chính sách nhồi sọ của CS,… tuy nhiên, về mặt khách quan, lật đổ CS khác với chống giặc ngoại xâm, người Việt chưa quen với ý nghĩ này, không nhận diện được kẻ thù, không biết bắt đầu từ đâu, phương pháp nào để đấu tranh v.v… Về chủ quan, theo tôi phong trào đấu tranh có thể chưa đi đúng hướng.

Vẫn theo cách đấu tranh quen thuộc trong tiềm thức từ thời phong kiến, muốn diệt CS phải tấn công vào CS. Diệt và diệt. 40 năm qua chúng ta vẫn đấu tranh theo cách này, chửi bới CS, tố cáo tội ác CS, đập tan luận điệu tuyên truyền giả dối của CS, kêu gọi biểu tình, xuất hiện công khai làm gương để người dân thức tỉnh v.v… Điều này không sai, nhưng không đủ sức mạnh, chúng ta quên đi một điều: người dân chưa có ý thức về xã hội, họ vẫn quen kiếp sống thần dân. Bao nhiêu phong trào đưa ra người dân vẫn tỉnh bơ, vậy vấn đề ở đâu? Tấn công vào CS chỉ là điều kiện cần, nhưng điều kiện đủ và quan trọng nhất, phải vực dậy quần chúng. Nếu không có quần chúng anh sẽ không làm được việc gì cả.

Nhiều bài viết trước kia của tôi đã đề cập đến vấn đề này:

1- Chưa vượt qua sợ hãi thì không thể có bất tuân dân sự.

2- PTDC phải làm việc ở giai đoạn trước bất tuân dân sự mà tôi gọi là giai đoạn “Theo dân sự”. Để chi? Để tìm hiểu người dân, nguyện vọng của họ với xã hội là cái gì, tại sao họ sợ hãi, cách giải quyết như thế nào. Chính giai đoạn này anh mới lôi kéo được người dân bởi vì chưa đụng chạm tới chính quyền nhiều.

Theo tôi tiến trình tâm lý vượt qua sợ hãi phải qua 3 giai đoạn:

a- Thay đổi nhận thức

b- Thoát khỏi ràng buộc

c- Vượt qua sợ hãi

Sau đó mới tham gia những chương trình bất tuân dân sự. Tại sao phải thoát khỏi sự ràng buộc? Hãy nhìn lại vấn đề này chuẩn xác hơn. Không phải vượt qua sợ hãi mà người dân đứng lên, bao nhiêu người nhận thức về xã hội từ tri thức đến sinh viên đến những người dân thường, nhưng tại sao trí thức trùm chăn, sinh viên lạnh cảm chỉ có những anh em facebooker bình thường xuất hiện, phải chăng sự nhận thức, ràng buộc kinh tế, ràng buộc gia đình, quyền lợi trong công việc lôi kéo họ lại, không dám cất lên tiếng nói của mình vì họ sợ CA là một nhưng sợ mất công việc, phiền toái, sợ mất sổ hưu, sổ gạo là mười, chứ đâu phải dân trí. Cho nên thay đổi nhận thức và thoát khỏi ràng buộc là 2 yếu tố chính quyết định việc tham gia của người dân, trong đó thay đổi nhận thức là tấm mặt nạ mà PTDC chắc chắn tác động được, có nhiều xác suất thành công, sau đó chính họ tự quyết định thoát khỏi sự ràng buộc.

Cốt lõi căn nguyên nhất là thay đổi nhận thức của người dân về đảng và trách nhiệm của người dân với xã hội, chứ không phải nâng cao dân trí. ĐH 12 là một ví dụ, người dân vẫn chưa nhận thức đúng về đảng. “Họ vừa muốn lật đổ đảng, vừa muốn đảng tốt lên, vừa muốn đảng thay đổi, và nghĩ rằng xã hội sẽ tốt lên” trong khi đảng bầu bán, hội nghị, nghị quyết, nhân sự là để bảo vệ cho đảng, làm cho đảng trường tồn, chứ không quan tâm đến sự phát triển của xã hội. (*)

Thay vì tấy chay cái hội nghị đó của đảng, chúng ta lại bàn tới bàn lui về nhân sự, theo dõi đảng hằng ngày mà quên đi sức mạnh quần chúng mới là giá trị dứt khoát làm thay đổi mục tiêu của ba cái hội nghị này.

Bây giờ, phong trào tự ứng cử quốc hội.

Hiện tại có 2 luồng ý kiến: tẩy chay và tự ứng cử. Theo những phân tích ở trên tôi ủng hộ việc tự ứng cử quốc hội. Vì sao?

1- Trước nhất phải xác định rõ ràng về mặt tư tưởng. Trong tình hình hiện tại, chúng ta chưa có khả năng nào thắng đảng trong cuộc bầu cử này. Đảng cho 10 người, 2 người hay 0 người vào làm chim cá cảnh cho quốc hội thì chúng ta vào chứ không thể nói đòi mà được. Sau đó làm được cái gì, cũng chẳng làm được cái gì cả, cao lắm làm được hoa lá cành cho đảng. Vì vậy đừng nghĩ rằng sẽ có thắng lợi trong việc chống chọi với đảng trong cuộc bầu cử này. Hoặc cũng sẽ không có thắng lợi nào cả nếu có 5-10 người chễm chệ ngồi trong quốc hội. Lý do tại sao, chắc ai cũng trả lời được. Giả sử Nguyễn Tấn Dũng có ý tốt cho dân tộc, phe cánh đầy mình, 10 năm làm thủ tướng NTD cũng bó ta rút lui kia huống chi là 5-10 người đơn độc trong cái quốc hội bù nhìn ấy. Đảng để yên chắc?

2- Người dân chưa vượt qua được giai đoạn sợ hãi, đang nằm ở giai đoạn 1, thay đổi nhận thức, chưa thoát khỏi ràng buộc mà chúng ta kêu gọi tẩy chay bầu cử, thử hỏi bao nhiêu người tham gia. Đừng yêu cầu người dân vượt qua khỏi tầm vóc của mình. Tẩy chay bầu cử nghĩa là không đi bỏ phiếu cũng giống như kêu gọi biểu tình, 10g30 tổ trưởng tổ dân phố đến từng nhà đôn đốc đi bầu, nếu ai không bầu tổ trưởng bầu thế, qua 12g tổ ta vượt chỉ tiêu, 100% cả nhà đi bầu sớm hơn dự định. Còn ai cương quyết phản bác, để đó giải quyết sau. Dự đoán Sài gòn khoảng 100 người, hầu hết là facebooker hay đi biểu tình không đi bỏ phiếu. Còn lại cuộc sống vẫn vậy.

3- Biết rằng không thắng lợi, vậy chúng ta kêu gọi tự ứng cử để chi? Không thắng lợi trong việc trực tiếp chống chọi với đảng nhưng chúng ta cần thức tỉnh người dân. Cần người dân quan tâm đến xã hội, cần cho họ thấy rõ bản chất dân chủ thật sự của đảng, bản chất lừa lọc của đảng, bản chất xấu xa đê hèn của đảng, thông qua những chiêu trò chống lại việc tự ứng cử này. Lột mặt nạ của đảng để người dân thấy rõ chân dung kẻ thù hơn mà lâu nay họ vẫn bán tín bán nghi để đảng lừa lọc.

4- Ở trong nước đấu tranh, gần như 100% dùng facebook. Hiện tại, một người tự ứng cử đạt được khoảng 1500-2000 like. Quá ít ỏi với số lượng 3.600.000 người dùng facebook ở VN. Vậy thử hỏi chúng ta sẽ làm được gì, trứng chọi với đá, trong cuộc cách mạng DC này? Chỉ khi nào số lượng đó đạt được 5000-10.000 like mới có thể nghĩ đến biểu tình hay tẩy chay bầu cử. Nghĩa là chúng ta vẫn còn quá sơ sài, quá ít ỏi, việc chúng ta cần nhất là phát triển lực lượng, mở rộng quần chúng, chứ không phải đương đầu với địch thủ để rồi hao mòn số lượng.

5- Vì vậy điều chúng ta cần thật sự là thay đổi nhận thức để mở rộng quần chúng. Tại sao không nghĩ đến tới việc “người người ứng cử, nhà nhà ứng cử, làng làng ứng cử” mà tự giới hạn số lượng lại vậy.? Ai ai cũng có thể tự ứng cử nếu đủ điều kiện về luật pháp. Trong đó sẽ có những người ứng cử thật sự, có những người ứng cử màu mè, và kể cả câu like. Người dân họ không dại dột đến nỗi không phân biệt được ai là ai đâu! Một status trên facebook thế này, không lẽ chúng ta cấm họ sao:

“Tôi Nguyễn Thị Út, 26 tuổi, bán phở ở Cầu Ông Lãnh, xét thấy đủ điều kiện ứng cử theo luật lệ hiện hành, hôm nay tôi xin ra tự ứng cử, nếu được trúng cử việc đầu tiên nhất là tôi sẽ dẹp ba cái thằng dân phòng hốt của lòng lề đường của người dân. Ai ủng hộ hãy bầu cho tôi.”

Hoặc “Em, Trần văn Tèo, bán nước mía chợ ông Tạ, em mới học hết lớp 9 thôi, nhưng xét thấy nhân cách đạo đức em hơn mấy ông nghị gật bù nhìn kia, nên hôm nay em xin tự ứng cử. Ai ủng hộ xin bầu em, em sẽ lắng nghe ý kiến của nhân dân, không ngủ gật như mấy ổng. Em hứa.”

Tôi mong muốn được đọc tất cả những chương trình hành động, cương lĩnh tranh cử của tất cả 90 triệu dân này, dù nó buồn cười rẻ tiền hay sâu sắc.

Do đó, vấn đề đặt ra, là làm sao để mọi người dân quan tâm, chứ không phải để thắng hay thua trong cuộc bầu cử này. Biến cuộc bầu cử trở thành trò hề, trò chơi châm biếm đảng, một đại nhạc hội cười đảng, một chương trình “lẩu thập cẩm” của đảng cũng là một cách gián tiếp lật đổ đảng vậy? Nếu trong cuộc bầu cử này số lượng người dân tham gia càng ngày càng đông, rộn ràng trên web, ngày nào mọi người cũng trông vào để biết tin là kể như chúng ta đã thắng lợi. Chính trong việc quan tâm này người dân mới thay đổi nhận thức, vì vậy chúng ta phải làm tất cả những chương trình nào lôi kéo được người dân, lợi dụng bầu cử, đại hội đảng, thay đổi nhân sự, thay đổi nghị định và kể cả những chương trình chúng ta tạo ra để thay đổi nhận thức của người dân. Cũng rất cần những cương lĩnh bác học sâu sắc để nâng cao tầm nhìn của quần chúng.

6- Giai đoạn đầu cứ để phát triển tự do, để kích thích người dân tham gia, từ đây đến tháng 5, một quá trình dài để thay đổi nhận thức những người còn bàng quang, những người đắn đo. Giai đoạn 2, khi những người ứng cử quyết định thật sự đã ra phường xã như Tiến sĩ Nguyễn Quang A, Luật sư Lê Văn Luân, Võ An Đôn, Nguyễn Kim Anh, Phạm Thành, Nguyễn Thúy Hạnh, Đặng Bích Phượng, Hoàng Cường, Nguyễn Đình Hà, v.v… phong trào mới chốt lại, đi vào đúng quy trình, cần phải có những chương trình bảo vệ họ nghiêm túc hơn, chặt chẽ hơn. Đây mới là lúc đối đầu thật sự giữa đảng và người dân. Đây chính là lúc đảng lộ nguyên bộ mặt thật của mình, rất cần người dân nhìn thấy. Nếu cần, sau khi thất bại ở khâu “gởi xe” chúng ta lên chương trình tẩy chay. Tại sao không?

Người dân từ kiếp thần dân chuyển qua cuộc sống công dân họ chưa quen với cách nhìn nhận xã hội, thêm nữa CS tước đoạt toàn bộ quyền công dân của họ, cho nên chương trình tự ứng cử một cách nào đó giúp họ hiểu biết thêm về xã hội dân chủ, nhận thức lại sức mạnh của mình, và sức mạnh ấy có thể lật đổ CS mà lâu nay họ quên mất. Biết rằng tẩy chay bầu cử là đòn mạnh giáng vào CS, nhưng sức mạnh quần chúng của chúng ta chưa đủ lực để làm điều đó, nên giải pháp tự ứng cử gián tiếp bước đầu lật đổ CS, người dân phải có trách nhiệm với xã hội, anh muốn xã hội tốt hơn anh phải tham gia chứ không ai giải quyết dùm anh, lá phiếu của anh, tiếng nói của anh cũng là một dạng trách nhiệm. Dân cử dân bầu, chứ không phải đảng cử dân bầu.

Tấn công trực tiếp vào đảng là châu chấu đá xe. Muốn lật đổ đảng phải có quần chúng, muốn có quần chúng phải có sân chơi, và cần rất nhiều sân chơi, tẩy chay Tân Hiệp Phát là một sân chơi, ĐH 12 là một sân chơi, phong trào tự ứng cử là một sân chơi để lôi kéo quần chúng. Chỉ khi nào sức mạnh quần chúng liên kết lại, liên kết lại, lớn lên, thì khi đó ĐCS mới quỳ gối xin tha tội, còn không chúng vẫn tiếp tục lừa dối nhân dân hết chặng này đến chặng khác.

Sân chơi tự ứng cử lớn hơn sân chơi tẩy chay, vì vậy tôi ủng hộ phong trào tự ứng cử vào quốc hội.

Sài Gòn 15/2/2016

Trần Duy Sơn

danlambaovn.blogspot.com

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

ĐỨc Giêsu HIỂN DUNG

(Luca 9,28b-36 – CN II MC – C)

 Lm FX Vũ Phan Long, OFM 

1.- Ngữ cảnh

Đây là biến cố cuối cùng trong thời gian Đức Giêsu hoạt động tại Galilê (Lc 3,1–9,50): Người đang ở tại một khúc quanh quan trọng trong sứ mạng; công việc rao giảng tại Galilê đã kết thúc; Phêrô mới đây đã tuyên xưng Người là “Đấng Kitô của Thiên Chúa” (9,20) và nhân dịp đó, Người đã củng cố thêm hiểu biết của các môn đệ bằng cách loan báo cuộc Thương Khó (9,22). Cũng giống như ở Mc 9,2-8, truyện Hiển Dung của Đức Giêsu trong TM III (9,28-36) đi theo sát lời Đức Giêsu nói về đời môn đệ và dường như trả lời một loạt các câu hỏi về chân tính của Đức Giêsu (x. 9,7-9.18-22). Cuộc Hiển Dung cho các môn đệ được thấy trước vinh quang của Đấng Phục Sinh, vinh quang Nước Trời. Truyện giới thiệu tư cách thuộc thiên giới của Đức Giêsu đối lại với hai dung mạo Cựu Ước và thúc bách các Kitô hữu lắng nghe Người như lắng nghe Con Một của Thiên Chúa và Đấng được Thiên Chúa ưu tuyển.

2.- Bố cục

Bản văn có thể chia thành ba đơn vị:

1) Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (9,28);

2) Cuộc Hiển Dung (9,29-35):

  1. a) Lý do (cc. 29-32),
  2. b) Cuộc đối thoại (cc. 33-35);

3) Kết thúc cuộc Hiển Dung (9,36).

3.- Vài điểm chú giải

– dung mạo Người đổi khác (29): Cụm từ này đã thay thế cho động từ “được biến hình” (metamorphôthê) trong Mc (9,2) và Mt (17,2) để tránh những truyện về hóa thân, hóa kiếp trong thần thoại ngoại giáo.

– có hai nhân vật (30): Vì được giới thiệu là “hai nhân vật, hai người đàn ông” (andres dyo), ta có thể nghĩ đến “hai người đàn ông y phục sáng chói” trong truyện Phục Sinh (Lc 24,4) hoặc “hai người đàn ông mặc áo trắng” trong truyện Thăng Thiên (Cv 1,10). Như thế, quả thật Môsê và Êlia là hai chứng nhân của Đức Giêsu, nhưng ở đây, hai vị có mặt trong tư cách là những nhân vật thuộc thiên giới, nhằm loan báo vinh quang tương lai của Đức Kitô. Và nếu vậy, quang cảnh này trước hết là một hình ảnh báo trước cuộc Lên Trời (x. Cv 1,9: đám mây).

– Xuất hành (31): Rất có thể tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó – Phục Sinh – Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang của Thiên Chúa (# Đất hứa).

– ngủ mê mệt (32): Dịch sát là “bị đè nặng trong giấc ngủ” (bebarêmenoi hypnô).

– vinh quang (32): Tác giả Lc là tác giả duy nhất sử dụng từ “vinh quang” ở đây. Kiểu ngài nối kết Khổ Nạn với Vinh quang ở đây rất gần với truyện Ga 12,27-28 (vẫn được coi như tương tự với truyện Hiển Dung trong các TMNL).

– thật là hay (33): Hay cho ai? Chúng ta không rõ. Dù sao, ta hiểu là Phêrô không hiểu rõ hoàn cảnh, nhưng cảm thấy vui, nên mơ ước kéo dài tình trạng này.  

– đám mây (34): Phải chăng đám mây bao phủ cả các môn đệ, nên các ông mới sợ (sợ chết?)? Có bao phủ ba nhân vật kia không? Nhưng bản văn lại nói là “từ đám mây có tiếng phán ra”. Vậy có lẽ các môn đệ ở ngoài đám mây. Nhưng dù thế nào, đám mây thường đi liền với cuộc thần hiển (x. Xh 16,10; 19,9.16; 24,15-16; Lv 16,2; Ds 11,25) và được coi như nơi ở (shơkinâh trong sách Talmud, có nghĩa là “sự hiện diện của Thiên Chúa”) của Thiên Chúa. Khi thấy đám mây xuất hiện và dường như còn bao trùm lấy mình, các môn đệ kinh hãi.

– Người được Ta tuyển chọn (35): Xem các “Bài ca về Người Tôi Trung” (Is 42,1; 49,7).

– trong những ngày ấy (36): nghĩa là trong thời gian Đức Giêsu đi hoạt động. Công thức này đối lại những gì được kể sau này, sau khi Đức Giêsu đã sống lại.

4.-Ý nghĩa của bản văn

Khung cảnh của bản văn này như sau: Ngay trước bài tường thuật này là các giáo huấn về đời môn đệ (Lc 9,23-27) và ngay sau bài, là truyện Đức Giêsu chữa lành một em bé bị quỷ ám (9,37-43). So với các Tin Mừng khác, ta thấy tác giả không kèm theo mẩu đối thoại giữa Đức Giêsu và các môn đệ trong khi các ngài xuống núi (x. Mc 9,9-10; Mt 17,9), cũng không có lời nói về ngôn sứ Êlia (x. Mc 9,11-13; Mt 17,10-13).

Độc giả đã thấy giáo huấn về đời môn đệ “vác thập giá” và thị kiến về “vinh quang” được nối kết chặt chẽ trong kinh nghiệm về cuộc Hiển Dung. Không thể hiểu được ý nghĩa của biến cố huyền nhiệm này nếu không đặt nó vào bên trong hai chiều tư tưởng thần học chủ đạo: sứ mạng cứu thế của Đức Giêsu, yêu cầu đi theo Người trên con đường thập giá, và ánh sáng vinh quang của sự phục sinh của Người.

* Hoàn cảnh của cuộc Hiển Dung (28)

Chỉ tác giả Lc xác định biến cố xảy ra vào “khoảng tám ngày sau khi (Đức Giêsu) nói những lời ấy” (c. 28), tức là các giáo huấn về đời môn đệ (cc. 23-27). Cả ba môn đệ Phêrô, Gioan và Giacôbê vừa chứng kiến Đức Giêsu làm cho con gái ông Gia-ia sống lại (Lc 8,51-56), nay Người đưa các ông đi ra khỏi tình trạng ồn áo huyên náo của cuộc sống thường ngày và đưa các ông lên núi (không được xác định), biểu tượng của thế giới Thiên Chúa. Mới trước đó, Người yêu cầu “vác thập giá mà theo” Người, bây giờ Đức Giêsu quyết định “đem theo” ba môn đệ và kết hợp các ông vào sứ mạng của Người, để các ông có thể chia sẻ kinh nghiệm vinh quang nhằm đi tới chỗ hoàn tất trong Ngày Phục Sinh.

Điều đáng ghi nhận: tác giả cho biết mục tiêu Đức Giêsu nhắm không phải là tỏ mình ra cho các môn đệ, nhưng là “cầu nguyện”. Việc cầu nguyện được đặc biệt nêu bật trong TM III.

* Cuộc Hiển Dung (29-35)

Đang khi Người cầu nguyện, thì “dung mạo Người đổi khác, y phục Người trở nên trắng tinh chói loà” (c. 29): cuộc hiển dung xảy ra như là kết quả của việc cầu nguyện. Tác giả không dùng động từ metamorphousthai (= biến hình) có trong McMt (x. Mc 9,2; Mt 17,2). Theo một vài nhà chú giải, tác giả Lc muốn tránh làm cho độc giả hiểu đây giống như những cuộc hóa thân của thần thánh ngoại giáo; có những tác giả khác lại cho rằng đây là một gợi nhắc đến biến cố Môsê đã trải qua trên núi Sinai (Xh 24,29-30): trong bản văn này có nói rằng dung mạo Môsê phản ánh vinh quang của Đức Chúa. Tầm quan trọng được gán cho biến cố huyền nhiệm này đưa độc giả đến chỗ nghĩ rằng Đức Giêsu đang tự mạc khải ra như là Đấng sống lại và đang ở trong thế giới siêu việt và vinh quang của Thiên Chúa.

Vậy, vẻ rạng rỡ của dung mạo và nét trắng tinh chói lòa nơi y phục của Người cho biết Người thông dự vào đời sống của Thiên Chúa, Người có bản tính Thiên Chúa, và báo trước cuộc Phục Sinh. Các môn đệ nhận ra rằng dung mạo quen thuộc con người trần gian của Đức Giêsu lâu nay không diễn tả hết tất cả thực tại của Người; các ông hiểu rằng Người không bị khóa kín trong những giới hạn của thực tại trần gian. Đàng sau dung mạo phàm trần của Đức Giêsu, có ẩn giấu thực tại siêu phàm thần thiêng của Người.

Không những các giới hạn của thực tại trần thế bị vượt quá, các biên cương của thời gian cũng bị lướt qua. Bên cạnh Đức Giêsu, xuất hiện hai ông Môsê và Êlia, hai dung mạo nổi bật trong lịch sử dân Israel (cc. 30-31). Môsê nhà giải phóng Dân tộc, cũng là trung gian đón nhận Luật Sinai. Êlia là vị ngôn sứ đã bảo vệ tôn giáo độc thần và tái lập giao ước của Thiên Chúa với Dân. Các ngài đại diện cho mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa và cuộc chiến đấu của Người cho dân tộc này. Các ngài cũng chia sẻ kinh nghiệm bị từ khước và bị bách hại. Nay hai ngài đàm đạo với Đức Giêsu về “cuộc xuất hành” Người sắp hoàn thành tại Giêrusalem (c. 31). Tác giả Lc coi toàn bộ Thương Khó–Phục Sinh–Thăng Thiên là một cuộc Xuất Hành mới, đi từ Giêrusalem cứng tin (# Ai Cập) mà vào Vinh quang (# Đất hứa). Nhưng toàn bộ cuộc Xuất Hành mới này liên hệ đến lịch sử Israel (đại diện bởi Môsê và Êlia); Đức Giêsu sẽ đưa lịch sử của những mối quan tâm săn sóc của Thiên Chúa đối với Dân Người đến chỗ hoàn tất.

Đáng tiếc là các môn đệ nặng nề trong giấc ngủ (c. 32). Khi Thầy làm phép lạ, hoặc khi đám đông hoan hô Người, các ông thức, nhưng khi Người bắt đầu nói đến chương trình của Thiên Chúa, việc hiến dâng mạng sống, phục vụ người nghèo, thì họ từ khước hiểu biết, họ nhắm mắt lại và ngủ. Sau này, tại núi Ôliu, các ông cũng ngủ (Lc 22,45), bởi vì các ông chờ đợi được vỗ tay hoan hô và tôn vinh, chứ không hiểu vai trò của thập giá mà Thầy đang đi tới. Tuy nhiên Phêrô còn tìm ra sức mà lên tiếng: “Thưa Thầy, chúng con ở đây, thật là hay! Chúng con xin dựng ba cái lều…” (c. 33). Ông mong muốn kéo dài mãi mãi kinh nghiệm về vinh quang này, tương quan đặc biệt này giữa thiên quốc và trần gian, một nếm cảm trước  sự viên mãn cánh chung, thiết lập tức khắc Triều Đại Thiên Chúa trên mặt đất (G. Rossé). Chi tiết “dựng ba cái lều” vừa có tính lịch sử (Nhà Tạm của Hòm Bia Chứng Ước trong cuộc xuất hành qua sa mạc) vừa mang tính phụng vụ (Lễ Lều: Lv 23,42; Dcr 14,16-19). Thật ra, ông không biết mình đang nói gì” (c. 33). Ông chỉ dừng lại với một khoảnh khắc sống ở bình diện cá nhân chứ không nghĩ đến được số phận cánh chung của toàn thể Dân Giao ước. Ông không hiểu giá trị của cuộc Hiển Dung trong chương trình cứu độ phổ quát.

Quang cảnh hiển vinh đột nhiên bị một đám mây che phủ. Khi đi vào trong hoàn cảnh mới này, các môn đệ hoảng sợ (c. 34), điều này cho hiểu là con người mỏng dòn đang tiếp cận với mầu nhiệm của sự thánh thiêng. Đám mây là sự chấm dứt kinh nghiệm về vinh quang, vừa là nơi phát ra tiếng nói thiên quốc. Đây là vai trò biểu tượng của đám mây (x. Xh 19,9.16; 24,15-18; 40,34t; 2 Mcb 2,8; Cv 1,9). Tiếng nói bảo: “Đây là Con Ta, người đã được Ta tuyển chọn, hãy vâng nghe lời Người” (c. 35). Khẳng định được liên kết với mạc khải trong Phép rửa (Lc 3,22), nhưng khác biệt ở chỗ tại Phép rửa, tiếng nói ngỏ lời trực tiếp với Người Con, còn ở đây, mạc khải được gửi đến các môn đệ, với lệnh vâng nghe lời Người (autou akouete: lưu ý vị trí nhấn mạnh của đại từ. Diễn ra như sau: “Chính Người, anh em hãy nghe lời!”). Mạc khải từ trời đã tổng hợp hai trích dẫn Tv 2,7, nhằm nói về tư cách Con Thiên Chúa của Đức Kitô, và Is 42,1 nhắc đến sứ mạng ngôn sứ của Người Tôi Tớ Đức Chúa, phải chịu đau khổ khi loan báo Lời Chúa. Đức Giêsu vừa có tư cách vừa mang sứ mạng được hai bản văn này giới thiệu. Mạc khải kết thúc với lời kêu gọi rút từ Đnl 18,15 nhắc nghe lời ngôn sứ Môsê (x. Cv 7,37). Từ nay, không còn phải là Môsê hoặc các ngôn sứ mà các môn đệ phải vâng lời, nhưng là chính Con Thiên Chúa, Đấng có uy quyền vượt xa uy quyền của mọi người từ xưa cho đến tận thế.  Cách nào đó lời này phi bác ý muốn của Phêrô là thiết lập ngay từ bây giờ Nước Thiên Chúa trên mặt đất. Cần phải hiểu là sứ mạng Mêsia của Đức Giêsu vượt quá những nỗi niềm chờ mong Đấng Mêsia của dân Israel và những nguyện vọng trần tục của các môn đệ.

Thế rồi bản văn Lc kết thúc đơn giản, so với Mc (Mc 9,8). Tiếng nói đã ngưng, các nhân vật Môsê và Êlia không còn ở đó nữa, chỉ còn lại Đức Giêsu và các môn đệ (c. 36). Tác giả không nhắc đến lệnh im lặng Đức Giêsu truyền cho các môn đệ (x. Mc 9,9; Mt 17,9), nhưng ghi nhận rằng các ông “nín thinh”. Đây là hậu quả của một kinh nghiệm đã ghi dấu sâu sắc trong lòng ba chứng nhân, họ nội tâm hóa biến cố này, họ không để lộ ra bên ngoài bao lâu Đức Giêsu còn ở với họ (“Trong những ngày ấy”).

* Kết thúc cuộc Hiển Dung (36)

Sau đó, các môn đệ giữ thinh lặng, không tiết lộ gì về những chuyện đã xảy ra trên núi. Ghi nhận sự thinh lặng này đúng ra là một câu tóm truyện Mc (Mc 9,9-13). Các ông cứ giữ thinh lặng như thế cho đến khi Đức Giêsu đã sống lại.

+ Kết luận

Biến cố Hiển Dung là trạm trung chuyển giữa ánh sáng loé lên quá mau của Phép Rửa và ánh sáng chói lọi của sáng ngày Phục Sinh. Trong cuộc hành trình lên Giêrusalem, Đức Giêsu thấy mình được tiếng Chúa Cha chuẩn nhận trong sứ mạng Mêsia chịu đau khổ: Người sẽ thực hiện chương trình cứu độ qua thân phận bị sỉ nhục và thất bại. Nhưng qua lời giới thiệu của Chúa Cha, chúng ta biết Đức Giêsu là Lời mà ta phải lắng nghe, là vị hướng đạo chắc chắn trong cuộc Xuất Hành cuối cùng đưa đến cuộc sống viên mãn. Điều này được làm rõ ở cuối biến cố, khi tác giả nói là “chỉ còn thấy một mình Đức Giêsu: Mục tiêu của Cựu Ước là dẫn chúng ta đến với Đức Giêsu, Đấng hoàn toàn vâng phục chương trình cứu độ của Chúa Cha. Sau Phục Sinh, biến cố Hiển Dung sẽ có một vị trí quan trọng trong truyền thống Hội Thánh, vì được coi là một trong những khoảnh khắc có ý nghĩa nhất trong kinh nghiệm Kitô hữu (x. 2 Pr 1,16-28).

5.- Gợi ý suy niệm

  1. Tác giả TM III cho biết vì sao Đức Giêsu lên núi: để “cầu nguyện” (c. 28). Người dành nhiều thì giờ mà cầu nguyện. Chỉ nhờ thế, Người mới dần dà hiểu được những gì sẽ xảy ra, đâu là nơi Cha Người đang dẫn Người đến. Giống như ba môn đệ ngày hôm ấy, chỉ khi để cho Đức Giêsu dẫn đưa vào nơi thanh vắng và đến gần Thiên Chúa, chúng ta mới ở trong hoàn cảnh thích hợp, thuận lợi, mà hiểu rõ hơn mầu nhiệm bản thân Đức Giêsu và chương trình của Thiên Chúa. Nhờ có Người làm trung gian, chúng ta biết mọi điều mà Thiên Chúa có ý làm cho chúng ta và chúng ta biết cách xử sự với Thiên Chúa.
  2. Trong khi cầu nguyện, dung mạo của Đức Giêsu “đổi khác” (c. 29). Tác giả không nói là “biến hình” như các Tin Mừng khác. Điều xảy ra trong truyện này không nhắm trước tiên cho Đức Giêsu, nhưng là cho ba môn đệ. Không phải Người là Đấng phải thực hiện một kinh nghiệm hoặc phải biết một điều gì mới, nhưng chính các ông mới phải tiến tới trong việc hiểu biết Người và tin tưởng vào Người. Ánh sáng trên dung nhan Đức Giêsu cho chúng ta hiểu, trong khi cầu nguyện, Người đã hiểu chương trình cứu độ của Cha Người và đã chấp nhận chương trình đó. Hy sinh của Người sẽ không phải là một thất bại, mà là một bước tiến tới sự phục sinh và vinh quang.
  3. Sự kiện Đức Giêsu xuất hiện giữa Môsê và Êlia và hai ông đàm đạo với Người cho các môn đệ một bằng chứng nữa để có thể nhận ra Đức Giêsu là ai: Người thuộc về thế giới Thiên Chúa. Nhưng Người cũng thuộc về lịch sử dân Chúa, một lịch sử được Thiên Chúa hướng dẫn. Người phải đưa sứ mạng của Môsê và Êlia đến chỗ hoàn tất; Người cũng đáng được trân trọng và nhận biết như hai người tôi tớ vĩ đại này. Đức Giêsu không xuất hiện bất ngờ như một sao băng không hề có liên hệ gì với quá khứ, nhưng Người tháp vào trong lịch sử dài gồm những săn sóc ân cần của Thiên Chúa đối với dân Ngài, và đưa lịch sử này đến chỗ hoàn tất.
  4. Quan hệ của Đức Giêsu với Thiên Chúa không phải là một vấn đề lý thuyết, không quan trọng gì bao nhiêu đối với đức tin và lối sống Kitô hữu. Phải nói là chính trong tương quan này mà bản chất của tương quan của Người đối với loài người chúng ta cũng được làm sáng tỏ, cả ý nghĩa của Người đối với chúng ta, những chờ đợi mà chúng ta có thể có nơi Người, những bổn phận phát xuất từ tương quan này đối với chúng ta.
  5. Cho tới nay, Israel đã nghe lời Môsê và Êlia, nay họ phải nghe lời Đức Giêsu. Tất cả Sách Thánh của Israel đều dẫn tới Đức Giêsu. Bằng bản thân, bằng Lời Chúaạt động và bằng lời nói của Người, Đức Giêsu đưa đến cho dân chúng sứ điệp chung kết của Thiên Chúa. Cựu Ước không có ý nghĩa nếu không có Đức Giêsu, còn chính Người, nếu không có Cựu Ước, thì chỉ là một mầu nhiệm đối với chúng ta. Vào ngày Phục Sinh, để cho các môn đệ có thể hiểu ý nghĩa của cái chết và sự sống lại của Người, Người sẽ phải giải thích Cựu Ước cho họ (x. Lời Chúa 24,17).

Lm FX Vũ Phan Long, OFM

17.2.1979-17.2.2012.

17.2.1979-17.2.2012.

Song Chi.

RFA

Bài cũ nhưng vẫn còn giá trị.

BBT

17.2.2012. Đúng vào ngày này, 33 năm trước, Trung Quốc xua quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới đường bộ giữa hai nước. Cuộc chiến ngắn ngủi nhưng khốc liệt với hệ lụy kéo dài nhiều năm sau cho phía VN cũng như những trận chiến sau đó giữa 2 bên vào những năm 1984, 1988 đã không bao giờ được nhà nước VN công khai nhắc đến.

Rất nhiều người dân bình thường nếu không theo dõi thông tin từ các nguồn bên ngoài, đặc biệt là giới trẻ sinh ra sau năm 1979, sẽ không biết gì về những cuộc chiến này, kể cả thực tế một số khu vực, vủng đất dọc biên giới mà TQ vẫn còn chiếm giữ từ đó. Vụ Hoàng Sa, Trường Sa cũng chỉ mới được công khai nói đến nhiều vài năm gần đây, sau rất nhiều cuộc biểu tình tự phát phản đối TQ xâm lược Hoàng Sa Trường Sa của người dân tại 2 thành phố lớn Hà Nội, Sài Gòn. Nói một cách ngắn gọn, trong toàn bộ mối quan hệ giữa hai đảng và nhà nước cộng sản VN-TQ từ bao nhiêu năm nay, chưa bao giờ có cái gì được công khai, minh bạch cả. Đất nước là của chung nhưng 85 triệu người dân VN lại không có quyền được biết những gì đã xảy ra với chính đất nước mình, dân tộc mình. Trái ngược hẳn với cách tuyên truyền nhồi sọ nhân dân được đảng và nhà nước VN tích cực áp dụng đối với hai “cuộc chiến tranh thần thánh chống Pháp, chống Mỹ”-cho đến tận ngày hôm nay.

Một cuộc chiến cố tình bị lãng quên. Những trang lịch sử như không hề tồn tại. VN từ ngày đảng và nhà nước cộng sản lên nắm quyền có bao nhiêu ngày tháng, sự kiện lịch sử không tồn tại như thế, hoặc tệ hơn nữa, được viết lại một cách méo mó, sai lệch hoàn toàn?

Thiệt thòi chính là tuổi trẻ VN. Một dân tộc chỉ thực sự mạnh khi được hiểu biết đầy đủ, chính xác về chính mình và thế giới, về quá khứ hiện tại lẫn tương lai. Để có thể có được những chọn lựa, những bước đi sáng suốt. Có lần một chị bạn nhà văn của tôi đã nói một câu: bi kịch của dân tộc VN là trước phần lớn những sự lựa chọn có liên quan đến vận mệnh đất nước, dân tộc, họ lại thường có những lựa chọn sai. Và đã phải trả giá quá đắt cho những chọn lựa sai lầm vì thiếu thông tin hoặc thông tin sai lệch đó.

Còn từ khi có đảng và nhà nước cộng sản, đảng và nhà nước đã giành cho mình cái quyền nghĩ thay, chọn lựa, quyết định thay cho nhân dân, nhưng lại luôn luôn dán cái nhãn nhân dân: nhân dân chọn lựa, nhân dân đồng tình với đảng, nhân dân đứng về phía đảng, nhân dân bất bình chuyện này chuyện kia…

Người dân không cần suy nghĩ, quan tâm gì nữa-chuyện chính trị đã có đảng và nhà nước lo.

Khi một dân tộc bị tước đi quyền suy nghĩ, chọn lựa, dân tộc ấy không thể trưởng thành.

Trước kia, đảng cộng sản VN thắng Pháp, thắng Mỹ-hay ít ra họ tưởng là như thế, (bởi còn phải định nghĩa lại thế nào là thắng, thua, được, mất…), đó là vì ít ra họ không sợ hãi và biết cách tuyên truyền làm cho người dân không sợ hãi.

Chỉ riêng đối với TQ, nhà cầm quyền VN không chỉ sợ mà còn truyền cái nỗi sợ ấy cho nhân dân, làm cho dân tộc VN trở nên hèn yếu đi. Điều này càng nguy hiểm hơn bởi kẻ thù mà chúng ta có thể sẽ phải đối mặt trong tương lai gần đã từng là kẻ thù nghìn năm trước, kẻ thù của hôm qua và cả hôm nay, trong cái lớp vỏ tình anh em hữu nghị. Một kẻ thù/người láng giềng mà người VN không thể tránh né. Sau cuộc chiến, Pháp, Mỹ rút đi, nhưng TQ thì luôn luôn còn đó, núi liền núi sông liền sông với VN. Và tệ hại hơn, thâm hiểm hơn gấp nhiều lần những kẻ thù khác. Một nhà cầm quyền khinh thường mọi quy ước, luật lệ của quốc tế và của nhân loại văn minh trong mọi lĩnh vực từ ngoại giao, kinh tế cho đến nhân quyền, sẵn sàng tàn bạo với chính người dân của mình thì có hy vọng gì tử tế với các dân tộc khác?

Trong khi đó thì người VN lại không được công khai học những bài học lịch sử từ trong mối quan hệ giữa hai bên và những cuộc chiến sai lầm trong quá khứ để chuẩn bị cho tương lai.

Trong khi đó thì người VN lại đang bị chính nhà cầm quyền làm cho bạc nhược đi trong sự lãng quên, vô cảm với chính số phận của đất nước.

Như sự lãng quên đang diễn ra ở VN vào đúng cái ngày 17.2 này.

Sự tha thứ khó khăn

Sự tha thứ khó khăn

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Do thời thế chính trị biến động, một người kia không may đã giết chết một quan chức cấp cao, đối nghịch với ông ta.

Vì bị chính đồng đội trở mặt tố cáo, nên người ấy đã bị bắt giữ và bị kết án tử hình. Ông ta thành tâm sám hối tội lỗi của mình, nhưng nhất quyết không tha thứ cho kẻ tố cáo hèn hạ. Linh mục tuyên úy nhà tù ra sức khuyên giục ông xưng tội . Phạm nhân đáp lại: “Không thể được , bởi vì con hối hận về các tội lỗi của con, nhưng con không sao tha thứ được cho người bạn tráo trở kia. Như thế thì xưng tội chỉ tổ phạm sự thánh mà thôi.”

Một nữ tu tốt lành dòng Nữ Tử Bác Ái đã làm cho phạm nhân phải cảm động trước tấm lòng nhân ái và tế nhị của chị. Chị cũng ra sức khuyên giục ông xưng tội, nhưng luống công.

Chiều tối trước ngày tội nhân thụ án tử hình, nữ tu ấy lại hết sức cố gắng để thuyết phục ông.

Chị nữ tu hỏi:

– Ông có biết tôi là ai không ?

Phạm nhân đáp:

– Chị là thiên thần từ trời xuống.

Chị nữ tu lắc đầu:

Tôi không phải là thiên thần từ trời xuống, nhưng là em gái của nạn nhân đã bị ông giết hại. Tôi đã tha thứ cho ông, tôi đã ăn chay, đã cầu nguyện và đã làm tất cả những gì có thể làm được để cứu lấy linh hồn của ông.”

Hết sức ngạc nhiên, phạm nhân đáng thương ấy đã phục xuống, giàn giụa trong nước mắt và hôn kính bàn chân của chị dòng.

-Quả thật , quả thật chị là thiên thần của Chúa, thực sự là một thiên thần . Tận đáy lòng tôi, tôi xin tha thứ cho người bạn tráo trở của tôi và xin chị cũng hãy tha thứ cho tôi.

-Thật vậy hành vi tha thứ của nữ tu ấy là một hành vi thật anh hùng.

Như chúng tôi đã nói, nhiều khi chỉ một hành vi mà thôi đủ chứng minh sự thánh thiện, anh hùng.

Sự dâng cúng của bà góa nghèo đã được Chúa Giê-Su đánh giá cao. Chúa phán: “Bà ấy đã cho đi nhiều hơn tất cả những người khác.” Bà góa chỉ dâng cúng một đồng xèng, nhưng bà đã cho với tất cả tâm hồn.

Lời khẩn cầu của người trộm lành trên thập giá đã xin được ơn tha thứ cho toàn bộ tội lỗi của mình.

Lời cầu nguyện của người thu thuế thật ngắn gọn: “ Lạy Chúa, xin thương xót con là kẻ tôi lỗi” nhưng đã làm cho linh hồn của ông trở nên tinh sạch như tuyết.

Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

Trích sách: “ Con Đường Nên Thánh Dễ Dàng” của Linh mục Paul O’Sullivan, O. P

TRÒ CHƠI “TRỜI CHO” CỦA MÙA SÁM HỐI

TRÒ CHƠI “TRỜI CHO” CỦA MÙA SÁM HỐI

 

Lm. Giuse QUANG UY, DCCT

 

Tr ích EPHATA 680

 

Mùa Sám Hối 2008, chúng tôi đang đi giảng ở Cali, Hoa Kỳ, buổi tối về nghỉ chợt nẩy ra một ý, và đã viết được một Entry mới cho Blog Yahoo 360 của các bạn trẻ Nhóm Fiat bên Việt Nam…

Thoáng một cái đã 8 năm trôi qua. Mùa Sám Hối 2016 năm nay, chúng tôi đọc và sửa lại một chút cho hợp thời, rồi post lên Facebook của Nhóm, mời tất cả các bạn Fiat gần xa hãy tham gia Trò Chơi… “Trời Cho” đã cũ xưa nhưng chưa lạc hậu ấy, đó là rủ nhau cùng “giữ chay” bằng nhiều cách: chỉ chọn một hoặc hai cách thôi, hoặc làm hết các cách dưới đây, hoặc có thể chế biến thêm nhiều cách khác nữa, càng tốt, miễn là đã chơi thì chơi thật tình, chơi hết mình. Thiết nghĩ, nói là Trò Chơi để người tham gia thấy nhẹ nhàng phấn khởi, không quá ràng buộc áp đặt, chứ thật ra có thể nghiêm chỉnh coi đây như một thực hành rất cụ thể và giản dị cho Mùa Sám Hối. Mà không chỉ các bạn trẻ có thể áp dụng, chúng tôi xin mời tất cả mọi người không trừ ai, cùng tham gia “giữ chay”. Chúng ta sẽ nhận ra nó hội đủ cả ba chiều kích cần thiết để “Metanoia” trong Mùa Sám Hối: Cao lên với Thiên Chúa – Rộng ra với tha nhân – Sâu vào với bản thân. Và hơn nữa, nó không dừng lại ở chỗ khuyến cáo chính mình không được làm điều xấu, mà cố gắng thay vào đó bằng lời mời gọi hãy làm điều tốt. Cái tốt sẽ đẩy dần cái xấu đi. Ánh sang sẽ chiếm chỗ của bóng tối… Vâng, chúng tôi xin mời…

 Nói chay:

Mỗi ngày bớt đi một lời nói không hay về một người vắng mặt nào đấy, ngược lại, hãy tìm ra

được một nét tốt đẹp nào đấy để nói về họ, cho dù là nói sau lưng họ cũng được .

 Nghĩ chay:

Trong ngày, khi có một tưởng tượng… bậy bạ hoặc mờ ám, tiêu cực gì đấy hiện lên trong đầu, hãy thay thế ngay bằng một sáng kiến hữu ích cho nhóm của mình, cho gia đình mình, cho cộng đồng, cho người nghèo !

Làm chay:

 Tự nhủ hôm nay mình sẽ không lười biếng đùn việc khó chịu cho người khác, nhưng hãy tìm ra một việc dễ thương nho nhỏ để làm ngay một cách âm thầm cho người thân…

 Viết chay:

 Nếu có viết một cái gì đấy, như viết báo, viết nhật ký, viết Blog, Facebook, viết Mail, sẽ không viết tào lao vớ vẩn nữa, nhưng cố gắng viết ra một nội dung tử tế, hoặc tìm đọc một Entry của bạn bè, bấm Like một cách có ý thức và nhớ để lại một comment chân thành khích lệ người ta…

 Đi chay:

 Lúc rảnh rỗi, không chạy lang thang vô định phí giờ phí xăng, tăng thêm ô nhiễm khói bụi ngoài đường phố, hãy gửi xe rồi vào một công viên tử tế, ngồi chơi thong dong, hoặc ghé thăm một người bạn đã lâu không gặp, một thầy cô giáo cũ…

Ngủ chay:

Mỗi tối hãy bớt chát chít, gửi message, inbox với nhau, nhưng ngủ sớm đi nửa tiếng. Rồi mỗi sáng, thay vì ngủ nướng thêm 15 phút, hãy dậy sớm để tập mấy động tác thể dục và cầu nguyện, đến với một Thánh Lễ ban mai ở một Nhà Thờ nào đấy gần nhà càng hay !

 Cười chay:

Thôi không cười cầu tài, cười ngoại giao, cười khinh khỉnh, cười chế giễu, cười mỉa mai, cười

nham nhở, cười thô lỗ, cười vô duyên, cười gượng, cười mếu… Nhưng hãy cười cho ra cười với người mình không ưa hoặc đang bất hòa, cười với một ai đấy đang cần một nụ cười để được vực dậy !

Ăn chay:

 Bớt một tô phở, bớt một dĩa bột chiên, bớt một cốc bia, bớt một ly cà-phê, bớt một que kem, bớt một điếu thuốc độc hại… Mỗi ngày sẽ nhín ra được ít ra cũng 15.000 VND. Cuối tháng kiểm lại sẽ thấy có thêm được mấy trăm ngàn để dành giúp một ai đấy đang gặp hoạn nạn !

Nguyện chay:

 Bớt đọc kinh lê thê ê a một cách máy móc, nhưng hãy tập ngồi ngồi thinh lặng ở trong một Nhà Nguyện, một Nhà Chầu, một Nhà Thờ ấm áp nào đấy, hay bất cứ nơi đâu tương đối thanh vắng, đọc một đoạn Tin Mừng ngắn, rồi dâng một lời cầu nguyện cho một ai đó từ bỏ ý định… phá thai ! Chỉ “chay” vậy thôi, thiết nghĩ đã tuyệt vời lắm rồi !

 Lm. Giuse QUANG UY, DCCT

Mùa Sám Hối 24.2.2008 – 12.2.2016

TIN TƯỞNG VÀO THIÊN CHÚA SẼ CÓ ĐƯỢC CUỘC SỐNG DỒI DÀO

TIN TƯỞNG VÀO THIÊN CHÚA SẼ CÓ ĐƯỢC CUỘC SỐNG DỒI DÀO

(CN I Mùa Chay)

Tuyết Mai

Thật thế khi chúng ta sống tuyệt đối tin tưởng vào Thiên Chúa thì chỉ có Người là đấng duy nhất đã tác tạo ra chúng ta sẽ luôn ban cho chúng ta cuộc sống thật dồi dào và thanh thản trong khả năng rất giới hạn của từng người nếu chúng ta đừng tham lam và đừng ích kỷ.

Bởi do đâu mà chúng ta ra tham lam và ích kỷ như thế? Thưa có phải vì chúng quỷ xúi biểu và dụ dỗ? Bằng chứng thật rõ ràng cho chúng ta thấy Chúa Giêsu đã bị thử thách trong suốt 40 ngày đêm trong Sa Mạc và ai còn nhớ Chúa Giêsu đã phải trải qua những thử thách gì trong những ngày ấy?.

Khuyên để cho đừng bị chúng quỷ dụ dỗ thì chúng ta cần phải sống thật khiêm nhường trước mặt Thiên Chúa cùng anh chị em và khi chúng ta càng khiêm nhường bao nhiêu thì chúng quỷ sẽ nhả chúng ta ra càng nhanh bấy nhiêu vì Khiêm Nhường là chất khử độc chúng và đọc Kinh Mân Côi là hai cách có hiệu quả nhất.

Bước vào 40 ngày Chay Thánh mong hết thảy chúng ta học hỏi gương của Chúa Giêsu, người Con tuyệt đối sống tin tưởng vào bàn tay quan phòng của Cha Ngài cùng Chúa Thánh Thần là đấng luôn phù trợ cùng an ủi.   Người Việt chúng ta cũng có câu rất hay và rất đúng là “Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư” và thường những người con này có tánh ngang tàng xấc xược, tự cao tự đại và tự dựa vào khả năng rất có giới hạn của mình!?.

Ngược lại thì thường những người con yếu đuối từ thể xác hay tinh thần thì cũng chẳng bao giờ dám sống rời xa cha mẹ của mình đâu.   Ấy thế mà cuộc đời của những người con này luôn được bình yên vô sự, dư đủ và thoải mái vì tất cả đều được cha mẹ chăm lo cho dù tuổi đời của các anh chị này có đến là bao nhiêu.

Mùa Chay là mùa nhắc nhở hết thảy con cái Chúa ai sống xa Người và xa Ràn thì đây là lúc cần nên Trở Về bên Chúa vì nếu chúng ta cứ đi xa mãi thì sợ rằng chúng ta sẽ chết trong nanh vuốt của thú dữ (quỷ dữ) cách không toàn thây.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

13 tháng 2, 2016

Ba bảy đường hèn

Ba bảy đường hèn
Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Ông nhạc sĩ Tô Hải viết tập sách “Hồi Ký của Một Thằng Hèn” xuất bản năm 2009, ai cũng khen ông là người can đảm, không ai chê ông đã hèn trong một thời gian quá lâu như thế, qua những câu chuyện “hèn” được viết lại. Nhưng qua câu chuyện người ta kể, khi vào Sài Gòn, đi thăm mộ thân phụ ông, thấy cái bia mộ do người “nghĩa tế” trong quân đội miền Nam là một trung tướng “phụng lập,” thì ông nổi giận đùng đùng, bắt phải đập bỏ ngay tấm bia ấy. Hèn đã không phụng dưỡng được cha, ông lại hèn mang mặc cảm của người thắng trận, hèn để chứng tỏ “lập trường giai cấp” quyết tâm triệt hạ tất cả cái gì của miền Nam, dù cái đó là nét đẹp đạo lý của chữ hiếu, chữ nghĩa!

3 monkeys

Người ta có thể tha thứ cái hèn trong thời gian “kháng chiến” của ông Tô Hải nhưng khó có thể chấp nhận được cái hèn khi ông tỏ ra cái “khí phách” của người đi theo nương nhờ súng đạn những người mới thắng thế.

Người ta không chê ai đã cúi đầu trước bạo lực, cường quyền, trong một xã hội công an trị đã làm cho con người tê cứng vì sợ hãi trước gông cùm và song sắt. Chúng ta thành tâm mà nói, ở vào vị trí như thế, chúng ta làm gì hơn được. Trong chuyện Hán Sở Tranh Hùng, Hàn Tín thuở hàn vi, chưa lập nghiệp lớn, lòn trôn thằng bán thịt giữ chợ mà người đời sau không ai gọi là thằng hèn. Hèn cho qua buổi, hèn để nuôi chí lớn.

Trên cõi đời này thường người ta hèn không phải vì một lý do duy nhất mà tới ba lý do: sợ hãi vì thế yếu, không bị ép buộc nhưng vì mưu lợi và cuối cùng là cái hèn trong thế thượng phong, thắng thế. Vậy thì hèn cũng có ba bảy đường hèn!

-Cái hèn thứ nhất thường được người ta tha thứ vì sự yếu đuối của con người. Dưới họng súng, lưỡi lê, tra tấn, nhà tù của những chế độ bạo ngược, người dân đành thúc thủ, câm nín. Thời Việt Minh, chúng dùng thủ đoạn ám sát, chặt đầu, thả trôi sông, gây sự khiếp hãi, nên không ai dám không theo Việt Minh Cộng Sản, không ai dám lên tiếng phê bình hay chống đối. Sự sợ hãi làm tê liệt ý chí của con người, phải hèn cho qua thời buổi khó khăn.

Trong các trại tù tập trung của cộng sản, người ta có thể thông cảm cho phần lớn những người chịu hèn, chịu cảnh “nín thở qua sông,” “giả dại qua ải”… “an tâm, học tập tốt, lao động tốt” chẳng qua cũng vì sợ hãi, sợ trả thù và khổ nhục.

Dưới chế độ kìm kẹp của cộng sản, cũng không ai trách người dân ta hèn vì không dám chống lại bạo lực, nhưng người trách giới văn nghệ trí thức hèn vì không chỉ phải câm nín mà còn theo đường lối chỉ thị, múa môi, múa bút tâng bốc lãnh tụ, ơn đảng là những điều mà chính lòng họ không tin. Trong một chế độ người ta dùng lương thực như một vũ khí để trấn áp người đối nghịch cũng như để nuôi dưỡng lòng trung thành của kẻ thuộc hạ thì chế độ “tem phiếu” quả là hữu hiệu. Ðó là thái độ hèn vì miếng ăn. Những người chưa đói, chưa thấy cảnh vợ con nheo nhóc mà xót xa thì chưa hiểu nổi vì sao cộng sản luôn luôn dùng “chính sách bao tử” để khống chế con người.

Hiện nay tại Việt Nam, chế độ công an trị, roi vọt, giam cầm từ nửa thế kỷ nay, hà khắc hơn cả chế độ thuộc địa, khiến cho người dân phải cúi đầu chịu đựng, chấp nhận cái hèn, biết sợ để sống còn, những con người dũng cảm không hề hèn, thì phải chịu bao nỗi thiệt thòi.

-Cái hèn thứ hai là hèn vì lợi dục. Không ai kê súng vào đầu, không ai bắt buộc, dù không làm cũng chẳng sao, vì nó không cần thiết, bị dồn vào thế ép buộc phải làm.

Không ai bắt một ông bộ trưởng khi vào gặp tổng thống lúc quay ra phải đi giật lùi vì sợ thất lễ, để đến nổi phải vấp và làm bể cái đôn sứ. Cũng không ai bắt chúng ta xu thời, đổi đạo để đổi lấy địa vị chức tước. Cả hai chuyện này không cần phải làm vì không nguy hiểm đến mạng sống của con người, động lực chính chẳng qua chỉ vì chức tước, danh vọng, vì từ chức quyền danh vọng có thể đưa đến giàu sang, quyền lực. Người liêm sỉ không cần phải có chức vụ, quyền lực hay ơn mưa móc nên không cần phải cúi mình.

Trong thời loạn, nhiều kẻ hèn đã tự nguyện dâng vợ cho cấp trên, dắt gái cho cấp chỉ huy, tư cách như một tên “ma cô” để đổi lấy những ân sủng, mà chúng đã những không biết hổ thẹn, mà còn lấy làm hãnh diện vì những ơn mưa móc này.

Trong hoàn cảnh khó khăn tận cùng của đời giam cầm tù tội, cũng có những người tù chấp nhận số phận, nhưng cũng có những thằng hèn thủ đoạn, chịu hèn hạ để tố cáo đồng đội, ton hót bọn cai tù để thêm được một cái phiếu quà, được thêm giờ thăm nuôi hay được tin cậy trong những chức vụ nhằm khống chế, kiểm soát đồng đội. Ðó là hèn để mưu lợi lộc.

Một ca sĩ bỏ nước ra đi rồi trở về nước ca hát để kiếm tiền, đâu cần phải ca ngợi cái chính quyền của đất nước mà họ đã chối bỏ ngày trước, đó cũng là chuyện hèn vì lợi nhuận.

Tố Hữu cũng không cần phải khóc Staline như khóc ông nội hay ca tụng ông Hồ là cha già, nhưng Tố Hữu cũng cần dùng ngòi bút và cái lưỡi để tiến thân mà tiến thân vượt bực. Nhờ đó, dù sở học không bao nhiêu, Tố Hữu cũng lên đến chức phó thủ tướng đặc trách kinh tế (!)nên Việt Nam có một đồng bạc mà trên thế giới không ai có, đó là đồng bạc $30. Cái hèn của Tố Hữu trong vụ án Nhân Văn Giai Phẩm còn là sự ganh tỵ, đố kỵ với những người giỏi hơn mình, và muốn làm lãnh tụ văn nghệ vì thực tế tác phẩm của Tố Hữu chỉ là loại truyền đơn phục vụ cho tuyên truyền, không có giá trị lâu dài.

Ai đó đã nói một câu nghe thấm thía: “Muốn sống, muốn có lương thực thì ít nhất trong đời cũng phải có một bài thơ suy tôn bác!”

-Còn một cái hèn không biết xếp hạng vào đâu là cái hèn của bọn người mọi rợ. Trong cuộc tranh chấp đảo Ðiếu Ngư giữa Nhật và Trung Cộng vừa qua, dân Trung Cộng không những biểu tình đốt phá khu thương mãi của Nhật, đốt xe Nhật, họ còn bắt một con chó Nhật giống Akita, trói vào gốc cây đánh đập cho đến chết trước sự hoan hỷ của “quần chúng.” Không chơi nổi tàu chiến, máy bay, những dân hèn Trung Cộng này trút đòn thù lên đầu một con chó, chỉ vì đó là một con chó giống Nhật!

Còn “hèn với giặc, ác với dân!” thì ai cũng biết đó là thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay dưới sự chỉ đường của đảng cộng sản.

-Cuối cùng là cái hèn của người thắng trận. Cái hèn đáng nguyền rủa nhất là sự trả thù của người thắng trận. Câu chuyện trả thù này chúng tôi đã có dịp nói nhiều rồi. Câu nói “đánh người chạy đi chứ không đánh người chạy lại” là một khẩu hiệu dối trá. Chúng ta thua trận nhưng chỉ tiếc là đã thua những con người dã man, hèn hạ nên nhân phẩm của chúng ta bị chà đạp, quyền sống của chúng ta bị tước đoạt nên để lại bao nhiêu khổ lụy cho gia đình khi chúng ta đang phải vào nhà tù. Không những trả thù những người khác trận tuyến, người cộng sản còn trả thù giai cấp bằng cách tước đoạt tài sản, và đày đọa những người giàu có hơn chúng vì lòng ganh tỵ, để cuối cùng tạo ra một giai cấp mới, thế chỗ, còn tham lam tàn độc hơn là chế độ tư sản cũ, bởi sự bóc lột được nâng đỡ, yểm trợ bằng quyền lực và súng đạn, nhà tù.

Khi người “bộ đội cụ Hồ” chỉ có một bộ áo quần, cái nón cối, đôi dép râu, cái “xắc cột” (sacoche), cái chén ăn cơm, đôi đũa, vợ con ở nhà có hợp tác xã lo, thì dễ nói chuyện lý tưởng. Bây giờ thắng trận, có tài sản có chức phận thì phải giữ.

“Thà mất nước, không thà mất đảng,” vì đảng chính là xôi thịt, nên dù bị chửi bới, xấu hổ cũng phải giữ rịt lấy đảng. Bỏ đảng là mất ghế. Những anh bỏ đảng đều là những người bị thất sủng, vô công rỗi nghề, không còn chức vụ, cái thẻ đảng chẳng còn giá trị, trả lại hay đốt đi cũng chẳng anh hùng gì! Chẳng thấy ai đang có chức quyền, nhà cao cửa rộng, mỗi tháng kiếm năm ba triệu đô la, con đang du học ngoại quốc, mà bỏ đảng?

Tôi cho biểu tượng về “cái hèn” của những con người cộng sản đang cầm vận mệnh đất nước Việt Nam hiện nay là ba con khỉ Mizaru, Kikazaru và Iwazaru bịt tai, bịt mắt, bịt miệng. Bịt tai để không nghe tiếng ta thán của trăm họ, bịt mắt để không thấy cảnh khổ của lê dân, bịt miệng để khỏi phải nói tiếng nói chính trực với giặc. Bịt miệng cũng đồng nghĩa với “ngậm miệng ăn tiền,” bất cố liêm sỉ.

Nhưng người dân Việt Nam đã bắt đầu dõng dạc lên tiếng, lắng nghe tiếng gọi của nước non và mở rõ mắt nhìn thấy bộ mặt thực của chế độ.

Chúng tôi không là Việt Kiều

Chúng tôi không là Việt Kiều

Nếu là người Mỹ gốc Việt thì nên đọc bài viết này để bảo vệ bản thân và gia đình khi đi sang nước ngoài, nhất là Việt Nam.

Viet Kieu 1Viet Kieù 2

 

 

 

Năm ngoái, một cô du sinh Việt Nam theo học chương trình tiến sĩ ở Hoa Kỳ phỏng vấn tôi cho luận án của cô ấy với đề tài: Cách nào để chính quyền Việt Nam đến với Việt kiều ở Mỹ.
“Trước hết hãy ngưng gọi chúng tôi là Việt kiều,” tôi trả lời.
Thấy cô ấy lúng túng, tôi giải thích: “Chúng tôi là công dân Mỹ gốc Việt, không phải công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.”
Chính quyền Việt Nam muốn xem người Việt ở hải ngoại là công dân Việt mang “hộ chiếu” nước ngoài.
Cứ xem thái độ của Ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang của họ thì rõ. Khi gặp Tổng Thống Mỹ Barack Obama ở Toà Bạch Ốc hồi tháng 7 năm ngoái, Ông Sang cảm ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn không đúng cương vị. Chính phủ Mỹ lo cho dân Mỹ là việc đương nhiên; hà cớ gì Ông Sang cảm ơn nếu không là muốn nhận vơ chúng tôi là dân của ông ấy?
Nhận vơ như vậy không ổn, vì nhiều lý do.

Trước hết, rất nhiều người chưa hề một ngày là công dân của nhà nước cộng sản Việt Nam: những người ngoài Bắc di cư vào Nam trước khi đảng cộng sản lập ra Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, và những người trong Nam bỏ nước ra đi trước khi đảng cộng sản ấy xâm chiếm miền Nam.
Kế đến là những người bỏ nước đi tị nạn. Theo định nghĩa của Liên Hiệp Quốc, tị nạn có nghĩa từ bỏ sự bảo vệ của chế độ cầm quyền ở quốc gia nguyên quán. Theo nguyên tắc này, khi chúng ta đang xin hay còn mang quy chế tị nạn mà đặt chân về Việt Nam, dù chỉ để thăm gia đình, thì xem như tự đặt mình trở lại dưới sự bảo vệ của chế độ cầm quyền và sẽ tự động mất tư cách tị nạn. Pháp áp dụng đúng nguyên tắc này trong khi một số quốc gia khác thì nhân nhượng hơn.

Dù không thuộc các thành phần trên, một khi giơ tay tuyên thệ nhập quốc tịch Hoa Kỳ, mỗi người trong chúng tôi đã chính thức từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Trước luật pháp Hoa Kỳ, chúng tôi là công dân Mỹ chứ không là công dân của Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

Cô sinh viên tiến sĩ xem chừng hiểu ra câu trả lời: chúng tôi không là Việt kiều. Chúng tôi là người Mỹ gốc Việt,.”
Tôi giải thích thêm: “Cái gốc Việt ấy cho phép chúng tôi lên tiếng về các vi phạm nhân quyền và một số vấn đế khác nữa ở Việt Nam. Chúng tôi có thân nhân bị đàn áp. Chúng tôi có tài sản bị cưỡng chiếm. Đó là những vấn đề quyền lợi của công dân Mỹ, khi bị xâm phạm thì chính quyền Mỹ có nhiệm vụ can thiệp. Hơn nữa, chúng tôi có sự hiểu biết sâu sắc về hiện tình xã hội Việt Nam để giúp cho sự can thiệp ấy đạt hiệu quả.”
Nói đi thì cũng phải nói lại. Khi nhà nước cộng sản Việt Nam nhận vơ thì lỗi của họ chỉ có phân nửa. Phân nửa còn lại là lỗi của chúng ta.

Gần đây, cộng đồng Việt ở vùng Hoa Thịnh Đốn xôn xao về cuộc phỏng vấn video của một người Việt bị chặn ở phi trường, không được nhập cảnh, khi về thăm nhà ở Việt Nam. Cuộc tranh luận đã bỏ sót một yếu tố quan trọng: Cả hai phía của cuộc tranh luận đứng trên cương vị Việt kiều hay trên cương vị công dân Mỹ?
Khi công dân Mỹ bị gây khó dễ ở phi trường, thì người ấy dứt khoát đòi liên lạc với toà lãnh sự Mỹ ở Việt Nam; nếu bị công an câu lưu “làm việc” thì người ấy tuyệt nhiên không hợp tác cho đến khi đã nói chuyện được với toà lãnh sự Mỹ; nếu bị tống tiền, chèn ép bởi giới chức chính quyền Việt Nam thì cũng báo ngay cho toà lãnh sự Mỹ. Khi về lại Hoa Kỳ thì nạn nhân phải báo động ngay với Bộ Ngoại Giao.
Chính quyền Mỹ có nhiệm vụ bảo vệ công dân Mỹ. Khi nhận được nhiều báo cáo từ các công dân Mỹ bị sách nhiễu, thì chính quyền Mỹ sẽ phải đặt vấn đề với phía Việt Nam.
Nhà nước Việt Nam có dám đối xử tệ với những công dân Mỹ khác đâu, mà chỉ sách nhiễu người Mỹ gốc Việt. Chẳng qua chúng ta cho phép họ làm vậy. Lỗi ấy là của chúng ta.

Thành ra, muốn khẳng định “chúng tôi không là Việt kiều” với nhà nước Việt Nam thì trước hết chúng ta phải tự nhủ và nhắc nhở lẫn nhau:“Chúng ta không là Việt kiều”. Khi người người trong chúng ta ý thức điều này và hành xử đúng cương vị thìnhà nước Việt Nam sẽ phải thay đổi theo. Tôi tin là vậy.