“Ai đó”

“Ai đó”

tuankhanh

Bằng một giọng buồn rầu, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu nói rằng “ai đó” đã đọc cuốn sách viết về Trương Vĩnh Ký (1837-1898) của ông chưa kỹ, nên ra lệnh ách lại. Tuy vậy, ông vẫn nuôi hy vọng rồi mọi thứ sẽ trở lại bình thường khi cuốn sách nhận được lệnh cần phải sửa đổi gì đó, và được tái phát hành.

Cuốn sách “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” do nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu chủ biên, một công trình tập hợp các bài viết của nhiều tác giả và dù đã được Cục Xuất bản cấp giấy phép, cho phát hành khoảng hơn một tháng, đột nhiên bị lệnh miệng của “ai đó”, khiến mọi thứ ách tắc vào đầu tháng 1/2017. Chương trình ra mắt vào ngày 8/1 tại Sài Gòn bị gọi hủy một cách gấp rút.

Ông Nguyễn Đình Đầu nói về “ai đó”. Người mà ông cũng thật sự không biết là ai, nhưng có đủ quyền lực để rút lại quyền được lưu hành hợp pháp công trình nghiên cứu của các nhà trí thức.  “Ai đó” cũng là một lối nói ám chỉ khá phổ biến của người dân Việt Nam trong xã hội từ nhiều năm nay. Cách nói chừng như rất mập mờ, nhưng hầu như mọi người đều hiểu “ai đó” nghĩa là gì.

Đây không phải là lần đầu những mệnh lệnh giấu mặt kỳ quặc như vậy, chen ngang vào đời sống Việt Nam. Giới nghệ sĩ âm nhạc, văn chương hay kịch nghệ, điện ảnh… từ Bắc chí Nam, hầu như đều đã có kinh nghiệm về các loại lệnh miệng của “ai đó”. Lối can thiệp bất thường, mà hầu hết lý do đưa ra đều ngớ ngẩn, nhưng lại luôn tỏ vẻ hết sức quan trọng để phục vụ cho các kiểu tư tưởng-chính trị.

Sự kiện của sách “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ” nhắc cho người ta nhớ lại vấn nạn quen thuộc trong xã hội Việt Nam từ nhiều năm nay, kể từ sau năm 1975. Trong một xã hội đói khát sự minh bạch, những chỉ thị thập thò từ bóng tối vẫn khiến xã hội nơm nớp và trở thành u ám hơn. “Ai đó” có nhiều loại, nhưngdễ tìm thấy là hạng người thích phô trương tư tưởng, quyền lực hoặc cả đời xuẩn động theo chủ nghĩa nô bộc trung thành.Cả hai loại đó thường hành động mà bất cần dân tộc hay tổ quốc.

Trong nhiều lời bàn về việc thu hồi sách “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ”, hầu hết đều cho rằng do ông Trương Vĩnh Ký dính líu nhiều đến người Pháp, nhà Nguyễn, Phan Thanh Giản… Không biết từ khi nào, những người cầm quyền đã dựng nên nên các phiên tòa với các nhân vật lịch sử Việt Nam, không khác các cuộc đấu tố. Vua Gia Long (1762-1820) bị phủ nhận, thậm chí xóa luôn công lao thống nhất đất nước và mở mang bờ cõi của ông. Suốt trong nhiều năm, báo chí và và văn nô hằn học tấn công Phan Thanh Giản (1796–1867), bất chấp các nghiên cứu nhận định lại cuộc đời và sự nghiệp của ông. Và cũng như Phạm Quỳnh (1892-1945), Trương Vĩnh Ký… bị gọi tên là tay sai của thực dân, xóa bỏ các giá trị xây dựng ngôn ngữ Việt và đời sống xã hội mà các ông đã dựng nên.

Nhiều năm trước, khi cùng với nhà thơ Trần Tiến Dũng và họa sĩ Trịnh Cung về Bến Tre để tìm thăm mộ cụ Phan Thanh Giản, chúng tôi đã rất khó khăn mới đến nơi. Thậm chí khi tôi hỏi thăm, có một quan chức ở Sở văn hóa còn mang ra một tập photo và cắt từ báo, các bài tấn công, miệt thị ông Phan Thanh Giản, đồng thời hỏi rằng “Phan Thanh Giản là nhân vật có vấn đề, anh tới thăm làm gì?”.

Rồi chúng tôi cũng tìm đến được ngôi trường hiếm hoi mang tên Phan Thanh Giản, có bức tượng bán thân của ông. Nhưng khi hỏi các học sinh về tên của trường và ý nghĩa của bức tượng, không ít em đã lắc đầu. Nền văn minh cộng sản đã bao vây và tiêu diệt lịch sử Việt Nam như vậy đó. Thậm chí nền văn minh đó đã rượt đuổi và hăm dọa những ai quan tâm điều họ không muốn, như cách mà chúng tôi sau đó bị người bảo vệ của trường xông tới với dáng vẻ hung hăng khi ông Trịnh Cung đang chụp lại bức tượng, khiến cả nhóm phải lên xe chạy đi lập tức.

“Ai đó” đã xóa từng phần lịch sử Việt Nam chống giặc phương Bắc ra khỏi trí nhớ các thế hệ một cách rất hệ thống, âm mưu bỏ phần giáo dục lịch sử của quê hương, ghép vào môn Công dân. Và “ai đó” cũng cổ vũ việc in sách ca ngợi các kẻ xâm lược khát máu Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình… cho các thế hệ mới. “Ai đó” cũng dựng nên các câu chuyện dối trá như Lê Văn Tám nhưng không quên trừng mắt chà đạp các nhân vật có thật như Phạm Quỳnh, Trương Vĩnh Ký. Lê Văn Duyệt, Bá Đa Lộc…

“Ai đó” nghe chừng rất nặc danh, nhưng có lẽ nhân dân nghe qua đều hiểu. Trong tác phẩm Sống và chết ở Thượng Hải của nữ sĩ Niệm Niệm, bà cũng có nói đến hiện trạng kiểu “ai đó” trong xã hội cộng sản tại Trung Quốc. Hiện trạng có tên là open secret, tức chuyện tưởng chừng vô cùng bí mật, nhưng thật ra nhân dân, ai cũng biết và ai cũng hiểu. Dân chúng trước mặt thì luôn vâng dạ, kính cẩn, nhưng khi quay lưng thì văng tục và nguyền rủa trong sự khinh bỉ về “ai đó”.

“Ai đó” đang kiểm duyệt, chận, bỏ, xóa và phán xét mọi thứ trên đất nước Việt Nam, dựa trên những tiêu chí không mang giá trị phụng sự thuần túy cho tổ quốc, dân tộc. Cũng như việc “ai đó” đã thu hồi, đình bản sách “Petrus Ký, nỗi oan thế kỷ”  để chận lại việc sách làm rõ câu chuyện lịch sử, con người lịch sử, để minh bạch và cân nhắc lại mọi phán xét.

Và hôm nay, đã đến lúc chúng ta cũng nên đặt lại vấn đề, minh định lại sự tồn tại của chính chúng ta bằng câu hỏi: Rằng những “ai đó”- các ông bà – có tư cách gì để thay đổi và phán xét tổ tiên và lịch sử người Việt của chúng tôi?

Nguyễn Phú Trọng và 15 văn kiện ký kết khiến Việt Nam phải hoàn toàn thần phục Bắc Kinh

Nguyễn Phú Trọng và 15 văn kiện ký kết khiến Việt Nam phải hoàn toàn thần phục Bắc Kinh

Dân Làm Báo – Một cá nhân Nguyễn Phú Trọng, trong cương vị tổng bí thư của đảng độc tài toàn trị đã ký 15 “văn kiện hợp tác” giữa 2 quốc gia Việt Nam với Trung cộng. Hơn 90 triệu dân Việt Nam không biết nguyên văn nội dung của 15 “văn kiện hợp tác”, nhưng qua tóm tắt của nó chúng ta thấy rõ đây đúng nghĩa phải là 15 cam kết buộc Việt Nam phải thần phục Bắc Kinh mà Nguyễn Phú Trọng đã ký kết với Tập Cận Bình.

Vào chiều 12/01/2017, tại Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh, Nguyễn Phú Trọng đã “bút sa… Việt Nam chết” những điều như sau:

– Thỏa thuận hợp tác đào tạo cán bộ cấp cao giữa Đảng Cộng sản Việt Nam và Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Sẽ không bao giờ có chuyện “hợp tác” theo nghĩa song phương – cán bộ cấp cao CSVN đào tạo CSTQ và ngược lại. Chỉ có “hợp tác” một chiều, theo quan hệ thầy Bắc Kinh và học trò Hà  Nội. đó là: các quan thầy Bắc Kinh sẽ đào tạo một thành phần “thái thú bản xứ” làm tay sai cho thiên triều phương bắc.

– Bản ghi nhớ hợp tác giữa Ban Kinh tế Trung ương với Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc.

Có nghĩa là Việt Nam phải ghi nhớ mọi hoạch định kinh tế của đảng CSVN áp đặt lên đất nước Việt Nam sẽ phải hoàn toàn đi theo và là một phần của toàn bộ kế hoạch phát triển kinh tế của Trung cộng. Điều này được bổ túc thêm bởi sức mạnh khống chế của Mao tệ với:

– Biên bản ghi nhớ giữa Ngân hàng Đầu tư phát triển Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Trung Quốc về việc hợp tác tài trợ dự án và cho vay song phương trung, dài hạn giai đoạn 2017-2019.

“Hợp tác” này cho thấy Việt cộng đã quy đầu hoàn toàn sống nhờ vào tiền của Tàu cộng.

– Công thư trao đổi về việc hỗ trợ kỹ thuật lập quy hoạch tuyến đường sắt khổ tiêu chuẩn Lào Cai – Hà Nội – Hải Phòng.

Khi một dự án nằm trong lãnh thổ Việt Nam được đưa vào “văn kiện hợp tác” thì trong bối cảnh thần phục Bắc Kinh, chúng ta có thể hiểu rằng đường sắt LC-HN-HP đã hoàn toàn do Trung cộng làm chủ. Điều này cũng đáp ứng kế hoạch của Trung tâm Nghiên cứu phát triển Quốc vụ viện Trung Quốc mà Nguyễn Phú Trọng cũng đã ký kết như trên.

– Tuyên bố Tầm nhìn chung về hợp tác quốc phòng giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Bộ Quốc phòng Trung Quốc đến năm 2025.

Với chiến lược xâm lấn Việt Nam, trong bối cảnh Bắc Kinh xâm chiếm biển đảo, văn kiện “hợp tác” quốc phòng giữa thành phần xâm lược và bị xâm lược cho thấy Nguyễn Phú Trọng đã thay mặt toàn thể quân đội ký bản đầu hàng đối với Bắc Kinh.

– Hiệp định khung hợp tác cửa khẩu biên giới đất liền giữa Bộ Quốc phòng Việt Nam và Tổng cục Hải quan Trung Quốc.

Điều này đã thêm một lần nữa đóng dấu và củng cố những thoả thuận dâng bán đất của đảng CSVN đối với Trung cộng. Mọi ký kết hợp tác vùng cửa khẩu là một tái xác quyết công nhận những vùng đất của Việt Nam đã bị lọt vào tay Trung cộng là của Trung cộng.

– Bản ghi nhớ giữa Bộ Công thương Việt Nam và Tổng cục Giám sát chất lượng, kiểm nghiệm kiểm dịch quốc gia Trung Quốc về việc tăng cường hợp tác trong lĩnh vực hàng rào kỹ thuật thương mại.

Điều này có nghĩa là chất lượng an toàn của mọi sản phẩm tuôn vào Việt Nam sẽ không được kiểm soát bởi Việt Nam là quốc gia tiêu thụ. Ngược lại đó được “kiểm soát” và phê chuẩn “an toàn” bởi quốc gia sản xuất ra những sản phẩm độc hại.

– Thỏa thuận hợp tác thả giống nuôi trồng nguồn lợi thủy sinh khu vực Vịnh Bắc Bộ Việt Nam-Trung Quốc.

Thỏa thuận này là cam kết của Nguyễn Phú Trọng để Trung cộng làm chủ, khai thác, có mặt và hoạt động trên toàn Vịnh Bắc Bộ dưới danh nghĩa “thả giống nuôi trồng nguồn lợi thủy sinh”.

– Kế hoạch hợp tác Du lịch Việt Nam-Trung Quốc giai đoạn 2017-2019.

Khi Tập Cận Bình lấy du lịch để là 1 trong 15 cam kết và gọi nó là một “kế hoạch” thì đây phải là một ý đồ chính trị. Qua cái gọi là “kế hoạch” này, chúng ta sẽ thấy không những hàng ngàn đoàn du lịch Tàu “đổ bộ” Việt Nam nhưng những trình bày về địa danh, lịch sử, nguồn gốc… của các danh lam thắng cảnh tại Việt Nam sẽ được “hợp tác” để được thuyết minh theo hướng “xâm lược mềm” của Bắc Kinh.

– Thỏa thuận hợp tác giữa Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia-Sự thật và Nhà xuất bản Nhân dân Trung Quốc giai đoạn 2017-2021.

Đây là một nâng cấp để “sự thật” sẽ được xuất bản theo những điều láo lếu của Bắc Kinh. Toàn bộ diễn giải về chính trị theo ý hướng của Trung cộng sẽ được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia tại Việt Nam tuân phục theo điều ký kết này. Lãnh vực xuất bản không thôi cũng chưa đủ để có được sự khống chế toàn diện về tư tưởng. Bên cạnh lãnh vực “đọc”, Nguyễn Phú Trọng đã mở rộng chu vi thần phục bằng 2 văn kiện khác cho lãnh vực “xem” và “nghe”:

– Bản ghi nhớ về việc hợp tác làm phim truyền hình chuyên đề “Sức lôi cuốn của Việt Nam – sức lôi cuốn của Trung Quốc” giữa Đài Truyền hình Việt Nam và Đài Truyền hình Trung ương Trung Quốc.

– Thỏa thuận hợp tác giữa Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Phát thanh quốc tế Trung Quốc.

Để mở rộng sự thần phục của đảng con đối với đảng cha ra đến nhân dân, Nguyễn Phú Trọng đã ký:

– Bản ghi nhớ về kế hoạch hợp tác giai đoạn 2017-2021 giữa Liên hiệp các tổ chức hữu nghị Việt Nam và Hội Hữu nghị đối ngoại nhân dân Trung Quốc.

Bên cạnh đó là 2 ký kết có tính nhân đạo là:

– Bản ghi nhớ hợp tác giữa Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Việt Nam và Trung ương Hội Chữ thập Đỏ Trung Quốc.

– Bản ghi nhớ về hợp tác triển khai viện trợ không hoàn lại chuyên về lĩnh vực y tế công cộng giữa Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam với Bộ Thương mại Trung Quốc.

Tuy nhiên, tưởng là nhân đạo nhưng văn kiện này cho phép Bắc Kinh có mặt, kiểm soát và “giải quyết” những đại nạn về y tế, môi trường xảy ra ở mức vĩ mô / công cộng mà nguyên nhân đến từ các nhà máy xây dựng bởi Trung cộng, những sản phẩm tiêu dùng sản xuất bởi Trung cộng.

Trong khi Hoa Kỳ với tân tổng thống Donald Trump đang hé lộ chính sách thân Nga chống Tàu và viễn ảnh đảng và các quan chức sẽ bị… bớt giàu vì TPP bị khai tử, Nguyễn Phú Trọng đã tức tốc sang Tàu và giao hẳn Việt Nam vào tay Bắc Kinh bằng 15 văn kiện ký kết trước sự chứng kiến của vua cha là Tập Cận Bình.

12.01.2017

Điều gì xây dựng bởi dối trá sẽ sụp đổ trong khinh miệt.

From facebook:  Nguyễn Ngọc Thương shared Peter Nguyen Minh Trung‘s post.
 _Nhiều bạn trẻ bây giờ viết tới chữ bác… là phải tự buộc mình viết “Bác Hồ”, mở miệng ra nói về nhân vật mà không “bác Hồ” là mồm run run…

_”Thành tích” công khai của bác đấy! Tài liệu do đảng phát hành đàng hoàng nha!
_Chỉ nội thời trẻ là họ Nguyễn, cuối đời cải sang họ Hồ, muốn cả nước gọi là “cha già dân tộc”, muốn… Sao các bạn không tự hỏi cách xưng hô của người Việt Nam là gọi tên chứ không phải họ, người miền Nam còn thêm “thứ” nữa cho dễ nhận nhau… Sao lại “bác Hồ””bác Tôn”..?
_Chịu khó suy nghĩ và tự thay đổi đi các bạn của tôi!

Image may contain: text
Peter Nguyen Minh Trung feeling angry.Follow

Để dụ dỗ người Công giáo tham gia đấu tố cải cách ruộng đất, cụ Hồ sẵn lòng xuyên tạc, báng bổ Kinh Thánh và sỉ nhục niềm tin của người Thiên Chúa Giáo. Cụ nói Đức Maria là “bần cố nông” và diễn giải sai lệch về cuộc đời Mẹ. Mười hai Tông Đồ của Chúa Giêsu bị cụ cải biên thành “12 cán bộ”. Rồi cụ đưa vào cả “phản động”, “phản quốc”, “đoàn kết kháng chiến”, “ủng hộ chính sách ruộng đất”, những điều không hề tồn tại trong Kinh Thánh.

Cốc Chủ vô thần đã mang Thánh Kinh đem soi dưới ánh đèn leo lắt của chủ nghĩa Mác – Lê, biến bốn vị Thánh sử Tin Mừng Mátthêu, Máccô, Luca, Gioan thành bốn nhà báo cách mạng. Cụ giảng dạy về bần cố nông Maria, bè lũ phản động Giuđa và 12 cán bộ, Chúa Giêsu đi tuyên truyền cho “kách mệnh”, gia đình Chúa là người Cộng sản…như một thần học gia thứ thiệt.

Cũng may cụ chưa viết thêm phân đoạn Chúa Giêsu lôi cha nuôi là Thánh Giuse ra đấu tố sau khi đã giác ngộ cách mạng: “Hắn dạy tôi làm nghề mộc để làm gì? Không phải do hắn tử tế, mà là hắn muốn tôi làm cái nghề nô lệ để nuôi hắn sung sướng, nên hắn mới nhận tôi làm con nuôi, nhờ cách mạng mà tôi đã sáng mắt ra âm mưu của hắn”. Thánh Giuse: “Trời ơi, cha nuôi con khôn lớn, sao con nỡ đối xử với cha như thế?” (Xin lỗi, đạo phim “Chúng tôi muốn sống”, sản xuất năm 1956, nói về đấu tố trong cải cách ruộng đất).

Cụ Hồ thản nhiên bôi nhọ tôn giáo nếu điều đó đạt được mục đích cụ cần. Nếu cụ báng bổ như vậy với Hồi giáo, chắc cụ đã ăn đạn hoặc banh xác rồi. Giả sử tôi trách oan cho cụ, không lẽ ngáo đá đã xuất hiện ở Việt Nam từ 1953?

Điều gì xây dựng bởi dối trá sẽ sụp đổ trong khinh miệt.

Càng sống càng thấy lòng vững tin sắt son vào Đảng!

* * *

– Trích lại trong “Hồ Chí Minh toàn tập” (tập 8), xuất bản lần 3, trang 375-376
– Xem online: http://btgcp.gov.vn/…/17…/Ho_Chi_Minh_voi_dong_bao_Cong_giao

(Nguồn ảnh: Nhật ký yêu nước)

Tổng Giám mục Giuse Ngô Quang Kiệt: Tại Miền Trung, chúng ta thấy bóng tối của Herodes

Ảnh của nguyenhuuvinh

Cuộc hội ngộ đầu năm

Ngày 7/1/2017, Nhóm Giáo huấn xã hội Công giáo đã tập trung về Đan viện Xito, Châu Sơn, Tỉnh Ninh Bình để hành hương, tập huấn đầu năm, chúc mừng năm mới Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt nhân dịp năm mới.

Gần 200 người thuộc nhiều Giáo phận đã tề tựu về đây từ khá sớm với niềm vui lâu ngày gặp lại từ nhiều tỉnh khác nhau. Đặc biệt, nhóm học tập Giáo huấn xã hội Công giáo từ Thái Bình với đầy đủ các thành phần nam nữ, già trẻ tíu tít như đi dự hội, phấn khởi và vui mừng khi được gặp lại người cha chung mà nhiều người lần đầu được gặp mặt.

Trong buổi nói chuyện với lớp Giáo huấn xã hội Công giáo, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã chỉ rõ: Việc học tập GHXHCG là việc hết sức cần thiết theo lời kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt Nam. Đây là một tài liệu quan trọng và quý giá của Giáo hội được hình thành từ ngàn xưa. Trong các sách về các tiên si A Mốt, Ô Sê, Isaia… đã nhiều lần lên án những bất công. Chúa đã nhiều lần không nhận những của lễ của những kẻ bất công.

Qua nhiều đời của các Đức Giáo Hoàng, nhất là ĐGH Leo XIII đã đề cập đến các quyền cơ bản của con người trong xã hội. Đặc biệt đến Công đồng Vaticano II, với thông điệp “Vui mừng và hy vọng, lo âu và buồn khổ” của con người cũng chính là những vui mừng và hy vọng, lo âu và buồn khổ của chính Giáo hội Công giáo bởi Giáo hội không đứng ngoài lề xã hội.

Sau đó GHXHCG được Ủy ban Công lý – Hòa bình của Tòa Thánh biên soạn, trong đó có sự đóng góp lớ lao của Đức cố Hồng Y Fanxico Nguyễn Văn Thuận. Tài liệu do Nhà xuất bản Tôn giáo ấn hành. Việc học tập và phổ biến tài liệu này, nhằm để người tín hữu và người dân có ý thức thực hiện tình yêu thương, bác ái với mọi vấn đề xã hội và tự nhiên, nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp, một thế giới bình an.

Do vậy, việc học tập GHXHCG là nhiệm vụ của mỗi tín hữu và cộng đoàn, việc này hoàn toàn hợp lẽ với đạo đức và phù hợp luật pháp hiện hành. Chúng ta cần cổ vũ cho việc học hỏi nhằm nâng cao nhận thức của mỗi người về thế giới xung quanh, về xã hội và cách xây dựng xã hội tốt đẹp, trước hết là những hành xử cá nhân phù hợp với các nguyên tắc đạo đức và tình yêu thương cần có.

Bởi nhiều khi trong đời sống cá nhân và xã hội, người ta không biết cách xử lý và hành động ra sao cho phù hợp. Do vậy, cần có những đường hướng, phương cách để hành động cho đúng đắn theo đường hướng lời Chúa trong đời sống.

Trong thực tế đời sống xã hội và đời sống giáo dân thời gian qua đã thể hiện đầy tình bác ái và hiệp thông trong Giáo hội trong các trận lũ lụt cũng như thảm họa ở Miền Trung Việt Nam.

Ngài cho biết, trong thời gian 3 tháng qua, ngài đã có 5 lần ghé thăm các nạn nhân của thảm họa Formosa, những thể hiện tình yêu thương của tín hữu tại đây đã nói lên tinh thần giáo lý phúc âm của Giáo hội Công giáo.

Ngài nói: Chúng ta mong muốn cho đất nước, xã hội chúng ta ngày càng tốt đẹp, cần học hỏi Giáo huấn XHCG để thấm nhuần lời Chúa.  Và khi biết những điều tốt đẹp đó, khi cần thì phải đứng ra để tham gia xây dựng xã hội theo lời kêu gọi “Công dân phải tham gia chính trị như là hành động bác ái”, không thể để những người xấu nằm quyền điều hành xã hội. Để những đóng góp của mình làm xã hội tốt đẹp hơn.

Những điều này sẽ có ý nghĩa hơn, khi chuẩn bị kỷ niệm biến cố 100 năm Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Ngài nói đến biến cố này như một sự nhắc nhở mời gọi mọi người hiệp thông với Hội thánh Công giáo hoàn vũ trong dịp kỷ niệm trọng đại này.

Buổi nói chuyện đã cuốn hút người nghe và giả tỏa cho nhiều tín hữu, học viên nhiều điều nghi ngại, củng cố lòng tin vững chắc cho họ trong việc học tập những điều tốt đẹp từ Giáo huấn XHCG.

Sau bữa trưa dùng chung với các học viên, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã làm hướng dẫn viên tự nguyện để hướng dẫn tất cả anh chị em Nhóm GHXHCG đi thăm vường Fatima, một công trình sắp khánh thành vào dịp Kỷ niệm 100 năm biến cố Đức Mẹ hiện ra ở Fatima. Công trình do công sức lao động miệt mài thời gian qua của tất cả các đan sĩ, linh mục và cộng đồng thuộc Đan viện Xito. Đây là một công trình nghệ thuật độc đáo, nhiều mô hình, vật thể chứa đựng nhiều ý nghĩa lớn và thú vị.

Như một hướng dẫn viên du lịch, ngài đã giải thích cho đoàn người hiểu về ý nghĩa của từng viên đá, gốc cây tại đây mang những ý nghĩa gì trong Kinh Thánh.

Đặc biệt, khi hiện ra ở Fatima năm 1917 là năm mà cuộc Cách mạng Cộng sản ở nước Nga thành công, bắt đầu một thể chế Cộng sản trên thế giới. Ngay khi đó, Đức Mẹ đã cho biết: “Nước Nga sẽ gieo rắc lầm lạc khắp thế giới, gây ra những trận chiến tranh và các cuộc bắt bớ Giáo Hội. Kẻ lành sẽ bị tử đạo, Đức Thánh Cha sẽ phải chịu nhiều đau khổ, một số quốc gia sẽ bị hủy diệt”.

Thực tế đã chứng minh điều đó là sự thật.

Ngày nay, đất nước Việt Nam vẫn là nơi bám trụ cuối cùng của chủ nghĩa Cộng sản hoang tưởng, gieo rắc biết bao đau thương, tang tóc cho người dân Việt. Tại vườn Fatima này có mô hình Dâng đất nước Việt Nam cho trái tim Mẹ.

Trước bức tượng Đức mẹ Fatima, Bên cạnh bản đổ Việt Nam được ghép bằng đá, nổi trên mặt bằng với một bên là hồ nước tượng trưng Biển Đông và bên kia là đồi núi. Bên cạnh đó, dòng truyền thuyết “Trăm trứng” về sự hình thành nòi giống Việt, chung nghĩa đồng bào được tái hiện bằng vườn trứng đá.

Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã hướng dẫn đoàn người thăm từng khu vực với những câu chuyện Kinh Thánh khác nhau với Giếng nước trong Sa mạc, câu chuyện về ông Giakêu… Tất cả đều được bố trí xây dựng công phu, tỉ mỉ và đầy ý nghĩa đến từng hòn đá, cây trồng tại đó.

Tại miền Trung ta thấy tất cả những bóng tối của Herodes

Sau khi hướng dẫn đoàn người thăm vườn Fatima, Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt đã cùng đoàn người lên hang núi. Đây là nơi các tu sĩ, đan sĩ Xito đã xây dựng trên đỉnh núi cây Thánh giá từ lâu. Giữa lưng chừng núi có một hang rộng, ở đây có thể dâng Thánh lễ. Đường lên hang với hàng trăm bậc đá. Cuộc leo dốc là một thử thách, nhưng tất cả những người trong đoàn, dù già, trẻ… đều không ai bỏ cuộc.

Thánh lễ ban chiều, cũng là Thánh lễ đồng tế của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt, cha Bề trên Đan viện Châu Sơn, hai linh mục từ Dòng Chúa Cứu thế Hà Nội là Cha Giuse Ngô Văn Kha, Phó bề trên DCCT Hà Nội và cha Gioan Nguyễn Ngọc Nam Phong.

Đặc biệt đây cũng là Thánh lễ tạ ơn của linh mục Fanxico Xavie Phạm Văn Phúc là nghĩa tử của ngài.

Trong bài giảng Thánh lễ, Đức TGM Giuse đã nêu bật lên những mối quan tâm, lo âu của ngài. Những hệ lụy từ những thể chế chính trị bất chính và đen tối từ xưa đến nay đã hãm hại dân lành và đi ngược lại với lương tâm đạo đức loài người.

Ngài nói: “Suốt năm qua cả nước hướng về miền Trung. Với thảm hoạ Formosa.  Với thảm hoạ lũ lụt vừa do mưa vừa do thuỷ điện Hố Hô xả nước bừa bãi. Tại miền Trung ta thấy tất cả những bóng tối của Hêrode. Đó là bóng tối bạo quyền, dùng quyền hành áp bức. Tự do bán đất cho nước ngoài, tự do xả chất độc, tự do xả nước bất chấp quyền dân. Đó là bóng tối chết chóc. Vì bảo vệ quyền lợi tài phiệt và một nhóm nhỏ mà giết chết đời sống hàng triệu người dân. Đó là bóng tối gian dối vì không công khai minh bạch. Đó là bóng tối xác thịt tội lỗi. Vinh thân phì gia bất chấp sinh mạng và quyền lợi của người khác”.

Và Ngài kêu gọi: “Trong bối cảnh thế giới và xã hội Việt Nam hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta: Hãy bừng sáng lên. Để muôn dân nhận biết Chúa thật. Để mọi người khắp nơi trở thành con cái trong nhà Chúa”.

Ngài cũng đã nói lên những niềm vui, những hy vọng trong hòa cảnh tối tăm của đất nước, của xã hội. Ngài nói: “Nhưng giữa những bóng tối dầy đặc ấy lại xuất hiện ánh sáng. Ánh sáng của tình yêu thương bác ái. Khắp thế giới bao tấm lòng bác ái tập trung về miền Trung. Để cảm thông, để yêu thương, để chia sẻ. Và đặc biệt những xứ đạo, các cha, anh chị em giáo dân đã biết quan tâm chia sẻ với anh chị em lương dân. Anh chị em lương dân cảm nhận được tình yêu thương. Không biết chạy vào đâu đã tìm đến với các giáo xứ công giáo. Và họ cảm nhận được vẻ đẹp của Chúa, của đạo, của anh chị em công giáo. Đó chính là ánh sáng chiếu trong đêm tối. Ánh sáng của đạo Chúa đã làm cho anh chị em giáo dân sáng lên. Qua ánh sáng đó người muôn phương tìm đến thờ phượng Chúa.

Khi cứu trợ tại các xứ đạo mọi sự diễn ra trong trật tự. Không có tranh giành chen lấn. Vì mọi người đều vâng lời cha xứ. Chính quyền thắc mắc: sao giáo dân lại yêu mến và vâng lời các cha mà không vâng lời chính quyền. Người giáo dân trả lời: Vì các cha đã hiến trọn cuộc đời, dành mọi tài sản, sức lực, của cải cho Chúa, cho Giáo hội, cho dân chúng, nên chúng tôi yêu mến và vâng phục. Nếu các ông cũng hiến tài sản, sức khoẻ, thì giờ cho dân thì dân yêu mến và vâng lời ngay”.

Thánh lễ đã kết thúc một ngày tĩnh tâm và gặp gỡ, tập huấn của Nhóm Giáo huấn XHCG và gặp gỡ với Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt là một niềm vui lớn của nhiều giáo dân từ nhiều nơi trên đất nước.

Những lời căn dặn, tâm sự của ĐứcTGM Giuse như những sự nâng đỡ, dìu dắt và hướng dẫn để các giáo dân, các tín hữu đi theo con đường sáng mà Giáo hội đã đúc kết và chỉ ra.

Hà Nội, 13/1/2017

J.B Nguyễn Hữu Vinh

***********

Phụ lục: Bài giảng của Đức TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

HÃY BỪNG SÁNG

Is 60,1-6; Ep 3,2-3a.5-6; Mt 2,1-12

Thánh Lễ Tạ Ơn của Tân LM FX Phạm văn Phúc

Châu sơn 07-01-2017

Hôm nay là một ngày thật đẹp. Ngày thứ Bảy đầu tiên trong tháng đầu tiên của  năm 2017. Ngày hôm nay cha mới Phanxico Xavie Phạm văn Phúc, trong tháng đầu tiên đời linh mục, đến dâng thánh lễ Tạ ơn trên núi Đức Mẹ.

Trong những ngày giờ đầu tiên của năm mới, Lời Chúa nói mời gọi ta: “Hãy bừng sáng lên, hỡi Giê-ru-sa-lem”. Vì “bóng tối đang bao trùm mặt đất, và mây mù phủ lấp chư dân”. Thời Isaia cũng như thời Chúa Giê-su dân Israel sống trong bóng tối dầy đặc. Nhưng Chúa sẽ đến chiếu ánh sáng xé tan màn đêm tăm tối. Lời tiên báo ứng nghiệm khi Chúa Giê-su sinh ra. Tin mừng cho thấy Hêrode đại diện cho thế lực bóng tối. Nhưng Chúa Giê-su đã chiếu lên ánh sáng.

Herode là bóng tối của bạo quyền, dùng quyền để thống trị dân chúng. Chúa Giêsu là ánh sáng hiền lành khiêm nhường, đến không phải để cai trị nhưng để phục vụ.

Hêrode  là bóng tối chết chóc. Sẵn sàng giết chết các trẻ em để bảo vệ ngai vàng. Chúa Giêsu chiếu lên ánh sáng sự sống. Chúa đến cho mọi người được sống và sống dồi dào.

Hêrode là bóng tối gian dối lừa gạt các nhà đạo sĩ. Chúa Giêsu là ánh sáng, là Đường Đi, là Sự Thật và là Sự Sống.

Hêrode là bóng tối tội lỗi, xác thịt. Nên ngôi sao đến Giêrusalem vụt tắt. Chúa Giêsu là ánh sáng Thần Khí nên làng quê Belem nhỏ bé rực sáng.

Trong bối cảnh thế giới và xã hội Việt Nam hôm nay, Chúa mời gọi chúng ta: Hãy bừng sáng lên. Để muôn dân nhận biết Chúa thật. Để mọi người khắp nơi trở thành con cái trong nhà Chúa.

Suốt năm qua cả nước hướng về miền Trung. Với thảm hoạ Formosa.  Với thảm hoạ lũ lụt vừa do mưa vừa do thuỷ điện Hố Hô xả nước bừa bãi. Tại miền Trung ta thấy tất cả những bóng tối của Hêrode. Đó là bóng tối bạo quyền, dùng quyền hành áp bức. Tự do bán đất cho nước ngoài, tự do xả chất độc, tự do xả nước bất chấp quyền dân. Đó là bóng tối chết chóc. Vì bảo vệ quyền lợi tài phiệt và một nhóm nhỏ mà giết chết đời sống hàng triệu người dân. Đó là bóng tối gian dối vì không công khai minh bạch. Đó là bóng tối xác thịt tội lỗi. Vinh thân phì gia bất chấp sinh mạng và quyền lợi của người khác.

Nhưng giữa những bóng tối dầy đặc ấy lại xuất hiện ánh sáng. Ánh sáng của tình yêu thương bác ái. Khắp thế giới bao tấm lòng bác ái tập trung về miền Trung. Để cảm thông, để yêu thương, để chia sẻ. Và đặc biệt những xứ đạo, các cha, anh chị em giáo dân đã biết quan tâm chia sẻ với anh chị em lương dân. Anh chị em lương dân cảm nhận được tình yêu thương. Không biết chạy vào đâu đã tìm đến với các giáo xứ công giáo. Và họ cảm nhận được vẻ đẹp của Chúa, của đạo, của anh chị em công giáo. Đó chính là ánh sáng chiếu trong đêm tối. Ánh sáng của đạo Chúa đã làm cho anh chị em giáo dân sáng lên. Qua ánh sáng đó người muôn phương tìm đến thờ phượng Chúa.

Khi cứu trợ tại các xứ đạo mọi sự diễn ra trong trật tự. Không có tranh giành chen lấn. Vì mọi người đều vâng lời cha xứ. Chính quyền thắc mắc: sao giáo dân lại yêu mến và vâng lời các cha mà không vâng lời chính quyền. Người giáo dân trả lời: Vì các cha đã hiến trọn cuộc đời, dành mọi tài sản, sức lực, của cải cho Chúa, cho Giáo hội, cho dân chúng, nên chúng tôi yêu mến và vâng phục. Nếu các ông cũng hiến tài sản, sức khoẻ, thì giờ cho dân thì dân yêu mến và vâng lời ngay.

Trong bóng tối của thời đại hôm nay, mọi người đều đi tìm quyền lực, tiền bạc và hưởng thụ. Khi đi tìm mọi thứ cho bản thân, người ta sẵn sàng chà đạp người khác. Gây nên bóng tối đau khổ chết chóc bất công. Trong bóng tối đó linh mục sáng lên như ngọn đuốc. Vì dám đi ngược chiều thời đại. Từ bỏ bản thân. Hiến dâng cuộc đời cho Chúa. Phục vụ tha nhân.

Hôm nay chúng ta vui mừng. Vì trong đoàn người góp phần chiếu ánh sáng của Chúa trên thế giới tăm tối hôm nay, có thêm tân linh mục FX Phạm văn Phúc. Tạ ơn Chúa ban thêm ánh sáng cho thế giới nhiều bóng tối hôm nay. Cám ơn ông bà cố và gia đình đã quảng đại dâng hiến người con ưu tú cho Chúa và cho dân Chúa. Cám ơn cha đã hi sinh cuộc đời như ngọn nến cháy lên để đem ánh sáng cho thế giới. Hôm nay Chúa cũng nói với cha: Hãy bừng sáng lên, vì bóng tối đang bao phủ dân chúng.

Như ngọn nến muốn cháy sáng phải tiêu hao đời mình. Chúc cha ngày càng hăng say tiêu hao đời mình. Để bừng lên ánh sáng rực rỡ cho mọi người nhận biết Chúa.

TGM Giuse Ngô Quang Kiệt

httpv://www.youtube.com/watch?v=6ze7tokDzgM

“KHÔNG ĐI ĐÂU EM Ạ…”

“KHÔNG ĐI ĐÂU EM Ạ…”

Nancy Nguyễn

Tháng 3/2016, chị Vũ Minh Khánh, vợ luật sư Nguyễn Văn Đài, phải khó khăn lắm mới đặt chân được đến Mỹ để bắt đầu chuyến vận động tự cho chồng. Mọi người tiếp đón chị chu đáo và niềm nở, như cái cách chúng ta tiếp đón những con người dám dấn thân vì dân tộc từ mấy mươi năm qua: thiết tha, chân tình, với tất cả những gì chúng ta có thể cho đi, chẳng tiếc một thứ gì.

Chị ấy, cũng như nhiều người đến trước, và đến sau: em ạ, chị không chào cờ, và nếu được, thì không chụp hình với cờ vàng nhe em!

Đối với nhiều người, như thế là xúc phạm bàn thờ, là khinh thường tự do, là hỗn xược với chủ nhà. Nhưng nhiều hơn cả là đớn hèn, là chấp nhận khuất phục trước áp lực của tà quyền.

Chị Khánh ở nhà tôi, một thời gian tương đối dài tôi đưa chị đi sắm quà về nước. Vào Costco, mắt chị sáng lên, khuôn mặt rạng rỡ, ngời lên vẻ hạnh phúc như đứa trẻ trong tiệm cà rem: “mua sắm ở đây thích em nhỉ, nói made in USA là made in USA, ở vn toàn hàng lởn thôi”. Tôi biết anh Đài đã nhiều lần được người ta “ngã giá” để sang đây, và nếu sang đây, cuộc sống của anh chị chắc sẽ tốt hơn, nhất là mong ước có con được y học tiến bộ can thiệp. Tôi hỏi chị: Vậy chị có tính sang đây ở luôn không?

“Không em ạ, anh chị không đi đâu.”

Chị nói cách bình thản, sự bình thản của những con người đã xác quyết chấp nhận hy sinh tất cả. Vâng TẤT CẢ, cho Việt Nam.

Nhiều lần tôi phải quay mặt đi để giấu nước mắt, khi chị xuýt xoa lựa áo quần lâu ơi là lâu: “em thông cảm cho chị, em ở đây muốn mua gì cứ ra tiệm tí là xong, ở bên đó, quần áo gớm lắm, ba cái hàng TQ nó bỏ thuốc vào đấy, chẳng mặc được đâu, nên chị cứ phải tranh thủ!” Hay khi vào Walmart thôi, chẳng sang trọng gì: “ở Mỹ sướng thật, như này ở bên đó mắc gấp đôi, có khi gấp ba ấy, mà chẳng tốt được thế này đâu em ạ!” Chị tôi đó, mê Mỹ như hàng trăm triệu con người bình thường khác, nhưng đủ phi thường để ở lại với VN đau thương, dù chồng mình đã bị bắt đến lần thứ 2.

Tôi có thể nói họ đớn hèn được sao? Những con người đang chiến đấu ở mặt trận mà chúng ta bỏ lại, chiến đấu ở nơi chúng ta đã buông súng để ra đi? Tôi có thể nói họ đớn hèn được sao? Khi họ dám vứt bỏ tương lai của bản thân, thậm chí của cả gia đình, vì tương lai dân tộc, xin phép nói thẳng: Đã không là chọn lựa của 4 triệu người chúng ta!

Hôm sinh nhật cái Hà, ứng cử viên đại biểu quốc hội trẻ nhất của VN. Tôi ngồi một mình trong phòng, ngắm kỹ từng khuôn mặt, từng ánh mắt, từng nụ cười. Tôi mong quý vị ở đây cũng dành ra ít phút để ngắm kỹ từng khuôn mặt trong bức hình tôi kèm đây. Vì chẳng ai biết được có khi ngày mai, vài người trong số ấy phải chịu cảnh tù đày.

h1

Phong tục người VN bảo thế là nói gở. Nhưng chính quý vị biết hơn ai hết, cái gở ấy, những rình rập ấy, là CÓ THẬT. Những khó khăn và hiểm hoạ của họ là CÓ THẬT.

Tôi có thể nói họ đớn hèn được chăng? Khi họ dám nhận hết vào mình, nói như người Công Giáo là vác thánh giá, cho đất nước, cho dân tộc có ngày mai? Vẫn vui cười hồn nhiên, và chẳng ai nghĩ sự hy sinh của bản thân là vĩ đại.

Xin phép nói thẳng: đất nước không bỏ rơi chúng ta, là chúng ta đã bỏ rơi đất nước. Tôi có thể nói họ đớn hèn được chăng?

Tôi có lần nói với anh chủ tịch cộng đồng trong một buổi thắp nến (cầu nguyện cho 1 người vừa bị bắt) nay xin chia sẻ lại với mọi người “Tất cả chúng ta đều đã có khi mỏi mệt, có lúc hoài nghi, đôi khi thất vọng, nhưng điều khiến tôi có thể thức dậy mỗi sớm mai, vác gùi lên và nặng nề bước tiếp, là vì tôi biết, tôi biết, có những con người đã chấp nhận chết cho tổ quốc được sống. So với họ, cái gánh này của tôi nhẹ vô cùng”.

Họ, dù không phải lúc nào cũng vừa ý chúng ta, nhưng là một phần của hiện tại mà chúng ta bỏ lại, một phần của tương lai mà chúng ta chỉ có thể giúp đỡ từ xa. Một phần của chính con người tôi ngày hôm nay, và cuộc đời tôi mai này. Không có họ, không có Nancy Nguyễn.

Tôi mong nóng giận hay chán nản nhất thời không làm chúng ta quên đi 1 sự thật rằng: Họ là tấm vé duy nhất, cho phép tất cả chúng ta trở về với một Việt Nam tự do.

“CỜ VỀ CHIỀU TUNG BAY PHẤP PHỚI, GỢI LÒNG NÀY…”

“CỜ VỀ CHIỀU TUNG BAY PHẤP PHỚI, GỢI LÒNG NÀY…”

FB Phạm Đoan Trang

13-1-2017

Thanh niên mang cờ vàng diễn hành Tết ở Little Saigon. Nguồn: internet

Tháng 4/2014, trong một cuộc gặp gỡ cộng đồng người Việt ở Bắc Mỹ, tôi để ý có một người khoảng ngoài 60 tuổi, vẻ mặt khắc khổ, chỉ lừ lừ nhìn diễn giả suốt buổi mà không nói năng gì.

Tới giờ nghỉ, ông đến gần tôi, nhìn thẳng vào mặt tôi và hỏi:

– Tại sao cô đến đây được?

Tôi ngẩn ra, chưa hiểu câu hỏi là gì. Ông dằn giọng:

– Tại sao cô không bị chặn? Tại sao cô ra ngoài được? Tại sao cô sang được đây? Cô là an ninh nằm vùng phải không?

Tôi có cảm giác như bị một cái tát vào mặt. Như vậy có nghĩa là tất cả những lời chúng tôi đã nói trước đó, bằng tất cả lòng nhiệt tình và niềm tin, về tình hình Việt Nam, về những cơ hội bị bỏ lỡ, về những mong ước bị vùi dập của tuổi trẻ, về cảnh sống cực nhọc, không dám nghĩ đến tương lai của những bạn trẻ “trót” quan tâm đến xã hội… Tất cả những lời đó đều chẳng lọt vào tai người đàn ông ấy. Ông chỉ thấy một điều, rằng tôi sinh ra và lớn lên ở miền Bắc cộng sản, tôi ra được nước ngoài mà không bị an ninh chặn giữ, như vậy thì tôi là cộng sản, là an ninh nằm vùng, chỉ thế thôi.

Sau khi hỏi tôi xối xả mấy câu đó, ông quay ngoắt đi. Ông bỏ về, không dự họp nữa.

Tôi cũng tức giận không kém.

Về sau, tôi mới biết rằng trong cộng đồng mà tôi gặp hôm đó, có những người đi tù của “bên thắng cuộc” tới cả chục năm, có những người chết cả mấy đứa con trên đường vượt biên, thậm chí có người đã trở thành gần như điên loạn vì phải bất lực chứng kiến cảnh vợ con mình bị hiếp bị giết trên tàu.

* * *

Tôi cũng đã ở cùng những con người mà tấm lòng của họ, tôi chỉ có thể nói rằng nó trong vắt như kim cương. Bao nhiêu năm xa xứ, cuộc sống đã bị ép vào guồng của bên đó – ngày đi làm, tối mịt mới về nhà, xung quanh là dân Mỹ, truyền hình, sách báo và giải trí Mỹ; hàng ngày gần như chỉ nói tiếng Anh, hàng tuần phải lo doanh số cho công ty, cửa hàng mình. Nhưng họ vẫn nhớ đến Việt Nam, thậm chí chỉ nghĩ đến Việt Nam mà thôi. Họ luôn nghĩ về những người Việt ở trong nước đang phải chịu đựng một chính thể ngu dốt đến tăm tối. Càng sống đầy đủ về vật chất, càng được ăn đồ ngon, mặc quần áo đẹp (và rẻ), hít thở không khí trong lành, sống ở những căn nhà mà dân trong nước mơ đến kiếp sau cũng không thấy, v.v. họ chỉ càng thương người Việt, thương Việt Nam hơn.

Những con người đó thật sự chẳng tiếc gì với tôi. Họ nuôi tôi suốt thời gian tôi ở Mỹ, đến mức đến giờ tôi vẫn không biết động tác “quẹt thẻ” nó như thế nào. Họ cho tôi tới lọ nước lau kính mắt, bộ dây đàn guitar, thuốc thang thì đương nhiên rồi, đến cả quần áo lót cũng dúi cho tôi, v.v. Và thương tôi thế nào thì họ cũng thương những người hoạt động trong nước y như vậy. Họ không ngó đến truyền hình, báo chí Mỹ; lúc nào họ cũng chỉ chăm chú “canh Facebook” đọc tin tức quê nhà, xem có anh chị em nào bị công an bắt, đánh đập không. Nghe tin có người bị an ninh hành hung, họ khóc, chửi cộng sản một hồi, lau nước mắt, rồi lại lật đật ra phố, đi gửi tiền về cho các nạn nhân.

Nhưng họ cũng yêu cờ vàng. “Cờ về chiều tung bay phấp phới, gợi lòng này thương thương nhớ nhớ…”. Đó là cờ vàng. Với những người Việt đó, lá cờ vàng là quốc kỳ của cộng đồng hải ngoại, biểu tượng của tự do-dân chủ, của một thời đã mất ở Việt Nam mà bây giờ chúng ta phải xây dựng lại – tức là giành lại tự do cho đất nước. Ngày Tết, ngày lễ, và ngày “quốc hận 30/4”, họ treo cờ vàng khắp nơi.

Tôi biết nói gì hơn về những con người ấy? Tôi nói họ cực đoan được sao?

Họ là một phần của Việt Nam, một phần của phong trào dân chủ ở Việt Nam, và cũng là một phần của chính cuộc đời tôi.

Nếu không có họ, chắc tôi sẽ nghĩ xấu về cộng đồng hải ngoại, tôi sẽ la lối, căm ghét sự cực đoan, sẽ sợ cờ vàng, sợ “bọn phản động lưu vong”… giống như rất nhiều du học sinh khác.

Và cũng rất có thể là nếu không có họ, tôi đã chẳng về lại Việt Nam, chẳng tham gia đấu tranh làm gì. Nhưng tôi đã về, bởi vì tôi muốn họ cũng sẽ có ngày trở về Việt Nam, và tôi mong muốn sẽ được gặp lại họ – ở đâu cũng được, nhưng là khi đất nước này đã tự do.

SỰ THAM LAM TÀN ÁC..

From facebook: Lê hồng Song‘s post.
Image may contain: one or more people and outdoor

Lê hồng Song

 SỰ THAM LAM TÀN ÁC..( Lòng tham vô đáy, nhưng chỉ cần những mẩu bánh vụn vặt…) Trích. Môt người quốc dân tác giả Lê Luân.

“Quốc gia nào mà xây dựng bằng lòng tham, thì quốc gia đó sẽ sụp đổ bởi những mẩu bánh mỳ.”

Mới nghe thì có vẻ như đã thấy nhận định này của tôi hàm chứa trong đó đầy những mâu thuẫn và sẽ có nhiều người muốn mắng mỏ tôi ngay khi đọc những câu này. Thế nhưng xin nhẫn nại thêm một chút và chúng ta cùng nhau mổ xẻ để thấy cái điều tôi vừa nói có gì mà cần phải bác bỏ hay không lúc đó cũng chưa muộn.

Chúng ta có thể quan sát mỗi ngày qua các sự kiện liên tiếp. Chẳng phải gì to tát đâu xa, tôi nói ngay đến việc người ta hành xử với nhau tàn ác còn hơn cả loài cầm thú mà chúng có thể sẵn sàng giết thịt nhau khi có loài nào đó tấn công cái tổ hoặc cướp đi miếng ăn của nó. Có phải gì hiếm hoi đâu, chuyện những người không may mà đi trộm chó, gà, trâu hay các tài sản khác của người dân ở những vùng quê, người ta phát hiện ra thì những tên trộm cắp kia chỉ có nước chết hoặc thương tật đầy mình. Dân làng họ xâu xúm vào đánh đập, gậy gộc đủ cả, cứ thế mà nã vào đầu, phang vào chân, tay, mạng sườn kẻ cắp cho đến khi chết. Thế có phải là người ta quyết bảo vệ tài sản của mình đến cùng bằng những hành động vô nhân tính hay không.

Nguyễn Đình Phong, kẻ trộm chó, bị dân đốt cháy đen bên chiếc xe máy.
Nguyễn Đình Phong, kẻ trộm chó, bị dân đốt cháy đen bên chiếc xe máy.
Những hành vi ấy quả là man rợ chứ có đất nước văn minh nào mà lại làm thế như dân chúng chúng ta. Thế thử hỏi luật pháp và chính phủ còn có giá trị gì nữa để mà duy trì và điều chỉnh hành vi con người. Mà nhìn vào đấy thì thấy rõ là người dân đúng là sẽ làm mọi cách kể cả là hung bạo và dãn man nhất để quyết bảo vệ cho được tài sản của mình, dù chẳng phải quá to tát gì. Hiện trạng này ở các vùng quê thì tôi cho là không thiếu đâu. Vậy có phải là họ đang hành xử còn không cả bằng thời thực dân, phong kiến hay không, vì ngày xưa còn có công đường để kêu quan khi làng xóm mâu thuẫn, bắt được kẻ trộm, cướp thì đều lôi lên quan mà tâu bẩm và xét xử theo luật lệ. Chứ cũng không đến nỗi như bây giờ. Mà một dân tộc tàn ác với nhau như thế thì có khi nào đất nước văn minh và tốt hơn lên được không. Tôi cho là chỉ có làm cho con người ngày càng tàn bạo và coi thường luật pháp mà thôi, mà như thế thì cái chính phủ kia cũng bị xem thường nốt chứ đâu có giá trị gì để mà người dân cần đến. Quả là nguy cấp cho một đất nước mà con người sẵn sàng hung khí, hô hào một cách hung hãn để mà hành hạ đồng loại mình. Thật đau đớn và bại hoại hết chỗ nói.

Với chuyện con chó, con trâu đã kinh khủng như vậy. Vậy còn chuyện hôi của khi gặp người tai nạn trên đường, chuyện ngang nhiên nhặt tài sản của người khác đánh rơi hay không may làm vung vãi ra mà người ta kêu trợ giúp nhưng cứ nhơn nhơn chẳng thèm để tâm, lại còn muốn nhặt cho thật nhiều rồi mang về sử dụng như chốn không người. Đấy là hành vi khác gì trộm cướp và coi khinh luật pháp đâu. Thế thì quả là loạn lạc thực sự rồi chứ còn phải chờ đợi đến đao binh, bom đạn, chém giết gì mới cho là loạn lạc thì e là đã quá muộn màng và hết sức ngu dốt.

Với cái miếng ăn và tài sản của mình thì bảo vệ bằng được, nhưng sẵn của người khác hở ra là lấy mất ngay tắp lự. Mà cũng bởi lối suy nghĩ này mà hầu như là ai cũng tính vào chính phủ để có quyền chức mà tìm cách đục khoét của công, làm giàu cho mình và gia đình. Cứ nhìn vào tệ trạng tham nhũng, sự suy cấp về con người, các cơ sở hạ tầng quốc gia thiếu thốn, sơ sài, yếu kém thì có thể thấy rõ nó là kết quả của việc vơ vét cho đầy túi tham của mình mà không để tâm gì đến việc chung của đất nước. Thế nó không xuất phát từ lòng tham vô đáy thì còn là gì vào đây nữa. Tôi không thể tìm ngôn từ nào để mà giải thích chuẩn xác hơn được.

Thế nhưng đó chỉ là những cái vụn vặt và nhỏ mọn thôi, chỉ như những mẩu bánh có thể ăn được ngay tức khắc. Thế còn cái lớn hơn như chuyện chính sách kinh doanh làm ăn, chuyện đánh thuế tiêu dùng, chuyện chèn ép thương nhân, chuyện bị gây phiền hà trong công việc, chuyện bị cướp đoạt tài sản bằng cách tham nhũng ngân khố quốc gia với những con số khổng lồ, mà tất cả những cái đó nó rất thiết thực đánh vào túi tiền và chất lượng sống, vào điều kiện kinh doanh và cơ hội phát triển của người dân, thì dân chúng lại thờ ơ như chuyện riêng của nhà quan, chẳng màng gì cả, vì người ta không thấy nó bị thiệt hại gì như việc tên trộm, cướp lẻn vào nhà bắt trộm con chó hay dắt trộm trâu, bò của người ta đi mất.

Nhận thức của người dân khiến tôi lo lắng tới những hậu họa khôn lường, vì nếu một lúc nào đó họ không thể lao động đủ mà đóng thuế, sông hồ và không khí ô nhiễm, thực phẩm độc hại, bệnh viện thì tăng giá, giáo dục thì nâng học phí, lộ phí đi đường và xăng, dầu, điện, nước cứ leo lên nữa. Thế thì họ định sống thế nào và làm gì để mà trả cho những thứ đó đây, hay lại nhăm nhăm để cướp giật của người khác?

Mà cũng vì cái lòng tham vô đáy nhưng lại dễ thỏa mãn bằng những cái nhỏ nhặt này của người Việt mà các quốc gia khác lợi dụng điểm yếu đó mà khai thác và bóc lột được chúng ta từ tài nguyên thiên nhiên đến trí tuệ và sức người. Họ chỉ cần rót cho ít vốn vào làm ăn, đầu tư, hoặc cho vay với lãi suất thấp, chuyển giao công nghệ giá rẻ (mà có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường, độc hại với con người, năng suất thấp, vận hành tốn kém và lại mau hỏng), cam kết vài điều khoản mà có vẻ như có lợi cho chính phủ, cho người dân bằng cách cho ít lợi nhuận hoặc chia sẻ quyền lợi kinh tế, thế là làm ráo, làm tuốt và làm nhanh cật lực. Bởi thế mà chúng ta cứ bị bóc lột sau khi đã bị dụ dỗ và mua chuộc bằng ít lợi ích cho thỏa cái lòng tham của mình. Đây chính là vấn đề lớn của dân tộc mà chúng ta phải nhận ra và thay đổi, nếu không thì chúng ta sẽ luôn bị mua chuộc và lợi dụng để cho người khác làm ăn mà thôi.

Quốc gia nào mà xây dựng bằng lòng tham, thì quốc gia đó sẽ sụp đổ bởi những mẩu bánh mỳ.

Bởi vậy tôi mới nói, đa phần người dân thì lòng tham vô đáy, nhưng chỉ cần những mẩu bánh vụn vặt để no cái bụng và ấm cái thân là đã đủ rồi, chẳng cần gì khác cả. Quốc gia lụn bại và suy vong cũng từ đây mà ra.

CHÁU ĐÍCH TÔN

CHÁU ĐÍCH TÔN

 CHAU DICH TON

“Nó là cháu đích tôn của dòng họ đó” một lời nói luôn luôn ở trên miệng của nội tôi, cái miệng nhuốm màu đỏ sẫm của những miếng trầu.  Nó giống như một lá bùa hộ thân của tôi.  Khi những tiếng đó vang lên tôi cảm thấy mình được những người trong nhà nể phục, kể cả bố mẹ nữa chứ.  Bố mẹ có dám la mắng tôi đâu, tôi không biết họ sợ nội, hay họ thương tôi.  Lúc đó tôi không hiểu cụm từ “cháu đích tôn” có ý nghĩa gì.  Nhưng tôi biết mình rất quan trọng đối với dòng họ, đi học có người chở đi, chở về, thích đồ chơi gì là có cái đó.  Lên trường tôi không có nhiều bạn bè.  Tôi nghĩ cũng không cần thiết phải có bạn, nên tôi chả xem ai ra gì hết, nhưng được cái là tôi học cũng khá.  Cuộc sống của tôi cứ trôi qua êm đềm cho đến lúc tôi là trở thành sinh viên Trường Đại Học Bách Khoa Hà Nội, cái trường mà bao nhiêu đứa mơ ước cũng khó mà được.  Lên thành phố với tôi là mấy đứa cùng làng, nhà nghèo rớt mùng tơi (có mùng tơi mà rớt là ngon rồi).  Tôi sống ở chung cư, đi xe SH, không cần phải đi làm thêm để kiếm tiền đóng tiền nhà, hết tiền chỉ cần “alo” là ra ngân hàng có liền.  Còn mấy đứa đó sống chung cư, đi làm thêm, đi xe bốn bánh, có máy lạnh, có tài xế riêng nhưng là xe bus.  Đến trường, tôi không chơi với mấy đứa nhà nghèo, mấy đứa đó không xứng đáng chơi cùng tôi.  Tôi cứ vui chơi thỏa thích, chơi game online, có bạn gái, dằn mặt người khác, lấn át người kia…  Những lần như vậy những người bạn cùng quê cứ nói với tô: “đừng đi quá đà Long ơi.”  Nhưng đáp lại tôi chỉ nói:“Mày có biết tao là ai không?  Cháu đích tôn của dòng họ tao đó.”  

 

Nhưng đúng là “gieo nhân nào gặt quả đó.” Một hôm tan học tôi bị mấy người lạ mặt đánh cho một trận, sau đó bị ngất đi và được một người lạ mặt cứu.  Người ấy đưa tôi vào trạm ý tế gần đó, nhờ bác sỹ chăm sóc rồi lặng lẽ bỏ đi lúc nào tôi cũng không biết.  Tôi chỉ biết khi đi người đó để lại cho tôi một tờ giấy “Khóa Linh Thao Cho Sinh Viên” của Dòng Tên dành cho sinh viên, và một lời nhắn “Cố gắng tham gia nhé.”  Mặc dù, là người Công Giáo nhưng tôi có biết đến Linh Thao là cái gì đâu, tôi chỉ biết Dòng Tên là một dòng tu rất nổi tiếng.  Tôi nghĩ không cần thiết, nhưng sau đó tôi nghĩ lại, có mất gì đâu mà không tham gia.

 

“Sao đông vậy trời!”  Đó là câu nói đầu tiên của tôi khi đến đó, và ngạc nhiên hơn nữa người cứu tôi lại là cha hướng dẫn ở đó.  Tôi tham gia vào nhiều thứ trò chơi khởi động cùng với nhiều người xa lạ, mà trước đó tôi xem họ không xứng đáng chơi với tôi, được nghe tiểu sử của Thánh Inhaxio Loyola, Đấng Sáng Lập Dòng Tên.  Nghe xong tôi cảm thấy sao cuộc đời mình giống như thánh nhân vậy, phải chăng đó là một lời mời gọi…?  Một tuần linh thao cứ nhịp điệu: ăn sáng, cầu nguyện, ăn trưa, cầu nguyện, ăn tối, cầu nguyện, phút hồi tâm cuối ngày.  Ngày cuối cùng là ngày dành để hồi tâm về cuộc đời, nhiệm vụ và tìm ra ý nghĩa của mình khi sống ở trên đời này.  Tôi chợt nhận ra rằng mục tiêu sống hiện tại của mình đã đi lệch đường ray, và là số 0 tròn trĩnh.  Cái mác “cháu đích tôn” đã đưa tôi lên một vị trí mà không ai dám lại gần.  Tôi tự cao, tự đại, khinh thường người khác.  Tôi chưa thể tìm thấy cái gọi là mục tiêu, ý nghĩa cuộc sống cho chính mình. 

 

Khóa linh thao kết thúc mà lòng tôi cứ nao nao, có cái gì đó lôi kéo tôi rất mạnh về việc dấn thân theo Chúa.  Tôi đã mạnh dạn gặp cha giám đốc, trình bày vấn đề muốn được tìm hiểu vào Dòng Tên, được cha hẹn gặp một tháng sau lên nhà Ứng Sinh Dòng Tên gặp cha.  Tôi rất vui vì có lẽ tôi tìm được mục tiêu của mình nhưng tôi không ngờ được là những chuyện buồn cũng bắt đầu xảy ra. 

 

Tôi gọi điện về, báo ngay cho nội biết tôi đã tìm ra lý tưởng sống cho chính mình rồi, mường tượng ra cảm xúc của nội khi nghe được tin này chắc nội sẽ vui lắm.  “Mày biết mày là ai không hả Long, sao mày lại làm thế, ai cho mày đi tu?” câu nói đầu tiên của nội khi tôi trình bày với nội điều đó.  Lần đầu tiên tôi thấy nội nổi giận với tôi, hình như mong muốn về một người cháu đi tu không có trong tâm trí của nội. “Về nhà ngay” là câu kết trong cuộc nói chuyện điện thoại giữa tôi và nội, mặc dù thời gian cuộc gọi chưa được 30 giây.  Tôi đành phải nghe lời chứ sao, dù lòng vẫn ao ước được được đi tu nhiều lắm.

 

Trên đường về tôi tự hỏi “Chúa ơi, tại sao cháu đích tôn lại không được đi tu, đi theo Chúa còn phải được sự đồng ý của người nhà nữa hả Chúa?”  Tôi liền nghĩ ngay đến thánh Inhaxio, tại sao Ngài có thể bỏ tất cả được như vậy.  Tôi không biết mình phải nói những gì để thuyết phục được nội tôi đồng ý.  Đến nhà rồi mà tôi cũng không dám vào nhà như những lần trước, tôi sợ!

 

Vào nhà tôi nghe nội la mắng: “Mày có biết đi tu là không lấy được vợ, không thể làm giàu, sống nghèo, sống phải nghe lời người khác không?  Ngoài đời mày muốn gì cũng có, sao mày lại chọn đi tu?”  Bây giờ tôi mới biết rằng nhiệm vụ của cháu đích tôn là gì: nối dõi tông đường, kế thừa sản nghiệp, làm rạng danh gia tộc… nó thật khủng khiếp.  Tối đến tôi cứ suy nghĩ về hai câu nói của Chúa Giêsu “từ bỏ mọi sự mà theoThầy,” và trong thư của Thánh Phao Lô “vâng lời hơn của lễ,” sao nó đối nghịch nhau như vậy, tôi không biết nên đi theo đường nào.  Nếu là Chúa thì Ngài sẽ chọn con đường nào?  Tôi biết Ngài đã dành cho tôi con đường dẫn về trời, có sự sống đời sau miễn là tôi có chấp nhận nó hay không.  Có lẽ tôi đã nhận được sự giúp đỡ, sự hướng dẫn của Chúa qua mẹ, mẹ gặp tôi và nói rằng: “cố lên đi con, mẹ sẽ ủng hộ con.”  Bạn có biết cảm giác tôi khi đó không?  Tôi vui mừng ở trong lòng và thầm cảm ơn Chúa.

 

Nhưng tôi cũng không thể không nghe lời của nội được.  Tôi lên thành phố với câu nói của nội “nếu mày đi tu, tao sẽ từ mày luôn, tao không muốn có đứa cháu ngu như mày” nó cứ quấn quýt vào tôi.  Tôi suy đi nghĩ lại câu nói đó của nội, nếu đi tu có phải tôi là một người cháu bất hiếu, vì không nghe lời của nội?  Tôi không đủ can đảm để đi tiếp, hay gặp cha linh hướng nữa.  Sau mấy ngày đắn đo tôi quyết định lên gặp cha, trình bày với cha.  Cha đã nói với tôi một câu: “Con có dám từ bỏ mọi thứ đó để trở thành một Giêsu hữu không?  Nếu con dám thì mọi việc còn lại Ngài sẽ lo cho con.”  Tôi trở về suy nghĩ nhiều và nhờ câu nói đó của Cha mà tôi đã dám từ bỏ, và tham gia Gia Đình Ứng Sinh, nhưng tôi sống ngoại trú, vì tôi nghĩ mình còn rất nhiều vấn đề về gia đình, về sống cộng đoàn.

 

Kết thúc 4 năm học với bao nhiêu thứ cám dỗ, những thứ của đời thường đôi lúc làm tôi chùn bước, nản chí.  Nhưng trong quá trình học được tham gia Gia Đình Ứng Sinh tôi cảm thấy mình trưởng thành hơn, học được nhiều hơn.  Cầm tấm bằng loại giỏi trên tay trong ngày ra trường, đối với nhiều người đó là một niềm vui, nhưng đối với tôi là một cái gì đó không vui, vì bây giờ tôi muốn tham gia vào sống nội trú để tìm hiểu và trau dồi đời sống cộng đoàn.  Tôi không muốn làm một người cháu bất hiếu, đôi khi tôi muốn có một sự kiện gì đó để thay đổi, gỡ nút thắt…  Và rồi… Nội tôi mất.  Tôi bỏ lại quê hương, dòng họ, bố mẹ cùng đứa em gái để theo Chúa.  Tôi đi tu với lời nói xấu sau lưng“thằng đó sao ngu quá, không có lòng hiếu thảo, nó bỏ cha mẹ mà đi.”  Nhưng tôi luôn tin tưởng rằng “mình phục vụ Chúa, không lẽ Ngài không lo cho gia đình mình sao?”

Tôi nhận ra một điều dù là ai, xuất thân là gì, khó khăn thế nào, hoàn cảnh ra sao chăng nữa thì cũng sẽ được mời gọi đi theo con đường Giê-su đã đi.  Dù đó là “cháu đích tôn” đi nữa chỉ cần tôi dám “Từ Bỏ” và “Vượt Trùng Khơi”.

Long Nguyen

Nguồn: http://ungsinhdongten.net

langthangchieutim gởi

GIỚI THIỆU CHÚA KITÔ

GIỚI THIỆU CHÚA KITÔ

 

ĐGM Vũ Duy Thống

CHUA KI TO

 

 Nếu khởi đầu Mùa Quanh Năm là sự nhận diện thiên tính của Chúa Giêsu khi Người chịu phép Rửa nơi sông Giođan và cũng là nhận diện phẩm giá Kitô hữu khởi đi từ ngày họ lãnh phép Rửa Tội, thì Chúa Nhật thứ hai Thường Niên được xem như một khai triển phẩm giá ấy về mặt sứ vụ.  Thật vậy, đảm nhận cuộc sống làm người và đón nhận cuộc đời làm con Chúa, tín hữu không chỉ sống đơn lẻ mà còn sống giữa những người khác, thế nên nét tươi tắn nhất trong sứ vụ của họ là giới thiệu Chúa Kitô cho những kẻ xung quanh mình.  Nhưng vấn đề là phải làm sao để giới thiệu Chúa Kitô cho có hiệu quả.

 

Dựa trên trang Tin Mừng hôm nay về việc Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Kitô cho những kẻ đương thời, ta gặp thấy những tiêu chuẩn xác định hiệu quả cho việc giới thiệu ấy.

 

1) Giới thiệu Chúa Kitô bằng kinh nghiệm bản thân

 

Đây là tiêu chuẩn quan trọng có khả năng đi vào lòng người, bởi lẽ “con người hôm nay ít thích nghe những lời dạy cho bằng nghe những chứng tá” (Gioan Phaolô II).  Nếu chỉ giới thiệu Đức Kitô như một học thuyết, thì dẫu chủ quan mình có nắm vững và say mê, Đức Kitô ấy vẫn chỉ là một lý tưởng còn xa lạ chưa đụng chạm thiết thực với đời người.  Nếu chỉ giới thiệu Đức Kitô như một hệ thống tín điều, thì dù cho có xác tín đến đâu, Đức Kitô ấy vẫn còn xa vời, chưa phải là điểm quy chiếu thiết thân cho cuộc sống.

 

Thế nên, tiêu chuẩn hàng đầu là cần giới thiệu Đức Kitô như một Đấng mà mình đã tiếp cận, gặp gỡ và kết thân.  Hiện nay mình đang sống trong Người như kiểu nói của thánh Phaolô: “Tôi sống nhưng không phải là tôi sống mà là Đức Kitô sống trong tôi,” và do thúc bách bởi sự sống ấy mà mình giới thiệu Người cho người khác.  Người là khởi điểm đồng thời cũng là đích điểm cho việc giới thiệu này.

Với kinh nghiệm bản thân, ta giới thiệu sự xác tín của ta vào Đức Kitô và đó cũng chính là sự khả tín của điều ta giới thiệu.

 

Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã không làm điều gì khác ngoài việc giới thiệu qua chứng từ về một kinh nghiệm ở ngôi thứ nhất số ít: “Tôi đã thấy và tôi xin làm chứng.”

 

2) Giới thiệu Đức Kitô là Đấng Cứu Độ

 

Có một thực tế không thể phủ nhận là khi giới thiệu Đức Kitô, thường ta hay rơi vào một trong hai thái cực:

 

Hoặc quá chủ quan: giới thiệu một Chúa Kitô không như Người như mình tưởng, mình nghĩ.  Coi chừng!  Thiên Chúa tạo dựng con người “giống hình ảnh Thiên Chúa”, nhưng xem ra con người lại có khuynh hướng nắn đúc một Thiên Chúa theo như mình nghĩ, “giống hình ảnh con người.”  Có lẽ chuyện dân Do Thái ở Ai Cập năm xưa lấy hình ảnh bò vàng làm tượng thờ phải được xem như một kinh nghiệm đau lòng.

 

Hoặc quá chung chung: giới thiệu một Chúa Kitô không minh bạch xác đáng, có nguy cơ giản lược đánh đồng coi Kitô giáo cũng chỉ là một trong nhiều tôn giáo ngang hàng, và Đức Kitô không còn là Đấng Cứu Độ duy nhất nữa.  Có lần đến thăm nhà một tân tòng, tôi gặp thấy cảnh tổng hợp nhiêu khê: truyền thống gia đình ông bà cha mẹ theo Phật Giáo, con trai theo Tin Lành, cô gái vào Công Giáo, còn cậu em là đối tượng một đảng nên không theo tôn giáo nào.  Bà mẹ gia đình nói trổng như muốn phân bua về việc tự do chọn lựa niềm tin của con cái: “Ôi! Đạo nào cũng tốt, đều dạy ăn ngay ở lành cả ấy mà.”  Trong suy nghĩ của người mẹ này, Đức Kitô cũng ngồi chung chiếu với những vị cổ võ đạo đức nhân sinh.  Thế thôi.

 

Thiết nghĩ, giới thiệu Đức Kitô là phải trình bày cho thấy Người là Thiên Chúa cứu rỗi nhân loại, là Đấng Cứu Độ trần gian, là Đấng từ trời xuống để đem ơn giải thoát đến tất cả mọi người và đạt tới từng người.  Nét độc sáng của Kitô giáo chính là đây.  Và Đức Kitô sở dĩ thiết thân đối với người đời bởi Người chính là Đấng Cứu Thế.

 

Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã dứt khoát giới thiệu Đức Kitô cho dân chúng bằng một hình ảnh đặc biệt cho thấy Người là Đấng Cứu Độ: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian.”

 

3) Giới thiệu Đức Kitô nhờ Thánh Thần

 

Giới thiệu Đức Kitô là công cuộc dài hơi, thậm chí là công việc một đời, vì thế đòi hỏi người giới thiệu không chỉ như kẻ chào hàng tiếp thị, mà phải đầu tư để học biết và học hiểu, học tập và học hành, học ngang và học dọc, học tới và học lui; nghĩa là phải nỗ lực hợp tác với ơn thánh bằng vận dụng hết công suất những khả năng Chúa ban mà chu toàn nghĩa vụ cũng là ý nghĩa cuộc đời mình.  Ngày nào còn là Kitô hữu, ngày đó còn phải gắn bó và giới thiệu Đức Kitô cho người khác.  Đó là yếu tố thuộc về căn tính.

 

Giới thiệu Đức Kitô cũng là một công trình thuộc về sứ vụ truyền giáo của mọi thành viên trong Giáo Hội, nghĩa là thuộc về lẽ công bình.  Ai đã nhận được lẽ sống Đức Kitô thì cũng canh cánh bên lòng một đòi buộc phải tiếp nối sứ mạng giới thiệu sự sống ấy cho những người mình gặp gỡ trong mọi cảnh ngộ cuộc đời.  Chả thế mà sứ vụ cũng đồng nghĩa với sự lên đường.  Đồng quà tấm bánh có thể giữ lại chứ sự sống mà giữ lại thì cũng đồng nghĩa với sự thui chột ngột ngạt ngay trong vòng tay ôm chặt của người sở hữu.

 

Giới thiệu Đức Kitô như thế cũng là cuộc hiến thân làm chứng, đón nhận hy sinh, chấp nhận thiệt thòi, quên mình xóa mình, thao thức miệt mài, “làm ngày không đủ tranh thủ làm đêm.”  Không dễ dàng, không dễ dãi và không dễ chịu.  Thế nên đó là một công trình sức người tự mình không làm nổi ngoài ơn của Thánh Thần.  Vả chăng chính Thánh Thần mới giữ vai trò chủ động trong công trình lớn lao này, còn con người dẫu hết lòng hết sức cũng chỉ là dụng cụ góp phần.

 

Nếu hôm qua Gioan Tẩy Giả trong Tin Mừng đã dựa vào dấu chỉ Thánh Thần để nhận biết Đấng Cứu Thế: “Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì đó chính là Đấng làm phép Rửa trong Thánh Thần”, thì hôm nay tín hữu cũng dựa vào Thánh Thần để chu toàn sứ mạng giới thiệu Đức Kitô cho người đồng thời với mình.

 

Tóm lại, giới thiệu Chúa Kitô bằng kinh nghiệm bản thân, giới thiệu Chúa Kitô là Đấng Cứu Thế và giới thiệu Chúa Kitô nhờ Thánh Thần.  Đó là những tiêu chuẩn giúp cho việc giới thiệu này mang lại hiệu quả mong muốn.

 

Vì thế, Kitô hữu không chỉ là người mang Chúa Kitô trong mình, không chỉ thuộc về Chúa Kitô mà còn là người phải giới thiệu Chúa Kitô cũng như biết cách giới thiệu Chúa Kitô làm sao cho có hiệu quả nữa.  Như một người chào hàng không mệt mỏi, như một chứng nhân luôn trung thành, và như một lẽ sống hạnh phúc, ta quyết chí lên đường.

 

Trong buổi chia sẻ của những tân tòng lớp trước dành cho lớp sau, một cô gái mười sáu tuổi đã chân thành cho biết lý do mình gia nhập đạo Công Giáo: “Tôi theo đạo vì lúc nhỏ học chung với một người bạn Công Giáo.  Bạn ấy rủ tôi đi lễ, tôi đi theo dẫu chẳng hiểu gì.  Nhưng vì bạn ấy đối xử tốt với tôi, nhất là trong những lúc ngặt nghèo, nên qua gương sống đức tin của bạn ấy, dần dà tôi hiểu ra lẽ đạo và cuối cùng tôi tìm đến với lớp giáo lý khai tâm, và hôm nay được nhận Bí tích Thanh Tẩy.”

 

Mong rằng đây không chỉ là chuyện cá biệt mà là chuyện điển hình đã được nhân lên trong mọi cộng đoàn tín hữu.

 

ĐGM Vũ Duy Thống

Ngoại trưởng Mỹ được đề cử: Trung Quốc phải ngưng ngay việc bồi đắp đảo ở Biển Đông

Ngoại trưởng Mỹ được đề cử: Trung Quốc phải ngưng ngay việc bồi đắp đảo ở Biển Đông

Ông Rex Tillerson điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ hôm 11/01/2017.

Ông Rex Tillerson điều trần trước Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Hoa Kỳ hôm 11/01/2017.

AFP

Nhân vật được Tổng thống đắc cử Donald Trump chọn giữ chức vụ Ngoại trưởng Hoa Kỳ, ông Rex Tillerson, hôm qua 11/01 phát biểu trong phiên điều trần về việc bổ nhiệm tại Ủy ban Đối ngoại Thượng viện rằng hoạt động bồi lắp đảo nhân tạo rồi bố trí khí tài trên đó của Trung Quốc ở Biển Đông là bất hợp pháp, tương tự như vụ Nga chiếm bán đảo Crimea của Ukraine.

Khi được hỏi liệu bản thân có ủng hộ đường lối cứng rắn hơn đối với Trung Quốc hay không? thì ông Rex Tillerson trả lời là sẽ phải nhắn gửi đến Trung Quốc một tín hiệu rõ ràng hơn: đó là trước tiên Trung Quốc phải ngưng ngay việc bồi đắp đảo, thứ đến là việc tiếp cận đến những đảo nhân tạo đó cũng không được phép.

Tuy nhiên ông Rex Tillerson không nói rõ chi tiết về biện pháp nào sẽ thực hiện nhằm chặn Trung Quốc tại những đảo nhân tạo được dựng nên ở Biển Đông như thế.

Trung Quốc phải ngưng ngay việc bồi đắp đảo ở Biển Đông, và việc tiếp cận đến những đảo đó cũng không được phép.
Rex Tillerson

Hãng thông tấn Reuters loan tin như vừa nêu và cho biết cả đội ngũ nhận chuyển giao của Tổng thổng đắc cử Donald Trump cũng chưa có trả lời ngay về những biện pháp cụ thể chặn Trung Quốc tại những đảo nhân tạo bồi đắp lên ở Biển Đông.

Bắc Kinh dịu giọng

Phản ứng trước các tuyên bố cứng rắn của nhân vật được đề cử nắm chức Ngoại trưởng Mỹ nhiệm kỳ tới, chính phủ Bắc Kinh hôm nay không tỏ ra gay gắt như thường lệ.

Phát ngôn nhân Lục Khảng của Bộ Ngoại giao Trung Quốc lên tiếng cho rằng căng thẳng tại tuyến đường hàng hải có tầm chiến lược quan trọng qua Biển Đông đã giảm bớt và những quốc gia bên ngoài cần hỗ trợ nỗ lực hướng đến ổn định tại đó.

Ông Lục Khảng nhắc lại mối quan hệ Mỹ- Trung được dựa trên căn bản không đối đầu, không xung khắc, hợp tác đôi bên cùng có lợi. Hai phía cần tôn trọng lẫn nhau.

Giới ngoại giao Trung Quốc lên tiếng cho rằng họ không quá lo lắng về những lời lẽ mạnh mẽ của tổng thống đắc cử Donald Trump cũng như những nhân vật được chọn vào tân chính phủ Hoa Kỳ. Trung Quốc sẽ không thay đổi phương pháp căn bản tích cực tiếp cận trong mối quan hệ giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ.

Việt Nam cẩn trọng

Cũng liên quan đến tuyên bố cứng rắn của ông Rex Tillerson về các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam hôm nay đưa ra các phát biểu như thường lệ.

Phát ngôn nhân Lê Hải Bình của Bộ Ngoại giao Việt Nam khi được báo giới hỏi về những lời lẽ cứng rắn của ông Rex Tillerson như vừa nêu đối với Trung Quốc tại Biển Đông, ông Bình cho rằng “các bên liên quan và các bên trong, ngoài khu vực đều phải có trách nhiệm đóng góp mang tính xây dựng vào mục tiêu chung cũng như đảm bảo lợi ích chung”.

Lục Vân Tiên” mắc oán và sự vô cảm

Lục Vân Tiên” mắc oán và sự vô cảm

Một học sinh cấp 3 đang đi đường bị một người đột quỵ ngã vào, em đưa ông vào bệnh viện và bị khép tội oan uổng.

luc-van-tien-mac-oan-va-nhung-ong-quan-vo-cam_242221623

Em Thiện (giữa) được trở về với gia đình sau 52 ngày ngồi tù. Ảnh Báo Tiền Phong.

Mấy hôm nay, trên nhiều báo, vụ việc về nam học sinh Đỗ Quang Thiện- bị xe đặc chủng vào tận trường áp giải và bắt phải chịu tù giam vì liên quan đến một vụ tai nạn giao thông đang khiến dư luận rất chú ý.

Cách đây 4 năm, trưa 20/9/2012, tại một giao lộ nội thành Buôn Ma Thuột xảy ra một vụ va quẹt giữa 2 xe máy, khiến 1 người đàn ông lớn tuổi và 1 nam sinh trung học cùng ngã xuống đường.

Thấy người lớn tuổi nồng mùi bia rượu, nằm im không dậy được, nam sinh gọi xe taxi đưa nạn nhân vào Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắk Lắk. Theo lời khai của nam sinh tên Thiện, thì em không hề đụng vào nạn nhân mà nạn nhân tự ngã vào em.

Các kết quả xét nghiệm thương tích sau đó của cơ quan y tế đã chứng minh lời Thiện nói là đúng, bệnh nhân không có tổn thương gì bên ngoài cơ thể, mà do đột qụy, liệt nửa người bên trái do xuất huyết vùng bao trong bán cầu não phải. Đây là bệnh lý nội khoa.

Khi vụ việc ra đến tòa án, ngày 26/9/2013, Bệnh viện tỉnh Đắk Lắk đã có công văn 696 gửi đến Viện KSND khẳng định: “Đây là bệnh nội khoa, không liên quan gì đến tai nạn giao thông, có thể đột quy xuất hiện làm cho bệnh nhân té xe trùng với thời điểm va chạm khi đang lưu thông trên đường”.

luc-van-tien-mac-oan-va-nhung-ong-quan-vo-cam_242224529

Thiện những ngày còn trong tù và lá đơn kiến nghị xin hoãn thi hành án của bạn bè cùng lớp. Ảnh: Báo Tiền Phong

VIỆT NAM, MỘT THỜI THỪA MÁU

VIỆT NAM, MỘT THỜI THỪA MÁU

FB Trần Trung Đạo

Trẻ em VN chết trong chiến tranh. Nguồn: internet/ FB Trần Trung Đạo

Trẻ em VN chết trong chiến tranh. Nguồn: internet/ FB Trần Trung Đạo

Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ “máu” không đơn giản chỉ một bộ phận cơ thể hay “thiếu máu” không phải dùng để chỉ một nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe như tại các nước khác mà còn khơi dậy nỗi đau đã in sâu trong nhận thức con người.

Nhắc tới chuyện thiếu máu năm nay, không thể quên có một thời Việt Nam dư thừa máu. Đâu cũng đều thấy máu. Máu chảy đầy sông. Máu ngập ruộng đồng. Máu loang đường phố. Thừa đến nỗi, máu của nhiều triệu người Việt đã đổ xuống không chỉ để thỏa mãn tham vọng bành trướng của Mao và CS quốc tế mà còn giúp các quốc gia vùng Đông Nam Á đang nghèo nàn bỗng trở nên giàu có.

James Macdonald trong tác phẩm When Globalization Fails: The Rise and Fall of Pax Americana, nhắc lại câu nói của cố TT Singapore Lý Quang Diệu, chiến tranh Việt Nam (đúng ra nên gọi “máu Việt Nam”) đã “giúp các quốc gia Đông Nam Á có thêm thời gian” để nâng cao mức sống, bởi vì nếu không, “Đông Nam Á chắc chắn đã lọt vào tay CS”. [1]

Đọc câu nói của cố TT Lý Quang Diệu và tìm hiểu các diễn biến chính trị trong cuộc chiến Việt Nam sẽ thấy ngay từ đầu cuộc chiến, nhiều triệu người Việt đã đổ máu một cách oan uổng cho ý thức hệ CS và bá quyền Trung Cộng chứ chẳng phải để “giải phóng dân tộc” hay “thống nhất đất nước” như hệ thống tuyên truyền của đảng nhồi nhét vào nhận thức của các thế hệ Việt Nam từ 1945 đến nay.

Máu Việt Nam, tham vọng Mao Trạch Đông

Đảng CSVN không chế tạo được một khẩu súng, một viên đạn, một túi lương khô nào nhưng có khả năng rút máu của nhân dân Việt Nam để cung cấp cho tham vọng của Mao.

Stalin, trong buổi họp với Mao và Hồ Chí Minh tại Moscow giữa tháng Hai, 1950 đã phó thác sinh mạng CSVN vào tay Trung Cộng. Theo William J. Duiker trong Ho Chi Minh: A Life, Stalin nói với Hồ Chí Minh tại Moscow “Từ bây giờ về sau, các đồng chí có thể tin tưởng vào sự giúp đỡ của Liên Xô, đặc biệt hiện nay sau thời kỳ chiến tranh, thặng dư của chúng tôi còn rất nhiều, và chúng tôi sẽ chuyển đến các đồng chí qua ngã Trung Quốc. Tuy nhiên vì điều kiện thiên nhiên, chính yếu vẫn là Trung Quốc sẽ giúp đỡ các đồng chí. Những gì Trung Quốc thiếu chúng tôi sẽ cung cấp.” Tới phiên Mao, y cũng lần nữa xác định với Hồ “Bất cứ những gì Trung Quốc có mà Việt Nam cần, chúng tôi sẽ cung cấp.”

Từ đó, Mao sử dụng đảng CSVN như những tay sai trung thành phục vụ cho lòng căm thù Mỹ của riêng y và bảo vệ vùng an toàn phía nam của Trung Cộng. CSVN, cũng từ đó, hoàn toàn lệ thuộc vào Trung Cộng, không chỉ phương tiện chiến tranh, kinh tế, quốc phòng, hệ ý thức, cơ sở lý luận mà cả cách nói, cách ăn mặc, cách hôn hít, chào hỏi.

Sự thù địch Mỹ trong lòng Mao bắt đầu từ thời gian Mao còn ở Diên An khi tàn quân của Mao bị quân Tưởng Giới Thạch bao vây và Mỹ lại công khai tuyên bố chỉ ủng hộ phe Tưởng. Lòng thù hận dâng cao sau xung đột Eo Biển Đài Loan, và trầm trọng hơn, sau chiến tranh Triều Tiên với gần 400 ngàn quân Trung Cộng bị giết, trong số đó có Mao Ngạn Anh (Mao Anying), con trai trưởng và gần gũi nhất của Mao. Đối với Mao kẻ thù số một là Mỹ. [2]

Mao chỉ thị toàn bộ bộ máy tuyên truyền tại Trung Cộng phải chống Mỹ bằng mọi cách. Chống Mỹ từ xa, chống Mỹ ở gần, chống Mỹ trong lý luận, chống Mỹ trong thực tế, chống Mỹ khi có mặt Mỹ và chống Mỹ khi chưa có mặt Mỹ.

Theo lệnh Mao, trong hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ”. [3]

Khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” được thai nghén từ quan điểm và thời điểm này. Nhưng “nước” trong khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” phải hiểu là nước Tàu chứ không phải nước Việt. Lý do, trong thời điểm 17 tháng 7, 1954 chưa có một người lính hay một cố vấn Mỹ nào ở miền Nam Việt Nam. Hôm đó, ngay cả hiệp định Geneva cũng còn chưa ký.

Đọc cái tài liệu trong thời kỳ chống Pháp để thấy Mao gần như đơn phương quyết định mọi hoạt động quân sự của Việt Minh kể cả việc chọn ngày, chọn tháng cần phải chiếm cho được Điện Biên Phủ. Theo Qiang Zhai, trong tác phẩm China and Vietnam war 1950-1975, Mao đã theo dõi một cách tường tận và chỉ thị một cách chi tiết cho từng sư đoàn Việt Minh trong mặt trận Điện Biên Phủ. [4]

Người viết xin mở ngoặc ở đây. Điều đó không có nghĩa những người Việt Nam đã hy sinh dù trong màu áo “Việt Minh”, trên đường tấn công vào bản doanh của tướng de Castries là những người đánh thuê cho Trung Cộng hay phục vụ một cách có ý thức cho chủ trương nhuộm đỏ Việt Nam của CS Quốc Tế. Không. Họ không biết điều đó. Đa số nông dân tay lấm chân bùn kia là những người Việt Nam yêu nước và họ đã chết trong ước mơ một ngày Việt Nam sẽ thực sự là một nước tự do, độc lập. Lòng yêu nước chân thành và trong sáng của họ sẽ không rơi vào quên lãng.

Nhuộm máu miền Nam

Kiên trì với mục đích CS hóa Việt Nam đề ra từ 1930, vào tháng 5, 1959, Ban Chấp hành Trung ương đảng Lao Động sau khi biết rằng việc chiến miền Nam bằng phương tiện chính trị không thành, đã quyết định chiếm miền Nam bằng võ lực dù phải “đốt cháy cả dãy Trường Sơn”.

Giáo sư Chu Hảo, nguyên Thứ trưởng Bộ Khoa học công nghệ của CSVN trong bài viết Đã Đến Lúc Cần Phải Đối Thoại đăng trên mạng Bauxit Viet Nam hôm 23/08/2016 cũng thừa nhận nguyên nhân sâu xa của thực trạng bi thảm tại Việt Nam hiện nay phát xuất từ lý do ý thức hệ: “Nguyên nhân gốc rễ của mọi ý kiến bất đồng, mọi bức xúc và phẫn uất đều nằm trong những điều bất cập, phản khoa học, phản tiến bộ, phản dân chủ của Cương lĩnh đảng CSVN và Hiến pháp nước CHXHCNVN”. [5]

Đảng CSVN từ ngày thành lập 3 tháng 2, 1930 đến nay đã có cả thảy 4 cương lĩnh đảng, gồm 3 cương lĩnh về “cách mạng dân tộc dân chủ” và 1 Cương lĩnh “về thời kỳ đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nội dung có thay đổi trong mỗi thời kỳ nhưng mục tiêu tối hậu vẫn không thay đổi như Nguyễn Thanh Tâm thuộc Viện Lịch sử Đảng khẳng định: “chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản. Đó là mục đích lâu dài, cuối cùng của Đảng và cách mạng Việt Nam.”[6]

Người viết cám ơn Gs Chu Hảo cuối cùng đã thấy ra điều đó. Rất tiếc giải pháp giáo sư đưa ra lại là “đối thoại”, một giải pháp không đúng với lý luận lẫn thực tế chính trị như đã diễn ra tại các quốc gia cựu CS Đông Âu và Liên Xô.

Từ ngày thành lập tại Hong Kong năm 1930, dù hoạt động dưới nhiều danh xưng (đảng Cộng sản Đông Dương, Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương, đảng Lao động Việt Nam, đảng Nhân dân Cách mạng ở miền Nam, đảng Cộng sản Việt Nam) nhưng đảng luôn kiên trì và hoàn toàn nhất quán về mục đích nhuộm đỏ Việt Nam.

Máu Việt Nam giúp các nước Đông Nam Á có cơ hội làm giàu

Trong khi máu của nhiều triệu người Việt trên cả hai miền Nam Bắc đổ xuống cho ý thức hệ CS và tham vọng của Mao Trạch Đông, các quốc gia Đông Nam Á tận dụng thời gian và cơ hội để phát triển kinh tế như TT Lý Quang Diệu thừa nhận.

Lấy thời điểm 1965 khi chiến tranh Việt Nam gia tăng cường độ, nền kinh tế Singapore tính theo GDP theo đầu người chỉ vào khoảng 500 đô la, tương đương với Mexico và Nam Phi. Năm 2015, GDP theo đầu người của Singapore lên đến 56 ngàn đô la, ngang với Đức.

Phát triển nhanh không kém với Singapore là Nam Hàn. Trong thập niên từ 1950 đến 1960 Nam Hàn là quốc gia nghèo nhất thế giới, nghèo hơn cả Nam Việt Nam, Bolivia và Mozambique, nhưng ngày nay, quốc gia này giàu hơn cả Tây Ban Nha và New Zealand. [7]

Các quốc gia khác trong vùng từ Thái Lan đến Nam Dương, Mã Lai đều phát triển nhanh chóng trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam nhờ chính sách đầu tư rộng rãi của Mỹ để lấy lòng đồng minh nhằm bao vây và ngăn chận CS lan tràn.

Mọi việc đều có nguyên nhân

Mùa Giáng Sinh vừa rồi, giáo sư Tương Lai trong bài viết Nhớ Lại Mùa Giáng Sinh B-52 đăng trên nhiều báo trong nước vẫn tiếp tục một giọng điệu tuyên truyền đã được đảng lặp đi lặp lại hơn 40 năm qua: “Hiểu thêm những điều này để càng thấy rõ xương máu của các chiến sĩ và nhân dân ta trong một cuộc chiến không cân sức giữa biết bao những toan tính lợi ích của các nước lớn là đau đớn và uất hận đến thế nào cho thân phận một nước nhỏ trong trùng điệp những mưu mô được khoác ra ngoài những tấm áo sặc sỡ! “ [8]

Thưa giáo sư, mọi việc trên đời đều có nguyên nhân.

Nếu chịu lắng lòng và suy nghĩ, ông sẽ truy ra được nguồn gốc của chiến tranh Việt Nam. Tại sao Mỹ không ném bom hay can thiệp vào nội bộ Senegal, Tunisia, Morocco hay hàng trăm thuộc địa khác của Pháp mà chỉ can thiệp vào thuộc địa Việt Nam?

Ngay cả trong cuộc chiến tranh giành độc lập đẫm máu của Algeria chống thực dân Pháp, dù là đồng minh lâu năm với lãnh tụ Pháp de Gaulle, Mỹ đã công khai bày tỏ cảm tình với lý tưởng độc lập, tự do của nhân dân Algiera và xem xung đột Algeria là chuyện nội bộ của Pháp. [9]

Sau Thế chiến Thứ hai Mỹ chủ trương giải thực nhưng sự đe dọa của Trung Cộng và CSVN đã làm Mỹ thay đổi chính sách đối với Á Châu. TT Richard Nixon thừa nhận việc Mỹ đã đổ nhiều trăm triệu đô la giúp Pháp chỉ với mục đích duy nhất là ngăn chận làn sóng đỏ CS từ Bắc Kinh xuống Đông Nam Á qua ngã Hà Nội. Sau khi Pháp rút, Mỹ đã cố gắng hết sức trong nhiều năm để bảo vệ miền Nam.

Nếu chịu lắng lòng và đọc lại các sử liệu quốc tế, ông cũng biết, trong suốt cuộc chiến Việt Nam, Mỹ không hề chủ trương đổ bộ lên Hải Phòng như đã từng đổ bộ Incheon tháng 9, 1950 để mở đường tấn công Bắc Hàn. Miền Nam trong hai thời kỳ đệ nhất và đệ nhị cộng hòa cũng không có ý định chiếm đoạt lãnh thổ miền Bắc hay lật đổ cơ chế CS miền Bắc. Sau gần một trăm năm chịu đựng không biết bao nhiêu đau khổ dưới ách thực dân, mục đích của nhân dân miền Nam là có được cơm no, áo ấm, có được cuộc sống tự do và xây dựng miền Nam thành một nước cộng hòa hiện đại.

Sau Thế chiến Thứ hai, phong trào giải thực được phát động từ Á sang Phi. Phần lớn các dân tộc bị trị đã giành lại nền tự chủ bằng các cuộc vận động hòa bình hay được trao trả quyền độc lập, riêng Việt Nam thì không. Việt Nam tiếp tục chìm sâu trong biển máu ý thức hệ cho đến 1975 và rồi tiếp tục chịu đựng nghèo nàn, độc tài, lạc hậu cho đến hôm nay.

Không cần phải một giáo sư mà một người bình thường cũng biết chính cơ chế chính trị, kinh tế và văn hóa độc quyền cộng sản hiện nay là nguyên nhân tạo ra tình trạng chậm tiến của đất nước, và do đó cần phải được tháo gỡ càng nhanh càng tốt, càng sớm càng tốt. Đừng tiếc nuối.

Trần Trung Đạo

_____

[1] James Macdonald, When Globalization Fails: The Rise and Fall of Pax Americana, 2015

[2] Seymour Topping, the former managing editor of the New York Times. China vs. the US: The Roots of a Love-Hate Relationship (Part 1), World Policy Journal, Dec 14, 2011.

[3] Lịch sử Việt Nam, Chương IV: Đảng Lãnh Đạo Cách Mạng xã hội chủ nghĩa ở miềN Bắc Và kháng chiến chống Mỹ, cứu Nước(1954-1975)

[4]Quang Zhai, China & The Vietnam Wars, 1950-1975, University of North Carolina Press, 2000.

[5] Chu Hảo, Đã đến lúc cần phải đối thoại, Bauxit Viet Nam, 23/08/2016

[6] Nguyễn Thanh Tâm, Viện Lịch sử Đảng- Học viện Chính trị- Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, các cương lĩnh của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tuyên Giáo, 31/1/2010

[7] South Korea: One of the World’s Great Success Stories Heads to the Polls

[8] Tương Lai, Nhớ lại mùa giáng sinh B-52 (Mênh mông thế sự 58), Bauxite Viet Nam, 26/12/2016

[9] France and the Algerian War, 1954-1962: Strategy, Operations and Diplomacy, Martin S. Alexander, J.F.V. Keiger, pp 148-150