Sự kiêu ngạo cộng sản-Nguyễn Thông 

Sự kiêu ngạo cộng sản

08:57 | Posted by BVN4

Nguyễn Thông 

Nhà thơ Việt Phương nói: “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, nay chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ mong muốn họ biết lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này. Còn họ khăng khăng không thừa nhận cũng đành chịu, chả cãi họ được.

********

“Sự kiêu ngạo cộng sản” – Những chữ trên không phải do tôi nghĩ ra, cũng không phải do thế lực thù địch nào vu cáo, mà là chữ dùng của ông Phan Diễn. Ông Diễn người Quảng Nam, con cụ Phan Thanh – một nhân vật nổi tiếng thời Mặt trận Dân chủ 1936-1939. Ông Diễn từng là Ủy viên Bộ Chính trị, đóng đến chức Thường trực Ban Bí thư (tức nhân vật số 2 của đảng, chỉ sau Tổng bí thư). Họ hàng ông Diễn còn có những người là yếu nhân của chế độ, chẳng hạn ông Phan Bôi (tức Hoàng Hữu Nam), em ông Phan Thanh, ông Bôi là Thứ trưởng Bộ Nội vụ của chính quyền sau Cách mạng tháng 8, Chánh văn phòng chính phủ, người được cụ Hồ hết sức tin cậy; mẹ ông là bà Lê Thị Xuyến từng là Phó chủ tịch Trung ương Hội LHPN Việt Nam… Kể qua như vậy để nói rằng phát ngôn của ông Diễn không phải dạng ai đó nói vu vơ, nói lấy được, mà là rất có trọng lượng. Đó là nhận xét của người trong cuộc, “ở trong chăn…” chứ không phải bị kích động, xúi giục, nhẹ dạ gì (làm sao mà kích động nổi những người như ông Diễn, nay ông vẫn còn sống và mạnh khỏe, sáng suốt, ai không tin thì cứ hỏi ông).

Trong bài trả lời báo điện tử VnExpress đăng ngày 17.12.2016, ông Diễn chắc thấm nhuần tư tưởng của Lenin, người thầy của cách mạng vô sản thế giới, đưa ra nhận định “Tôi cho rằng, chúng ta ít nhiều đã có sự chủ quan, có thể gọi là “kiêu ngạo cộng sản” sau chiến thắng 1975. Việc này có thể hiểu là xuất phát từ những điều tự hào về lý tưởng và thành công của mình trên con đường cách mạng, nhưng rồi đi quá đà đến xu hướng chủ quan”(trích nguyên văn).

Cũng trong bài trả lời này, ông cựu nhân vật số 2 còn cho biết chi tiết rất đáng quan tâm đối với những người chép sử, ông bảo “Trước giải phóng, mỗi năm kinh tế miền Nam được Mỹ viện trợ khoảng một tỷ USD. Miền Bắc cũng được chi viện của các nước xã hội chủ nghĩa một lượng xấp xỉ như thế” (trích nguyên văn).

Nếu đúng như ông Diễn nói thì với 1 tỷ đô như vậy, ở miền Nam ngoài chi cho phương tiện chiến tranh, tiền viện trợ còn được biến thành nền kinh tế “phồn vinh giả tạo”, dân thực sự được nhờ, được sung túc, chứ 1 tỷ ở miền Bắc bị chuyển hóa hết thành vũ khí đạn dược để “giải phóng miền Nam”, nên dân chịu đói khổ thiếu thốn kéo dài suốt mấy chục năm.

Phải nói rằng, trong gầm trời này, từ thời thượng cổ đến nay, nếu nói về sự kiêu ngạo thì có thể nói rằng người cộng sản là số 1. Người đời vẫn nhắc với nhau một “tấm gương” điển hình về kiêu ngạo, đó là Quan Vũ (còn gọi là Quan Công, Quan Vân Trường) thời Tam quốc. Ông ta đứng đầu ngũ hổ tướng của Lưu Bị, tài giỏi, công lao khó ai bì, chỉ có điều kiêu ngạo quá lắm. Thiên hạ có thể khen ông nhiều điều, cho qua chuyện ông xem thường Mã Siêu (và cả Hoàng Trung, Triệu Vân nữa, những “đồng chí” của ông, tài giỏi chẳng kém ông, thậm chí còn hơn ông) nhưng chỉ với việc ông khước từ sự cầu hôn của nhà Ngô, họ muốn gả con trai vua Tôn Quyền lừng lẫy đất Giang Nam cho con gái ông để hai nhà liên kết, nhưng bằng thói kiêu ngạo ngấm trong máu, Quan Vũ thẳng thừng “con gái ta như loài hổ, lại thèm gả cho con loài chó à”, thì với chính thái độ đó ông đã phết chữ “tử” vào sự nghiệp của mình cũng như sự tồn tại của nhà Thục. Thói kiêu ngạo đã giết chết ông ta và nhà nước của ông chứ không phải nguyên nhân gì khác, dù Lã Mông rất giỏi. Ở đây cũng phải kể thêm cái “tội” của Khổng Minh, đã biết không thể tin cậy Quan Vũ trong việc giữ Kinh Châu mà vẫn cứ giao, bởi mấy chữ khuyên “Đông hòa Tôn Quyền, bắc cự Tào Tháo” đối với một kẻ kiêu ngạo chả có ý nghĩa gì, chả là cái đinh gì. Về vụ dùng người này, Khổng Minh kém Tư Mã Ý xa.

Kiêu ngạo là gì? Kiêu là sự ngạo mạn, không chịu phục tùng. Kiêu ngạo là thái độ khoe khoang, ngạo mạn. Kẻ kiêu ngạo thường tự cho mình hơn người, thậm chí mình là nhất. Kiêu căng ngạo mạn, trên đời không ai bằng mình. Kiểu Chí Phèo, “anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta”. Từ đó dẫn đến coi thường người khác, coi thường tất cả. Việc gì mình làm cũng hay cũng đúng. Mình chả bao giờ sai. Luôn nhìn đời bằng nửa con mắt. Nếu có ai phê phán phản đối thì lấy làm khó chịu, nhẹ thì chê bai dè bỉu người ta, nặng thì dùng quyền lực tìm cách vùi dập. Trong mênh mông thế sự, kẻ kiêu ngạo luôn sống cô độc với vòng hào quang mà nó tự tô vẽ.

Nói cho công bằng, không phải ai cũng có thể sinh thói kiêu ngạo. Những hạng ngu đần, an phận, rụt rè, kém bản lĩnh, thiếu tài năng, tầm thường thì không thể là kẻ kiêu ngạo. Những người cả đời không lập công, không thành đạt thì lấy gì để kiêu ngạo. Phải có khí chất nhất định của kẻ anh hùng, phải hơn người mới có thể kiêu ngạo.

******

Kể từ khi chủ nghĩa cộng sản với cốt lõi là tư tưởng Marx – Lenin và học thuyết đấu tranh giai cấp được du nhập vào Việt Nam hồi nửa đầu thế kỷ 20, người cộng sản đã dần tìm được chỗ đứng trong đời sống chính trị bởi họ khá khôn ngoan. Họ biết lợi dụng và dựa vào dân nghèo, nhất là nông dân, lực lượng đông nhất ở một xứ thuộc địa. Những ông tổ của cộng sản, khi truyền bá học thuyết đấu tranh giai cấp đã khẳng định “ai nắm được công nông, người ấy sẽ chiến thắng”. Lý luận ấy từng chính xác ở nơi nào thì tôi chưa rõ lắm, nhưng xứ ta trước năm 1945 thì quả đúng như vậy.

Sau khi đã trở thành lực lượng chính trị quan trọng, người cộng sản VN từng bước giành thắng lợi. Đó là nghệ thuật biết thắng từng bước, dù họ thừa hiểu phải giá đắt bằng máu và nước mắt của dân. Dấu mốc lịch sử quan trọng vẻ vang nhất là họ khơi dậy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng, khơi mối căm thù giai cấp bóc lột, hô hào nhân dân đứng lên làm cuộc lật đổ nhà nước thực dân – phong kiến, cướp chính quyền (chữ “cướp” được người cộng sản trước kia hay dùng, sau có lẽ thấy chối quá mới âm thầm bỏ), thiết lập được bộ máy cầm quyền mới vào tháng 8.1945.

Theo dòng lịch sử, trải qua cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 9 năm (1945-1954), cuộc nội chiến Bắc-Nam để thống nhất đất nước (1954-1975), cuối cùng người cộng sản đã đoạt chiến thắng chung cuộc. Đánh ván cờ xương máu, họ đã thắng. Đó là thực tế lịch sử. Bao nhiêu đau thương mất mát, biết bao bi kịch ám vào số phận từng cá nhân, từng gia đình, từng vùng đất và cả đất nước này ròng rã mấy chục năm trời để có ngày toàn thắng.

Tiếp theo nữa, gần nửa thế kỷ, suốt từ năm 1975 đến nay, người cộng sản hãnh diện mình đã có công trời biển thu non sông về một mối. Bộ máy tuyên truyền của họ hằng năm bắt mọi người phải nhớ ơn cái công lao được xây bằng núi xương, sông máu của hàng triệu con người. Sang năm, 2025, họ kỷ niệm 50 năm tròn cho sự kiện này. Non sông thu về một mối, nhưng lòng người, sự hòa giải hòa hợp thì không biết tới khi nào mới thành, nếu vẫn kiểu kỷ niệm “khắc sâu mối thù Mỹ Ngụy” như vậy.

Trong chiến tranh, do cần lợi dụng sức dân, người cộng sản đã khéo léo tô vẽ được hình ảnh về chiến sĩ hết lòng vì nước vì dân, hy sinh quyền lợi cá nhân, bình dị gần gũi, chan hòa với quần chúng, không ngại gian khổ không sợ hy sinh… Họ đầy ham muốn, nhưng lúc cần che giấu vẫn biết khôn khéo lui xuống vị trí cần thiết để tạo nên hình ảnh có lợi trong mắt dân. Có lẽ chính vì thế mà trong cộng đồng dân tộc những năm đầy ác liệt, người cộng sản được số đông dân chúng tin cậy, giao phó sứ mệnh chèo lái mà ít mảy may nghi ngờ, lăn tăn.

Đội ngũ văn nghệ sĩ “chiến sĩ trên mặt trận văn hóa nghệ thuật” hoặc với tấm lòng ngây thơ, hoặc có dụng ý, ăn cây nào rào cây ấy, đã thỏa sức làm thơ, kẻ nhạc, dựng kịch, đóng phim, viết tiểu thuyết… ca ngợi người cộng sản, nâng họ thành “tên quân cảm tử đi tiên phong”, “như cánh chim trời không biết mỏi, mỗi bước đi biết mấy yêu thương”. Những hình tượng, hình ảnh đẹp nhất, có sức lôi cuốn nhất ở trên đời được ví, được gắn với người cộng sản. Đó là vầng thái dương, đuốc soi đường, nguồn ánh sáng, đỉnh cao chói lọi, người cầm lái vững vàng, ngọn cờ bách chiến bách thắng, chiến sĩ tiên phong…, tất cả được báo chí, đài phát thanh, cán bộ tuyên huấn hằng ngày ra rả phong tặng cho người cộng sản. Nói một cách khách quan, công bằng, không phải toàn bộ cộng sản ở xứ này, không phải tất cả mọi thành viên (đảng viên) của tổ chức chính trị đòi độc quyền lãnh đạo xứ này đều xứng đáng đeo những tấm huân huy chương bốc trời ấy, nhưng thực sự trong đội ngũ họ có những người như vậy, chỉ có điều rất ít, rất hiếm hoi.

Đừng quá đòi hỏi cao ở người cộng sản. Thực ra họ cũng là người chứ không phải thánh nhân siêu nhân, dù có lúc họ là đấng bậc. Người đứng đầu của họ, cụ Hồ, từng dạy họ phải có đủ cả tài đức, “có tài mà không có đức là người vô dụng/có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Người ta đang ca ngợi một nhân vật với những chi tiết đức độ, nhưng nếu cứ theo “chuẩn” của cụ Hồ thì người ấy không chỉ “làm việc gì cũng khó” mà còn gây ra biết bao tai hại. Vậy mà đám đông được bộ máy đương thời giáo dục rèn luyện vẫn cứ ca ngợi lên mây. Ông bạn tôi bảo, giả sử Tố Hữu – siêu chuyên gia ca ngợi có sống lại cũng phải chắp tay tôn hậu sinh làm sư phụ, bậc thầy.

Một trong những sai lầm và định kiến khó chữa nhất của người cộng sản là họ luôn cho mình đúng. Họ xem cộng đồng xã hội như một cơ thể, mà họ là bộ óc. Óc chi phối tất cả, điều khiển mọi hành vi. So với tim gan phèo phổi mắt mũi chân tay thì chỉ óc mới là lý trí. Có sai cũng vẫn lý trí hơn tim gan phèo phổi. Độc quyền nghĩ, độc quyền đúng; Không chịu lắng nghe; Ít phục thiện, ít sửa chữa. Từ đó phát sinh ra những hệ lụy khủng khiếp. Khi sự kiêu ngạo đã thấm vào từng tế bào thì “mục hạ vô nhân”, chả có gì lọt vào mắt họ, ngoài chính họ.

Sinh thời, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, người nổi tiếng với câu nói “Ấy, cái xứ ta nó thế”, đã viết rằng, những nhà cai trị của chế độ này cần đọc Luận ngữ của Khổng tử. Đừng vội cho rằng tư tưởng, lý luận của ông Tàu hủ nho đó thì đọc làm gì. Bài Trung chống Tàu (cộng) không có nghĩa là sổ toẹt hết. Cái nào đúng, đã được thử thách giá trị qua thời gian thì chả tội gì phải bỏ. Thiển nghĩ rằng, thứ cần bỏ ngay bây giờ không phải những lời răn của Khổng tử hoặc Hàn Phi tử mà chính là học thuyết Marx – Lenin, nhất là sự xúi giục đấu tranh giai cấp và lý luận về một chủ nghĩa xã hội không tưởng của mấy ông này, và đừng kiên định đường lối đi lên chủ nghĩa xã hội nữa, bởi chúng đã quá lỗi thời. Lỗi thời từ khi mới ra đời.

Trở lại cuốn sách nho nói trên. Trong sách đó có thuyết “Tử tứ tuyệt” gồm: vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã. Đáng chú ý, “vô ý” có nghĩa là trong bất kỳ xã hội hoặc thể chế nào, không được dành đặc quyền cho ý kiến quan điểm nào cả, đừng tuyệt đối hóa nó, bởi nếu như thế sẽ khiến ta (nhất là người cầm quyền) không nhìn thấy những ý khác, điều khác có thể còn đúng, còn hay hơn ý của ta, kể cả những ý kiến trái chiều, đối lập. Chỉ một cái “vô” đó thôi, chúng ta đã thấy người xưa tiến bộ như thế nào, cách nay cả hơn hai nghìn năm.

Vậy mà bây giờ nhà cai trị nước này, xã hội này, nhất là đảng (cộng sản), luôn cho mình đúng, là đỉnh cao chói lọi. Mỗi nghị quyết của họ đều được họ hãnh diện gọi là “ánh sáng” (dưới ánh sáng nghị quyết của đảng), có nghĩa sánh ngang với mặt trời. Họ độc quyền, độc tôn chân lý, chỉ riêng mình là đúng. Vênh váo thế nên họ xem thường tất cả mọi ý kiến quan điểm trái chiều, khác suy nghĩ, không chấp nhận những ai nói ngược họ. Ai nghĩ khác họ, họ quy là thế lực thù dịch, gắn mác “tự suy thoái”, “tự diễn biến”, tìm cách loại bỏ. Khi còn quyền lực trong tay thì họ trấn áp, đe dọa, vùi dập, nhưng liệu trong dòng chảy cuộc sống đang biến đổi tích cực từng ngày từng giờ thì liệu có dậm dọa được mãi không?

Hồi các thể chế chính trị trên thế giới còn chia làm hai phe kình địch, lứa 5X chúng tôi ở miền Bắc luôn được nghe từ đài báo nhà nước, từ cán bộ tuyên truyền rằng “chủ nghĩa cộng sản là mùa xuân của nhân loại”, còn chủ nghĩa tư bản đang tự đào mồ chôn, đang giãy chết. Cứ nghe mãi những điều ấy rồi cũng thành niềm tin mặc dù chẳng biết chủ nghĩa cộng sản lẫn chủ nghĩa tư bản mặt mũi ngang dọc như thế nào. Cái mùa xuân mà họ nói thì quá xa xôi, chưa biết bao giờ mới “theo chim én về”, còn tư bản khi nào chết cũng chả biết. Mọi thứ đều rất mơ hồ, chỉ có nghèo đói, chiến tranh, xung đột là có thực, phải chứng kiến hằng ngày.

Phải thừa nhận người cộng sản, dù ở Liên Xô, Trung Quốc hay Việt Nam, rất giỏi tuyên truyền. Họ nắm được quyền lực, độc quyền quyền lực, rất mạnh tay thực hiện chuyên chính vô sản, huy động hết tất cả cung bậc của bộ máy tuyên truyền, lại cộng thêm mị dân siêu hạng, nên có những thứ họ tưởng tượng ra tuy chỉ là bánh vẽ nhưng phần đông dân chúng cũng tin là thực. Dường như bất cứ điều gì họ chủ trương, nêu ra, họ (người cộng sản) đều cho là chân lý. Chẳng hạn họ luôn đề cao chủ nghĩa duy vật, chống lại mọi quan điểm duy tâm; đề cao tập thể, chống tôn phò cá nhân… nhưng trên thực tế thì ngược lại. Chính họ duy tâm siêu hạng, tôn thờ cá nhân, sùng bái cá nhân siêu hạng.

Trước hết, có thể thấy rõ thói kiêu ngạo cộng sản lộ rõ ở những từ ngữ, khẩu hiệu mà họ thường dùng. Hằng ngày ta luôn bắt gặp trên sách báo, trong những bản tin đài phát thanh, trên cửa miệng của cán bộ tuyên truyền, trên những bức tường khắp vùng thành thị lẫn nông thôn những từ: muôn năm, mãi mãi, vô địch, đời đời bền vững, sống mãi, bách chiến bách thắng, bất diệt… tất cả đều hàm chứa sự duy ý chí, phản lại quy luật cuộc sống.

Đi đâu người ta cũng gặp những câu khẩu hiệu dạng: Chủ nghĩa Mác-Lê Nin bách chiến bách thắng vô địch muôn năm; Đảng Lao động VN quang vinh muôn năm (giờ đây câu này gần như hiện diện 100% trên sân khấu tại các hội trường cơ quan đơn vị, chỉ khác tí ti là thay chữ Lao động bằng chữ Cộng sản); Đảng là người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng; Chủ tịch… sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta; Tình hữu nghị Việt-Xô (Việt-Trung) đời đời bền vững; Tinh thần cách mạng tháng Tám bất diệt… 

Hồi gần nửa thế kỷ trước, tôi đi xe lửa qua Nhà máy xi măng Bỉm Sơn (do Liên Xô giúp xây dựng) thấy trên nóc nhà máy câu khẩu hiệu đúc bằng bê tông to vật vã “Tình hữu nghị Việt-Xô đời đời bền vững”, sau năm 1991, nó mất đi lúc nào không biết.

Là người duy vật, lẽ ra họ phải hiểu hơn ai hết rằng chẳng có cái gì tồn tại mãi mãi, vững bền muôn thuở, chẳng có gì hoàn hảo không tì vết. Mặt trời còn có lỗ đen, ngọc còn bị sứt mẻ, nói chi con người, xã hội loài người. Thế nhưng họ cứ thích nói ngược, thích duy ý chí, biết sai vẫn cứ làm, chứ không phải do u mê lú lẫn mà làm.

Sự sùng bái cá nhân của người cộng sản dường như một phần được hình thành từ sự kiêu ngạo. Với họ, cứ là lãnh tụ thì sẽ là thần thánh, là đỉnh cao chói lọi, sáng như vầng thái dương, đẹp hơn cả mùa xuân. Mỗi lời nói của lãnh tụ chả khác gì “lời lời châu ngọc, hàng hàng gấm thêu”. Những Lenin, Mao Trạch Đông, Stalin, Kim Nhật Thành, Castro, và cả cụ Hồ, đều được họ ca tụng cực kỳ mẫu mực, đẹp đẽ. Còn hơn cả Phật, cả Chúa. Không cho ai được động vào thần tượng. Nói đâu xa, ngay cỡ lãnh tụ tầm vừa vừa nhơ nhỡ ở xứ ta, như các vị Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh, Nguyễn Văn Linh… tới dịp kỷ niệm ngày sinh, ngày mất cứ ồn ào như hội, đó là chưa kể xây dựng đủ thứ nhà tưởng niệm, tượng đài nọ kia khiến thiên hạ cảm tưởng đó là Thánh chứ không phải người.

Cả dân tộc đâu phải chỉ “đói nghèo trong rơm rạ” mà còn khổ sở bởi sự hoang tưởng, kiêu ngạo, tôn sùng cá nhân của họ. Khi đã cố tình coi cá nhân như Trời như Thánh thì họ lờ đi tất cả những điều tầm thường, xấu xa, tội lỗi; chỉ khai thác, lần mò, đào bới, ca tụng những siêu việt của cá nhân, thậm chí còn bịa ra cho siêu nhân được hoàn chỉnh hoàn hảo để lừa đám quần chúng ngây thơ cả tin. Cộng sản nơi đâu cũng vậy, từ trước tới nay, nên mới có những Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Kim Nhật Thành… tỏa hào quang chói lọi.

Tự xưng là lực lượng tiến bộ nhất của xã hội loài người, có tư duy khoa học, nhìn nhận sáng suốt, suy nghĩ biện chứng… nên họ rất kiêu ngạo. Sau cuộc nội chiến kéo dài suốt hơn 20 năm (1954-1975), người cộng sản giành phần thắng nên càng sinh kiêu ngạo. Sau ngày 30.4.1975 rất phổ biến tâm lý “từ nay đất nước ta hoàn toàn giải phóng, vĩnh viễn độc lập tự do”, “đất nước ta đã thu về một mối, vĩnh viễn thoát khỏi ách nô dịch của đế quốc thực dân, vĩnh viễn sạch bóng quân thù, hoàn toàn tự do độc lập”.

Những câu trên tôi trích trong Lời giới thiệu cuốn “Vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội” của Nhà xuất bản Sự thật (nhà xuất bản riêng của Đảng), xuất bản tháng 8.1975.

Và không chỉ trong sách, chính Tổng bí thư Lê Duẩn cũng từng rất hào hứng khẳng định trong diễn văn tại lễ kỷ niệm quốc khánh 2.9.1975 rằng, kể từ nay đất nước vĩnh viễn sạch bóng quân thù, thênh thang con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Sự mừng rỡ say chiến thắng thái quá cùng sự kiêu ngạo đã làm họ không thấy những tai họa cận kề đang rình rập, kéo dài mãi tận bây giờ.

Nhưng có thể châm chước cho những suy nghĩ như thế nếu ở vào thời điểm núi lửa lịch sử phun trào dung nham quá nóng quá mạnh, chứ mãi về sau gần nửa thế kỷ, khi đất nước đang loay hoay xóa đói giảm nghèo, nghèo bền vững, lo tụt hậu, ở khoảng cách rất xa so với những nước trước kia cùng xuất phát điểm với mình, tham nhũng tràn lan, đạo đức xuống cấp, văn hóa lộn xộn, dân chủ bị co hẹp… thế mà người đứng đầu đảng vẫn sung sướng tự hào “từ xưa đến nay, đất nước có bao giờ được thế này chăng”, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, uy tín và vị thế quốc tế như ngày nay”, “dân chủ đến thế là cùng”…

Đó là cái nhìn, cách nghĩ của anh binh nhì đang tập đội ngũ dậm chân tại chỗ chứ không phải của người đang làm chủ cuộc sống, chứ chưa nói gì lãnh đạo xã hội.

Chính thói kiêu ngạo cũng đã làm xói mòn phẩm chất đẹp đẽ từng có của người cộng sản. Đã có thời họ gắn bó với nhân dân, cùng vui cùng buồn, cùng chia bùi sẻ ngọt. Thói kiêu ngạo đã tách cá ra khỏi nước, khiến họ rất khó coi, trở thành lố lăng, kiểu như ông Bộ trưởng, Chủ nhiệm văn phòng Chính phủ Mai Tiến Dũng hùng hồn tuyên bố: “Nếu ta sai thì ta xin lỗi, còn nếu dân sai thì dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”; hay như nhận xét nổi tiếng của bà Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan: “dân chủ của ta hơn gấp vạn lần dân chủ tư bản”. Dạng “lời hay ý đẹp” như thế nhiều lắm, chả thể kể ra hết được.

Thôi thì, nói như nhà thơ Việt Phương, “Ta đã thấy những vết bùn trên các vì sao”, nay chỉ ra vết bùn sự kiêu ngạo của “sao”, tôi chỉ mong muốn họ biết lắng nghe, thực tâm gột rửa để ngày càng trở nên sạch sẽ, gần gũi với mọi người dân trên đất nước này. Còn họ khăng khăng không thừa nhận cũng đành chịu, chả cãi họ được.

N.T.

Nguồn: FB Nguyễn Thông        


 

Lún đất ở Houston, 8 căn nhà phải di tản

Ba’o Nguoi-Viet

July 28, 2024

HOUSTON, Texas (NV) – Một vụ sụt lún lớn xảy ra tại phía tây Houston, khoét một cái hố khổng lồ, buộc người dân trong tám căn nhà phải di tản hôm Thứ Bảy, 27 Tháng Bảy, theo Sở Cứu Hỏa Houston HFD, Đài KHOU 11 loan tin.

HFD cho biết một bể chứa nước bị sập, gây ra tình trạng sụt lún, khoét một cái hố lớn trong cộng đồng Memorial Green gần ngã tư Memorial Drive và Gessner Road.

“Đó là một cái hố rất lớn, phải nói là lớn dữ dằn,” Rick McKee, một cư dân trong khu vực, nói với KHOU 11. “Khi xây cất cộng đồng Memorial Green, nhà thầu lắp đặt nhiều bể chứa nước rất lớn.”

Khu vực đất lún ở số 405 Sutherland Terrace Place, Houston, Texas, ngày 27 Tháng Bảy, 2024 (Hình: Houston Fire Department)

Không có ai bị thương nhưng những người dân sống trong những căn nhà gần đó được di tản như một biện pháp phòng ngừa.

HFD cho biết các kỹ sư có mặt tại khu dân cư để đánh giá thiệt hại.

Mặc dù bán kính ảnh hưởng của cái hố dường như không lan rộng, nhưng những người sống gần đó rất lo sợ.

“Tôi thấy cái hố sẽ lan tới những căn nhà khác nếu mưa tiếp tục, nên tôi mong là trời sẽ bớt mưa,” McKee cho biết.

Steven Rosen có bạn bè sống bên trong khu dân cư và ghé qua vào chiều Thứ Bảy sau hay tin về vụ sụt hố. Ông thở phào nhẹ nhõm khi biết rằng tất cả đều bình an vô sự và không cần phải di tản.

Một khu vực thuộc trung tâm mua sắm tọa lạc ngay phía sau hố sụt đã được rào chắn. (TTHN) 


 

Về Hưu Dưỡng Lão

 Công Tú NguyễnChuyện tuổi Xế Chiều   

Dưỡng lão, đến cuối cùng cần dựa vào điều gì: Hãy đọc và tìm câu trả lời cho riêng mình

Cơ bản, dưỡng lão vẫn là dựa vào bản thân mình! Những người khác cho bạn chỉ là một chiếc lá, tự mình làm cây lớn mới có thể có được bóng râm!

Dưỡng lão nếu luôn dựa vào người khác thì sẽ không có cảm giác an toàn. Vì cho dù là con cái, người thân hoặc bạn bè, sẽ không thể lúc nào đều ở bên cạnh bạn. Khi bạn gặp khó khăn, họ không thể bất cứ lúc nào, ở bất cứ nơi nào cũng có thể xuất hiện để giải quyết giúp bạn.

Trong thực tế, mỗi người đều là một cá nhân độc lập, mọi người đều có cuộc sống của riêng mình, bạn không thể yêu cầu người khác phải cho bạn dựa vào, những người khác cũng không thể bất cứ lúc nào cũng có thể giúp bạn.

Chỉ có thông qua những nỗ lực của bản thân để giải quyết vấn đề, mới thực sự có thể sống cuộc sống mà bạn mong muốn!

Một nhóm người lớn tuổi nói ra sự thật: Dưỡng lão vẫn là nên dựa vào chính bản thân mình!

Chúng ta đã già đi, chỉ là hiện giờ sức khỏe của chúng ta vẫn còn, đầu óc vẫn tỉnh táo.

Giai đoạn đầu: 60-70 tuổi

Sau khi nghỉ hưu, sáu mươi đến bảy mươi tuổi, cơ thể tương đối tốt, điều kiện cũng tốt. Muốn ăn thứ gì thì ăn, thích mặc gì thì mặc, thích đi chơi thì đi.

Đừng khắc nghiệt với chính mình, những ngày này không còn bao lâu nữa, phải nắm bắt. Tiền tiết kiệm một chút, nhà giữ lại, để con đường hậu của mình có sự sắp xếp.

Con cái có điều kiện kinh tế tốt là do sự nổ lực của chúng, sự hiếu thảo của con cái là lòng biết ơn của chúng. Chúng ta đừng từ chối sự trợ giúp của chúng, đừng từ chối sự hiếu thuận của chúng. Nhưng vẫn phải dựa vào chính mình, sắp xếp tốt cuộc sống của chính bản thân mình.

Giai đoạn thứ hai: sau 70 tuổi không mắc bệnh

Bảy mươi năm tuổi không gặp rắc rối gì với bệnh tật, trong cuộc sống có thể tự chăm sóc bản thân, đây không phải là vấn đề lớn, nhưng phải biết rằng mình thực sự đã lớn tuổi, và từ từ thể lực và tinh thần sẽ không còn tốt nữa, phản ứng cũng sẽ trở nên chậm hơn, phải ăn chậm chống sặc, phải đi chậm chống ngã. Không còn có thể cố gắng sức, cần phải chăm sóc bản thân mình!

Đừng đi lo thứ này thứ kia nữa, quản thúc con cái, còn một số người còn quản cả thế hệ thứ ba. Quản cả một đời rồi, hãy ích kỷ một chút, tự quản bản thân mình. Mỗi ngày giúp dọn dẹp lau chùi, giữ trạng thái khỏe mạnh của mình lâu dài hơn một chút, để thời gian sống của mình lâu hơn một chút, cuộc sống không cần yêu cầu người khác rất thoải mái. Như thế, tất cả mọi thứ đều trở nên dễ dàng.

Giai đoạn thứ ba: Sau 70 tuổi bị bệnh

Cơ thể không tốt, đòi hỏi có người chăm sóc! Điều này nhất định phải được chuẩn bị, đại đa số người đều không thể thoát khỏi ải này. Tâm trạng phải điều chỉnh tốt, phải thích nghi. Sinh lão bệnh tử là lẽ thường của cuộc sống cần thản nhiên tiếp nhận. Đây là đoạn cuối của cuộc đời không có gì để sợ hãi, sớm chuẩn bị sẽ không có điều gì phải hối tiếc

Hoặc vào viện dưỡng lão, hoặc thuê người chăm sóc tại nhà, làm bất cứ điều gì đều tùy theo khả năng, theo tình huống mà làm, sẽ luôn luôn có cách giải quyết, nguyên tắc là đừng mài mòn đến con cái, đừng để tâm lý, gánh nặng gia đình, kinh tế đặt lên con cái quá nhiều.

Tự bản thân mình cố gắng một chút, thế hệ của chúng ta những khó khăn cay đắng đều đã trải qua, tin rằng cuộc hành trình cuối cùng của cuộc đời chúng ta cũng sẽ qua một cách bình thản.

Giai đoạn thứ tư: Giai đoạn cuối của cuộc đời

Tinh thần cần tỉnh táo, bệnh trên cơ thể không thể chữa khỏi được, chất lượng cuộc sống kém đi, lúc này phải dám đối mặt với cái chết, quyết tâm đừng để gia đình giải cứu, đừng để bạn bè và người thân làm những điều lãng phí không cần thiết.

Bạn muốn cuộc sống tuổi già không lo lắng, cần chuẩn bị sẵn sàng 4 bảo bối này!

Tục ngữ nói rất hay, “có tài chính sẽ không nghèo, có kế hoạch sẽ không loạn, có chuẩn bị sẽ không bận rộn”, thân là những người già như chúng ta, đã làm tốt công tác chuẩn bị chưa? Chỉ cần mọi việc chuẩn bị trước, tương lai cuộc sống sau này sẽ không phải lo lắng nữa.

  1. Sức khỏe về già

Điều đầu tiên cần chuẩn bị là sức khỏe về già, bình thường phải chú ý đến ba thứ dưỡng: ăn dinh dưỡng, chú ý đến bảo dưỡng, cần có tu dưỡng.

  1. Nơi trú ngụ về già

Thứ hai là nhà ở về già: sống với con cháu, sống một cuộc sống nhẫn nhịn nuốt đắng, chi bằng tận hưởng cuộc sống đơn thân vui vẻ, bất kể thành thị hay ngoại ô, ở nơi mình sống thích hợp nhất. Gần đó có một nhà hàng bạn yêu thích!

Thứ ba là tài sản lúc về già, vì con cái không thể nuôi dưỡng người tuổi già, bậc cha mẹ cũng chỉ có thể tự lập tự cường, tài sản cần giữ kỹ, trước khi chưa vào quan tài quan nhất định không chia tài sản.

Thứ tư là bạn già, có một người bạn tốt, bạn bè tốt và người đồng hành đều rất quan trọng, thường ngày kết giao bạn bè, quen biết nhiều loại bạn bè, là một bí mật để tận hưởng cuộc sống quý tộc đơn thân.

Tóm lại, cho dù bạn là ông cụ hay bà cụ trường thọ, cuối cùng cũng chỉ là một mình, câu nói này không bi ai chút nào, cũng không khủng khiếp, tất cả đều phụ thuộc vào cách bạn sắp xếp cuộc sống, tất cả đều phụ thuộc vào bạn có tâm lý trưởng thành hay không.

Thích thì hãy làm cho đáng, đừng quên, cuộc đời này chỉ có một lần, gặp những điều tốt đẹp hay hạnh phúc, đừng chỉ luôn muốn để lại cho thế hệ tiếp theo.

Những bạn hữu già hãy nhớ kỹ! Chúng ta được mệnh danh là thế hệ sau cùng hiếu thảo với cha mẹ, là thế hệ đầu tiên bị con cái bỏ rơi, tuyệt đối đừng vì “người ở trên trời, tiền trong ngân hàng”, cái gì “một mình rất cô đơn”, “già rồi không ai chăm sóc” những tin tức tiêu cực này làm cuộc sống của bạn mất đi ý nghĩa, những cách nói này đã lỗi thời rồi.

Chúng ta phải dựa vào chính mình dưỡng lão, lớn tiếng mà nói: tuổi già của tôi, tôi tự làm chủ.

Sưu tầm

Ảnh internet 


 

Trịnh Văn Quyết bị ép bán hãng Bamboo Airways trong tù để ‘khắc phục’

Ba’o Nguoi-Viet

July 25, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Trong lúc phiên tòa xử vụ “thao túng chứng khoán” đang diễn ra, bị cáo Trịnh Văn Quyết, cựu chủ tịch tập đoàn FLC, khai rằng hồi bị tạm giam, ông này đã bán hãng hàng không Bamboo Airways, thu được 200 tỷ đồng ($7.9 triệu) là khoản thanh toán ban đầu, để nộp “khắc phục hậu quả.”

Theo tạp chí Tri Thức (ZNews) hôm 25 Tháng Bảy, bị cáo Quyết nói bên cạnh số tiền nêu trên, ông này còn nhờ gia đình nộp thêm, tổng cộng đến nay là 240 tỷ đồng (gần $9.5 triệu).

Bị cáo Trịnh Văn Quyết (đứng), cựu chủ tịch tập đoàn FLC, tại phiên tòa. (Hình: ZNews)

Mong muốn của bị cáo Quyết là tiếp tục nộp thêm tiền để “khắc phục” 700 tỷ đồng ($27.7 triệu).

Cũng theo lời bị cáo Quyết, trong thương vụ Bamboo Airways, bên mua (tập đoàn Him Lam của “đại gia” Dương Công Minh) hiện còn nợ 500 tỷ đồng ($19.8 triệu) và họ cam kết chuyển số tiền này vào tài khoản của Cơ Quan Điều Tra để “khắc phục hậu quả” cho bị cáo Quyết.

Ngoài ra, trước những quy kết gây thiệt hại với tội danh “lừa đảo chiếm đoạt tài sản,” bị cáo Quyết “xin bán toàn bộ tài sản tích góp, bao gồm tài sản cá nhân và cổ phần tại FLC để khắc phục.”

Bị cáo Trịnh Văn Quyết còn ước lượng rằng tài sản của ông này đang bị phong tỏa trị giá khoảng 5,000 tỷ đồng ($198 triệu).

Đến nay, thương vụ bán hãng Bamboo Airways cho “đại gia” Dương Công Minh vẫn còn nhiều chi tiết bí ẩn, không được truyền thông trong nước làm rõ.

Công luận chỉ được biết những góc khuất của vụ thâu tóm này khi ông Đặng Tất Thắng, 43 tuổi, cựu chủ tịch tập đoàn FLC và cựu tổng giám đốc hãng hàng không Bamboo Airways, phanh phui và tố giác ông Minh trên trang cá nhân hồi Tháng Tư.

Đến trung tuần Tháng Năm, ông Đặng Tất Thắng, người đang định cư ở Úc, bị Bộ Công An phát lệnh truy tìm với cáo buộc “lợi dụng các quyền tự do, dân chủ xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.”

Thông báo truy tìm của Bộ Công An cho biết ông Thắng “không có mặt tại nơi cư trú quận Cầu Giấy, Hà Nội” và “không biết đang ở đâu.”

Lệnh của Bộ Công An được ghi nhận là nhằm “xác minh tin báo của ngân hàng Sài Gòn-Thương Tín (Sacombank).”

Loạt bài đăng trên trang cá nhân của ông Đặng Tất Thắng cho rằng ông Dương Công Minh “đang bị cấm xuất cảnh vì rửa tiền cho bà Trương Mỹ Lan, chủ tịch tập đoàn Vạn Thịnh Phát.”

Bài của ông Thắng viết: “Minh là người trực tiếp giúp bà Lan ‘tẩy rửa’ 108,000 tỷ đồng ($4.2 tỷ) và $14.7 triệu tiền mặt cùng với một chân tay khác của bà Lan cũng hiện đã đang bỏ trốn khỏi Việt Nam là Hồ Quốc Minh. Hồ sơ về Minh hiện đang được cơ quan Cảnh Sát Điều Tra thụ lý.”

Thương vụ Bamboo Airways diễn ra âm thầm trong những tháng mà bị cáo Trịnh Văn Quyết bị tạm giam. (Hình: ZNews)

“Minh ‘Xoài’ này là thằng đã bị mình chửi thẳng mặt cả trên Facebook, cả ngoài đời: ‘Mày có tiền và già thì tao vẫn dạy cho mày làm người,’ và giờ ra đường hay phi trường thì đều cúi gằm mặt không dám nhìn mình. Minh ‘Xoài’ giờ đang mưu tính thâu tóm tiếp FLC nhưng liệu có kịp không hả Xoài?” ông Thắng viết.

Tuy vậy, sau loạt bài đăng liên tiếp gây xôn xao dư luận, trang cá nhân của ông Thắng bỗng dưng biến mất.

Một số nguồn thạo tin trên mạng xã hội xác nhận lúc đăng đàn tố cáo ông Minh thì ông Đặng Tất Thắng đã nhập quốc tịch Úc. (N.H.K) [qd] 


 

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Lê Đình Công & Lê Đình Chức

Ba’o Dan Chim Viet

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

25/07/2024

Hồi đầu thế kỷ, có hôm, tôi nhận được thư của Vũ Thư Hiên. Ông hớn hở cho hay “Anh Tấn sắp sang Pháp chơi với anh vài tuần”. Thuở ấy, hai ông còn trẻ trung (và còn sung lắm) nên chắc chắn là đôi bạn sẽ đi lung tung khắp nơi, chứ dễ gì mà chịu quanh quẩn ở Paris.

Mãi cả chục năm sau, tôi mới nghe nhà văn Bùi Ngọc Tấn nhắc đến chuyến du hành thú vị này (với ít nhiều tiếc nuối) trong một cuộc phỏng vấn dành cho BBC – hồi cuối năm 2014: “Sang châu Âu, tôi quan sát dáng người đi, nét mặt của họ khác dân mình lắm… Đi thì mới biết mình bị mất những gì.”

Giờ ạ! Tưởng gì? Chứ nếu “đi thì mới biết mình bị mất những gì” thì cần chi phải qua đến tận Âu Châu làm chi (cho má nó khi) chỉ cần bước qua Cambodia là cũng đủ “biết” là “họ khác dân mình lắm”, khác hết biết luôn.

“Trên đường phố mù bụi đỏ, những tủ đổi tiền, cỡ bằng tủ thuốc lá của ta, vẫn hoạt động bình thường, thong thả với hàng cọc tiền đủ từ mọi quốc gia chứa bên trong. Tiền bày ra đường, an nhiên, tự tại như vậy, ắt hẳn nạn trộm cướp ở đây không hề là nỗi ám ảnh thường xuyên của những ngân hàng đường phố kiểu này …

Dừng chân hỏi đường với một anh xe ôm đen sạm, phong sương bên đường bằng một thứ tiếng Miên bồi, tôi đã không khỏi ngạc nhiên và cảm động khi câu trả lời chỉ được thốt ra sau khi giở nón. Rõ ràng, người xe ôm này thuộc về một nền văn hóa lớn, mà những con người của nó đã học cách sống lễ độ và văn minh một cách rất tự nhiên.” (Lê Đình Phương. “Về Một Nền Du Lịch Lễ Độ.” Lang Thang Như Gió. Phụ Nữ: 2013).

Cho đến nay số người Việt có cơ hội “lang thang như gió” vẫn chưa nhiều nhặn gì cho lắm nên ít kẻ có cơ hội để so sánh, và nhận thức được về sự thua thiệt hay “mất mát” của mình. Phần lớn vẫn chấp nhận chuyện bị giựt đồ, bị thu phí vô tội vạ, bị công an giao thông trấn lột, bị bắt đi bầu, bị công an phường mời lên làm việc (bất kể ngày giờ) … chỉ là những chuyện xui thôi. Cũng không mấy ai phiền hà chi, khi hỏi đường thì bị đòi tiền công (“10K”) chỉ dẫn.

Cho đến khi “đụng” phải sự lập lờ, gian giảo, lật lọng (trắng trợn) của Bộ Luật Đất Đai Thuộc Sở Hữu Toàn Dân thì “toàn dân” mới thực sự biết thế nào là “mất mát”, và mới có những phản ứng thích đáng, sau khi “bừng con mắt dậy thấy mình trắng tay”. Cái giá mà dân Việt, Kinh cũng như Thượng, phải trả cho sự phản kháng quyết liệt của họ – tất nhiên – không rẻ và không ít kẻ đang (hoặc đã) lãnh án tù.

Sự việc gần nhất (và nổi cộm nhất) liên quan đến chuyện tranh chấp đất đai, giữa Đảng và Dân, được mệnh danh là Vụ Án Đồng Tâm. Từ California, ký giả Nguyễn Tuyển (nhật báo Người Việt) tóm lược như sau:

Vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020, nhà cầm quyền CSVN đưa một lực lượng hùng hậu gồm một trung đoàn cảnh sát cơ động cùng các lực lượng công an khác tấn công xã Đồng Tâm. Dân làng cương quyết chống đối lại việc tịch thu khu đất thường được gọi là “cánh đồng Sênh” mà dân làng canh tác hàng chục năm. Họ có các văn kiện địa bạ chứng minh quyền sở hữu, canh tác trong khi nhà cầm quyền lấy cớ đó là đất “quốc phòng” nên đòi lại.

Các vụ tranh cãi, kiện tụng và cưỡng chế hụt cũng như chống cưỡng chế đất tại xã Đồng Tâm kéo dài suốt nhiều năm. Trước khi xảy ra vụ tấn công đầu năm ngoái, vào Tháng Tư, 2017, dư luận trong ngoài nước rúng động khi dân làng đã bắt giữ gần 40 cảnh sát cơ động, công an, viên chức huyện Mỹ Đức. Những người vừa kể chỉ được thả một tuần sau khi nhà cầm quyền cam kết giải quyết thỏa đáng, căn cứ theo đúng luật đất đai và quyền lợi của người dân.

Nhưng sau đó, nhà cầm quyền CSVN trở mặt, vẫn lập luận là dân địa phương chiếm cứ bất hợp pháp, đòi trả đất nhưng không lấy được, dẫn tới đàn áp.

Từ phiên xử sơ thẩm đến phúc thẩm, các nhân chứng quan trọng có mặt khi xảy ra vụ việc như bà vợ ông Kình, con dâu, cháu dâu cùng nhiều dân làng khác đã có lời yêu cầu triệu tập ra tòa làm chứng. Không những không cho triệu tập mà còn bị ngăn chặn từ xa, không cho đến gần tòa án.

Trước phiên xử phúc thẩm, các luật sư biện hộ đã gửi một đơn kiến nghị, yêu cầu thực nghiệm lại hiện trường để xem những cáo buộc qua lời khai của công an có đúng hay trái với sự thật. Tuy nhiên, họ đã bị tảng lờ. Nói chung, phiên tòa xử mang tính áp đặt, bất chấp luật lệ tố tụng hình sự của chính họ đặt ra…

Phiên tòa phúc thẩm tại Hà Nội chiều Thứ Ba, 9 Tháng Ba, với kết quả không làm mấy ai ngạc nhiên khi chủ tọa phiên xử phúc thẩm đọc bản án y án tử hình với hai anh em ông Lê Đình Công, Lê Đình Chức. Hai ông là con ông Lê Đình Kình, người bị công an CSVN giết chết khi xông vào nhà ông vào sáng sớm 9 Tháng Giêng, 2020. Con trai ông Công là Lê Đình Doanh bị y án chung thân…

Vào thời điểm trên tuy ông Tô Lâm đang giữ chức Bộ Trưởng Công An VN (lực lượng đã tấn công vào xã Đồng Tâm và hạ sát ông Lê Đình Kình) nhưng T.B.T kiêm CTT Nguyễn Phú Trọng mới là người “chịu trách nhiệm trực tiếp và cao nhất trong vụ án kinh hoàng” này. Ông đã qua đời vào hôm 19 tháng 07 vừa qua, để lại không ít eo sèo và nhiều điều tiếng.

Bên cạnh những hạn từ có cánh quen thuộc (anh minh, đạo đức, vỹ đại, giản dị, liêm chính, hết lòng vì dân vì nước…) của mọi cơ quan truyền thông quốc doanh – đây đó – trên những trang Thông Tấn Xã Vỉa Hè, là vô số những lời chỉ trích, phê bình, chê bai, mạt sát: lạc hậu, bảo thủ, giáo điều, hèn nhát, tham quyền cố vị …

Giữa hai thái cực này là thái độ và ngôn từ trung dung, dễ được công luận tán đồng: hãy để lịch sử phán xét, nghĩa tử là nghĩa tận… Chỉ có điều phiền là hai ông Lê Đình Công và Lê Đình Chức thì chưa “tử” (và tất nhiên chưa “tận”) cả hai vẫn còn sống nhăn, với hai bản án tử hình lơ lửng, trong tù!

Nếu ý thức được phần nào việc làm tàn ác/bất nhân/thất đức của mình, khi còn thoi thóp thở, Nguyễn Phú Trọng (chắc chắn) đã miễn tử cho Lê Đình Công và Lê Đình Chức. Đây là một công hai việc: vừa làm giảm nhẹ được phần nào tội nghiệt đã lỡ gây ra và cũng xóa luôn được cái bản án “tru di”, một vết nhơ không nhỏ ở thế kỷ này.

Ông Trọng, tiếc thay, đã không “ý thức” được chi ráo trọi cho mãi đến lúc xuôi tay/nhắm mắt!

Nay thì mạng sống hai lương dân vô tội này đang trong tay của ông Tô Lâm. Nếu còn nhất điểm lương tâm thì ông tân CTN, có thể, cũng sẽ ký lệnh “ân xá” (và phóng thích tất cả những người dân Đồng Tâm đang bị cầm tù) dù hy vọng thế rất mong manh. Kẻ còn chút tình người hay nhân tính đâu ai đủ nhẫn tâm để thưởng thức miếng thịt bò dát vàng (trị giá “tương đương với tám tấn lúa khô”) trong khi suy dinh dưỡng vẫn là một vấn nạn lớn đối với rất nhiều trẻ thơ ở đất nước mình.


 

HƯƠNG THƠM CỦA KÝ ỨC – (Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

“Phúc cho mắt các con vì được thấy; phúc cho tai các con vì được nghe!”.

“Ôi, đôi bạn diễm phúc! Mọi tạo vật đều mắc nợ quý ngài, vì qua quý ngài, một quà tặng thanh khiết nhất, xinh đẹp nhất dâng cho Đấng Tạo Hoá; đó là Thánh Mẫu tinh tuyền mà chỉ mình ‘Nàng’ xứng đáng cưu mang Đấng Tạo Dựng muôn loài!” – Gioan Đamas.

Kính thưa Anh Chị em,

Đó là bút tích thâm trầm và sâu sắc của vị thánh tiến sĩ thế kỷ thứ 8 khi nói về hai thánh Gioakim và Anna, song thân của Đức Maria như là ‘hương thơm của ký ức’ – theo Đức Thánh Cha Phanxicô – Giáo Hội mừng kính hôm nay.

Trong một Thánh Lễ ban ơn toàn xá và cầu nguyện cho người cao tuổi, Đức Thánh Cha nhấn mạnh, chúng ta phải biết thu thập, cẩn thận giữ gìn và bảo vệ kho báu quý giá mà Thiên Chúa đã ban cho mỗi người, đó là các bậc sinh thành. “Ông bà của chúng ta và người già không phải là đồ thừa của cuộc sống, không phải là đồ vụn vặt bỏ đi; họ là những mẩu bánh quý giá còn sót lại trên bàn ăn cuộc sống và vẫn có thể nuôi dưỡng chúng ta bằng một hương thơm mà chúng ta đã đánh mất, ‘hương thơm của ký ức!’”.

Lời Chúa được chọn hôm nay nhắc lại cùng một điều. “Chúng ta hãy ca tụng những vĩ nhân và các tổ phụ của mình qua các thời đại. Có những người nhân hậu mà việc thiện của họ không bao giờ bị lãng quên; tên tuổi của họ sẽ được lưu truyền từ đời nọ sang đời kia; sự khôn ngoan của họ được cộng đoàn truyền tụng”. Huấn Ca gọi các ngài là vĩ nhân; và còn hơn cả vĩ nhân, vì qua họ, Thiên Chúa tặng ban cho thế giới, cho Giáo Hội không chỉ các vĩ nhân mà cả những thánh nhân. Họ là vĩ nhân của các vĩ nhân!

Song thân của Đức Maria là ông bà ngoại của Chúa Giêsu; chính các ngài đã giúp hình thành một môi trường đức tin lành thánh, trong đó, trẻ Giêsu phát triển về trí tuệ, tâm đức và cả tầm vóc trước mặt Thiên Chúa và loài người. Ngày lễ hôm nay nhắc chúng ta nhớ đến ‘hương thơm của ký ức’ Chúa ban cho mình; các ngài là những người đầy lòng tin “đã đi trước chúng ta và đang nghỉ giấc bình an”. Không chỉ nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục, chúng ta còn nhớ đến đức tin; trong đó, các ngài đã sống, chiến đấu, cầu nguyện… và thắp lên ngọn lửa đức tin trong linh hồn và cuộc sống bạn và tôi.

Anh Chị em,

“Phúc cho mắt các con vì được thấy; phúc cho tai các con vì được nghe!”. Như vậy, chúng ta không chỉ mắc nợ các thế hệ đi trước, nhưng còn nợ nần thế hệ cùng thời và nợ cả những thế hệ tương lai. Tại sao? Vì nhờ các đấng sinh thành, chúng ta tin nhận Chúa Giêsu; và trong Chúa Giêsu, chúng ta được lãnh nhận mặc khải trọn vẹn của Thiên Chúa. Vì thế, bổn phận của chúng ta là phải chia sẻ đặc quyền đó, đặc quyền mà “Nhiều ngôn sứ và nhiều người công chính đã mong mỏi thấy, mà không được thấy; mong mỏi nghe mà không được nghe”; nghĩa là không chỉ gìn giữ ‘hương thơm của ký ức’, chúng ta còn phải chia sẻ hương thơm Giêsu cho các thế hệ hôm nay và mai ngày.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, chớ gì cuộc sống của con luôn toả hương nhân đức của các đấng sinh thành; và nhất là ngạt ngào hương Giêsu mà con ra sức ướp lấy mỗi ngày!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

*******************

Ngày 26 tháng 7

Thánh Gio-a-kim và thánh An-na, song thân Đức Ma-ri-a

Thứ Sáu Tuần XVI – Mùa Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

18 Khi ấy, Đức Giê-su nói với các môn đệ rằng: “Anh em hãy nghe dụ ngôn người gieo giống. 19 Hễ ai nghe lời rao giảng Nước Trời mà không hiểu, thì quỷ dữ đến cướp đi điều đã gieo trong lòng người ấy: đó là kẻ đã được gieo bên vệ đường. 20 Còn kẻ được gieo trên nơi sỏi đá, đó là kẻ nghe Lời và liền vui vẻ đón nhận ; 21 nhưng nó không đâm rễ mà là kẻ nông nổi nhất thời: khi gặp gian nan hay bị ngược đãi vì Lời, nó vấp ngã ngay. 22 Còn kẻ được gieo vào bụi gai, đó là kẻ nghe Lời, nhưng nỗi lo lắng sự đời và bả vinh hoa phú quý bóp nghẹt Lời, khiến Lời không sinh hoa kết quả. 23 Còn kẻ được gieo trên đất tốt, đó là kẻ nghe Lời và hiểu, thì tất nhiên sinh hoa kết quả và làm ra, kẻ được gấp trăm, kẻ được sáu chục, kẻ được ba chục.” 


 

Ở MỸ NGAY CẢ NGƯỜI NHẶT VE CHAI HỌ VẪN LUÔN ĐỨNG THẲNG.

Lâm Ái

Dù làm công việc gì, người Mỹ biểu lộ sự tự tin theo phong cách rất riêng.

Đa số họ không thích thể hiện bản thân và tìm kiếm danh tiếng, họ vui vẻ đón nhận và tận hưởng mọi điều cuộc sống đem lại.

Có một số người châu Á rất giàu có khi đến Mỹ, họ phát hiện ra chẳng có ai ngưỡng mộ tài sản kếch xù của mình, và bắt đầu thấy lạc lõng.

Rồi họ xây nhà đẹp, mua siêu xe và những bộ đồ hiệu đắt tiền với hy vọng mang lại sự ảnh hưởng nhất định, nhưng tất cả đều vô ích.

Ngay cả những người Mỹ ở khu ổ chuột, đi xe bình dân vẫn thản nhiên khi thấy những chiếc xe Mercedes lái qua.

Và họ lại càng không chú ý đến những chiếc áo măng-sét hay cổ áo hàng hiệu của người khác.

Ở Mỹ, lương của người dân thường không cao, và tất nhiên không phải ai cũng có nhà đẹp, xe xịn.

Rất nhiều người Mỹ đi làm thuê với mức thu nhập khá thấp, nhưng họ cảm thấy đủ đầy và mãn nguyện.

Thay vì than vãn về những khó khăn và đặt những mục tiêu xa vời, họ vui vẻ đón nhận mọi điều từ cuộc sống và tận hưởng chúng.

Vì vậy, các đại gia châu Á vốn quen “chỉ tay năm ngón” khi đến đất Mỹ thì mất hết sự kiêu ngạo.

Một viên chức Trung Quốc đã từng chia sẻ: “Ở trong nước, người khác nhìn tôi là cúi đầu khom lưng. Nhưng ở Mỹ, ngay cả người nhặt ve chai họ vẫn luôn đứng thẳng.”

( LA sưu tầm & biên soạn )

Ảnh : Một gia đình nông dân Mỹ thật dễ thương.

FB Le An


 

BA CÁI THIẾU KINH NIÊN CỦA NGƯỜI GIÀ – Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc

Già thì khổ, ai cũng biết. Sanh lão bệnh tử! Nhưng già vẫn có thể sướng. Muốn sống lâu thì phải già chớ sao! Già có cái đẹp của già. Trái chín cây bao giờ cũng ngon hơn trái giú ép. Cái sướng đầu tiên của già là biết mình… già, thấy mình già, như trái chín cây thấy mình đang chín trên cây. Nhiều người chối từ già, chối từ cái sự thật đó và tìm cách giấu cái già đi, như trái chín cây ửng đỏ, mềm mại, thơm tho mà ráng căng cứng, xanh lè thì coi hổng được.

Mỗi ngày nhìn vào gương, người già có thể phát hiện những vẻ đẹp bất ngờ như những nếp nhăn mới xòe trên khóe mắt, bên vành môi, những món tóc lén lút bạc chỗ này chỗ nọ, cứng đơ, xơ xác… mà không ngờ nhanh vậy!

Thực tế con người ta có cái khuynh hướng dễ thấy khổ hơn. Khổ dễ nhận ra còn sướng thì khó biết! Một người luôn thấy mình sướng thì không khéo người ta nghi ngờ là có vấn đề về tâm thần!

Nói chung, người già có ba nỗi khổ thường gặp nhất, nếu giải quyết đựơc sẽ giúp họ sống “trăm năm hạnh phúc”:

* Một là thiếu bạn !

Nhìn qua nhìn lại, bạn cũ rơi rụng dần… Thiếu bạn, dễ hụt hẫng, cô đơn và dĩ nhiên… cô độc. Từ đó dễ thấy mình bị bỏ rơi, thấy không ai hiểu mình!.

Người già chỉ sảng khoái khi được rôm rả với ai đó, nhất là những ai “cùng một lứa bên trời lận đận”… Gặp đựơc bạn tâm giao thì quả là một liều thuốc bổ mà không bác sĩ nào có thể biên toa cho họ mua được!

Để giải quyết chuyện này, ở một số nước tiên tiến, người ta mở các phòng tư vấn, giới thiệu cho những người già cùng sở thích, cùng tánh khí, có dịp làm quen với nhau. Người già tự giới thiệu mình và nêu “tiêu chuẩn” người bạn mình muốn làm quen.

Rồi họ dạy người già học vi tính để có thể “chat”, “meo” với nhau chia sẻ tâm tình, giải tỏa stress… Thỉnh thỏang tổ chức cho các cụ họp mặt đâu đó để được trực tiếp gặp gỡ, trao đổi, dòm ngó, khen ngợi hoặc… chê bai lẫn nhau. Khen ngợi chê bai gì đều có lợi cho sức khỏe! Có dịp tương tác, có dịp cãi nhau là sướng rồi. Các tế bào não sẽ đựơc kích thích, đựơc hoạt hóa, sẽ tiết ra nhiều kích thích tố. Tuyến thượng thận sẽ hăng lên, làm việc năng nổ, tạo ra cortisol và epinephrine làm cho máu huyết lưu thông, hơi thở trở nên sảng khóai, rồi tuyến sinh dục tạo ra DHEA (dehydroepiandoster one), một kích thích tố làm cho người ta trẻ lại, trẻ không ngờ!…

Dĩ nhiên phải chọn một nơi có không khí trong lành. Hoa cỏ thiên nhiên. Thức ăn theo yêu cầu. Gợi nhớ những kỷ niệm xưa… Rồi dạy các cụ vẽ tranh, làm thơ, nắn tượng… Tổ chức triển lãm cho các cụ. Rồi trình diễn văn nghệ cây nhà lá vườn. Các cụ dư sức viết kịch bản và đạo diễn. Coi văn nghệ không sướng bằng làm văn nghệ!

* Cái thiếu thứ hai là thiếu ăn !

Thực vậy. Ăn không phải là tọng là nuốt là xực là ngấu nghiến… cho nhiều thức ăn! Ăn không phải là nhồi nhét cho đầy bao tử! Trong cuộc sống hằng ngày có nhiều thứ nuốt không trôi lắm! Chẳng hạn ăn trong nỗi sợ hãi, lo âu, bực tức; ăn trong nỗi chờ đợi, giận hờn thì nuốt sao trôi? Nuốt là một phản xạ đặc biệt của thực quản dưới sự điều khiển của hệ thần kinh. Một người trồng chuối ngược vẫn có thể nuốt được dễ dàng! Nhưng khi buồn lo thì phản xạ nuốt bị cắt đứt!

Nhưng các cụ thiếu ăn, thiếu năng lựơng phần lớn là do sợ bệnh, kiêng khem quá đáng. Bác sĩ lại hay hù, làm cho họ sợ thêm! Nói chung, chuyện ăn uống nên nghe theo mệnh lệnh của… bao tử.

“Listen to your body”. Hãy lắng nghe sự mách bảo của cơ thể mình! Cơ thể nói… thèm ăn cái gì thì nó đang cần cái đó, thiếu cái đó! Nhưng nhớ ăn là chuyện của văn hóa! Chuyện của ngàn năm, đâu phải một ngày một buổi. Món ăn gắn với kỷ niệm, gắn với thói quen, gắn với mùi vị từ thuở còn thơ! Người già có thể thích những món ăn… kỳ cục, không sao. Đừng ép! Miễn đủ bốn nhóm: bột, đạm, dầu, rau… Mắm nêm, mắm ruốc, mắm sặc, mắm bồ hóc, tương chao… đều tốt cả. Miễn đừng quá mặn, quá ngọt…là đựơc. Cách ăn cũng vậy. Hãy để các cụ tự do tự tại đến mức có thể đựơc. Đừng ép ăn, đừng đút ăn, đừng làm “hư” các cụ!

Cũng cần có sự hào hứng, sảng khoái, vui vẻ trong bữa ăn.. Con cháu hiếu thảo phải biết… giành ăn với các cụ. Men tiêu hoá được tiết ra từ tâm hồn chớ không chỉ từ bao tử.

* Cái thiếu thứ ba là thiếu vận động !

Già thì hai chân trở nên nặng nề, như mọc dài ra, biểu không chịu nghe lời ta nữa! Các khớp cứng lại, sưng lên, xương thì mỏng ra, dòn tan, dễ vỡ, dễ gãy!

Bác sĩ thường khuyên vận động mà không hướng dẫn kỹ dễ làm các cụ ráng quá sức chịu đựng, lâm bệnh thêm. Phải làm sao cho nhẹ nhàng mà hiệu quả, phù hợp với tuổi tác, với sức khỏe. Phải từ từ và đều đều. Ngày xưa người ta săn bắn, hái lượm, đánh cá, làm ruộng, làm rẫy… lao động suốt ngày. Bây giờ chỉ ngồi quanh quẩn trong bốn bức tường trước TV!. Có một nguyên tắc “Use it or lose it!” Cái gì không xài thì teo! Thời đại bây giờ người ta xài cái đầu nhiều quá, nên “đầu thì to mà đít thì teo”. Thật đáng tiếc!

Không cần đi đâu xa. Có thể tập trong nhà. Nếu nhà có cầu thang thì đi cầu thang ngày mươi bận rất tốt. Đi vòng vòng trong phòng cũng được. Đừng có ráng lập “thành tích” làm gì! Tập cho mình thôi.. Từ từ và đều đều… Đến lúc nào thấy ghiền, bỏ tập một buổi… chịu hổng nổi là được!

Nguyên tắc chung là kết hợp hơi thở với vận động. Chậm rãi, nhịp nhàng. Lạy Phật cũng phải đúng… kỹ thuật để khỏi đau lưng, vẹo cột sống. Đúng kỹ thuật là giữ tư thế và kết hợp với hơi thở. Đó cũng chính là thiền, là yoga, dưỡng sinh…! Vận động thể lực đúng cách thì già sẽ chậm lại. Giảm trầm cảm, buồn lo. Phấn chấn, tự tin. Dễ ăn, dễ ngủ…

Tóm lại, giải quyết được “ba cái lăng nhăng” đó thì có thể già mà… sướng!

https://www.ngo-quyen.org/p116a9499/4/bac-si-do-hong-ngoc-ba-cai-thieu-kinh-nien-cua-nguoi-gia


 

NẾU CÓ THỂ

Nếu có thể, để nỗi buồn ngoài cửa,

Giữ tâm an, rồi hãy bước vào nhà.

Như giày dép dẫu bao nhiêu bùn đất,

Để hiên nhà sau mỗi dặm đường xa!

 

Nếu có thể, đừng giận hờn trách móc,

Chuyện áo cơm cũng đủ mệt nhọc rồi.

Khi lòng thấy có muộn phiền ấm ức,

Mình nhẹ nhàng ngồi xuống bảo nhau thôi!

 

Nếu có thể, đừng than thân trách phận,

Ở ngoài kia còn bao kẻ khốn cùng.

Còn sức khỏe là mình còn hy vọng,

Đừng tự dọa mình rồi suy nghĩ lung tung!

 

Nếu có thể, thương nhau thêm một chút,

Nay bên nhau, mai chưa chắc đã còn.

Đời dài ngắn nào đâu ai biết được,

Trông đợi gì câu hẹn biển thề non!

 

Nếu có thể, nhường nhịn nhau một chút,

Tranh phần hơn nào được lợi ích gì.

Chịu thua thiệt không phải là nhu nhược,

Chẳng truy cầu thì hà tất phải sân si.

 

Nếu có thể, chúng mình cùng cố gắng,

Sống bao dung, đừng tính toán chi nhiều.

Tâm rộng mở, không gì là không thể,

Hãy nhìn đời bằng đôi mắt thương yêu!

ST

From: Tu-Phung

Hoa Cẩm Chướng – Nguyễn Thị Thanh Dương-Truyen ngan HAY

Nguyễn Thị Thanh Dương

Vợ chồng chị Bông đến nhà chị Phú chơi nhân dịp họ dọn vào nhà mới, họ bán căn nhà cũ to rộng hơn 3,000 Sqft. để mua căn nhà mới 1,800 Sqft. với 3 phòng ngủ gọn gàng vừa đủ cho hai vợ chồng vì các con đã trưởng thành và ở nơi khác.

Chị Phú hớn hở khi mở cửa cho bạn:

– Mời mãi mà hôm nay anh chị mới đến, ở cùng thành phố chứ cách trở núi non gì…

Trong khi anh Phú tiếp chuyện anh Bông thì chị Phú đưa chị Bông đi xem nhà, nhà Texas rẻ nên nhiều người Việt có điều kiện đều trả tiền mặt và mua nhà mới dễ dàng. Anh chị Phú cũng thế, căn nhà của builder D-R-Horton xây kiểu cọ khá sang và đẹp giá chỉ khoảng 100 đồng mỗi Sqf…

– Đây là phòng ngủ… của ông Phú.

Thì ra vợ chồng nhà này ngủ riêng. Chị Bông nghĩ thầm trong khi chị Phú tiếp nửa đùa nửa thật:

– Bàn computer là thế giới riêng của ông ấy, nếu tôi mà bước vào đây khi ông ấy đang ngồi computer thì tôi… là nhân vật thứ ba thừa đấy chị… Trong ánh mắt khó chịu của ông Phú như nói rằng : “Bà chẳng nghĩa lý gì trong lúc này”

Sang phòng bên chị Phú hớn hở tiếp:

– Và đây là phòng ngủ của tôi, tôi muốn xem ti vi đến bất cứ giờ nào, tôi muốn treo hình ảnh, bày biện gì thì tha hồ, không làm… chướng tai gai mắt ông ấy. Bởi thế vợ chồng già ngủ riêng giường, riêng phòng là sung sướng nhất.

Hai gia đình quá thân nhau nên chị Bông không ngại ngần nói:

– Thế mà hai ông bà ra ngoài vẫn sánh đôi chung bóng tưởng như nửa bước không rời nhau cơ đấy.

– Thì ai chẳng cần bề ngoài, đi chợ, đi nhà thờ hay đi bất cứ đâu đều chung đôi đã đành mà… đến chết vẫn chung đôi luôn.

Chị Bông hết hồn và ngạc nhiên:

– Sao? Hai ông bà định… chết chung một ngày à?

Chị Phú bật cười:

– Có vợ chồng già nào còn lụy tình nhau đến cuối đời thế chứ. Nghĩa trang “Mây trời xanh” trong thành phố này đang quảng cáo bán những phần đất giá rẻ thế là hai vợ chồng mình bèn đến xem và mua ngay 2 mộ phần song song nằm cạnh nhau, đã xây bia mộ hình ảnh sẵn sàng rồi, ai chết trước thì vào nằm trước và ghi thêm ngày từ trần vào bia mộ đợi người đến sau. Thế là sớm muộn gì vợ chồng cũng chung đôi trong giấc ngủ cuối cùng. Trông vừa đẹp tình đẹp ý với cuộc đời vừa thuận tiện cho con cháu đến thăm viếng đặt hoa thắp nhang.

Chị Bông tấm tắc khen:

– Anh chị tính toán chu đáo và tuyệt vời quá.

Chị Phú thản nhiên:

– Vợ chồng chị và vợ chồng tôi là chỗ quen biết nhau thân nên chẳng có gì phải che dấu, vợ chồng tôi xung khắc cãi nhau như cơm bữa nhưng ở đời người ta vẫn phải sống như một vở kịch, được cái là cả ông Phú và tôi đều giống nhau ở chỗ cần bề ngoài, thích bề ngoài, nhìn vào ai chẳng thấy chúng tôi là cặp vợ chồng già lý tưởng…

– Nhưng anh chị cũng có cùng sở thích đấy, phòng ngủ riêng của mỗi người đều có một smart tivi hiệu Samsung 28 inches

Chị Phú kêu lên:

– Là bất đồng lớn đấy chứ sở thích gì, hai vợ chồng xem chung tivi ngoài phòng khách thế nào cũng cãi nhau dù bất cứ đề tài gì nên quyết định mua mỗi người một cái trong phòng ngủ ai về phòng nấy mà xem, còn tivi ngoài phòng khách nếu xem chung thì cấm ai được phát biểu ý kiến là yên chuyện. Giao kèo hẳn hòi…

– Vậy là nhà có 2 vợ chồng mà 3 cái ti vi. Hãng Samsung trúng mối nhờ những cặp vợ chồng bất đồng đấy chị nhỉ.

Chị Phú kể:

– Tôi quen vợ chồng người bạn, cũng bề ngoài chung đôi như vợ chồng tôi. Chị ấy đã qua đời và an táng trong nghĩa trang “Mây trời xanh”. Hai năm sau người chồng ốm đau thập tử nhất sinh, khi chưa vào hôn mê ông ấy cố gắng lấy sức tỉnh táo ngắn ngủi cuối cùng để dặn dò các con rằng: “Các con muốn hoả táng hay chôn cất bố kiểu nào cũng được nhưng tuyệt đối đừng cho bố nằm cạnh mẹ con. Bao nhiêu năm chung đôi với bà ấy rồi, lúc lìa đời hãy… trả tự do cho bố …”

Chị Bông cười:

– Chắc các con phải an táng ông bố trong một nghĩa trang khác, chứ cùng nghĩa trang “Mây trời xanh” bà vợ lại lò mò ra thăm ông ấy và trách mắng sao chúng mình không chung đôi thì hai hồn ma lại… cãi nhau., làm phiền những hồn ma khác.

– Lúc nào riêng tư được thì cứ riêng tư chị Bông ạ. Tôi với ông Phú lúc trước đi bộ thể dục quanh khu phố nhà mình, nói chuyện một lúc thể nào cũng bất đồng ý kiến và cãi nhau, thế là tôi bèn nghĩ cách đi thể dục một mình với lý do chính đáng không ai hiểu được là tôi né ông chồng. Tôi bắt chước mấy bà bạn già chuyên đi bộ trong mall, cái mall gần nhà tôi lái xe 10 phút là đến, chân đi giày bệt như khi ta đi ra phi trường vậy đó, tha hồ thoải mái đi dạo trong mall, lên tầng xuống tầng bằng thang bộ, mùa hè mát mẻ, mùa Đông ấm áp, vừa đi vừa ngắm đủ loại quần áo và hàng hóa quên cả giờ về. Khỏe người, có khi lại mua được món hàng giá rẻ.

– À, tôi còn tha hồ mặc thử các loại quần áo và ngắm nghía mình trong gương cho … qua cơn ghiền shopping chứ tiền đâu mà mua hết những gì mình thích…

Chị Bông thán phục và hí hửng:

– Thì ra thế, người ta cứ tưởng chị vào mall mua sắm, cái điều mà chẳng ông nào thích “chung đôi” với vợ nơi chốn này. Hèn gì đi mall ngày thường tôi thấy nhiều… bà già ghê, cứ tưởng họ về hưu buồn chán nên đi shopping cho vui. Hẹn chị Phú một ngày nào đó chúng mình sẽ gặp nhau trong mall và đi bộ vài giờ liền chị nhé.

Chị Phú cao hứng kể thêm:

– Vợ chồng tôi khác nhau cả những điều nhỏ nhặt, ở thành phố này có 3 hàng B.B.Q. bán vịt quay gần nhà, nhưng sở thích chúng tôi cũng… không đụng hàng, ông Phú thích ăn vịt của tiệm A. còn tôi thì thích vịt tiệm B. ai cũng cho là vịt quay của tiệm mình chọn là ngon, là nhất.. Mỗi lần nhà cần ăn món vịt quay là hai vợ chồng lại tranh cãi, sau cùng tôi phải…tôi phải…

Chị Bông tranh lời và đoán già đoán non:

– Chị phải mua vịt quay tiệm thứ ba. là huề cả đôi bên chứ gì? Hay là chị chiều chồng, nhịn chồng đi mua vịt quay tiệm A. cho anh vừa lòng ?

Chị Phú nở nụ cười mỉm, nụ cười bí ẩn như nàng Mona Lisa trong tranh:

– Không, tôi vẫn mua vịt quay tại cửa hàng B. tôi yêu thích đấy chứ…

Trong khi chị Bông đang ngơ ngác ngạc nhiên thì chị Phú bèn giải thích:

– Nhưng tôi tỉnh bơ nói với ông Phú là tôi mua vịt của tiệm A. ông ấy ăn và khen ngon nức nở đúng gu của ông ấy. Nói dối mà vui vẻ cửa nhà chắc trời Phật cũng thông cảm phải không chị Bông?

Chị Phú kết luận:

– Chị Bông ơi, sở dĩ vợ chồng về già “xung khắc” vì ai cũng trở nên chướng. Coi như “hoa Cẩm Chướng” nở trong nhà quanh năm… Ngày xưa tôi yêu hoa Cẩm Chướng lắm, bây giờ thì không, cứ nghe đến tên hoa Cẩm Chướng là… hình ảnh ông Phú lù lù hiện ra.

– Ôi, hoa Cẩm Chướng đẹp thế mà lại là hình ảnh của các vợ chồng già trái tính trái nết, tội nghiệp cho hoa qúa…

Hai bà xem nhà và nói chuyện xong cùng ra ngoài phòng khách nói chuyện chung với hai ông. Chiếc Smart Tivi Samsung 50 mấy inches được mở lên đang có cảnh đẹp ở một đất nước nào đó, anh Bông rồi đến chị Bông vừa nói chuyện vừa khen cảnh trong phim trong khi hai vợ chồng anh Phú chỉ nói chuyện, tuyệt nhiên không ý kiến gì với cảnh trong tivi.

Chị Bông hiểu là bản hợp đồng của vợ chồng chị Phú đã được tôn trọng.

Khi anh chị Bông đứng dậy cáo từ hai vợ chồng anh Phú, hai… đoá hoa Cẩm Chướng của đời nhau cùng tươi tắm, cùng sánh đôi ra tận cửa tiễn bạn và ríu rít như chim hót:

– Hôm nay anh chị đến chúng tôi bất ngờ mà vui quá…

– Hôm nào anh chị rảnh đến ăn với chúng tôi một bữa cơm tối nhé. Chúng tôi cùng mong đợi đấy.

Anh Bông có vẻ ngạc nhiên trước sự hòa hợp của vợ chồng chị Phú. Còn chị Bông thì bỗng… nghi ngờ tất cả những cặp vợ chồng già từng khoe là đồng cảm, trên thuận dưới hòa và hạnh phúc bên nhau suốt cuộc hành trình dài cuộc hôn nhân của họ.

Buổi chiều ở nhà chị Bông mở tivi lại thấy quảng cáo của nghĩa trang “Mây trời xanh”, quang cảnh thanh tịnh mát mẻ đúng là nơi yên nghỉ ngàn thu, chị Bông hối hả gọi chồng:

– Anh Bông ơi, anh có thích cái này không?

Anh Bông từ trong phòng trong vọng ra:

– Bà thích gì thì cứ việc xem đừng réo tên tôi. Bà biết rồi mà những gì bà thích là tôi không thích.

– Nhanh lên, cái này phải có anh cùng quyết định.

Anh Bông tò mò đi nhanh ra ngoài còn kịp thấy cảnh những ngôi mộ trong nghĩa trang và lời quảng cáo vừa lập lại, anh khó chịu:

– Bà bảo tôi xem cái này để quyết định cái gì? Nhà mình đang yên đang lành lại bàn chuyện nhà quàn nghĩa địa là sao? Bà dở hơi từ lúc nào thế?

Chị Bông giật mình, chẳng lẽ dưới mắt anh Bông chị đang là kẻ dở hơi, là “đóa hoa Cẩm Chướng” vô duyên?

– Dĩ nhiên là không phải bây giờ. Mua mộ phần cho… tương lai anh và em.

Anh Bông bắt bẻ:

– Lại càng dở hơi. Chữ “Tương lai” dùng cho cảnh đời hy vọng tươi sáng phía trước nghe hào hứng hơn là đem dùng cho một ngày buồn tang tóc chẳng ai đợi ai mong.…

– Vậy thì em sửa lại đây, cho ngày sau chúng ta lìa đời. Hai mộ phần song song bên nhau thì được bớt 20% mà nếu trả tiền mặt từ bây giờ thì bớt đến 50%.

– Bà đến chết vẫn còn tính toán đắt rẻ như đi chợ… Tôi biết rồi bà muốn mua chỉ vì ham rẻ, cũng như khi đi shopping bà mua cả món đồ không thích nhưng vì giá rẻ. Nhưng xưa nay tôi và bà có mấy khi hợp nhau đâu, chung đôi làm gì hả?

– Biết rồi, nhưng lúc ấy mình chết ngắc chung đôi hay riêng lẻ cũng thế thôi. Trước mắt là tiết kiệm được tiền, mình lo trước thì con cái đỡ phải lo.

Anh Bông cương quyết:

– Không, tôi và bà đã từng khác nhau trong ý nghĩ cho viễn cảnh này, tôi muốn được an táng trong nghĩa trang và có người hương khói còn bà muốn hoả táng và thảy tung tro bụi ra gió ra biển cho một kiếp người tản mạn bay đi khắp thế gian và trôi đi khắp những biển rộng sông dài.

Chị Bông thở dài:

– Ừ nhỉ, trong lúc cao hứng nghe quảng cáo và nhất là lúc nãy nghe chuyện chị Phú nên em bất chợt nói thế thôi. Đến chết anh và em cũng không cùng suy nghĩ mà., mỗi người thích yên nghỉ một kiểu…

Giọng chị Bông bỗng như một nốt nhạc trầm:

– Anh này…

– Sao bà cứ lải nhải mãi thế? Bà muốn gì?

Chị Bông trách:

– Ngày xưa quen em anh đến nhà em chỉ mong được nói chuyện cùng em. Bây giờ em muốn nói anh chẳng muốn nghe.

– Mấy chục năm nay rồi bà ơi, vật đổi sao dời nữa là hai người trần gian chúng ta, bà muốn gì thì nói ngay đi, tôi không có thì giờ nghe bà nũng nịu…

– Tự nhiên em buồn, em chỉ muốn chia sẻ cảm xúc là đời người thường có hai chuyến xe hoa, chuyến đầu là hoa cưới vui vẻ bên nhau, chuyến sau là hoa tang buồn bã, là chia lìa nhau,. Thế thôi.

Anh Bông gạt phăng:

– Sự đời nó thế, ai cũng thế, hơi đâu mà bà cảm xúc dư thừa vớ vẩn…

Chị Bông đành chịu thua chồng.

Hôm anh Sơn bạn cùng hãng anh Bông đến chơi nhà, chị Bông cùng chồng tiếp chuyện bạn, hỏi thăm anh chuyện sắp về hưu thì anh Sơn tâm sự:

– Ai đi làm đến tuổi già chẳng muốn về hưu vui hưởng cảnh an nhàn, tôi cũng thế, nhưng bây giờ tôi đổi ý định rồi, thà đi làm có mệt mỏi còn hơn là về hưu vợ ở nhà chồng ở nhà mỗi ngày 24 tiếng có nhau, ra vào chạm mặt nhau không… ly dị sớm cũng… chết sớm.

Chị Bông giả bộ ngây thơ:

– Sao vậy anh Sơn? Ngày xưa thuở đang yêu các anh chẳng từng mong muốn được gặp nàng, được nhìn thấy mặt nàng là đã sung sướng biết bao.

– Nhưng chị ơi, nàng bây giờ là bà già khó tính nói dai nói nhiều. Hai vợ chồng cãi nhau căng thẳng thần kinh lắm, không ly dị thì cũng chết sớm chứ còn gì nữa.

Chẳng lẽ anh Sơn nói đúng? chẳng lẽ “hoa Cẩm Chướng” nở khắp mọi nhà của những đôi vợ chồng ở ngưỡng cửa tuổi già?

Về già ai cũng thay tính đổi nết, các ông cũng chẳng vừa nói chi các bà.

Những cặp vợ chồng đã đi với nhau suốt quãng đường dài, từ thuở tinh khôi mới lấy nhau đến lúc con đàn cháu đống nhìn mặt nhau bao nhiêu năm, thấy những thực tế đời thường của nhau bao nhiêu ngày tháng chán chường nhau đã đành.

Có những cặp giữa đường gặp gỡ, anh ly dị, chị thôi chồng tưởng đôi ta bỗng tìm được một nửa mong ước đời nhau, cùng nhau đi nốt quãng đường còn lại, thời gian đầu cả hai đều lịch sự nhã nhặn như cặp đôi lý tưởng trong phim truyện, trong tiểu thuyết, cả hai đều sống như người trong mộng của nhau, nhưng một thời gian sau đã quen mặt quen người thì họ lại hiện ra đúng cái tôi đời thường của họ, chàng và nàng cũng biết nói dối, nói ngang như cua bò, cũng … ”hoa Cẩm Chướng” như ai, và thế là “hoa Cẩm Chướng” lại nở trong nhà, lại nở quanh năm…

Họ chướng tai gai mắt nhau, bất đồng nhau có khi còn nhiều hơn người chồng cũ, người vợ cũ mà họ đã chia tay. Và có những cố nhân thương hoài ngàn năm của thời xuân xanh ai đó biết đâu cố nhân ấy đang là người chồng, người vợ dở hơi chán mớ đời, đang là “hoa Cẩm Chướng” không trồng mà mọc trong nhà của kẻ khác.

Cầu cho kiếp sau họ không gặp lại cố nhân.

Cầu cho kiếp sau những lời hẹn thề chung đôi không thành sự thật để họ sẽ mãi là cố nhân của nhau, cho cuộc sống trần trụi đời thường có chỗ thăng hoa niềm mộng mơ lãng mạn, cho ân tình không trọn vẹn sẽ đẹp mãi đến ngàn sau.

Chị Bông lại lên tiếng với anh Bông:

– Em chợt nhớ ra bài báo mới đọc trên net hôm qua làm em chạnh lòng…

– Bà lại thương vay khóc mướn gì thế?

– Lần này em không dở hơi đâu, em thương và khóc cho mình đó anh. Bài báo nói về nỗi cô đơn của người già trong nursing home. Em sợ cô đơn và sợ… ma nữa, không dám ở trong nursing home một mình…

Chị Bông nài nỉ:

– Bất cứ ông già bà cả nào dù có nhà riêng, có tiền của trong tay cũng không thể tự chăm sóc bản thân mình khi già khi bệnh, con cháu thì có cuộc sống riêng và bận rộn riêng của chúng nó nên nursing home là mái nhà sau cùng cho tuổi già khi ta sức tàn lực cạn. Về già vợ chồng mình cùng vào nursing home anh nhé, hai vợ chồng sẽ ở chung một phòng…

– Trời… tới lúc ấy bà cũng… chưa buông tha tôi hả? hả?…

Chị Bông vội vàng xuống giọng:

– Em hứa sẽ thay đổi tính nết, không ngang tàng như bây giờ. Em sẽ không đòi để đèn sáng khi đi ngủ vì sợ ma làm cho anh chói mắt bực mình và trằn trọc cả đêm, em sẽ không mở nhạc tình cảm êm dịu để ru em ngủ nhưng lại làm anh điếc tai và mất ngủ, em sẽ không…

Anh Bông có vẻ thương cảm ngần ngừ:

– Thôi đủ rồi… để tới lúc đó hãy tính, với lại bà đã già khú đế, đã lú lẫn thì biết gì đèn sáng hay đèn tắt, biết gì nhạc tình cảm du dương nữa chứ…

Chị Bông hỏi tiếp:

– Thế còn chuyện… về bên kia thế giới anh có chịu nằm cạnh em không?

– Nhất định là không…

– Vậy em sẽ không đặt mua hai lô mộ phần giá rẻ, phải không?

– Nhất định là không.

Chị Bông khẽ thở dài, không vì trách chồng từ chối chung đôi nơi suối vàng mà vì… tiếc món hàng rẻ không được mua.

Chị an ủi là biết đâu sau này anh Bông sẽ cùng chị vào ở nursing home cho đỡ tủi cái thân gìa…

Chị ra ghế sofa ngồi, chẳng biết làm gì chị liền lấy tờ báo Việt ngữ nằm chơ vơ trên bàn ra đọc.

Một mục cảm tạ cáo phó đập ngay vào mắt chị Bông: ”Gia đình chúng tôi xin cảm tạ các chú bác họ hàng, các bạn hữu đã tiễn đưa linh cửu mẹ chúng tôi là bà quả phụ Nguyễn thị Hoa Hòe đến nơi an nghỉ cuối cùng tại nghĩa trang…”

Như vậy là người chồng đã mãn phần rồi, bây giờ đến lượt bà vợ.

Chị bỗng bâng khuâng và tò mò tự hỏi không biết bà Nguyễn Thị Hoa Hòe có từng là “hoa Cẩm Chướng” trong nhà không? và ông chồng có là “hoa Cẩm Chướng” của đời bà không? hai vợ chồng nhà này có bất đồng nhau không?

Mỗi người sẽ yên nghỉ một cách hay họ vẫn kiên nhẫn nằm song song chung đôi hai mộ phần cho đẹp mặt với thiên hạ và vừa lòng con cháu ?

Nguyễn Thị Thanh Dương


 

Nguyễn Phú Trọng: Một cuộc đời thất bại-JB Nguyễn Hữu Vinh-Blog RFA

Ba’o Tieng Dan

Blog RFA

JB Nguyễn Hữu Vinh

25-7-2024

Cái chết không bất ngờ

Cuối cùng thì cái chết cũng đến với ông Nguyễn Phú Trọng, kết thúc câu chuyện của thiên hạ cứ đồn đoán, suy diễn, theo dõi rồi các loại tin tức về sức khỏe của một “đầy tớ nhân dân” mà như chuyện trên cung trăng vậy. Ngày mai, ông Nguyễn Phú Trọng về với ba tấc đất, khỏi phải cố bám vào cái ghế bằng mọi cách ở cái tuổi cổ lai hy và sức khỏe cứ leo lét như đèn trước gió để chống lại cái bọn “tham quyền cố vị” leo vào trung ương đảng như lời ông ta đã hò hét bấy lâu nay.

Trước ngày “Quốc tang”, báo chí Việt Nam mấy hôm nay đã tổ chức tang lễ trên mặt báo cho ông Nguyễn Phú Trọng bằng đủ mọi bài viết, hình ảnh, lời lẽ mà qua đó, họ cố tình mô tả ông Nguyễn Phú Trọng về một con người, nhân cách, tình cảm… rồi thì thành quả, thắng lợi, di sản… đủ cách theo truyền thống cộng sản xưa nay. Điều gì thì không thể nói mạnh, chứ riêng việc ca ngợi, nịnh hót thì những người cộng sản là bậc thầy thiên hạ, dù họ luôn mồm kêu “Quét sạch Chủ nghĩa cá nhân”.

Hẳn nhiên là ai cũng biết rằng cái người Cộng sản nói với cái người Cộng sản làm là hai lĩnh vực hoàn toàn khác, thậm chí ngược nhau.

Thế nên, việc dàn báo chí đảng được lệnh rền rĩ mấy ngày nay trên mặt trận truyền thông, cho thấy rằng đảng đã cố gắng bằng mọi cách dựng lên một hình ảnh, một thần tượng để may ra vuốt mặt cho đảng đôi chút. Nhưng, nói, không thể làm thay đổi được một thực tế: Nguyễn Phú Trọng là một nhân vật điển hình cho sự thất bại, mọi mặt và mọi thời gian của cá nhân ông ta nói riêng và của Đảng CSVN nói chung.

Thất bại ở mọi lĩnh vực

Có lẽ, nhắc đến ông Nguyễn Phú Trọng, người ta nhắc đến chuyện đốt lò, chuyện “Chống tham nhũng”. Nó như một cái thương hiệu, như một nhiệm vụ tự ông ta đặt cho mình trong suốt thời gian leo lên đến những chiếc ghế quyền lực nhất trong hệ thống.

Tuy nhiên, người ta cũng nhắc đến Nguyễn Phú Trọng với một thời gian dài phụ trách Văn Hóa – Tư Tưởng, rồi chức vụ Phó rồi Trưởng Ban Lý luận Trung ương. Rồi Phó Bí thư, rồi Bí thư Thành ủy Hà Nội hai khóa liền. Không chỉ thế, ông ta còn là người đứng đầu Quốc hội và một thời gian giữ luôn chức Chủ tịch nước sau khi Trần Đại Quang đột tử.

Vậy thiên hạ nhớ về Nguyễn Phú Trọng qua những điều gì với các lĩnh vực đã làm?

Trước hết, cách đây đã 36 năm, với các cương vị phụ trách lĩnh vực Tư tưởng, Văn Hóa của Đảng, nhưng Nguyễn Phú Trọng đã không có dấu ấn gì trong lĩnh vực này nhằm tạo nên sự mạch lạc, rõ ràng về những vấn đề tư tưởng hay những nét đặc trưng nào về văn hóa để đảng lấy làm phương hướng lãnh đạo. Vẫn cứ dừa dựa những câu nói sáo rỗng và vô nghĩa nào là “đậm đà bản sắc dân tộc” mà người ta chẳng rõ cái bản sắc đó là gì? Còn cái gọi là “Văn hóa mới” rồi cụm dân cư “văn hóa” từ làng đến tổ dân phố, phường xã… ngày nay chỉ là chuyện tào lao. Đến nay, sau 36 năm kể từ khi ông ta phụ trách và lãnh đạo.

Ngày nay, nhìn lại đất nước Việt Nam trên mọi mặt thuộc lĩnh vực văn hóa, người ta nói một câu rất tổng quát và chính xác, đó là sự suy đồi. Sự suy đồi không hoàn toàn chỉ một lĩnh vực mà trong mọi mối quan hệ xã hội, thói quen, cách hành xử của người Việt đã dần xa lạ với truyền thống văn hóa được xây dựng, gìn giữ và xây đắp từ ngàn năm trong lịch sử dân tộc.

Mới đây, Bộ Văn Hóa phải xin khoản kinh phí 350.000 tỷ đồng để chấn hưng văn hóa là một minh chứng điển hình cho cái “Di sản” của ông Nguyễn Phú Trọng về văn hóa.

Đó là một thất bại.

Về Tư tưởng, với cách bám lấy bằng được vào Chủ nghĩa Mác – Lenin – Thứ mà thiên hạ vứt vào sọt rác lịch sự gần hai thế hệ nay bởi sự nguy hại của nó – bởi Đảng CSVN hết chỗ để nhờ dựa mà không có khả năng để tự trang bị cho mình một hệ tư tưởng, một chủ nghĩa mới nào khác.

Với chức vụ là Trưởng Ban Lý luận Trung ương, ông Nguyễn Phú Trọng có nhiệm vụ xây dựng hệ thống lý luận của đảng về phương hướng, đường lối, tư tưởng và lý thuyết về hệ thống chính trị hiện nay.

Tuy nhiên, ông ta đã “bó tay” khi thừa nhận rằng “Đến cuối thế kỷ này chưa chắc đã có Chủ nghĩa Xã hội” đã đành, mặt khác, ông cũng không thể định nghĩa xem cái Chủ nghĩa Xã hội mà đảng dẫn cả đất nước “tiến nhanh tiến mạnh, tiến vững chắc” lên đó, nhưng đến bây giờ vẫn chưa biết mặt ngang, mũi dọc của nó ra sao. Không chỉ có Chủ nghĩa xã hội, mà ngay cả “Con đường quá độ đi lên CNXH” mà đảng dẫn dân đi gần thế kỷ, nay cũng chưa biết nó là con đường gì.

Cái Chủ nghĩa Mác – Lenin, lấy giai cấp công nhân làm nòng cốt, là giai cấp tiên phong mà đảng là đội quân tiên phong trong đó… đã dần dần bị chính đảng CSVN phản bội. Chứng cứ là giai cấp công nhân ngày nay, chỉ còn là khái niệm của đảng và trong thực tế thì là đối tượng để đảng kết hợp với “bọn tư bản” bóc lột chính giai cấp mình.

Trước sự khủng hoảng về tư tưởng, đường lối, Đảng CSVN đã hoảng loạn và vơ váo bất cứ thứ gì miễn vá víu có lợi cho sự tồn tại của đảng. Ở đó mọi thứ hầm bà lằng, kể cả đi ngược với giáo lý Phật giáo, cũng được nhét vào cái gọi là Giáo Hội Phật giáo Việt Nam – một tổ chức quốc doanh, do nhà nước vô thần khuynh loát – và nó đã ngay lập tức thể hiện cái “tính đảng” của nó với đủ mọi thứ thối tha, bẩn thỉu của nó ẩn phía trong.

Các đảng viên mất niềm tin vào Chủ nghĩa Mác vô thần, đã vơ váo vào bất cứ điều gì khả dĩ có thể làm họ yên tâm sau những hành động tội ác về tham nhũng, về những hậu quả đã gây ra cho xã hội, cho đất nước.

Thậm chí, ngay cả bản thân Nguyễn Phú Trọng cũng đã thấy sự hoang mang và lúng túng cho chính bản thân mình về vấn đề tư tưởng. Điển hình là dù luôn cao giọng rằng: “Làm người, hãy là người Cộng sản”. Thế nhưng, những hình ảnh bị lộ ra đã cho thấy chính bản thân ông ta đã từ bỏ tư tưởng Cộng sản vô thần để “quy y cửa Phật” và được “làm phép” bởi sư quốc doanh Thích Thanh Quyết.

Đó là chưa nói đến những vấn đề lý luận cao siêu mà người dân đánh giá rất nhanh gọn về nó bằng cách phong tặng danh hiệu “Ủy Ban Lú lẫn Trung ương” còn người đứng đầu, được tặng xú danh “Trọng Lú”.

Đó là một thất bại nữa của Nguyễn Phú Trọng.

Ngay từ khi chiếm được cái ghế Tổng bí thư, điều mà người ta thấy ông ta quan tâm nhất và nói đến nhiều nhất là Chống tham nhũng. Để rồi từ đó đội ngũ thợ nịnh, đội ngũ tuyên truyền bốc thơm sáng tác ra cho ông ta các danh hiệu như “Người đốt lò” rồi chuyện củi tươi, củi khô… cùng với những phát ngôn mà nhiều khi nếu ai ngẫm kỹ thì chẳng hiểu nó đi theo hướng nào.

Nào là “không có vùng cấm, bất kể là ai”, nào là “Đánh chuột mà không để vỡ bình” rồi đến khi bắt bớ loạn xà ngầu không đủ cán bộ để làm việc thì lại trở giọng rằng “Nhân văn”, rằng thì “dính chàm thì xin nghỉ đi, hoặc trả lại tiền đi tôi tha cho, hoặc xử nhẹ cho”…

Nhưng, qua một quá trình dài hơn chục năm, điểm lại thành quả của cái gọi là “Chống tham nhũng” đó, người ta mới giật mình kinh sợ. Con số tổng kết của đảng đưa ra, chỉ có 10 năm dưới triều đại Nguyễn Phú Trọng, có 169.000 đảng viên bị kỷ luật, hàng chục, hàng trăm ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Trung ương, tướng tá và cán bộ đủ các cấp vào tù. Và những năm gần đây, mỗi năm, có khoảng vài chục ngàn đảng viên tiếp tục bị kỷ luật.

Chúng ta nên nhớ rằng: Con số đảng viên bị kỷ luật, chỉ là một phần nổi rất nhỏ của tảng băng chìm khối đảng viên băng hoại về mọi mặt trong đảng. Một đảng viên bị kỷ luật, nghĩa là có hàng chục đảng viên bị phát hiện và một đảng viên bị phát hiện, cũng có nghĩa là có hàng chục đảng viên “chưa bị lộ”. Điều đó cho thấy rằng nói: Một bộ phận “không nhỏ” trong đảng là những kẻ suy đồi, hư hỏng, cũng có nghĩa là số lớn trong đảng đã hư hỏng, suy đồi.

Và một đảng, chứa trong đó số lớn là suy đồi, là hư hỏng, là cướp trộm, tham ô, hủ hóa… thì đó là băng cướp, băng nhóm mafia chứ không thể coi là một đảng bình thường.

Chính vì thế, nạn tham nhũng càng ngày càng như căn bệnh ung thư di căn đi khắp cơ thể hệ thống chính trị. Liên tiếp hàng loạt những cuộc bắt bớ từ Nam đến Bắc, từ trung ương đến địa phương. Mà đã bắt là bắt cả ổ, cả cụm, cả lô từ lớn đến bé, từ Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch Tỉnh đến Giám đốc, Phó Giám đốc sở, huyện… Chỉ riêng ngành Đăng kiểm qua một vụ bắt bớ, thì câu nói của Nguyễn Sinh Hùng được xác nhận là đúng: Lấy đâu người mà làm việc.

Người ta thấy hình ảnh của hệ thống này như một thây ma đã thối rữa và nhung nhúc trong đó là những đống dòi bọ, hễ đụng đến đâu là đổ ra từng đống dòi bọ, sâu mọt ở đó. Cả cơ thể không còn một chỗ nào lành lặn, từ Trung ương, từ các Ủy viên Bộ Chính trị cho đến những tên cán bộ tép riu ở thôn quê miền núi. Tất cả lao vào trào lưu tham nhũng không thể dừng lại.

Con số tiền của mà đám cán bộ ăn cướp từ ngân sách, từ tiền dân tăng lên theo cấp số nhân của những vụ án tham nhũng, từ tiền triệu, rồi trăm triệu và bây giờ là hàng ngàn tỷ đến triệu tỷ.

Những đại án như Việt Á, Chuyến bay Giải cứu, đều xuất phát và được triển khai nhanh chóng ngay dưới sự lãnh đạo sáng suốt và tài tình của Nguyễn Phú Trọng đang gay gắt hò hét chống tham nhũng. Cả những đại án lâu năm như Vạn Thịnh Phát, cũng phát sinh và lớn mạnh” dưới triều đại Nguyễn Phú Trọng. Tham nhũng từ hiện tượng đã trở thành “Quốc Nạn” và cho đến khi trở thành chuyện bình thường trong xã hội, trong hệ thống chính trị.

Đến tận khi chết, thì chính Nguyễn Phú Trọng đã giơ tay đầu hàng nạn tham nhũng ở đây. Những câu nói về “nhân văn” xử nhẹ, tha thứ… chỉ là những biểu hiện bất lực của cái gọi là chống tham nhũng, chỉ để chữa ngượng vì đã trót hò hét kiên quyết, triệt để, không có vùng cấm, bất kể ai hay củi khô củi tươi mà ông ta đã trót nói ra trong suốt quá trình đó.

Bởi làm sao chống được tham nhũng khi chính hệ thống chính trị này là nguồn gốc của sự nảy sinh ra tham nhũng. Khi quyền lực tuyệt đối, thì sự tha hóa cũng là tuyệt đối.

Tất cả những đảng viên khi bắt đầu phấn đấu để vào đảng thì mục đích của nó là để có cơ hội có chức, có quyền, và có cơ hội tham nhũng. Đó là một quy luật. Chừng nào, mà đảng còn cố bám vào quyền lực để  lấy làm mồi câu các quần chúng theo đảng, thì chừng đó, chuyện tham nhũng là quy luật và chống tham nhũng là chuyện nực cười.

Và thế là xuất hiện ca dao mới:

Ông Trọng có lò mới xây
Ông đem ông đốt những cây ông trồng
.

Đó là thất bại lớn nhất của Nguyễn Phú Trọng.

Rồi thời gian qua đi, người ta mới thấy một điều: Vẫn giữ những sự giáo điều, cổ hủ với cái tư tưởng Mác – Lenin, Nguyễn Phú Trọng chỉ nhăm nhăm việc bảo vệ đảng, bảo vệ quyền lợi của đảng cai trị trên đầu trên cổ nhân dân. Từ chính trị đến kinh tế từ đất đai, tài sản cho đến tinh thần, tư tưởng, quyền con người của người dân, tất cả đều bị coi rẻ dưới bàn tay Nguyễn Phú Trọng.

Chưa có thời nào mà những người bất đồng chính kiến bị bắt bớ, tù đày giam hãm nhiều như dưới thời Nguyễn Phú Trọng.

Chưa có thời nào, mà quyền mở miệng của người dân bị chặn một cách tuyệt đối như thời Nguyễn Phú Trọng.

Chưa có thời nào, mà dân quyền, nhân quyền bị chà đạp, văn hóa, tình người bị coi thường, coi rẻ, tệ nạn từ ma túy đến mại dâm cờ bạc, tham nhũng, cướp bóc của người dân nở rộ và đều đặn phát triển như dưới thời Nguyễn Phú Trọng.

Chưa có thời nào, mà hệ thống nhà tù của đảng chứa nhiều “cựu đảng viên” như hiện nay. Ở đó, có đủ một bộ máy khổng lồ, hoàn chỉnh từ thấp đến cao cho một chính phủ nếu cần thiết. Đi kèm vớ hệ thống tù nhân “Cựu đảng viên” này, là ngân khố đã thâm hụt hàng triệu, chục triệu tỷ đồng tiền máu xương của người dân. Đó là kết quả của hơn chục năm đứng đầu đảng để kiên quyết lựa chọn những người “có tài, có đức” vào đảng, vào trung ương của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Đó cũng là điển hình cho sự thất bại của cuộc đời Nguyễn Phú Trọng.