Dấu hiệu sụp đổ của VinFast đã rất gần

Ba’o Tieng Dan

Kim Văn Chính

9-2-2024

Làm chuyện lớn phải có bộ hạ. Thần thiêng nhờ bộ hạ là vậy. Vậy “bộ hạ” của Vin là ai khi họ làm VinFast?

Ban đầu (cả giai đoạn xe xăng và giai đoạn chuyển sang xe điện), ta thấy họ cũng thuê khá đủ lệ bộ từ Tổng giám đốc đến các phó tổng là người nước ngoài, từng làm các vị trí điều hành trong ngành ô tô. Nhưng sau đó các nhân lực cao cấp nước ngoài bỏ đi hết (lý do được giấu kín, quy định ngay từ hợp đồng như vậy). Nhưng rõ ràng là (ai cũng có thể thấy) họ bỏ đi vì họ bất đồng về chiến lược và phương thức quản trị của Vin. Hoặc họ nhìn rõ triển vọng đen tối của công ty, không muốn làm mất danh tiếng của họ…

Vin chỉ còn trông chờ vào các chiến tướng Việt – những người ít nhiều cũng gắn bó với công ty bằng danh tiếng và cả vốn góp cổ phần nặng ký… Trong nhóm này ta thấy có hai chiến tướng:

1/ Ông Võ Quang Huệ, hiện đã trên 70 tuổi, là kỹ sư tốt nghiệp ở Đức, hơn 10 năm làm việc cho BMW, sau đó làm việc cho Bosch và được bổ nhiệm giám đốc Bosch Việt Nam. Ông quê Quảng Nam (cùng quê với cựu Thủ tướng, sau Chủ tịch nước, rất mê ô tô) và được mời vào Ban cố vấn cho thủ tướng hồi đó. Duyên nợ của ông với Vin để đẻ ra VinFast bắt nguồn từ chỗ đó.

Trên báo chí viết, ông [Huệ] “bị” ông Vượng thuyết phục để về làm cho Vin phát triển ô tô, chứ thực ra, theo tôi, chính ông mới là người vì những động cơ cá nhân trong nhóm lợi ích mà ông thuyết phục ông Vượng bỏ cả đống tiền lãi thu được từ bất động sản để đầu tư vào lĩnh vực khó chơi là ô tô (một lĩnh vực mà ông Vượng chẳng có chút kinh nghiệm, kiến thức và đam mê gì).

Theo tôi, cái sai chết người và mang tính định mệnh là ông Vượng đã tin con người này và nghe theo ông ta trong phát triển ngành xe hơi. Nay thì ông Huệ đã “chạy mất dép” rồi, (người bảo trợ đồng hương Quảng Nam cũng bị thất thế rồi), để lại cho ông Vượng cái xác VinFast chỉ chờ thối rữa.

2/ Bà Lê Thị Thu Thủy, quê Bình Định. Bà này tiếp nhận cái thấy ma VinFast khi ông Huệ và các giám đốc nước ngoài bỏ đi hết. Bà Thủy là dân học về ngoại thương, trưởng thành ở Nhật, Mỹ về kinh doanh chứng khoán và tài chính. Bà có tài (về tài chính) đến mức được bổ nhiệm đảm nhận những chức vụ rất quan trọng của các công ty tài chính quốc tế, có uy tín và thương hiệu trên thế giới về kinh doanh, môi giới tài chính.

Khi bà hợp tác với Vin, ông Vượng đã nhanh chóng bổ nhiệm bà vào các chức vụ quan trọng và cao cấp nhất (thay cho bà Hương trước đây). Bà Thủy đã cứu Vin nhiều bàn thua trông thấy (chủ yếu bằng phương pháp tài chính như bán trái phiếu thành công, vay vốn từ các định chế tài chính…). Và khi VinFast bị các chiến tướng chuyên ngành bỏ rơi, bà Thủy buộc phải nhận cái thây ma đó về để làm tổng giám đốc toàn cầu. Bà đã lún quá sâu vào Vin (cổ phần và danh tiếng) nên buộc lòng phải ra tay lần nữa.

Và con đường của bà dẫn dắt VinFast rất đặc trưng cho kiểu chiến lược của đàn bà chuyên về tài chính (chả có tí chuyên môn gì về ô tô cả về kỹ thuật và thương mại bán hàng ô tô). Bà biến VinFast thành toàn cầu. Định hướng thị trường trọng điểm và nơi sẽ gọi vốn là Mỹ – Âu. Bà dùng những chiêu trò tài chính và marketing rẻ tiền sặc mùi con buôn tiểu chủ Á Đông, chả hiểu gì về văn hóa và tâm lý tiêu dùng của người Âu – Mỹ.

Với chiến lược và các chiêu trò như vậy, VinFast sống được đến giờ và giá cổ phiếu vẫn trên 5 đô la là điều chiến tích lớn rồi. Nhưng như vậy chưa đủ để cứu VinFast.

3/ Ông Vượng phải trực tiếp ra tay (ông trở thành CEO VinFast). Ông quay ngoắt sang chiến lược tự bán xe cho mình (lập các công ty taxi ở nhiều nước để mua xe của Vin). Ông phát triển phương thức hợp tác với các công ty chuyên cho thuê xe và đại lý bán hàng để ký gửi xe. Ông mở rộng sang các thị trường châu Á (Ấn Độ, Indonesia, Philippines…) với hy vọng xe của ông bán được, cứu công ty không phá sản. Ông tiếp tục chiêu trò quảng bá đánh lừa khách hàng mua xe của ông…

Và ông tiếp tục phải ôm “của nợ” VinFast để làm CEO nốt giai đoạn thối rữa của nó…


S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Phóng Sanh

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Trong một buổi tọa đàm (“Về Tư Cách Trí Thức Việt Nam”) ở Berlin – vào năm 2000 – nhà văn Phạm Thị Hoài đã phát biểu “ngoài lề” khiến cho vài người tham dự mất vui, và số đông còn lại thì rất mất lòng:

“Nhân đây cũng xin nói ngoài lề là cái tinh thần rất nổi tiếng và thường xuyên được ca ngợi rằng, người Việt hiếu học, cha mẹ muốn con hay chữ, yêu thầy, theo tôi một phần cũng rất đáng kể xuất phát từ tinh thần yêu địa vị và trọng quyền lực. Nếu chữ nghĩa không mở ra được một triển vọng thơm tho như vậy, một người đi học thi đỗ làm quan thì cả họ được nhờ, tôi tin rằng cái sự hiếu học kia chắc chắn là giảm đi đáng kể.”

Diễn giả, nói nào ngay, không có chi sai trật cả (chỉ hơi thiếu tế nhị chút xíu thôi) nhưng sự thật vốn dễ mất lòng nên bà đã nhận được khá nhiều gạch đá, từ khắp bốn phương.

Mà sự thật nào chỉ có thế. Tính vị lợi của người Việt không chỉ thể hiện qua “cái chí làm quan”! Họ còn “đầu tư công ̣đức” theo kiểu “tu nhân tích đức nữa cơ. Cứ thử nghe chơi đôi ba câu ca dao, tục ngữ, hay thành ngữ của dân tộc này xem:

  • Người trồng cây hạnh người chơi/ Ta trồng cây đức để đời về sau 
  • Có đức mặc sức mà ăn
  • Làm phước để đức cho con cháu

Cách làm phước có cả đất lẫn trời chứng dám, thiên hạ quan chiêm, được ưa chuộng và phổ biến nhất nhất hiện nay là thả chim hay thả cá. Phóng sinh, tuy thế, đang bị rất nhiều người càm ràm (hay chỉ trích) tưng bừng. Xin phép được trích dẫn năm ba, theo thứ tự alphabétique:

  • Thảo Dân: “Bắt bất cứ con gì rồi đem thả ra để cầu lợi lạc đều là hành động hủy diệt môi trường và hiểu sai nghĩa của từ ‘phóng sinh”.
  • Thái Hạo: “Người ta đang tự do, đi bắt nhốt lại, đốt hương khói nghi ngút, khiến cho thân tàn ma dại, rồi mang thả ra, đó là làm cho khốc hại, là hiện thân của cái ác, chứ không có chút từ bi nào cả.”
  • Trương Nhân Tuấn: “Trước đạo pháp, hành vi ‘phóng sinh’ của các chùa quốc doanh trở thành một ‘tội ác’. Trước thiên nhiên, chuyện phóng sinh (kiểu chùa VN) là hành vi tàn phá môi sinh, làm đảo lộn tuần hoàn của hệ sinh thái địa cầu.”
  • Mạc Văn Trang:“Cách ‘diễn trò phóng sinh’ như các chùa làm hiện nay đã và đang bị rất nhiều người lên án: Đó là tội ác chứ không phải phóng sinh!”

Đúng là chúng khẩu đồng từ, ngoại trừ FB Trà Đóa. Tương tự như nhà văn Phạm Thị Hoài, trong buổi tọa đàm ở Berlin hơn 20 năm trước, nhân vật này cũng vừa phát biểu hơi bị lạc đề: “Chỉ dân tộc này mới cần phóng sinh, bị nhốt lâu quá rồi.”

Nghe thiệt mất lòng nhưng xem ra thì quả là không trật. Tuy không phải là “đối tượng” của tệ trạng phóng sinh nhưng đại đa số dân Việt lại là nạn nhân của một thứ nhân tai khác, chiến tranh giải phóng, và không chỉ một lần.

Họ đang sống tự do, chả khác chi chim trời/cá nước, ở một vùng đất an lành (“gạo trắng trăng thanh”) thì bỗng dưng miền Nam được hoàn toàn giải phóng. Sau đó, sau 30 tháng 4 năm 1975 thì không chỉ hàng triệu người buồn mà còn cả triệu người phải đi tù nữa chớ. Có kẻ bị giam mãi đến 1993 (18 năm trường, dù chương trình “cải tạo” được hứa hẹn chỉ kéo dài độ mười ngày) thì có biết bao nhiêu triệu gia đình tan nát ?

Mà không chỉ đám ngụy quân, ngụy quyền (hay đám ngụy dân) mới bị gạt ra ngoài  bản hòa ca Bắc/Nam thôi đâu. Tuy chiến tranh đã chấm dứt nhưng hòa bình, xem ra, cũng không được an lành gì cho lắm. Đời sống của phần lớn mọi người bỗng trở nên khó khăn, khó thở, và xáo trộn “như một bầy ong vỡ tổ” – theo như lời than thở của FB Mai Thị Mùi:

“Đất nước thống nhất nhưng cuộc sống người dân như bầy ong vỡ tổ. Người ta lăn xả ra đường tìm kế sinh nhai, bán, buôn, đổi chác tất cả những gì có thể. Hàng hoá thiếu thốn, ngăn sông cấm chợ, quy định, luật lệ lộn tùng phèo tạo nên một xã hội xô bồ mạnh ai nấy buôn, mạnh ai nấy bán. Không khí đất nước những năm tháng ấy như căn phòng đóng kín cả cửa đi lẫn cửa sổ. Nó ngột ngạt, tù túng như vậy hãm con người ta trong ngục tù.”

Bà Mùi có quá lời không?

Hổng dám quá đâu!

Rảnh: hãy nghe thêm đôi lời thống thiết của một phụ nữ khác, một chiến sỹ thuộc đoàn quân giải phóng – nhà văn Dương Thu Hương: “Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ.”

Bà không phải là người duy nhất ở Bên Thắng Cuộc đã ngậm ngùi rơi lệ trước một cảnh tượng bẽ bàng. Nhà thơ Phan Huy cũng thế:

Trước mắt tôi, một Miền Nam sinh động
Đất nước con người dân chủ tự do
Tôi đã khóc ròng đứng giữa thủ đô
Giận đảng giận đoàn bao năm phỉnh gạt

Với thời gian, mọi “phỉnh gạt” đều dần được phơi bầy. Tiến sĩ Lê Hiển Dương, nguyên hiệu trường Đại Học Đồng Tháp, một nhân vật tuy thuộc thế hệ sau nhưng cũng cảm thấy áy náy và bất an không kém:

“Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó. Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ ‘giải phóng miền Nam’ và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân… mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội.”

“Chỉ dân tộc này mới cần được phóng sinh, họ bị nhốt lâu quá rồi.” FB Trà Đóa

Mà đó có phải là lần đầu cái dân tộc này phải trải qua một cuộc “bể dâu” đâu. Hồi tháng 10 năm 54 cũng thế:

Lê Phú Khải: “Ngày vui ngắn chẳng tày gang, không khí hồ hởi vui tươi sau chiến thắng Điện Biên Phủ, sau hòa bình lập lại 1954 ở Hà Nội cũng như toàn miền Bắc mau chóng nhường chỗ cho những ngày ảm đạm, u ám của những cuộc ‘đấu tranh giai cấp’, của cải cách ruộng đất, của cải tạo tư sản, đấu tố …”

Nguyễn Văn Luận: “Hà Nội im lìm trong tiết đông lạnh giá, người Hà Nội e dè nghe ngóng từng ‘chính sách’ mới ban hành… Hà Nội đói và rách, khoai sắn chiếm 2 phần tem gạo, 3 mét vải ‘cung cấp’ một năm theo ‘từng người trong hộ’. Mẹ may thêm chiếc quần ‘đi lao động’ thì con nít cởi truồng.”

Bùi Ngọc Tấn: “Quản lý chặt dạ dày, hộ khẩu, duy trì tình trạng thiếu đói cả ở nông thôn và thành phố, chia nhau từng mét chỉ, nửa cây kim, nửa cái bát sành…”

Từ 1954 đến 2023 là một khoảng thời gian không ngắn, vừa đủ cho cả mấy thế hệ luôn. Có lẽ FB Trà Đóa nói đúng: “Cả dân tộc này mới cần được phóng sinh, họ bị nhốt lâu quá rồi.” Lâu đến mức mà hầu như không ai còn nhớ rằng mình đang bị giam cầm nữa.


 

ĐẤNG THÁO CỞI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ephpheta”, “Hãy mở ra!”.

“Có nhiều lý do khiến Chúa không nên gọi bạn. Nhưng đừng lo! Ngài là Chúa hơn là Sếp. Ngài không tính lãi, lỗ; không thành kiến, thù dai, hay chảnh choẹ. Bạn có thể làm những điều tuyệt vời cho những người tuyệt vời nhưng vẫn không… tuyệt vời. Satan nói, “Bạn không xứng đáng!”; Giêsu nói, “Vậy thì sao?”. Satan nhìn bạn, chỉ thấy sai lầm; Giêsu nhìn bạn, chỉ thấy đáng thương! Ngài là Đấng tháo cởi, đầy thứ tha!” – Paul Cho Yonggi.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay nói đến ‘Đấng tháo cởi’ mà Cho Yonggi đề cập nhân việc Chúa Giêsu chữa lành một người câm điếc. Lời Chúa mời gọi bạn và tôi tự hỏi, “Dẫu có niềm tin, nhưng tại sao tai và miệng tâm linh của tôi không được mở ra?”.

Phải chăng chúng ta đã quá quen chìm đắm trong di sản đức tin Công Giáo đến nỗi coi thường những chân lý đã được lãnh nhận? Phải chăng chúng ta đã coi thường khả năng nghe, nói của mình? Hãy biết, có nhiều người không thể đón nhận mầu nhiệm mặc khải, không phải vì nó không được ban, nhưng bởi họ không được chuẩn bị để đón nhận. Vì thế, hãy chiêm ngắm Giêsu, xin Ngài tháo cởi tâm hồn và môi miệng bạn, hầu biết vui mừng trong ân sủng đã lãnh nhận; đồng thời, biết chia sẻ niềm vui ân sủng đó cho bao người.

Chúa Giêsu đã tỏ quyền năng để người câm điếc nghe và nói được. Cũng thế, nếu không được Ngài tháo cởi; chúng ta không thể nói lên thông điệp ý nghĩa cuộc sống của mình, không thể hiến mình cho Thiên Chúa và tha nhân, và cuộc sống cứ thế trôi qua! Nhưng nếu Ngài chạm ‘vào tai, vào lưỡi’ của chúng ta, cuộc sống của chúng ta sẽ có một hướng đi và một ý nghĩa hoàn toàn mới. Thánh Vịnh đáp ca nói, “Ta là Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hãy nghe Ta răn bảo!”. Bài đọc Các Vua cũng cho biết, giá mà Salômon biết nghe lời Thiên Chúa, thì vương quốc của ông đâu đến nỗi bị phân thành mười hai mảnh!

Đức Phanxicô nói, “Tất cả chúng ta đều có đôi tai, nhưng rất thường xuyên, không thể lắng nghe. Có một chứng điếc đặc nội tâm mà mỗi người có thể cầu xin ‘Đấng tháo cởi’ chạm vào và chữa lành ngay hôm nay. Đó là điếc nội tâm, tệ hơn cả điếc thể chất, vì nó là điếc của trái tim. Mỗi ngày thức dậy, hãy tự hỏi bản thân, khả năng lắng nghe của tôi thế nào? Tôi có để mình xúc động trước cuộc sống của những người khác không? Tôi có biết dành thời gian để lắng nghe những người thân yêu?”.

Anh Chị em,

“Hãy mở ra!”. Bằng việc chữa lành người câm điếc, Chúa Giêsu tiết lộ một điều gì đó cấp bách. Ngài hành động không do dự, dứt khoát và rõ ràng. Ngài muốn tạo nên một sự khác biệt. Sự hiểu biết này sẽ mang lại cho chúng ta một niềm an ủi lớn lao; rằng, Ngài sẵn lòng thi hành quyền năng để mang lại điều tốt đẹp nhất cho cuộc sống mỗi người. Sau khi được lành, người câm đã trở thành đại diện cho sự cứu rỗi của Thiên Chúa; giờ đây, ai có thể giữ anh ta im lặng về trải nghiệm tuyệt vời trước ‘Đấng tháo cởi’ miệng lưỡi anh! Anh đã tin nên anh đã nói! Vậy tại sao tôi im tiếng? Tôi không biết rằng, với tư cách là người Công Giáo, tôi cũng là nhân chứng cho thế giới rằng, tình yêu tồn tại?

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, không chỉ cởi tai con, miệng con, nhưng cả trái tim; cho con trở nên một khí cụ sắc bén, một thợ lành nghề trên ‘đồng lúa thế giới’, đồng lúa xa, đồng lúa gần!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen


 

Vài Cảm Nghĩ Về Ngày Tết Âm Lịch-Duy Khang (1)

Khang Duy Nguyen is in Sugar Land.

Hôm nay đã là ngày 30 Tết Âm Lịch, sáng sớm tinh mơ tôi dạo bước ra vườn bắt gặp nụ đào chúm chím rung rinh trước gió, lòng lại lâng lâng vui. Những cánh hoa đào đầu tiên hé mở, khỏe khoắn, hồng tươi trong sương, trong nắng, trong gió, trong lạnh thành một thông điệp báo xuân, gieo vào lòng người từ già đến trẻ niềm vui hân hoan, nao nức, bời bời… Xuân đang về! Điệp khúc nhiệm mầu này thường niên của thời gian tái hiện bình thường theo quy luật tự nhiên mà sao mỗi khi gặp lại, lòng ta vẫn vẹn nguyên ngóng trông hồi hộp, để rồi mỗi giao thừa trong đêm ba mươi lại dâng trào cảm xúc. Trong khoảnh khắc thiêng liêng này, bên nhà chỉ còn vài tiếng nữa là giao thừa, năm Giáp Thìn 2024 sẽ đến, nhà nhà người người, lòng ta hướng về những gì thành kính nhất, yêu thương nhất, mà thầm ước vọng, nguyện cầu mong một năm mới đủ đầy, may mắn, an khang… cầu chúc cho người dân Việt mình có một Mùa Xuân yêu thương, hạnh phúc.

Tôi luôn nhớ không gian chiều Ba mươi Tết. Nó bảng lảng khói sương và có gì bâng khuâng khó tả. Ông Bà Nội của chúng tôi là dân gốc Bắc 54 và đạo ông bà. Do vậy khi mâm cúng tất niên của Bà Nội tôi đã xong, mọi công việc trong nhà, đã gọn ghẽ, ông bà nội của tôi thắp hương cầu nguyện mong muốn những người đã khuất về ăn Tết. Vàng hương bay lả tả trong chiều muộn dễ gợi người ta nghĩ rằng, có lẽ, tất cả những người đã mất sẽ trở về nhà trong ba ngày Tết bằng một cách nào đó. Mấy anh em gia đình chúng tôi theo Đạo Công Giáo, tục lệ này thay vào đó là đi tảo mộ trước Tết để khấn mời người thân trở về với con cháu. Mấy ngày Tết là dịp quây quần các thế hệ trong gia đình cùng nhau ăn cơm, cùng nhau trò chuyện, hàn huyên mọi điều. Ai cũng hồi tưởng về thời thơ ấu, về những kỷ niệm ấm áp tình thân. Nhìn lại những hình ảnh kỷ niệm Tết xưa dường như vẫn thấy bóng dáng những người ruột thịt năm nảo, năm nào… Nhớ thương người không còn để rồi chăm sóc tốt hơn cho những người đang hiện hữu. Ngày Tết đã nhóm được mồi lửa lớn từ những đốm lửa nhỏ nhoi ở mỗi người. Giao thừa xong, đêm xuân khe khẽ đến, mới thật sự thấy gia đình là thứ quý giá nhất trên đời, hơi ấm mùa xuân sẽ vĩnh hằng, bởi mùa xuân là Tết, là có đủ món ăn ngon, là nồng nàn tình thân sum họp. Tình thân là thứ hơi ấm có giá trị lâu bền suốt cõi sống của mỗi cá nhân. Mùa xuân ấm áp hơn vì như thế. Bình minh ngày mồng Một đầu tiên của năm mới, cái rét cuối cùng chạy qua mái hiên là lúc thèm ngồi bên một ấm trà. Hơi trà nóng bốc lên bỗng dịu dàng khác lạ. Dường như hương thơm có gì đó dịu ngọt, đậm đà, thi vị hơn. Người ngồi uống trà bên ta cũng sẽ là một người đặc biệt. Người tri kỷ là hợp nhất. Hai người có thể lặng im bên nhau, không nói một lời nào đi nữa, thì cũng như đã thấy cả, hiểu cả tâm tư. Khi nhấp chén trà đầu tiên, nếu dành tâm trí ở đây, tại chỗ này, với bạn, thì nó có đủ vị của mùa xuân; ngũ hành luân chuyển, sự sống tươi xanh, cả nhịp đập của những gì tinh khiết và mới mẻ.

Gần hơn ba chục năm nay, cuộc sống của tôi dường như chậm lại, nhất là những ngày Tết đến xuân sang. Sự thư thái ấy, càng làm cho con người sống thiên về hoài niệm, với những ký ức đã xa vời vợi. Do vậy, về miền ký ức, tìm lại dĩ vãng, tìm lại kỷ niệm, dù rằng rất nhỏ, song luôn thôi thúc trong tôi với nồi bánh chưng đang sôi, tỏa ra mùi hương quê nhà, dưới ngọn lửa hồng ta vừa nhóm, mới làm hồn người dịu lại giữa ngày xuân. Khi khí hậu vùng Houston, Texas bắt đầu lạnh và nhiệt độ có lúc xảy ra những ngày đông đá hơn vào những ngày đầu năm những bông hoa tuyết trắng xóa tan dần, thay vào đó là tia nắng xuân trải đều trên những cành cây vừa mới vượt qua một mùa đông giá lạnh, tôi cảm nhận một mùa xuân đang đến gần khiến lòng tôi trào dâng nỗi nhớ Tết quê hương. Tôi mới thực sự thấu hiểu rằng, ai đã từng xa quê, ngồi một mình vào những ngày giáp Tết, vào chính cái đêm giao thừa cô đơn trong cái lạnh chuyển giao của trời đất, mới thấm thía, đau đáu một nỗi nhớ nhà, là nơi cất giữ bao kỷ niệm tươi đẹp thời ấu thơ, là nơi ai ai cũng nhớ vể quê hương tha thiết đến nhường nào! Chắc hẳn quê hương trong tâm khảm mỗi người là những gì đẹp nhất, thiêng liêng gần gũi nhất. Hình ảnh Tết trong tôi những năm tháng xa nhà, là bóng mẹ ngồi bên nồi bánh chưng đỏ lửa, là dáng cha cặm cụi với cây nêu, cành đào, là màu đỏ của đôi câu đối được cha trang trọng dán lên hai bên ban thờ, là niềm vui với những đồng tiền mừng tuổi, là màu xanh của bánh chưng, là mùi hăng của lọ dưa hành muối, vị đậm đà của nồi thịt đông mẹ nấu, là mùi hương bay nghi ngút trên bàn thờ tổ tiên trong ba ngày Tết, là bữa cơm tất niên đoàn tụ gia đình, là những lời chúc tụng tốt đẹp nhân dịp năm mới từ người thân, bạn bè… Mọi thứ tưởng như rất đỗi bình thường trong cuộc sống thường nhật của mỗi người nhưng trong ký ức thi thoảng bỗng dâng trào lên trong tâm trí, trong khóe mắt của người xa quê.

Giờ đây tuy sống hơn nữa đời người tại quê hương thứ hai, những tập tục truyền thống vẫn giữ nguyên trong các gia đình Việt Nam tại hải ngoại, trong đó có gia đình bố mẹ và anh em chúng tôi…dẫu có xa nhà vẫn cố gắng về nhà để cùng tận hưởng không khí gia đình đầu năm.

Một chuyện rất đặc biệt là Tết Nguyên Đán gia đình bố mẹ tôi rất mê chưng những chậu hoa mua về chưng trong nhà mỗi dịp mừng năm mới. Những chậu hoa cúc đại đóa với những bông vàng rực, sáng cả trong phòng khách. Vì là dân gốc Bắc, ông nội của tôi thường hay ưa thích và chăm sóc tỉa những chậu hoa thủy tiên mọc từ những củ để đúng mùng một Tết hoa nở ra những nụ hoa nho nhã trắng tinh khiết. Hình ảnh ông tôi nhâm nhi ly trà và cùng ngắm hoa Thủy tiên vẫn chưa bao giờ quên được trong tâm trí của tôi. Theo truyền thống của ông cha để lại, hoa thủy tiên mang đến tinh thần đầy hứng khởi để vượt qua mọi khó khăn, mệt nhọc. Ngắm hoa sẽ giúp cho tinh thần sảng khoái, nhẹ nhõm, giảm bớt stress đáng kể. Đặt một lọ thủy tiên trong nhà sẽ giúp cho tình cảm gia đình thêm bền chặt hơn, tự nhiên hòa giải nhiều hiềm khích. Riêng tôi thì yêu thích nhất là những chậu quất với những quả vàng ươm rực rỡ trên những thân cây xanh rì ý tưởng mang đến sự sung túc đầm ấm trong những ngày đầu năm. Sau Tết các trái quất được mẹ tôi đem đi ngâm và pha với đường, nước để làm một món nước giải khát cho cả nhà cùng thưởng thức. Ngay phòng khách mùi hoa lay ơn đỏ Mẹ tôi cắm đặt ở bàn salon cũng có mùi nhè nhẹ và thêm nữa là mùi thơm thoang thoảng của những chậu lan khoe sắc trong dịp Tết. Cuối cùng mùi thơm rất mỏng từ chậu mai vàng nhiều cánh nở bung được đặt trang trọng ở giữa nhà. Tất cả hương của những thứ hoa bàng bạc trong nhà mà mặc dù sống ở hải ngoại xa xôi cách nữa vòng trái đất nhưng hầu như gia đình tôi vẫn giữ được truyền thống chưng hoa 3 ngày Tết này.

Không thể quên được là còn có mùi pháo thơm nồng. Mùi Pháo là mang âm hưởng Tết nhiều nhất vì là biết Tết đã tới rất gần. Đêm Giao thừa, trong khoảnh khắc giao thoa giữa cái cũ và cái mới, trong không gian thiêng liêng, mùi pháo, tiếng pháo báo hiệu Tết tới, thể hiện không khí rộn ràng của một năm mới, đón chào những thành công mới. Do đó hễ vào dịp bên Mỹ đón giao thừa cuối năm Dương lịch là anh em tôi hơn vài năm nay có thói quen mua về nhà vài ổ pháo với dây dài hơn hai ngàn viên để có dịp đốt trong ngày đầu năm mới tại vùng Houston này. Âm thanh và hình ảnh của Tết là sự tổng hoà của nhiều sự việc mà chỉ có ngày Tết mới có. Nó không chỉ là hình ảnh của những vật phầm. Tết còn là hình ảnh thiêng liêng đi theo suốt quãng đời của mỗi người. Có thể mỗi gia đình, mỗi dòng tộc có những kỷ niệm Tết riêng nhưng tựu trung hoài niệm về những sự chuẩn bị những ngày Tết, hình ảnh gia đình là một kỷ niệm linh thiêng nhất nhưng hiện tại khó tìm cho được đầy đủ hình ảnh ấy trong tâm khảm của những con dân Việt ở những ngày xưa cũ.

Nắng xuân thì, ươm giọt sương mai. Cỏ hoa nhẹ chuyển mình trong bản hòa âm vũ trụ. gieo bao sự sống, cho mầm xanh đâm chồi, cho bao khát khao gửi vào thinh không, thành điệu khèn môi nương theo cánh gió. Nghe như Nàng xuân đang gõ cửa, bước chân nhẹ êm. Lối về mướt xanh màu lá, gót hồng đan mây ngang trời. Một bậu nắng cho cánh bướm vàng lả lơi bay đậu, chấp chới bên khung cửa sổ – màu thời gian. Mà ngời xanh sắc xuân tự bao đời. Có tiếng huyền mầu nhiệm mọc từ đất. Lời côn trùng hát với cỏ cây, khúc ca vui óng ánh sợi tơ vàng nắng. Sâu chuyển mình, dế lang thang, ôm cây đàn hòa điệu giao mùa. Thảm cỏ là một vũ trụ, ẩn sâu dưới mỗi lá cỏ mong manh, nhẹ tênh kia, cả một thế giới đang hiện tồn. Những mầm non cọ cựa, thoát lốt, khai mở một đời. Chồi búp theo gió xuân hé nụ, hướng tìm miền sáng. Thanh âm của cánh hoa nhẹ chao, nghiêng nghiêng, gom bức tình thư. Cho nghe ra lời yêu thương lắng đọng trong những thanh âm dịu dàng, tế vi, mà vấn vương bao mối tơ đồng cảm.

Xuân thiên nhiên dễ hóa thành xuân tâm tưởng, cảnh xuân gợi dậy tình xuân, những ảnh hình hiển hiện bao cảm xúc – nơi phát khởi là trái tim người. Nên ngắm nhìn cành mai trong vườn, trông đàn én liệng tầng không, lại thấy lòng xuyến xao khó tả. Đôi câu thơ mùa xuân, dăm lời ca đón chào năm mới, nhẩm lại dư vị ngày qua, như giấc mơ, như vô thức, ai cũng từng có cho riêng mình.

Tết đã đến và đang đến, dẫu giờ đây với tôi những cái Tết xa quê ngày ấy chỉ là những ký ức ngọt ngào nhưng nó đã trở thành hành trang giúp tôi vượt qua cảm giác buồn, để tôi vượt qua nỗi nhớ Tết quê hương đến nao lòng.

Giao Thừa Giáp Thìn 2024

Duy Khang

(1) Tựa bài do Website keditim đặt


 

Ông cha ta sống tử tế !-Chu Vĩnh Hải

Chu Vĩnh Hải

“Khi người Pháp chiếm được nước ta, họ tự hào là đã chiếm được một cường quốc vào bậc nhất ở Châu Á. Tôi không tin là Doumer hay Gosselin viết xạo điều này. Vậy ta thử tìm hiểu tại sao?

— Tại vì vua Gia Long làm việc suốt ngày, đêm chỉ ngủ 6 tiếng, ăn cơm với cá mắm, xắn tay đào hố, đắp thành cùng với tướng sĩ.

— Tại vì vua Minh Mạng mua cân đường, cân nhãn cũng ghi vào Hội điển.

— Tại vì vua Tự Đức tôn trọng sự phân quyền giữa hành pháp và tư pháp: khi bộ hình đã xử án, vua cũng không dám can thiệp.

— Tại vì những người trong hoàng gia không được phép giao du mật thiết với các quan, tránh sự đút lót, lạm quyền.

— Tại vì anh, em, cha, con không được làm quan cùng một chỗ, tránh sự thông đồng.

— Tại vì những đại thần như Nguyễn Tri Phương, khi thắng trận, được vua ban cho một bài thơ hay một chiếc áo gấm, khi thua trận bị xuống chức, bị luận tội nặng nề…

— Khi ta thấy những người như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, Hoàng Diệu… một đời hy sinh cho đất nước mà không có được một ngôi nhà khang trang để ở, thì hẳn ta phải ngần ngại khi muốn làm đại gia vì cha chú ta là những Đại Thần.

— Khi ta tìm trong bộ sách đồ sộ nhiều nghìn trang của các sử gia triều Nguyễn, mà không nhặt ra được một hàng tâng bốc nhà vua, thì ta phải nghĩ lại, khi viết những điều xu nịnh, trong những trang được gọi là lịch sử.

— Khi quân Tàu chiếm Hoàng Sa, thì ta phải chạnh lòng nhớ đến chúa Nguyễn đã tạo đội Hoàng Sa, để giữ quần đảo Hoàng Sa, đội Bắc Hải để kiểm soát Trường Sa, Côn Lôn, Phú Quốc, từ thế kỷ XVII.

+ Vì vậy, khi đã biết sử, ta không thể sống tồi tàn, bệ rạc, ăn cắp của công, vì cha ông ta, cách đây mấy trăm năm đã sống có nhân cách, sống tử tế, sống lương thiện…”

Nguồn: Thuỵ Khuê/CaoKimLe


 

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Thao Teresa

Ta khóc lóc tưởng rằng mình bất hạnh

Nhưng ngoài kia còn cả tỷ nỗi buồn

Ta cứ ngỡ có mỗi mình cô quạnh

Nhưng cuộc đời đầy ắp cảnh đau thương.

Có người ước được một đôi chân nhỏ

Để bước đi trên thảm cỏ thật mềm

Có người ước sau đêm dài vò võ

Đôi mắt này họ sẽ thấy bình minh.

Những đứa trẻ chưa một lần gặp mẹ

Chỉ ước ao hai tiếng gọi: Gia Đình

Nếu ta chỉ có một ngày thật tệ

Thì đừng buồn mà hãy cố gắng lên!

Có đôi lúc ta cần ngưng giận dữ

Nhìn thoáng hơn để thấu rõ sự tình

Hãy giữ lấy niềm vui dù rất nhỏ

Giữa bão đời ta chọn sống tự tin.

ST

#ngaycuoinam


 

Bạn đã thấy gì từ vụ án Ngọc Trinh?-Luật sư Đặng Đình Mạnh

Chau Trieu

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Rời tay khỏi đôi còng sắt sắc lạnh để trở về căn hộ sang trọng, rộng rãi, từ nội thất cho tới vật dụng, trang phục…rất thời thượng, có lẽ cô người mẫu xinh đẹp vẫn chưa hết bàng hoàng. Những gì đã xảy ra trong ba tháng giam cầm sau song sắt nhà tù sẽ còn ám ảnh cô ấy đến hết cuộc đời, cho dù cô ấy có là người vô tư đến thế nào đi nữa.

Những phục sức thời thượng cũng sẽ sớm được xếp lại như là kỷ niệm của một thời vàng son trong sự nghiệp người mẫu, vì có lẽ cô ấy không còn mấy cơ hội để trở lại với nghề nghiệp làm bỏng mắt mọi người nữa. Dĩ nhiên, sau bản án, với tư cách tội phạm, một biểu tượng xấu về văn hóa có giá trị không khác gì một bản án tử hình đối với thanh danh, nghề nghiệp của cô ấy cả. Chẳng cần đến một quyết định thành văn, mặc nhiên, các cơ quan truyền thông trong nước sẽ phải tránh né nhắc đến hình ảnh, danh tính cô ấy trên mặt báo. Trừ phi phát sinh một vụ tai tiếng khác về tình, tiền, tù, tội… Khi ấy, cô ấy sẽ trở lại sáng lòa như một mỏ quặng vàng để mặc sức giới truyền thông khai thác đến tận chân tơ kẽ tóc!

Không chỉ cô ấy, mà cả ê kíp viết kịch bản, trau chuốt cho vành môi đỏ, cho đôi má hồng hoặc nâng niu từng khuôn ảnh của cô ấy để đưa tiếp thị lên trang mạng xã hội cũng đang hoang mang, bối rối. Vì sau những gì cô ấy chịu đựng, thì họ không còn hiểu rõ đâu là ranh giới giữa hợp pháp và bất hợp pháp nữa. Vì lẽ, hành vi của họ không khác gì hành vi của nhiều người khác, nhưng với họ là tiếp tay cho bất hợp pháp, với người khác như ê kíp của các diễn viên xiếc Quốc Cơ – Quốc Nghiệp thì lại là hợp pháp?!

Kể ra, họ hoang mang cũng phải, vì chính giới luật sư còn chưa phân biệt nổi đâu là “cọng xá lợi” phân ranh giữa quyền tự do ngôn luận hợp pháp và tuyên truyền chống nhà nước bất hợp pháp nữa là họ. Và cũng thế, giới làm luật xứ này cũng vẫn đang ngơ ngác hỏi nhau rằng tội danh “gây rối trật tự công cộng” đã mở rộng sự áp dụng lên cả trên không gian mạng từ khi nào? Hay từ thời Phạm Tuân bay lên đấy với cọng bèo hoa dâu chăng?

Gác lại những sự vận dụng tùy tiện của luật pháp, sau vài ngày về với tự do, bình tâm, nếu mở trang mạng xã hội, cô ấy sẽ thấy tràn ngập ở đấy là sự cảm thông của cả một xã hội dành cho cô ấy, kể cả những vị phụ huynh đã từng chê trách cô ấy có những tuyên bố thực dụng về tình yêu đến như thế nào? Đáng nói nhất, không một ai xem cô ấy là tội phạm như lời tuyên án của phiên tòa do đảng đạo diễn cả. Cho thấy, “lòng dân” vẫn chưa một ngày trùng với “ý đảng”, kể cả trong câu chuyện người mẫu nội y.

Có bạn nhắn tin hỏi tôi: “Chú thấy gì qua vụ án cô người mẫu vậy chú?”. Tôi thấy nhiều lắm:

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Không xử lý hai lần đối với một hành vi vi phạm pháp luật” đã bị phớt lờ. Vì lẽ, cô ấy đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính trước khi bị khởi tố, bắt giữ và xét xử hình sự;

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Vô luật bất hình”, tức “Không có tội danh thì không có hình phạt” đã bị vô hiệu khi cô ấy bị cáo buộc với tội danh không có trong Bộ luật Hình sự “Gây rối trật tự trong không gian mạng”;

– Tôi thấy nguyên tắc pháp luật “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” chỉ còn là khẩu hiệu đẹp nhưng vô tích sự khi hình ảnh cô ấy với đôi tay trong còng sắt bị phơi bày rõ nét trên hàng nghìn tờ báo và đài truyền thông, trong khi đó, cũng với vụ án hình sự tương tự, thì họ lại làm mờ đi khuôn mặt khi kẻ ra tòa là quan chức cao cấp;

– Tôi thấy cô ấy nhận tội trước tòa và được đến ba luật sư bào chữa xin giảm nhẹ hình phạt trong khi cô ấy vô tội?!

– Tôi thấy cô ấy bị cáo buộc tội danh liên quan đến nơi cộng cộng trên không gian mạng, thế nhưng, công an đã khám xét nhà cô ấy là để làm gì? Để rồi “nhiều chuyện” tiết lộ trên mặt báo rằng cô ấy sở hữu số tài sản đồ sộ quá?!

– Tôi thấy trong một hành vi tương tự mà cô ấy gọi là vi phạm pháp luật, thì những diễn viên xiếc như Quốc Cơ – Quốc Nghiệp lại được miễn tố vì bla, bla, bla…

– Tôi thấy cả một hệ thống công quyền lẫn truyền thông hùng hổ trước cô gái chân yếu tay mềm nhưng lại câm nín, lờ tịt kẻ gây thiệt hại hàng trăm nghìn tỷ đồng vừa được hạ cánh an toàn vì xuất thân là thái tử đảng;

Nghe bản án 12 tháng tù treo, nhiều người đã vội ngỏ lời cảm ơn tòa án. Nhưng vấn đề là cô ấy có phạm tội hình sự đâu? Nhưng với chế độ, thế là quá đủ, chế độ cũng chỉ cần có vậy vì họ đã đạt được nhiều mục tiêu qua vụ án:

– Có cớ để lục soát nhà cô ấy để tìm “cái” mà ai cũng biết là gì?

– Để gởi một thông điệp mạnh mẽ đến những người đang sở hữu số follow, số đăng ký đông đảo từ công chúng trên mạng xã hội rằng: Hãy liệu chừng!?

– Được xét xử, còn được công chúng biết ơn vì đã xét xử khoan hồng cho một cô gái vô tội;

Như nhiều quan chức cao cấp muốn lưu danh với xứ sở, nếu được giao viết sử, chắc chắn tôi sẽ viết rằng: Ở thời khắc ông Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Bí Thư, thì cả hệ thống chính trị gồm cả bộ máy truyền thông khổng lồ, đã dạy cho một cô gái chân yếu tay mềm một bài học nhớ đời.

Quang vinh, đâu chỉ bốn lần!

DC, ngày 02/02/3024

Luật sư Đặng Đình Mạnh

Ảnh : Người mẫu Ngọc Trinh bị dẫn giải đến tòa ngày 2/2


 

VÂNG PHỤC, TÍN THÁC VÀ TRI ÂN – Alphonse Marie Trần Bình An

Alphonse Marie Trần Bình An

Ngày 20 tháng 9, 1940, Nguyễn Trọng Trí nhập trại phong Quy Hòa, thời Mẹ Maria Juetta.  Sau ba tuần, nhờ sự chăm sóc tận tụy của các nữ tu dòng Phan Sinh (Franciscaine), bệnh tình Trí thuyên giảm..  Từ tuần lễ thứ tư, sinh hoạt của Trí đều đều như kinh Nhật Tụng: 5 giờ sáng dậy đi nhà nguyện đọc kinh, sốt sắng dâng lễ, rước lễ.  7 giờ cùng anh em bệnh nhân dùng điểm tâm cháo trắng với đường tán đen.  8 giờ được băng bó, uống thuốc hoặc chuyện vãn với anh em đồng bệnh.  11 giờ cơm trưa rồi nghỉ ngơi.  14 giờ 30 Lên nhà nguyện đọc kinh lần hạt đến 17 giờ dùng cơm chiều…  Trí là một người rất sùng kính Đức Mẹ Maria, lúc nào cũng cầu xin Đức Mẹ và thứ bảy nào cũng xưng tội.  Suốt hơn một tuần, từ 30 tháng 10, 1940 đến 7 tháng 11, 1940, Trí bị bệnh kiết lỵ nặng nên mất sức!  Đêm ngày 8. 11. 1940 Trí lấy hai tập giấy pelure, dùng bút chì cùn trong áo veston sáng tác bài thơ cuối cùng La Pureté de l’ Âme (Tâm Hồn Thanh Khiết) để ca tụng Đức Maria cùng các bà mẹ dưới đất là thân mẫu và các nữ tu Phan Sinh đã săn sóc Trí.  Đây là bút tích cuối đời của Trí.  Khi ông Nguyễn Văn Xê đưa Mẹ Nhất Maria Juetta, người Pháp, đọc bài viết này, Mẹ Juetta nói: “Giỏi quá, uổng quá, Hàn Mạc Tử là một thiên tài hiếm có!  Nhưng Mẹ xin phép tác giả đổi chữ “nénuphards” (hoa súng) thay cho chữ “lotus” (hoa sen) vì cuộc đời tu sĩ của chúng tôi tại đây với các bệnh nhân phong, chính là những bông hoa súng lên xuống theo con nước và bập bềnh trôi nổi như mọi vật trong hồ, chứ không dám tự nhận mình như những bông hoa sen gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.”

Sau 52 ngày được các nữ tu, đặc biệt sơ Julienne và Mẹ Nhất Maria Juetta, tận tình săn sóc, cùng một người bạn thân đồng bệnh đồng đạo người Huế, ông Nguyễn Văn Xê, giúp đỡ, nhà thơ tài hoa bạc mệnh Hàn Mạc Tử đã nhẹ nhàng tắt thở lúc 5 giờ 45 sáng ngày 11 tháng 11, 1940, hưởng dương 28 tuổi.  (Lm Trần Quý Thiện, Tưởng niệm nhà thơ Công giáo Hàn Mặc Tử).

Thi sĩ Hàn Mặc Tử đã sống 52 ngày cưối đời thật trong sáng với tinh thần sám hối trở về, hân hoan chúc tụng ngợi khen Thiên Chúa, tán dương Mẹ Maria Đồng Công Cứu Chuộc qua những vần thơ tuyệt vời.  Tin Mừng hôm nay, Thánh Marcô tường thuật Đức Giêsu chữa lành người phong, căn dặn đi trình thầy tư tế và không được tiết lộ.  Nhưng khi được chữa lành, anh không thể nín lặng, công khai vui mừng rao truyền và loan tin vui.

Lời cầu xin của anh là gương mẫu cho bất cứ ai thành tâm nguyện cầu, xin Chúa xót thương cứu giúp: “Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Anh hoàn toàn xin vâng theo Thánh Ý Chúa toàn năng, khiến Đức Giêsu chạnh lòng thương và giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

Vâng phục

“Nếu Ngài muốn,” Với lời khẩn cầu tha thiết, trân trọng Đấng Thiên Sai, anh bệnh phong tuyên xưng Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, toàn quyền nắm giữ sinh mệnh, cũng như sức khỏe, hạnh phúc, bình an của mình.  Lời nguyện xin khiêm hạ này cũng gợi nhớ “Xin Vâng” của Mẹ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như sứ thần nói.” (Lc 1, 38).

Người bệnh phong không dám biểu lộ ý riêng của mình, vả lại không thân thưa, thì Đức Giêsu cũng đã thấu suốt nguyện vọng ấp ủ từ bao lâu rồi.  Anh hoàn toàn vâng theo Thánh Ý toàn năng, sẵn sàng chấp thuận Thiên Chúa định đoạt thân phận, không hề oán than.  Một đức tin vững chãi qua cơn thử thách thật nặng nề.

Trước cuộc khổ nạn kinh hoàng, Đức Giêsu cũng làm gương sáng chói về đức vâng lời, Người ba lần cầu nguyện: “Cha ơi, nếu được xin cho chén này rời khỏi con.  Nhưng xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha. ” (Mt 26, 39-44).

“Chúa Cứu Thế đã cách mạng, muôn triệu người hưởng ứng, khẩu hiệu của Ngài: “Vâng lời đến chết!” (Đường Hy Vọng, số 395).

Tín thác

“Nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm tôi được sạch.”  Hoàn toàn tín thác vào quyền năng vô biên của Thiên Chúa, người bệnh phong công khai tin cậy, trao thân gửi phận cho Đức Giêsu cứu giúp.  Người Kitô hữu liệu có luôn xác tín vào Thông điệp Lòng Chúa Thương Xót, được Chúa Giêsu truyền cho chị nữ tu Faustina Kowalska hay chăng?  “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác nơi Chúa.”  Có hoàn toàn vững tin như lời nguyện Hiệp Lễ chăng?  “Lạy Chúa, con không đáng rước Chúa vào nhà con, nhưng xin Chúa phán một lời thì linh hồn con sẽ lành sạch.”

Vì đặt trọn niềm tin và hy vọng vào Chúa, người phong không ngần ngại lỗi luật Do Thái, phải chịu cách ly với người lành.  Đức Giêsu vì thương yêu, chí nhân chí ái, cũng vô tư vượt qua điều luật này, khi Người chạnh lòng thương giơ tay đụng vào anh và bảo: “Tôi muốn, anh hãy được sạch.”

“Con người hy vọng để sống, để tiếp tục sống.  Con người sẽ quay về với ai có thể mang lại cho họ niềm hy vọng lớn lao nhất: Niềm hy vọng ấy, Chúa Giêsu đã quả quyết: “Ta đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.” (Ga 10, 10).  Niềm hy vọng ấy, Chúa ban qua tay Mẹ Maria:”Nguồn hy vọng của chúng con.” (Đường Hy Vọng, số 962).

Tri ân

Được chữa lành, anh quên ngay lời Đức Giêsu căn dặn “đừng nói gì với ai cả.”  Bởi vì lòng anh tràn ngập niềm tri ân, cảm tạ Thiên Chúa.  Anh không thể giữ niềm vui, ân huệ cho riêng mình, mà hân hoan công khai chia sẻ với mọi người về hồng ân mới lãnh nhận nhưng không.  Nên vừa đi khỏi, anh đã rao truyền và loan tin ấy khắp nơi.”

Lòng Mến tràn đầy của anh đã lan tỏa khắp nơi, khiến dân chúng từ khắp nơi kéo đến với Đức Giêsu.  Niềm tri ân, lòng cảm mến đã biến anh thành chứng nhân sống động, rao giảng Tin Mừng đến tha nhân.  Anh không sở hữu ơn cứu độ cho riêng mình, mà trái lại anh đã thực hiện đúng ba bước như mới đây Đức Thánh Cha Phanxicô đã giải thích.  Ngài cho rằng có ba tiêu chuẩn để không không tư nhân hóa sự cứu rỗi: “Đức Tin vào Chúa Giêsu, Đấng thanh tẩy chúng ta, Đức Cậy khích lệ chúng ta nhìn tới những lời hứa và tiến đi về phía trước và Đức Mến là chăm sóc lẫn nhau, khuyến khích tất cả chúng ta thực hành bác ái và các việc lành.” (Đồng Nhân, Vietcatholic, ĐTC: Thành phần ưu tú của Giáo hội không được biến đức tin làm của riêng mình)

Lạy Chúa Giêsu, xin cứu thoát chúng con khỏi bệnh phong, khỏi bệnh liệt kháng tâm hồn, xin cứu chúng con khỏi vũng lầy tội lỗi, khỏi thung lũng đầy nước mắt này, xin ban cho chúng con biết sám hối, ăn năn trở về cùng Chúa hằng ngày.

Lạy Mẹ Maria, xin Mẹ luôn che chở chúng con khỏi những căn bệnh nan y thời đại là đánh mất Tin, Cậy, Mến.  Xin Mẹ cầu bầu, cứu giúp chúng con thoát khỏi cạm bẫy ba thù, để được Mẹ dắt dìu chúng con theo Chúa luôn.  Amen!

Alphonse Marie Trần Bình An

From: Langthangchieutim


 

Ông Sóc Trăng lãnh 3.5 năm tù với cáo buộc ‘chống phá’

Ba’o Nguoi-Viet

February 8, 2024

SÓC TRĂNG, Việt Nam (NV) – Bị cáo Danh Minh Quang, 37 tuổi, ở huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng, vừa bị kết án ba năm rưỡi tù với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Theo cáo trạng được trích dẫn trên báo Dân Việt hôm 8 Tháng Hai, ông Quang là chủ danh khoản Facebook “Minh Quang” bị quy kết chia sẻ 51 bài viết, hình ảnh “có tính chất tiêu cực, tuyên truyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.”

Bị cáo Danh Minh Quang tại phiên tòa. (Hình: Sóc Trăng)

Cụ thể, ông Quang bị cho là “lan truyền tin sai sự thật về công tác phòng, chống dịch COVID-19 và chính sách an sinh xã hội tại địa phương.”

Theo nhà chức trách, hành vi của ông này “vu khống, làm ảnh hưởng đến uy tín, danh dự của chính quyền tỉnh Sóc Trăng,” thậm chí “gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.”

Báo Sóc Trăng cho biết thêm, ông Danh Minh Quang không phải là nhà hoạt động mà là tài xế lái xe thuê cho một công ty tư nhân.

Cứ một, hai tháng, các báo ở Việt Nam lại ghi nhận một trường hợp bị bắt hoặc đi tù với cáo buộc “chống phá,” dù trên thực tế, những người này chỉ lên tiếng về các vấn đề thời sự xã hội trên trang cá nhân.

Trong một vụ tương tự, báo An Giang hồi trung tuần Tháng Mười Hai cho biết, bị cáo Nguyễn Hoàng Nam, 42 tuổi, ở thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang, bị kết án tám năm tù vì “tuyên truyền, chống phá đảng, nhà nước.”

Giống như ông Danh Minh Quang, ông Nguyễn Hoàng Nam cũng bị khép tội vì chia sẻ bình luận về công tác phòng, chống dịch COVID-19 tại địa phương.

Theo cáo trạng, ông Nam chia sẻ các video clip “An Giang: Người dân bị hành hung khi phản đối ngăn sông cấm chợ,” “tỉnh An Giang tiếp tục ngăn sông cấm chợ”…

Công An Tỉnh An Giang quy kết ông Nam “nhiều lần phát ‘livestream’ châm biếm, xúc phạm chính quyền địa phương,thường xuyên quay phim, chụp hình cán bộ, chính quyền địa phương đi ngang qua nhà rồi đăng lên mạng xã hội để xúc phạm, lăng mạ.”

Ông Danh Minh Quang (thứ nhì, trái qua) lúc bị bắt. (Hình: Công An Nhân Dân)

Báo An Giang viết thêm rằng hành vi của ông Nguyễn Hoàng Nam “xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân, gây tâm lý hoang mang, lo sợ, bất bình trong quần chúng nhân dân…”

Giống như hầu hết các bị cáo bị khép tội “chống phá,” bị cáo Nguyễn Hoàng Nam được cho là “cúi đầu nhận tội” khi bị đem ra xét xử. (N.H.K)


 

Vì sao Phan Châu Trinh chưa thành công?- Nguyễn Quang A

Ba’o Tieng Dan

Luật Khoa

Nguyễn Quang A

8-2-2024

  1. Tư tưởng Phan Châu Trinh

Phong trào phát triển đất nước (và dân chủ hóa) do Phan Châu Trinh khởi xướng đầu thế kỷ XX (1905-1907) ở Việt Nam là hết sức toàn diện và đúng đắn. Không những thế, thật đáng ngạc nhiên rằng các tư tưởng chính của ông được thuyết hiện đại hóa mới do Christian Welzel (2013) đúc kết xác nhận về mặt lý thuyết và thực tiễn trên quy mô toàn cầu. Thuyết hiện đại hóa mới được xem như một trong những lý thuyết toàn diện nhất về dân chủ hóa cho đến nay.

Vậy vì sao phong trào của cụ Phan chưa thành công và công cuộc dân chủ hóa ở Việt Nam sau đó một trăm năm vẫn chưa có kết quả?

Bài này thử tìm hiểu một số nguyên nhân của sự chưa thành công đó dựa vào khung khổ của chính thuyết hiện đại hóa mới.

Tôi từng có hai tiểu luận, “Phan Châu Trinh và thuyết hiện đại hóa mới” (2017) và “Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam” (2019), tóm tắt tư tưởng chính của Phan Châu Trinh về sự phát triển đất nước và dân chủ hóa Việt Nam. Các điểm chính của tư tưởng Phan Châu Trinh có thể được tóm tắt như sau.

  1. Phát triển kinh tế

Phan Châu Trinh, với khẩu hiệu “hậu dân sinh” (mà chúng tôi ở Diễn đàn Xã hội Dân sự cập nhật thành “cải thiện dân sinh”) đã luôn luôn chú tâm để nhân dân Việt Nam phát triển kinh tế; tạo dựng doanh nghiệp; cổ vũ thương mại, du lịch và buôn bán ở trong nước và với nước ngoài. Không chỉ nêu tư tưởng, cụ Phan cũng tích cực vận động mọi người khởi nghiệp (mà điển hình là công ty Liên Thành 1906 tại Phan Thiết).

  1. Nâng cao dân trí

Phát triển giáo dục là một phần cốt lõi của chủ trương nâng cao dân trí (“Khai dân trí”) của cụ. Không chỉ khởi xướng chủ trương, cụ Phan còn tích cực vận động lập trường (Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907 tại Hà Nội và đã giảng dạy ở đó; trường Dục Thanh Học Hiệu năm 1907 ở Phan Thiết). Tuy vậy, nâng cao dân trí không chỉ qua giáo dục chính thức mà còn được thực hiện qua thực hành (và chủ trương thực học của cụ là hết sức quan trọng), qua đọc sách, đọc báo, viết sách, viết báo, việc lập ra các hội đoàn, doanh nghiệp, phát triển kinh tế (như nêu ở điểm 1 ở trên).

  1. Chấn hưng dân khí

“Chấn dân khí,” nuôi dưỡng, khơi dậy tinh thần giải phóng, tinh thần tự do của nhân dân là một chủ trương rất quan trọng của cụ Phan (mà Liên Thành Thư Xã được thành lập năm 1905 tại Phan Thiết để truyền bá sách báo có nội dung yêu nước là một ví dụ).

  1. Vận động

Tổ chức các phong trào xã hội để buộc nhà cầm quyền (Pháp) cải cách.

  1. Chủ trương bất bạo động

Tuyệt đối bất bạo động, chỉ dùng phương pháp ôn hòa để thúc đẩy tất cả các việc trên để đưa nước ta vào nền văn minh mới, đủ sức đương đầu với kẻ thù (cũng bằng phương pháp bất bạo động) để giành độc lập chính trị.

  1. Chủ trương tự chủ

Không bài ngoại, không ỷ ngoại mà phải tự chủ.

Có thể thấy các chủ trương, tư tưởng của Phan Châu Trinh đã hình thành một cách hoàn chỉnh trong khoảng năm 1905-1907, và đã được bản thân cụ triển khai trên thực tế và cổ vũ, vận động nhân dân làm theo. Đây là cách tiếp cận hiện đại đối với ngay cả các học giả nghiên cứu về dân chủ hóa nếu xét theo các lý thuyết và thực tiễn dân chủ hóa hiện nay. Cũng hết sức đáng lưu ý rằng cụ Phan đã muốn nhân dân Việt Nam (hay số rất đông trong số họ) thực hiện các chủ trương trên chứ không chỉ một số ít người trở nên giàu có, hiểu biết rộng và có chí khí lớn.

  1. Thuyết hiện đại hoá mới

Lý thuyết hiện đại hóa, do Seymour Martin Lipset (1959) đưa ra, cho rằng “dân chủ là kết quả trực tiếp của sự tăng trưởng kinh tế”, và rằng “một quốc gia càng giàu, thì cơ hội càng lớn là nó sẽ giữ vững nền dân chủ”. Thuyết hiện đại hóa đã có ảnh hưởng lớn đến dân chủ hóa trên thế giới (và vẫn được một số chính trị gia đi theo), tuy sau đó bị nhiều người chỉ trích và sửa đổi, bổ sung.

Tóm lại, hiện đại hóa, theo lý thuyết của Lipset, không dẫn đến dân chủ, nó tạo ra một số điều kiện cần nhưng không đủ cho dân chủ hóa (chẳng hạn các nước rất giàu ở Vùng Vịnh hay Trung Quốc minh chứng rằng sự phát triển kinh tế, sự phát triển khoa học công nghệ, hiện đại hóa không trực tiếp dẫn đến dân chủ). Dù sao đi nữa, lý thuyết hiện đại hóa của Lipset là một đóng góp lớn.

Christian Welzel (2013) tổng kết những nghiên cứu của bản thân ông và nghiên cứu của ông với Ronald Inglehart để phát triển lý thuyết hiện đại hóa mới, mà nội dung chính có thể được tóm tắt như dưới đây.

  1. Các nguồn lực hành động

Theo Welzel, có ba nguồn lực hành động quan trọng nhất là: nguồn lực vật chất, nguồn lực trí tuệ, và nguồn lực kết nối.

Nguồn lực vật chất là các thiết bị, công cụ, tiền bạc… cần cho hành động.

Nguồn lực trí tuệ là sự hiểu biết, kiến thức, thông tin, kỹ năng… cần cho hành động.

Nguồn lực kết nối là các hoạt động, cơ chế tạo ra khả năng liên kết, tiếp xúc, hợp tác, tổ chức để hoạt động. Ví dụ: đô thị hóa, làm việc trong các nhà máy công sở giúp những người lao động liên kết với nhau, phối hợp với nhau, tổ chức lại để hành động; mạng lưới giao thông tốt tạo thuận tiện cho sự đi lại, tập hợp, cũng làm tăng nguồn lực kết nối; sự phát triển của các mạng truyền thông cũng thế. Nguồn lực kết nối có cả khía cạnh thể chế của nó, chẳng hạn, quyền tự do lập hội tăng cường nguồn lực kết nối, ngược lại sự cấm đoán làm giảm các nguồn lực kết nối.

Hiện đại hóa, sự phát triển của công nghệ tạo ra các nguồn lực hành động cho các chủ tư bản, cũng có thể (nhưng không nhất thiết) tạo ra các nguồn lực đó cho quảng đại nhân dân. Nó chỉ tạo ra các nguồn lực hành động cho quảng đại quần chúng khi hiện đại hóa và sự phát triển công nghệ nhắm tới phục vụ con người, bổ sung cho các năng lực con người, hơn là tự động hóa  chỉ nhằm để thay thế lao động con người và giám sát con người (xem Daron Acemoglu and Simon Johnson [2023]).

Cần lưu ý rằng các nguồn lực hành động của nhân dân (số đông người) cũng là kết quả của những cuộc đấu tranh chứ không phải do hiện đại hóa tự động mang lại. Đấy là một sự khác biệt quan trọng của thuyết hiện đại hóa mới so với thuyết hiện đại hóa ban đầu. Cả ba nguồn lực hành động đều quan trọng nhưng các nguồn lực trí tuệ và kết nối quan trọng hơn nguồn lực vật chất.

Chính trên nền của các nguồn lực hành động này của số đông người dân, công cuộc chấn dân khí mới có thể thành công. Đó là nơi các giá trị giải phóng bước vào và đóng vai trò lớn trên tầng văn hóa, và đây là điểm khác biệt thứ hai.

  1. Các giá trị giải phóng

Các giá trị giải phóng là các giá trị thúc đẩy các quyền tự do của con người.

Các giá trị giải phóng nhấn mạnh bốn khía cạnh về sự tự trị cá nhân, lựa chọn, bình đẳng, và sự lên tiếng, và có thể đo được bằng các cuộc khảo sát.

World Values Surveys đã đo các giá trị này trong khoảng 100 nước chiếm hơn 90% dân số thế giới. Từ năm 1981 đến nay (2024), họ đã khảo sát bảy đợt. Trên cơ sở đó, Welzel đã phát triển Chỉ số các Giá trị Giải phóng (EVI-Emancipative Values Index). Việt Nam đã tham gia vào ba trong bảy đợt khảo sát này trong các năm 2001 (đợt 4), 2006 (đợt 5) và 2020 (đợt 7). Nguyễn Quang A (2017) đã chỉ ra rằng EVI có thể được dùng như một chỉ số về dân khí. Nói cách khác, dân khí có thể đo được cho tất cả các nước trên thế giới và tạo cơ sở để tiến hành những nghiên cứu so sánh.

  1. Các phong trào xã hội

Trên bình diện tâm lý, các giá trị giải phóng trao quyền cho con người. Chúng thúc đẩy người dân thực hiện các quyền tự do phổ quát, tham gia tích cực vào các hoạt động phong trào xã hội, đòi nhà nước phải đáp ứng các quyền và lợi ích chính đáng của họ bằng cách bảo đảm về mặt pháp lý để người dân thực hiện các quyền tự do.

  1. Dân chủ hóa

Không có các phong trào xã hội sẽ không có dân chủ hóa. Chính các phong trào xã hội truyền đạt khát vọng của người dân (các giá trị giải phóng của họ), nhưng bản thân các giá trị giải phóng là động cơ thúc đẩy mạnh nhất trong những động cơ thúc đẩy nhân dân tham gia vào các phong trào xã hội, đấu tranh cho nhân quyền và dân chủ. Chính áp lực mạnh của nhân dân buộc các nhà chức trách phải ban hành luật pháp để tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân thực hiện các quyền của mình.

Khi các quyền dân sự và chính trị được pháp luật bảo đảm, được thực thi trong thực tế thì chúng ta có nền dân chủ. Nhưng dân chủ chỉ được củng cố và phát triển nếu nhân dân liên tục đấu tranh để tiếp tục cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí, tham gia vào các phong trào xã hội, liên tục gây áp lực để buộc những người cầm quyền phải duy trì, nâng cao những quyền đã đạt được, mở rộng các quyền khác của nhân dân. Nói cách khác, dân chủ hóa là một quá trình không bao giờ chấm dứt.

Chúng ta có thể tóm tắt tư tưởng của Phan Châu Trinh được thuyết hiện đại hóa mới đúc kết thành lý thuyết với hình sau đây:

Hình 1. Tóm tắt tư tưởng Phan Châu Trinh theo thuyết hiện đại hóa mới.

Chúng ta có thể thấy lý thuyết dân chủ hóa toàn diện nhất hiện nay – được công bố năm 2013 – minh họa rất rõ ràng các tư tưởng chính mà Phan Châu Trinh đưa ra hơn một trăm năm trước. Như thế, có thể xem Phan Châu Trinh là nhà cải cách sáng suốt nhất, nhà cách mạng triệt để nhất, người có tầm nhìn xa trông rộng nhất ở Việt Nam trong đầu thế kỷ thứ hai mươi, nếu không muốn nói là đạt tầm vóc của nhiều nhà cải cách có ảnh hưởng lớn trên thế giới thời kỳ đó.  Vậy vì sao cụ Phan chưa thành công và cho đến nay Việt Nam vẫn chưa có dân chủ?

III. Vì sao Phân Châu Trinh chưa thành công?

Có nhiều nguyên nhân cho sự nghiệp chưa thành công của Phan Châu Trinh.

Cụ Phan Châu Trinh đã vượt quá xa tầm hiểu biết của các trí thức, những người yêu nước, và của nhân dân ta cũng như trình độ phát triển, hoàn cảnh chính trị và xã hội thời đó. Chính phải hiểu rõ những khó khăn đó chúng ta mới hiểu tầm vóc vĩ đại của Phan Châu Trinh. Cũng nên lưu ý rằng Phan Châu Trinh trẻ hơn Mahatma Gandhi ba tuổi và hai vị đưa ra phương pháp đấu tranh bất bạo động gần như đồng thời, Phan Châu Trinh năm  1905 và Mahatma Gandhi năm  1906. Tuy vậy, thế giới hình như biết đến Mahatma Gandhi, Martin Luther King, Dalai Lama, Václav Havel, Thích Nhất Hạnh và Aung San Suu Kyi nhiều hơn Phan Châu Trinh khi nói đến phương pháp đấu tranh bất bạo động.

Hầu như phần lớn những người yêu nước và trí thức thời đó đã không hiểu cụ và chủ trương các đường lối gần như ngược với đường lối của cụ (từ Phan Bội Châu chủ trương dùng bạo lực và nhờ nước ngoài, đến Hồ Chí Minh sau đó).

Nhân dân cũng vậy. Cụ chủ trương tuyệt đối bất bạo động, nhưng nhân dân chính quê cụ không kiên trì thực hiện. Phong trào chống sưu cao thuế nặng tháng Ba năm 1908 ban đầu diễn ra một cách ôn hòa nhưng sau đó đã trở nên hết sức bạo lực, vượt ngoài tầm kiểm soát của những người tổ chức (không có Phan Châu Trinh trong số những người tổ chức). Và phong trào đã bị dập tắt trong sự đàn áp dã man của chính quyền thuộc địa Pháp. Dù không tham gia tổ chức, cụ Phan, cùng nhiều nhân sĩ khác, đã bị bắt và nhiều người bị kết án tử hình, rồi cụ bị đày ra Côn Đảo. May nhờ sự can thiệp của Hội Nhân quyền Pháp, cụ thoát án nặng và bị quản thúc tại Mỹ Tho rồi đi Pháp (1/4/1911); xem Chu Hảo (2023).

Chính quyền thuộc địa Pháp và triều đình đã đàn áp rất quyết liệt, bắt, bỏ tù, xử tử hình hoặc lưu đày các trí thức yêu nước, kể cả Phan Châu Trinh.

Ngoài những nguyên nhân trên, có lẽ cũng bổ ích để xem xét các nguyên nhân, mà tôi cho là cốt lõi hơn, của sự chưa thành công theo khung khổ của chính tư tưởng của Phan Châu Trinh được lý thuyết hóa trong thuyết hiện đại hóa mới. Đầu tiên, hãy xem xét các điều kiện cần là các nguồn lực hành động, rồi đến dân khí khi đó.

  1. Nguồn lực vật chất

Đáng tiếc, chưa có những nghiên cứu lịch sử về vấn đề này ở Việt Nam, chí ít từ thế kỷ XIX cho đến giữa thế kỷ XX (các nhà nghiên cứu trẻ có thể dựa vào các tài liệu lưu trữ của Pháp may ra có thể dựng lại lịch sử phát triển kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn này). Vì thế chúng tôi phải chọn một biến đại diện (proxy variable) là GDP/đầu người tính theo sức mua (PPP) với giá trị đô-la một năm cố định nào đó (để tiện so sánh). Theo Madisson Project, dữ liệu về GDP/đầu người (PPP, theo đô-la 2011) của Việt Nam từ 1820 đến 2018 diễn biến như sau:

Hình 2. GDP/đầu người ở Việt Nam, theo sức mua (PPP) tính bằng đô-la 2011. Nguồn: Maddison Project

Hãy xem so sánh quốc tế với vài nước lân cận trên hình sau:

Hình 3: GDP/đầu người, so sánh quốc tế. Nguồn: Maddison Project.

Chúng ta thấy Nhật Bản vượt hẳn các nước khác trong khu vực trong thế kỷ XIX cho đến hết thế kỷ XX. Hàn Quốc và Đài Loan bắt kịp (và thậm chí vượt Nhật Bản) một cách ngoạn mục trong các thập niên đầu của thế kỷ XXI.

Cũng nên lưu ý rằng, mức nghèo tuyệt đối (đủ để tồn tại theo sức mua PPP) là 694 đô-la năm 2011. Theo Hình 2 và Hình 3, trong suốt một thế kỷ rưỡi, nguồn lực vật chất của người Việt Nam chỉ hơn mức sinh tồn một chút: mức năm 1975 là $1.132, cho đến đầu thời kỳ Đổi mới năm 1986 đều dưới mức $1.500 (là mức của năm 1987); cho đến năm 1993, mức này vẫn dưới 2.000 đô-la và vào năm 1994 chỉ đạt 2.018 đô-la. Có thể nói cho đến năm 1994, nguồn lực vật chất của người Việt Nam là rất eo hẹp, lo cái ăn là chính chứ lấy đâu thời gian để nghĩ đến chuyện gì khác.

Hình 3 cho thấy nguồn lực vật chất của người Việt Nam thấp thế nào so với các nước trong khu vực. Vào năm 1986, khi Philippines chuyển sang dân chủ, mức của họ là $3.161/đầu người, gấp hơn 2,1 lần của Việt Nam; Hàn Quốc khi chuyển đổi năm 1987 đạt $9.756/đầu người, còn hơn mức năm 2018 của Việt Nam.

Với trường hợp Đài Loan, khi Tưởng Giới Thạch mất năm 1975, GDP đầu người của họ đạt $5.614. Sau đó, Quốc Dân Đảng độc tài, một đảng Leninist đúng nghĩa, bắt đầu nới lỏng dần chính sách cai trị với việc đưa Lý Đăng Huy – người sinh ra ở Đài Loan – lên làm lãnh đạo cấp cao của đảng. Năm 1986, khi phong trào đối lập “Đảng ngoại” – khi đó vẫn bất hợp pháp – lập ra Dân Tiến Đảng và được chính quyền để yên cho hoạt động, GDP/đầu người của Đài Loan đạt $11.918. Và 14 năm sau, khi ứng cử viên Trần Thủy Biển của Dân Tiến Đảng được bầu làm tổng thống, chấm dứt sự độc quyền của Quốc Dân Đảng, GDP đầu người của Đài Loan đã là $26.787.

Cũng thật đáng lưu ý từ Hình 3 rằng xuất phát điểm của tất cả các nước này vào năm 1820 là gần như nhau: Nhật – $1.321, Đài Loan – $966; Malaysia – $960; Philippines – $931; Thái Lan – $909 và Việt Nam $840.  Đến đầu thế kỷ XX vẫn đại thể như vậy (trừ Nhật Bản)  với GDP/đầu người năm 1913 là $1.159 ở Việt Nam, $1.171 ở Hàn Quốc, $1.286 ở Đài Loan; $1.289 ở Malaysia; $1.341 ở Thái Lan; $1.575 ở Philippines, và $2.431 ở Nhật Bản. Nhưng, từ những năm 1950-1960 trở đi, sự phân kỳ là hết sức rõ rệt do những lựa chọn khác nhau của mỗi nước.

  1. Nguồn lực trí tuệ

Cũng tương tự như nguồn lực vật chất, chúng ta không có dữ liệu lịch sử chi tiết về nguồn lực trí tuệ, mà có thể dựa vào tỷ lệ biết chữ, số người đi học các cấp, thời gian học, số các trường học các loại, chương trình học, số sách báo, số sách báo người dân đọc, số sáng chế, v.v.

Trong hệ thống giáo dục truyền thống (trước khi Pháp xâm chiếm các vùng lãnh thổ Việt Nam), ngoài các trường công như Quốc Tử Giám (chủ yếu để dạy con cháu nhà vua), có nhiều thầy đồ ở các làng chủ yếu dạy chữ Nho, Khổng giáo. Hệ thống nhà chùa cũng là nơi việc học phật pháp diễn ra.

Tôi cố gắng tìm hiểu xem ngoài chữ Nho, Khổng giáo, Phật giáo và thơ văn ra các trường công, tư và cộng đồng này còn dạy gì khác không, chẳng hạn như toán, thiên văn học, các môn khoa học và kỹ thuật theo cách nhìn hiện nay. Rất ít tư liệu nói về các nội dung đào tạo này.

Theo Dân Việt, ba kỳ tài toán học Việt Nam là Vũ Hữu (1437-1530) có để lại tác phẩm Lập Thành Toán Pháp (立成算法) – cuốn sách toán học cổ nhất Việt Nam; Lương Thế Vinh (1441-1496) là trạng nguyên giỏi toán nhất; và Nguyễn Hữu Thận (1757-1831) nghiên cứu việc làm lịch và dịch các tác phẩm toán Trung Quốc, ông để lại tập sách “Ý Trai toán pháp”. Cả ba vị kỳ tài toán học này đều làm quan to trong các triều đình thời các cụ. Giá mà các cụ không làm quan mà chỉ chăm chú nghiên cứu toán, dạy toán, viết sách toán thì chắc nền toán học Việt Nam đã có thể khác đi, nhưng đáng tiếc mục tiêu học chỉ để làm quan (hay được vua phát hiện ra tài năng và bị bắt làm quan).

Gail Paradise Kelly (2000) cho rằng trong hệ thống giáo dục truyền thống của Việt Nam, các thầy đồ không chỉ đóng vai trò công cụ của chính quyền – dạy chữ Nho và Khổng giáo cho học sinh và chuẩn bị cho những người trẻ xuất sắc nhất để tiến những bước tiếp trên đường làm quan. Họ còn tạo thành các mạng lưới riêng của mình qua các mối quan hệ học hành để tập hợp phản kháng chính quyền khi cần thiết. Nói cách khác, thầy đồ đã là xương sống của một mạng lưới chính trị.

Hiểu vai trò này của hệ thống giáo dục truyền thống Việt Nam, chính quyền thực dân Pháp bắt đầu tổ chức hệ thống giáo dục của mình. Việc các trí thức Việt Nam xây dựng hệ thống giáo dục riêng, mà điển hình là phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục, bị coi là nguy hiểm.  Vì thế, Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp giải tán sau chỉ tám tháng tồn tại. Mặc dù vậy, đó vẫn là một áp lực quan trọng buộc chính quyền thực dân phải cải tổ giáo dục, nhất là bắt buộc dùng chữ Quốc ngữ tại trường, cải cách chế độ thi cử.

Gail Paradise Kelly (2000) cho chúng ta một phân tích khá toàn diện và khá nhiều dữ liệu về hệ thống giáo dục Việt Nam thời kỳ 1906-1939.

Hệ thống giáo dục quốc gia thống nhất chỉ bắt đầu hình thành sau năm 1917 với các nghị định cải cách của Toàn quyền Albert Sarraut. Hệ thống tiểu học 5 năm và sau đó là 5 năm trung học cơ sở và bậc đại học với một trường duy nhất ở Hà Nội (được thành lập từ 1906).

Chỉ xin trích vài dữ liệu năm 1926, năm cụ Phan mất, từ trang 84-85 của Gail Paradise Kelly (2000), Việt Nam có tổng cộng 3.053 trường tiểu học (3 năm) với 153.737 học sinh; 244 trường tiểu học đầy đủ (5 năm) với 65.329 học sinh; 17 trường trung học cơ sở (dạy 10 năm) với 3.656 học sinh, 2 trường cấp hai (secondary school, lycée) với 56 học sinh (năm 1923 lại có 83 học sinh).

Tuy nhiên, đây là vài số liệu rời rạc được trích ở trên và tóm tắt của World Bank 2010 Report (trang 2): “Vào thời kỳ thịnh vượng nhất của Đông Dương bị Pháp xâm chiếm, Việt Nam chỉ có 2.322 trường tiểu học (ba năm) và số học sinh chiếm 2% tổng dân số; 638 trường tiểu học cho 2 năm cuối của giáo dục tiểu học với số học sinh chiếm 0,4% tổng dân số; 16 trường trung học cơ sở (primary colleges cho 4 năm sau bậc tiểu học) chiếm 0,05% tổng dân số và 6 trường trung học phổ thông trong đó có 3 trường nhà nước với số học sinh học trường công chỉ chiếm 0,019% dân số. Toàn bộ Đông Dương thuộc Pháp chỉ có ba đại học (Luật, Y Dược, Khoa học) tại Hà Nội với 834 sinh viên, trong số đó có 628 sinh viên Việt Nam… Với một hệ thống giáo dục như vậy 95% dân Việt Nam đã mù chữ.”

Hãy so sánh với Nhật Bản đầu thế kỷ XX. Theo ước lượng của Giáo sư Tsujimoto Masashi (2000), tỷ lệ biết chữ của các thành phố lớn của Nhật vào đầu thế kỷ XIX là trên 70%, mức ở vùng nông thôn là khoảng 10 hay 20% hay thấp hơn. Tuy vậy, vào năm 1909 tỷ lệ dự học bắt buộc (6 năm lúc đó) là trên 98%.  Sự khác biệt giữa Nhật Bản và Việt Nam thật sự khủng khiếp.

Nói cách khác, hoàn cảnh kinh tế, xã hội và chính trị ở Việt Nam đầu thế kỷ XX hoàn toàn không thuận lợi ngay cả cho việc khai dân trí của Phan Châu Trinh, và chính biết rõ điều đó nên cụ đã chủ trương khai dân trí.

  1. Nguồn lực kết nối

Nguồn lực kết nối có thể được phản ánh khá tốt bằng tỷ lệ dân cư đô thị, số người làm trong các nhà máy, công sở (nơi có đông người tụ tập và sự kết nối dễ dàng hơn những người sống ở nông thôn, nhất là vùng sâu vùng xa), mạng lưới giao thông, số người dùng Internet (và cả các chính sách kiểm duyệt Internet), v.v. Hãy xét tỷ lệ dân cư đô thị.

Hình 4. Dân số đô thị 1960-2020, so sánh quốc tế. Nguồn: Tác giả soạn theo dữ liệu của Macrotrends (trích dữ liệu của Ngân hàng Thế giới).

Có thể thấy nguồn lực kết nối của Việt Nam trong giai đoạn từ 1960 cho đến nay luôn luôn thấp hơn các nước trong khu vực. Lưu ý rằng vào năm 1986, khi chuyển đổi sang dân chủ, tỷ lệ dân cư đô thị của Philippines đạt 43,2%, còn tương tự tại Hàn Quốc trong năm 1987 là 68,56%, trong khi đó tỷ lệ hiện nay của Việt Nam cũng chỉ là 38,77%. Đó là chưa kể đến việc tự do tư tưởng và sự kết nối khác và tổ chức kết nối (như các tổ chức xã hội dân sự, các hội thảo, hội họp) mà ở nước ta là thấp hơn các nước được nhắc đến, và hiện nay có thể còn kém thời cụ Phan Châu Trinh.

  1. Dân khí

Đáng tiếc chúng ta không có những số đo lịch sử về dân khí (mà có quan hệ mật thiết với chỉ số các giá trị giải phóng (EVI), xem Nguyễn Quang A (2017), vì các giá trị này mới chỉ được đo từ năm 1981 đến nay trong bảy đợt.

Hãy xem xét EVI của vài nước trong khu vực để chúng ta có thể có chút cơ sở nào đó để mường tượng. Do các giá trị thường được thiết lập trong các năm hình thành (formative years, 0-8 tuổi; và môi trường kinh tế xã hội và nhất là môi trường gia đình, giáo dục ở tuổi trước khi đến trường và trong thời vị thành niên là hết sức quan trọng) và các giá trị của toàn xã hội (tức mức trung bình phổ biến của giá trị nào đó) thay đổi chủ yếu qua sự thay thế các nhóm tuổi, cho nên các giá trị, kể cả dân khí (EVI), thường thay đổi rất chậm.

Hình 5. EVI của một số nước trong khu vực được đo trong bảy đợt khảo sát của World Values Survey. Nguồn: Tác giả soạn dựa vào dữ liệu của World Values Survey.

Có thể thấy xu hướng tăng dài hạn của EVI trong tất cả các nước (chủ yếu do những thay đổi giá trị của các nhóm lứa tuổi [age cohort] trẻ bước vào tuổi trưởng thành và của các nhóm lứa tuổi già chết đi, hay nói cách khác sự thay đổi giá trị giữa các nhóm lứa tuổi). Nhưng, EVI cũng tăng hay giảm trong ngắn hạn do những thay đổi giá trị bên trong nhóm lứa tuổi phản ánh những biến động về những thay đổi về các nguồn lực hoạt động. Do EVI được chuẩn hóa (0 ≤EVI ≤ 1) nên sự thay đổi không nhiều trong thời gian ngắn, và sự chênh lệch 0,05 là rất lớn và thường xảy ra do sự thay thế nhóm lứa tuổi.

Với số điểm dữ liệu ít ỏi (Việt Nam 3 điểm, và Hàn Quốc 7 điểm trong 40 năm qua), khó có thể có những ước lượng lùi về quá khứ, thí dụ lùi lại khoảng một thế hệ quay lại các năm 1960. Nhưng dùng nhiều điểm dữ liệu hơn của các vùng văn hóa (với số điểm dữ liệu của mỗi vùng lên đến hàng trăm), Christian Welzel (2021) và các cộng sự của ông có thể làm việc này và cho chúng ta các ước lượng đáng tin cậy về EVI cho giai đoạn 1960-1980 cùng với EVI thực đo cho giai đoạn 1981-2020, cho chúng ta thấy rõ xu hướng tăng toàn cầu của các giá trị giải phóng trên Hình 6.

Hình 6. Sự thay đổi của EVI của các vùng văn hóa (1960-2000). Nguồn: Hình OA-9 của Christian Welzel (2021).

Việt Nam, dù có thuộc về vùng văn hóa Sinic East (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan) hay không, chắc nó nằm giữa vùng Indic East và Sinic East, có thể suy đoán rằng EVI là thấp cỡ 0,3 trong suốt giai đoạn đầu thế kỷ XX của cụ Phan và lên 0,34 năm 2001, 0,36 năm 2006, và 0,41 năm 2020.

  1. Các phong trào xã hội

Động cơ mạnh nhất, lâu bền nhất để tham gia các hoạt động phong trào xã hội là các giá trị giải phóng, hay dân khí. Ngoài ra, có các động cơ khác như lợi ích, sự bất bình, hận thù và chúng không mạnh như dân khí. Nếu hoạt động phong trào xã hội có động cơ chính là các giá trị giải phóng thì hoạt động đó chủ yếu là bất bạo động và kinh nghiệm thực tế chứng minh nó là phương pháp đấu tranh hiệu quả nhất.

Khi các nguồn lực hành động thấp, dân khí thấp thì quần chúng có thể dễ bị (các nhà hoạt động dân túy và/hay chủ trương bạo lực hoặc những kẻ khiêu khích do chính quyền cài vào) kích động tham gia vào các phong trào xã hội, với các động cơ khác với các giá trị giải phóng. Điều này dễ khiến các phong trào xã hội trở nên bạo động và/hay vượt khỏi tầm kiểm soát của những người chủ trương bất bạo động, và như thế tạo cớ cho nhà cầm quyền đàn áp thẳng tay.

Chiến lược chính của các nhà cầm quyền độc tài để bẻ gãy liên kết giữa các giá trị giải phóng và các hoạt động phong trào xã hội là tuyên truyền và đàn áp, xem Welzel (2013, tr.219). Dân khí càng cao thì tác dụng của sự tuyên truyền và đàn áp càng ít có hiệu quả, trong khi nếu dân trí thấp, kinh tế không phát triển và dân khí thấp thì hiệu quả của tuyên truyền và đàn áp rất cao.

Tóm lại, cho đến khi cụ Phan Châu Trinh mất năm 1926, các nguồn lực hành động của nhân dân tất cả các nước trong khu vực, kể cả dân khí đã rất thấp và chẳng nước nào đã dân chủ hóa thành công trong vòng 60 năm sau đó cả, nói chi đến Việt Nam.

Về phương pháp, ngược với chủ trương bất bạo động của Phan Châu Trinh các nhà cầm quyền ở Việt Nam trong suốt thế kỷ hai mươi đã sử dụng phương pháp bạo động.

Ngược với chủ trương chống bài ngoại và chống ỷ lại vào nước ngoài của Phan Châu Trinh, đáng tiếc tư tưởng bài ngoại và đôi khi ỷ ngoại đã phổ biến theo những thái cực khác nhau và các tàn dư của nó vẫn còn đến ngày nay.

  1. Vài suy ngẫm

Như thế, có thể dễ hiểu là cụ Phan Châu Trinh đã chưa thành công (nhưng dứt khoát không thất bại vì sự nghiệp đó đang và sẽ còn tiếp tục). Và suốt từ đó đến nay, nhất là từ thập niên 1990 khi Đổi mới thực sự bắt đầu, Việt Nam đã ngày càng đi theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh dù nhiều người không muốn thú nhận như thế.

Về nguồn lực vật chất, như Hình 3 cho thấy Việt Nam luôn luôn ở mức thấp nhất cho đến tận ngày nay, so với các nước trong khu vực. Dù ở miền Nam nền kinh tế thị trường được khuyến khích cho đến tận năm 1975 nhưng sau đó chính quyền đã tìm mọi cách hủy diệt nền kinh tế thị trường. Mãi đến năm 1986, do không “đổi mới” thì chết nên chính quyền đã buộc phải trả lại cho dân một phần các quyền kinh doanh của mình. Cuộc Đổi mới thực sự chỉ bắt đầu từ thập niên 1990: cởi trói kinh doanh, xóa bỏ ngăn sông cấm chợ, chú trọng thương mại, coi trọng doanh nhân, hợp tác kinh tế với nước ngoài, v.v. Xét cho cùng là chúng ta làm theo các tư tưởng của cụ Phan Châu Trinh đề ra gần 100 năm trước và đã mang lại sự phát triển kinh tế ngoạn mục cho Việt Nam trong hơn 30 năm qua. Tuy nhiên, xét về tất cả các nguồn lực vật chất, chúng ta vẫn còn yếu khi so sánh với các nước trong khu vực như được phân tích sơ bộ ở trên.

Về nguồn lực trí tuệ, kể từ phong trào xóa mù chữ năm 1945, tỷ lệ biết chữ được cải thiện đáng kể. Ngày nay, tỷ lệ biết chữ của Việt Nam đạt mức 98,85%. Tuy nhiên, nếu tính đến chất lượng giáo dục (đo bằng số năm học ở trường chẳng hạn và tính đến kết quả như số sách được viết, số bằng sáng chế) cũng như đóng góp thực cho trí tuệ nhân loại, cho phát triển kinh tế thì dân trí của chúng ta ngày nay vẫn rất thấp. Chẳng hạn, theo Wikipedia, tính trung bình thì một người ở Việt Nam đọc 0,8 cuốn sách/năm (không tính sách giáo khoa). So với Malaysia thì trung bình một người đọc 10-20 cuốn/năm (2012) và Thái Lan là 5 cuốn/năm.

Hiện nay và mãi mãi trong tương lai chúng ta vẫn phải tiếp tục thực hiện chủ trương khai dân trí của cụ Phan.

Về nguồn lực kết nối, như Hình 4 cho thấy, tỷ lệ đô thị hóa của chúng ta vẫn thấp nhất cho đến tận ngày nay so với các nước được so sánh. Đó là chưa nói đến các thành tố khác của nguồn lực kết nối như sự lập hội, các tổ chức công đoàn độc lập, các tổ chức xã hội dân sự không được khuyến khích, các cuộc hội họp cũng bị kiểm soát nên có lẽ lĩnh vực này hiện nay còn kém thời của Phan Châu Trinh.

Về phương pháp bất bạo động của cụ Phan Châu Trinh, có lẽ do người Việt Nam luôn sống trong văn hóa chống ngoại xâm từ hàng ngàn năm nay nên quá quen với từ ngữ mang tính chiến đấu (chiến sĩ, tấn công, mặt trận, chiến dịch, xung kích, ra quân, tiêu diệt, truy quét, báo thù…) cho đến tận ngày nay. Thậm chí, nhiều nhà lãnh đạo còn “sáng tạo” ra các từ ngữ mới sặc mùi chiến tranh như “tư lệnh ngành”. Các từ ngữ này được báo chí tuyên truyền rộng rãi nên việc chấp nhận phương pháp bất bạo động có thể không dễ. Việc giáo dục cho dân ta về tinh thần và phương pháp bất bạo động vẫn là một nhiệm vụ cam go và phải tích cực làm liên tục.

Chúng ta nên tỉnh táo chú ý đến các dấu ấn văn hóa và lịch sử không hay đó và từ từ thay đổi chúng một cách có chủ ý chứ không phải ngược lại dù vô tình hay cố ý.

Chúng ta còn chưa xét đến các yếu tố ảnh hưởng của quốc tế và địa chính trị mà có thể thuận lợi hay bất lợi cho sự phát triển và dân chủ hóa của Việt Nam. Và liên quan đến vấn đề này là câu hỏi được một số người đưa ra: dựa vào ai? Tất nhiên chúng ta nên tận dụng sự giúp đỡ và sự ủng hộ của tất cả các nước khác, tận dụng tất cả các cơ hội mà thế giới và khu vực tạo ra cho chúng ta, nhưng chúng ta phải dựa vào chính chúng ta. Đấy cũng là một tư tưởng chủ đạo của cụ Phan: “vọng ngoại tắc ngu, bạo động tắc tử”.

Nói cách khác, nội lực vẫn là chính, chúng ta phải dựa vào chính mình. Nếu các nguồn lực hành động thấp, dân khí không cao thì dù ai đó (một nhà độc tài nhân từ hay một lực lượng quốc tế) có đưa cho chúng ta nền dân chủ thì nền dân chủ đó cũng chỉ là phù du, sớm nở tối tàn. Dân chủ chỉ có thể hình thành qua cuộc đấu tranh liên tục, không biết mệt mỏi của chính người Việt Nam chúng ta để phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, chấn hưng dân khí và tích cực tham gia vào các phong trào xã hội, tức là liên tục làm theo các tư tưởng của Phan Châu Trinh.

Tóm lại, Phan Châu Trinh chưa thành công bởi vì người Việt chưa hiểu các ý tưởng của cụ. Thậm chí, các nhà cầm quyền ở Việt Nam đã làm ngược lại tư tưởng của cụ, dùng phương pháp bạo động, vọng ngoại, không chú ý đến việc xây dựng các nguồn lực hành động của nhân dân, thậm chí có những lúc đã hủy hoại chúng (cải tạo công thương, tiêu diệt khu vực kinh tế tư nhân, ngăn sông cấm chợ gây khó khăn cho phát triển kinh tế, cho các nguồn lực vật chất; ngăn cản sự phát triển lành mạnh của xã hội dân sự gây hại cho nguồn lực kết nối; đàn áp các phong trào xã hội). Muốn phát triển đất nước, chúng ta cần tiếp tục bổ sung, phát triển thêm, làm phong phú các tư tưởng của Phan Châu Trinh và thực hiện chúng ngay trong hiện nay và tương lai. Chúng ta đang tiếp tục con đường của Phan Châu Trinh. Lịch sử không lặp lại và không có chữ nếu, nhưng lịch sử có cho chúng ta những bài học quý giá nếu chúng ta muốn học và phát triển.

  1. Lời cảm ơn

Tác giả cảm ơn nhà thơ Hoàng Hưng, cựu đại sứ Nguyễn Trung và một số bạn trẻ đã góp ý cho vài bản thảo của bài viết này.

_____

Chú thích:

– Daron Acemoglu and Simon Johnson (2023), POWER and PROGRESS, our Thousand-Year Struggle over Technology and Prosperity (TIẾN BỘ và QUYỀN LỰC, cuộc Chiến đấu Ngàn Năm của chúng ta về Công nghệ và sự Thịnh Vượng), PublicAfaire, New York

– Chu Hảo (2023), Phan Châu Trinh trước khi sang Pháp, Viện Phan Châu Trinh.

– Gail Paradise Kelly (2000), Frech Colonial Education: Essays on Vietnam and West Africa, AMS Press, Inc. 2000

– Seymour Martin Lipset (1959), Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy, The American Political Science Review, Volume 53, Issue 1 (1959): 69-105.

– Nguyen Quang A (2019), Tiananmen Protests and Lessons for Democratization in Vietnam, Contemporary Chinese Political Economy and Strategic Relations: An International Journal, Vol.5. No.2, June/Aug. 2019, pp.745-763.

– Nguyễn Quang A (2017), Phan Châu Trinh và Thuyết Hiện đại hóa Mới, Tạp chí Dân trí

– Tsujimoto Masashi (2000), Maturing of a Lierate Society, Journal of Japanese Trade & Industies, March-April 2000, pp. 44-48. Truy cập online

– Christian Welzel (2013), Freedom Rising, Oxford University Press 2013 (Bản tiếng Việt 2017)

– Christian Welzel (2021), Why The Future is Democratic, Journal of Democracy, Volume 32, No. 2, April, 2021, pp. 132-144

– World Bank (2010), 2010 World Report: “Education in Vietnam”