LÃNG PHÍ SINH MẠNG

LÃNG PHÍ SINH MẠNG

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

Ngày nay, người ta thường nói đến sự lãng phí của con người: lãng phí điện nước, lãng phí tài nguyên, lãng phí tiền bạc, lãng phí sức khỏe…  Trong bối cảnh xã hội vẫn còn nhiều người nghèo, sự lãng phí bị lên án như một tội ác.

Tuy vậy, có một sự lãng phí nguy hiểm mà ít khi được nhắc tới, đó là lãng phí sinh mạng con người.  Nếu lãng phí được định nghĩa là “làm mất một cách vô ích tiền tài, sức lực, thời gian” (theo Từ điển và Từ ngữ Việt Nam) thì xem ra con người ngày nay đang lãng phí sinh mạng tới mức báo động.

lang-phi-su-song

Lãng phí sự sống trước hết là nạn phá thai.  Đã có biết bao chuyên viên nghiên cứu phân tích về những hậu quả tai hại của việc phá thai trong lãnh vực tâm lý, thể lý và tâm linh, vậy mà số thai nhi bị phá càng ngày càng tăng.  Theo thống kê chưa chính xác, thì Việt Nam chúng ta là nước thứ ba trên thế giới về số thai nhi bị giết hại.  Con số này từ một triệu rưỡi đến hai triệu ca mỗi năm.  Thủ tục phá thai hiện nay rất đơn giản và nhanh chóng.  Nhiều nơi phá thai được trá hình với cái tên rất đẹp “Khám chữa bệnh phụ khoa”, có những cò mồi, chèo kéo như những nhà hàng ăn uống.  Biết bao sản phụ đã chết oan vì những “xưởng phá thai” kiểu này, nhưng xem ra người ta vẫn không sợ.

Lãng phí sự sống còn là sự thiếu cẩn trọng khi lao động và khi tham gia giao thông.  Mỗi năm, nước ta có đến mười hai nghìn người chết vì tai nạn giao thông, tương đương với mỗi ngày có hơn 30 người đột ngột và vĩnh viễn từ bỏ cuộc sống trong khi đi lại trên khắp các nẻo đường của đất nước chúng ta.  Nếu so sánh với vụ tai nạn máy bay rơi khoảng từ 200 đến 300 người/vụ, thì tại Việt Nam cứ mỗi năm chúng ta có khoảng 40 vụ rơi máy bay (trích bài viết tại trang VnExpress.net ngày 19-11-2012).  Những người này hầu hết là những người trụ cột trong gia đình, hoặc là thanh niên tuổi trẻ, là công nhân, sinh viên, học sinh, tức là những người đang có nhiều kỳ vọng ở tương lai.  Biết bao nhiêu lời cảnh báo, biết bao nhiêu lần bị phạt, xem ra nhiều người vẫn không tỉnh ngộ.  Vẫn còn đó những chàng trai cô gái đua xe, đùa với thần chết, coi sự chết như không.  Họ thật lãng phí cuộc sống.

Từ vài năm trở lại đây, có một thứ “mốt” quái đản là… tự tử.  Có nhiều người tự tử ở tuổi còn trẻ, thậm chí là vị thành niên.  Những người chán sống không hẳn là người bị đẩy vào ngõ cụt của cuộc đời, mà đôi khi họ là những người thành đạt và đang ở đỉnh cao của danh vọng như một số ngôi sao điện ảnh, ca sĩ hay người mẫu.  Cũng vì không muốn sống, một số người có chức có quyền cũng đã tìm đến cái chết khi có nguy cơ bị khui ra những việc làm mờ ám, hay vì những lý do có trời mới biết.  Những người này cũng lãng phí mạng sống mình.

Vì thất vọng trước một cuộc sống trống rỗng vô ý nghĩa, nhiều bạn trẻ đã tìm đến ma túy và những thói ăn chơi sa đọa.  Vì ham mê tìm đến với những cảm giác thần tiên nhất thời, họ đã đánh mất tương lai, trở nên mối họa cho gia đình và người thân.  Họ đã tự đánh mất chính mình.

Khi coi thường mạng sống, người ta dễ liều mạng phạm tội.

Chắc hẳn những ai có lương tri đều đắng lòng khi đọc những thông tin liên tục về các vụ án được xử mà kết cục là án tử hình.  Họ là những thanh niên trẻ trung, mang dáng vẻ thư sinh, nhưng lại liều lĩnh phạm tội và trở thành những kẻ sát nhân máu lạnh.  Họ được cha mẹ sinh ra và nuôi dưỡng hai ba chục năm, đặt rất nhiều hy vọng ở tương lai, vậy mà bây giờ họ trở nên mối nguy hiểm cho xã hội.  Hy vọng của cha mẹ và gia đình họ đã bị tắt lịm.  Người vào tù đau khổ vì mối ân hận day dứt.  Người ở ngoài đau khổ vì bia miệng tiếng đời.  Tiếc rằng, con số những vụ việc như nêu trên tăng nhanh tới mức chóng mặt.

Mục đích những bản án tử hình hay tù tội là nhằm giáo dục và răn đe những người khác.  Thế nhưng, mặc dù có biết bao lời lên án mỗi khi có một vụ án nghiêm trọng, nhưng xem ra người ta không sợ.  Vẫn liên tiếp xảy ra những vụ cướp của giết người.  Vụ sau tinh vi và nguy hiểm hơn vụ trước.  Người ta lãng phí sự sống và đem sinh mạng của mình ra làm trò đùa.

Một linh mục Dòng Tên người Hàn Quốc, Cha Joseph Kim Yong-hae, đã nhận định: “Tỷ lệ phá thai gấp hai lần tỷ lệ sinh đẻ và tỷ lệ tự tử đứng đầu danh sách các nước trong Tổ chức Phát triển và hợp tác kinh tế.  Hiện tượng này, cùng với một số vụ việc khác đã khiến người ta có cảm giác xã hội Hàn Quốc đã chìm sâu trong nền văn hóa sự chết và tuyệt vọng” (Ucan News, bản tin 21-5-2012).

Đức Chân phước Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã báo động về một nền văn hóa mang tên sự chết.  Đó là một lối sống ích kỷ, chỉ lo hưởng thụ, không nghĩ đến tha nhân và cũng chẳng quan tâm đến ngày mai.  Nền văn hóa này đang có nguy cơ thấm nhập vào xã hội của chúng ta, kéo theo những hệ lụy là sự dối trá, thù hận, thủ đoạn và vô trách nhiệm.  Văn hóa sự chết chối bỏ các giá trị tôn giáo và nhân bản.

Giáo lý Công giáo dạy: “Sự sống con người phải được coi là linh thánh, vì từ lúc khởi đầu của mình, sự sống đó ‘đòi phải có hành động của Đấng Tạo Hóa’ và mãi mãi được liên kết một cách đặc biệt với Đấng Tạo Hóa, là cùng đích duy nhất của mình.  Chỉ có Thiên Chúa là Chúa của sự sống từ khi sự sống khởi đầu cho đến khi kết thúc: không ai, trong bất cứ hoàn cảnh nào, có thể dành cho mình quyền trực tiếp đem cái chết đến cho một thụ tạo nhân linh vô tội” (Sách Giáo lý của Giáo Hội Công giáo, số 2258).

Chúa cũng truyền lệnh trong Điều thứ năm của Thập điều: “Ngươi không được giết người” (Xh 20, 13).  Lệnh truyền này phải được hiểu theo hai chiều: không được cất mạng sống người khác, đồng thời cũng không có quyền tự cất mạng sống mình.

Tuân theo Luật Chúa, Giáo hội luôn luôn đấu tranh để bảo vệ sự sống con người.  Giáo hội vẫn không ngừng kêu gọi hủy bỏ án tử hình tại những quốc gia còn giữ bản án này, vì các nhà nước vẫn có khả năng chế ngự tội ác cách hữu hiệu mà không cần phải tước đoạt cách vĩnh viễn mạng sống của các tội nhân (x SGLCG số 2267).  Giáo hội cũng đưa ra những chỉ dẫn trong đời sống gia đình nhằm bảo vệ sự sống và góp phần thăng tiến con người.  Ngay cả trong những quốc gia khuyến khích việc phá thai hay việc chết êm dịu, Giáo hội vẫn thi hành chức năng ngôn sứ của mình, lên án những hình thức giết người, trực tiếp hay gián tiếp, vì đó là sự vi phạm đến Luật Chúa và nhân phẩm con người.

Chúng ta đã bước vào Mùa Vọng, là thời gian chuẩn bị mừng lễ Giáng Sinh.  Con Thiên Chúa xuống thế làm người dưới hình hài một trẻ thơ trong hang đá.  Hài Nhi Giêsu sinh ra là niềm vui cho cả thế giới.  Lễ Giáng sinh là lễ của hòa bình.  Lễ Giáng sinh cũng là lễ của sự sống, vì Đức Giêsu mang lấy thân phận con người để nâng cao phẩm giá của con người, thông truyền cho họ sự sống siêu nhiên.  Hài Nhi Giêsu trong hang đá máng cỏ là lời kêu gọi bảo vệ sự sống, từ những thai nhi còn trong lòng mẹ đến những người đang sống trên cõi đời này.

Nếu mỗi người đều biết tôn trọng sự sống của mình và của những người xung quanh, thì cuộc sống này sẽ rất an bình và vui tươi.  Mong sao điều ấy được thực hiện nơi xã hội Việt Nam chúng ta.

Gm Giuse Vũ Văn Thiên

From: Langthangchieutim gởi

“Bộ mặt thật của Fidel Castro”

“Bộ mặt thật của Fidel Castro”

Đông Đô Phạm (Danlambao)  Nhân lúc Fidel Castro xuống địa ngục gặp Các-Mác chúng ta cũng nên đọc lại trên tạp chí L’Express của Pháp giới thiệu một chương trong quyển sách “bộ mặt thật của nhà lãnh đạo Cuba Fidel Castro” (La Vie cachée de Fidel Castro) do tác giả Juan Reinaldo Sanchez (một sĩ quan cận vệ và cũng là đầu bếp) suốt 17 năm theo chân nhà cách mạng Cuba tiết lộ nội dung vạch trần bộ mặt “lưu manh giả danh lương thiện” của Fidel Castro. (Sách được bán trên Amazon) (1).
Chúng ta hãy nghe lời đạo đức giả của ông râu xồm lưu manh này: “Tôi là Fidel Castro- xin được trịnh trọng tuyên bố rằng, trái ngược với tất cả những gì mà ngài Bush (TT/Mỹ) nói, hiện giờ tôi chẳng có một đôla dính túi. Toàn bộ tài sản của tôi đều dễ dàng đút gọn vào túi áo sơ mi của ông ta”. (2)
Nhưng đây là: Tài sản nhỏ bé dễ dàng đút gọn vào túi áo sơ mi 
của Fidel Castro Vương Quốc biển của Fidel Castro 
 (Ảnh do tác giả Sanchez bí mật chụp)
“Fidel Castro khẳng định: Cả cuộc đời, ông không có tài sản nào cả, chỉ có một chiếc lều câu cá (theo lịch sử đảng CS Cuba). Thực tế, căn lều của lãnh đạo Cuba là một hệ thống biệt thự sang trong, huy động những phương tiện hậu cần khổng lồ của nhà nước và quân đội để xây dựng chiếm trọn hải đảo Cayo Piedra mà giới lãnh đạo xã hội chủ nghĩa thường sang thăm Cuba nhưng ít ai được mời đến nơi này vì Fidel Castro dấu kín không muốn phơi bày bộ mặt thật vương giả của mình”. 
 
“Cayo Piedra thực ra là hai đảo nằm gần nhau và để đi lại dễ dàng Fidel Castro ra lệnh cho xây một chiếc cầu dài 215 mét nối hai đảo nam và bắc để cho ba chiếc du thuyền của gia đình ông cập được vào bãi cát mịn. Trừ văn hào Gabriel Garcia Marquez, người bạn thân thiết nhất được mời đến nhiêu lần, còn tuyệt nhiên Fidel Castro che giấu rất kỹ, hiếm khi nào mời khách dù quen hay lạ. Khách mời quan trọng lắm cũng chỉ được lưu trú trong một biệt thự ở phía bắc với một hồ bơi 25m. Ở phía nam, có một nhà hàng nổi, nơi gia đình Fidel Castro thường hay dùng cơm. Viên cựu sĩ quan cận vệ cho biết trong 17 năm hầu cận Fidel Castro, ông có gặp một số lãnh đạo chính trị như Tổng bí thư cộng sản Đông Đức Erich Honecker, chủ nhân đài CNN Ted Turner, vua gà của Pháp Gerard Bouroin khi ông này qua Cuba tìm thị trường. Tuyệt nhiên không bao giờ thấy người em Raul Castro.
 
Dân chúng Cuba ăn uống kham khổ còn Chủ tịch nước ăn uống ra sao? Ở tư dinh La Habana, một bà gia nhân giám sát hai đầu bếp chỉ để phục vụ cho Fidel Castro… bữa ăn của nhà cách mạng được một ông quản gia chuyên nghiệp phục vụ tận bàn như trong nhà hàng 5 sao. Mỗi chiều, Dalia, vợ của Phi-đen soạn ba thực đơn: ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cho ngày hôm sau nhưng không phải chung cho cả gia đình mà là cho từng “cá nhân một, với sở thích thói quen ẩm thực và yêu cầu riêng”.
 
Buổi sáng, Fidel Castro thức giấc lúc 11 giờ để ăn sáng, hiếm khi nào dậy trước 10 giờ và bắt đầu ngày làm việc vào khoảng 12 giờ trưa. Khi ông dùng sữa, thì sữa phải là từ bò nuôi trong nông trại gia đình cung cấp và mỗi thành viên gia đình có một con bò sữa riêng. Sữa đưa lên bàn ăn đựng trong chai có số riêng. Chai sữa bò của Fidel Castro mang số 5. Fidel Castro có vị giác rất tinh tế phân biệt được mùi vị nếu sữa không xuất phát từ con bò cái của ông. 
 
Về an ninh, luôn luôn có 15 vệ sĩ túc trực bên mình. Hầu hết được tuyển chọn theo khả năng tác xạ và cận chiến. Đặc biệt là trong số vệ sĩ có một người có diện mạo rất giống Fidel Castro tên là Silvino Alvarez, thấp hơn chút ít nhưng nếu ngồi trong xe thì không thể phân biệt được, ai giả ai thật. Năm 1992, khi lãnh đạo Cuba lâm bệnh nặng, nằm liệt giường, ông “Phi-đen” giả được cho lên xe chủ tịch chạy vòng vòng trong đường phố thủ đô La Habana, cố ý đi qua những nơi đông người như đại lộ Prado dọc bãi biển và khu có sứ quán Anh, Pháp. Ngang qua đám đông, “chủ tịch giả” cũng đưa tay chào như chủ tịch thật, để dân chúng tin rằng lãnh tụ mình vẫn khỏe mạnh… (JuanReinaldo Sanchez) 
Đây! Hình ảnh XHCN/CS Cuba sau hơn nữa thế kỷ dưới sự lạnh đạo “kiệt xuất của anh hùng lỗi lạc” Fidel Castro – Ngay tại thủ đô La Habana / Cuba, Nhiều khu vực dân cư còn rất nghèo, nghèo hơn cả Sài Gòn nửa thế kỷ trước (thập niên 1960).
Hai ngày qua, kể từ 25-11 Fidel Castro “đứt bóng” truyền thông nhà nước CSVN như một giàn nhạc giao hưởng “kèn Tây” cùng hợp xướng đồng ca tô son điểm phấn cho cái xác ông râu xồm Fidel của đảo quốc CS/Cuba vừa giã từ trần thế xuống “thiên đàng XHCN” để hội ngộ với ma vương quỷ sứ Hồ Chí Minh và Các Mác. Một trong những điệu kèn thảm thiết đó rên rỉ như thế này: “Sự ra đi của lãnh tụ kiệt xuất Fidel Castro đã để lại niềm tiếc thương vô hạn trong lòng người dân Cuba. Họ luôn xem ông như vị anh hùng lỗi lạc, người đã dành trọn cuộc đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và kiến thiết nước nhà”. dantri.com.vn
Chúng ta điểm lại xem Fidel Castro “kiệt xuất” giải phóng dân tộc và kiến thiết nước nhà Cuba như thế nào kể từ nhà nước Cuba do hai anh em nhà Castro thay nhau lãnh đạo (1959) đến nay. Trong số 53 quốc gia và vùng lãnh thổ Châu Mỹ không có nước nào lấy cái mô hình anh hùng “kiệt xuất” giải phóng dân tộc của Fidel Castro để làm gương – chỉ duy nhất Cuba là Cộng Sản XHCN (một số vài nước khoát cái áo XHCN nhưng thân xác vẫn là tư bản 100%).
Từ sau cuộc “Cách mạng” Cuba năm 1959, tiêu chuẩn sống người dân Cuba luôn đi xuống. Năm 1962, chính phủ Cuba phải áp dụng chế độ phân phối lương thực, thiếu thốn càng trở nên gay gắt sau sự sụp đổ của Liên Xô- Đông Âu Ngoài ra, Cuba đã trải qua tình trạng thiếu hụt nhà ở vì chính phủ không thể đáp ứng nổi sự gia tăng nhu cầu. Tới cuối năm 2001, nghiên cứu cho thấy mức sống trung bình tại Cuba thấp hơn trước “cách mạng 1959” nhà nước CS/Cuba không thể trả lương đáp ứng nhu cầu của người lao động và hệ thống phân phối nhu yếu phẩm luôn bị ám ảnh thường xuyên vì thiếu hụt hàng hóa. Khi số lượng phân phối giảm sút, người Cuba dần phải quay sang chợ đen để có được những sản phẩm căn bản: quần áo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật dụng chăm sóc sức khỏe. Khu vực không chính thức này được nhiều người dân Cuba gọi là “sociolismo” (một nghĩa khác của thị trường tự do chợ đen) tình trạng tham nhũng trong các ngành công nghiệp nhà nước, như ăn cắp tài sản nhà nước để bán ra chợ đen, cũng thường xuyên hơn. Cuba từng là nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, vì tình trạng đầu tư máy móc kém, sản lượng đường của Cuba đã giảm nghiêm trọng. Năm 2002, hơn một nửa các nhà máy đường ở Cuba phải đóng cửa. Mùa thu hoạch gần đây nhất chỉ đạt 1.1 triệu tấn, thấp nhất trong gần một trăm năm qua, chỉ tương đương với sản lượng năm 1903 và 1904. Chính phủ Cuba buộc phải áp đặt hầu hết các loại giá cả và khẩu phần lương thực cho các công dân. Hơn nữa, bất kỳ một công ty nào muốn thuê nhân công người Cuba phải trả bằng ngoại tệ cho chính phủ Cuba, và chính phủ sẽ hoán đổi trả tiền cho người lao động đó bằng đồng peso Cuba. (hoán đổi rất thấp so giá trị thật của ngoại tệ) – Mức GNI (Gross national income, thu nhập quốc dân) bình quân đầu người của Cuba (số tiền lương đem về nhà) của đại đa số người Cuba chỉ ở mức $20/tháng = 440,000 VND. (cafekubua.com)
Tóm lại, Fidel Castro một tên cộng sản sống như đế vương trên mồ hôi nước mắt người dân nhưng vỗ ngực xưng tên mình là giai cấp vô sản, y chính là một trong những kẻ “lưu manh giả danh lương thiện”.
Hơn một trăm triệu nạn nhân chết vì các chế độ cộng sản trên toàn thế giới, nhân loại đang kinh tởm nguyền rủa, gần mực thì đen gần đèn thì sáng.
“Hãy nói cho mọi người biết bạn của anh là ai, mọi người sẽ nói cho anh hiểu anh là loại người như thế nào”. 

ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CỦA FIDEL CASTRO.

ĐỜI SỐNG RIÊNG TƯ CỦA FIDEL CASTRO.

Người dân Việt nam đang thắc mắc về đời sống riêng tư của nhân vật mà chính phủ VN yêu cầu phải để tang. Đây là những thông tin chính xác ,chân thực của vị ” cha già dân tộc ” này .

Những chi tiết về cuộc sống riêng tư của Castro, đặc biệt mà có dính líu tới những thành viên trong gia đình, ít được biết, bởi vì báo chí nhà nước bị cấm đề cập tới. Với người vợ đầu tiên, bà Mirta Díaz-Balart, mà ông cưới vào ngày 11 tháng 10, 1948, Castro có một người con trai tên Fidel Ángel “Fidelito” Castro Díaz-Balart, sinh ngày 1 tháng 9, 1949. Díaz-Balart và Castro ly dị trong năm 1955, sau đó bà cưới Emilio Núñez Blanco. Sau một thời gian cư trú ở Madrid, Díaz-Balart đã trở về Havana để sống với Fidelito và gia đình ông. Fidelito lớn lên ở Cuba; có một thời, ông làm Chủ tịch Ủy ban Năng lực nguyên tử Cuba nhưng sau đó bị cách chức bởi chính cha mình.

Ngoài ra, Fidel có 5 người con trai khác với người vợ thứ hai, Dalia Soto del Valle: Antonio, Alejandro, Alexis, Alexander “Alex” and Ángel Castro Soto del Valle. Trong khi Fidel ở với Mirta, ông đã ngoại tình với Natalia “Naty” Revuelta Clews, sinh ở Havana vào năm 1925 và đã làm đám cưới với Orlando Fernández, đẻ ra một người con gái tên Alina Fernández|Alina Fernández Revuelta. Alina rời khỏi Cuba vào năm 1993, hóa trang làm một du khách người Tây Ban Nha và xin tị nạn ở Hoa kỳ. Bà đã chỉ trích chính sách của cha mình.Với một phụ nữ khác không được biết tên, ông có một người con trai khác, tên Jorge Ángel Castro. Fidel còn có một người con gái khác, Francisca Pupo (sanh năm 1953) kết quả của một cuộc tình một đêm. Pupo và chồng bà bây giờ sống ở Miami. Người viết tiểu sử về Castro, ông Robert E. Quirk ghi nhận là trong suốt cuộc đời, Fidel thường có quan hệ tình một đêm với các người đàn bà khác vì ông “không có khả năng để duy trì một quan hệ yêu đương lâu dài với bất cứ người phụ nữ nào.”

Chị em gái của ông, bà Juanita Castro, từng là một nhân viên tình báo Mỹ (CIA) hoạt động chống lại chính anh em trai mình trước khi chuyển sang sống ở Hoa Kỳ ngay từ đầu thập niên 1960. Khi bà đi tỵ nạn, đã nói là “Tôi không thể hờ hững với những gì đang xảy ra trên đất nước tôi. Hai anh em của tôi, Fidel và Raúl đã biến nước tôi thành một nhà tù khổng lồ được bao quanh bởi biển cả. Người dân đang bị trói buộc và hành hạ bởi chủ nghĩa Cộng sản quốc tế.”

“Cả cuộc đời, Fidel Castro khẳng định ông không có tài sản, chỉ có một chiếc lều câu cá. Thực tế, căn lều của lãnh đạo Cuba là một hệ thống biệt thự sang trọng , huy động những phương tiện hậu cần khổng lồ, chiếm trọn hải đảo Cayo Piedra mà giới lãnh đạo xã hội chủ nghĩa thường sang thăm Cuba ít ai biết.

Cayo Piedra thực ra là hai đảo nằm gần nhau và để đi lại dễ dàng Fidel Castro cho xây một chiếc cầu dài 215 mét nối hai đảo nam và bắc. Để cho ba chiếc du thuyền của gia đình ông cập bãi cát mịn, nhà cách mạng đã cho đào một con kênh dài một cây số. Trừ văn hào Gabriel Garcia Marquez, người bạn thân thiết nhất được mời đến chơi không biết bao nhiêu lần, Fidel Castro che giấu rất kỹ, hiếm khi nào mời khách quen lạ. Khách mời chỉ được lưu trú trong một căn nhà ở phía bắc với một hồ bơi 25 mét.

Ở phía nam, có một nhà hàng nổi, nơi gia đình Fidel Castro thường hay dùng cơm. Viên cựu sĩ quan cận vệ cho biết trong 17 năm hầu cận Fidel Castro, ông có gặp một số lãnh đạo chính trị như Tổng bí thư cộng sản Đông Đức Erich Honecker, chủ nhân đài CNN Ted Turner, vua gà của Pháp Gerard Bouroin khi ông này qua Cuba tìm thị trường. Tuyệt nhiên không bao giờ thấy Raul Castro.

Dân chúng Cuba ăn uống kham khổ còn Chủ tịch nước ăn uống ra sao ? Ở La Habana, một bà gia nhân giám sát hai đầu bếp … bửa ăn của nhà cách mạng được một ông quản gia chuyên nghiệp phục vụ tận bàn như trong nhà hàng. Mỗi chiều, Dalia, vợ của « Phi-đen » soạn ba thực đơn : ăn sáng, ăn trưa và ăn tối cho ngày hôm sau nhưng không phải chung cho gia đình mà là cho từng « cá nhân một, với sở thích, thói quen, và yêu cầu riêng ».

Buổi sáng, chủ tịch thức giấc lúc 11 giờ để ăn sáng, hiếm khi nào dậy trước 10 giờ và bắt đầu ngày làm việc vào khoảng 12 giờ trưa. Khi ông dùng sữa, thì sữa do bò nuôi trong nông trại gia đình cung cấp và mỗi thành viên gia đình có một con bò riêng. Sữa đưa lên bàn ăn đựng trong chai có số riêng. Chai sữa bò của Fidel Castro mang số 5. Gia trưởng Cuba có vị giác tinh tế phân biệt được mùi vị nếu sữa không xuất phát từ con bò cái của ông.

Về an ninh, luôn luôn có 15 vệ sĩ túc trực bên mình. Hầu hết được tuyển chọn theo khả năng tác xạ và cận chiến. Đặc biệt là trong số vệ sĩ có một người có diện mạo rất giống chủ tịch tên Silvino Alvarez. Dáng thấp hơn nhưng nếu ngồi trong xe thì không thể phân biệt được, ai giả ai thật. Năm 1992, khi lãnh đạo Cuba lâm bệnh nặng, nằm liệt giường, ông “Phi-đen” giả được cho lên xe chủ tịch chạy vòng vòng đường phố, cố ý qua những nơi đông người như đại lộ Prado dọc bãi biển và khu có sứ quán Anh, Pháp. Ngang qua đám đông, chủ tịch giả cũng đưa tay chào như chủ tịch thật, để qua mắt dân chúng.

Fidel Castro qua đời và Việt Nam

Fidel Castro qua đời và Việt Nam

Blog RFA

Song Chi

27-11-2016

Nông Đức Mạnh và Fidel Castro trong chuyến thăm Cuba năm 2007. Nguồn: AFP

Cuối cùng thì Fidel Castro, lãnh tụ cách mạng Cuba, cựu Chủ tịch nước Cộng hòa Cuba, cựu Tổng Bí thư đảng cộng sản Cuba, một trong những nhà lãnh đạo cầm quyền lâu nhất (47 năm) và mang tính biểu tượng nhất thế giới, đã qua đời ngày 25.11 ở tuổi 90.

Nếu như đối với người dân của nhiều quốc gia trên thế giới, cái chết của Fidel Castro chả có ý nghĩa gì, chỉ là một nhân vật độc tài đã sống quá lâu mới chịu ra đi, thì ở VN cái chết của Fidel Castro được đề cập đến khá nhiều, cả trên báo chí chính thống của nhà nước lẫn các trang blog, trang mạng xã hội.

Đứng về phía nhà nước cộng sản VN thì chả có gì khó hiểu. Chỉ có vài quốc gia còn sót lại trên thế giới là do đảng cộng sản lãnh đạo. Đảng cộng sản Cuba và đảng cộng sản VN từng một thời gắn bó, Cuba cũng như các nước XHCN khác đã ra sức ủng hộ, giúp đỡ Bắc VN trong cuộc chiến tranh chống Mỹ. Mối giao tình ấy sau này tuy có nhạt đi phần nào khi VN đi theo mô hình “đổi mới” của Trung Quốc, chuyển sang làm ăn kinh tế thị trường trong lúc Cuba vẫn trung thành với mô hình kinh tế xã hội chủ nghĩa, mọi thứ đều được quốc hữu hóa, nhưng đảng cộng sản VN vẫn giữ mối quan hệ với nước cộng sản anh em này.

Vì vậy khi Fidel Castro chết, trong số ít ỏi những nhân vật lãnh đạo của các nước gửi điện chia buồn có Tổng thống Vladimir Putin của Nga, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình, một số nước Nam Mỹ như Tổng thống Sanchez Ceren của Salvador, Tổng thống Nicolás Maduro của Venezuela, Tổng thống Enrique Peña Nietoc của Mexico…và tất nhiên, có VN.

Báo chí nhà nước chạy hết công suất để ca ngợi nhà cách mạng Fidel Castro, nhắc lại cuộc đời, sự nghiệp, những lần Fidel đến VN, nhắc lại những câu nói của Fidel Castro với VN trong đó có câu “Vì VN, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” v.v…

Còn đối với người dân VN, những ai vẫn còn chịu ảnh hưởng bởi hệ thống giáo dục, tuyên truyền của nhà nước cộng sản thì vẫn nghĩ Fidel Castro là một nhà lãnh đạo cách mạng vĩ đại, “người bạn lớn” của nhân dân VN. Nhưng tất cả những ai có thông tin thì đều biết rằng Fidel Castro thật ra là một kẻ độc tài, dù có thể lúc đầu đã đứng lên đấu tranh vì một lý tưởng, vì muốn lật đổ một chế độ và xây dựng một chế độ khác tốt đẹp hơn cho dân tộc mình nhưng cuối cùng lại trở thành kẻ tội đồ khi đi theo một lý thuyết sai lầm, chọn một con đường sai lầm, kìm hãm đất nước, nhân dân Cuba trong đói nghèo, lạc hậu và không được hưởng bất cứ quyền tự do, dân chủ nào.

Cũng giống như những nhân vật độc tài khác, nhất là những nhân vật độc tài của chế độ cộng sản, như Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Polpot, Hồ Chí Minh, Lê Duẩn, cha con nhà Kim Jong-Il, Kim Jong-un, Fidel Castro sau khi giành được quyền lực đã biến đất nước, nhân dân thành sở hữu riêng của đảng cộng sản và của mình.

Và cũng giống như rất nhiều lãnh tụ cộng sản, “cha già dân tộc” chỉ đóng vai giản dị, nông dân trước quần chúng còn thật sự thì sống một cuộc sống xa hoa, sung sướng hơn rất nhiều lần so với đời sống bần cùng của đại đa số người dân dưới sự lãnh đạo của họ, đời sống tình dục thì vô cùng phóng đãng, vô độ, Fidel Castro cũng vậy.

Nhiều tài liệu cho biết ông có nhiều du thuyền, dinh thự riêng, hàng ngàn người bảo vệ, đời tư thì hết sức phóng túng, ngoài các người vợ là danh sách dài các người tình lâu dài, người tình một đêm. (Ngay lãnh tụ Lenin của Liên bang Xô Viết thì sau này sự thật mới lộ ra là chết vì giang mai do bị lây nhiễm từ gái điếm Paris chứ không phải bị đột quỵ như truyền thông, sách vở Liên Xô một thời đã viết như thế…)

Về mặt quan điểm chính trị, tư tưởng, Fidel Castro bảo thủ hơn các đồng chí cộng sản ở Trung Quốc hay VN, ông không chấp nhận đổi mới, kinh tế thị trường, kinh tế tư nhân và tuyên bố “Tôi là người theo chủ nghĩa Mác Lênin và tôi sẽ như thế cho tới ngày cuối cùng của cuộc đời mình” (“Những câu nói nổi tiếng của lãnh tụ Cuba Fidel Castro”, Pháp luật TP.HCM).

Dưới thời Fidel Castro, hàng trăm ngàn người Cuba đã bỏ nước ra đi, cũng như người VN dưới thời cộng sản, và nếu như người Việt tỵ nạn có thủ phủ của mình là “Little Saigon” trên đất Mỹ thì người Cuba cũng có “Little Havana”. Khi được tin Fidel Castro chết, hàng ngàn người Cuba ở Little Havana, Miami, đã đổ ra đường ăn mừng.

Ai rồi cũng chết. Chính trị gia, lãnh tụ cách mạng hay “cha già dân tộc” gì cũng thế. Điều quan trọng là di sản mà họ để lại cho đất nước, dân tộc. Và vì cái di sản ấy, họ sẽ mãi mãi được ghi nhớ công lao trong lịch sử hay sẽ đời đời bị phán xét, nguyền rủa như tội đồ của dân tộc. Cho dù tạm thời lịch sử có bị bưng bít, che dấu, bản thân họ có được vẽ rồng rắn thành huyền thoại thì rồi cũng sẽ có ngày sự thật được trả lại và không một nhân vật nào có thể thoát khỏi sự đánh giá khách quan của hậu thế. Họ có chết đi thì con cháu họ cũng vẫn phải đọc lại những trang sử ấy.

Di sản của Fidel Castro để lại cho đất nước, nhân dân Cuba hay của Hồ Chí Minh để lại cho VN, đáng tiếc là quá tệ hại.

Cái chết của Fidel Castro gợi lại ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc

Cái chết của Fidel Castro gợi lại ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc

FB Nguyễn Thị Oanh

27-11-2016

Nguồn: Esteban Felix AP/Press Association Images

Đọc thông tin và những bình luận về cái chết của Fidel Castro. Thấy có người thì ngợi ca, thương tiếc. Có người thì mừng vui, hả dạ.

Đối với mình thì chẳng vui chẳng buồn. Cái chết của Fidel chỉ gợi lại cho mình ký ức về những ngày tháng xa xưa đói khổ ở miền Bắc. Hồi đó, bọn trẻ chúng mình say sưa với những hình ảnh thần tượng của các lãnh tụ XHCN là bác Mao, bác Fidel và bác Stalin. Đọc thơ của Tố Hữu, thấy hình ảnh các bác ấy, và Trung Hoa, Liên Xô với Cuba sao mà vĩ đại thế! Điều kỳ lạ là hồi đó chẳng ai nghĩ mình khổ! Ai cũng thấy tự hào được sống ở một đất nước thuộc phe XHCN, ai cũng một lòng bừng bừng niềm tin đánh thắng đế quốc để mình sẽ lên CNCS, sẽ được “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”…

Suốt cả tuổi thơ, từ năm 7 tuổi mình đã quen với những buổi thức dậy từ mờ sương, mắt nhắm mắt mở xếp hàng mua gạo, thịt, mắm, muối… ở các cửa hàng mậu dịch. Quen với những bìa tem phiếu và sổ mua lương thực quyết định chuyện đói, no cho cả nhà. Quen với những lúc phải ăn gạo mốc, gạo mọt. Quen với cảnh mẹ xúm xít cùng các cô chia nhau từng gam mì chính (bột ngọt). Quen với những khi bố phải lấy kẹo bột nấu chè thay đường để có chút ngọt cho cả nhà đỡ thèm… Và mơ ước cháy bỏng của mình về nghề nghiệp suốt thời thơ trẻ là mong sau này sẽ được trở thành cô mậu dịch viên oai phong, ngồi sau quầy kính đầy quyền uy để ban phát cái ăn cho mọi người 😦.

Nhiều bạn nói rằng thấy Cuba vẫn hơn VN nhiều thứ, đặc biệt về dịch vụ y tế và sự ổn định cuộc sống cho người dân của họ. Và rằng Cuba cũng giúp đỡ VN rất hào phóng trong suốt cuộc chiến chống Mỹ. Để từ đó cho rằng Fidel thật sự có công với Cuba và ông quả đúng là người bạn tốt của nhân dân VN.

Mình nhớ, năm 1975, mình nhận được một con “búp bê miền Nam” bằng nhựa do anh họ đi bộ đội trở về mang cho. Mình đã ngây ngất ngắm nó và nghĩ không hiểu sao “bọn đế quốc trong Nam” lại có thể làm được một vật đẹp đẽ như thế! Cũng trong năm đó, lần đầu tiên mình có được một cái áo hoa do bà nội mua cho, khi bà vào Sài Gòn thăm người em ruột và họ hàng di cư từ năm 54 chưa hề gặp lại. Con bé 9 tuổi hồi nào giờ chỉ biết mặc áo một màu trắng, xanh, nâu hoặc xám, lúc ấy ngượng nghịu sung sướng với tấm áo hoa đầu tiên trong đời nên nâng niu cất để dành đến Tết mới dám mặc…

Mình chưa từng tới Cuba nên không biết người dân ở đó thực sự sống thế nào và nghĩ gì về những điều mà Fidel đã mang lại cho đất nước của họ. Mình chỉ suy ra từ mình – một đứa trẻ đã từng thần tượng Fidel cũng như nhiều nhà lãnh đạo khác của khối XHCN. Nhưng rồi một ngày nào đó nó chợt tỉnh và vỡ ra rằng bấy lâu nay nó khổ mà không biết mình khổ. Nó hài lòng với những gì có được mà không biết rằng nó chỉ đang được sống ở mức tối thiểu. Nó cứ tưởng nó sung sướng mà không biết rằng người ta đang thương hại nó thế nào…

Nên hôm nay, với Fidel, mình cúi đầu chia buồn khi nghe tin về cái chết của ông như nghe tin một người quen cũ vừa qua đời. Nhưng nếu bảo tiếc thương, mình không thể tiếc thương một quá khứ nông nổi, ấu trĩ và đau buồn. Vĩnh biệt ông mà cũng mong nhân dân Cuba sẽ vĩnh biệt luôn một thời kỳ u mê, mông muội quá lâu, quá dài trong suốt chiều dài lịch sử của họ!

Tán tận lương tâm.

Tán tận lương tâm.
– Chúng là loài quỷ dữ, làm gì có lương tâm.
– Chúng là lũ bán nước!
– Một chính phủ khốn nạn.

CÁC ANH, MỘT CHÍNH PHỦ KHỐN NẠN! –
Nancy Nguyễn

– “…KHỐN NẠN CÁI LŨ CÁC ANH! Các anh không phải chỉ đang buôn bán cái mảnh đất này, cái dải nước này, nhưng là các anh đang buôn bán sinh mạng của mấy trăm ngàn nóc nhà, mấy triệu con người, thậm chí là mấy chục triệu con người.“

CÁC ANH, MỘT CHÍNH PHỦ KHỐN NẠN!

Nancy Nguyễn

Khi thông tin cá chết xuất hiện các anh đã trả lời dân thế nào?

“KHÔNG CÓ THẨM QUYỀN KIỂM TRA FORMOSA!”

Xin lỗi các anh, đất này của người VN hay của Đài Loan, Trung Quốc mà họ có quyền cấm các anh vào kiểm tra? Giả sử Formosa không sản xuất thép, mà chế bom nguyên tử, hay đem quân đội vào đóng ngay huyết mạch bắc nam thì cái đất nước này sẽ khốn nạn thế nào? Các anh là con người hay là con chó mà chỉ 1 doanh nghiệp tư nhân cũng có thể khiến cả 1 chính phủ nghe lời?

Rồi 1 ngày, 2 ngày, 3 ngày rồi từ ngày đổi sang tuần, rồi từ tuần đổi sang tháng.

Các anh ưu việt đến nỗi TỚI TẬN BÂY GIỜ VẪN CHƯA PHÁT HIỆN ĐƯỢC NGUYÊN NHÂN CÁ CHẾT.

Trong trường hợp này, các anh không phải đang khoe dốt, nhưng là đang khoe ÁC! Ác với đồng bào, ác với đồng loại.

Bởi các anh đâu phải không biết nguyên nhân, và thằng dân cũng vậy, nhưng các anh dùng mọi thủ đoạn để lách luồn, để chống chế, để nguỵ biện.

Tôi không biết các anh ăn gì để sống, nhưng biết các anh đã bán cái gì đi để mua thực phẩm cho cái lũ các anh. CÁC ANH BÁN NƯỚC!

Tôi không biết các anh đã họp kín gì với Formosa, với cả đống ban bệ của các anh, nhưng tôi biết một điều, bước ra khỏi hội nghị, Formosa thẳng thừng tuyên bố: CHỌN CÁ HAY CHỌN NHÀ MÁY THÉP.

Sự trơ trẽn này của Formosa chứng tỏ họ hiểu các anh, bọn thằng dân chúng tôi, và bọn Tầu, Đài ĐỀU BIẾT RÕ đâu là nguyên nhân cá chết,và tất nhiên, Tầu, Đài đã được bảo kê an toàn.

CÁC ANH CÒN NÓI MÌNH KHÔNG BÁN NƯỚC HẠI DÂN?

Màn kịch thuỷ triều đỏ là cực điểm của vở bi hài kịch Vũng Áng.

Khi mà AI-CŨNG-BIẾT-VÌ-SAO thì các anh trơ trẽn, trâng tráo đổ cho tảo đỏ.

Xin lỗi nói thẳng với anh, biển không phải là phụ nữ, mà cá chết 27 ngày không đỏ,đến ngày thứ 28 thì … hành kinh. Nhưng tột cùng khốn nạn của các anh có lẽ là chính lúc này.

Khi các anh đã chỉ FORMOSA khoá dưới mức nguy hiểm, các anh đồng loạt hô “ĐÃ AN TOÀN” và nhiệt tình quảng bá hình ảnh quan chức ăn cá, tắm biển, vui chơi DÙ VẪN CHƯA DÁM XÁC ĐỊNH NGUYÊN NHÂN NHIỄM ĐỘC. Tình trạng tái nhiễm độc có thể diễn ra bất cứ lúc nào,chỉ khi có cá chết, người chết, thì dân mới lại ngã ngửa ra lần nữa.

Cho phép tôi chửi KHỐN NẠN CÁI LŨ CÁC ANH! Các anh không phải chỉ đang buôn bán cái mảnh đất này, cái dải nước này, nhưng là các anh đang buôn bán sinh mạng của mấy trăm ngàn nóc nhà, mấy triệu con người, thậm chí là mấy chục triệu con người. Các anh không dám nhìn nhận người dân xuống đường biểu tình vì chính cái khốn nạn của các anh, cái vô liêm sỉ, cái mất nhân tính của các anh, nhưng đốn mạt hơn,các anh đổ tất thảy những cái đê tiện đó cho con ông kẹ “thế lực thù địch” rồi đem 2 thằng ký giả quèn chỉ làm được mỗi việc phỏng vấn, lấy tin, và cứu trợ nhân đạo ra tế thần. Cả VTV, VTC nữa, các anh cũng đốn mạt, hèn hạ vô cùng!

Còn Tiền Phong nữa, lương tri con người, lương tâm báo chí các anh để đâu mà bảo “Nước biển 4 tỉnh miền trung đã an toàn!” Các anh đã bao giờ làm phóng sự điều tra độc lập,cử người xâm nhập vào Formosa để tìm ra nguyên nhân,và tự mình xác định được là vấn đề đã được hoàn toàn khắc phục hay chưa, hay chỉ nghe đảng hô sao thì viết vậy?Tôi hỏi thật các anh truyền thông, câu này tôi hỏi thật lòng: Các anh là phóng viên, nhà báo,hay là đĩ điếm? Mà Đảng bảo hùng hục là hùng hục, bảo nằm im là răm rắp nằm im?

Bảo cười là cười, bảo câm phải câm, cho nói gì mới được nói ấy! Nếu phải làm báo như thế, tôi thật không bao giờ dám tự xưng mình là phóng viên, nhà báo, vì có khác gì phò đâu! Một số người bảo toàn bộ sự việc chỉ là chiêu trò của TQ, để hất cẳng Đài Loan, để đuổi dân khỏi Hà Tĩnh, để nhân cơ hội cả nước lên đồng mà âm thầm gom thêm vài cục đảo,rằng thằng dân Vệ đang bị thằng Hán lợi dụng.

Là gì đi chăng nữa thì cũng chỉ chứng tỏ 1 điều:
BỌN NÓ ĐÁNH CỜ CÒN CÁC ANH HẦU QUẠT.
Bọn nó luôn nằm trên còn các anh nằm dưới. Phò thì có thắt cà vạt, mặc áo vét lên ti vi vẫn là phò.

Lời  cuối, tôi bảo thật, ở trên kia TRỜI XANH CÓ MẮT.

Các anh xếp tôi vào loại xách động biểu tình,thì đây:
ALL ZOMBIES: LET’S RAPE THE STREETS!!!!

Nancy Nguyễn

Nancy Nguyễn

Phan Thị Hồng's photo.
Phan Thị Hồng's photo.

Tạ Ơn Chúa !

Tạ Ơn Chúa !

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

    Thi sĩ Lamartine của Pháp có kể lại một giai thoại như sau:

Một hôm, tình cờ đi qua một khu rừng, ông nghe một âm thanh kỳ lạ.  Cứ sau mỗi tiếng búa gõ vào đá lại vang lên một tiếng “Cám ơn”.  Ðến gần nơi phát ra âm thanh, thi sĩ mới nhận thấy một người thợ đá đang miệt mài làm việc.  Cứ mỗi lần gõ vào phiến đá, ông lại thốt lên “Cám ơn’.

Thi sĩ Lamartine mới nấn ná đến trò chuuyện, người thợ đập đá giải thích: “Tôi cảm ơn Chúa”. 

Ngạc nhiên về lòng tin của một con người mà cuộc sống hẳn phải lầm than lam lũ, thi sĩ mới nói: “Giả như bác được giàu có, thì tôi hiểu tại sao bác không ngừng thốt lên hai tiếng cám ơn.  Ðằng này, Thiên Chúa chỉ nghĩ tới bác có mỗi một lần duy nhất đó là lúc Ngài tạo nên bác.  Sau đó, Ngài ban cho bác có mỗi cái búa này để rồi không còn ngó ngàng gì đến bác nữa.  Thế thì tại sao bác lại mỏi miệng để cám ơn Ngài?”.

Nghe thế, người đập đá mới hỏi vặn lại thi sĩ: “Ngài cho rằng Chúa chỉ nghĩ đến tôi có một lần thôi sao”.

Thi sĩ Lamartine bèn thách thức: “Dĩ nhiên, Chúa chỉ nghĩ đến bác có mỗi một lần mà thôi”.

Người thợ đá nghèo, nhưng đầy lòng tin, mới mếu máo thốt lên: “Tôi nghĩ rằng điều đó không có gì đáng ngạc nhiên cả.  Ngài nghĩ rằng Thiên Chúa đã đoái thương đến một người thợ đá thấp hèn như tôi, dù chỉ một lần thôi.  Vậy không đủ cho tôi cám ơn Ngài sao?  Vâng, cám ơn Chúa, cám ơn Chúa”. 

Nói xong, ông bỏ mặc cho thi sĩ đứng đó và tiếp tục điệp khúc quen thuộc của ông, vừa đục đá vừa tạ ơn Chúa.

Thiên Chúa yêu thương con người.

Ðó là bài ca mà chúng ta không chỉ hát lên trong mùa Giáng Sinh, mà phải được lập lại trong từng khoảnh khắc của cuộc sống.  Nhưng khi chúng ta nói: Thiên Chúa yêu thương con người, điều đó trước hết phải có nghĩa là Ngài yêu thương tôi.  Thiên Chúa không yêu thương con người bằng một cách chung chung. Thiên Chúa yêu thương mỗi người bằng một tình yêu cá biệt, riêng rẽ.  Ðiều đó cũng có nghĩa là mỗi người là một chương trình trong trái tim của Thiên Chúa.

Ðối với Thiên Chúa, không có đám đông vô danh, cũng không có những con số.

Ngài gọi mỗi người bằng tên gọi riêng…

Chúng ta không thể đo lường Tình Yêu của Thiên Chúa bằng thước đo hẹp hòi, thiển cận của chúng ta.  Trong Tình Yêu Quan Phòng của Ngài, mỗi một con người là một chương trình và mỗi một chương trình đều cao cả.  Thiên Chúa không tạo dựng chúng ta theo một khuôn mẫu, mà theo một chương trình riêng cho mỗi người.  Mỗi một biến cố xảy đến đều được Ngài sử dụng để đem lại điều thiện hảo cho chúng ta.

Nói như thánh Phaolô, Thiên Chúa quy mọi sự về điều thiện cho những kẻ Ngài yêu thương.  Cũng chính vị thánh này đã nói: “Tất cả mọi sự đều là ân sủng của Chúa”.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Hòa giải và bức tường than khóc

Hòa giải và bức tường than khóc

Kính Hòa, phóng viên RFA
2016-11-27
Ông Hùng Cửu Long (giữa) ở Washington DC.

Ông Hùng Cửu Long (giữa) ở Washington DC.

Courtesy photo

Bị phản đối dữ dội

Một người đàn ông mặc áo mang cờ đỏ sao vàng xuất hiện tại trung tâm người Việt tại miền Nam California. Ông ta bị phản đối dữ dội. Người đàn ông đó tên là Lê Đình Hùng từ Việt Nam sang. Ông ta nói rằng hành động của ông là để góp phần vào công cuộc hòa giải dân tộc.

Một cuộc họp được tổ chức tại Sài Gòn kêu gọi Việt kiều góp phần xây dựng đất nước.

Ông Lê Minh Nguyên, thành viên một tổ chức đấu tranh cho nhân quyền Việt Nam, có trụ sở ở California viết rằng:

Cho đến nay, chưa bao giờ, người viết xin nhắc lại là “chưa bao giờ” Cộng Sản Việt Nam có chủ trương hoà giải, họ chỉ chủ trương đại đoàn kết hay hoà hợp, tức là muốn nạn nhân của họ phải thần phục họ, phải “bó thân về với triều đình”, phải chấp nhận là thần dân của họ, chung vào rọ của họ, nằm dưới sự lãnh đạo của họ.

Theo thông tin từ truyền thông nhà nước Việt Nam thì có khoảng 500 Việt kiều có mặt tại Sài gòn trong buổi họp do nhà nước Việt Nam tổ chức. Blogger Dân Nguyễn so sánh con số đó với những trí thức, những người cựu cộng sản trong nước bị đàn áp, và tác giả cho rằng buổi họp chỉ là một sự mỵ dân:

Chưa bao giờ” Cộng Sản Việt Nam có chủ trương hoà giải, họ chỉ chủ trương đại đoàn kết hay hoà hợp, tức là muốn nạn nhân của họ phải thần phục họ, phải “bó thân về với triều đình”, phải chấp nhận là thần dân của họ.
-Ông Lê Minh Nguyên

Các ông còn bày đặt việc “tạo điều kiện thuận lợi cho kiều bào tham gia góp ý xây dựng…”!? Mỵ dân như rứa là xưa lắm rồi. Biết bao “trí thức xã hội chủ nghĩa”, và cả trí thức (không xã hội chủ nghĩa), những con người tâm huyết với xã tắc, ngày đêm góp ý với các ông, bằng miệng có, văn bản có, các ông còn không thèm nghe, thậm chí còn đe nẹt, hăm dọa và cả tống vào tù. Nhiều “Lão thành cách mạng”, những người đáng bậc cha chú các ông về tuổi đời, tiền bối các ông về tuổi đảng và cả sự cống hiến…góp ý, các ông còn khinh lờn bỏ ngoài tai… “Việt kiều yêu nước” là cái thá gì?

Hơn 4 triệu kiều bào, liệu có được 500 “Việt kiều yêu nước”? Và trong 500 Việt kiều hôm rồi hiện diện tại cái thành phố từng là Hòn ngọc Viễn Đông xưa, liệu có mấy người “yêu nước” theo quan niệm “Yêu” của các ông?

Từ trong nước, blogger Nguyễn Lân Thắng cho rằng nếu nhà nước cộng sản Việt Nam thực tâm mong muốn hòa giải thì họ phải có những hành động khác:

Tôi nghĩ cách để hoà giải tốt nhất là những người cộng sản hãy tự khép lại thời đại độc tài đảng trị, tuyên bố bầu cử tự do, sửa đổi hiến pháp… những nạn nhân của chế độ này có lẽ hầu hết không cần lời xin lỗi, không cần đền bù những gì đã mất trong quá khứ… Tất cả chúng ta cần một nước Việt Nam trong tương lai không còn tồn tại một chế độ độc tài đè lên đầu lên cổ nhân dân..

Về hành động mang cờ đỏ sao vàng của ông Lê Đình Hùng, nhiều blogger hỏi ông rằng khi làm việc đó ông có nghĩ rằng nếu mang cờ vàng ba sọc đỏ của Việt Nam Cộng Hòa đứng tại Sài Gòn thì sẽ bị như thế nào hay không?

Tuy vậy, Luật sư Lê Công Định cũng cho rằng ý của ông Hùng là có thực tâm:

Khi tranh cử Quốc hội khoá 14 vừa rồi anh Lê Đình Hùng (Hùng Cửu Long) tuyên bố trong chương trình tranh cử của mình ý định trùng tu nghĩa trang Biên Hoà của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà.

Đó là hành động cụ thể để hoà giải đôi bên tham chiến trong quá khứ mà anh chủ xướng. Chưa thấy ứng cử viên đại biểu quốc hội nào dám làm vậy. Cũng chưa thấy những người luyến tiếc chế độ Sài Gòn ở đây lên tiếng ủng hộ ý định đó của anh.

hung-cuu-long-622.jpg
Ông Hùng Cửu Long ở khu Phước Lộc Thọ, California. Photo by Nguyen Van Ly

Mang cờ cộng sản sang thủ đô người Việt tị nạn cộng sản có khác nào chuyện đại náo thiên cung của Tề Thiên trong Tây Du Ký. Hoà giải đâu không thấy chỉ thấy chọc giận cộng đồng. Lẽ ra anh nên suy xét khía cạnh này trước khi nhập vai Tề Thiên.

Giữa muôn vàn lời công kích anh lúc này, tôi nghĩ bà con Việt Nam tị nạn cộng sản cũng nên xét đến kế hoạch trùng tu nghĩa trang Biên Hoà của các binh sĩ Việt Nam Cộng Hoà để thấy ý tưởng tốt đẹp và thành thật của anh Hùng.

Tôi đoan chắc rằng nhiều vị đòi đuổi cổ anh hôm qua có người thân đang yên nghỉ tại nghĩa trang đó. Nếu kế hoạch của anh được thực thi, có phải anh sẽ thay mặt nhiều bà con không thể hồi hương góp công sức hương khói cho thân nhân của mình không? Tuy chưa làm được, nhưng tấm lòng của anh Hùng rất đáng ghi nhận.

Bức tường than khóc và dân oan

Trong lúc ấy thì Quốc hội Việt Nam họp.

Lấy điển tích lịch sử bức tường than khóc tại Do Thái, blogger Cánh Cò viết:

Ở Việt Nam cũng có một bức tường than khóc như thế.

Mỗi năm một lần bức tường than khóc xuất hiện tại Quốc hội qua hình ảnh của 500 ông bà đại biểu như những viên gạch được người dân gửi tới nằm chồng lên nhau. Những viên gạch lằng nghe sự than khóc của những ông Bộ trưởng qua các báo cáo, chất vấn và những câu trả lời “nhận khuyết điểm” như tiếng than khóc của những đứa bé chưa trưởng thành được giao cho vai trò ngồi trên đầu thiên hạ.

Bức tường ấy đôi khi cũng giận dữ hay phê phán với một chừng mực nhất định để rồi cuối cùng nhận tấm giấy “hứa” nhét vào khe hở vốn toang hoác vì trơ trẽn.

Bức tường than khóc năm nay bị quá tải. Quá tải bởi sự than khóc của các Bộ trường trở nên đông đúc và khôi hài hơn.

Mỗi năm một lần bức tường than khóc xuất hiện tại Quốc hội qua hình ảnh của 500 ông bà đại biểu như những viên gạch được người dân gửi tới nằm chồng lên nhau.
-Blogger Cánh Cò

Nói theo cách của blogger Cánh Cò, thì năm nay, những lời than khóc đáng được chú ý hơn cả là của các ông Bộ trưởng Công thương, Giáo dục. Ông Bộ trưởng Công thương phải giải trình việc cựu nhân viên của Bộ này bị truy tố tham nhũng và trốn ra nước ngoài mất tích. Vị Bộ trưởng Giáo dục lại gây giận dữ cho cả truyền thông tự do lẫn truyền thông nhà nước, khi bảo vệ cho một số quan chức ngành giáo dục trong vụ bê bối điều giáo viên nữ tiếp quan chức cấp trên.

Bên ngoài Việt Nam, các tổ chức nhân quyền trao giải thưởng cho hai nông dân bị mất đất vì sự hy sinh của họ trong việc mưu tìm công lý.

Một số người lên tiếng chỉ trích rằng những người nông dân này chỉ hành động cho riêng lợi ích bản thân của họ, không phải là công việc dân chủ hóa nói chung.

Nhiều blogger không đồng tình với những chỉ trích này.

Lin mục Phan Văn Lợi, một người đấu tranh cho tự do tôn giáo viết:

Dân oan khi tranh đấu đòi lại đất chính là đánh vào nguyên tắc mang tính chất và hậu quả chính trị: “Nhà nước sở hữu đất đai” hết sức vô lý và phi pháp, khiến mọi người ý thức rằng đó là một nguyên tắc không thể chấp nhận.

Giải Nhân quyền Việt Nam trao cho bà Cấn Thị Thêu và bà Trần Ngọc Anh năm nay là lời công nhận phong trào dân oan đấu tranh đòi đất chính là đòi nhân quyền, và qua nhiều hành động khác, họ là một lực lượng đấu tranh nhân quyền rất đáng khâm phục và rất đáng được hỗ trợ. Đừng cho rằng đó là lợi dụng họ, là xúi bẫy họ kiểu “xịt chó vô gai”, là đẩy họ vào trò chính trị nguy hiểm! Không có những lực lượng quần chúng như nông dân, công nhân, ngư dân, tín đồ, thì những “bộ óc dân chủ” thông minh cũng chẳng làm gì được.

Một người tên là Nguyễn Thị Bích Nga viết trên mạng xã hội:

Các vị bảo, “Dân oan chỉ đấu tranh cho quyền lợi của chính mình.” Vâng, rất đúng. Và đó là cách đấu tranh đúng. Con người có các nhu cầu chính đáng và các nhu cầu đó cần được tôn trọng như: quyền được sống, được tự do thể hiện chính kiến, tự do tín ngưỡng, có quyền tư hữu, quyền bất khả xâm phạm thân thể… Khi một trong các nhu cầu này bị xâm phạm bởi tập đoàn độc tài, họ lên tiếng đấu tranh cho chính mình thì có gì sai? Các vị cho rằng phải đấu tranh cho người khác thì mới cao cả còn đấu tranh cho chính mình là thấp kém? Đó là một nhận định hết sức sai lầm và vô hình trung làm chia rẽ lực lượng đấu tranh ra làm hai thành phần.

Nhiều blogger cũng như những gương mặt đấu tranh cho dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam cho rằng sự chia rẽ đó là có thật.

Blogger Viết từ Sài Gòn so sánh lực lượng những người hoạt động cho dân chủ với những người cộng sản đang cai trị đất nước:

Hiện tại đã có hơn 60 tổ chức và đảng phái hoạt động công khai, bán công khai và manh nha hình thành. Nhưng có một thực tế: Không có đảng nào hội tụ được chừng 5 triệu đảng viên. Rất khó tìm ra một đảng phái có đủ ma lực để thu hút hàng trăm triệu người dân. Mặc dù người dân vẫn nhìn thấy cái sai của đảng Cộng sản, vẫn nhìn thấy sự gian ác, tham lam và dối trả của họ. Nhưng ma lực của họ vẫn mạnh nhất. Đây là sự thật không thể chối bỏ. Không phải vì nhân dân ngu ngốc, mà vì ma lực của các đảng phái, tổ chức chưa đủ mạnh, phải nhìn thẳng vào sự thật này.

Đây là một thực tế. Đảng Cộng sản, qua 41 năm nắm quyền bính và dày vò đất nước này, họ có trong tay một hệ thống quân đội, nhà nước, công an, ngân hàng, bệnh viện, phương tiện tuyên truyền và đặc biệt là tài nguyên con người và tài nguyên đất đai, họ đã dùng chính sách mị dân “sở hữu toàn dân, nhà nước quản lý” để nắm toàn bộ.

Luật sư Lê Công Định, người từng bị chính quyền cộng sản bỏ tù vì những tư tưởng cải cách chính trị của ông cũng kêu gọi mọi người phải nhìn nhận một thực tế là vai trò của đảng cộng sản vẫn rất mạnh trong xã hội Việt Nam hiện tại:

Dù bị mọi người chỉ trích vì các chính sách trong quá khứ và hiện tại, thú thật Đảng Cộng sản vẫn là tổ chức hùng mạnh nhất. Do đó, để giải quyết các vấn nạn của xã hội ngày nay, vai trò của họ vẫn còn rất quan trọng. Đây là sự thật không thể bác bỏ.

Viết về sự không đồng nhất trong những người đối kháng tại Việt Nam, blogger Đoan Trang cho rằng:

Viết những dòng này, tôi chỉ mong những người Việt Nam trong và ngoài nước, nếu quan tâm đến công cuộc đấu tranh cho dân chủ ở Việt Nam, xin đừng ảo tưởng rằng cứ hễ là nhà hoạt động thì là người tốt, đáng tin cậy.

Cũng xin đừng thất vọng tổng kết, khái quát chung rằng toàn bộ phong trào dân chủ chỉ gồm những người coi “đấu tranh này là trận kiếm tiền”.

Và nhất là, hãy cứ tin dân chủ, tự do là những giá trị tốt đẹp phổ quát, mà hàng chục, hàng trăm hay thậm chí hàng nghìn cá nhân xấu cũng không đại diện cho chúng được.

Những giá trị phổ quát mà blogger Đoan Trang đề cập, ngày càng thấm sâu vào xã hội Việt Nam hiện đại hơn, khi những người dân bình thường nhất đã xuống đường bảo vệ môi trường, và gần đây nhất là nhiều công dân trẻ tại Sài Gòn thể hiện sự phản kháng của mình bằng cách kéo những con cá bằng giấy trên đường phố, một hành động mà blogger Điền Phương Thảo viết trên trang Tin mừng cho người nghèo rằng người dân đã hiểu những việc làm chính đáng và đã vượt qua nổi sợ bị chụp mũ là làm chính trị. Vì chỉ có làm chính trị như thế, blogger Điền Phương Thảo viết tiếp, mới kéo đất nước này ra khỏi những vũng lầy, mà thảm họa Formosa chỉ là một.

VĨNH BIỆT NHÀ ĐỘC TÀI FIDEL CASTRO

Image may contain: 3 people

Ảnh : chủ tịch nước Trần Đại Quang mới yết kiến Fidel Castro vài ngày thì nhà độc tài lăn ra chết ( 1926-2016)

Tran Manh Hao Follow

VĨNH BIỆT NHÀ ĐỘC TÀI FIDEL CASTRO

Thơ Trần Mạnh Hảo

( Đề dẫn : người vợ đầu tiên của Fidel Castro là bà Mirta Diaz Balart bỏ trốn sang Mỹ lưu vong vì không chịu được chế độ độc tài tàn bạo của chồng; ngày 19/12/1993, con gái Fidel Castro là cô Alina Fernandez Revuelta cũng trốn sang Mỹ định cư từ bỏ địa ngục trá hình thiên đường Cuba của cha mình. Vợ và con Fidel Castro luôn đi đầu trong các cuộc biểu tình chống Fidel của dân Cuba lưu vong tại Mỹ)

Cả hòn đảo bị tù
Vợ con Ngài bỏ trốn
Dùng học thuyết đại ngu
Nhốt dân vào nguy khốn

Vĩnh biệt nhà độc tài
Nhân dân mừng khôn xiết
Chủ nghĩa của các Ngài
Cũng đã về cõi chết !

Sài Gòn 27-11-2016

T.M.H.

httpv://www.youtube.com/watch?v=KxgN91FrY5I

Hàng trăm người Cuba lưu vong ăn mừng trước cái chết của Fidel Castro ở Florida

Chính Đảng Hay Băng Đảng?

Chính Đảng Hay Băng Đảng?

 Tạp Ghi Huy Phương

 bang-dang

Đảng viên đảng Cộng Sản Việt Nam tham dự đại hội lần thứ 12. (Hình: KHAM./AFP/Getty Images)

Ngày 13 Tháng Mười, Ngoại Trưởng John Kerry đến vùng Silicon Valley của California tham dự một cuộc hội thảo bàn tròn về an ninh cũng như vai trò của Internet đã và đang làm thay đổi thế giới, do tổ chức Virtuous Circle mời ông làm diễn giả. Tại đây, trong bài diễn văn, ông Kerry cho rằng tại Việt Nam hiện nay, không còn chủ nghĩa Cộng Sản, mà đó chỉ là một xứ độc tài đảng trị nhưng theo đuổi chủ nghĩa tư bản “cuồng nhiệt.”

Ông John Kerry nói trong buổi hội luận này như thế và cho rằng Việt Nam hiện chỉ là một nước hăm hở đuổi theo tư bản chủ nghĩa mà trong đó người dân tiếp cận được với Internet. Ông Kerry nhìn nhận rằng nước Việt Nam “theo thời gian, đang có dấu hiệu thay đổi,” nhưng bây giờ vẫn còn là “một nước độc tài độc đảng và vẫn còn đàn áp nhân quyền bên cạnh những vấn đề khác.” Ông cũng nói thêm: “Cộng Sản là một lý thuyết kinh tế, và bạn không thấy một chút hơi thở nào của chủ nghĩa Cộng Sản tại Việt Nam.”

Đảng Cộng Sản Việt Nam là đảng cầm quyền tại Việt Nam hiện nay đồng thời là chính đảng duy nhất được phép hoạt động trên đất nước Việt Nam. Theo cương lĩnh và điều lệ chính thức được công bố hiện nay, đảng Cộng Sản Việt Nam là “đại biểu trung thành” của liên minh giai cấp công nhân, nông dân và lấy chủ nghĩa Mác-Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm kim chỉ nam cho mọi hoạt động của đảng.

Bề ngoài, đảng Cộng Sản là một chính đảng, nhưng thực chất hiện nay là một băng đảng có phân chia ngôi thứ, cấu kết khắng khít với nhau vì quyền lợi.
Nói đến “chủ nghĩa” và “tư tưởng” thì liệu rằng 4.5 triệu đảng viên, 200 ủy viên trung ương, và 19 ủy viên Bộ Chính Trị đảng Cộng Sản Việt Nam hiện nay có tin rằng chủ nghĩa Cộng Sản đem lại no ấm cho nhân loại, Hồ Chí Minh là vị cứu tinh của dân tộc Việt Nam hay không? Tôi tin rằng tất cả đều không, nhưng những người này vẫn giả vờ dối trá với nhau, dối trá với cả nước, dối cả với mình, dối với vợ con, để giả vờ tin đảng. Không ai dám nói thật với ai, để vin vào sự gắn bó keo sơn vì quyền lợi thiết thân của họ. Đảng không còn thì số đông quyền lực này không còn gì để bám víu vào nhau như bầy nghêu, hà bám vào ghềnh đá.

Trong hội trường, dinh cơ, những người Cộng Sản hôm nay vẫn còn treo cờ búa liềm, hình Lenin, hình Karl Mark, và hình tượng Hồ Chí Minh, như thể họ tôn sùng và tin tưởng vào những hình ảnh ấy. Thực tế là không! Họ tự dối mình, với lương tâm mình, giả dối với đồng chí và quần chúng chung quanh mình, để có địa vị và được sống còn. Không ai có thể nói khác, cười khác đi, mà không theo đường lối đã quy định của đảng.

Họ cam phận hèn khi biết mình bị dối trá, bản thân mình cũng dối trá và cư xử với người khác cũng dối trá, y như Alexander Solzhenitsyn đã lên án: “Mình thà ở lại đàn làm một thằng hèn. Sao cũng được, miễn no bụng ấm lưng thì thôi…”

Nhưng dư luận gần đây cũng đã nêu lên câu hỏi: Chống Cộng? Bây giờ làm gì còn Cộng Sản mà chống? Không còn Cộng Sản để chống, nhưng phải chống lại với băng đảng và cái ác đang thống trị đất nước.

Băng đảng có cơ chế và qui luật của băng đảng, nhất là chuyện chia chác quyền lợi. Sau một vụ cướp nhà băng, việc đầu tiên của bọn cướp là kiếm chỗ để tụ họp chia tiền. Ngày xưa Việt Minh đi đánh đồn Tây, hay phục kích “con voi, “chiếm được đồn hay chiếm được xe là có gạo, có đường, có bơ, có thịt hộp, ai cũng hăng hái. Đánh thắng miền Nam, chiến lợi phẩm đầu tiên là 16 tấn vàng, trả nợ máu xương hay Bộ Chính Trị chia chác, bấu véo với nhau thì đã rõ. Rồi sau đó cơ man là gạo, đường, bột mì, sắt thép, xi măng, đồ điện khí, xe cộ, từ cái quạt máy, chiếc đồng hồ cho đến cái TV, bom đạn, máy bay, xe tăng… gấp triệu lần một lần đánh đồn Tây.

Đất nước “thu về một mối,” có quyền lực trong tay rồi, thì nhân dân, tài năng mà không có đảng, không ở trong băng đảng phải lo tìm đường bỏ nước ra đi. Tài năng của đất nước, chuyên viên cấp cao được đào tạo từ nước ngoài, trừ Liên Xô, không ai dùng. Chúng ta nhìn xem chuyện chia chác quyền lực của đảng Cộng Sản Việt Nam ra sao?

Theo cơ cấu của đảng, 19 ủy viên Bộ Chính Trị, đương nhiên nắm giữ tất cả những cương vị chủ chốt trong đảng và nhất là trong bộ máy chính quyền: Chủ tịch nước, thủ tướng, chủ tịch Quốc Hội, phó thủ tướng thường trực, bộ trưởng Bộ Quốc Phòng, bộ trưởng Bộ Công An, bộ trưởng Bộ Ngoại Giao, những người này được gọi là “các cán bộ chủ chốt của đảng và nhà nước.”

Hai trăm ủy viên trung ương đảng nắm giữ tất cả vị trí then chốt của quốc gia, không ai ngoài đảng được lọt vào như bí thư tỉnh, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành, các bộ trưởng, thứ trưởng trong chính phủ, các tướng lãnh tư lệnh các binh chủng, các quân khu cho đến các ngành quan trọng của quốc gia như các đại học quốc gia, công ty hàng không, ngân hàng, đài truyền hình, thông tấn xã, viện kiểm sát nhân dân…

Việt Nam hiện nay có 4.5 triệu đảng viên Cộng Sản thì được phân phối, chia nhau trong các lãnh vực công quyền, từ chức giám đốc, trưởng ty, trưởng, phó phòng cho đến anh công an đứng đường thổi còi phạt mang đến cấp bậc trung tá, không một con muỗi ngoài đảng nào lọt được vào trong lưới quyền lực. Ai cũng có đặc quyền, đặc lợi, nên ai cũng ôm đảng và giữ đảng cho đến chết.

Đại hội đảng Cộng Sản lần thứ 11 năm 2011 chỉ có 3.6 triệu đảng viên, sang đến đại hội 12 năm 2016, số đảng viên tăng lên tới 4.5 triệu, rõ ràng là đảng có chủ trương lấy thịt đè người, tăng nhân sự, thêm vây cánh, thêm quyền lợi để giữ đảng.

Ali Baba chỉ có vây cánh là 40 tên cướp. Đảng nay có đến 4.5 triệu tên cướp. Câu thần chú của Ali để mở và đóng cửa hang động chứa kho tàng là: “Vừng ơi! Mở ra!” và “Vừng ơi! Đóng lại,” nay câu thần chú của đảng là: “Chủ nghĩa Mác- Lenin bách chiến bách thắng” và câu kinh nhật tụng là: “Hồ chủ tịch sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta!”

Xin nhắc lại câu nói của Ngoại Trưởng Hoa Kỳ John Kerry, có thể là một câu nói để đời: “Tại Việt Nam hiện nay, không còn chủ nghĩa Cộng Sản, mà đó chỉ là một xứ độc tài đảng trị nhưng theo đuổi chủ nghĩa tư bản ‘cuồng nhiệt.’”

Hiện nay chính đảng không còn, mà chỉ còn là băng đảng!

Huy Phương

NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HÓA NGỤY BIỆN


From facebook:  Suong Quynh

NGƯỜI VIỆT VÀ VĂN HÓA NGỤY BIỆN

Có một thói quen rất nguy hiểm mà người Việt thường xuyên sử dụng trong giao tiếp, đó là thói quen ngụy biện. Thói quen này đã lây nhiễm một cách vô hình từ giao tiếp thường nhật, từ tâm lý thắng thua khi tranh cãi, và nhất là trong cộng đồng cư dân mạng…

Ngụy biện hay Fallacy là khái niệm để chỉ những cách lập luận tưởng chừng là đúng, nhưng thực chất lại là sai lầm và phi logic trong tranh luận. Ngụy biện có thể biến một vấn đề từ sai thành đúng, và từ đúng trở thành sai. Ngụy biện có thể dẫn đến những cái nhìn sai lệch và tư duy sai lầm mà chính bản thân người nói cũng không nhận ra được.

Những ai đã có kiến thức về ngụy biện đều hiểu một điều đáng buồn rằng: Người Việt rất hay ngụy biện và tư duy ngụy biện! Chúng ta đều biết hai chữ “ngụy biện”, nhưng liệu chúng ta có thật sự hiểu về nó? Bạn có tin rằng tại Việt Nam, ngụy biện đã cướp đi mạng sống của con người?

Người Việt và “văn hóa” ngụy biện

Trên thế giới, ngụy biện đã trở thành một kiến thức được biết đến rộng rãi, và các nhà nghiên cứu đã thống kê khoảng trên dưới 100 loại ngụy biện khác nhau. Đáng tiếc là tài liệu về ngụy biện tiếng Việt chỉ có một vài nguồn, đó là trang GS Nguyễn Văn Tuấn, trang Thư viện khoa học, hay trang “Ngụy biện – Fallacy” của TS. Phan Hữu Trọng Hiền.

Dưới đây xin được tổng hợp lại 9 câu “ngụy biện” điển hình của người Việt đã được nêu ra tại các nguồn tài liệu trên:

  1. “Nhìn lại mình đi rồi hẵng nói người khác”

Mình làm sai thì là sai rồi, sao lại không nhận sai, không nói thẳng vào vấn đề “mình sai” mà lại quay qua tìm điểm yếu của người khác? Việc này cũng giống như là khi nhận được góp ý: “Viết sai chính tả rồi kìa”, thì thay vì sửa sai, bạn lại bốp chát: “Thế mày chưa viết sai bao giờ à?”

  1. “Có làm được gì cho đất nước đâu mà to mồm”

Người ta có làm được gì hay không thì là điều mình chưa biết, hơn nữa bạn đã “lạc đề” rồi. Vấn đề người ta nêu ra thì bạn không trả lời, không đưa ra luận điểm logic, mà lại đi đường vòng, chuyển qua công kích người khác.

  1. “Nó ăn trộm chó thì cứ đánh cho nó chết”

Lập luận này đã khiến cho những kẻ trộm chó vốn không đáng phải chết bị giết chết bởi chính những người dân tưởng chừng “lương thiện”. “Ăn trộm chó” là sai, nhưng “giết người” cũng là sai, hai sai thì không phải là một đúng, mà là sai lại càng sai.

  1. “Làm được như người ta đi rồi hãy nói”

Lại một hình thức “lạc đề”. Luận điểm mà người ta đưa ra thì bạn không xoay quanh mà bàn luận, lại cứ phải công kích cá nhân người khác thì mới vừa lòng sao?

  1. “Nếu không hài lòng thì cút xéo ra nước ngoài mà sinh sống”

Lời nói này không chỉ đánh lạc hướng vấn đề, mà còn rất bất lịch sự, chuyên dùng để làm người đối diện tức giận, chứ chẳng có một chút logic nào trong đó cả.

  1. “Chỉ có những người chân lấm tay bùn từ nhỏ mới là người cần cù chăm chỉ xây dựng đất nước”

Câu khẩu hiệu này đã từng xuất hiện ở Việt Nam trong quá khứ. Người ta có câu “vơ đũa cả nắm”, ấy chính là để chỉ việc lập luận cảm tính, khái quát cảm tính, mà không hề đưa ra logic hợp lý nào cả. Cũng như vậy, khi phân chia giai cấp và tuyệt đối hóa đấu tranh giai cấp, thì người ta đã mắc sai lầm ngụy biện, ví như chủ đất không nhất định là xấu, chủ doanh nghiệp cũng không nhất định là xấu, và người làm công ăn lương hay nông dân chắc gì đã là một người tốt cần cù chăm chỉ?

  1. “Nước nào mà chẳng có tham nhũng”

Vì nước nào cũng có tham nhũng nên Việt Nam được phép có tham nhũng hay sao? Vì mọi người đều vượt đèn đỏ nên tất nhiên tôi cũng phải vượt đèn đỏ? Vì xã hội thiếu gì nghiện hút nên trong nhà có người hút chích cũng là bình thường?

  1. “Nếu anh là họ mà anh làm được thì hẵng nói”

Đặt mình vào vị trí người khác là một tiêu chuẩn người xưa dùng để tu sửa bản thân, hướng vào bản thân tìm lỗi, là một nét văn hóa rất độc đáo của phương Đông. Tuy nhiên câu nói đó chỉ sử dụng khi một người tự răn mình, chứ không phải là một câu nói dùng trong tranh luận. Việc sử dụng nó trong tranh luận không chỉ là sự bịt miệng những phê bình của người khác, không giải thích các luận điểm của người khác, mà còn chứng tỏ rằng chúng ta đang phá hoại và lãng quên văn hóa truyền thống của chính mình.

  1. “Tại sao anh dám nói chúng tôi sai? Anh là một tên phản bội dân tộc”

Kiểu lập luận chụp mũ này mặc nhiên coi mình là đúng, họ là sai, và những người đồng quan điểm với họ cũng là sai. Nó không hề đưa ra một thứ logic nào, nhưng lại cắt ngang một cái giới tuyến, và tùy tiện định tội cho người khác.

Tất nhiên đây mới chỉ là những câu ngụy biện cơ bản nhất, thường thấy nhất. “Văn hóa ngụy biện” đã ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn, muôn hình vạn trạng, và luôn ẩn giấu trong tư duy của người Việt. Vậy nguyên nhân của thói quen này là từ đâu?

Trong phần nhiều các lỗi ngụy biện thường gặp của người Việt, có một tâm lý cơ bản hiện rõ ra khi tham gia thảo luận, đó chính là tâm tranh đấu, hiếu thắng, và không hề tôn trọng người đối diện. Ngoài đó ra, chúng ta cũng hay bị ảnh hưởng của tâm lý đám đông, lợi dụng tâm lý đám đông để che đi trách nhiệm của bản thân mình.

Muốn tránh cách tư duy ngụy biện, chúng ta không những phải sửa lối tư duy vòng vo, thiếu suy nghĩ, mà còn phải sửa chính từ tâm thái của mình khi trao đổi và luận bàn về mọi việc. Điều cơ bản nhất khi tham gia tranh luận là có trách nhiệm trong lời nói của chính mình và biết tôn trọng người đối diện.

Quang Minh tổng hợp
NTV st

Từng bước từng bước thầm

“Từng bước từng bước thầm”
Hoa vòng rừng tuyết trắng
Rặng thông già lặng câm
Em yêu gì xa vắng
Cho trời mây ướp buồn.”

(Y Vân – Những Bước Chân Âm Thầm)

 (Thư Rôma 5: 5-8)

Trần Ngọc Mười Hai

Ấy chết! “Những Bước Chân Âm Thầm” ở đây, phải chăng là những bước rất “chập-chững” đi vào giòng đời, của người vừa mới lớn, chứ?

Ơ kìa! Đã âm-thầm bước những bước chập chững rồi, sao lại có “Mưa giữa mùa tháng Năm”, và  “Gió rét về lạnh căm” như câu tiếp:

“Từng bước từng bước thầm
Mưa giữa mùa tháng năm
Tay đan sầu kỷ niệm
Gió rét về lạnh căm
Từng bước chân âm thầm.

Anh yêu tình nở muộn
Chiều tím màu mến thương
Mắt biếc sầu lắng đọng
Đèn thắp mờ bóng đêm.

Từng bước từng bước thầm
Khi người yêu không đến
Tuổi xuân buồn lặng căm
Đi trong chiều mưa hoang
Đời biết ai thương mình.”

(Y Vân – bđd)

À thì ra! Sở dĩ anh có “những bước chân âm thầm”, là bởi vì “khi người yêu không đến”, thế nên “tuổi xuân buồn lặng căm”  “đời biết ai thương mình”!

Vâng. Thế đó, còn là tâm tình ở buổi “Hát Cho Nhau Nghe” đêm mồng 5 tháng 11 năm 2016 ở Sydney hôm ấy, đã thấy 4 chàng “hát sĩ” với tuổi đời “không còn trẻ” là: Uông Thế Công, Vũ Hùng, Quang Thắng, Vũ Nhuận nhưng vẫn hiên ngang bước vào lằn sáng sân khấu, mở đầu Chương Trình Nhạc chủ-đề “Nhạc Thơ Tràn Muôn Lối”. Thế đó, còn là tình-tự luẩn quẩn bên người nghe khiến mọi người quên cả ngủ/nghỉ dù trời đêm Sydney hôm ấy không mấy nóng đến quá độ.

À thì ra! Cứ vui chơi ca hát suốt đêm dài dầy đặc, bạn sẽ nghiệm ra rằng: có nhiều bước âm thầm, lặng câm, êm ấm đang đi vào giòng đời, để rồi người người lại sẽ nhận ra là “đời biết ai thương mình…” 

À thì ra! Có bước những bước chân “âm thầm” như thế cũng đã đi vào nhà Đạo, để rồi bạn và tôi ta lại thấy: đời người đi Đạo cũng xôn xao, chộn rộn vì những thắc mắc của người em nho nhỏ ở miền quê xa vắng, chạy đến hỏi han các đấng bậc những câu sau đây:

“Thưa Cha,

Con đây giống hệt mọi người từng được học Giáo lý/Sách Phần dạy rằng: Đạo-lý Chúa dạy, tóm lại chỉ gồm hai điều thôi: trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, sau lại yêu người như mình ta vậy. Đương nhiên là như thế. Nhưng đôi lúc, con đây lại thấy rằng: trên thực-tế, con thường vẫn yêu chồng thương con còn nhiều hơn cả Chúa Trời, thế mới chết! Vậy nên, câu hỏi con đưa ra hôm nay, là: Điều-răn tóm gọn ở câu kinh: Trước: kính mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, nghĩa là gì? Xin Cha giải-thích giúp con qua cơn trầm-thống rất ưu tư này nhé. Được thế, con cảm ơn cha nhiều vô kể. Ký tên: Một nữ giáo-dân họ đạo nhỏ, hiểu biết lẽ Đạo cũng rất ít.”

 Không cần biết nữ giáo-dân ở xứ đạo lớn/nhỏ hiểu biết nhiều nhặn ra sao, nhưng nếu chị hỏi điều gì là có ngay đấng bậc ở toà báo sẵn sàng chỉ chờ cho có người hỏi, là Đức thày John Flader của tờ The Catholic Weekly có ngay một lời bàn như sau:

“Có nhiều cách để thấy được là ta thường thương-yêu mến-mộ người này nhiều hơn kẻ khác. Một, là: do cường-độ tình-cảm ta đặt nơi người này, hơn hẳn người kia. Theo cách như thế, ta thường trải-nghiệm tình-cảm thương-yêu gia-đình hoặc bạn-bè cả Chúa.

Cuối cùng ra, thì: trong đời mình, những người như thế là người ta sờ chạm được. Và, những người này bày-tỏ tình họ thương ta cách hiển nhiên theo đó đã đánh động ta để có được tình thương mạnh mẽ đối với họ. Trong khi đó, Thiên-Chúa là Đấng ta không thấy được bằng mắt thịt hoặc không nghe được bằng đôi tai nhỏ bé của ta và như thế cũng là chuyện tự-nhiên giúp ta thấy được là mình không thể cảm-nghiệm cùng một cường-độ yêu thương Ngài như ta vẫn làm cho một số người. 

Cả đến các thánh cũng không hề cảm-nghiệm cùng một tình-tự thương-yêu đối với Chúa, vào mọi lúc. Mọi người chúng ta đều biết là thánh Têrêsa thành Calcutta cũng từng một thời cảm-nghiệm lòng đạo khô-khan rất nhiều lúc, tức có nghĩa: cứ thấy Thiên-Chúa vắng mặt, thấy bóng tối dầy đặc bao trùm hồn ngài trong suốt 50 năm cuộc đời ngài.  

Tình thương-yêu đích-thực đối với Chúa không là kinh-nghiệm ta có qua cảm-xúc mà qua hành-động. Thánh Gioan Tin Mừng có viết trong thư thứ nhất đoạn 3 câu 18 vẫn nhắc nhở: “Hỡi anh em là những người con bé nhỏ, chúng ta đừng yêu thương nơi đầu môi chót lưỡi, nhưng phải yêu thương cách chân thật và bằng việc làm.”      

 Chính Đức Giêsu vẫn mời gọi ta yêu-thương Ngài theo cách này: “Nếu anh em yêu mến Thầy, anh em sẽ giữ các điều răn của Thầy.” (Ga 14: 15) Giả như các thánh không lại thấy mình không yêu-thương Chúa, thì các ngài cũng luôn luôn tỏ-bày tình thương-yêu của các ngài qua hành-xử, bằng việc thực hiện ý-định của Thiên-Chúa, thôi.

Con người lại có lúc thấy mình yêu-thương người này hơn người khác, là cung-cách mà ta gọi là yêu-thích thứ này hơn thứ kia. Đây, không là cường-độ cảm-xúc nhưng đúng hơn, là: sự yêu-thích người này thương yêu một người khác, trong ý-chí. Cả vào khi ta có thể yêu-thương con người với nhiều cường-độ xúc-cảm hơn là ta cảm-nghiệm trong tình thương ta có đối với Chúa; khi đó, ta lại ưa để mất tình thương-yêu của người ấy hơn là mất đi lòng thương Chúa và cùng với lòng thương này là sự sống vĩnh-cửu đối với Ngài. 

Chính Đức Giêsu cũng từng nói đến sự yêu-thương chọn lựa ở Tin Mừng thánh Mát-thêu đoạn 10 câu 37 sau đây: “Ai yêu cha yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai con gái hơn Thầy, thì không xứng với Thầy.”         

Rõ ràng là, điều mà Đức Giêsu qui-chiếu ở đây là về sự yêu-thích, chứ không phải cảm-giác thương-yêu. Nói cho rõ, Ngài muốn ta thương-yêu các thành-viên gia-đình của ta cũng hệt như ta yêu Chúa, như Tin Mừng thánh Luca đoạn 10 câu 27 còn nói rõ: “Trong Luật đã viết gì? Ông đọc thế nào?” Ông ấy thưa: “Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết sức lực, và hết trí khôn ngươi, và yêu mến người thân cận như chính mình.”

Và sách Đệ Nhị Luật đoạn 6 câu 5 lại cũng nóiHãy yêu mến Đức Chúa, Thiên-Chúa của anh em hết lòng hết dạ, hết sức anh em.” Thế nhưng, rõ ràng là Ngài những muốn ta yêu-thương Ngài hơn người lân cận, và cả các thành-viên trong gia-đình mình nữa…

Nói tóm lại, ta càng chứng-tỏ rằng ta yêu Chúa bằng cách kiên-trì nguyện-cầu sám-hối, bằng việc đón-nhận các phép bí-tích và làm theo ý Chúa trong mọi việc, tức là ta cũng sẽ chuẩn-bị hy-sinh tất cả mọi sự còn hơn để mất tình thương-yêu Thiên-Chúa.” (X. Lm John Flader, Is it OK if I love my kids and husband more than God, The Catholic Weekly, 25/9/2016, tr. 22)

 Lời giải-đáp của đấng bậc ở nhà Đạo, nghe rất quen. Quen, đến độ mọi người đều thuộc lòng vì tuần nào cũng đọc kinh kệ có những lời như thế. Đọc hết “10 điều răn Đức Chúa Trời”, lại đến “6 điều răn Hội thánh”, và còn “8 mối phúc thật”, rồi đến “Thương người có mười bốn mối”, ôi thôi cộng lại cũng rất nhiều. Nhiều đến độ người đọc thuộc như cháo, nhưng chẳng biết rằng mình sẽ thực hiện được bao nhiêu? Bằng chứng, là kẻ “ăn xin” ngồi ở cửa nhà hờ vẫn xếp hàng dài ngồi ở đó, đến quen mặt.

Trước cửa nhà thờ, thì như thế. Còn, trước cổng chùa thì sao? Câu trả lời, nay mời bạn và mời tôi, ta nghe truyện kể nhẹ ở dưới, sẽ biết ngay:

“Truyện rằng:

Có một ông lão kéo một xe gạo nặng nề đang lê bước trên đường vừa đi vừa thở hổn hển… Trong có vẻ rất mệt, bánh xe chao đảo va vào một cục đá bên đường, làm cả xe gạo đổ nhào xuống hết… Ông lão cố hết sức nâng xe gạo lên, nhưng trong tình thế bất lực và mệt mỏi mồ hôi nhễ nhại, trời thì nắng chang chang…Thế là ông ngồi bệch xuống đất luôn…

 Trong khi nhìn xung quanh, ông thấy một ngôi chùa, bên ngoài ngôi chùa là những chiếc xe hơi đang dựng san sát nhau, trước cảnh tượng nhìn thấy như vậy, vẻ mặt ông có vẻ đăm chiêu và phiền não. Ông suy nghĩ và nói thầm: “Người vừa sinh ra thì đã giàu… có kẻ làm lụng vất vả cả đời lại chẳng có gì!?”

Một Phật tử nghe thấy và nói:

-Ông đã đến cửa Phật sao không vào thành tâm cầu nguyện, lại ngồi đây than thân trách phận! Ông có thấy chùa Phúc Lai bên kia đường không? 

Cô gái chỉ, ông lão dõi mắt nhìn theo …

-Tôi nghe bảo Chùa đó rất thiêng, chả thế mà khách thập-phương cứ kéo đến ùn ùn … Ông xem kìa, những chiếc xe hơi đậu san sát trước cổng Chùa! 

 Theo lời chị dẫn tận lòng của cô gái, ông Lão nhờ cô gái trông giúp mình xe gạo và bước từ từ vào bên trong Chùa theo tiếng chuông ngân… Trước mắt ông, là cảnh tượng một số người khác cứ chấp tay và miệng lẩm nhẩm điều gì đó trong miệng không biết? Còn khói nhang thì lan tỏa nhiều nơi. 

Đứng từ xa nhìn Ông có vẻ ngơ ngác, một Vị tăng bước tới và nói: 

-Thí chủ lần đầu tiên đến đây phải không?”

-Vâng! thưa Thầy lần đầu con đến nơi cửa Phật nên chẳng biết cầu nguyện ra làm sao? Mong Thầy chỉ dạy”

-Thí chủ thỉnh cầu điều gì?

Ông Lão quay nhìn những người kia và nói: 

-Con cầu xin đức Phật ban phát sự Công bằng !?”

-Công Bằng ư?

-Vâng, thưa Thầy. Con sinh ra trong một Gia đình nghèo khổ, bần hàn không được học hành tử tế, từ bé đã phải tự mưu sinh, lớn lên lấy một người vợ nghèo và nai lưng làm lụng như trâu bò, để nuôi bầy con nheo nhóc. Cuộc đời khốn khổ cơ hàn cứ thế bám theo con dai dẵng. Trong khi có biết bao nhiêu người khác sinh ra trong một Gia đình giàu sang, chẳng cần cố gắng mà vẫn sống suốt đời trong nhung lụa. Như vậy, không Công Bằng! Nếu Đức Phật linh thiêng xin Ngài hãy ban cho con một ít may mắn của những người kia!

-Như người kia ư?

-Chỉ cần nhìn họ là đủ biết họ giàu sang Quý phái cỡ nào rồi!  Nhưng người nghèo khổ như con không thể hiểu nỗi họ làm gì mà giàu sang lắm vậy? 

-Cái đó tôi không biết?  nhưng khi tới đây họ cũng chỉ là Ăn xin cả thôi!

-Ăn xin ư? thưa Thầy!

-Đúng … Ăn xin Cửa Phật!

-Nhưng nhìn họ giàu sang Quý phái có thiếu gì mà phải đi ăn xin?

– Sống trên cõi đời này mấy ai thỏa mãn những gì mình đang có. Không tin thí chủ cứ lại gần họ xem!
Ông Lão tò mò đến gần mọi người, ép sát tai nghe thử xem họ đang nói những gi? Một anh chàng thanh niên khá trọng tuổi mặc áo “suite”, thắt cà vạt trong rất chỉnh-tề, lịch sự nói: 

-Cầu xin đức Phật cứu giúp công ty con khỏi bị phá sản, hàng trăm Gia đình công nhân đang trong chờ vào Công ty. Đang trông chờ vào sự chèo lái của con Mô Phật!

Một người Phụ nữ lớn tuổi ở bên cạnh khóc thút thít nói: 

-Xin người rủ lòng từ bi cho con sức mạnh để chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác. Xin người đừng để con phải chịu những cơn đâu hành hạ, dày vò.”

Có cô Gái trẻ tuổi nọ đứng gần đó khuôn mặt có vẻ buồn rầu ủ rủ cũng nói nhỏ: 

-Năm nay con đã ngoài 30 tuổi, mà vẫn chưa có người yêu thương. Con vô cùng buồn tủi, con chỉ xin Ngài linh thiêng cho con chút duyên số để con tìm được một tấm chồng, xin Người ban phước, Mô Phật!

Ông Lão nghe những lời ấy mà lòng cảm động rơi nước mắt. Ông nói lên một tiếng: 

-Tội nghiệp quá! Và đứng dậy bỏ đi tới chổ Vị tăng ngồi. 

-Thưa Thầy họ cầu xin rất nhiều điều, hóa ra họ toàn là ăn xin thật! Con cứ nghĩ trên đời này ai cũng Hạnh phúc hơn con, chứ ai biết được họ cũng có nhiều nỗi Khổ đến thế! Ngẫm ra Con còn có nhiều điều hơn họ như: bình an, sức khỏe, sự vô tư chẳng hạn và hạnh phúc!

-Đúng vậy! Cuộc đời công bằng với tất cả mọi người. An phận với thực tại và cố gắng hết sức mình để Tự Mình Hóa Giải những khó khăn trong cuộc sống .Đó mới chính là một Cuộc Đời Hoàn Hảo.
Ông Lão nghe xong Tỉnh ngộ. Tiếng chuông vẫn vang trong không gian… xa dần … xa dần… 
(Truyện kể đọc trên mạng vi-tính)

 Truyện kể ở trên mạng, hay trên bục giảng nhà Chúa hay nhà Chùa, cũng đều thế. Nghĩa là: có đôi chút gì đó răn-dạy người nghe hãy tìm cho mình một nhân-sinh-quanlành thánh để còn sống. Nhân-sinh-quan, hay còn gọi là quan-niệm nhân-sinh/cuộc đời, của con người. Mỗi thế thôi.

Nhân-sinh quan, hoặc lời đề-nghị của đáng thánh nhân-hiền Đạo Chúa đôi khi cũng na ná như thế. Đấng thánh khuyên mọi người, những lời tưởng chừng dễ quên như sau:

“Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Ngài vào lòng chúng ta, 

nhờ Thánh Thần mà Ngài ban cho chúng ta. 

Quả vậy, khi chúng ta không có sức làm được gì 

vì còn là hạng người vô đạo, 

thì theo đúng kỳ hạn, 

Đức Kitô đã chết vì chúng ta.

Hầu như không ai chết vì người công chính, 

hoạ may có ai dám chết 

vì một người lương thiện chăng. 

Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, 

ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; 

đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta.”

(Rm 5: 5-8)

Đấng thánh-hiền nhà Đạo, giải thích ý-nghĩa sự chết của Đức Kitô làm bằng cho tình Chúa thương ta. Quả thật, Thiên-Chúa-là-Tình-Yêu đã sử-dụng tình-Ngài-thương-ta để giải quyết tất cả mọi thứ và mọi sự. Những thứ và những sự, mà tâm-can con người không hiểu trọn vẹn nhưng chỉ cảm-nghiệm thôi.

Quả thật, thương-yêu là tất cả mọi sự. Thế nên, tình thương mới giải-quyết được mọi sự trong đời. Chí ít, là tình thương-yêu từng khoả-lấp âu-sầu/thù-hận giữa người với người, nữa. Giải-quyết, cả những lơ-là/quên-lãng từ phía con người, thật không khó.

Quả thật là: mọi sự việc trong đời, không do tự ta mà có cũng không tự ta mà ra. Nhưng đã có bàn tay định-vị mọi thứ mà người nhà Đạo chúng ta quen gọi là “Ân-huệ Chúa ban”. Ân-huệ ấy, Ngài ban cho ta cách “nhưng-không”, tức: không do tài cán hoặc công-lênh nào của ta hết.

Tình-yêu Thiên-Chúa cũng thế. Trong yêu-thương nhau, thương-yêu mọi người, Ngài luôn đi bước trước. Ngài thương-yêu con người và mọi loài trước cả khi con người biết đối-đáp tình Ngài ban ra, nữa.

Nói theo ngôn ngữ người trần-tục qua thi-ca và âm nhạc, là nói trong tiếng hát vẫn cừ bảo:

“Anh yêu tình nở muộn
Chiều tím màu mến thương
Mắt biếc sầu lắng đọng
Đèn thắp mờ bóng đêm.

Từng bước từng bước thầm
Khi người yêu không đến
Tuổi xuân buồn lặng căm
Đi trong chiều mưa hoang
Đời biết ai thương mình.”

(Y Vân – bđd)

 Nói và hát như thế vẫn chưa đủ. Có lẽ cũng nên nói bằng truyện kể để minh-hoạ điều mình vừa nói, rất như sau:

“Phú ông nọ, sau khi bỏ thời-gian gần trọn cuộc đời mình rồi, nay mới nghĩ chuyện tìm một người để thương-yêu thành gia-thất. Sau thời-gian dài tuyển chọn, ông tìm ra được 3 người tương-đối rất vừa ý. Vào vòng cuối, ông đưa cho 3 người vợ tương-lai mỗi người một nghìn quan tiền và đề-nghị các nàng hãy ra đi mua thứ gì khiến nó tràn ngập căn phòng tân-gia cũng là tân-hôn của ông.

 Cô vợ tương-lai thứ nhất mua rất nhiều bông hoa đẹp khiến phân nửa căn phòng đầy hương-hoa thơm đẹp. Người thứ hai lại khác. Cô mua rất nhiều bóng bay và làm ngập ba phần tư căn phòng toàn những bóng cứ bay bay. Người thứ ba, quyết-định mua chỉ một ngọn nến nhỏ nhưng lại khiến căn phòng của hai vợ chồng sẽ tràn đầy nhiều ánh-sáng, rất thương-yêu. 

 Cuối cùng, phú ông bèn chọn người vợ tương-lai có ý-tưởng nhiều sáng-tạo nhất, đó là người thứ ba, đã được chọn.”

 Câu truyện kể trên tuy không có gì độc-đáo sắc nét, nhưng hy vọng sẽ để lại cho người đọc là bạn và tôi, ta sẽ có nhiều quyết-tâm độc đáo hơn nữa.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn luôn tìm

ý-tưởng độc-đáo 

và độc-chiêu

để giới thiệu với mọi người         

và với mình.