QUÂN ĂN CƯỚP

QUÂN ĂN CƯỚP

  Đặng Chí Hùng

quanancuop (1)

Mấy tháng nay, mẹ của Lan bệnh ngày càng nặng, không thể đi làm nữa. Cho nên, ngoài giờ đi học, Lan phải làm đủ việc để nuôi mẹ. Từ mò cua, bắt ốc, đi mót cá con ở các bến thuyền của ngư dân…Lan gầy và ốm yếu. Nước da đậm màu của nắng và nước biển, trông bạn ấy nhỏ thó và tội nghiệp. Mẹ Lan là một người đàn bà còn trẻ và bất hạnh. Bà không có chồng. Trong một lần đi lao động ở thành phố, bà nhặt được Lan từ một thùng rác trong đêm. Đêm đó, bà bỏ thành phố mang Lan về sống ở làng chài này. Hai năm trước bà bị tai nạn, ảnh hưởng về thần kinh, khiến bà nhiều lúc như trẻ con, có khi như điên dại. Cám cảnh trước đứa con nhỏ phải quần quật nuôi sống mình, nhiều lần bà đã muốn quyên sinh. Những lúc tỉnh táo sau một quãng dài giữa những cơn bạo bệnh bà thường nói với Lan:

– Con …hãy để mẹ được ra đi. Mẹ biết con sẽ buồn khi không có mẹ. Nhưng rồi thời gian sẽ đưa con lớn lên, và nỗi buồn sẽ vơi theo. Còn thế này….mẹ đau lắm. Mà nỗi đau này chẳng bao giờ vơi được. Mẹ không muốn con mẹ khổ….

Bà thường nói với con như thế. Lúc đầu Lan khóc, nhưng dần dần Lan đã không còn nước mắt. Cô bé ôm mẹ vào lòng, với một tình yêu vô bờ bến. Chỉ cần nhìn thấy con, được con động viên, bà ấy lại quên đi ý định tự tử.

***

Một buổi sáng, Lan vừa về đến nhà thì có tiếng người lạ vọng từ căn nhà rách nát của mình ra:

– Bà nên xem bán lại căn nhà này cho Xã để xã lấy đất làm đường mới. Bà không có con đẻ, con bé Lan là con rơi bà nhặt về. Và nó lại là con gái, sau này đi lấy chồng thì bà cần gì mảnh đất này. Thôi chịu khó nghe lời đảng và nhà nước ký vào biên bản này đi !

Lan nghe rõ đó là giọng đàn ông ồm ồm như con vịt đực nhà bà Năm hàng xóm. Nó ghé mắt qua vách nhà có những lỗ thủng do bao năm nay nó chỉ là cái nhà tranh thiếu bàn tay đàn ông tu sửa. Con bé chợt nhận ra là ông chủ tịch xã là tác giả của câu nói vừa phát ra mà nó nghe lạnh cả xương sống.

Nó không lạnh sao được khi mẹ con nó chỉ có ngôi nhà này làm chỗ chui ra, chui vào nhưng mà giờ đây nguy cơ nó không còn là chỗ che mưa nắng của mẹ con Lan nữa.

Tiếng của mẹ Lan đều đều trong hơi thở mệt nhọc:

– Mẹ con tôi không có ý chống đối ai cả, nhưng ông chủ tịch ơi, cái giá nhà nước đưa ra quá rẻ, tại sao chỉ có cách 200 m mà đất vườn của nhà ông bí thư được đền bù 5 triệu đồng/m2 còn ngôi nhà ở của mẹ con tôi lại chỉ có 1 triệu đồng/ m2. Mẹ con tôi lấy gì mà mua đất làm nhà mới ? Mẹ con tôi sẽ sống ra sao ? Làm sao tôi nỡ nào ký vào để con bé Lan phải ra đường. Tôi thì như ông biết chết sống chẳng cam, nhưng ngặt nỗi còn con bé Lan…

Nói chưa dứt câu, người đàn bà với khuôn mặt khắc khổ vì bệnh tật và nghèo khó dừng lại ở đó và đưa đôi mắt thâm quầng ra xa một cách thiểu não.

Không để cho bà tiếp tục câu nói, ông chủ tịch xã tiếp ngay:

– Tôi đã nói với bà nhiều lần rồi ! Cái này là chủ trương và chính sách của đảng và nhà nước. Người như ông bí thư là cán bộ của đảng, họ phải gánh trọng trách với dân với nước nên có ưu tiên một chút cũng là hợp tình hợp lý thôi! Nếu bà cứ khăng khăng thì chúng tôi phải cưỡng chế đó. Đây là lần cuối cùng tôi nói chuyện tử tế với bà, ngày mai là hạn cuối cùng xe ủi sẽ đến đây cưỡng chế…

Đôi tai Lan ù đi vì câu nói đó của ông chủ tịch, nó lao đầu xuống căn bếp lợp bằng lá dừa dại không đủ che mưa khi trời nổi gió trên ngọn tre đầu xóm. Nó thấy trời như đang sụp xuống dưới chân nó. Hàng loạt câu hỏi đang vần vũ xung quanh đầu nó như những đám mây đen những ngày bão biển nổi lên mà lúc đó nó nép mình vào bàn tay gầy guộc nhưng luôn nồng hơi ấm của mẹ. Lan đã biết nó là một đứa con rơi được mẹ nó nhặt về từ năm ngoái khi lũ bạn học đã vô tình cho nó biết. Và cũng từ ngày đó, nó càng yêu bà hơn vì nó đủ nhận thức để nhận ra rằng bà yêu nó hơn cả một bà mẹ thương con ruột của mình.

***

Sáng nay, trời hãy còn lờ mờ sáng khi ánh mặt trời mới lấp ló trên đầu ngọn dừa ngoài bãi thì mẹ con Lan đã thức dậy vì những tiếng ồn ào ngoài đầu đường. Tiếng bà con lẫn tiếng động cơ máy xúc đã phá tan không khí tĩnh lặng thường nhật của vùng quê yên ả miền biển nghèo khó này. Lan đứng bên cạnh mẹ như hai thân cây dừa dại trước cơn song dữ của lốc biển mùa hè. Nó nắm chặt tay mẹ, mắt nhìn về phía mấy chục người công an tay dùi cui đang đứng bên máy xúc thái độ thật hung dữ. Nó chợt nói với bà:

– Mẹ ! Sao họ lại đến đây ủi nhà mình? Mẹ không đồng ý ký giấy bán nhà cơ mà? Chẳng nhẽ họ nói và làm thật à ?

Mẹ của Lan vốn hiền lành, bà chưa bao giờ có một tiếng nặng lời với Lan, cũng chưa bao giờ nói một lời chê trách với hàng xóm. Nhưng hôm nay, bà đã nói một câu mà Lan có lẽ bất ngờ nhất:

– Con à, mẹ con mình phải ra đường rồi ! Mình chẳng làm gì được đâu con. Chúng là quân ăn cướp đó …!

Nói xong câu đó, bà kéo tay Lan lẳng lặng vào nhà thu dọn vài bộ đồ rách rưới và mấy thứ lặt vặt rồi bước ra khỏi nhà. Hai mẹ con Lan lầm lũi đi ra trước ánh mắt tỉnh bơ của một đám công an. Đâu đây vài lời xì xầm bàn tán của bà con lối xóm thông cảm với mẹ con bà. Chợt một tiếng còi nổi lên:

– Tuýt, tuýt, tuýt …Đề nghị Bà con trật tự và tránh lối cho xe ủi làm nhiệm vụ ! Lái xe ủi đâu ? Vào ủi sập ngay ngôi nhà này cho tôi.

Lan chợt ngước mắt quay lại, nó thấy tiếng còi được phát ra từ cái miệng phúng phính mỡ của ông trưởng công an xã, đứng cạnh ông ta là cái dáng bệ vệ của 2 ông bí thư và chủ tịch xã. Mắt nó nhòe đi vì ngôi nhà đã nuôi dưỡng tuổi thơ nó, đã che chở cho người mẹ kính yêu của nó sắp trở thành miếng mồi ngon cho chiếc xe ủi có cánh tay dài tựa như con ngáo ộp đang chực chờ nuốt con mồi ngon miệng.

Đâu đó có vài tiếng thở than của bà con lối xóm: Quân ăn cướp !.

Đặng Chí Hùng.

BIEN CHET

ĐỪNG CẦM TÙ CHÍNH BẠN

Nhiều người đã đặt câu hỏi cho tôi “Vì sao anh là con cháu cộng sản, anh lớn lên trong môi trường XHCN mà anh lại chống cộng sản và chống Hồ Chí Minh ?”.Tôi đã trả lời rất nhiều lần và lần này thì tôi muốn tóm gọn lại một kinh nghiệm sống của bản thân đến với bạn bè xa gần.

Lý do tôi đến với VNCH, đến với Cờ Vàng đó là do nhạc vàng và chịu khó tìm hiểu sách vở, hồi ký, lịch sử. Tôi thù ghét cộng sản bởi luôn tự đặt câu hỏi cho mình để đi tìm lời giải về sự thật của cộng sản, Việt Nam, Hồ Chí Minh. Cộng thêm một chút máu liều thì tôi đã trở thành một tên “phản động” như quí vị đã thấy.

Nhưng sự thật ẩn sau những nguyên nhân đó là một nguyên nhân chính yếu: Tôi không muốn cầm tù chính bản thân tôi !

Tôi không tự cầm tù mình trong sự bao bọc của gia đình. Tôi không tự cầm tù ý chỉ chỉ cần sống sao cho sung sướng bản thân mình là đủ.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng: Đất nước này có đảng, có nhà nước, có kẻ khác lo. Mình thì mặc kệ họ.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng ăn chơi để ngủ quên trên đau khổ của dân tộc Việt Nam.

Tôi cũng không tự cầm tù mình với tư tưởng đấu tranh để được gì và sẽ mất gì.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng an phận, tôi muốn mình khám phá những chân trời xa, những điều còn chưa biết như cách cha ông chúng ta đã mở nước và dựng nước…

Tôi không tự cầm tù mình rằng phải sợ hãi trước bạo quyền và sợ hãi trước giặc Tàu hung bạo. Tôi phải chiến đấu dù có cô đơn, khổ sở và phải chết đi chăng nữa.

Tôi không tự cầm tù mình với tư tưởng phải nhìn thấy rồi mới làm, tôi tin rằng muốn có một con đường mòn thì ít ra chúng ta cũng phải biết dẫm lên cỏ dại mà bước đi hàng ngày.

Những điều đó, tôi muốn chia sẻ với các bạn gần xa từ kinh nghiệm bản thân mình. Tôi muốn chúng ta tự xóa bỏ sợ hãi, tự giải phóng trái tim mình để vươn lên chiến đấu cho sự tồn vong của dân tộc.

Đừng tự trói trái tim và khối óc, tư tưởng của mình trong những vũng bùn sáo rỗng…

Đừng cầm tù chính bạn !

Đặng Chí Hùng

Đinh Việt Nữ gởi

LƯỠI HÁI HAY CHÌA KHÓA VÀNG?

LƯỠI HÁI HAY CHÌA KHÓA VÀNG?

 

Thánh Charles Borrômê sống ở Italia trên 400 năm trước đây (1538-1584).  Khi còn trẻ, Borrômê đầy những tước vị, danh vọng.  Nhưng một lúc Borrômê đã nhận ra ngày nào đó, Ngài sẽ phải bỏ tất cả.  Ngài muốn ghi khắc điều đó, nên nhờ một họa sĩ nổi tiếng vẽ bức bích họa trong tư thất để diễn tả cái chết.  Bức họa hoàn thành: họa sĩ trình bày thần chết theo lối cổ điển: một bộ xương người nắm chặt lưỡi hái trong tay.

 

Borrômê ngạc nhiên: “Tại sao họa sĩ hình dung cái chết bằng chiếc lưỡi hái?”

 Họa sĩ đáp: “Vì thần chết cắt hái mọi cuộc sống.  Cái chết hủy hoại mọi cuộc đời.”

 “Đồng ý”, Borrômê nói, “nhưng thần chết cũng mở cửa Nước Trời nữa chứ.  Cái chết là cửa ngõ vào đời sống tốt đẹp hơn.  Vì thế, tôi đề nghị họa sĩ xóa chiếc lưỡi hái đi và đặt vào tay thần chết chiếc chìa khóa vàng.”

 Phải, Chúa Kitô đã chết và đã sống lại. Thập giá là chìa khóa Nước Trời. Thần chết đã buông lưỡi hái và cầm lấy chiếc chìa khóa vàng. Cửa Trời đã mở ra cho con người vào Nhà Cha.

 Anh chị em thân mến,

Chúa Giêsu đã tuyên bố: “Tôi là sự sống lại và là sự sống”.  Lời tuyên bố của Chúa Giêsu trước khi làm cho Lagiarô sống lại là một trong những lời “lạ tai” nhất đối với người thời đại cũng như bao người ngoài Thiên Chúa giáo và những người không tin ngày nay.  Nhưng đối với chúng ta, lời tuyên bố đó chính là nền tảng và hy vọng của cuộc đời.

Chúa Giêsu tuyên bố: “Tôi là sự sống.  Ai đang sống mà tin tôi sẽ không bao giờ chết.”  Chúa không nói đùa.  Chúa không thể đùa với sự chết, vì nó hoàn toàn trái nghịch với Ngài.  Là sự sống và đến để đem lại sự sống, Chúa không thể muốn sự chết cho con người.  Phép lạ cho ông Lagiarô sống lại làm chứng rằng Ngài có quyền ban sự sống.  Không phải sự sống như đám đông bao quanh Ngài thầm nghĩ – sống một thời gian rồi chết – cũng không phải sống lại ngày tận thế mà thôi, như Matta tin tưởng, mà là sống ngay bây giờ và sống đời đời, như Ngài đã nói: “Ai nghe lời Tôi và tin vào Đấng đã sai Tôi thì được sống đời đời và khỏi bị xét xử, nhưng được từ cõi chết mà qua cõi sống” (Ga 5,24).

VERITAS

Vậy là có một sự sống khác.  Có một sự sống thật.  Sự sống ấy đã bắt đầu từ bí tích Rửa Tội và tiếp tục mãi đến đời đời.  Sự sống thật này không mất đi khi con người chết, nhưng chỉ mất đi bởi tội lỗi (Ga 8,21).  Tội lỗi mới là cái chết thật.  Và ngược lại, cái mà chúng ta coi là sống chưa hẳn là sống.

Chỉ khi nào sống bằng chính sự sống của Chúa thông ban cho, lúc đó mới là sống thật và bảo đảm sống đời đời ngang qua cái mà chúng ta gọi là chết.

Thánh Phaolô, trong bài đọc 2 hôm nay (Rm 8,8-11) đã nói đến tình trạng những người “sống mà như chết” và “chết mà vẫn sống” đó: “Ai sống theo xác thịt, tội lỗi, thì dù có sống cũng như chết; ngược lại, ai sống theo Thánh Thần thì dù có chết cũng vẫn sống; hơn nữa, một ngày kia, Đấng đã cho Đức Kitô phục sinh cũng sẽ cho thân xác của những kẻ sống theo Thánh Thần được sống lại”.

Một người nhắm mắt xuôi tay từ giã cõi đời này được coi là chết.  Nhưng nhiều người đang sống vẫn tự coi mình đã chết.  Vì sống mà không có hy vọng, sống không tình thương, sống mà bị đời bạc đãi, phản bội, sống không ra con người, và nhất là sống trong tội ác.  Sống như vậy, con người không cần đợi đến chết mới là chết.  Chúng ta khóc thương người chết, nhưng biết đâu người sống lại chẳng đáng khóc thương hơn?

Bất cứ ai đã thoát khỏi tội lỗi và sống trong ân sủng thì đang sống trong sự sống đời đời rồi.  Sự chết thể xác không làm gián đoạn được sự sống thân thiết với Thiên Chúa trong Nước Trời.  Sự sống lại ngày tận thế, sự sống vinh quang đời sau đã bắt đầu ở hiện tại như cây trái đã bắt đầu trong hạt giống.

Từ Lời Chúa hôm nay, chúng ta mới có được một cái nhìn lạc quan hơn về thân phận con người chúng ta.  Là tội nhân, là loài người phải chết, nhưng chúng ta đã được Con Thiên Chúa xuống thế làm người mạc khải tình yêu thương của Thiên Chúa cho chúng ta và Ngài đã thực hiện công việc cứu chuộc của Thiên Chúa giữa chúng ta và cho chúng ta.  Cuối cùng, bằng chính cái chết và cuộc Phục Sinh của Ngài, Ngài đã giải thoát chúng ta khỏi chết đời đời và cho chúng ta được tham dự vào sự sống bất diệt của Thiên Chúa.

Như thế, đối với chúng ta, những người đã tin nhận Đức Giêsu là Con Thiên Chúa, là Đấng Cứu Thế và đang cố gắng sống Lời Chúa dạy, thì sống hay chết, không thành vấn đề, mà chỉ có một thực tại duy nhất là sống, sống trong Chúa, sống cho Chúa, sống thuộc về Chúa.  Cái chết chẳng qua chỉ là bước vượt qua từ đời sống trần gian đến đời sống vinh quang vĩnh hằng với Chúa Cha trên trời.  Chính vì có sự liên tục giữa hai cuộc sống mà đời sống trần gian này mới có ý nghĩa và mới quan trọng, đòi hỏi mỗi người chúng ta phải sống làm sao cho cuộc sống trần gian này là khởi điểm, là bảo đảm, là dấu chứng cho cuộc sống mai sau.

Trước khi bước vào Tuần Thánh là đỉnh cao của mầu nhiệm Khổ Nạn Phục Sinh, Giáo Hội đọc bài Tin Mừng hôm này nhằm kêu gọi chúng ta tin vào Đấng là sự sống lại và là sự sống.  Niềm tin ấy thắp sáng lên trong chúng ta một hy vọng mà trần gian này dù đen tối đến đâu cũng không thể nào dập tắt được.  Đức tin không chuẩn chước cho chúng ta khỏi những tang chế đau thương, những chia ly mất mát hay sự sợ hãi khi đối diện với cái chết.  Nhưng đức tin là chấp nhận hiểu và sống các biến cố hiện tại dưới ánh sáng của sự sống siêu việt mà Đức Giêsu Kitô, Đấng là nguồn cội sự sống đã loan báo.

“Tôi là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Tôi sẽ không chết bao giờ.”  “Matta, con có tin điều đó không?”  Chúa Giêsu hỏi.

“Vâng, thưa Thầy, con tin.”  Matta nói lên niềm tin của chị cũng là niềm xác tín của chúng ta: “Con tin Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian.”

Chớ gì khi tuyên xưng: “Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau”, trong kinh Tin Kính chúng ta sắp đọc, niềm tin ấy không chỉ được phát biểu cách máy móc ngoài môi miệng, nhưng sẽ trở nên sức mạnh giúp chúng ta đứng vững trước mọi đau khổ thử thách, ngay cả cái chết.  Đồng thời niềm tin ấy thúc đẩy chúng ta đến với anh em, để góp phần mang lại sự sống dồi dào cho anh em.

R. Veritas.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

Langthangchieutim gởi

Không thể có phát triển nhờ độc tài

Không thể có phát triển nhờ độc tài

Nguyễn-Xuân Nghĩa, RFA
2017-03-29
Ông Vladimir Zhirinovsky, thành viên quốc hội Nga, tổ chức một cuộc họp báo tại Hội đồng châu Âu hôm 25/1/2006, tranh luận về một báo cáo chống lại các tội ác do chế độ độc tài cộng sản gây ra.

Ông Vladimir Zhirinovsky, thành viên quốc hội Nga, tổ chức một cuộc họp báo tại Hội đồng châu Âu hôm 25/1/2006, tranh luận về một báo cáo chống lại các tội ác do chế độ độc tài cộng sản gây ra.

AFP photo
Một ngộ nhận của giới chuyên gia khi họ tin rằng một chế độ độc tài mà anh minh sáng suốt vẫn có thể đem lại thịnh vượng cho người dân.

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do cùng Nguyên Lam xin kính chào chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, qua nhiều chương trình liền, ông thường nhắc tới một nhu cầu là dân quyền và nhân vị trong công cuộc phát triển kinh tế và chế độ độc tài sẽ không thể đem lại thịnh vượng cho người dân. Ý kiến ấy có vẻ như đi ngược với luận cứ của nhiều chuyên gia kinh tế hay thành tích chói lọi của Trung Quốc với một chế độ thiếu dân chủ. Vì vậy, kỳ này xin đề nghị ông giải thích tiếp về nghịch lý đó.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng trong thế kỷ 20 đã có cuộc tranh luận về giá trị của hai mô hình kinh tế đối nghịch. Một là tập trung kế hoạch của các nước cộng sản hai là tự do phát triển theo quy luật thị trường của các nước dân chủ. Kết cuộc thì các chế độ cộng sản độc tài trôi vào khủng hoảng hoặc tan rã từ năm 1991 nên chẳng còn được nhà lý luận nào bênh vực nữa. Nhưng một số người từng đặt niềm tin vào chế độ cộng sản lại tìm ra một lý lẽ khác, từ cộng sản chạy qua xã hội chủ nghĩa. Rằng thế giới có các nước chuyên chế độc tài nhưng được lãnh đạo anh minh sáng suốt để quyết định về việc sung dụng hay phân phối tài nguyên quốc gia nên đạt thành quả phát triển cao.

Hiện tượng được viện dẫn là nhiều nước tân hưng Đông Á chưa có dân chủ thì đã phát triển mạnh. Lớn thì có trường hợp Trung Quốc, nhỏ thì là trường hợp Singapore, Hong Kong, ở giữa thì có Đài Loan, Nam Hàn. Vì nhiều chuyên gia kinh tế quốc tế của Tây phương cũng đồng tình với lập luận ấy cho nên chúng ta cần tìm hiểu sâu xa hơn về sự sai lầm của họ. Kỳ này, tôi xin được nói về chuyện đó, nhất là về trách nhiệm của giới chuyên gia và sẽ phải lần lượt đi từ đầu qua từng bước.

Có một quy luật thực tế ở đây là khi một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng vượt bậc, hơn hẳn trung bình của các quốc gia khác, thì sau mươi năm là hụt hơi.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa

Nguyên Lam: Nguyên Lam xin được mời ông trình bày sự thể này.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trước hết, thế giới có nhiều nước nghèo, chậm phát triển hoặc chưa phát triển mà nói cho phũ phàng thì còn chậm tiến. Nhưng các định chế quốc tế vẫn lịch sự gọi đó là các nền kinh tế “đang lên”. Trong lãnh vực kinh tế, có loại chuyên gia quan tâm đến việc phát triển các nước nghèo, ta gọi họ là “chuyên gia phát triển”, chứ không vơ đũa cả nắm mà phê phán mọi chuyên gia. Chuyện thứ ba, với giới chuyên gia phát triển thì nếu một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng 6% một năm, như Việt Nam hiện nay, thì đấy là bước đầu của phát triển vì nếu giữ được tốc độ ấy trong 12 năm liền là có thể nâng lợi tức gấp đôi.

Lấy tiêu chuẩn 6% như hòn đá thử vàng, giới chuyên gia phát triển mới đo lường công cuộc phát triển của các nước nghèo và suy ngược lên lý do, là các nước đã có chính sách kinh tế quốc gia thế nào để giữ được đà tăng trưởng trong lâu dài? Trường hợp của bốn nền kinh tế Singapore, Hong Kong, Đài Loan và Nam Hàn được họ coi là mẫu mực. Sau đó họ viện dẫn thêm trường hợp của Trung Quốc rồi của Việt Nam. Yếu tố cần chú ý ở đây là khái niệm “chính sách kinh tế quốc gia”, với hàm ý rằng đà tăng trưởng là do các chính quyền hay nhà nước hoạch định và thi hành từ trên xuống, nghĩa là nhà nước mới giữ vai trò trọng yếu.

Quy luật về kinh tế

Nguyên Lam: Thưa ông, khi cho rằng nhà nước mới giữ vai trò trọng yếu qua chính sách kinh tế quốc gia từ trên ban xuống thì phải chăng các chuyên gia về phát triển vẫn đánh giá sai hai yếu tố kia là thị trường và người dân?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng đấy mới là vấn đề! Đầu tiên, cái tiêu chuẩn 6% ấy thật ra vô giá trị vì nhiều nước nghèo khác cũng từng có chục năm tăng trưởng như vậy, sau đó là suy sụp. Thí dụ như Togo vào quãng 1960, Paraguay vào quãng 1970 hay Oman quãng 1980, rồi Cộng hòa Dominican vào quãng 1990, nước Chad vào quãng 2000 hay Rwanda vào quãng 2010. Ngày nay chẳng còn ai nhắc đến sáu nước bại liệt đó nữa. Lý do ở đây là xứ nào cũng có thể được chục năm tăng trưởng mà không bền vững, và tăng trưởng chưa thể là phát triển.

Sai lầm thứ hai của các chuyên gia về phát triển là cho rằng yếu tố dẫn tới tăng trưởng lâu dài thuộc về chính sách vĩ mô do nhà nước đề ra. Thí dụ như bội chi ngân sách, chế độ kiểm soát giá cả và lãi suất hay mậu dịch, v.v… Lý do sai lầm là vì giới chuyên gia được mời làm tư vấn cho nhà nước về chính sách và tưởng rằng hoặc làm người ta tưởng là nhờ sự cố vấn của họ mà kinh tế đạt mức tăng trưởng trong lâu dài. Sự thật thì nhiều đà tăng trưởng ấy có thể khựng và đảo ngược như các trường hợp nói rên. Nguyên nhân tăng trưởng hay suy thoái có khi chẳng thuộc chính sách kinh tế nhà nước mà vì nhiều yếu tố có tính chất giai đoạn, như sự thăng trầm của giá nguyên nhiên vật liệu, của đầu tư hay viện trợ từ nước ngoài, hoặc thậm chí thiên tai lẫn cả cách đếm sai đà tăng trưởng. Vì thế, Singapore hay Hong Kong cũng có 10 năm ngoạn mục từ năm 2000 tới 2010 nhưng sau đó thì giảm.

Có một quy luật thực tế ở đây là khi một nền kinh tế đạt mức tăng trưởng vượt bậc, hơn hẳn trung bình của các quốc gia khác, thì sau mươi năm là hụt hơi. Đầu năm 1997, các chuyên gia quốc tế vừa ngợi ca phép lạ kinh tế Đông Á thì Tháng Bảy năm đó lại nổ ra vụ khủng hoảng kinh tế với hậu quả là Đông Á bị suy thoái trong bốn năm liền tới độ Nam Hàn còn phải xin Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế cấp cứu. Sai lầm căn bản nhất của giới chuyên gia là nhìn vào chuyện trừu tượng mà quên hẳn số phận của dân nghèo khi sẵn sàng cộng tác với các chế độ chuyên chính độc tài và lại còn nói rằng nhờ sức mạnh của nhà nước thì quốc gia mới dễ phát triển.

Nguyên Lam: Chúng ta bước qua một vấn đề khác, là thưa ông, liệu các chế độ độc tài có ưu thế cao hơn nền dân chủ hay không khi họ đề ra chính sách kinh tế cho toàn dân?

000_MJ3XE-400.jpg
Khách sạn và công viên giải trí tại Resort World Sentosa, Singapore chụp hôm 10/3/2017. AFP photo

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Đấy là huyền thoại nguy hại nhất. Huyền thoại là cái gì đó không thật mà cứ được loan truyền, và trong lĩnh vực kinh tế, các chuyên gia về phát triển ưa loan truyền lý luận tai hại đó. Tôi xin lấy một thí dụ tiêu biểu là công trình nghiên cứu hỗn hợp của Ngân hàng Thế giới và nhà cầm quyền Trung Quốc được công bố năm 2013 mà tiết mục chuyên đề của chúng ta cũng có nhắc tới. Đấy là Phúc trình có tên là “Trung Quốc năm 2030: Xây dựng một Xã hội Hiện đại, Hài hòa và Sáng tạo”.

Sự thật là trong khi Bắc Kinh đàn áp người dân, kiểm soát báo chí thì họ quyết định về các chuyên gia của Ngân hàng Thế giới và kinh tế gia của họ làm công tác tuyên truyền này. Khi thấy Ngân hàng Thế giới tung ra báo cáo ấy thì người ta tin rằng định chế tài trợ phát triển này xác nhận tương lai sáng láng của Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của một chế độ sáng suốt có đầy ý chí.

Trong khi đó, người ta bỏ qua số phận của dân nghèo trong một quốc gia đầy ô nhiễm và tham nhũng. Đây là một hiện tượng lầm lạc đã có từ lâu và rất khó sửa. Nó đã có từ thời Đặng Tiểu Bình nay tiếp tục với Tập Cận Bình. Sự thật thì kinh tế có thể tăng trưởng nhờ sức dân mặc dù người dân lại là nạn nhân của chế độ độc tài, và ngược lại, chính sách kinh tế của nhà nước độc tài mới dễ gây ra khủng hoảng.

Khó sửa sai

Nguyên Lam: Nhưng thưa ông, vì sao người ta lại khó cải sửa sự lầm lạc như ông vừa nói?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thứ nhất là nhiều người cho rằng chế độ độc tài có khả năng tập trung cao hơn chế độ dân chủ để phát triển quốc gia dù khái niệm phát triển đó chỉ là tăng trưởng mà thôi. Sự thật ở đây là một thống kê u ám. Các lãnh tụ độc tài thường tàn phá quốc gia mà không có thuốc chữa, còn trường hợp tương đối tốt đẹp như lãnh tụ Phác Chính Hy tại Nam Hàn, Lý Quang Diệu của Singapore hay Augusto Pinochet của xứ Chile chỉ là ngoại lệ, là rất hãn hữu. Thứ hai, nhiều người công nhận rằng dù các lãnh tụ độc tài tệ hại nhất có thể tàn phá quốc gia hơn một lãnh tụ dân chủ bất tài nhất thì các lãnh tụ độc tài sáng suốt vẫn có nhiều thành tựu hơn các lãnh tụ dân chủ sáng suốt nhất. Sai lầm thứ hai này mới khó cải sửa vì nó khá mơ hồ.

Sự thật thì kinh tế có thể tăng trưởng nhờ sức dân mặc dù người dân lại là nạn nhân của chế độ độc tài, và ngược lại, chính sách kinh tế của nhà nước độc tài mới dễ gây ra khủng hoảng.
– Nguyễn-Xuân Nghĩa

Thí dụ điển hình gần gũi với Việt Nam là trường hợp Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh là người khởi xướng đổi mới, hay Thủ tướng Võ Văn Kiệt là người tiến hành sau đó, hoặc gần đây hơn nữa là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Nhiều tai họa kinh tế phát sinh từ thời lãnh đạo của các nhân vật ấy mà chuyên gia quốc tế không biết, hoặc có biết một cách mù mờ thì tránh nói tới. Sự thật ở đây là ngoài vài trường hợp ngoại lệ, không phải là chế độ độc tài phát triển quốc gia nhanh hơn chế độ dân chủ. Ách độc tài thu hẹp khả năng cải sửa của thị trường và người dân cho nên dân nghèo mới là nạn nhân ở dưới đáy. Hãy hỏi bà con ở miền Trung ngày nay tại Vệt Nam thì biết thế nào là nạn nhân ở dưới đáy vì nhiều quyết định xa xưa của chế độ độc tài.

Trong khi đó, sự thật lịch sử từ bảy tám chục năm qua đều cho thấy là các chế độ dân chủ đã phát triển bền vững hơn. Quan trọng nhất, chế độ dân chủ có khả năng thẩm xét thực tài của giới chuyên gia trong khi chế độ độc tài lại dùng chuyên gia quốc tế làm bình phong cho các chính sách tai hại của họ. Việc Ngân hàng Thế giới hay Công ty tài trợ IFC vừa bị phê phán cho thấy là chính khả năng các chuyên gia quốc tế về phát triển đang bị thẩm xét lại.

Nguyên Lam: Vì thời lượng có hạn cho một đề tài lý thú, Nguyên Lam xin yêu cầu ông đưa ra một kết luận, dù đó có thể chỉ là một kết luận tạm cho một vấn đề quá sâu xa phức tạp.

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Khi một chế độ độc tài cho người dân có thêm quyền tự do về kinh tế thì đấy chỉ là một cách dung hợp với yêu cầu của thị trường mà lại được giới chuyên gia phát triển đánh giá là đổi mới hay cải cách. Trong khi đó, chế độ độc tài lại không cho người dân có thêm quyền tự do về chính trị, là trường hợp phổ biến của nhiều nước nghèo, kể cả Trung Quốc hay Việt Nam, thì giới chuyên gia tránh nhắc tới, hoặc còn biện hộ rằng nhờ đó mà có ổn định. Ta rất nên thận trọng với loại chuyên gia ấy khi họ ăn cây nào phải rào cây nấy.

Sự thật quan trọng nhất là công cuộc phát triển nước nghèo phải đi từ dưới lên, từ dân nghèo. Quyền tự do, nhân phẩm hay nhân vị của họ phải là điểm khởi đầu và chính sách phát triển phải ưu tiên nhắm vào họ. Cái chân lý hay “sợi chỉ đỏ xuyên suốt” theo ngôn từ cộng sản, phải xuất phát từ một điều đã được các nước Tây phương xiển dương từ hơn hai thế kỷ trước, rằng “con người ta sinh ra là phải có quyền tự do và được bình đẳng”. Lớp người nghèo khổ nhất không có cơ hội bình đẳng và thiếu tự do chọn lựa.

Chính sách phát triển phải khởi đi từ thành phần bần cùng đó, chứ không từ các giai tầng trên và nhất là không từ lãnh đạo ở chóp bu đã lấy tài nguyên quốc gia nuôi các chuyên gia có nhiệm vụ bảo vệ chính nghĩa đáng ngờ của chế độ. Bản thân tôi thường đọc phúc trình của các chuyên gia này với sự nghi ngờ đó!

Nguyên Lam: Ban Việt ngữ đài Á Châu Tự Do và Nguyên Lam xin cảm tạ ông về cuộc phỏng vấn kỳ này.

Vì Sao Người Việt Lại Bỏ Xứ Ra Đi? – Ku Búa

Vì Sao Người Việt Lại Bỏ Xứ Ra Đi? – Ku Búa

Mới tuần rồi tôi ra sân bay tiễn một người quen bay đến một xứ khác. Tôi không hề đơn độc. Ở sân bay lúc đó có vô số người cũng làm điều tương tự. Họ tiễn người thân và bạn bè của họ ra đi không hẹn ngày về. Đó không phải là lần đầu và chắc chắn là sẽ không phải là lần cuối. Mặc dù cuộc chiến đã chấm dứt hơn 41 năm rồi nhưng làn sóng xuất ngoại vẫn không thay đổi. Cuộc di cư thầm lặng hiện tại không phải bằng những chiếc thuyền mà bằng những chuyến bay. Tuy đã giảm rất nhiều, giờ chỉ là một phần chút xíu so với trước đây, nhưng xu hướng này vẫn tồn tại.

Đọc báo hay lướt Facebook thì bạn có thể thấy hàng loạt các quảng cáo du học định cư, đầu tư lấy thẻ xanh hay tìm việc làm ở Nhật. Tôi không thể nào không buồn và chạnh lòng. Nhưng vì sao người Việt Nam lại ra đi? Họ không chỉ là những người nghèo bán nhà đi lao động ở Đài Loan hay những cô gái nghèo lấy chồng Hàn Quốc. Số người ngày càng trở nên khá giả và thuộc thành phần ưu tú của xã hội chúng ta. Họ là những doanh nhân, nghệ sĩ, nhà đầu tư, trí thức, giảng viên hoặc nhân viên cao cấp.

Vì sao họ lại ra đi? Có nhiều nguyên nhân, có nhiều lý do. Ở đây tôi không thể nào nói hết. Tôi chỉ có thể nói sơ sơ.
1. Họ ra đi vì họ không cảm thấy an toàn.
2. Họ ra đi vì họ chán cái không khí đầy ô nhiễm ở nơi này.
3. Họ ra đi vì họ cảm thấy mình không được tôn trọng khi đến cơ quan nhà nước làm thủ tục.
4.Họ ra đi vì đóng thuế nhiều nhưng nhận lại quá ít, hoặc chẳng nhận lại gì.
5.Họ ra đi vì họ không muốn con cái họ bị thầy cô dìm và ép.
6. Họ ra đi vì chính phủ liên tục ban hành những bộ luật vô lý.
7.Họ ra đi vì họ phát ngán với việc doanh nghiệp của họ bị thanh tra không lý do.
8. Họ ra đi vì họ lo sợ đồ ăn của họ có an toàn hay không, nó có hóa chất hay sạch hay không.
9. Họ ra đi vì để tìm cái hộ chiếu mà cho phép họ đi nhiều nước mà không cần phải bỏ tiền xin visa.
10. Họ ra đi vì ghét cảnh phải đút lót các y tá bác sĩ khi đi vào bệnh viện.
11. Họ ra đi vì họ không tìm thấy trách nhiệm trong một xã hội vô trách nhiệm.
12. Họ ra đi vì khi họ muốn sống một cuộc sống trung thực và không gian dối.
13. Họ ra đi vì họ muốn làm người lương thiện, vì nơi này làm người lương thiện vô cùng khó.
14. Họ ra đi vì họ muốn được hưởng lương cao, hay nói chính xác hơn là đúng giá trị với sức lao động của họ chứ không phải dựa vào mối quan hệ của họ.
15. Họ ra đi vì luật pháp không hề bảo vệ họ, nó chỉ bảo vệ những ai có tiền.
16. Họ ra đi vì họ muốn tìm sự công bằng.
17. Họ ra đi vì muốn cầm cái lá phiếu bầu để coi nó ra sao.
18. Họ ra đi vì khi họ lên tiếng nói nên những sự thật về đất nước, họ lại bị quy là phản động.
19. Họ ra đi vì họ đã mất niềm tin vào đất nước, con người và chính phủ Việt Nam.
20. Họ ra đi vì họ chẳng biết làm gì hơn trừ việc dùng đôi chân của họ để cất lên tiếng nói.

Việt Nam từ lâu đã không còn là một điểm đến, một nơi đáng sống. Nó chỉ là một trạm dừng chân. Nhà đầu tư đến đây để kiếm tiền, doanh nhân đến đây để nhận lương cao hơn, khách du lịch đến đây để ở khách sạn 5 sao giá rẻ và các cô cậu thanh niên đến đây để khám phá sự thú vị mà đất nước họ không có. Nhưng bao nhiêu người sẽ ở lại và coi nơi đây là nhà? Cũng có rất nhiều, nhưng so với số người ra đi thì là bao nhiêu? Quá ít. Việt Nam không là nơi đến, nó không thể là nơi đến được vì chính những người dân sinh sống ở đây cũng chẳng coi nó là nhà.

Ku Búa @ Café Ku Búa

Để đón nhận sự sống đời đời

Để đón nhận sự sống đời đời

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà 

(Suy niệm Tin mừng Gioan (Ga 11,3-7.17.20-27.33-45) trích đọc vào Chúa Nhật 5 mùa Chay năm A)

Trong muôn vàn nỗi sợ, thì sợ chết đứng hàng đầu. Thiết tưởng trên đời không có gì làm người ta khiếp sợ cho bằng sự chết. Tin khủng khiếp nhất là tin bị mắc bệnh ung thư, bị án tử hình…

Và không gì đáng quý trọng, đáng khao khát trên đời cho bằng được vui sống, sống trong hạnh phúc và vĩnh cửu.

Sự giòn mỏng của kiếp người

Tuy nhiên, sự sống đời này lại rất mỏng giòn, mong manh, tạm bợ. Các em nhỏ ngày xưa có trò chơi thổi bong bóng thật hay. Các em hòa một ít xà phòng trong ly nước, rồi dùng một cọng rơm nhúng vào đó và bắt đầu thổi. Thế là rất nhiều quả bóng lớn nhỏ khác nhau xuất ra từ đầu cọng rơm, bay nhởn nhơ trong không gian, long lanh hấp dẫn, óng ánh muôn màu. Nhưng rồi, chỉ vài giây sau, bong bóng nầy nối tiếp bong bóng kia, bụp, bụp bụp…! Tan biến hết! Tất cả trở về hư không!

Đời sống con người cũng thế. Chúng ta xuất hiện trên đời như những chiếc bong bóng xuất ra từ đầu cọng rơm, chúng ta nhởn nhơ trong cuộc đời, cuộc đời chúng ta cũng lóng lanh sắc màu như những quả bóng xà phòng kia và số phận chúng ta cũng như những quả bóng bé bỏng đó, kẻ trước người sau nối tiếp nhau từ giã cuộc đời.

Đứng trước thân phận giòn mỏng, phù du của kiếp người, một nhà thơ Nguyễn Công Trứ than rằng: “Ôi, nhân sinh là thế, như bóng đèn, như mây nổi, như gió thổi, như chiêm bao…”

Nhờ đâu có cuộc sống lâu bền?

Ai trong chúng ta cũng khát khao được sống, nhưng là muốn có được một đời sống lâu dài chứ không phải là đời sống giòn mỏng, tạm bợ; muốn có được một đời sống hoan lạc chứ không chỉ là một cuộc sống đầy gian truân khổ ải ở trần gian.

Nhưng làm sao để có được đời sống tuyệt vời như mong ước?

Qua Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su bày tỏ cho chúng ta một bí mật tuyệt vời, một bí quyết giúp chúng ta chiếm hữu cho mình sự sống lâu bền bất tận, một đời sống hoan lạc trên thiên quốc. Bí mật đó, bí quyết đó đã được Chúa Giê-su bày tỏ từ hai ngàn năm qua, khi Chúa nói với Mác-ta là chị của La-da-rô,  khi anh này đã được mai táng bốn ngày:

“Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Và bất cứ ai sống mà tin vào Ta sẽ không chết bao giờ.”

Để minh chứng cho lời mình nói, Đức Giê-su đã làm cho La-da-rô sống lại, dù ông nầy đã an giấc trong mộ.

Qua sự kiện nầy, Chúa Giê-su muốn tỏ cho chúng ta biết Ngài là nguồn ban sự sống.

Như mặt trời là nguồn sáng cho địa cầu thế nào thì Chúa Giê-su là nguồn ban sự sống đời đời cho nhân loại như thế. Ngài đã ban lại sự sống cho người đã chết chôn trong mồ và chính Ngài sau khi chết đã tự mình sống lại.

Làm sao để đón nhận sự sống đời đời từ Chúa Giê-su?

Muốn đạt tới sự sống đời đời, thì chúng ta cần phải tin vào Đức Giê-su Ki-tô, như lời Ngài phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta thì dù có chết cũng sẽ được sống. Ai sống mà tin Ta sẽ không chết bao giờ.”

Nhưng tin là gì?  Tin ở đây không phải là tin suông. Vì “đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Tin vào Đức Giê-su là gắn bó đời mình với Đức Giê-su, kết hợp với Ngài và sống như Ngài đã sống, là yêu thương phục vụ mọi người như Ngài đã nêu gương…

Lạy Chúa Giê-su là nguồn ban sự sống,

Bóng đèn muốn được toả sáng thì phải được nối kết với nguồn điện;

Cành nho muốn được trổ sinh hoa trái phải được tháp nhập vào thân nho;

Bàn tay muốn sống còn và hoạt động thì phải nối liền với thân thể.

Xin cho chúng con luôn kết hợp với Chúa cách mật thiết, như bóng đèn với nguồn điện, như cành nho với thân nho, như bàn tay với thân thể… để được đón nhận sự sống đời đời do Chúa truyền ban.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

Anh chị Thụ & Mai gởi

40 THỨ CÓ THỂ TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY VÀ SUỐT CẢ ĐỜI

40 THỨ CÓ THỂ TỪ BỎ ĐỂ SỐNG MÙA CHAY VÀ SUỐT CẢ ĐỜI

Trầm Thiên Thu,

Thứ Tư Lễ Tro là khởi đầu Mùa Chay.  Mùa Chay tới, nhiều người nghĩ phải cố gắng từ bỏ điều gì đó để bước theo Đức Kitô.  Tuy nhiên, những điều này lại thường ít ảnh hưởng đến cuộc sống, chúng ta “khôn lỏi” lắm!

Dưới đây là 40 thứ có thể từ bỏ để sống Mùa Chay.  Không phải là những thứ liên quan việc ăn uống, nhưng chúng thực sự cần từ bỏ.  Mùa Chay kéo dài 40 ngày, mỗi ngày cố gắng từ bỏ 1 điều.  Trong 40 điều này, có những điều không chỉ từ bỏ trong Mùa Chay mà phải từ bỏ suốt cả đời.

  1. SỢ THẤT BẠI– Bạn không thành công nếu chưa trải qua thất bại.  Đúng như tục ngữ Việt Nam nói: “Thất bại là mẹ thành công”.
  2. VÙNG AN TOÀN– Đó là “vùng thoải mái”, sợ khó.  Dám ra ngoài “vùng” này thì chúng ta mới có thể khám phá những điều mới lạ.
  3. CẢM THẤY HOÀI NGHI– Có lúc chúng ta nghi ngờ rằng không biết Tạo Hóa có tạo dựng nên mình hay không.  Hãy xác định như tác giả Thánh Vịnh: “Tạng phủ con, chính Ngài đã cấu tạo, dệt tấm hình hài trong dạ mẫu thân con.  Tạ ơn Chúa đã dựng nên con cách lạ lùng, công trình Ngài xiết bao kỳ diệu!  Hồn con đây biết rõ mười mươi.  Xương cốt con, Ngài không lạ lẫm gì, khi con được thành hình trong nơi bí ẩn, được thêu dệt trong lòng đất thẳm sâu.  Con mới là bào thai, mắt Ngài đã thấy; mọi ngày đời được dành sẵn cho con đều thấy ghi trong sổ sách Ngài, trước khi ngày đầu của đời con khởi sự”(Tv 139, 13-16).
  4. THIẾU KIÊN NHẪN– Thời giờ của Thiên Chúa là thời giờ hoàn hảo.  Mọi thứ đều đúng hẹn, đúng kỳ theo ý Ngài tiền định và quan phòng.
  5. SỐNG ẨN DẬT– Còn hít thở, chúng ta còn sống với người khác và tương tác với họ vì Đức Kitô.  Công việc của chúng ta luôn ảnh hưởng người khác.
  6. LÀM VUI LÒNG NGƯỜI KHÁC– Không ai có thể làm vừa lòng mọi người, nhưng chúng ta phải luôn cố gắng làm vui lòng người khác, còn họ có vừa lòng hay không là phần của họ.
  7. SO SÁNH– Một là cảm thấy mình kém cỏi hơn người khác, hai là cảm thấy mình “ngon lành” hơn người khác.  Dạng nào cũng không được.
  8. TRÁCH CỨ– Chúng ta có xu hướng không dám nhận lỗi, và luôn muốn đổ lỗi cho người khác.
  9. PHẠM TỘI– Nhân vô thập toàn.  Mặc dù chúng ta là tội nhân, Thiên Chúa vẫn yêu thương chúng ta, và Chúa Giêsu đã chết vì chúng ta.  Hôm nay là ngày mới, hôm qua đã không còn.
  10. MẤT TỰ CHỦ– Do đó chúng ta khó có thể hoàn tất công việc và làm tốt hơn.
  11. THIẾU DỰ ĐỊNH– Các quyết định khôn ngoan hiếm khi trở thành vô ích.
  12. KHÔNG MINH BẠCH – Một là không minh bạch về điều này hoặc điều nọ (khuất tất), hai là không trong sạch (nhân đức).
  13. TỰ QUYỀN– Thiên Chúa không mắc nợ chúng ta điều gì, thế giới cũng chẳng mắc nợ chúng ta điều gì.  Hãy cố gắng sống trong ân sủng và khiêm nhường.
  14. LÃNH ĐẠM– Cuộc đời có bao nhiêu mà hững hờ.  Không quý mến nhau thì cũng đừng kèn cựa nhau.  Tranh chấp nhau, giành giật nhau, hơn thua nhau làm gì?
  15. GHEN GHÉT– Hãy cảnh giác kẻo mắc lừa ma quỷ, bởi vì chúng rất ranh mãnh.  Kinh Thánh căn dặn: “Đừng để cho sự ác thắng được mình, nhưng hãy lấy thiện mà thắng ác”(Rm 12, 21).
  16. TIÊU CỰC– Hãy cố gắng quan hệ hòa nhã với mọi người.  Tránh né người khác là tiêu cực, mà cũng chỉ vì chúng ta không coi trọng người khác nên mới tránh né họ.
  17. MÊ VẬT CHẤT– Hãy nhớ rằng có Thiên Chúa là có tất cả, mất Thiên Chúa là mất tất cả: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì”(Tv 23, 1).
  18. SỐNG MÁY MÓC– Càng đầu tư nhiều thì càng có lợi nhiều.  Về tinh thần và tâm linh cũng vậy.
  19. THAN PHIỀN– Đừng cằn nhằn, khó tính, than thân trách phận hoặc trách móc người khác, hãy cố gắng xử lý và giải quyết vấn đề cho thấu đáo.
  20. BẤT CẦN– Thiên Chúa muốn chúng ta hạnh phúc cả đời này và đời sau.  Đó là niềm vui sống. Đừng buông xuôi, bất cần đời !
  21. GAY GẮT – Đó là tự làm khổ mình, và tất nhiên cũng làm khổ người khác.  Tâm bất an thì không thể nào sống vui và sống khỏe, bệnh tật phát sinh từ đó.
  22. CHIA TRÍ– Cuộc sống có nhiều thứ khiến chúng ta chia trí, vì thế cần phải tập trung vào mục đích của mình.
  23. MẶC CẢM – Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ chúng ta, dù chúng ta xấu xa và tội lỗi: “Dầu cha mẹ có bỏ con đi nữa thì hãy còn có Chúa đón nhận con”(Tv 27, 10).
  24. TẦM THƯỜNG– Cuộc đời chúng ta có thể không ai biết đến, không có gì khác thường, sống rất bình thường, nhưng tuyệt đối đừng sống tầm thường.
  25. GÂY CHIA RẼ – Chia rẽ là chết, đoàn kết mới sống.  Khuyến khích nhau là điều cần thiết, mọi nơi và mọi lúc:“Phải khuyến khích nhau, nhất là khi anh em thấy Ngày Chúa đến đã gần”(Dt 10, 25).
  26. BẬN RỘN– Đó là “huy hiệu danh dự” của người mê công việc mà bỏ bê những thứ cần thiết khác.
  27. CÔ ĐỘC – Có Chúa Giêsu, chúng ta sẽ không cô độc.  Ngài luôn hiện diện và đồng hành với chúng ta.
  28. BẤT HÒA – Xung đột là mối nguy cho cuộc sống, cả đời thường và tâm linh.  Xung đột xảy ra thì không thể hợp tác.  Sự cộng tác và đồng tâm nhất trí rất cần: “Nếu ở dưới đất, hai người trong anh em hợp lời cầu xin bất cứ điều gì thì Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, sẽ ban cho”(Mt 18, 19).
  29. VỘI VÀNG– Dục tốc bất đạt.  Dù to hay nhỏ, cái gì cũng cần có thời gian, không thể một sớm một chiều.
  30. LO LẮNG– Thiên Chúa kiểm soát mọi sự, chúng ta có lo lắng cũng chẳng thay đổi được gì: “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho. Vậy, anh em đừng lo lắng về ngày mai: ngày mai, cứ để ngày mai lo.  Ngày nào có cái khổ của ngày ấy”( Mt 6, 33-34 ).
  31. THẦN TƯỢNG HÓA – Đừng thần tượng hóa bất cứ ai, bắt chước là ngu xuẩn, hãy cứ là chính mình!  Chỉ có Thiên Chúa là Đấng hoàn hảo mà thôi.
  32. CỐ CHẤP– Cuộc sống luôn phải thay đổi để thích nghi mọi thứ.  Cố chấp là ích kỷ, là hèn nhát.
  33. KIÊU NGẠO– Thiên Chúa hạ bệ kẻ kiêu ngạo, nhưng nâng cao người khiêm nhường (Lc 1, 51-52).
  34. NÔNG CẠN – Đừng nói rằng vấn đề khó quá, chính vấn đề khó đó cho chúng ta biết Thiên Chúa vĩ đại.“Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi, mà khó vì lòng người ngại núi e sông”(Nguyễn Thái Học).
  35. ĐỐ KỴ– Người Pháp có câu nói chí lý: “Đừng vì kính mến Chúa mà chống đối người khác.” Mọi người đều là anh em và là con một Cha trên trời.
  36. VÔ ƠN BẠC NGHĨA– Cuộc sống là những ngày tháng chúng ta mắc nợ Thiên Chúa, chúng ta cũng mắc nợ tha nhân và xã hội nhiều thứ.  Do đó, chúng ta không thể không biết ơn Thiên Chúa và cuộc đời.
  37. THAM LAM– Thiên Chúa có kế hoạch riêng dành cho mỗi người: “Ta đã gọi ngươi đích danh, đã ban cho ngươi một tước hiệu, dù ngươi không biết Ta”(Is 45, 4).  Hãy cố gắng làm trọn công việc Ngài giao phó.
  38. TỰ MÃN – Chúa Giêsu là sức mạnh của chúng ta:“Với Đấng ban sức mạnh cho tôi, tôi chịu được hết”(Pl 4, 13).  Có Ngài thì chúng ta mới làm được công kia việc nọ, không có Ngài thì chúng ta chẳng làm nên trò trống gì đâu: “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được”(Ga 15, 5).
  39. ƯU SẦU – Buồn thì cứ khóc, xong rồi thôi.  Đừng giam mình trong vòng ưu sầu.  Mọi sự sẽ qua, cứ tín thác vào Thiên Chúa: “Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa, cảm tạ thánh danh Người”(Tv 30, 5b).
  40. CUỘC ĐỜI– Thế gian là cõi tạm, rồi sẽ qua đi.  Đừng coi nặng vật chất, kể cả cuộc sống của chúng ta, tất cả chỉ là bụi tro mà thôi.  Chúa Giêsu đã nói: “Ai yêu quý mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời”(Ga 12, 25).

Trầm Thiên Thu,

theo Greater Things Today, Mùa Chay 2017

THANH TẨY ĐỀN THỜ

THANH TẨY ĐỀN THỜ
Mahatma Gandhi, vị thánh của dân tộc Ấn Độ, trong nhật ký tự thuật của mình, ông kể rằng khi còn theo học ở Nam Phi, ông rất thích đọc KinhThánh, đặc biệt là “Bài giảng trên núi”. Ông xác tín rằng Kitô giáo chính là giải đáp cho hệ thống đẳng cấp đã gây thương tổn cho đất nước Ấn Độ của ông từ bao thế kỷ. Ông thực sự nuôi ý định trở thành Kitô hữu.

Ngày kia, ông vào một nhà thờ để dự lễ và nghe giảng. Người ta chặn ông lại ở cửa nhà thờ và nhẹ nhàng cho ông hay rằng nếu ông muốn dự lễ, xin mời ông đến một nhà thờ dành riêng cho người da đen.

Ông ra đi và không bao giờ trở lại.

***

Tin Mừng hôm nay thuật lại Đức Giêsu xua đuổi những người bán chiên bò, chim câu và những người đổi tiền ra khỏi Đền Thờ. Chắc chắn Người không hề xua đuổi những con người thành tâm thiện chí. Nhà thờ là nơi tôn nghiêm, qui tụ các tín hữu, cử hành phụng vụ Lời Chúa và phụng vụ Thánh Thể, mọi người chung một niềm tin, một lời cầu tôn vinh Thiên Chúa. Nhà thờ chính là Hội Thánh thu nhỏ, không phải là ngôi nhà kín rào lũy cấm, trái lại phải mở rộng để đón tiếp mọi người.

Hôm nay Đức Giêsu phải xua đuổi người ta ra khỏi Đền Thờ, vì Người không muốn nơi thánh thiêng trở thành cái chợ, Người không muốn nhà Cha Người bị xúc phạm. Người thấy cần phải thanh tẩy Đền Thờ. Thái độ quyết liệt của Đức Giêsu đòi chúng ta phải xét lại chính mình.

Dường như không khí chợ búa vẫn vương vấn đâu đây: Người ta hẹn hò vào các giờ lễ, họ đi nhà thờ nhưng mắt trước mắt sau, họ lo trình diễn áo quần kiểu tóc.

Có kẻ đến nhà thờ để thắp sáng hào quang cho chính mình hơn là cho Chúa.

Có những đám cưới yêu cầu bật sáng mọi bóng đèn trong thánh đường.

Có những đám ma nhà thờ phải treo cờ tang phướn rũ như một biển tím, một rừng tang. Đồng tiền đã che mờ nét tôn nghiêm nhà Chúa.

“Hãy đem tất cả những thứ này ra khỏi đây”. (Ga 2,16). Lời bất bình đó của Đức Giêsu vẫn như còn đang nói với chúng ta hôm nay. Người muốn các nhà thờ phải là nơi thờ phượng, nơi tĩnh lặng để con người gặp gỡ Thiên Chúa. Không cần ồn ào, nặng phần trình diễn, cũng không nên máy móc, buồn tẻ khi cử hành các nghi thức phụng vụ.

Nếu mỗi thánh lễ là tái diễn Hy lễ Thập Giá của Đức Giêsu, Đấng đã yêu cho đến cùng, thì mỗi thánh lễ cũng mang một sức sống mới của Đấng Phục Sinh. Người chính là Đền Thờ mới, nơi nhân loại sẽ thờ phượng Thiên Chúa Cha cách đích thực.

***

Lạy Cha, Mùa Chay là mùa thanh tẩy các đền thờ: đền thờ vật chất là những thánh đường và đền thờ thiêng liêng là mỗi người chúng con. Xin giúp chúng con biết thanh tẩy những nhơ nhớp trong tâm hồn, hầu xứng đáng đến thờ phượng Cha trong Đền Thờ mới là Đức Giêsu, con cha. Amen!

Thiên Phúc

Ngọc Nga sưu tầm

CÁN CÂN TÌNH YÊU

CÁN CÂN TÌNH YÊU
Một linh mục thuộc giáo phận New York bên Hoa Kỳ chuyên lo mục vụ cho các tù nhân đã kể lại kinh nghiệm như sau:

Một hôm, ngài được mời đến thăm một thanh niên da đen sắp sửa bị đưa lên ghế điện vì đã giết người bạn gái của mình. Như thường lệ, mỗi khi gặp một tử tội sắp bị hành quyết, vị linh mục thường khuyên nhủ, giải tội và trao ban Mình Thánh Chúa.

Sau khi đã lãnh nhận các bí tích cuối cùng, người thanh niên da đen bỗng trầm ngâm suy nghĩ như muốn nói lên một điều gì rất quan trọng. Cuối cùng, với tất cả cố gắng của một người biết mình sắp lìa cõi đời này, anh mới thốt lên với tất cả chân thành:

– Thưa cha, con đã làm hư hỏng cả cuộc đời. Con chưa hề học được một điều gì hữu ích ngoài một điều duy nhất đó là đánh giày. Xin cha cho con được phép đánh bóng đôi giày của cha. Như thế, con sẽ hài lòng vì nhận được sự tha thứ của Chúa, bởi vì con không biết làm gì để tạ ơn Chúa trước khi con gặp lại người bạn gái của con trên thiên đàng

Và không đợi cho vị linh mục trả lời, người thanh niên đã cúi gập người xuống và bắt đầu đánh bóng đôi giày của vị linh mục… Cử chỉ ấy khiến cho vị linh mục nhớ lại hình ảnh của người đàn bà đã quỳ gối bên chân Chúa Giêsu, đổ dầu thơm trên đầu, trên chân của Ngài và dùng tóc của bà để lau chân Ngài. Chúa Giêsu đã nói với bà: “Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.

***

Sám hối, ăn chay, đền tội, đó là những khẩu lệnh mà mỗi người chúng ta đều nghe lặp đi lặp lại trong suốt Mùa Chay này. Theo quan niệm công bình và thưởng phạt của chúng ta, kẻ có tội ắt phải đền tội. Toà án của loài người thường cân lường tội trạng của người có tội để tìm ra một hình phạt cân xứng.

Chúng ta không thể áp dụng một thứ cán cân như thế vào trong mối tương quan giữa tội lỗi của chúng ta với sự công bình của Thiên Chúa. Nơi Thiên Chúa chỉ có một trái tim duy nhất: đó là lòng nhân từ. Thiên Chúa yêu thương chúng ta và tha thứ tất cả tội lỗi của chúng ta bằng lòng nhân từ vô biên của Ngài.

Do đó, khi nói đến ăn chay đền tội, chúng ta không thể cân lường tội lỗi của chúng ta để rồi tìm ra một lượng đền tội cho cân xứng. Có hy sinh nào tương xứng được với tội trạng của chúng ta? Có án phạt nào cân xứng với sự xúc phạm của chúng ta?

Thiên Chúa không chờ đợi nơi chúng ta điều gì khác hơn bằng chính tình yêu của chúng ta. Với tình yêu, thì dù một cử chỉ nhỏ mọn cũng trở thành một lễ dâng đẹp lòng Chúa. Những gì chúng ta dâng lên Chúa, không phải là của cải chúng ta có, những bố thí chúng ta làm cho người khác, những khổ chế chúng ta tự áp đặt cho bản thân… mà chính là lòng yêu mến của chúng ta.

“Tội của con dù có nhiều đến đâu cũng được tha, bởi vì con đã yêu nhiều”.

Ước gì lời của Chúa Giêsu nói với người đàn bà tội lỗi cũng là lời ngọt ngào mà chúng ta tiếp nhận trong suốt Mùa Chay này.

***

Lạy Chúa, Chúa nhân từ đối với ai khiêm tốn, và tha thứ cho kẻ biết hối cải ăn năn. Xin soi sáng cho mỗi người chúng con biết ăn năn hối cải và tăng cường việc bác ái yêu thương, hầu chế ngự mọi tính mê tật xấu. Nhờ đó, chúng con được sạch tội, và thêm lòng sốt sắng thông phần cuộc khổ nạn của Đức Kitô, Đấng hằng sống và hiển trị muôn đời. Amen!

Lm. LG. Huỳnh Phước Lâm

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Hạnh phúc là gì?

From facebook:  Hằng Lê‘s post.

Hằng Lê

Hạnh phúc không nằm trên những con số hoặc trong những tờ báo cáo. Hạnh phúc là cái cảm nhận thực tế của đời sống hiện tại của mỗi con người trong môi trường sinh sống của mình. Mà đời sống thực tế của người Việt Nam ngày nay như thế nào ?. Lương tháng một người công nhân Việt Nam bình thường chỉ đủ sống tằn tiện trong hai, ba tuần, tiền học phí và các loại đóng góp cho hai đứa con đi học mỗi tháng nhiều hơn tiền lương của một công nhân. Thực phẩm thì đầy hóa chất và dơ bẩn, môi trường thì ô nhiễm. Nhà thương thì ít và thiếu chỗ nằm, hai, ba người một giường và nằm la liệt dưới gầm giường hoặc hành lang của bệnh viện. Sinh hoạt dân sự và quyền lợi chính trị thì đầy áp bức và bất cập. Viên chức chính quyền thì chỉ biết lạm dụng quyền hành để áp bức, cựa quyền, tham nhũng và hối lộ. Công an, cảnh sát chỉ biết phục vụ cho quyền lợi nhóm, bảo vệ đảng và chống lại quyền lợi chính đáng của nhân dân, họ giết người và hành hạ người dân mà không sợ bị trừng phạt. Hệ thống tư pháp không được độc lập và chỉ hành động theo chỉ thị của đảng Cộng Sản, nhà tù nhiều hơn trường học và đầy dẫy những bất công. Tù chính trị chỉ thấy đa số những người yêu nước chống ngoại xâm và vì tranh đấu cho nhân quyền và dân quyền, bất cứ đóng góp chính đáng nào của công dân cho sự tiến bộ của đất nước đều bị từ khước và có thể bị quy chụp tội chống đối nhà nước, nghĩa là có thể bị tù tội bất cứ vì lý do gì. Một đất nước mà người giàu, người giỏi tìm mọi cách bỏ nước ra đi, các du học sinh không muốn trở về cố hương sau khi thành tài và các cô gái xinh đẹp từ chối những mối tình tại quê nhà để theo một kẻ xa lạ, tật nguyền, già lão về một vùng đất xa lạ ở quê người như Đài Loan, Đại Hàn, Trung Quốc….Một đất nước mà những tên mất nhân tính chỉ biết lừa dối, phỉnh gạt, ác với dân, hèn với giặc lại được xưng tụng như những minh quân, những tên nịnh thần, a dua, dốt nát được trọng dụng và những người tài giỏi thiết tha với tổ quốc bị trù dập không thương tiếc. Một đất nước như thế mà được công nhận là một nơi đáng sống, một quốc gia hạnh phúc thì chỉ có những kẻ bị tâm thần hoặc là bọn bất lương và bọn phù thủy chính trị mà thôi.

(Người Sông Lam)

Những chiếc xe hơi mới giá rẻ nhất năm 2017

Những chiếc xe hơi mới giá rẻ nhất năm 2017

Tư Mỏ Lết

Nissan Versa Sedan 2017, chiếc xe hơi giá rẻ nhất nước Mỹ. (Hình: consumerreports.org)

Đối với sinh viên mới ra trường, người đi làm lương tối thiểu, những ai xem xe hơi chỉ là phương tiện để di chuyển từ điểm A đến điểm B, thì những chiếc xe hơi mới tinh chỉ ở mức trên dưới $15,000, tức giá chỉ tương đương xe đã qua sử dụng, nên tha hồ lựa chọn.

Tất nhiên, những chiếc xa này không thể rộng rãi, tiện nghi, và “vọt” như những chiếc xe tiêu chuẩn cao hơn. Tuy nhiên, xét về tiêu chuẩn an toàn và hiệu quả, những chiếc xe giá rẻ này hiện nay đã cải thiện hơn xưa rất nhiều.

 Theo ý kiến của nhiều người lái xe có kinh nghiệm, lái xe mới tinh có cái sướng nhất là sẽ không phải lo chuyện hư lặt vặt trong tối thiểu năm năm trời. Chứ mua xe cũ, dù là những hiệu xe nổi tiếng, chỉ mới đi vài năm, cũng vẫn không yên tâm bằng. Đó là chưa kể xe cũ thì phụ thuộc vào… chủ cũ. Đời chủ trước đã “nâng niu” hay “tàn phá” xe ra sao, mình không thể biết được. Thôi thì… “cưới vợ mới” vẫn yên tâm hơn!

Trang web chuyên ngành xe hơi Autoblog giới thiệu một số chiếc xe hơi giá rẻ nhất đáng lưu ý trong năm 2017. Hãy cùng điểm qua một số chiếc xe “rẻ, đẹp, mới” đó.

1-Nissan Versa Sedan: Giá $12,855. Tức là bằng một chiếc Honda Accord, hay Toyota Camry đã qua vài năm sử dụng. Đây là giá thấp nhất cho một chiếc xe mới tại Hoa Kỳ từ trước đến giờ. Động cơ 109 mã lực, năm số tay, máy lạnh, Bluetooth, hệ thống an toàn ABS. Xem như đầy đủ tiện nghi ở mức tối thiểu cho một chiếc xe hơi. Người lái phải chịu khó quay kính xe bằng tay, và khóa cửa xe cũng bằng tay. Giá rẻ thế, thì lao động một chút, đâu có sao!

2-Mitsubishi Mirage: Giá $13,830. Theo Autoblog, chính ra chiếc xe này phải có giá rẻ nhất mới đúng. Động cơ ba xi lanh chỉ có 78 mã lực, không có Bluetooth, không có cruise control. Nó chỉ hơn chiếc Nissan Versa S Sedan ở một điểm, đó là quay kiếng và khóa của xe tự động! Vậy “cái tiện nghi này có đáng tiền hay không” thì tùy theo lựa chọn của người mua!

3-Chevrolet Spark: Giá $13,875. Chiếc này khá tương đồng với chiếc Mitsubishi Mirage về kiểu dáng, kích thước, động lực. Lý do mắc hơn $45 có thể do động cơ bốn máy 98 mã lực, Bluetooth, Android Auto, CarPlay, và có chỗ gác tay nữa. Cũng đáng tiền đó chứ! Chỉ có điều là phải trở lại tiêu chuẩn “tập thể dục” trên xe: Quay kính xe bằng tay, và khóa cửa xe cũng bằng tay.

4-Ford Fiesta Sedan: Giá $ 14,535. Với mức giá vượt qua ngưỡng $14,000, thì chiếc Ford Fiesta khá giống với các xe ở mức tiêu chuẩn bình thường. Đó là một lợi điểm đáng chú ý. Chỗ ngồi băng sau rộng rãi hơn, và có thể chở được năm người, cho dù cốp xe chứa đồ đạc chưa được nhiều. Và với động cơ 120 mã lực, chiếc xe vẫn thuộc nhóm giá rẻ này cũng có thể “vọt” không kém những chiếc xe tiêu chuẩn là bao. Thêm một ít tiền là có thể lựa chọn kiểu hatchback (năm cửa) nữa.

5-Kia Rio: Giá $15,060. Tăng giá quá con số $15,000, chiếc Kia Rio có thêm một lợi thế là hộp số tiêu chuẩn sáu số tay. Đây cũng là chiếc xe nằm trong nhóm giá rẻ có công suất động cơ lớn nhất, 138 mã lực. Đó là những đặc tính kỹ thuật hấp dẫn nhất của Kia Rio. Phần nội thất thì vẫn… tối thiểu: Quay kính bằng tay, không có chỗ gác tay.

6-Smart For Two Pure: Giá $15,400. Đây cũng là chiếc xe nhỏ nhất trên đường phố Mỹ, chỉ có hai chỗ ngồi. Đây là phiên bản thứ nhì của chiếc Smart For Two, một sản phẩm… chú lùn khá kỳ dị của hãng xe khổng lồ Mercedes. Có vẻ chiếc xe này thích hợp ở thị trường Âu Châu, nơi chỗ đậu xe vô cùng thiếu thốn, hơn là ở Mỹ.

7-Hyundai Accent: Giá $15,580. Chiếc xe này khá “đỏm dáng” theo kiểu tài tử Nam Hàn. Thích hợp cho những ai muốn tiết kiệm tiền mua xe, nhưng không muốn mất đi tất cả những tiện nghi căn bản của một chiếc xe hơi. Hyundai Accent quay kính tự động, khóa cửa tự động, băng ghế sau có thể gấp lại riêng rẽ, có jack cắm phụ cho điện thoại và máy nghe nhạc.

8-Fiat 500: Giá $15,990. Nhiều người đã tỏ ra ngạc nhiên, khi chiếc xe kiểu hatchback rất điệu đàng kiểu Ý này lại nằm trong danh sách xe cạnh tranh bằng giá rẻ. Nhưng thực ra, Fiat 500 là một chiếc xe thuộc dạng size nhỏ, và giá trên chỉ áp dụng cho loại xe hai cửa, được cho là bất tiện đối với một số người. Cũng như chiếc Smart For Two, dạng xe tí hon này chỉ thể hiện ưu điểm ở những nơi thành phố đông đúc, ít chỗ đậu xe như Âu Châu.

9-Chevrolet Sonic: Giá $16,200. Thật là ngạc nhiên khi hãng xe Hoa Kỳ danh tiếng này bây giờ cũng chen chân cạnh tranh ở phân khúc thị trường xe giá rẻ. Chevrolet được đánh giá là thích thú khi lái, và trang bị khá tiêu chuẩn. Động cơ 1.8 lít, 138 mã lực.

10-Toyota Yarris: Giá $16,530. Toyota Yarris 2017 được đánh giá là hấp dẫn hơn những chiếc thuộc thế hệ trước do kiểu dáng thể thao hơn, đẹp hơn theo phong cách Âu Châu, và được trang bị nhiều hơn. Điểm đáng chú ý của những trang bị tiêu chuẩn trong Toyota Yarris chính là ứng dụng Toyota Entune, cho phép kết nối xe với điện thoại di động. Điều này khá quan trọng đối với các tay lái trẻ. Động cơ 106 mã lực với năm số.

Nghĩ lại cũng khá ngạc nhiên, thị trường Mỹ cách đây vài thập niên chỉ chuộng những chiếc xe kềnh càng, tiện nghi tối đa, uống xăng thoải mái để chạy cho thật lẹ. Vậy mà bây giờ, phân khúc thị trường xe giá rẻ cũng đông đúc, xôm tụ, và có mặt cả những hãng xe Hoa Kỳ danh tiếng.

‘Bóng ma’ nhạc vàng

‘Bóng ma’ nhạc vàng

Tạp ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

(Hình minh họa: Hoàng Đình Nam/AFP/Getty Images)

Theo tin báo chí trong nước, vào Tháng Ba năm nay, Cục Nghệ Thuật Biểu Diễn thuộc Bộ Văn Hóa Thông Tin-Du Lịch vừa quyết định “tạm thời dừng lưu hành năm ca khúc sáng tác trước năm 1975.” Đây là những nhạc phẩm đã được cấp phép trước đó, bây giờ lại có lệnh tạm dừng phổ biến.

Trong thời buổi này người ta khó để đi tìm một định nghĩa cho nhạc vàng, đã được nhìn lệch lạc qua lăng kính chính trị, nhất là sau năm 1975, sự thừa thắng và kiêu ngạo đã làm cho người Cộng Sản có cái nhìn ác độc thiếu công bình cho nền văn học tự do trước thời kháng chiến hay sau khi đất nước chia đôi, ở miền Nam. Nhạc vàng được những nhà cầm quyền miền Bắc gán ghép cho là thứ âm nhạc bệnh hoạn, sầu não, bi luỵ thiếu “chiến đấu tính.” Có người còn hồ đồ cho đó là thứ nhạc sến. Cường điệu thêm theo cách nói của Nguyễn Hữu Liêm là “cái âm điệu tủi thân bi đát,” hay là một loại “nước dừa tang thương bằng âm nhạc.”

Nhưng có lẽ chính xác hơn hết, chúng ta phải tìm đến định nghĩa của nhạc vàng của Jason Gibbs trên trang Talawas: “Âm nhạc Tây phương phi cộng sản cũng như âm nhạc thịnh hành ở đó trở thành một đối tượng quan tâm lo ngại trong chính sách văn hoá của những người cộng sản. Nhạc vàng – cái tên đặt cho loại nhạc không chính thống này – bị “gác” và cấm cho đến cuối những năm 1980…”

Sau khi đất nước chia đôi năm 1954, ở miền Bắc văn học được định nghĩa như là một công cụ cho chính trị, ca nhạc, văn sĩ được xem như là những cán bộ văn nghệ của chế độ, mệnh danh là “văn công.” Âm nhạc được mang một màu đỏ để cổ vũ tinh thần chiến đấu của chiến sĩ, phục vụ chiến tranh, truyền đạt những chính sách của nhà nước, khuyến khích tình yêu lý tưởng cộng sản, cũng có cả những bài hát trữ tình, thể hiện tình yêu quê hương đất nước hoặc cổ vũ lao động, xây dựng, nhưng không rời xa việc kết nối với lãnh tụ, đảng và chính sách.

Trong suốt 30 năm “kháng chiến đã thành công,” các nhạc sĩ lãng mạn lừng lẫy một thời không di cư vào Nam được, chấp nhận lột xác, kiểm thảo về quá khứ sai lầm, lên án các tác phẩm của mình để sống còn. Sau phong trào Nhân Văn Giai Phẩm nhạc tiền chiến bị cấm hẳn. Loại nhạc được lưu hành tại miền Bắc trong thời kỳ 1954-1975, được gọi là nhạc đỏ. Suốt 30 năm, miền Bắc không có nổi một bản nhạc ca tụng tình mẹ, cho tình yêu, nếu trước đó chưa chịu chia phần cho đảng! (*)

Ở Hà Nội năm 1971, một vụ án liên quan đến “nhạc vàng” được xem là “nghiêm trọng,” đó là vụ án “Toán Xồm – Lộc Vàng,” miền Bắc kết án những người này chủ trương phổ biến “văn nghệ đồi truỵ,” dùng các bản nhạc vàng bi quan, sầu thảm, lả lướt, lãng mạn để truyền bá lôi, kéo thanh niên…” Kết quả là hai người đàn ông, một chịu bản án một người 10 năm, một 15 năm tù. Một người còn sống, một người đã chết ngoài đường phố sau khi mãn hạn tù đày.

Tại miền Bắc, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa với sự lãnh đạo của đảng Lao Động Việt Nam, tân nhạc cũng như điện ảnh, có nhiệm vụ chính là cổ vũ chiến đấu. Dòng nhạc “cách mạng” chiếm vị trí độc tôn, các nhạc sĩ lãng mạn hầu như không còn sáng tác.

Với đường lối cộng sản, ảnh hưởng âm nhạc của Trung Quốc và Nga ngày càng sâu đậm theo tỷ số ngày càng cao của các nhà soạn nhạc được gởi đi du học ở các nước cộng sản. Sau Tháng Tư, 1975, dân miền Nam, lần đầu tiên được nghe loại nhạc mang âm hưởng Trung Quốc, líu lo, được các giọng tenor và soprano hát như “Cô Gái Vót Chông,” “Bóng Cây Kơ-Nia,” “Tiếng Đàn Ta Lư…”

Ở miền Bắc người ta đã nghe thấy hàng chục bản nhạc ca tụng lãnh tụ Hồ Chí Minh và “đảng Cộng Sản quang vinh” ra rả trên đài phát thanh và truyền hình suốt ngày. Các nhạc sĩ mẫn cán dưới thời lãnh tụ Tố Hữu ra sức bình sinh, viết một hai bài dâng bác và đảng để biểu diễn lòng trung thành tuyệt đối, được lòng tin cậy của đảng, lại có thêm chút tem phiếu! Nếu Tố Hữu có 50 bài thơ viết về bác và đảng thì đàn em cũng phải có một hai bản nhạc ca tụng lãnh tụ và “đảng quang vinh.” Đó là “Việt Bắc nhớ Bác Hồ” (Phạm Tuyên), “Hồ Chí Minh Đẹp Nhất Tên Người ” (Trần Kiết Tường), “Đôi Dép Bác ” (Văn An), ” Nhớ Ơn Hồ Chí Minh” (Tô Vũ), “Lời Ca Dâng Bác ” (Trọng Loan), “Trồng Cây Lại Nhớ Đến Người” (Đỗ Nhuận), v.v… hay “Chào Mừng Đảng Lao Động Việt Nam” (Đỗ Minh), “Dưới Cờ Đảng Vẻ Vang” (Lưu Hữu Phước), “Vững Bước Dưới Cờ Đảng” (Phạm Đình Sáu), “Tiến Bước Dưới Cờ Đảng” (Văn Ký), “Dâng Đảng Quang Vinh” (La Thăng), “Từ Khi Có Đảng” (Nguyễn Xuân Khoát)…

Trong không khí ấy, người dân miền Bắc, nhất là lớp tuổi đi theo kháng chiến khi đã có trí khôn, bắt đầu tiếc nuối thời tiền chiến mơ mộng và thèm khát nói lên tiếng nói chân thật của trái tim. Người dân miền Bắc, qua những chiến lợi phẩm mà con cháu họ mang về từ miền Nam với những cuốn băng và cái máy cassettecủa “bọn đế quốc,” những bản nhạc, mới nghe qua, khá lạ lùng về lời ca, nhạc điệu, nhưng thật sự là gần gũi làm rung động tâm hồn của họ. Đó chính là loại nhạc vàng vẫn thường nghe nhà nước tuyên truyền là bệnh hoạn và vô cùng độc hại!

Người ta kể chuyện sau khi vào thăm Sài Gòn sau năm 1975, món quà quý nhất mà nhà thơ Huy Cận mang về Bắc là băng nhạc cassette thu thanh băng nhạc “Ngậm Ngùi” thơ của ông, do Phạm Duy phổ nhạc, với tiếng hát của nhiều ca sĩ miền Nam. “Ngậm Ngùi” là bài thơ trước chiến tranh, mà chế độ miền Bắc đã khai tử, người lớn không ai còn nhớ, và trẻ con chưa hề biết!

Cũng không phải ngẫu nhiên mà những năm gần đây, nhiều ca sĩ hải ngoại đã thay phiên nhau về nước hát nhạc vàng, và đã được người trong nước đón nhận khá nồng nhiệt. Chương trình của những ca sĩ hải ngoại như Tuấn Vũ, Thanh Tuyền, Giao Linh, Khánh Hà, Phi Nhung, Hương Lan, Ý Lan… tổ chức với mật độ dày đặc và thường xuyên hơn ở Hà Nội và Sài Gòn. Thái độ thích nghe loại nhạc này của trong nước thu hút nhiều ca sĩ hải ngoại về hát. Nhiều công ty ca nhạc trong nước cũng phấn khởi với những chương trình ca nhạc bán hết vé của các ca sĩ hải ngoại. Đó là nỗi khao khát được nghe loại nhạc vàng “bệnh hoạn” “độc địa” của một thời để giải toả cái khộng khí u uất giam cầm của những loại nhạc ca tụng lãnh tụ và đảng.

Có bao nhiêu bài hát được ca sĩ hải ngoại về hát ở trên sân khấu trong nước, đã được “cho phép” hay “bị cấm,” khó ai có thể kiểm chứng được, nó tuỳ lúc, tuỳ thời, tuỳ người và tuỳ…tiện. Vì “tuỳ tiện” nên nhiều ca khúc bị cấm mà người ta không hiểu vì sao bị cấm. Mỗi lần mùa Xuân tới, bản “Ly Rượu Mừng” dân chúng hát nát ra mấy chục năm nay để thay cho loại nhạc “mừng Xuân, mừng Đảng,” mà cho tới nay chính phủ mới cho phép dùng. Nhưng hãy coi chừng, một ngày kia, chính quyền nhức đầu sổ mũi lại cấm hát thì biết thếnào mà lần! Để ăn chắc, mỗi lần đang hát thì bị công an lên sân khấu lập biên bản, từ nay cứ làm đơn xin duyệt, mỗi lần xin duyệt tốn thêm chút cà phê, thuốc lá; nhưng đã có cái khuôn dấu rồi, vẫn chưa ăn chắc, vì chính quyền, tổ chức, vốn ba đầu sáu tay, rừng nào cọp nấy! Cũng có cô ca sĩ và bài hát được xử dụng ở Hà Nội những không được trình diễn ở Huế.

Chính quyền Cộng Sản lại là những anh nhát gan, sợ ma. Thôi thì vì trào lưu thanh niên trong nước muốn mặc quân phục VNCH, hát nhạc thời chiến trước năm 1975, thì ta cấm hẳn nhạc lính đi, nhưng vì sao cứ nói đến mùa Thu là ngại người ta nhớ đến ngày cướp chính quyền. Mùa thu chết của Phạm Duy lấy ý từ bài thơ của nhà thơ Pháp Apollinaire (1880-1918) thì theo Nguyễn Lưu, bài này là “đỉnh cao chống Cộng của Phạm Duy, với một bút pháp sâu cay, đểu giả…”

Ngay như những công dân chính thức CHXHCN Việt Nam là Phạm Duy và Trịnh Công Sơn, người đã được nhà nước Cộng Sản vinh danh, đặt tên đường, một số nhạc của họ giờ này vẫn chưa được phép phổ biến, nghĩa là đang còn bị xếp loại cấm hát. Theo BBC, mặc dầu Phạm Duy đã trở về Việt Nam định cư từ năm 2005, tuy nhiên, cho tới nay, mới khoảng 1/10 số bài hát của ông được phép biểu diễn ở trong nước. Với Trịnh Công Sơn, bài “Nhớ Mùa Thu Hà Nội,” cũng bị cấm hai năm, những người Cộng Sản “chẻ sợi tóc làm tư” để tìm những gì mà họ cho là ẩn ý trong từng lời hát!

Nhạc vàng đi ngược lại đường lối, chủ trương của đảng, ru ngủ làm mất sức sản xuất, lao động và học tập của dân chúng, hay là chỉ vì nó dễ ghét, vì lòng ganh tỵ vì được quá nhiều người thích.

Lấy kính hiển vi soi rọi vào năm bài hát vừa bị cấm hay mới bị cấm trở lại, thấy cũng không có lính, không có cờ, không có mùa Thu mà vẫn bị cấm, nên trên facebook có người mới hát nhại rằng: “Có đường không cho đi, cấm đi người vẫn đi, hỏi tại sao cấm đi?”

Chuyện buồn cười hơn là cả một bài hát vớ vẩn, “Đừng Gọi Anh Bằng Chú” của Diên An, cũng bị lên danh sách cấm. Thì ra đây là chuyện thù vặt, bài này nguyên là của nhạc sĩ Anh Thy, một quân nhân hải quân VNCH, tác giả những bài hát lính như “Hải Quân Việt Nam,” “Hải Đăng,” “Hoa Biển,” “Lính Mà Em,” “Tâm Tình Người Lính Thuỷ…” Có lẽ vì gặp khó khăn với chế độ trong nước, nên ca khúc này được đổi tên tác giả là Diên An. Cái tồi của trong nước là không dám nói thẳng vì Anh Thy là lính VNCH nên bản nhạc phải cấm. Anh đã là lính VNCH thì dù anh có viết những bài không dính líu gì đến lính, tôi vẫn cấm anh! Đó là đường lối chủ trương “hoà hợp hoà giải minh bạch” của đảng!

Có những thứ đã chết mà người ta tôn vinh, xây lăng cho nó, nó vẫn chết, nhưng có những thứ người ta muốn chôn vùi, huỷ hoại, nó vẫn đội mồ sống dậy.

________________________

(*)Trái tim anh chia ba phần tươi đỏ.

Anh dành riêng cho đảng phần nhiều.

Phần cho thơ và phần để em yêu… (Tố Hữu)*