Từ bỏ tất cả thì còn lại gì


Từ bỏ tất cả thì còn lại gì

 

Trầm Tư Bên suối

 

Trích Tin Mừng Gioan 12 : 25

Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất;

còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này,

thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời

Chúng tôi thường gài độ nhau khi đặt câu hỏi đầy thách thức:

Sau khi từ bỏ hết…thì còn lại gì??

Mọi người lắc đầu chịu thua.

Thế mà kỳ quái thay, cứ tới mùa chay, chúng tôi lại tha hồ nhắc nhở nhau:

Hãy từ bỏ…hãy từ bỏ… từ bỏ cả mạng sống mình!!!

Nhưng cả người nói lẫn người nghe chẳng ai dám tử bỏ mình cả !!!!

Hóa ra chúng tôi như những người mù dẫn mù cả 2 lăn cù xuống hố.

Tại sao vậy?

Bởi vì tôi không thể dùng toàn bộ ý chí của mình để từ bỏ chính cái tôi !!!

Quả thực tôi không thể từ bỏ chính mình

Giả sử từ bỏ được đi nữa thì một khi cái tôi mất…. thì tôi còn lại gì???

Chịu thua!!

Như vậy một câu hỏi cực kỳ quan trọng được nêu lên:

Tôi dùng cái gì để từ bỏ chính mình???

Tôi dựa vào đâu để từ bỏ chính mình???

Tôi dựa vào Chúa chăng?

Nghe có vẻ có lý đấy nhỉ…

Nhưng thực tế, rất khó thực hiện. Chúa vẫn ở đâu đó …xa lắm…

Tôi với Chúa như có một bức tường mang tên PHÀM HÈN sừng sững…

Ngăn cách giữa tôi và Chúa…

Vậy phải làm sao bây giờ???

 

Xin xem tren web

https://tramtubensuoi.blogspot.com/2018/03/tu-bo-tat-ca-thi-con-lai-gi.html

QUY LUẬT SỰ SỐNG

QUY LUẬT SỰ SỐNG

 

Cái chết của ông Y Rabin, Thủ Tướng Israel ngày 3/11/1995 đã làm cả thế giới chấn động.  Những người Do Thái quá khích giết ông, vì họ không chấp nhận công trình hòa bình ông đang kiến tạo với Palestine và các nước vùng Trung Đông.  Cái chết của ông Rabin làm cho thế giới nhớ lại cái chết của Mahatma Gandhi 50 năm trước đây: một người thanh niên Ấn Giáo quá khích đã sát hại vị Cha già của dân tộc Ấn, vì anh không thể chấp nhận việc ngài tha thứ và dạy tha thứ cho người Hồi Giáo.  Người ta cũng không thể quên cái chết của Mục sư Martin Luther King năm 1968, vì đã tranh đấu cho quyền bình đẳng của người da đen bằng phương pháp ôn hòa và bất bạo động.  Lịch sử nhân loại đã được viết bằng máu của biết bao gương mặt kiến tạo hòa bình như thế.  Liệu người ta có thể xếp cái chết của Chúa Giêsu vào hạng những cái chết vì hòa bình không?  Đâu là lý do khiến Chúa Giêsu phải chết, một cái chết cũng mang tính cách mạng như chính cuộc sống và sự điệp của Ngài? 

Chúa Giêsu đã chịu treo trên thập giá giữa hai tên trộm cướp.  Thời Đế quốc Rôma cai trị Palestine có biết bao người đã chết như thế, nhưng cái chết của Chúa Giêsu có lý do sâu xa hơn bất cứ một cái chết nào.  Chúa Giêsu đã có thể lẩn tránh được một cái chết như thế: Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại được, thì việc thoát tay kẻ thù đối với Ngài không phải là chuyện khó.  Ngài cũng có thể tránh được một cái chết như thế bằng cách thay đổi thái độ đối với những kẻ đang tìm cách hãm hại Ngài.  Nhưng Chúa Giêsu đã không hành động như thế.  Các sách Tin Mừng thuật lại rằng Ngài đã tự nộp mình cho kẻ thù.  Ngài chết để giải phóng con người khỏi tội lỗi và sự chết.  Một cuộc giải phóng vượt lên trên và bao trùm mọi thứ giải phóng khác.  Từ nay, với cái chết của Chúa Giêsu, sự chết không còn là một thực tại đáng sợ nữa, nhưng nó là cửa ngõ dẫn vào cuộc sống vĩnh cửu.

Thánh Gioan hôm nay đã dùng hình ảnh quen thuộc để diễn tả ý nghĩa đích thực của cái chết của Chúa Giêsu: hình ảnh của một hạt giống bị mục thối đi trong lòng đất để dẫn đến một mùa gặt phong phú.  “Nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình, còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều bông hạt khác.”  Cũng vậy, những đau thương Chúa Giêsu sắp trải qua sẽ không kết thúc ở một cái chết cằn cỗi mà sẽ dẫn đến sự phì nhiêu sung mãn của sự sống lại, một sự sống có khả năng tập họp mọi dân nước trong Nước Trời.

Tuy nhiên, là Thiên Chúa nhưng cũng là con người và như mọi con người, Chúa Giêsu cũng đã phải trải qua những giờ phút xao xuyến trong tâm hồn khi phải đương đầu với kẻ thù và cái chết nhơ nhuốc trên thập giá: “Bây giờ tâm hồn Con xao xuyến, Con biết nói gì đây?  Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ này…”  Chúa Giêsu đã từng bị cám dỗ xin Cha Ngài giải thoát Ngài khỏi “Giờ” đen tối hay khỏi “uống chén đắng” này.  Trong bài đọc 2, chúng ta còn được Thánh Phaolô cho thấy tâm trạng của Chúa Giêsu khi đứng trước “Giờ” của thập giá: “Chúa Kitô đã lớn tiếng và rơi lệ dâng lời cầu xin khấn nguyện lên Đấng có thể cứu Ngài khỏi chết…”  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã không xin Cha cứu Ngài khỏi chết mà xin cho Danh của Cha được tôn vình.  Điều này có nghĩa là Chúa Giêsu muốn cầu xin Thiên Chúa hãy tỏ ra Ngài là một người Cha, bằng cách hoàn tất công trình yêu thương của Ngài đối với con người, ngang qua cái chết và sống lại của Con của Ngài.  Qua lời cầu xin này, Chúa Giêsu cho thấy Ngài đã gián tiếp đón nhận “Giờ” của sự phục vụ cho tới hơi thở cuối cùng trên thập giá, nhưng đồng thời cũng là “Giờ” Con Người bước vào vinh quang.  Có điều “vinh quang” ở đây không theo ý nghĩa thường tình của chúng ta.  Vinh quang ở đây đòi phải trải qua khổ nhục.  Vinh quang của hạt lúa đã trổ bông, nặng trĩu và chín vàng, nhưng là sau khi bị chôn vùi dưới bùn rồi nứt nẻ, bứt phá khỏi hình thức hẹp hòi của vỏ trấu, để giờ này mới trở thành nguồn sống, và lại sẵn sàng nẩy mầm, phát triển, tăng gấp mãi.

Thánh Gioan đã diễn tả chân lý này như một quy luật tất yếu cho sự sống phát sinh và đạt tới ý nghĩa cuối cùng: Hạt lúa và bất cứ thứ hạt giống thực vật nào, đều mang ý nghĩa và sứ mạng truyền sinh, tăng trưởng gấp nhiều lần nguồn sống ẩn chứa trong bản thân.  Thế nhưng, muốn thể hiện ý nghĩa và sứ mạng này, nó phải qua tiến trình biến dạng hoàn toàn, phải chết đi.  Chúa Giêsu đã chấp nhận quy luật này, và vẫn đang “lôi kéo mọi người theo Ngài”.

Là quy luật, là chân lý Chúa Kitô mạc khải, làm sao con người chúng ta có thể tránh né?  Mặc dầu biết rõ mình phải nứt nẻ, bứt phá, lột xác, phải chết đi, mới góp phần làm phát sinh sự sống.  Thế nhưng chúng ta vẫn thường coi trọng và bảo vệ cái cũ, những gì là quen thuộc, dễ dãi, dễ chịu hơn là đổi mới.  Sống giữa một xã hội đang chủ trương đổi mới, thế mà chỉ mới đặt lại vấn đề đổi mới một số tư tưởng, cách làm ăn, tổ chức đời sống xã hội… cũng đủ làm chúng ta e ngại, lo âu.  Nói chi đến thay đổi cả nếp sống trước đây vẫn được tôn trọng.  Định luật của sự sống là đổi mới.  “Hat lúa phải mục nát đi trong lòng đất mới nảy sinh nhiều bông hạt.”  Chúa Giêsu đã nói đến cái chết của Ngài như một điều kiện cần thiết để đem lại sự sống mới cho mọi người.  Ngài phải chết đi để các Kitô hữu được sống, để muôn dân trở thành tín hữu và tất cả đều được cứu chuộc.

Còn chúng ta, được mời gọi theo Chúa Giêsu, chúng ta cũng đừng quên định luật căn bản của sự sống, đó là: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất, còn ai bằng lòng mất sự sống mình ở đời này thì sẽ giữ lại được cho cuộc sống muôn đời” (Ga 12,25).  Đi theo Chúa Giêsu đòi hỏi người môn đệ của Ngài phải chia sẻ cuộc sống và cả cái chết của Ngài.  Bài học của thập giá đó là đã có những cái chết không uổng công mà trái lại còn nảy sinh nhiều hoa trái, đó là cái chết vì tình thương, vì hạnh phúc, vì sự cứu độ của kẻ khác, vì sự giải phóng con người đồng loại, vì những cái gì còn đáng quý hơn cả chính mạng sống của mình, vì chính nghĩa, vì công lý, vì hòa bình, vì đức tin…

Ở đây, Chúa Giêsu đặt chúng ta trước một thang giá trị.  Chính khi con người biết vượt ra khỏi cái vỏ ích kỷ để sống một cuộc sống quảng đại, vì người khác, dù có phải vì thế mà hy sinh cả mạng sống của mình, con người đã thực sự bước vào cuộc sống mới.  Điều Chúa đòi hỏi nơi những kẻ muốn đi theo Ngài thì Ngài thực hiện nơi chính bản thân Ngài.

Tin Mừng hôm nay cho chúng ta thấy rõ ý nghĩa cái chết của Chúa Giêsu trên thập giá.  Ngài chết là để đi vào vinh quang của Chúa Cha và trở thành Đấng ban sự sống cho chúng ta.  “Nếu ta cùng chết với Ngài, ta sẽ sống với Ngài.  Nếu ta cùng đau khổ với Ngài, ta sẽ thống trị với Ngài” (x. Tin Mừng 2,8-12).  Ai ham sống, sợ chết, sẽ đánh mất tất cả.  Người dám theo Chúa Giêsu mà đánh đổi cuộc sống hiện tại, sẽ được cuộc sống muôn đời.

Trích trong “Niềm Vui Chia Sẻ”

Langthangchieutim gởi

Cần phát động chiến dịch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long.

Van Pham added 4 new photos.

 

 

HẬU QỦA NGUỒN NƯỚC CẠN KIỆT ĐÃ ĐƯỢC DỰ BÁO HƠN 20 NĂM VỀ TRƯỚC – KHI TÀU CỘNG XÂY ĐẬP KHỔNG LỒ ĐẦU TIÊN Ở THƯỢNG NGUỒN…

Một chính quyền thật sự quan tâm đến lợi ích của quốc gia và đời sống của nhân dân thì không thể chỉ gửi thư đến các nước thượng nguồn “để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là đồng bằng sông Cửu Long”.
*********************

Cần phát động chiến dịch cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long.
GS. Lê Xuân Khoa.

Nhân đọc bài Báo cáo tác động của thủy điện trên sông Mekong với Lời mở ấn tượng của BVN (xem ở đây), tôi xin chia sẻ thêm với độc giả vài điều về vấn đề này.

Gần đây, báo chí trong nước loan tin Thủ tướng yêu cầu mấy cơ quan gửi công hàm khẩn cho các nước thượng nguồn sông Mê Kông và ca ngợi chỉ đạo này của Thủ tướng là “kịp thời, thể hiện được sự quan tâm của nhà nước đến đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL)”. Thật ra, đây chỉ là một việc làm tắc trách, rất bureaucratic, của chính quyền, chỉ cốt gây cho người dân một hi vọng hão huyền. Trước thảm họa đang đe dọa hủy diệt nguồn sống của hai chục triệu dân ĐBSCL do chính sách hiểm độc của Trung Quốc và đầu óc hám lợi thiển cận của mấy nước láng giềng, chính quyền Việt Nam bất tài và tham nhũng đã không quan tâm đến trách nhiệm bảo vệ đời sống của nhân dân và lợi ích của đất nước. Thực tế đã chứng tỏ từ mấy chục năm qua chính quyền cộng sản Việt Nam đã bỏ mặc mọi lời cảnh báo và đề nghị cần thiết của các chuyên gia Việt Nam và quốc tế, trong đó nhóm Viet Ecology Foundation (VEF) ở Mỹ có phần đóng góp quan trọng. Thực tế cũng đã cho thấy là Ủy ban Sông Mekong của Việt Nam chỉ là một cơ quan vô dụng, thậm chí một chuyên gia hiền lành như anh Võ Tòng Xuân cũng đã không ngần ngại phê phán “Đáng lẽ Ủy ban Sông Mekong Việt Nam phải đấu tranh cho quyền lợi của nước mình, nhưng hiện nay công tác này rất chậm, thậm chí không có gì”.

Một chính quyền thật sự quan tâm đến lợi ích của quốc gia và đời sống của nhân dân thì không thể chỉ gửi thư đến các nước thượng nguồn “để chia sẻ thông tin về nguồn nước, điều tiết các hồ chứa thủy điện để bổ sung nước cho hạ lưu, cụ thể là ĐBSCL”. Phải khẩn cấp báo nguy với quốc tế về nạn hạn hán và các hậu quả trầm trọng khác về kinh tế và môi sinh đang xảy đến không chỉ cho 20 triệu dân ở ĐBSCL mà cho toàn thể đất nước Việt Nam. Phải vạch trần kế hoạch độc ác của lãnh đạo Bắc Kinh nhằm tiêu diệt khả năng sinh tồn của dân tộc Việt và chiếm đoạt quốc gia Việt Nam làm căn cứ chiến lược để kiểm soát toàn vùng Đông Nam Á.

Chính quyền dốt nát, độc tài và tham nhũng đã không muốn và không thể thi hành trách nhiệm lịch sử đó. Họ sẽ tiếp tục ru ngủ nhân dân bằng tuyên truyền lừa dối. Trước nạn hạn hán và nước mặn đã xâm nhập một số tỉnh miền Nam, báo chí nhà nước chỉ đổ tội cho “thiên tai” (xem link) thay vì tố cáo đích danh thủ phạm là lãnh đạo Trung Quốc đã ngăn chặn nước từ hàng chục con đập thủy điện mà chúng đã xây cất ở thượng nguồn (chưa kể mấy nước hạ lưu như Thái, Lào khơi ngang dòng chảy của Mekong vào các sông, hồ dự trữ của họ). Vì không thể trông cậy vào chính quyền quá lệ thuộc vào Trung Quốc, trí thức và các tổ chức xã hội dân sự không thể để cho nhân dân ngồi chờ chết mà phải cấp bách mở chiến dịch “Cứu nguy Đồng bằng sông Cửu Long” với sự tham gia đông đảo của mọi giới nhân dân. Có mấy việc cần thực hiện đồng thời:

1. Khẩn cấp báo động cho nhân dân về các tai họa đang và sắp xảy đến cho toàn thể ĐBSCL do thiếu nước, thiếu cá, thiếu phù sa và nhiễm độc môi sinh. Cần cung cấp thông tin và giải thích cụ thể về kế hoạch ác độc của lãnh đạo Trung Quốc cùng với thái độ hèn nhát và tham nhũng của chính quyền Việt Nam. Chỉ khi người dân được biết đến những thông tin xác thực bị che giấu và nhận thấy đời sống thực tế của gia đình họ bị đe dọa, họ mới bừng tỉnh và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những cuộc tranh đấu chống Trung Quốc và đòi hỏi nhân quyền, dân chủ. Chiến dịch này cần được phát động toàn diện và thực thi đồng bộ bởi các thành phần yêu nước và các tổ chức xã hội dân sự tự phát.

2. Tổng vận động các chính phủ có lợi ích trong khu vực và các tổ chức quốc tế hợp lực ngăn chặn Trung Quốc sử dụng các con đập ở thượng nguồn sông Mekong đề chi phối đời sống kinh tế của các nước hạ nguồn và đặc biệt hãm hại dân tộc Việt Nam ở cuối nguồn. Hoa Kỳ và các nước quan tâm đến Viêt Nam cũng cần được vận động mạnh mẽ để áp lực Chính phủ Việt Nam phải thật sự cải thiện tình trạng nhân quyền và thực hiện tiến trình dân chủ hóa. Tuy nhiên Hoa Kỳ và quốc tế chỉ làm được việc này một cách có hiệu quả khi thấy chinh nhân dân Việt Nam chủ động tranh đấu cho những quyền lợi chính đáng của mình.

3. Trong khi báo động thức tỉnh nhân dân và vận động quốc tế, các chuyên gia về đập thủy điện và hệ sinh thái trong và ngoài nước cần thảo luận với các chuyên gia quốc tế để tìm ra cách giải quyết cấp thời những tai họa đang ập xuống các tỉnh ở ĐBSCL, như nạn hạn hán, nước nhiễm mặn, v.v. Đã có một số chuyên gia đưa ra những sáng kiến cần xem xét nghiêm túc và thực hiện. Cũng cần kích hoạt và cập nhật dự án phát triển bền vững ĐBSCL của nhóm chuyên gia Hòa Lan đưa ra từ năm 2012.

Đã đến lúc các chuyên gia, khoa học gia trong và ngoài nước phối trí hợp tác để tìm các giải pháp khả thi và vận động/đòi hỏi thực hiện.

Trở lại chiến dịch cung cấp thông tin trong chiến dịch thức tỉnh nhân dân (điểm 1), cần phải thiết lập một hồ sơ đầy đủ về kế hoạch thôn tính đất nước và hãm hại dân tộc Viêt Nam về mọi phương diện: kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục xã hội, môi sinh, v.v. Cần liệt kê những tội ác kinh khủng của lãnh đạo Trung Quốc đối với nhân dân Việt Nam: thực phẩm độc hại, sát hại ngư dân, bóc lột lao động, buôn bán phụ nữ và trẻ em, v.v. Thu thập tài liệu tới đâu, phổ biến thông tin tới đó, cập nhật thường xuyên không cần chờ đến khi hoàn tất đầy đủ hồ sơ.

THOÁT TRUNG phải là ưu tiên số 1 của chiến dịch cứu nguy Tổ quốc và dân tộc. Phải làm thật to chuyện và đồng bộ, không chỉ than phiền và chỉ trích lẻ tẻ, từng vụ việc.

Một số khoa học gia trong nước đã không còn chịu để cho nhả nước tiếp tục lèo lái thông tin, che mắt nhân dân, và cũng đang thức tỉnh lương tâm và trách nhiệm của giới trí thức, chuyên gia trước tình trạng sống còn của đất nước. Thêm một lý do cho chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” cần được hoạch định và thực hiện đồng bộ cả trong lẫn ngoài nước.

Xin nhấn mạnh rằng khi nhân dân thấy rõ tội ác của thủ phạm và đồng lõa, họ sẽ thoát khỏi bệnh “vô cảm” và hậu thuẫn mạnh mẽ cho những đòi hỏi “thoát Trung” và chống độc tài, tham nhũng của nhân sĩ, trí thức yêu nước và các tổ chức xã hội dân sự. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL” sẽ đương nhiên dẫn đến cuộc đấu tranh chính trị của toàn dân, chuyển hóa chế độ từ độc tài sang dân chủ.

Đó là lý do tại sao ưu tiên số 1 hiện nay phải là chống hiểm họa Trung Quốc, bảo vệ độc lập và toàn vẹn chủ quyền của Tổ quốc Việt Nam. Chiến dịch “Cứu nguy ĐBSCL”, với sự thức tỉnh và tham gia đồng bộ của toàn dân, sẽ đạt được cả hai mục tiêu thoát Trung và dân chủ hóa Việt Nam.

Tôi đang bị yếu và không có đủ thì giờ để viết một bài dài nhưng cũng cố vắt óc ra đôi chút ý kiến để chia sẻ với các anh và độc giả Bauxite Việt Nam (BVN).

L.X.K.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dư Âm Một Chuyến Ghé Chơi

 S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Dư Âm Một Chuyến Ghé Chơi

RFA

Ảnh của tuongnangtien 

tuongnangtien

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Chỗ mạnh của Mỹ là vũ khí nguyên tử thì chúng không dùng được. Còn chỗ mạnh của ta là chiến tranh nhân dân thì Mỹ không có. Phát huy ưu thế này và những kinh nghiệm tích lũy được, chúng ta nhất định đánh thắng bất kỳ tên xâm lược nào, dù đó là đế quốc Mỹ

Lê Duẩn

Sau khi di cư vào Nam, nhạc sĩ Thanh Bình đã viết “mấy hàng” gửi về quê cũ:

Từ miền xa, viết thư về thăm xóm làng
Sắt son gửi trong mấy hàng
Thăm bà con dãi dầu năm tháng
Từ Tiền giang thương qua đèo Cả thương sang
Đêm đêm nhìn vầng trăng sáng
Thương những già hôm sớm lang thang

Em thơ ơi có còn học hành sớm tối
Áo nâu tươi gái làng còn che môi cười
Và đàn bò còn nghe chim hót lưng đồi
Nhớ nhung rồi thương quá lắm bé thơ ơi…

Nhân vật đồng nghiệp và đồng thời với tác giả những lời ca thượng dẫn, nhạc sỹ Nguyễn Đình Toàn tâm sự:

“Nhớ lại những năm sau 54, ‘Lá Thư Về Làng’ của Thanh Bình đã gây xúc động trong lòng bao người vừa rời bỏ miền Bắc trong cuộc di cư vào Nam. Càng cảm nhận ra rằng mình được bao dung, yên ổn trong vùng đất mới, người ta càng xót xa thương nhớ về quê cũ.”

Thực ra thì cái “vùng đất mới” cũng không được “yên ổn” gì cho lắm. Miền Nam, vào thời điểm đó, chỉ có được sự “yên ổn” tạm thời thôi. Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam đã được khai sinh, từ bên kia vỹ tuyến, vào ngày ngày 20 tháng 12 năm 1960.

Cũng từ thời điểm này, Bí Thư Thứ Nhất Trung Ương Đảng Lao Động Việt Nam (ở Hà Nội) vẫn đều đặn gửi thư vào Nam. Khác với “Lá Thư Về Làng” chân tình và mộc mạc của Thanh Bình, Lê Duẩn chả hề gửi lời thăm hỏi đến bất cứ một cụ già hay bé thơ nào ráo.

Thư của ông đề ngày 7 tháng 2 năm 1961 (“Gửi Anh Mười Cúc và Các Đồng Các Đồng Chí Nam Bộ”) có những dòng sau:

Vừa qua, Bộ Chính trị đã đề ra phương hướng cho phong trào cách mạng miền Nam. Để có sự nhất trí hơn nữa trong nhận định, tôi trình bày thêm với các đồng chí một số ý kiến…

Một điều cần khẳng định là cách mạng miền Nam không chỉ đối phó với chính quyền và quân đội của Diệm mà phải đối phó với cả đế quốc Mỹ và tay sai của Mỹ ở Đông Nam Á…

Trong năm nay, Trung ương sẽ giúp xây dựng 12 tiểu đoàn cho cả Khu 5 và Nam Bộ. Các khung cán bộ sẽ do Trung ương đưa vào, còn chiến sĩ thì tuyển lựa tại chỗ. Riêng đối với Nam Bộ, ngoài này sẽ cung cấp đủ cán bộ cho 6 tiểu đoàn và 1 tiểu đoàn gồm cả cán bộ và chiến sĩ. Sắp tới, ta phải phát triển gấp đôi, tạo ra một bước chuyển đáng kể về lực lượng quân sự…

 

 

 

 

 

 

 

 

Tất cả những bức thư “chỉ đạo” của Lê Duẩn đã được nhiều nhà xuất bản sưu tập, và in thành sách: Thư Vào Nam. Ấn bản năm 2015, của Nhà Xuất Bản Tổng Hợp, có đôi dòng giới thiệu vô cùng trang trọng:

Cuốn sách tập hợp những bức thư và điện của đồng chí Lê Duẩn (Anh Ba) gửi vào miền Nam khói lửa trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Toàn bộ cuốn sách cho thấy đồng chí Lê Duẩn qua thực tiễn chỉ đạo các chiến trường, từ nhận định tình hình đến chủ trương, biện pháp đã phát triển hết sức phong phú cả hai mặt lý luận và thực tiễn, kết hợp nhuần nhuyễn đấu tranh chính trị và đấu tranh vũ trang.

“Thư vào Nam” là một cuốn sách quý, góp phần tổng kết kinh nghiệm cuộc kháng chiến chống Mỹ, là tư liệu lịch sử giá trị có thể áp dụng sáng tạo để giải quyết những vấn đề trong sự nghiệp cách mạng hiện nay.

Một trong “những vấn đề trong sự nghiệp cách mạng hiện nay” là sự có mặt của lực lượng hải quân Hoa Kỳ tại Đà Nẵng, và thái độ “háo hức đón chào hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson của người dân Việt.”

Về sự kiện này, trong mục điểm tin của trang Báo Tiếng Dân (đọc được vào hôm 5 tháng 3 năm 2018) có đôi đoạn như sau:

Mỹ đi rồi Mỹ lại về…

Hơn nửa thế kỷ trôi qua kể từ ngày chính quyền Việt Nam Cộng Hòa đón người Mỹ vào Đà Nẵng, bây giờ đến lượt lãnh đạo CSVN sẵn sàng đón tàu sân bay Mỹ, theo báo Người Lao Động. Sở Ngoại vụ TP Đà Nẵng cho biết: Các cấp lãnh đạo đã lên kế hoạch chi tiết từ hơn nửa năm trước để đón tàu sân bay đầu tiên của người Mỹ cập cảng Việt Nam.

Báo Zing đưa tin: Đoàn công tác liên ngành Việt Nam thăm tàu sân bay Mỹ. Bộ Ngoại giao xác nhận: Đáp lại lời mời của Đại sứ quán Mỹ, đoàn cán bộ liên ngành của Việt Nam đã đến thăm tàu sân bay USS Carl Vinson trong ngày 3 và 4/3/2018, “khi tàu này đi qua vùng biển quốc tế gần Việt Nam”.

Báo Giáo Dục Việt Nam có bài tổng hợp: Cụm tàu sân bay Hoa Kỳ USS Carl Vinson thăm Việt Nam, phản ứng và bình luận. Theo cựu Đô đốc Hải quân Hoa Kỳ John Kirby, Việt Nam muốn củng cố mối quan hệ với Hoa Kỳ, trong tình hình Trung Quốc tiếp tục hiện thực hóa tham vọng bá quyền ở Biển Đông. Biên tập viên tạp chí The Diplomat, Prashanth Parameswaran cho rằng, chuyến thăm của tàu USS Carl Vinson còn có mục đích động viên các nước ASEAN rằng Washington sẽ không để Biển Đông rơi vào tay Bắc Kinh.

TS Đinh Hoàng Thắng nhận định: Nền Ngoại giao “cân bằng động” sẽ sang trang. Theo TS Thắng, tình thế của nước Việt Nam hiện tại đã buộc các lãnh đạo CSVN phải “gác lại quá khứ” với người Mỹ và theo đuổi lộ trình ngoại giao “cân bằng động”, nghĩa là cố gắng thoát khỏi ảnh hưởng của “bạn vàng” và củng cố quan hệ với Mỹ.

BBC đặt câu hỏi: Tại sao Việt Nam tiếp đón hàng không mẫu hạm Mỹ? Bài viết nêu quan điểm của nhà báo Bill Hayton về lộ trình ngoại giao “nước đôi” của quan chức CSVN: Họ tiếp đón tàu sân bay Mỹ để “đáp trả đối với các hoạt động của Trung Quốc ở Biển Đông”, nhưng họ cũng không muốn làm mất lòng “bạn vàng” và vẫn sẽ không tham gia các liên minh quân sự của người Mỹ….

 

 

 

 

 

 

 

Ảnh: news.zing

Trong một cuộc họp báo vào chiều ngày 1 tháng 3 năm 2018, Phát Ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam, bà Lê Thị Thu Hằng, tuyên bố: “Tàu sân bay Mỹ đến thăm Việt Nam để góp phần duy trì hoà bình khu vực.”

Báo Tiền Phong cho biết thêm: “Đà Nẵng và 6 tháng chuẩn bị đón tàu sân bay cùng 6.000 thuỷ thủ Mỹ.” Thảo nào mà chuyến viếng thăm đã diễn tiến hết sức thuận lợi và vô cùng cảm động. Thiệt là công phu và qúi hoá hết biết luôn. Rồi ra, không chừng, thành phố Đà Nẵng còn (dám) cử đại diện ra tận Lăng Ba Đình để báo công dâng Bác nữa.

Tính từ bức thư vào Nam đầu tiên của Lê Duẩn, viết ngày 7 tháng 2 năm 1961 (để chỉ đạo cuộc chiến chống Mỹ cứu nước) cho đến khi hàng không mẫu hạm USS Carl Winson đến thả neo trong vịnh Đà Nẵng để “góp phần duy trì hoà bình khu vực” là đúng 67 năm ròng. Phải mất hơn 2/3 thế kỷ người cộng sản Việt Nam mới “ngộ” ra được ai là kẻ có “dã tâm xâm lược” và “gây ra chiến tranh trong khu vực!”

Sự chậm lụt (hay chậm hiểu) của họ đã làm hao tổn xương máu của hằng chục triệu lương dân, và dìm cả đất nước xuống hố sâu của sự khốn cùng như hiện cảnh. Tuy thế, vẫn chưa có giấu hiệu gì cho thấy là giới quan chức của Hà Nội đã thức tỉnh và sẽ thôi “khúm núm” trước mặt kẻ thù.

Lại nói về nỗi nhục của nhà giáo

Lại nói về nỗi nhục của nhà giáo

Tháng Ba 6, 2018

Võ Hòa Thuận, nguyên cán bộ tư pháp, thủ phạm hạ nhục cô giáo. Ảnh Google Image

Chu Mộng Long: Bài viết nhân vụ một cô giáo ở Long An bị hạ nhục.

Tôi từng nói, nghề giáo là nghề khốn nạn nhất trong những nghề khốn nạn. Phát ngôn này không dưới một lần trong các đợt rầm rộ kỷ niệm Ngày Hiến chương Nhà giáo.

Những người không biết nhục hay lấy nhục làm vinh tỏ ra bất bình, vì tại sao tôi là một nhà giáo mà không biết tự tôn cái nghề của mình.

Bất luận trong hoàn cảnh nào tôi vẫn luôn yêu cái nghề tôi đã chọn. Nhưng tự tôn sao được khi hàng ngày chỉ cần động não một chút cũng đủ thấy loại khẩu hiệu “tôn sư trọng đạo” hay “nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý” chỉ là giả tạo, sáo rỗng. Đồng lương giáo viên so với mặt bằng thu nhập của cả xã hội nằm ở sát đáy, giáo viên phải tìm mọi cách xoay xở để sống. Mà ở cái nghề này xoay xở bằng cách nào khác, lương thiện thì công khai hoặc lén lút dạy thêm, bất lương thì kiếm chác, vòi vĩnh những chiếc phong bì từ phụ huynh, học sinh.

Thật xót xa cay đắng khi không ít giáo viên háo hức chờ đến ngày 20.11 có được chút quà và coi như đó là nguồn thu nhập tăng thêm. Không cần nói đến những doanh nghiệp thưởng nhân viên hàng trăm triệu đến gần bạc tỉ, đến như các chị lao công quét rác, ngày Tết còn được thưởng dăm mười triệu, trong khi giáo viên trường nào khá nhất thì cũng chỉ được ban ân cho một triệu. Thê thảm lắm!

Một cái ngành gồm những người sống ở mức cùng đinh, dẫn đến càng ngày càng không có trò giỏi dự tuyển đầu vào, đến mức thi tốt nghiệp mỗi môn 3 điểm cũng đỗ để thành thầy giáo thì tư cách nào dạy dỗ cho con cái người ta?

Thân phận như thế mà tự tôn cao quý hay đòi xã hội tôn trọng thì thật huyễn tưởng!

Hậu quả là ngành giáo dục, cái ngành nuôi nhân tài, nhân lực cho sự phát triển kinh tế của đất nước, lại trở thành cái ngành ăn mày xã hội. Đến mức gần như nhà trường nào cũng tạo ra cái Hội Phụ huynh học sinh để quyên góp cứu tế cho trường. Thân phận ăn mày không bị đối xử như ăn mày mới là chuyện lạ. Các phụ huynh ở Long An bắt cô giáo quỳ ngay giữa học đường chẳng qua chỉ vì họ xem giáo viên chỉ là kẻ ăn mày, đứa con ghẻ hư hỏng cần được chính các phụ huynh dạy bảo.

Khổ lắm, nhục lắm, nhưng thương lắm!

Nhưng cũng phải tỉnh táo mà nói rằng, cô giáo kia, và không chỉ một mình cô, cũng đáng giận lắm. Việc cô chấp nhận hình phạt quỳ 40 phút cho vừa lòng phụ huynh là một sự tự hủy hoại nhân cách, tự làm nhục cho mình và cho cả ngành mình.

Cô đã thay mặt nhà giáo để trả một cái giá quá đắt khi tự hạ mình từ người thầy thành thân phận ăn mày, con ghẻ của xã hội!

Tôi cũng không tin như nhiều người đã tin, rằng cô bắt học sinh quỳ chỉ vì cô muốn cho học sinh học tốt hơn. Tôi chỉ thấy ở đó hậu quả của căn bệnh thành tích hơn là cái ý muốn tốt đẹp kia. Đa số các giáo viên hiện nay trừng phạt học sinh không phải chỉ vì muốn các cháu học tốt hơn mà chỉ vì thành tích của các thầy cô, thành tích của nhà trường, thậm chí đó là biện pháp đe dọa các cháu đi học thêm. Bởi nếu muốn trẻ thực chất học tốt, chỉ cần nhắc nhở hay trừng phạt bằng con điểm và xếp loại kết quả học tập là đủ. Nhưng các thầy cô không dám trừng phạt bằng con điểm hay xếp loại kết quả học tập vì chỉ cần một điểm xấu, một kết quả kém là đã ảnh hưởng đến thi đua của thầy cô và nhà trường.

Tôi tin, nếu trừng phạt trẻ em, dù là hình phạt nặng nhất nhưng với cái tâm trong sáng, vô tư, khó có thể xảy ra chuyện thầy cô giáo bị phụ huynh học sinh trả đũa.

Tôi nhớ thời tôi đi học, dưới chính quyền Việt Nam Cộng hòa, sự trừng phạt của thầy đối với trò kinh khủng lắm chứ bắt quỳ giữa lớp học thì có đáng gì. Không thuộc bài bị thầy bắt quỳ gối trên xơ mít, thậm chí quỳ ở miệng hang kiến lửa và có đứa xoi miệng kiến cho kiến đốt. Ông thầy ngày ấy còn có cây thước gỗ trên tay để gõ đầu, nhiều khi học trò bị thầy gõ đến sưng đầu chảy máu. Dù hình phạt kinh khủng như thế nhưng chưa bao giờ có chuyện phụ huynh tấn công thầy để trả đũa. Hồi nhỏ tôi cũng đã từng bị phạt như vậy, nhưng hình phạt để nhớ đời chứ không mang trong mình một chút thù oán người thầy đã dạy mình.

Tôi không cổ vũ cho tàn dư của thứ giáo dục Nho giáo ấy. Tôn sư trọng đạo theo cách ấy chỉ tổ sinh ra các bạo chúa học đường. Nhưng ít ra, ở nền giáo dục ấy, người thầy được tôn trọng vì họ đáng được tôn trọng.

Cái gì để người thầy xưa được tôn trọng? Đơn giản là ở xã hội ấy, người ta trọng cái chữ. Cha mẹ cho cơm áo, thầy cô cho cái chữ. Ơn ấy cao hơn núi Thái Sơn. Cho nên, thầy cô được xếp một bậc trên cả cha mẹ. Còn bây giờ, khi xã hội không trọng hiền tài, nhan nhản chỗ nào cũng thấy đứa ngu lãnh đạo đứa khôn, dẫn đến người đi học không cần chữ mà chỉ cần bằng cấp và danh hiệu để thăng quan, thì người thầy tâm huyết càng muốn dạy nhiều chữ càng bị khinh ghét là chuyện hiển nhiên. Người ta không xếp vào lực lượng thù địch đòi đào tận gốc, trốc tận rễ lần nữa là còn may!

From: KimBằngNguyễn  & Cam Tuyet

Lòng Nhớ Ơn Là Một Đức Quý

Lòng Nhớ Ơn Là Một Đức Quý 

 

Trong thế chiến vừa rồi, bà mẹ của một người lính nhảy dù Mỹ nhận được một bức thư của con hay rằng trong lúc bị thương và đói khát, đã được một người đàn bà ở Avranches cứu giúp, giấu không cho tụi Đức bắt. Chẳng may ít tháng sau chính người lính đó tử trận trong khi tấn công Ardennes. Nhưng bà mẹ anh ta vẫn tiếp tục thực hiện một ước nguyện không thể nào quên được. Bà dành dụm tiền trong hai năm để vượt Đại Tây Dương, lại thành phố ghi trong bức thư của con trai. Phải dò hỏi lâu bà mới kiếm được người đàn bà đã cho con trai bà trú ngụ – vợ một tá điền nghèo – và rụt rè đưa biếu người đó một gói nhỏ. Trong gói có một chiếc đồng hồ vàng, mà con trai bà được thưởng khi đâu một bằng cấp tốt nghiệp; chàng chỉ có mỗi vật đó là đáng giá.

Cử chỉ biết ơn của người mẹ đó làm cho toàn dân miền Normandie rất đỗi cảm động. Ở Arvanches và khắp cả vùng chung quanh ai cũng nhắc tới, gần như một truyền kỳ.

 

1

Lòng biết ơn là nghệ thuật nhận ơn huệ một cách vui vẻ, nhã nhặn, tỏ rằng mình cảm động trước mọi dấu hiệu nhân từ của người khác, dù lớn dù nhỏ. Phần đông chúng ta đều biết tỏ nỗi vui mừng khi được ai vui vẻ tiếp đãi, hoặc tặng một món quà, cho hưởng một cái lợi rõ rệt nào đó.

Không gì làm phật ý người ta bằng lối cám ơn ngoài miệng. Ông bạn gì của tôi, James Barrie mà các vở hát và các tác phẩm tỏ rằng đã hiểu rõ tâm lý thanh niên, thường kể câu chuyện này:

– Một buổi chiều nọ, một ông bạn tôi gốc gác ở Ecosse và tôi đương bàn bạc về công việc làm ăn. Đứa con gái ông chín tuổi, bước vô để dâng ông những chiếc bánh kẹp em mới làm xong vì biết ông thích thứ bánh đó. Ông bực mình vì câu chuyện bị ngắt, làm bộ nhấm nháp một chút, vội vàng khen em một lời nho nhỏ nhưng vẻ mặt vẫn nhăn nhó, rồi tiếp tục ngay câu chuyện bỏ dở. Em đó lúng túng, rất rầu rĩ, lặng lẽ bước ra. Vài tuần lễ sau má em hỏi em tại sao không làm bánh nữa. Em òa lên khóc, la lờn: “Không khi nào con làm bánh kẹp nữa” Em tuyệt vọng.

Ông Barrie nói tiếp:

– Và từ đó, em tuyệt nhiên không làm bánh nữa.

 

2

Thật là một điều phấn khởi khi ta nghĩ rằng lòng biết ơn có khi không phải chỉ là một tình cảm thoảng qua đâu mà có thể như một nguồn nước suốt đời không cạn Một người chồng nhớ hoài một lần nào đó vợ đã tận tình hy sinh cho mình, một người vợ nhớ hoài một món quà chồng tặng mình, nhờ vậy sự hòa hợp trong gia đình sẽ tăng lên vô cùng. Nhà tự nhiên học W. Hudson kể câu chuyện dưới đây:- Một buổi tối nọ, tôi dắt một ông bạn thân về nhà, gặp bữa, mời ông ăn. Ăn xong ông ta bảo “Anh thật có phước, chị nhà yếu đuối, phải săn sóc các cháu mà còn nấu cho anh được những món ngon như vậy.” Lời khen đó đã mở mắt tôi ra: nhờ ông bạn đó mà tôi mới thấy sự can đảm hằng ngày của nhà tôi mà trước kia tôi cứ cho là tự nhiên, và từ đó tôi tỏ lòng mang ơn nhà tôi.

Thái độ nhã nhặn khi nhận ơn đó, phải được biểu lộ trong cả những tiểu tiết, những việc lặt vặt. Người đưa thư, người giao sữa, người hớt tóc, chị hầu bàn ở khách sạn, người khiển thang máy (1), đều là những người giúp việc cho ta quanh năm. Ta biết cảm ơn họ thì những giao tế đó không có tính cách máy móc nữa mà có đượm thêm cái tình người, nhờ đó mà những công việc đơn điệu hằng ngày đỡ buồn tẻ, hóa dễ chịu hơn. Mấy năm trước, có lần tới Cannes, tôi ở chung một khách sạn với huân tước Grey, một chính khách Anh. Tôi nhận thấy ông cảm ơn người giữ cửa mỗi khi người này mở cửa cho ông. Một hôm tôi đánh bạo hỏi ông tại sao ông lại mất công như vậy. Ông ngó thẳng vào mặt tôi đáp: Tại chú ấy đã mất công giúp tôi.

Một bệnh nhân của tôi, bán vé ô tô buýt ở Londres, một hôm tâm sự với tôi rằng:

– Có nhiều lúc tôi ngán công việc của tôi quá. Thiên hạ kêu nài, làm tôi chịu không nổi, họ không bao giờ đem theo tiền lẻ cả. Nhưng có một bà sáng nào chiều nào cũng nhã nhặn cảm ơn khi tôi phát vé cho bà. Tôi cứ tưởng tượng rằng bà thay mặt tất cả các hành khách mà cảm ơn tôi, có vậy tinh thần tôi mới phấn khởi lên được.

Có khi phải cho tiền thưởng ; những lúc đó chúng ta nên nhớ rằng một nụ cười, một lời không sáo còn quý hơn món tiền thưởng nữa.

 

3

Một ông bạn thân của thi hào Paul Valéry có thói quen ăn bữa trưa ở một quán nọ tai Paris ; ông ta làm thinh khi người hầu bàn dọn ăn cho. Không khen chê gì cả và lần nào cũng thưởng một số tiền hậu hĩ. Valéry một hôm lại cùng ăn với ông và khi đi, mỉm cười cảm ơn người hầu bàn, khen rằng nhờ cách tiếp đãi niềm nở, khéo léo mà bữa ăn ngon hơn nhiều. Người hầu bàn đó nhớ hoài Valéry và cứ thỉnh thoảng lại hỏi thăm ông.

Ông giám đốc một nhà xuất bản nọ thường khen tài năng của cô thư ký Một hôm, nhà văn Arnold Bennett lại thăm ông ta, nói với cô thư ký:

– Ông chủ của cô khen cô là một thư ký tuyệt luân.

Cô ta đáp:

– Đâu phải là bí quyết của tôi, chính là bí quyết của ông chủ tôi đấy chứ.

Mỗi lần cô làm xong một việc gì dù là nhỏ nhặt tới đâu đi nữa, ông giám đốc cũng không quên cảm ơn cô. Nhờ được khuyến khích như vậy, cô tận tụy làm cho đến nơi đến chốn.

Không có gì làm cho đời sống – của chúng ta và của người khác – vui tươi rực rỡ hơn là lòng biết ơn.

 

4

Tôi biết một y sĩ cho một số bệnh nhân thần kinh suy nhược cái toa nầy: “đa tạ”. Khi một bệnh nhân tới nhờ ông chẩn mạch, có vẻ thất vọng, chán đời, óc chỉ nghĩ tới những đau khổ của mình thôi, mà cơ thể không có triệu chứng gì đau nặng cả thì ông ta khuyên:

– Liên tiếp sáu tuần lễ, hễ có ai giúp ông một việc gì thì ông nói: “đa tạ”, và để tỏ rằng trong thâm tâm thực tình ông mang ơn người đó thì ông nên vừa nói vừa mỉm cười nhé.

Có vài bệnh nhân bảo:

– Nhưng thưa bác sĩ, có ai giúp tôi được việc nào bao giờ đâu.

Vị y sĩ già đó, nhắc lại câu này trong Thánh kinh:

– Cứ tìm đi thì sẽ thấy.

Sáu tuần lễ sau, đa số bệnh nhân đó trở lại, thay đổi hẳn, không oán trách người khác nữa, tin rằng thiên hạ sao mà tự nhiên hóa ra tốt hơn, nhân từ hơn.

Có vài người không tỏ lời cảm ơn vì ngại quấy rầy người ta. Một bệnh nhân của tôi hết bệnh, rời dưỡng đường rồi, vài tuần sau trở lại để cảm ơn nữ y tá đã săn sóc cho mình.

Ông ta bảo:

– Tôi không dám tới sớm vì tôi nghĩ rằng có nhiều người lại cảm ơn cô quá, làm rầy cô.

Nữ y tá đó đáp:

– Trái lại. Ông lại thăm tôi, tôi mừng lắm chứ. Rất ít người hiểu rằng chúng tôi cần được khuyến khích, và những lời bệnh nhân khuyến khích chúng tôi làm cho chúng tôi phấn khởi nhiều lắm.

 

5

Vậy chúng ta đừng bao giờ nên ngại tỏ lời mang ơn người khácVì chúng ta đừng quên rằng nụ cười, lời cảm ơn,những hành động biểu lộ lòng mang ơn của ta giúp cho người chung quanh ta có một thái độ lạc quan về đời sống.

 

A. J. Cronin

(Trong Ý CAO TÌNH ĐẸP do NGUYỄN HIẾN LÊ tuyển dịch)

 

______________

(1) Người phương Tây bữa trưa thường ăn ở tiệm, tối mới về nhà

Đảng Cộng sản Việt Nam không thuộc Kinh Thánh của mình

 

Đảng Cộng sản Việt Nam không thuộc Kinh Thánh của mình

14- 3- 2018

Có hai điều xin thưa trước. Một là hai chữ cộng sản đã dịch sai cả trăm năm nay vẫn chưa đính chính. Đúng ra phải dịch là cộng đồng chủ nghĩa. Hai là tôi gọi Bản Tuyên ngôn Cộng sản (Cộng đồng) mà hai ông Mác và Ăng ghen đã công bố năm 1848 là Kinh Thánh của các đảng cộng sản (cộng đồng).

Nói không thuộc Kinh Thánh của mình, là bởi trong bản Tuyên ngôn ấy, mà tất tật các đảng “cộng sản” đều coi như bộ cương lĩnh gốc của mình, có những điều xem ra trái khoáy với hiện thực. Ví dụ trong bản tuyên ngôn ấy hai nhà sáng lập chủ nghĩa cộng đồng từng có dự báo và lên án cái gọi là chủ nghĩa “cộng sản” phong kiến. Thế mà những người “cộng sản” theo khuynh hướng đệ tam lại dựng lên cái mô hình Xô viết rất gần với chủ nghĩa phong kiến, dù đã đặt một cái tên khác, chủ nghĩa xã hội hiện thực.

Quan niệm đất đai chẳng khác gì quan niệm phong kiến: “Phổ thiên chi hạ mạc phi vương thổ”. Nghĩa là đất ở dưới gầm trời đâu cũng là đất của nhà vua! Hoặc như ban lãnh đạo trước sau đều thành vua tập thể. Hoặc như Chương IV của bản tuyên ngôn ấy có ghi rõ: “Thái độ của những người ‘cộng sản’ đối với các đảng đối lập”. Xem ra những người lãnh đạo Đảng “cộng sản” Việt Nam hoặc không thuộc Kinh Thánh của mình, hoặc là đã vất bỏ kinh thánh, coi Mác chỉ như cái bung xung danh nghĩa, chứ thật sự thì đã không còn giữ cái gốc gác của mình nữa rồi.

Lập trường chính thống của ban lãnh đao của dảng cộng sản Việt Nam trước sau vẫn coi ai nói đa đảng đều là phản động, suy thoái về chính trị, đạo đức, lối sống, là chống đảng, chống nhà nước. Thế mà trong cái Tuyên ngôn ấy, chương IV, sau khi dẫn chứng về sự hợp tác giữa những người cộng sản với những đảng đối lập khác ở Pháp, Đức, Thụy Sĩ, Ba Lan… đã có một kết luận:

“Sau hết, những người ‘cng sản’ ở mọi nơi đều phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp của các đảng dân chủ ở tất cả các nước”.

Như thế, Tuyên ngôn “cộng sản” đâu có bài xích đa nguyên, đa đảng! Trái lại nó còn nhấn mạnh đến thái độ phấn đấu cho sự đoàn kết và liên hợp giữa cộng sản và dân chủ. Chỉ từ khi phong trào cộng sản chuyển sang lập trường đệ tam thì các đảng dân tộc dân chủ mới bị coi là kẻ thù của cộng sản, thậm chí những khuynh hướng khác trong đảng cũng bị đàn áp.

Rõ ràng cương quyết giữ độc đảng, không đoàn kết, không liên hợp, thậm chí thủ tiêu những đảng đối lập đâu có phải là lập trường Mác- xít, nó chính là phản bội lại chủ nghĩa Mác. Trong khi lên giọng nào là chủ nghĩa Mác là kim chỉ nam, là chủ đạo… nhưng hành động trong hiện thực lại khác, làm sao giữ được tính chính danh, chính thống, mà không khiến cho xã hội nghi ngờ là mình đã đánh mất mình, lại đang đi theo tà thuyết?

Khi đứng lên làm cuộc Khởi nghĩa Tháng Tám, nhân dân Việt Nam đã chọn cho mình thể chế chính trị dân chủ cộng hòa, đa nguyên đa đảng.

Đừng để đánh mất chính nghĩa của cuộc khởi nghĩa Tháng Tám. Mà cũng đừng trở thành kẻ phản bội khi vứt bỏ thánh kinh của mình.

Bài này tôi viết đã lâu, được đăng ở một vài trang mạng, nay nhân có hội thảo kỷ niệm 170 năm Tuyên Ngôn Cộng sản do Ban Tuyên giáo tổ chức, tôi chép lại bài cũ, viết thêm đôi điều làm rõ ý của mình, mong góp vào cái nhận thức đúng đắn của xã hội.

Bản Tuyên ngôn ấy ra đời ngót gần hai thế kỷ, chắc chắn là có nhiều lạc hậu cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Việc coi nó còn nguyên giá trị cả về lý luận, cả về thực tiễn, hoặc nó đang soi đường chỉ lối “đúng đắn” cho đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta của lãnh đạo Ban tuyên giáo và những người gọi là nhà tư tưởng cộng sản hay Mác Lê nin… là quyền của họ.

Cá nhân tôi cho rằng nó chỉ có giá trị “xã hội học lịch sử”, với ý nghĩa nó là một tác phẩm được Mác và Ăng ghen viết ra đã 170 năm nay. Hàng triệu người đã đọc nó và tưởng rằng đang thực hiện lý tưởng của nó thì trên thực tế đã làm cho cả trăm triệu sinh mạng bị giết chết, đã đẩy nhân loại đi vào một khúc quanh lịch sử bi thảm, làm cho nhiều dân tộc biến dạng, băng hoại thảm thương…rồi chính mình phải từ bỏ.

Bây giờ thì cái Đệ tam quốc tế đã bị giải thể, rồi cả Liên xô và hệ thống phe XHCN Đông Âu cũng tan rã. Cái gọi là chủ nghĩa Mác- Lê nin cũng đã phá sản cả về lý thuyết lẫn thực tiễn. Ngay cả Trung Hoa, từ 1960 thế kỷ trước họ chính thức vứt Lê Nin, đến 1970 họ thảo luận với nhau “Nên kiên trì chủ nghĩa Mác nào” và họ kết luận, chỉ lấy cái phép biện chứng của Mác coi thực tế là thước đo. Rồi họ đề xướng lý thuyết “mèo trắng mèo đen”, lại đề “Ba đại diện”, “Xã hội hài hòa”, nay thì đưa tư tưởng Tập Cận Bình thành quốc sách!

Về lý tưởng, Tuyên ngôn ấy nêu ra 4 mô hình chủ nghĩa xã hội, một là CNXH phong kiến kiểu Đức, hai là CNXH không tưởng, ba là CNXH tư sản. Điều trớ trêu là những tính chất phong kiến và không tưởng lại đầy rẫy trong các nhà nước XHCN! Trong thực tiễn cái mô hình nhà nước xô viết là “siêu phong kiến”. (Xem Chế độ phong kiến ở Liên Xô- Anatoly Tille, năm 1992 xuất bản với tên: Luật pháp của sự phi lý- Luật pháp phong kiến xã hội chủ nghĩa. Năm 2003, xuất bản ỏ Mỹ có tên: Cuộc cách mạng tội ác vĩ đại ở nước Nga- Mafia nắm quyền.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều trí thức ở nước ta nhận xét rằng, trong xã hôi VN hiện nay đầy rẫy những thiết chế kiểu phong kiến rất lỗi thời. Ông Nguyễn Văn An cựu ủy viên Bộ chính trị cũng từng nói Bộ Chính trị là vua tập thể. Có người bình luận vui là trong “chế độ làm chủ tập thể” tất sinh ra vua tập thể!

Tác giả bài này, trong nhiều cuộc hội thảo do những ban ngành TW tổ chức từng trình bày nhận xét, những thiết chế phong kiến đầy rẫy ở chế độ ta có lý do tồn tại vì một thời gian dài nền kinh tế đã vận hành với những phương thức mang bản chất phong kiến, một là đổi chác, hai là cống nạp, ba là tước đoạt (những cuộc cải tạo nông nghiệp, cải tạo công thương, đổi tiền, duy trì kéo dài kinh tế phi thị trường rồi gắn thêm cái đuôi XHCN…Thực chất cái gọi là kinh tế nhà nước là chủ đạo ở VN mang dấu ấn kinh tế phong kiến triều đình rất rõ, chúng hoạt động theo mệnh lệnh chính trị và bất chấp lời lỗ như trước đây theo chỉ dụ của nhà vua!).

Trong một bài viết cũng nhân kỷ niệm Tuyên ngôn CS đăng trên tờ Quan hệ Quốc tế (tên cũ) tôi có nhận xét chỉ duy cái CNXH tư sản trong mô hình “Xã hội –Dân chủ” ở châu Âu là đã có những thành công. Khi đăng, ban biên tập đề nghị sửa thành hai chữ thành công nhất định). Như thế là những mô hình CNXH mà tuyên ngôn phê phán thì trước sau các đảng cộng sản ở các nước XHCN đều tích cực thực hiện. Các hình thức XHCN hiện thực mà các đảng cộng sản thực hiện, đều rất đậm đà chất phong kiến, không tưởng, kể cả chất tiểu tư sản phiêu lưu, ngoại trừ mô hình chủ nghĩa xã hội tư sản đã có ich lớn trong phục hưng châu Âu sau thế chiến thứ hai.

Về cái XHCN mà Mác và Ăng ghen mong ước bấy giờ chỉ thấy mấy tư tưởng định hướng:

– Một là tư tưởng “Theo ý nghĩa đó, những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành luận điểm duy nhất này là: xóa bỏ chế độ tư hữu.

– Hai là “giai cấp vô sản từng nước phải xóa bỏ giai cấp tư sản và tự mình trở thành dân tộc. (Sau thấy nói thế võ đoán nên đổi thành giai cấp của dân tộc).

– “Đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những tư tương kế thừa của quá khứ”.

– “Dùng sự thống trị chính trị của mình từng bước một đoạt lấy toàn bộ tư bản trong tay giai cấp tư sản…”

– “Những biện pháp sau đây sẽ được áp dụng phổ biến”: tước đoạt sở hữu ruộng đất, áp dụng thuế lũy tiến cao, tịch thu tài sản…, tập trung tín dụng, giao thông vận tải vào nhà nước, …kế hoạch chung, tổ chức các đạo quân công nghiệp, đặc biệt cho nông nghiệp, xóa bỏ đối lập thành thị và nông thôn…

Tóm lại là những chỉ thị rất sơ sài cảm tính, không hề có luận chứng vững vàng. Mà thực tế đã bác bỏ, đã chứng tỏ sự sai lầm hồ đồ của chúng.

Tuy nhiên ít ra trong Tuyên ngôn cũng có ba tư duy, khá hợp lý, không kể ý kiến đoàn kết, hợp tác với các đảng dân tộc dân chủ kể trên, một là “phát triển tự do cá nhân là tiền đề phát triển tự do của xã hội”, hai là “giáo dục công cộng và không mất tiền cho tất cả trẻ em”, ba là ”giai cấp tư sản không thể tồn tại nếu không luôn luôn cách mạng hóa công cụ sản xuất, do đó cách mạng hóa những quan hệ sản xuất, nghĩa là cách mạng hóa toàn bộ những quan hệ xã hội”, thì đều bị các đảng cộng sản vứt vào sọt rác. Vì cho đó là quan điểm tư sản!

Nhưng điều đáng nói hơn cả là chừng ba mươi năm sau khi công bố tuyên ngôn, cả hai ông đều cho rằng, không có một lý tưởng cộng sản nào cả, đó là những ý nghĩ “trẻ con” lúc còn trẻ và đã vứt bỏ, lúc cuối đời! (Xem bài tựa của F. Ang ghen viết cho cuốn Những cuộc đấu tranh giai cấp ở Pháp của K. Marx).

Như thế thì nhân loại kỳ cục thật, cái mà người ta đã vứt bỏ, lại ôm lấy vào mình, coi như của quý. Sự kỳ cục đó đã khiến cho cả trăm triệu người phải chết oan uổng, nhiều dân tộc bị băng hoại, trong đó có Việt Nam chúng ta. Còn Nghị viện Châu Âu thì đã ra nghị quyết lên án những nước theo cái Tuyên ngôn ấy mà làm cộng sản. Nghị quyết ấy có số 1481 của Hội Đồng Nghị viện Châu Âu, viết “…Những chế độ độc tài toàn trị cộng sản gồm khối Liên xô, Đông Âu trong thế kỷ XX và một số chế độ cộng sản hiện vẫn còn nắm quyền ở 4 nước trên thế giới, đều là những quốc gia vi phạm nhân quyền…vi phạm quyền tự do tư tưởng, xúc phạm lương tâm con người, cấm tự do báo chí và tự do chính trị; độc tôn, độc quyền, độc đảng…Không thể dùng quan điểm quyền lợi quốc gia mà lấp liếm, biện hộ sự lên án của nhân loại. Quốc hội chung Châu Âu cực lực lên án tất cả mọi vi phạm quyền con người trong các chế độ cộng sản, coi nó như tội ác chống nhân loại”!

Gần đây đọc Nam Hoa Kinh của Trang tử, thấy có câu chuyện sau: Vua Hoàn công ngồi đọc sách, Luân Biển kẻ làm thợ đẽo bánh xe tiến lên, dám hỏi: Cái mà nhà vua đang đọc là lời gì vậy. Đáp, là lời của thánh nhân. Thưa, thánh nhân còn chăng? Đã chết rồi. Thế thì cái mà nhà vua đọc chỉ là cặn bã của người xưa mà thôi. Quả nhân đọc sách, kẻ đẽo bánh xe sao được bàn càn. Nói thông thì được, không thông thì chết. Luân Biển thưa, tôi lấy việc của tôi mà xét, đẽo bánh xe chậm thì ngọt, mà không bền, mau thì chối mà không vào. Không chậm, không mau, hiểu nó ở tay, ứng vào lòng, miệng không nói ra được. Tôi không thể đem để bảo cho con, con tôi cũng không thể học. Cho nên đã bảy mươi mà già đời vẫn làm nghề đẽo bánh xe. Người xưa và cái không thể học của họ đều đã chết cả rồi. Vậy thì cái nhà vua đọc chỉ là cặn bã của người xưa mà thôi.

Tôi bàn thêm: học lấy cặn bả mà làm nên được trí tuệ, xưa nay chưa từng nghe nói!

Quan hệ Mỹ – Việt: Lòng tin và quyền lợi

Quan hệ Mỹ – Việt: Lòng tin và quyền lợi

Bàn tới lịch sử của Cuộc chiến Việt Nam và kinh nghiệm bang giao với Mỹ, cần nhớ lại và mở một dấu ngoặc về “bài học” cũ của Việt Nam Cộng Hòa.

Sự kiện Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới thăm Việt Nam đầu tháng 3/2018 được quốc tế chú ý
Bản quyền hình ảnh   GETTY IMAGES
Sự kiện Hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson tới thăm Việt Nam đầu tháng 3/2018 được quốc tế chú ý

Viết về hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng, báo Lao Động thuật lại việc ông Timothy Liston, Phó Tổng Lãnh sự Mỹ tại Sài Gòn lên thăm tàu và bế một cậu bé để cùng vỗ tay với những người bạn nhỏ.

Họ cùng hoà ca bài “Trái đất này là của chúng mình”. Câu hát “màu da nào cũng quý cũng yêu” như chính thông điệp của cuộc gặp gỡ.

Tờ báo dẫn lời ông Liston về nỗ lực xây dựng niềm tin giữa hai nước khi ông nói: “Không chỉ có con tàu, chúng tôi đến để xây dựng lòng tin.”

Nghe câu này, chắc nhiều người có thể phản hồi và đặt câu hỏi “nhưng liệu Việt Nam có tin được Mỹ hay không?”

Đây cũng là câu hỏi của chính Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đặt ra cho Mỹ vào tháng Ba, 1975 (xem cuốn Khi Đồng Minh Tháo Chạy, chương 9).

Chỉ có quyền lợi là vĩnh viễn

Như chúng tôi đã có dịp bình luận: câu trả lời là “tin được nếu” niềm tin ấy được xây dựng trên căn bản chắc chắn và bền vững là Quyền lợi chung của cả hai nước.

Tôi thật ấn tượng về câu nói của ông Henry John Palmerston, cựu Thủ tướng Anh nói tại Quốc Hội nước này ngày 1 tháng 3 năm 1848:

“Nước Anh không có đồng minh vĩnh cửu, và chúng ta cũng chẳng có kẻ thù vĩnh viễn. Quyền lợi của chúng ta mới là vĩnh viễn và vĩnh cửu.”

Trong những thập niên 1950-60, vì quyền lợi của Mỹ đòi hỏi phải ngăn chặn Trung Quốc tràn xuống Biển Đông nên Mỹ nhảy vào Việt Nam.

Đến năm 1972 Nixon-Kissinger hòa hoãn được với TQ vì Kissinger nói với Mao và Chu khi bay qua Bắc Kinh là Mỹ sẵn sàng ký thỏa hiệp để ra đi khỏi Việt Nam và nếu sau khi chúng tôi đã ra đi vài năm mà Cộng sản tiến tới chiếm trọn Miền Nam Việt Nam thì Mỹ cũng không trở lại nữa.

Tin rằng Mỹ sẽ không trở lại nên TQ biến thành bạn và hành động ra vẻ như không còn đe dọa Mỹ ở Biển Đông nữa, để còn được hưởng những ân huệ lớn lao của Mỹ.

Khi Trung Quốc trở thành bạn rồi thì Mỹ không còn lý do gì để đổ xương máu tiếp tục ở Miền Nam Việt Nam, cho nên đã bỏ Miền Nam không thương tiếc.

Một trong những bài học rút ra từ cuộc chiến là như thế này: Mỹ nhảy vào Việt Nam không phải là để “bảo vệ tự do của nhân dân Miền Nam” như Washington luôn luôn tuyên bố (và nhân dân Miền Nam luôn luôn tin tưởng) mà là để bảo vệ Quyền lợi của chính Mỹ.

 
Trên boong tàu USS Carl Vinson

Cho nên sau khi ông Nixon bắt tay được với ông Mao thì quyền lợi của Mỹ không còn đòi hỏi phải có một “tiền đồn” để chống Trung Quốc ở Biển Đông nữa: mở cửa Bắc Kinh đóng cửa Sài Gòn đơn giản là như vậy.

Hai ông Nixon-Kissinger đã hùng hồn biện hộ cho Trung Quốc khi Kissinger soạn bài cho Tổng thống Nixon trả lời Quốc Hội Hoa Kỳ rằng:

“Trung quốc và Hoa Kỳ chia sẻ nhiều quyền lợi song hành và có thể cùng nhau hành động để làm cho đời sống của nhân dân hai nước thêm phong phú.”

Nhưng lịch sử đã diễn ra ngược lại: sau 40 năm ru ngủ được Mỹ, hứa hẹn sẽ tuân hành các quy tắc của luật kinh tế thị trường để Mỹ chấp thuận cho TQ vào WTO (Tổ Chức Thương Mại Toàn Cầu) giúp sản xuất và bán thật nhiều hàng qua Mỹ và thị trường thế giới, TQ đã làm giàu quá nhanh, trở thành cường quốc kinh tế số hai.

Vì Trung Quốc cạnh tranh bất chính với Mỹ, không tuân thủ các quy luật thị trường cho nên bây giờ nhiều người Mỹ tiếc rẻ đã cho Trung Quốc vào WTO, giúp nước này mạnh đủ để ra mặt chống Mỹ.

Nixon-Kissinger đã sai lầm mà cho rằng quyền lợi của Mỹ đi đối với quyền lợi của TQ vì nước này đã thành bạn đồng phường của Mỹ (Kissinger quá siêu trong việc thuyết phục Nixon về điểm này).

Hoa Kỳ đang hối tiếc?

Bây giờ Mỹ rất hối tiêc về sự sai lầm ấy. Và Kissinger phải chịu trách nhiệm rất lớn cho sự sai lầm này cùng những thiệt hại to lớn của nước Mỹ về địa chính trị và chiến lược toàn cầu.

Hải quân Mỹ -Việt giao lưu
Bản quyền hình ảnh   US NAVY
Giao lưu hải quân Mỹ – Việt nhân sự kiện các tàu chiến Hoa Kỳ tới Đà Nẵng đầu tháng 3/2018

Mỹ bừng tỉnh nhưng đã quá muộn! Dù sao “better late than never:” (thà rằng muộn còn hơn là không bao giờ), Mỹ phải gấp rút xoay trục về Biển Đông.

Và khi muốn quay về Biển Đông thì Mỹ rất cần Việt Nam vì đây là “địa điểm chiến lược quan trọng nhất” như Bộ Ngoại Giao đã phân tích ngay từ năm 1950 (xem ‘Khi Đồng Minh Nhảy Vào,’ chương 3).

Một điều chắc chắn: đó là từ nay, sẽ không bao giờ Trung Quốc bỏ tham vọng đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông, rồi ra khỏi Tây Thái Bình Dương, rồi khỏi các đại dương khác.

Cho nên vì quyền lợi an ninh lãnh thổ của chính mình, Mỹ sẽ không bao giờ phạm phải lầm lỗi lần thứ hai là tháo chạy khỏi Biển Đông nữa.

Tại sao Trung Quốc sẽ không bao giờ ngừng đẩy Mỹ ra khỏi Biển Đông để rút về tới bờ California?

Lý do là vì Bắc Kinh đã đặt ra một mục tiêu chiến lược bí mật và quan trọng nhất: đó là tới năm 2049 khi kỷ niệm 100 năm thành lập nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, nước này sẽ thay thế Mỹ để trở thành cường quốc số một trên thế giới.

Tác giả nổi tiếng về Trung Quốc, ông Michael Pillsbury đã ra cuốn sách ‘The Hundred Year Marathon’ (Cuộc chạy đua 100 năm – xuất bản năm 2015) làm thức tỉnh các nhà chiến lược Mỹ.

Pillsbury là một chuyên gia về Trung Quốc đã từng làm việc với tất cả các tổng thống Hoa Kỳ kể từ thời Nixon, và như ông viết, “tôi đã có thể có nhiều thông tin của các cơ sở tình báo và quân sự của Trung Quốc hơn bất kỳ người phương Tây nào khác”.

Ông viết:

“Từ hàng thập kỷ nay, chính phủ Hoa Kỳ đã quá hào phóng, trao thật nhiều thông tin, công nghệ, bí quyết quân sự, thông tin tình báo và những lời cố vấn về các khía cạnh chuyên môn cho người Trung Quốc. Thật vậy, rất nhiều điều đã được cung cấp và cung cấp quá lâu. . . không thể có kế toán đầy đủ được về việc này! Và những gì chúng ta đã không đưa cho người Trung Quốc, thì họ đã ăn cắp.”

USS Carl Vinson
Bản quyền hình ảnh   US NAVY
GS Nguyễn Tiến Hưng: “Mỹ sẽ phải luôn luôn việc tập trung vào chiến lược ‘chặn lại tham vọng của Trung Quốc.”

Tất cả chỉ để phục vụ cho tham vọng trở thành siêu cường số một để thay thế cho Mỹ khi Trung Quốc kỷ niệm 100 năm ngày ông Mao Trạch Đông tiến vào Bắc Kinh.

Chỉ còn 31 năm nữa là tới năm 2049 cho nên từ nay Mỹ sẽ phải luôn luôn việc tập trung vào chiến lược ‘chặn lại tham vọng của TQ.’ Vì vậy mới có kế hoạch điều động tới 60% của hải lực Mỹ về Thái Bình Dương vào năm 2020.

Tất cả 14 Tổng thống Mỹ kể từ Harry Truman tới Donald Trump đều muốn duy trì vai trò lãnh đạo số một của nước Mỹ trên thế giới này – một vai trò phát xuất từ sau Thế Chiến 2, nhưng 13 ông trước chỉ nói úp úp mở mở.

Tới thời ông Trump – một con người bộc trực , bị coi là đồng bóng – thì ông thẳng thừng đưa ra chính sách “America First” – không chỉ có nghĩa là dành mọi ưu tiên kinh tế, thương mại, nhập cư để phục vụ quyền lợi vật chất của người Mỹ mà nó còn có một ý nghĩa chiến lược sâu xa: ông Trump muốn vãn hồi vai trò lãnh đạo của Mỹ vốn đã phai mờ đi trong thập niên vừa qua.

Lập trường này làm cho tất cả các đồng minh đều nhìn vào Trump với con mắt nghi ngờ.

Nhưng Washington đồn rằng Trung Quốc rất e ngại tính “đồng bóng” ấy của Tổng thống Trump, nhất là vì họ biết rằng về hải lực thì Trung Quốc còn thua Mỹ quá xa về mọi mặt: từ chiến hạm, tầu ngầm, hàng không mẫu hạm tới kinh nghiệm hải chiến, không chiến nên không có đòn bẩy răn đe là bao nhiêu đối với Mỹ.

Khi ông Trump ân cần tiếp đón ông Tập Cận Bình ở Florida ngay từ đầu nhiệm kỳ, và ông Tập nghênh tiếp ông Trump hết sức linh đình ở Bắc Kinh, ngược hẳn với việc đón tiếp cựu Tổng thống Barack Obama đầu tháng 11/2017, dư luận cho rằng Mỹ và Trung Quốc sẽ tiến lại gần nhau hơn nữa.

Nhưng chỉ bốn tháng sau chuyến đi, dư luận đã giật mình khi nghe tin ông Trump thông báo sẽ đánh thuế thép 25% và nhôm 10% – chủ yếu nhắm vào Trung Quốc vì nước này đã xuyên qua nhiều nước để lợi dụng những kẽ hở của WTO, APEC, NAFTA gián tiếp nhập thép, nhôm vào Mỹ – việc mà ông Trump gọi là “trans-shipment” (thực ra là re-export).

Đằng sau lệnh tăng thuế chính là ông Peter Navarro, một ngôi sao đang sáng lên ở Tòa Bạch Ốc. Navarro nổi tiếng về lập trường chống Bắc Kinh. Cuốn sách của ông “Death By China” (Chết bởi tay Trung Quốc) đã giúp vào việc đánh thức nước Mỹ và được ông Trump đặc biệt chú ý. Navarro cáo buộc Trung Quốc đã “biến thành kẻ sát nhân hiệu quả nhất trên hành hành tinh này.” (nguyên văn: “turning into the planet’s most efficient assassin”).

Navarro đang thuyết phục Trump áp dụng thêm những biện pháp chế tài đối với vi phạm của Trung Quốc về quyền sở hữu trí tuệ. Rồi tới hai biện pháp khác: ngăn chặn Bắc Kinh ép buộc các công ty Mỹ phải chuyển giao công nghệ cho các đối tác, và ngăn chặn các công ty quốc doanh Trung Quốc (doanh nghiệp nhà nước) mua lại các công ty của Hoa Kỳ.

Tàu Liêu Ninh
Bản quyền hình ảnh   AFP/GETTY IMAGES
Hàng không mẫu hạm Liêu Ninh của Trung Quốc trong một lần đến Hong Kong

Vậy ta có thể kết luận rằng ít nhất trong Thế kỷ 21 quyền lợi của Mỹ ở Biển Đông đi song hành và trực tiếp với quyền lợi của Việt Nam.

Việt Nam là địa điểm chiến lược quan trọng nhất ở Biển Đông, nhưng đồng thời, cái vị thế ấy luôn đặt nước này vào cái thế gọng kìm giữa các cường quốc.

Hơn nữa Việt Nam lại nằm sát cạnh Trung Quốc nên áp lực của Trung Quốc rất là mạnh mẽ. Vì vậy có lẽ Việt Nam không còn một con đường nào khác ngoài chiến lược cân bằng (“đu dây”) giữa hai cường quốc để sống còn.

Tuy nhiên vì áp lực của Trung Quốc càng ngày càng gia tăng nhanh – một cách nguy hiểm – cho nên chính cái chiến lược cân bằng lại là lý do thúc đẩy Việt Nam nên gần Mỹ hơn để lấy lại và duy trì thế cân bằng.

Những lý do để tin được Hoa Kỳ

Vì vậy, có khả năng là quan hệ Việt – Mỹ sẽ sớm tiến tới “đối tác chiến lược toàn diện” – trở thành quan hệ thứ tư sau ba quan hệ Việt – Nga, Việt – Trung và Việt -Ấn.

Nếu như vậy thì Việt Nam có cả ba cường quốc: Nga, Ấn và Mỹ để đối đầu với Trung Quốc.

Sự lo ngại còn lại của Việt Nam là: Việt Nam Cộng Hòa từng là đồng minh thân thiết như vậy mà còn bị bỏ rơi thì nước Việt Nam hiện nay làm sao có quan hệ tốt bằng được? Nếu Việt Nam nghiêng về Mỹ thì có chắc chắn không, hay Mỹ Trung lại bắt tay nhau thì Việt Nam lại bị bỏ rơi?

Đây là câu hỏi thật chính đáng, nhưng phân tích lịch sử cho kỹ và nhìn vào bối cảnh ngày nay thì thấy Việt Nam không cần phải e ngại. Đó là vì ba lý do:

Thứ nhất, vấn đề bỏ rơi không đặt ra vì hai hoàn cảnh lịch sử khác hẳn nhau: trước đây, vì vấn đề kinh tế khó khăn (cảnh nghèo sau 10 năm Chiến tranh Đông Dương 1945-1955) VNCH phải lệ thuộc vào Mỹ hầu như hoàn toàn cả về quân sự lẫn kinh tế (xem KDMTC, Chương 19).

Trong thực tế, VNCH trở thành “client state” (quốc gia lệ thuộc) và Mỹ thành “patron state” (quốc gia bảo trợ). VN ngày nay đã hoàn toàn tự lập, còn xuất siêu sang Mỹ tới trên $38 tỷ (2017). Về quân sự thì VN cũng đã có một lực lượng đáng kể và sẵn sàng bỏ tiền ra mua khí giới, kể cả của Mỹ.

Trong dịp TT Trump thăm viếng Hà Nội, VN đã đặt $10 tỷ mua hàng của Mỹ (hy vọng cán cân thương mại Mỹ – Việt năm 2018 sẽ giảm xuống còn – $30 tỷ).

Thứ hai, chắc chắn rằng Mỹ sẽ không bao giờ yêu cầu VN cho đóng quân hay duy trì căn cứ quân sự lâu dài. Vì vậy Mỹ sẽ không phải đổ máu và tốn kém tiền bạc như trong ‘Vietnam War’ cho nên dân chúng Mỹ không chống đối, ngược lại còn ủng hộ việc Mỹ nối tay với Việt Nam để chống Trung Quốc;

Thứ ba, như đề cập trên đây, ngày trước Mỹ xây tiền đồn chống Trung Quốc ở Miền Nam vì Trung Quốc đe dọa quyền lợi an ninh của mình ở Biển Đông.

Vì vậy, khi hòa hoãn được với Trung Quốc thì Mỹ sai lầm mà tưởng rằng hiểm họa Trung Quốc đã chấm dứt cho nên rút khỏi Miền Nam và ra khỏi Biển Đông. Bây giờ thì Mỹ hối tiếc vì nhận thức rằng: trong Thế kỷ 21, Trung Quốc còn đe dọa Mỹ gấp mấy lần như đã đe dọa trong Thế Kỷ 20.

Phó Đô đốc Phillip G. Sawyer, Tư lệnh Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, chào đón các quan chức Việt Nam sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Đà Nẵng hôm 5/3/2018.
Bản quyền hình ảnh     LINH PHAM/AFP/GETTY IMAGES
Phó Đô đốc Phillip G. Sawyer, Tư lệnh Hạm đội 7 của Hải quân Mỹ, chào đón các quan chức Việt Nam sau khi hàng không mẫu hạm USS Carl Vinson cập cảng Đà Nẵng hôm 5/3/2018.

Việc Tổng thống Trump vừa chỉ định Giám đốc CIA Mike Pompeo thay thế Ngoại trưởng Rex Tillerson – theo Jim Cramer từ CNCB bình luận là để gửi một thông điệp gây sửng sốt cho Trung Quốc: “Các ông là kẻ thù của chúng tôi.” Pompeo cho rằng Trung Quốc là kẻ thù cả về tinh thần lẫn vật chất.

Khi Việt-Mỹ đi tới đối tác chiến lược toàn diện, Việt Nam sẽ có nhiều lợi ích vì “toàn diện” bao gồm cả an ninh cả kinh tế. Về an ninh quốc phòng, khi có hàng không mẫu hạm Mỹ ra vào Đà Nẵng và chiến hạm, tàu ngầm Mỹ ra vào Cam Ranh, tất nhiên Trung Quốc sẽ phải cân nhắc cho thật kỹ khi muốn gây hấn với Việt Nam – thí dụ như khi Trung Quốc tính toán để gây thảm hại ở Trường Sa lần thứ hai?

Dĩ nhiên là về mặt chính sách, Việt Nam cũng phải để cho hàng không mẫu hạm của mọi quốc gia ra vào Đà Nẵng tự do như Mỹ, nhưng trong thực tế, Trung Quốc chỉ có một con tàu cũ Liêu Ninh – mua lại của Ukraine – thì ra vào để làm gì?

Về kinh tế, thì thị trường Mỹ – hiện đã là thị trường để Việt Nam xuất cảng nhiều nhất – sẽ mở rộng ra thêm nữa cho Việt Nam với những lợi ích về đầu tư, kỹ thuật, thông tin, và ưu đãi về thuế nhập cảng, như thép, nhôm – miễn là không phải xuất xứ từ Trung Quốc.

Dĩ nhiên là Mỹ cũng sẽ yêu cầu Việt Nam nhập thêm hàng Mỹ giúp cho cán cân thương mại bớt chênh lệch.

Từ Thế Chiến 2, chưa có nước nào trên thế giới này từ Đức, Pháp, Anh, Ý tới Trung Quốc, Nhật Bản, Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Thái Lan giàu mạnh lên được mà không nhờ thị trường Mỹ.

Mặt khác, qua cuộc chiến biên giới Việt-Trung năm 1979 và việc TQ gây thảm sát trên đảo Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa năm 1988, cùng với việc Chủ tịch Mao – người đã cáo buộc “Chủ nghĩa đế quốc Mỹ là kẻ thù hung ác nhất của nhân loại” đã ôm thật chặt Nixon năm 1972, Việt Nam cũng đã thấy rõ ràng rằng Trung Quốc chẳng có bạn vĩnh cửu, và cũng chẳng có thù vĩnh viễn. Quyền lợi của Trung Quốc mới là vĩnh viễn và vĩnh cửu.

Cách ứng xử của Việt Nam đang phản ánh sự thay đổi trong nhận thức như thế.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, tiến sỹ Nguyễn Tiến Hưng, Cựu Tổng trưởng Kế hoạch VNCH từ năm 1973 đến 1975, phụ tá về tái thiết của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Hiện định cư tại Hoa Kỳ, ông đã xuất bản các cuốn sách Khi Đồng minh tháo chạy (2005) và Khi Đồng minh nhảy vào (2016).

Xem bài cùng tác giả:

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

Đà Nẵng và các bước ngoặt chiến lược của Mỹ

30/04: Những xui xẻo định mệnh của VNCH

‘The Vietnam War’ và khi Hoa Kỳ vào VN

Phúc trình Liên Hiệp Quốc về Quốc gia Hạnh phúc

2018-03-14
 
Trẻ em H'Mông của cùng một gia đình ở phía bắc tỉnh Lai Châu, ngày 04 tháng 01 năm 2007. (Ảnh minh họa)

Trẻ em H’Mông của cùng một gia đình ở phía bắc tỉnh Lai Châu, ngày 04 tháng 01 năm 2007. (Ảnh minh họa)

 AFP
 

Việt Nam xếp thứ 95 trong tổng số 156 quốc gia và vùng lãnh thổ về mức độ hạnh phúc trong bảng xếp hạng theo phúc trình mà Liên Hiệp Quốc vừa cho công bố.

Theo phúc trình thì năm 2018, có 156 quốc gia được đánh giá dựa trên các yêu tố như GDP bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ, sức khỏe, tự do xã hội và không tham nhũng.

Phần Lan đã tăng lên từ vị trí thứ năm vào năm ngoái để vượt qua Na Uy lên vị trí đầu bảng. 10 quốc gia đứng đầu danh sách báo cáo năm 2018 gồm Phần Lan, Na Uy, Đan Mạch, IceLand, Thụy Sĩ, Hà Lan, Canada, New Zealand, Thụy Điển và Úc.

Hoa Kỳ đã rớt từ hạng 14 vào năm 2017 xuống vị trí thứ 18 trong bảng xếp hạng. Mặc dù thu nhập bình quân đầu người tăng lên tại Hoa Kỳ trong nửa thế kỷ qua. Vương quốc Anh xếp thứ 19 và các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất đứng vị trí 20.

Ông Jeffrey Sachs, thuộc đại học Columbia ở New York, đồng thời là cố vấn đặc biệt của Tổng thư ký LHQ, cho biết: “Các quốc gia hạnh phúc là những nước có sự cân bằng về sự thịnh vượng, vốn thông thường và vốn có thể đo lường được, tức là sự tin cậy trong xã hội cao, mức độ bất bình đẳng trong xã hội thấp, và khả năng của chính phủ”.

Chú chó nằm chờ người chủ quá cố ở bệnh viện suốt nhiều tháng

 

Chú chó nằm chờ người chủ quá cố ở bệnh viện suốt nhiều tháng

  

Theo Daily Mail, mới đây, một tài khoản Facebook có tên Christina Sardella ở Brazil đã đăng tải câu chuyện vô cùng cảm động về chú chó đứng chờ người chủ của mình trước cửa bệnh viện trong suốt nhiều tháng liền.

Chú chó màu vàng có dáng vẻ gầy gò xuất hiện ở Bệnh Viện Santa Casa de Novo Horizonte ở bang Sao Paolo từ cuối tháng 10 năm ngoái. Nó chạy đuổi theo chiếc xe cứu thương chở chủ nhân của mình tới đây trong cơn nguy kịch.

Chủ nhân của chú chó là một người đàn ông vô gia cư 59 tuổi. Ông bị đâm trọng thương trong một cuộc ẩu đả trên đường phố và không qua khỏi do vết thương quá nặng.

Chú chó đáng thương ngồi chờ người chủ quá cố trước cổng bệnh viện. (Nguồn: Facebook)

Suốt 2 tháng sau cái chết của người chủ, chú chó này vẫn tiếp tục đợi chờ trước bệnh viện. Các nhân viên của bệnh viện thường xuyên đem thức ăn và nước uống cho nó.

Những người đi qua bệnh viện đều cảm thấy vô cùng cảm động trước tình cảm đặc biệt của chú chó. Chú chó cũng được một trạm cứu hộ động vật gần đó mang về chăm sóc nhưng nó luôn tìm cách để quay trở lại bệnh viện.

 

Hãy ‘giải độc’ tâm hồn bằng cách học tha thứ và quên đi điều tiêu cực

Hãy ‘giải độc’ tâm hồn bằng cách học tha thứ và quên đi điều tiêu cực
Liệu bạn đã bao giờ có một ngày vui vẻ thật sự chưa? Ngay cả lúc bạn rảnh rỗi nhất và không bị làm phiền? Câu hỏi tuy dễ nhưng thật khó trả lời chính xác!

Tôi đã hỏi những người bạn và nhận được câu trả lời là “Không”. Chưa có một ai dám khẳng định mình có một ngày vui trọn vẹn cả. Bởi lẽ, những nỗi lo, những cơn buồn bất chợt hay nỗi sợ hãi… dù ít hay nhiều cũng đã làm họ không thể vui vẻ được.

Có người đã bảo tôi thế này: “Tôi không biết thứ gì có thể giúp con người ta sống lâu, nhưng tôi biết có một thứ sẽ giết chúng ta nhanh chóng, đó là suy nghĩ tiêu cực”.

Ngẫm lại, tôi thấy câu nói ấy “thấm” đến nhường nào! Bởi thứ làm ta thất bại, đưa ta vào bế tắc hay thậm chí là đường cùng đều không nằm ở những yếu tố bên ngoài mà chính là bản thân ta, cụ thể hơn đó là những ý niệm, suy nghĩ, tư duy chủ quan của chúng ta.

Nói vui thế này, khi bạn yêu một người nhưng bị từ chối, nếu bạn có thể coi nhẹ thất bại đó, coi nó chỉ như bước khởi đầu, là “thuốc thử” để ta chỉnh sửa lại những thiếu sót của bản thân thì chắc chắn bạn sẽ có kinh nghiệm để lần sau thành công.

Tuy nhiên, nếu bạn là một người sống nặng về tình cảm, thích “gặm nhấm nỗi buồn”, nghĩ rằng như thế là hết, yêu đương mù quáng thì bạn sẽ dễ mù quáng trong hành động, gây nguy hại cho chính mình và ảnh hưởng người thân.

Liệu bạn đã bao giờ có một ngày vui vẻ thật sự chưa?

Chán nản, tuyệt vọng, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, bảo thủ, nóng giận… tôi coi chúng là những suy nghĩ tiêu cực. Chúng luôn tìm cách len lỏi vào trong đời sống tinh thần ta từng giờ, từng phút, và khi những suy nghĩ ấy được dung dưỡng quá lâu, chúng sẽ trở thành thói quen, lâu ngày sẽ thành tư tưởng. Nếu ta không sớm nhận ra và tìm cách thoát khỏi chúng, ta sẽ rơi vào vòng luẩn quẩn, một cái mê cung do chính ta vô thức tạo dựng.

Các nhà khoa học đã chứng minh, tư duy, suy nghĩ của con người là một dạng tồn tại vật chất. Tức là khi ta nghĩ tưởng một điều gì đó, chúng sẽ phản ánh lên đại não chúng ta dưới dạng hình ảnh. Nói cách khác, chúng như là một tấm gương phản chiếu tư tưởng, ý nghĩ của chúng ta vậy.

Nôm na là khi ta nghĩ một điều gì đó vui, ta sẽ thấy vui, nhưng khi ta nhìn sự việc một cách tiêu cực, ta sẽ thấy chung quanh ta toàn là “xám xịt”. Vì vậy, ta cần phải xả bỏ hết những suy nghĩ tiêu cực, giữ tâm thái hòa ái với mọi người, đừng oán giận hay ghét bỏ ai cả… chỉ có thế ta mới có thể sống một cách an nhiên, tự tại.

Giữ tâm thái hòa ái với mọi người, đừng oán giận hay ghét bỏ ai cả… chỉ có thế ta mới có thể sống một cách an nhiên, tự tại. (Ảnh minh họa: The Epoch Times).
Sự tiêu cực trong suy nghĩ cũng như một đứa trẻ vậy. Vì trẻ em thường hiếu động, thích giỡn, làm nũng với chúng ta khi ta quá an nhàn, “vô công rồi nghề” và khi ta quá quan tâm, nuông chiều chúng. Đó cũng là lúc những suy nghĩ tiêu cực bám lấy ta chặt nhất! Vậy làm sao để đuổi chúng đi?

Giống như trẻ con, sự tiêu cực cũng có tính đeo bám rất dai dẳng, càng nghĩ về nó, càng nghĩ nặng cách thoát khỏi nó thì chúng càng “dính” lấy ta. Hãy mặc kệ nó và làm bản thân ta trở nên bận rộn. Đăng xuất khỏi facebook, twitter… tắt hết trò chơi điện tử. Thay vào đó, hãy đọc một cuốn sách, lên xe và đi khám phá những vùng đất xung quanh hay viết lách hoặc vùi đầu vào công việc. Niềm vui trong sự bận rộn là liều thuốc trị khỏi bệnh tiêu cực và cân bằng lại bản thân một cách nhanh nhất.

Chúng ta đôi khi quá coi trọng những lợi ích thiết thân, câu nệ quá vào lời nói, sống nặng vào tình cảm, sợ mất lòng người khác mà không nhận ra mình đã phạm lỗi với bản thân rất nhiều. Chính suy nghĩ nặng nề vào những điều đấy đã khiến bản thân ta mệt mỏi từng ngày, không lúc nào được ngủ yên. Những thứ khác mất rồi có thể kiếm lại được, nhưng đánh mất bản thân thì sẽ rất khỏ kiếm lại. Vì thế, hãy yêu bản thân. Và hãy học cách tha thứ.

Đôi lúc, có người làm tổn thương bạn sâu sắc tới mức bạn cảm thấy mệt mỏi, đau khổ và khó bỏ qua. Bạn hãy tưởng tượng ra cảnh thế này: Nếu bạn không tha thứ cho người ta, lúc nào bạn cũng nghĩ đến chuyện đó, dằn vặt về chuyện đó, thì liệu rằng, người ta có giống bạn không, người ta có sống trong dằn vặt như bạn hay không?

Ví như, người yêu của bạn lại quay sang yêu người bạn thân nhất của bạn, và bạn tuyên bố: “Em sẽ không bao giờ tha thứ cho anh!”. Vậy, ai sẽ là người phải sống trong dằn vặt, khổ sở? Chắc chắn, người đó là bạn thôi, vì rằng, cặp tình nhân đang say bên nhau kia sẽ chẳng để ý đến tâm thái của bạn đâu.

Khi bạn oán trách họ, bạn là người chịu đau khổ, bất an. Mặc dù bạn có thể tự nhủ rằng “mình đúng”, nhưng “đúng” đâu có nghĩa là bạn sẽ hạnh phúc. Tha thứ cho người khác thực ra không có nghĩa là bạn sẽ đồng ý với những việc họ làm. Để tha thứ cho người khác, bạn sẽ có được lợi ích bao chính bản thân mình, và như vậy, bạn tha thứ vì chính bản thân bạn. Khi bạn tha thứ, bạn sẽ thấy dễ chịu hơn.

Dẫu biết rằng, tha thứ cho người khác là một việc không dễ dàng, nhưng hãy làm điều này vì bản thân bạn, bởi nếu làm được, bạn sẽ hạnh phúc hơn.

Sống là phải biết cho đi. Hãy cho đi những muộn phiền, u uất để nhận lại niềm vui! Để thân tâm an bình, hãy ngừng nghĩ tiêu cực!

Hoàng An

Image may contain: one or more people, sky, cloud, twilight, shoes, outdoor and nature
Image may contain: one or more people, ocean, sky, nature, outdoor and water
Image may contain: 1 person, sitting, shoes, grass, child, outdoor and nature
 

TẢN MẠN CHUYỆN NHÀ ĐẠO : SỐNG NIỀM VUI TIN MỪNG

TẢN MẠN CHUYỆN NHÀ ĐẠO : SỐNG NIỀM VUI TIN MỪNG

 

Trong những ngày qua, Giáo hội Việt Nam thương tiếc và cầu nguyện cho Đức cố Tổng Giám mục Phaolô Bùi Văn Đọc, vừa được Chúa gọi về tại Rôma vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 6.3.2018 giờ Rôma,tức 4 giờ 15 phút sáng ngày 7.3.2018 giờ Việt Nam.Con cái tín hữu của ngài tại Tổng giáo phận Sài Gòn ai cũng bàng hoàng xúc động, không thể tin được đây là sự thật, vì mới ngày hôm qua,các giáo dân Việt Nam đã thấy trên mạng toàn cầu hình ảnh vị Cha Chung của giáo phận chào thăm Đức Thánh Cha Phanxiô.

Người viết sáng hôm 7.3.2018 nhận được email tin buồn từ một cha thân quen đã giật mình, kiểm chứng chỗ này chỗ kia xem có phải là tin thật, hay ai đó đang cố tình đưa ra để câu view trên facebook.

Tổng Giáo phận Sài Gòn,mọi thành phần dân Chúa đều thương tiếc, cầu nguyện cho người cha chung khả kính.Các nhà thờ treo băng rôn, đổ chuông, treo cờ rũ và trong các thánh lễ đều cầu nguyện linh hồn Đức Tổng Giám mục Phaolô.

Tuy là trong nỗi buồn thương nhớ trong sự mất mát, nhưng chúng ta được mời gọi sống đức tin vào Chúa Kitô ngay trong nỗi mất mát chia ly.

Vị Cha Chung hiền từ của Tổng giáo phận,ngài là con người của Niềm vui. Có lẽ không ai mà không nhớ đến những lời nhắn nhủ đầy phấn khích và giọng cười thoải mái của Đức Tổng Phaolô. Đi đến đâu và gặp gỡ ai những lời Đức Tổng Giám mục Phaolô nói đều là tiếng gọi thúc giục vui lên. Dù có gặp các linh mục của mình hay gặp các cấp lãnh đạo chính quyền,Đức Tổng chỉ nói đến niềm vui. Niềm vui được gặp gỡ Chúa, gặp  gỡ các linh mục của mình,gặp gỡ anh chị em giáo dân,niềm vui gặp gỡ các em thiếu nhi trong các thánh lễ  ban bí tích Thêm sức. Đức Tổng thường nói với các em thiếu nhi: “ Chúng con có vui không, chúng con không có gì phải sợ, cha chỉ hỏi  chúng con một chút thôi”.

Dường như cuộc sống khổ đau nhiều quá, đâu đâu cũng thấy bệnh tật, nghèo đói túng thiếu, thấy  cảnh cạnh tranh hơn thua,người ta trọng người giàu,khinh thường những người nghèo, tranh giành nhau mà sống.Ở ngay tại thành phố Sài Gòn tấp nập,xô bồ, chắc chắn Đức Tổng thấy được con cái của mình lo toan cật lực nhiều hơn là những giây phút vui cười hạnh phúc.

Thật vậy,khẩu hiệu Giám mục của Đức Tổng Phaolô là “Chúa là Nguồn vui của con”.Đức Tổng kín múc niềm vui của Thiên Chúa, chia sẻ với đoàn chiên từ vùng đất cò bay thẳng cánh ở Mỹ Tho, rồi lên phố thị Sài Gòn tấp nập.

Vâng,đúng là Thiên Chúa lo liệu mọi sự, mỗi thời Thiên Chúa lại gởi đến cho dân những vị Chủ Chăn tốt lành nhân từ, biết chăm lo cho chiên, thấy được tình cảnh của dân Chúa.

Đức Hồng y Gioan Baotixia Phạm Minh Mẫn,vị chủ chăn của Giáo phận Sài Gòn trước đây dẫn dắt dạy bảo đoàn chiên giáo phận bằng chia khóa Tình yêu thương, “Như Thầy yêu thương”, như khẩu hiệu của Giám mục của Đức Hồng y. Đi đến đâu Đức Hồng y cũng nói về yêu thương, mọi người phải yêu thương nhau và làm chứng cho Chúa về tình yêu thương.

 Chỉ có nhãn giới đức tin chúng ta mới nhận ra,tất cả mọi sự là hồng ân của Chúa, tạ ơn Chúa gọi Đức Tổng ra khỏi thế gian, kết thúc hành trình trần gian, dù có làm cho nhiều người trong chúng ta cảm thấy ngỡ ngàng xúc động.

Cứ nhứ thế,dường như đến thời Đức Tổng Giám mục Phaolô chủ đề của các bài giảng, huấn từ  hay các cuộc trao đổi lại xoay quanh chủ đề niềm vui.

“ Anh em hãy vui luôn trong Chúa.Tôi nhắc lại một lần nữa. anh em hãy vui lên”(Ph 4,4-5). Thánh Phaolô, quan thày của Đức Tổng đã luôn nhắc nhở các tín hữu như thế. Và Đức Tổng của chúng ta bây giờ ở trên trời lại chỉ nói những lời đó cho chúng ta.

Một vài linh mục trong Giáo phận Sài Gòn nhiều khi thất vọng về những lời phát biểu quá ngắn gọn của Đức Tổng. Trong những buổi sinh hoạt như thường huấn, họp mặt tất niên, thay vì có những lời đúc kết thành quả gọi là có nhìn nhận vấn đề, nhưng Đức Tổng Phaolô lại phát biểu súc tích về niềm vui, Đức Tổng chỉ nói lên niềm vui sự phấn khởi gặp gỡ các linh mục.

Đức Tổng Phaolô nhìn tất cả bằng niềm vui của Chúa,niềm vui của Tin Mừng cho nên những vấn đề của giáo phận được giải quyết nhanh chóng, và  có cả bất ngờ nữa,Đức Tổng không thể chấp nhận những khúc mắc tồn tại lâu dài.

Một khác,với trái tim Mục Tử,Đức Tổng Phaolô nhìn mọi chuyện có vẻ “ thoáng” hơn, vượt trên những câu nệ hình thức, đi sâu vào nội tâm.Điều này  các linh mục trong Giáo phận đều có thể dẫn chứng vài câu chuyện cho người viết.

Ngày nay, nhiều bạn trẻ chúng ta tìm kiếm niềm vui ở bàn nhậu, trong những cuộc tình chóng vánh,những cuộc tình vụng trộm ngoài hôn nhân,các bạn trẻ không thích sự phấn đấu ngại vượt khó,sự lãng mạn trữ tình,thậm chí chỉ lợi dung nhau ngay trong tình yêu. “Yêu em anh được nhà cao cửa rộng, có xế hộp đi Vũng Tàu nghĩ mát cuối tuần,vì nhà em mặt phố,bố em làm to, em thuộc diện COCC(con ông cháu cha)”.

Đó là những niềm vui khi chiếm hữu vật chất,niềm vui không triển nở từ tình yêu chân thành, hay niềm vui được gặp gỡ nhau,cảm thấy chúng mình cần nhau.

Các bạn cứ thử hỏi những bạn trẻ tham gia các sinh hoạt hội đoàn giáo xứ,các anh chị Huynh Trưởng Giáo Lý Viên. Họ chia sẻ với chúng ta: “Niềm vui là mỗi tuần được gặp gỡ các em thiếu nhi,được chia sẻ hiểu biết về Chúa cho các em.Đó là niềm vui thật sự.”

Anh bạn mình kể chuyện: Có một ông cha bị xem là” hâm hâm”.Trong một đám tang của bà cố nọ,có một linh mục đến cầu nguyện.Thay vì nói lời chia buồn phần ưu như mọi người trước tang gia đang khóc sướt mướt.Vị linh mục mạnh mẽ nói những lời đại khái như sau : Xin chúc mừng bà cố và gia đình. Hôm nay bà cố đã được Chúa đưa về thiên quốc. Anh chị em đừng buồn rầu. Thế là vị linh mục đứng trong hoàn cảnh đó mời mọi người vỗ những tràng pháo tay rộn rã. Có người trong tang gia “vừa khóc vừa cười” vì hành động và lời nói   lạ lung của vị linh mục đó. Sau đó, cha dâng vài kinh cầu nguyện cho bà cố. Anh bạn kể chuyện xem như vị linh mục này “từ trên trời rơi xuống”.Riêng tôi, tôi biết cha đang chia sẻ niềm vui Tin Mừng,cha đã có một bài giảng hay cho tang gia. Người chết đi đã về với Chúa, xin chúc mừng và tạ ơn Chúa, không gì phải khóc lóc. Thương nhớ người thân vẫn thương nhớ, nhưng cầu nguyện nhiều hơn.

Bây giờ ở trên trời, Đức Tổng Phaolô cũng mong ước chúng ta có niềm vui như thế.Vì khi còn sống ở tại thế, Đức Tổng không bao giờ thấy mệt mỏi,có lẽ dù có mệt mỏi nhưng khi gặp thấy con cái mình, Đức Tổng vẫn luôn vui cười, và sẵng sàng đi đến đâu vì lợi ích phần rỗi của anh chị em mình.

Các linh mục phải có niềm vui khi gặp gỡ anh chị em giáo dân, ít là với các em thiếu nhi,các bạn trẻ mà ngài găp gỡ. Đó là cách thế các linh mục rao truyền niềm vui Tin Mừng cho họ.Người sứ giả hay tông đồ của Chúa không phải là những người cau có, gương mặt lúc nào cũng khó đăm đăm, hay như người ta nói “gương mặt như tủ lạnh”. Vì Thiên Chúa là Nguồn vui, nếu chúng ta không có niềm vui nơi mình, làm sao chúng ta có thể làm lây lan niềm vui cho người khác.

Xin Chúa sớm đưa Đức Tổng Giám mục Phaolô về quê trời. Và xin Đức Tổng nhớ đến chúng con và cầu nguyện cho chúng con luôn là những tông đồ của Niềm vui.

Giuse Nguyễn Bình An