Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm

 Chính trị Phi Luật Tân: Xoay 360 độ sau 36 năm

18/05/2022

Ông Ferdinand “Bongbong” Marcos Jr.

Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng?

Vào cuối tháng Hai năm 1986, nhà độc tài Ferdinand Marcos Snr. phải lánh nạn sang Hawaii sau khi Mỹ, qua lập trường của Tổng thống Ronald Reagan, không còn ủng hộ sự cai trị của Marcos tại Phi Luật Tân. Marcos đã cai trị nước Phi hơn 20 năm, từ năm 1965 đến 1986, trong đó 9 năm, từ 1972 đến 1981, đã nằm dưới thiết quân luật. Thượng Nghị sĩ Paul Laxalt, một chính trị gia thân cận với Reagan, tư vấn cho Marcos là nên “dứt và dứt sạch” (cut and cut cleanly). Marcos mang theo vợ, hai con cùng với tài sản khổng lồ, gồm hàng trăm triệu tiền mặt, vàng bạc châu báu, được phi cơ của Không quân Mỹ chở đi. Một trong hai người con, có cùng tên cha, là Ferdinand Romualdez Marcos Jnr., biệt hiệu Bongbong, lúc đó 28 tuổi. Nước Phi kể từ đó đã bước sang một giai đoạn mới, sáng sủa hơn, bớt tham nhũng và độc tài hơn. Người Phi, nhất là phong trào dân chủ, tin rằng thời đại Marcos đã ra đi vĩnh viễn, nhường chỗ cho sự chuyển tiếp sang nền dân chủ.

Nhưng đúng 30 năm sau, vào tháng Năm năm 2016 người Phi đã bầu chọn Rodrigo Duterte lên làm Tổng thống thứ 16. Về mặt hình thức, nền dân chủ của Phi vẫn còn đó, nhưng về mặt pháp quyền (rule of law), Duterte đã đứng trên luật trong suốt 6 năm qua để cai trị nước Phi. Ngày 9 tháng Năm năm 2022 vừa qua, người con trai đã cùng cha mình chạy trốn khỏi nước Phi 36 năm về trước đã được người Phi bầu chọn làm Tổng thống thứ 17. Con gái của Duterte, Sara Duterte, liên minh với Marcos trong cuộc bầu cử này, sẽ làm Phó Tổng thống. Tuy kết quả bầu cử chưa chính thức công bố, kết quả đăng trên tờ Rappler cho biết, với tổng số phiếu đếm đến nay là 98.35%, Marcos được hơn 31 triệu phiếu, chiếm 58.74%; và Sara Duterte cũng hơn 31 triệu phiếu bầu cho Phó Tổng thống, chiếm 61.29%.

Kết quả cuộc bầu cử tháng 5 vừa qua không có gì lạ. Thật ra nó chỉ phản ánh văn hóa chính trị và tư duy của người Phi về mẫu người lãnh đạo được người dân tại quốc gia này chọn. Một, quyền lực chính trị tại Phi phần lớn bị thao túng bởi những gia đình quyền thế, không nằm trong tay người dân. Hai, truyền thông xã hội ngày càng đóng vai trò quan trọng trong quyết định của lá phiếu cử tri tại Phi. Ba, lịch sử đóng vai trò then chốt trong mọi xã hội, do đó không nắm vững lịch sử thì mọi quyết định hiện tại sẽ bị định hình bởi cuộc chiến thông tin gia. Kết quả có khi đi rất xa, và thụt lùi, chứ không nhất thiết là tiến bộ.

Trước hết, câu hỏi cần đặt ra là làm thế nào con của một nhà độc tài từng lánh nạn sang quốc gia khác có thể trở lại Phi để tham chính và bây giờ trở thành tổng thống?

Sau khi Marcos chết tại Hawaii năm 1989, vợ và hai con Marcos được cho hồi hương năm 1991, và sau đó cả ba người đều được tham chính.

Ngược thời gian, trong lúc Marcos Snr. làm tổng thống hơn hai thập niên, ước đoán khoảng 10 tỷ đô la bị biển thủ. Ngoài tham nhũng cửa quyền, chế độ Marcos đã bỏ tù, tra tấn, giết hại, và thủ tiêu vài chục ngàn người, như Ân xá Quốc tế hay nhiều tổ chức nhân quyền khác ghi nhận. Sáu năm cầm quyền dưới thời Duterte, chính quyền Phi chính thức ghi nhận hơn 6,200 người bị giết hại trong cuộc chiến chống ma tuý (war on drugs). Con số gần với sự thật hơn nằm giữa 8,000 đến 30,000, theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền. Duterte đã từng nói những câu hàm ý khuyến khích lực lượng an ninh, cảnh sát bắn giết càng nhiều càng tốt, và ông sẽ bảo vệ họ. Khi làm thị trưởng Davao, Duterte đã hình hành toán đặc nhiệm có tên Đội Tử thần Davao (Davao Death Squad/DDS) để truy lùng và thủ tiêu những ai nằm trong danh sách của Duterte. Ngay cả khi những người đứng đầu hay từng tham gia DDS, như Arturo Lascañas hay Edgar Matobato ra truy tố Duterte là chủ mưu đằng sau, với nhiều bằng chứng mà chỉ có người tay trong mới biết được, thế mà dân Phi vẫn bầu và vẫn tiếp tục ủng hộ Duterte làm tổng thống. Không những thế, vào cuộc bầu cử giữa nhiệm kỳ diễn ra năm 2019, Duterte được sự ủng hộ mạnh mẽ, gần 80% dân Phi, đến độ phía đối lập không có một người thắng ghế thượng viện, một kỷ lục chính trị trong 80 năm. Khi gần hết nhiệm kỳ, với bao nhiêu tai tiếng về cuộc chiến chống ma tuý, Duterte vẫn được 67% dân Phi ủng hộ.

Điều này cho thấy một quốc gia chìm đắm trong nhiều vấn nạn xã hội, đặc biệt là tội phạm ma tuý, và một nền kinh tế què quặt bị thao túng bởi tập đoàn tài phiệt cấu kết với ngoại bang như Trung Quốc, thì mối lo canh cánh hàng đầu của người dân vẫn là sự sống còn: vật chất và an ninh. Bất chấp lãnh đạo có trực tiếp hay gián tiếp giết ai, có bàn tay nhuốm máu ra sao, phần lớn người Phi không quan tâm, và không thấy quan trọng ưu tiên. Người Phi sẵn sàng bỏ phiếu cho những lãnh đạo họ nghĩ là mạnh mẽ (strongman). Phần lớn tin rằng chỉ có những người mạnh mẽ như Duterte hiện nay, hay Marcos trước đây, mới có thể điều hành lãnh đạo quốc gia để đối phó giải quyết vấn nạn xã hội, đất nước. Thật ra thì một phần vì họ tin, nhưng phần khác họ bị tuyên truyền và định hướng để tin tưởng và ủng hộ như thế. Những Strongmen này cam kết giải quyết vấn nạn ma tuý trong nhiệm kỳ của họ, hay chấm dứt nghèo đói và bất công; họ hứa hẹn chấm dứt quân phiến loạn, khủng bố và cộng sản ở phía Nam của nước Phi (Mindanao). Chỉ có điều khi Strongman còn tại chức, người dân vẫn khốn khổ. Và khi ra đi thì cái gốc vấn đề vẫn còn nguyên. Sau đó khi đến cuộc bầu cử khác thì vẫn chỉ là những sự hứa hẹn khác hoặc mới được ban ra.

Những người có thể mang lại thay đổi và dân chủ, như Phó Tổng thống và là ứng viên Maria Leonor Robredo, thì cũng chỉ được gần 15 triệu phiếu, chưa bằng phân nửa của Marcos Jnr.

Làm thế nào mà người dân Phi cứ bị các chính trị gia như Duterte hay Marcos qua mặt mãi?

Câu trả lời có thể tóm gọn vào hai chữ: thông tin/tuyên truyền. Dưới thời Marcos, khi lẽ ra ông phải ra đi sau hai nhiệm kỳ (nay theo hiến pháp mới chỉ còn một nhiệm kỳ 6 năm), thì Marcos kéo dài sự cai trị của mình bằng cách ban hành thiết quân luật, kéo dài 9 năm. Truyền thông tự do là nạn nhân đầu tiên. Duterte cũng dùng thủ thuật tấn công bất cứ cơ quan truyền thông nào phê bình ông, và tuyển mộ dư luận viên trên mạng truyền thông xã hội để định hướng dư luận. Maria Ressa, người sáng lập và điều hành truyền thông Rappler, được giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2021, đóng vai trò trụ cột trong việc thực hiện ba tập phúc trình mang tên “Chiến tranh tuyên truyền: Vũ khí hóa Internet.” (Propaganda War: Weaponizing the Internet, Phần 1, 2 và 3). Phúc trình này báo cáo chi tiết hành động của Tổng thống Duterte và những người ủng hộ ông đã huy động đội quân troll được trả tiền để bịt miệng những người chỉ trích, đe dọa đối thủ và phát tán thông tin sai lệch trực tuyến. Những cơ quan truyền thông độc lập đưa thông tin về bầu cử Phi năm 2022 bị tấn công mạnh mẽ. Những cuộc tấn công trực tuyến gọi những phóng viên này bằng những ngôn từ thô tục như “bayaran”, tức những người xâm nhập vào tài khoản người khác được trả lương, hay “presstitute”, tức những con điếm truyền thông. Ressa cũng bị tấn công, và mục tiêu là để những người như Ressa và những truyền thông như Rappler im lặng, không dám lên tiếng nữa.

Tấn công truyền thông và giới ký giả độc lập thôi vẫn chưa đủ để tạo ảnh hưởng và thuyết phục. Bước kế tiếp của Marcos Jnr., trong vài năm qua, là nhắm vào mục tiêu thay đổi lịch sử để nắm bắt hiện tại và định hướng tương lai.

Hiện nay Phi có 67 triệu người lớn, tức 18 tuổi trở lên, trong dân số 112 triệu. Khoảng một nửa dân số sinh sau năm 1986. Nhắm vào thành phần trẻ, và bằng cách kể câu chuyện khác đi, biến đổi những tự sự (narrative), để thu phục được sự ủng hộ của họ, là bí quyết thành công của Marcos. Marcos Jnr. làm đúng như vậy. Muốn nhắm vào thế hệ trẻ thì không thể bỏ qua truyền thông xã hội. Marcos đã tuyển dụng đội ngũ dư luận viên của mình tôn vinh những thành tựu thời của bố ông, Marcos Snr., người có viễn kiến của một Xã hội Mới, bởi vì Marcos từng tuyên bố sẽ chấm dứt nghèo đói và bất công. Cho nên lịch sử được viết lại rằng kỷ nguyên Marcos là thời đại của sự tiến bộ và thịnh vượng, mang lại một cuộc sống mới. Tự sự mới bỏ qua nạn tham nhũng và xâm phạm nhân quyền nghiêm trọng thời đó. Nó được lan truyền trên các nền tảng như YouTube, nơi khá phổ biến trong giới trẻ, cũng như những người có thể truy cập miễn phí trên điện thoại của họ. Rappler đã theo dõi kỹ đường đi nước bước này trước khi Duterte lên nắm quyền. Cách đây 2 năm rưỡi, một bài viết trên Rappler nhận định rằng “Một lượng lớn thông tin tuyên truyền và thông tin sai lệch được tạo ra và khuếch đại bởi một mạng lưới rộng lớn gồm các trang web, các trang và nhóm Facebook, các kênh YouTube và những người có ảnh hưởng trên mạng xã hội dường như là một phần của chiến dịch có hệ thống nhằm đánh bóng hình ảnh của giòng họ Marcos và sửa soạn cho họ sự trỗi dậy thêm nữa trong chính trị Phi.” Tuy những nhận định của các ký giả Rappler đúng đắn, cuối cùng đa số người Phi cũng chọn Strongmen như Marcos.

Tóm lại, vấn đề chính của nước Phi là các thế tộc quyền lực tiếp tục thao túng nền kinh tế và chính trị tại đây, không mong muốn sự cải tổ nào để bị mất đi quyền lợi của họ. Giáo sư Sheila S. Coronel viết trên Foreign Affairs ngày 5 tháng Năm biện luận rằng thành phần quyền thế này chỉ muốn tiếp tục hưởng lợi (rent-seeking). Rent seeking có nghĩa là bằng cách thực tế hoặc thực hành thao túng chính sách công hoặc các điều kiện kinh tế như một chiến lược để tăng lợi nhuận.

Những điều trình bày về văn hóa và chính trị Phi ở trên dường như vẫn thật khó hiểu. Có lẽ khi có cơ hội đến nước Phi để sống và cảm nhận về người Phi, trải nghiệm thực tế đó mới giúp cho chúng ta thấu hiểu hơn chăng? Người Phi khá thật thà dễ thương và chịu đựng. Có lẽ sẽ mất nhiều thế hệ và hy sinh để chuyển đổi và củng cố nền dân chủ tại đây. Với 6 năm tới khi hai người con của các nhà độc tài nắm quyền tại đây, tiến trình dân chủ hóa của Phi Luật Tân chắc còn nhiều căm go, thử thách hơn nữa.

 

11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG

11 CÂU NÓI KHIẾN BẠN NGỘ RA GIAO TIẾP LÀ MỘT “NGHỆ THUẬT” TRONG CUỘC SỐNG

  1. Người dại nói chuyện bằng miệng, người thông minh nói chuyện bằng đầu. Còn người trí tuệ nói chuyện bằng trái tim
  2. Người ta ít quan tâm bạn vất vả ra sao, đã làm việc như thế nào, bạn nói gì… Họ quan tâm nhiều hơn tới những gì bạn đạt được. Vì thế, hãy cứ im lặng và để thành công nói thay lời bạn.
  3. Không tranh cãi với kẻ ngốc, nếu tranh cãi với kẻ ngốc thì rốt cuộc sẽ không biết ai mới là kẻ ngốc.
  4. Tất cả những gì một ai đó làm cho bạn đều hàm chứa chi phí cơ hội, nghĩa là nếu anh ta đã dành thời gian trong ngày của mình để tiếp bạn thì phải có điều gì đó anh ta đã không làm cho chính mình. Hãy biết ơn vì điều đó.
  5. Nói là một loại năng lực, còn im lặng là đỉnh cao của trí tuệ.
  6. Hạn chế tranh cãi với người khác. Trong cơn giận, con người ta rất đáng sợ.
  7. Trong cuộc giao tiếp của hai con người, tình cảm chiếm 70%, 30% là nội dung. Nếu như giao tiếp tình cảm không ổn thì nội dung sẽ trở nên méo mó. Vậy nên trước khi giao tiếp nội dung, phải chăm chút thật kỹ phương diện tình cảm.
  8. Giao tiếp đừng mong lợi mình, vì lợi mình thì mất đạo nghĩa.
  9. Dở nhất trong cái đạo xử thế là không thấy cái lỗi của mình.
  10. Nếu muốn thông minh bạn hãy học cách hỏi hợp lý, cách nghe chăm chú, cách trả lời thông minh, và ngừng nói khi không còn gì nói nữa.
  11. Không biết mà nói là ngu; biết mà không nói là hiểm.

Sưu Tầm .

EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)

EM LỚN LÊN…THƠ NGUYỄN THÙY LINH (Ở TRONG NƯỚC)

Em lớn lên đất nước đã “yên bình”,

Không tiếng súng, đạn bay hay pháo nổ,

Chẳng còn cảnh những người dân đói khổ,

Ăn bo bo độn khoai sống qua ngày.

Em yêu Bác với trái tim thơ ngây,

Em yêu Đảng với tâm hồn khờ dại.

Yêu tất cả những gì là “vĩ đại” !

Mác-Lê Nin soi sáng lối em đi…

Nhưng từ khi tuổi mười tám qua đi,

Em ngỡ ngàng hiểu ra bao sự thật,

Những trang sử hào hùng vào bậc nhất,

Là trò lừa của thế kỷ mà thôi !

Đất nước này ngày càng thấy xa xôi,

Khi quyền lực không thuộc về dân chúng,

Khi Đảng nắm trong tay quyền tham nhũng,

Quyền hy sinh biển đảo của cha ông.

Đất nước này độc lập nữa hay không ?

Khi giặc Tàu tràn lên khắp bờ cõi,

Khi chính quyền chẳng buồn cất tiếng nói,

Chỉ ngồi im nhìn dân chúng lầm than.

Dân tộc này sinh khí đã tiêu tan,

Nợ chồng nợ dân ngóc đầu không nổi.

Quan tham lam dở toàn trò bỉ ổi,

Vẽ công trình, vẽ dự án mà xơi.

Rồi lòng dân oán hận khắp muôn nơi,

Đồng ngập mặn, biển phơi đầy xác cá,

Sông đã cạn và rừng thì hết lá,

Dân đói nghèo mà Đảng vẫn quang vinh !

Kẻ hiền tài bỏ đất nước điêu linh,

Đi tìm chốn yên bình nơi xứ lạ.

Kẻ ở lại lặng thinh như sỏi đá,

Ai cất lời Đảng đàn áp không tha.

Việt Nam ơi lịch sử ngàn năm qua,

Đổ máu xương giữ vẹn toàn đất nước.

Dù khó khăn vẫn tiến về phía trước,

Để bây giờ sông núi vọng ngàn xưa ?

(Fb Nguyễn Thuỳ Linh)

Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

Chau Nguyen Thi

Nguyễn Hiến Lê nói về việc đốt sách sau 1975

Việc đốt sách là một tội ác trước lịch sử. Nó không chỉ xảy ra dưới thời Tần Thủy Hoàng bên Tàu mà đã xảy ra ngay trên đất nước ta sau 1975. Ngọn lửa phần thư ngày ấy cháy bùng trên các đường phố Sài Gòn. Từng đoàn thanh niên nam nữ của chính quyền lùng sục vào các tiệm sách, nhà tư nhân thu hết sách đem tiêu hủy.

Học giả Nguyễn Hiến Lê một danh sĩ Miền Nam trong Hồi Ký của mình đã ghi lại hiện tượng đốt sách ngày ấy. Đoạn văn dưới đây được trích từ chương Văn Hóa của cuốn Hồi Ký Nguyễn Hiến Lê Tập III, từ trang 74 đến trang 80-Văn Nghệ xuất bản gợi cho người đọc bao nỗi khóc cười về một thời kỳ lịch sử.

Nguyễn Hiến Lê

Một trong những công việc đầu tiên của chính quyền là hủy tất cả các ấn phẩm (sách, báo) của bộ Văn hóa ngụy, kể cả các bản dịch tác phẩm của Lê Quí Ðôn, thơ Cao Bá Quát, Nguyễn Du; tự điển Pháp, Hoa, Anh cũng bị đốt. Năm 1976 một ông thứ trưởng Văn hóa ở Bắc vào thấy vậy, tỏ ý tiếc.

Nhưng ông thứ trưởng đó có biết rõ đường lối của chính quyền không, vì năm 1978, chính quyền Bắc chẳng những tán thành công việc hủy sách đó mà còn cho là nó chưa được triệt để, ra lệnh hủy hết các sách ở trong Nam, trừ những sách về khoa học tự nhiên, về kỹ thuật, các tự điển thôi; như vậy chẳng những tiểu thuyết, sử, địa lý, luật, kinh tế, mà cả những thơ văn của cha ông mình viết bằng chữ Hán, sau dịch ra tiếng Việt, cả những bộ Kiều, Chinh phụ ngâm… in ở trong Nam đều phải hủy hết ráo.

Năm 1975, sở Thông tin văn hóa thành phố Hồ Chí Minh đã bắt các nhà xuất bản hễ sách nào còn giữ trong kho thì phải nạp hai hay ba bản để kiểm duyệt: sau mấy tháng làm việc, họ lập xong một danh sách mấy chục tác giả phản động hay đồi trụy và mấy trăm tác phẩm bị cấm, còn những cuốn khác được phép lưu hành.

Nhưng đó chỉ là những sách còn ở nhà xuất bản, những sách tuyệt bản còn ở nhà tư nhân thì nhiều lắm, làm sao kiểm duyệt được? Cho nên sở Thông tin văn hóa ra chỉ thị cho mỗi quận phái thanh niên đi xét sách phản động, đồi trụy trong mỗi nhà để đem về đốt. Bọn thanh niên đó đa số không biết ngoại ngữ, sách Việt cũng ít đọc, mà bảo họ kiểm duyệt như vậy thì tất nhiên phải làm bậy. Họ vào mỗi nhà, thấy sách Pháp, Anh là lượm, bất kỳ loại gì; sách Việt thì cứ tiểu thuyết là thu hết, chẳng kể nội dung ra sao. Họ không thể vào hết từng nhà được, ghét nhà nào, hoặc công an chỉ nhà nào là vô nhà đó…

Lần đó sách ở Sài Gòn bị đốt kha khá. Nghe nói các loại đồi trụy và kiếm hiệp chất đầy phòng một ông chủ thông tin quận, và mấy năm sau ông ấy kêu người lại bán với giá cao.

Lần thứ nhì năm 1978 mới làm xôn xao dư luận. Cứ theo đúng chỉ thị “ba hủy”, chỉ được giữ những sách khoa học tự nhiên, còn bao nhiêu phải hủy hết, vì nếu không phải là loại phản động (một hủy), thì cũng là đồi trụy (hai hủy), không phải phản động, đồi trụy thì cũng là lạc hậu (ba hủy), và mỗi nhà chỉ còn giữ được vài cuốn, nhiều lắm là vài mươi cuốn tự điển, toán, vật lý… Mọi người hoang mang, gặp nhau ai cũng hỏi phải làm sao. Có ngày tôi phải tiếp năm sáu bạn lại vấn kế.

Mấy bạn tôi luôn nửa tháng trời, ngày nào cũng xem lại sách báo, thứ nào muốn giữ lại thì gói riêng, lập danh sách, chở lại gởi nhà một cán bộ cao cấp (sau đòi lại thì mất già nửa); còn lại đem bán kí lô cho “ve chai” một mớ, giữ lại một mớ cầu may, nhờ trời.

Một luật sư tủ sách có độ 2,000 cuốn, đem đốt ở trước cửa nhà, chủ ý cho công an phường biết. Rồi kêu ve chai lại cân sách cũng ngay dưới mắt công an.

Ông bạn Vương Hồng Sển có nhiều sách cổ, quý, lo lắng lắm mà cũng uất ức lắm, viết thư cho sở Thông tin văn hóa, giọng chua xót xin được giữ tủ sách, nếu không thì ông sẽ chết theo sách.

Một độc giả lập một danh sách các tác phẩm của tôi mà ông ta có trong nhà, đem lại sở Thông tin hỏi thứ nào được phép giữ lại, nhân viên Thông tin chẳng cần ngó tên sách, khoát tay bảo: Hủy hết, hủy hết.

Bà Ðông Hồ quen ông Giám đốc thư viện thành phố, bán được một số sách cho thư viện, tặng thư viện một số khác với điều kiện được mượn đem về nhà mỗi khi cần dùng tới.

Tôi nghe lời khuyên của một cán bộ Văn hóa, làm đơn xin sở Thông tin văn hóa cho tôi giữ tủ sách để tiếp tục làm việc biên khảo, đơn đó ông bạn cán bộ đem thẳng vô ông chủ sở, ông này chỉ đáp miệng rằng tôi là nhân sĩ thành phố, cứ yên tâm. Họ có thói việc lớn, việc nhỏ gì cũng không trả lời bằng thư, sợ lưu lại bút tích mà chịu trách nhiệm.

Ít tháng sau tình hình dịu lần rồi yên, không nhà nào bị kiểm kê, Chính quyền bảo để xét lại và một năm sau, nạn “phần thư” kể như qua hẳn (1). Tủ sách của tôi không mất mát gì cả, nhưng từ đó tôi không ham giữ sách nữa, ai xin tôi cũng cho.

Ngành báo chí và ngành xuất bản, chính quyền nắm hết vì coi đó là những công cụ giáo dục quần chúng, ở Sài Gòn chỉ thấy bán vài tạp chí Nga, Ba Lan, tư nhân muốn mua dài hạn phải đăng ký trước ở sở Bưu điện. Một người cháu tôi từ Pháp gởi về cho tôi một tờ Nouvel Oservateur (của khối cộng), số đó bị chặn lại. Nghe nói tờ Humanité của đảng cộng sản Pháp cũng không được bán trong nước. Tôi chưa thấy một cuốn sách Nga hay Trung Hoa nào bán ở Sài Gòn, trừ mấy cuốn về Lénine, về khoa học đã được dịch ra tiếng Việt, ở các thư viện Hà Nội có thể có sách bằng Nga văn hay Hoa văn nhưng chỉ cán bộ mới được phép coi, mà cán bộ trong ngành nào chỉ được coi về ngành đó thôi. Cũng có người đọc lén được.

Sau ngày 30-4-75, tôi muốn tìm hiểu cách mạng Nga từ 1917 đến 1945, nhờ mấy bạn cách mạng tìm sách cho, họ bảo chính họ cũng không được đọc vì không thấy một cuốn nào cả. Sau tôi mới biết rằng loại đó ngay ở Nga cũng không ai được phép viết. Như vậy kiến thức hạng trí thức ngoài đó ra sao, ta có thể đoán được. Một nhà văn hợp tác với viện khoa học xã hội lại nhờ tôi giới thiệu cho mươi nhà văn, học giả giỏi tiếng Anh và tiếng Việt để dịch cho viện bộ Bách khoa tự điển Anh gồm 25 cuốn, mà phải dịch gấp vì đó là chỉ thị của một ông “bự”. Tôi bảo có 50 nhà dịch cũng không nổi vì phải tạo hằng ức danh từ mới (riêng ngành Informatique trong 30 năm nay đã có một vạn thuật ngữ rồi); mà ví dụ có dịch nổi thì cũng phải mất ít nhất mười năm mới xong; xong rồi lại phải dịch lại hoặc bổ túc rất nhiều vì lỗi thời mất rồi: ở Anh, mỗi năm người ta sửa chữa, bổ túc, in lại một lần; rồi lại phải bỏ cả chục năm nữa, không biết có in xong được không. Xong rồi, bán cho ai, ai đủ tiền mua? Cán bộ Văn hóa vào hàng chỉ huy mà dốt tới mức đó!

Tháng 4-1980, có một thông cáo cấm kiều bào hải ngoại gởi một số đồ nào đó về cho thân nhân trong nước, như quần áo cũ, các thực phẩm đóng hộp, các thuốc tây không có prospecties cho biết cách dùng, trị bệnh gì…mà chỉ cho người ta một thời hạn không đầy một tháng để thi hành. Kẻ nào thảo thông cáo ra quyết định đó không hề biết rằng những gia đình có thân nhân là kiều bào ở những nơi xa xôi, hẻo lánh khắp thế giới, phải viết thư cho họ thì họ mới biết mà thi hành chỉ thị được; và ở thời này, thư máy bay từ Sài Gòn ra Hà Nội mất có khi một tháng (trường hợp của tôi), từ Sài Gòn qua Pháp, Gia Nã Ðại mất hai tháng, có khi bốn tháng. Báo chí vạch điểm đó ra cho chính quyền thấy, họ mới gia hạn cho thêm 5 tháng nữa. Trị dân mà không biết một chút gì về tình cảnh của dân cả. Họ có vận dụng trí óc của họ không?

Còn hạng nông dân ngoài Bắc thì khờ khạo, ngớ ngẩn so với nông dân trong này không khác gì một người ở rừng núi với một người ở tỉnh. Mấy anh bộ đội bị nhồi sọ, trước 1975 cứ tin rằng miền Nam này nghèo đói không có bát ăn, sau 30-4-75, vô Sài Gòn, lóa mắt lên, mới thấy thượng cấp các anh nói láo hết hoặc cũng chẳng biết gì hơn các anh.

Một anh bộ đội đi xe đò từ Long Xuyên lên Sài Gòn nghe hai chị bình dân miền Nam nói với nhau lên Sài Gòn sẽ mua xe tăng, máy bay, tàu chiến… mỗi thứ vài chục cái; anh ta hoảng hồn, tới trại kiểm soát vội báo cho kiểm soát viên hay có gián điệp trên xe. Chiếc xe phải đậu lại ba bốn giờ để kiểm soát, điều tra rất kỹ, sau cùng mới hay rằng hai chị hành khách đó đi mua máy bay, xe tăng, tàu chiến bằng mủ về bán cho trẻ em chơi. Hành khách trên xe nổi đóa, chửi thậm tệ anh bộ đội; khi xe tới bến Phú Lâm, họ còn đánh anh ta tơi bời nữa. Kết quả của nền giáo dục miền Bắc như vậy. Chính một cán bộ nói với tôi: “Càng học càng ngu. Thầy ngu thì làm sao trò không ngu? Nhồi sọ quá thì làm sao không ngu? Có được đọc sách báo gì ngoài sách báo của chính quyền đâu thì còn biết chút gì về thế giới nữa?”

Một cán bộ khác cho tôi hay ở Hà Nội người nào có được 50 cuốn sách là nhiều rồi. Anh ta mới thấy ba trong số 9 tủ sách của tôi đã bảo nhà tôi nhiều sách như một thư viện. Nhà bác học Sakharov trong một bài báo tôi đã dẫn, bảo ở Nga không có đời sống tinh thần (vie intellectuelle). Chúng ta có thể tin lời đó được.

Trước 1975, thấy cuốn nào in ở Bắc cũng từ 10,000 bản trở lên, có thứ 30,000, 100,000 bản, tôi và các bạn tôi phục đồng bào ngoài đó ham đọc sách. Bây giờ tôi hiểu lý do. Hà Nội mỗi năm xuất bản không biết được 100 nhan đề không (trong này, thời trước được khoảng 1,000 nhan đề); sách được gởi đi khắp nơi không có sự cạnh tranh, mà ai cũng “đói sách”; lại thêm nhiều sách có mục đích bổ túc cho sách giáo khoa, nhất là loại dạy chính trị, như vậy in nhiều là lẽ dĩ nhiên. Sách bán rất rẻ, nên cuốn nào viết về văn học, sử học mới ra cũng bán hết liền. Mấy năm nay, giấy khan, in ít, sách vừa phát hành đã bán chợ đen ở Hà Nội, không vào được tới miền Nam; những cuốn như lịch sử tỉnh Vĩnh Phú, ngay cả bộ Hồ Chí Minh toàn tập, ở Long Xuyên không làm sao kiếm được một bản, các cơ quan giáo dục cũng không mua được. Trái lại bộ Lê Nin toàn tập giấy rất tốt, thì ở khắp miền Nam bán chạy veo veo; người ta mua về để bán kí lô.

Tóm lại, chính sách là chỉ cho dân được nói theo một chiều, trông thấy một hướng; nên chỉ một số rất ít giữ được tinh thần phê phán, nhưng chẳng thi thố được gì, sống nghèo khổ, bất mãn.

NHL

Ảnh Đốt sách tháng 5/1975 tại Sài Gòn

Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không?

Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không?

Happy Sunday! Ước mong bạn cảm nhận được sự bình an thật trong tâm hồn phát xuất từ lòng yêu mến Chúa nhé. 

CN: 22/05/2022

TIN MỪNG: Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. (Ga 14:27)

SUY NIỆM: Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không? Nói về sự bình an thì đoạn Tin Mừng hôm nay cho bạn biết có hai loại bình an:

(1) Bình an theo kiểu thế gian, tức là bình an theo chiều ngang: bình an giữa các dân nước, chủng tộc, giai cấp xã hội, tôn giáo.

(2) Bình an phát xuất từ Thiên Chúa tức là sự bình an theo chiều dọc: bình an từ nguyên thuỷ phát xuất từ Thiên Chúa, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người. Mọi hình thức bình an khác đều tùy thuộc vào sự bình an này. Khi trời đất được tạo dựng, Chúa Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1,2) Loại bình an này là khi bạn cảm thấy lòng mình không lay động trong những rộn ràng, sóng gió cuộc đời! Bình an cũng không phải có ở một gia đình giàu có, sung túc, quyền lực cao sang! Bình an không phải có nơi sở hữu một chiếc xe hạng sang hay có được những món đồ cao cấp. Bình an của Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ và cho bạn hôm nay không chỉ dừng lại ở việc an toàn về mặt thể xác, mà còn đi xa hơn để đạt được thứ bình an trong sâu thẳm trong tâm hồn. Bình an này hướng bạn về mầu nhiệm ơn cứu độ, về sự sống vĩnh cửu. Bạn hoàn toàn thuộc về Chúa, không con thiếu thốn chi nữa (Tv 23).

LẮNG NGHE: Thật vậy, trong Đức Kitô, Thiên Chúa đã cho thế gian được hòa giải với Người” (2 Cr 5:19)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thêm ơn cho con để con biết luôn luôn tín thác cuộc đời của con trong tay Chúa và bước đi thanh thản trong sự bình an nhờ có Chúa ở cùng con không sợ chi.

THỰC HÀNH: Tập bỏ qua những chuyện không vui trong quá khứ để được bình an.

From: Đỗ Dzũng

LÒNG QUẢNG ĐẠI

 LÒNG QUẢNG ĐẠI

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có một quả tim bao la, một lòng quảng đại nghĩa là gì?

Một lần trong một trận bóng chày ở trường trung học, một trọng tài đã xử bất công cho đội chúng tôi.  Cả đội tức tối, chúng tôi hét lên giận dữ chống ông, thóa mạ ông, kêu tên ông ra chửi, lớn tiếng trút cơn giận của mình.  Nhưng một trong các bạn trong đội không làm theo.  Thay vì la hét trọng tài, anh cố gắng chận chúng tôi đừng la hét.  “Bỏ qua đi!”  Anh cứ lặp đi lặp lại với chúng tôi: “Bỏ qua đi! Chúng ta lớn hơn thế!”  Lớn hơn gì cơ chứ?  Anh không nói đến sự non nớt của trọng tài, nhưng đến sự non nớt của chúng tôi.  Và chúng tôi “không lớn hơn thế” ít nhất là trong lúc này.  Chắc chắn tôi không thể nuốt được bất công.  Tôi chưa đủ lớn.

Nhưng có cái gì đã ở lại trong lòng tôi sau sự cố này.  Thách thức phải “lớn hơn” bên trong sự việc đã làm chúng ta yếu đi.  Tôi vẫn không làm được, không phải luôn luôn, nhưng tôi là người tốt hơn, quảng đại hơn khi tôi làm, cũng như tôi sẽ là người thấp hơn, nhỏ nhen hơn khi tôi không làm được.

Nhưng cũng như các bạn đồng đội của chúng tôi đã thách thức chúng tôi trong những năm qua, chúng tôi phải tiếp tục “lớn hơn” giây phút nhỏ nhen lúc đó.  Lời mời gọi này nằm ở trọng tâm thách thức đạo đức của Chúa Giêsu trong Các Mối Phúc.  Ngài mời gọi chúng ta có một “đức tính sâu đậm hơn các người biệt phái và các luật sĩ.”  Và có nhiều điều ẩn giấu trong đó hơn là những gặp gỡ đầu tiên với những nhà luật sĩ và người biệt phái, vì những người này rất đạo đức.  Họ cố gắng trung thành với lề luật đức tin, họ là những người có lòng tin và giữ công lý nghiêm ngặt.  Họ không bất công như các trọng tài!  Nhưng bên trong lòng tốt này thiếu một cái gì mà Các Mối Phúc mời gọi chúng ta, một lòng quảng đại nào đó để có quả tim và tinh thần khá lớn, để vươn lên, để không bị yếu, để lớn hơn trong một khoảng khắc nhất định.

Cho phép tôi đưa ra một chuyện về điều này: Đức Gioan-Phaolô II là giáo hoàng đầu tiên chống án tử hình.  Điều quan trọng cần lưu ý là ngài không nói án tử hình là sai.  Kinh thánh nói chúng ta có quyền thi hành án tử hình.  Đức Gioan-Phaolô II cũng thừa nhận.  Tuy nhiên, và đây là bài học, ngài nói, khi chúng ta có thể thực thi công lý bằng bản án tử hình, nhưng chúng ta không nên làm điều đó vì Chúa Giêsu kêu gọi chúng ta làm một cái gì cao hơn, cụ thể là tha thứ cho kẻ có tội và không xử tử họ.  Đó là lòng quảng đại, là lớn hơn ở thời điểm chúng ta nắm bắt nó.

Thánh Tôma Aquinô, trong sự khôn ngoan về đạo đức của ngài, ngài đã làm một phân biệt mà chúng ta ít nghe thấy, cả ngoài đời lẫn trong giảng dạy của nhà thờ.  Ngài nói, có một vài chuyện có thể là tội đối với người này, mà không là tội đối với người kia.  Về thực chất, một cái gì đó có thể là tội cho một người có trái tim quảng đại, ngay cả khi nó không phải là tội đối với người thấp bé và có trái tim nhỏ.  Đây là ví dụ: trong một bình luận đầy thách thức cực kỳ khó, Thánh Tôma Aquinô đã viết, thật là tội lỗi khi từ chối khen một người thực sự xứng đáng, vì khi làm như vậy chúng ta từ chối một phần thức ăn mà người đó cần để sống.  Trong việc giảng dạy điều này, Thánh Tôma rõ ràng cho rằng, chỉ là tội đối với một người có lòng quảng đại, rộng lượng và có một mức độ trưởng thành nhất định.  Một người chưa trưởng thành, ích kỷ và nhỏ mọn thì không có cùng mức độ đạo đức và thiêng liêng.

Làm thế nào có thể, tội không còn là tội, dù đó là người như thế nào?  Không phải lúc nào cũng vậy.  Có một cái gì là tội hay không là tội tùy thuộc vào chiều sâu và mức độ trưởng thành trong mối quan hệ.  Chúng ta hình dung chuyện này: một người đàn ông và vợ mình có mối quan hệ sâu sắc, nhạy cảm, quan tâm, tôn trọng và thân mật đến mức các biểu hiện nhỏ nhất của tình cảm hoặc coi thường là đủ để cho họ hiểu.  Chẳng hạn, buổi sáng khi họ chia tay nhau đi làm, khi nào họ cũng có một biểu lộ tình cảm, như một nghi thức chia tay.  Bây giờ, nếu một trong hai bỏ biểu lộ này vào một buổi sáng bình thường, khi không có lý do gì đặc biệt, thì đó không phải là chuyện nhỏ, chuyện vô tình.  Có một cái gì lớn ở đây.  Ngược lại, nếu một cặp vợ chồng khác có mối quan hệ ít gần gũi, ít quan tâm, ít tình cảm, ít tôn trọng và không có thói quen thể hiện tình cảm khi chia tay.  Quên như vậy sẽ không có nghĩa gì.  Không nhẹ, không có ý định, không có hại, không có lỗi, chỉ là thiếu quan tâm như bình thường.  Đúng, một số điều có thể là tội cho người này mà không tội cho người kia.

Chúng ta được Chúa Giêsu mời gọi để những gì tốt nhất trong chúng ta trở nên đủ lớn, để có trái tim và tâm trí, để biết là có tội nếu không khen, để biết dù Kinh Thánh cho phép chúng ta thi hành án tử hình, nhưng chúng ta vẫn không nên làm, và để biết rằng chúng ta là những người tốt hơn khi chúng ta lớn hơn bất kỳ chuyện gì nhỏ bé mà chúng ta trải qua trong một thời điểm nhất định.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

Mũ Cối – S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Mũ Cối

Thứ Năm, 05/19/2022 – 07:06 

Ảnh của tuongnangtien

tuongnangtien

Vài năm trước, hôm 15/12/2018, báo VnExpress hớn hở đi tin: “CĐV Việt đội mũ cối xem chung kết AFF Cup lên báo nước ngoài… Một chàng trai Việt Nam mặc áo in hình rồng, đội mũ cối lọt vào ống kính của phóng viên.”

Ôi chao! Sao mà hân hạnh và quí hoá đến thế ?

Độc giả – tuy thế – dường như không hào hứng gì lắm với nỗi hân hoan và niềm hãnh diện của ban biên tập VnExpress, nếu chưa muốn nói là ngược lại:

  • Việt Hoàng: “Không hiểu sao, tôi rất ghét mũ cối.”
  • Dạ Ngân: “Miền Bắc nên chấm dứt mũ cối đi. Tôi không thấy nó đẹp. Rõ hình dáng nhược tiểu, yếm thế.”
  • Đình Ấm Nguyễn: “Tui sinh ra lớn lên ở miền Bắc và trưởng thành lập nghiệp ở miền Nam Nhưng mỗi khi ra đường nhìn thấy người nào sử dụng mũ cối trên đầu là tui dị ứng.”
  • Lê Văn Cương: “Người Bắc mà còn dị ứng thì người Nam họ thấy căm ghét và khinh bỉ.”
  • Quan Huynh: “Làm ơn đừng đội nón cối! Nó biểu tượng cho sự dốt nát, nghèo hèn, ngu si, tham lam, ích kỷ, ti tiện, độc ác, tham quyền cố vị. Nói chung là tầng lớp hạ đẳng!”

Nói thế (e) có quá lời chăng?

Tưởng cũng nên nghe thêm đôi câu từ tốn, nhã nhặn, và khách quan (hơn) từ một vị thức giả – đang tu tại gia – cư sỹ Phạm Nguyên Trường :“Xét ra, nón cối rất tiện vì, thứ nhất nó khá rẻ. Thứ 2 đội lúc nào, ở đâu, làm gì cũng tiện, nắng mưa đều che được củ sọ mà lại không vướng víu, rơi cũng chưa hỏng ngay. Tóm lại, rẻ và tiện. Tuy nhiên, ở miền Nam mà đội nón cối thì người ta biết ngay là Ba Ke.

Nhưng xét ra cũng chưa có loại nón mũ nào thay được nó, nếu không nói đến mũ bảo hiểm xe máy. Nếu không bắt buộc đội mũ bảo hiểm, không chừng dân số tộc nón cối bây giờ đã gia tăng đáng kể. Cho nên tôi nghĩ người nào đó thấy nón cối tiện thì cũng kệ họ, chả nên kì thị vùng miền làm gì…”

Quan niệm dung hoà thượng dẫn, tất nhiên, dễ được tán đồng:

  • Đỗ Trí Tâm: “Đồng ý với bác. Thích hay không thích là quyền. Nhưng kỳ thị vùng miền thì không nên.”
  • Ba Võ: “Trước đây không có chọn lựa chọn nào khác ngoài nón cối!”
  • La Phong Mua Thu: “Kệ họ nói gì thì nói đi bạn. Mũ cối chẳng có gì xấu, còn tiện lợi cho người dân lam lũ. Nếu kiên cường, chịu khó thì chẳng có gì đáng xấu hổ vì cái mũ rẻ tiền ấy cả. Tôi không thuộc tộc mũ cối nhưng không khinh những người lao động.”

Khinh thị thì không chắc nhưng bị ám ảnh hay lo ngại thì e khó tránh, và cũng hơi phổ biến:

 Mình mới xuống sân bay, bước chân ra ngoài chưa kịp gọi xe thì có một anh tài xế xáp lại hỏi:

– Chị có đi taxi không?

Nhìn thấy đội cái mũ cối, lại giọng của đồng hương nữa nên mình không thích lắm, vì vậy vẫn hí hoáy đặt xe. Màn hình báo “Hiện tại tất cả các tài xế đều đang bận, bạn vui lòng quay lại sau”, ngán đợi nên hỏi cái “đồng chí” này, thấy giá cả cũng ok, nên gật đầu đồng ý đi.

Mặc dù cũng chẳng yên tâm tí nào khi sử dụng dịch vụ của người nói cùng giọng với mình, chỉ sợ bị chém. Lên xe mình hỏi luôn:

– Tôi hơi thắc mắc tí, anh cho tôi hỏi một câu nếu anh thấy không phiền, OK?

– Chị hỏi đi.

– Tại sao anh lại thích đội cái mũ đó?

– Không phải em thích mà nắng thì em đội thôi.

– Anh vào đây lâu chưa?

– Em vào được 7 tháng chị ạ.

– Vậy hả, vậy thì mới quá nên chưa hiểu là phải. Đúng ra tôi không nói nhưng vì tình đồng hương nên tôi nói điều này anh đừng giận nhé.

– Chị cứ nói đi…

– … tôi là người Bắc nhưng tôi cũng không thích cái mũ đó, cái biểu tượng của sự khổ đau và kìm kẹp, mặc dù chú tôi và những người hàng xóm của tôi cũng vẫn đội để che nắng nhưng thực sự tôi không thích nó, vì cái mũ đó mà đất nước tan hoang như ngày hôm nay, tham nhũng tràn lan, kinh tế tuột dốc, đời sống văn hóa tệ hại, trò đánh thầy, thầy tra tấn trò, BS thờ ơ với bệnh nhân con người tìm cách lừa lọc lẫn nhau, tình người không còn…  BS Lê Nhàn

Tôi sống tha hương gần mãn kiếp nên không có dịp tiếp xúc với một người tài xế taxi ở quê mình. Trong Khu Đèn Đỏ Nana Plaza ở Bangkok, thảng hoặc, tôi cũng thấy một hai người đội mũ cối đang lầm lũi đẩy chiếc xe kem bé tí teo giữa lòng con phố chật ních người đi.

Cả cái xe lẫn cái mũ đều là dấu hiệu cho biết chủ nhân mới từ VN sang. Kẻ sang trước, sau khi dành dụm được chút vốn liếng, thường sắm xe bán trái cây (vì có lời hơn) và cũng sắm luôn cái nón mới – made in Thailand – không phải là nón cối, tất nhiên!

Bên Vientiane hay Phnom Penh thì khác. Dân Lào và dân Miên tuy cũng nghèo thảm thiết nhưng họ thường từ chối làm những công việc quá nặng nhọc (và rất ít lương) nên phụ hồ gần như là “nghề” chỉ dành riêng cho đám di dân lậu. Bởi vậy, ở bất cứ nơi đâu có xây dựng là thế nào cũng có loáng thoáng vài ba cái mũ cối đang lui hui dưới ánh nắng chói chang.

Vì thói quen nghề nghiệp, tôi hay mời những người đồng hương trẻ tuổi của mình dùng một bữa cơm thanh đạm (nơi một quán hàng nào đó, bất kỳ) để có dịp trao đổi đôi câu tâm sự. Phần lớn các em đang ở lứa tuổi đôi mươi, chào đời khi mọi cuộc chiến (Bắc/Nam – Miên/Việt – Tầu/Việt) đều đã lụi tàn. Ai cũng rời làng quê chỉ vì một lý do duy nhất (“ở nhà thì biết làm chi ra tiền”) và gần như không ai hay biết gì về chuyện chinh chiến cũ, nói chi đến “gốc gác” cái mũ cối mà họ đang đội trên đầu.

Phải nhìn thấy những vệt mồ hôi muối dầy cui trên lưng áo, những ánh mắt buồn bã mệt mỏi, và những gương mặt lấm lem đen đủi (trong điều kiện khí hậu vô vùng khắc nghiệt ở Á Châu) mới thông hiểu sự cần thiết của cái nón – bất kể loại nào – miễn có thì thôi. Ở tuổi này (lẽ ra) tất cả các em đều phải có cơ hội để đi đến giảng đường, thay vì đi tha phương cầu thực.

Gần đây, lại có một hiện tượng mới nữa về mũ cối. Nó chợt xuất hiện ở những vận động trường hay giữa những phố phường nơi xứ lạ và được chủ nhân dùng như một vật  trang sức (để gây chú ý của tha nhân) chứ không phải để che thân. Sự kiện này cũng gây ra đôi chút phiền lòng:

  • Trần Thị Thảo: “Nhìn qua là biết bọn vô học đi làm cu li ở Nhật.”
  • Sinh Nguyễn Xuân: “Tối qua trên sân vận động Singapore thấy mũ đó cũng xuất hiện á kkk.”
  • Mạc Văn Trang: “Sao các bạn trẻ người Việt ở Nhật lại lập ra ‘nhóm mũ cối’ rồi quậy trong sân bóng đá, khi đội Việt Nam đá với đội Nhật, gây mất cảm tình với dân sở tại?”

Nỗi e ngại (“gây mất cảm tình với dân sở tại”) của T.S Mạc Văn Trang ở Nhật chỉ là chuyện nhỏ – rất nhỏ – so với những vụ án ở Hoa Kỳ mà nhiều người Việt phải hầu toà vì tội chụp mũ (cối) lên đầu tha nhân, và hậu quả là đã có lắm kẻ đã tán gia bại sản!

Hễ cái nón cối xuất hiện nơi đâu là y như rằng nơi đó vấn đề, dù tự thân nó hoàn toàn vô tội. Số phận của cái mũ cối cũng hẩm hiu, xui xẻo y như cái liềm hay cái búa thôi. Cả ba, chả may, bị “vướng” vào đám Cộng Sản mà trở nên những biểu tượng của sự xấu xa khiến thiên hạ kinh sợ (hay kinh tởm) cứ y như gặp phải kẻ … lỡ dẵm nhằm phân vậy.

Phạm Minh Chính xảo ngôn khi nói về người Việt ở Mỹ

Phạm Minh Chính xảo ngôn khi nói về người Việt ở Mỹ

May 20, 2022

Hiếu Chân/Người Việt

Ông Phạm Minh Chính, thủ tướng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), cùng đoàn tùy tùng vừa kết thúc chuyến công du Hoa Kỳ kéo dài bảy ngày và đã trở về Hà Nội, để lại vô số những phát ngôn vô tiền khoáng hậu về cái tầm của quan chức lãnh đạo Việt Nam: xảo ngôn và ngạo mạn.

Người gốc Việt biểu tình phản đối ông Phạm Minh Chính, thủ tướng CSVN, sang Mỹ dự Hội Nghị Thượng Đỉnh ASEAN-Mỹ vào sáng 13 Tháng Năm trước Tòa Bạch Ốc tại thủ đô Washington, DC. (Hình: RFA)

Trong lúc chờ được gặp ông Antony Blinken, ngoại trưởng Mỹ, ông Chính đã bốc phét với các thuộc hạ mà không ngờ bị nhân viên Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ quay phim và phát trực tiếp trên mạng Internet. Câu chửi thề của ông Chính “Mẹ nó, sợ gì!” cùng những ngôn từ hạ cấp mà ông và các quan chức cấp bộ trưởng trong chính phủ Cộng Sản dùng để trò chuyện với nhau đã gây phẫn nộ và khinh bỉ trong dư luận người Việt.

Sau đó tại đại học Harvard University, ông Chính đã tiếp nối “truyền thống” từ thời ông Nguyễn Minh Triết khi cất giọng ví von rẻ tiền, ví nước Mỹ rất giàu có là một chàng trai khỏe mạnh, còn ASEAN năng động như một cô gái đẹp, hai bên đều tìm hiểu, gắn kết với nhau. Về quan hệ Việt-Mỹ, ông Chính gọi đó là “mối lương duyên có lúc thăng trầm có lúc đột phá. Như món ăn có đủ vị chua, cay, mặn, ngọt, nhưng mang lại một bữa ăn ngon,” theo trích dẫn của báo Tiền Phong.

Nhưng đáng phẫn nộ nhất là phát biểu của ông Chính tại buổi gặp cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ và cán bộ Đại Sứ Quán Việt Nam tại thủ đô Washington, DC, tối 14 Tháng Năm. Ông Chính nói “Thành công của người Việt Nam tại Mỹ cũng là thành công của đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước; đồng thời, góp phần quảng bá hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam, giá trị Việt Nam,” theo trích dẫn của báo Thanh Niên ở trong nước.

Thậm chí, cũng theo báo Thanh Niên, ông Phạm Minh Chính giao trách nhiệm cho đại sứ quán thúc đẩy, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt với tinh thần tốt nhất có thể, phát triển nhanh nhất có thể. “Liệu chúng ta có thể đề nghị phía Mỹ xem có thể công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số không, như đã làm được ở Cộng Hòa Séc?,” ông Chính nói.

Thành công của người Việt và đường lối của đảng CSVN

Chuyện chửi thề, nói năng bỗ bã trong lúc không biết đang bị quay phim, chuyện ví von trai gái thể hiện cái chất văn hóa kém cỏi của một quan chức hàng nguyên thủ quốc gia như ông Chính thôi thì cũng có thể rộng lượng cho qua vì ai cũng biết, quan chức Cộng Sản không mấy người được giáo dục tử tế, “học ăn, học nói, học gói, học mở.” Nhưng còn nhận định của ông ta về người Việt Nam tại Mỹ là một sự báng bổ, xuyên tạc không thể chấp nhận được.

Hẳn ông Chính không thể không biết quá trình đầy máu và nước mắt gần nửa thế kỷ qua hình thành nên cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ, nói chính xác là cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Khởi thủy từ những đoàn người miền Nam bỏ nước ra đi khi Sài Gòn thất thủ hồi Tháng Tư, 1975, trong hàng triệu người vượt biển tìm tự do và cuộc sống giữa cái chết đã có hàng trăm ngàn người làm mồi cho cá dưới đáy đại dương; hàng trăm ngàn người khác ra đi theo các chương trình H.O.; ODP; tị nạn chính trị, kinh tế, giáo dục, môi trường… Từ bàn tay trắng và mang đầy thương tích cả về thể chất và tinh thần, cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã dần ổn định, phát triển, gặt hái được nhiều thành công cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học, công nghệ.

Thành công của cộng đồng người Việt Nam tại Mỹ, nếu nói nguyên nhân, thì đó là do nỗ lực vươn lên không bờ bến của người Mỹ gốc Việt thế hệ thứ nhất, thứ hai, sự bảo bọc nâng đỡ của xã hội Hoa Kỳ và môi trường tự do bình đẳng, nhiều cơ hội ở quê hương thứ hai này. Thành công của người Mỹ gốc Việt liên quan gì tới “đường lối đối ngoại của đảng và nhà nước” như Chính huênh hoang?

Nếu có một sự “liên can” nào đó thì chỉ có thể nói rằng, chính sách cai trị tàn bạo của đảng và nhà nước Cộng Sản đã đẩy dân tộc Việt Nam vào chỗ chết, làm người dân bỏ nước ra đi và từ đó mới sinh ra những cộng đồng người Việt Nam ở khắp các nước trên thế giới mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt chỉ là một trong số đó.

Nếu như sau cuộc nội chiến năm 1975, nhà cầm quyền Cộng Sản không trả thù một cách hèn hạ và độc ác với những người thất trận và gia đình con cái họ; nếu đảng và nhà nước Cộng Sản không áp đặt một chế độ độc tài đảng trị thuộc loại chuyên chế nhất thế giới, bóp nghẹt tự do và quyền làm người của người dân thì hàng triệu người Việt đâu phải bỏ quê hương ra đi và đang vẫn tiếp tục ra đi bằng mọi phương cách có thể. Những cộng đồng người Việt Nam tha hương, bị bứt khỏi nơi chôn nhau cắt rốn để phải ngày ngày“trông về quê mẹ ruột đau chín chiều” là một bằng chứng sống về tội ác của đảng và nhà nước chứ công lao gì mà đảng huênh hoang.

Ấy thế nhưng tại thủ đô nước Mỹ, thủ tướng CSVN trâng tráo kể công cho đảng và nhà nước, đánh đồng thành công của cộng đồng người Việt tại Mỹ với thành công của chế độ mà ông ta đại diện. Từ thủ phạm trở thành ân nhân – sự tráo trở đó chỉ có thể có trong cái tư tưởng bệnh hoạn và hoang tưởng của những người Cộng Sản.

“Khúc ruột xa ngàn dặm” là thần dân của đảng?

Một nỗi hoang tưởng nữa là ông Chính dường như nghĩ rằng cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ – đúng ra là người Mỹ gốc Việt vì phần lớn thành viên cộng đồng là công dân Mỹ – vẫn còn là “thần dân” trong chế độ cai trị của ông ta.

Lời ông chỉ đạo cho đàn em “đề nghị phía Mỹ xem có thể công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số không” bộc lộ một sự ngu dốt và ngạo mạn thậm tệ. Ông ta không thấy, không biết người Mỹ gốc Việt là công dân của một quốc gia tự do dân chủ; họ không phải là thần dân bị chính quyền của ông chăn dắt để ông có thể thay mặt cho họ đưa ra đề nghị ngớ ngẩn như vậy “với phía Mỹ.”

Là công dân Mỹ, họ có quyền bầu ra các nhà lãnh đạo chính quyền liên bang, tiểu bang và địa phương và đóng thuế để hệ thống chính quyền đó vận hành; hệ thống chính quyền đó, đến lượt mình, có trách nhiệm phục vụ người dân Mỹ, trong đó có các cộng đồng người Mỹ gốc Việt; đa số hay thiểu số không là vấn đề trong xã hội đa sắc tộc, đa văn hóa của Hiệp Chúng Quốc Hoa Kỳ.

Chính quyền CSVN của ông lấy tư cách gì để “đề nghị công nhận người Việt ở Mỹ là cộng đồng dân tộc thiểu số?” Đây là một lời đề nghị hết sức khiếm nhã, xúc phạm sâu sắc đến danh dự và lòng tự trọng của cộng đồng người Việt ở Mỹ. Tuy mang dòng máu Việt trong huyết quản nhưng người Mỹ gốc Việt không phải là dân Việt để các ông tự cho mình quyền đại diện cho họ, định đoạt vị thế và số phận của họ.

Có người sẽ nói, sở dĩ ông Chính nói như vậy vì gần đây đảng CSVN đã thay đổi quan điểm, coi người Việt ở nước ngoài là “khúc ruột ngàn dặm,” từ năm 2004 đã ra Nghị Quyết số 36/NQ/TW về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài; lập cả Hội Người Việt Nam Ở Nước Ngoài để chăm sóc cho bà con Việt kiều,“tạo thuận lợi để kiều bào ở nước ngoài ổn định cuộc sống, hội nhập vào đời sống nước sở tại.”

Mới đây, trong buổi liên hoan “Xuân Quê Hương 2022” tiếp người Việt ở nước ngoài về quê ăn Tết hồi Tháng Giêng, 2022, ông Nguyễn Xuân Phúc, chủ tịch nước, còn “xúc động” đọc hai câu “vè”: “Mỗi năm Tết đến Xuân về/ Quê hương đất mẹ đề huề mong con” (!) Tuy nhiên, dù thường xuyên ca ngợi người Việt ở nước ngoài là “khúc ruột ngàn dặm” rất thân thương nhưng thực tế cái mà nhà cầm quyền CSVN nhắm tới chỉ là túi tiền của họ, là những triệu những tỷ đô la kiều hối đổ vào nền kinh tế để các quan chức có cái mà bòn rút và hoan hỉ khoe khoang mỗi dịp cuối năm.

Một số người khác cho rằng, sau bao nhiêu năm, quan điểm và thái độ của người Việt ở nước ngoài đối với Việt Nam cũng đã thay đổi, hàng triệu người đã về thăm quê hương xứ sở, nhiều người mang vốn liếng và tri thức về đầu tư, kinh doanh; các nghệ sĩ về Việt Nam ca hát, hoạt động nghệ thuật, nhiều bạn trẻ Việt kiều về Hà Nội, Sài Gòn làm việc dù thu nhập có thể không bằng ở Mỹ v.v…

Quả là người Việt ở nước ngoài đã về thăm quê hương ngày càng nhiều, nhưng đừng lẫn lộn giữa việc trở về thăm viếng mồ mả tổ tiên, thân nhân họ hàng, xóm giềng bè bạn với việc “hòa giải hòa hợp” với nhà cầm quyền trong nước; hai chuyện đó khác hẳn nhau.

Còn muốn làm việc, đầu tư ở Việt Nam thì không thiếu những tấm gương của người đi trước như vụ án xuyên thế kỷ của “vua chả giò” Trịnh Vĩnh Bình, người Hòa Lan gốc Việt đem tiền về nước đầu tư rồi bị truy bức tù tội. Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA) đã làm hẳn hai chuyên đề “Trịnh Vĩnh Bình – người hạ bên thắng cuộc” và “Trịnh Vĩnh Bình vs chính phủ Việt Nam” với hàng chục bài tường thuật chi tiết hiện vẫn còn trên trang nhà của đài, rất đáng tham khảo.

Cần phải phản đối

Người Việt ra đi mang theo quê hương trong hành trang tinh thần nên có dịp thì họ về thăm quê; nghĩ rằng họ trở về tức là họ chấp nhận, họ phục tùng nhà cầm quyền hiện thời là một lối suy diễn ác ý.

Đảng CSVN đã mập mờ đánh lận con đen, buộc người dân trong nước đồng nhất hai khái niệm chế độ và tổ quốc, “yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội”; họ tưởng có thể tiếp tục đánh đồng tình yêu quê hương xứ sở của người Việt Nam ở nước ngoài với sự thần phục đảng và chế độ của họ. Không hề có sự thần phục như vậy, trừ đôi người – rất ít ỏi – về cộng tác với chính quyền Việt Nam hoặc phát ngôn những điều mà đảng CSVN mong muốn.

Giáo Sư Nguyễn Hưng Quốc ở Úc tâm sự ông luôn bị ám ảnh về Việt Nam và nhận xét: “Nỗi nhớ cố hương và tâm trạng lạc lõng là hai trong số những đặc điểm nổi bật nhất của các cộng đồng di dân. Từ người giàu đến người nghèo, từ người thành công đến người thất bại, ai ai cũng đau đáu nhớ về gốc gác cũ.” Nhớ quê hương, yêu đất nước, người ta quan tâm đến độc lập, chủ quyền và sự phát triển của đất nước.

Hầu hết người Việt ở nước ngoài đều có nỗi ám ảnh như vậy, đều có mối quan tâm như vậy và đó là lý do tại sao người Việt Nam ở nước ngoài thường chống đối chế độ Cộng Sản hiện tại; Đảng CSVN là một ổ tham nhũng và độc tôn quyền lực, không thể bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước, đem lại tự do và phẩm giá cho người dân Việt Nam.

Dù mới nghe qua, người ta dễ tưởng ông thủ tướng CSVN quan tâm lo lắng tới cộng đồng người Việt ở Mỹ nhưng thực ra ông Phạm Minh Chính đã rất xảo quyệt khi gắn thành công của họ với đường lối của đảng CSVN, khi coi họ là một bộ phận thần dân của nhà nước CSVN. Sự xảo quyệt của ông ta cần phải bị vạch trần và phản đối; chuyện đó còn quan trọng và thiết thực hơn là chỉ nhạo báng hoặc chê cười những tiếng chửi thề của ông ta tại Bộ Ngoại Giao Mỹ. [qd]

 

Sự nóng giận làm con đánh mất bản thân…

Duthapsang Tran

Lạy Chúa của con!

Tự ngẫm lại ngày sống hôm nay của mình, con thật lòng xin lỗi Chúa về những giây phút tức giận, bực bội về người khác. Con sẵn sàng văng những lời nạt nộ to tiếng, cãi cọ và thô tục đối với những việc làm của những người mà con không vừa ý và cảm thấy chướng mắt. Những lần như vậy con như một người khác vậy, sự nóng giận làm con đánh mất bản thân, không kiểm soát được tâm trạng của mình.

Cuộc sống bộn bề với nhiều áp lực dồn nén, nó làm con dễ nảy sinh sự nóng giận không đáng có. Đôi khi không kiểm soát tốt lời nói và hành vi mà con có thể sẽ gây ra những sai lầm đáng tiếc và nghiêm trọng, không giải quyết được việc gì, thậm chí còn gây sự chia rẽ rạn nứt những mối quan hệ xung quanh con.

Chúa ơi, trong những trường hợp như vậy xin cho con giữ được bình tĩnh, sự thẳng thắn và không đổ lỗi cho người này người kia, để con có thể giữ sự hòa hợp và tình yêu thương đối với tất cả mọi người.

Amen.

Nguồn: Lời Kinh Đêm

Còn đảng còn… giàu

Còn đảng còn… giàu

Blog VOA

Trân Văn

19-5-2022

Ông Phạm Hồng Hà, 62 tuổi, cựu Chủ tịch UBND TP Hạ Long, bị bắt. Nguồn: VTC

Tai sao phòng – chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” mà lại từ chối xem việc viên chức không thể giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản là phạm tội “làm giàu bất chính” khi sửa Luật Hình sự năm 2015.

Các cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam đang thi nhau phơi bày sự giàu có của ông Phạm Hồng Hà, cựu Chủ tịch thành phố Hạ Long kiêm Trưởng Ban Quản lý vịnh Hạ Long từ tháng 6 năm 2014 đến tháng 7 năm 2020.

Ông Hà bị tạm giam hôm 14/5/2022 vì liên quan đến vụ án “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ” xảy ra tại Công ty Quản lý đường sông số 3 và Ban quản lý vịnh Hạ Long (1).

Trước mắt, từ kết quả khám xét tư gia để thực hiện lệnh tạm giam ông Hà, một số cơ quan truyền thông chính thức tại Việt Nam ước đoán, chỉ tính riêng giá trị mảnh đất mà ông Hà sử dụng để xây biệt thự bốn tầng đã lên tới 150 tỉ đồng. Còn chỉ tính riêng xe hơi mà gia đình ông Hà sử dụng thì một Mercedes, một Vinfast Lux SA, hai Lexus đã xấp xỉ 20 tỉ đồng (2). Không có đảng, cựu chủ tịch một đơn vị hành chánh cấp huyện không thể nào thủ đắc khối tài sản mà tổng giá trị chắc chắn còn lớn hơn như vậy nhiều lần!

Muốn có khối tài sản chỉ tạm tính đã khoảng vài trăm tỉ ấy, ông Hà phải mất nhiều năm và trẻ con cũng biết khối tài sản đó từ đâu mà ra, tuy nhiên, giống như nhiều đồng chí khác, ông Hà không ngần ngại phô bày sự… “tháo vát” của chính ông.

Muốn biết “chỉnh đốn đảng” hiệu quả thế nào, thực chất và triển vọng của… công cuộc phòng – chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” ra sao, cứ nhìn vào tư gia, vật dụng, phục sức, sinh hoạt từ cá nhân đến gia đình của các viên chức đã cũng như đang phục vụ hệ thống chính trị, hệ thống công quyền. Ông Hà chỉ là ví dụ mới nhất. Đến bây giờ ông Hà mới bị tống giam để điều tra về một sai phạm xảy ra cách nay vài năm, chắc chắn không phải vì… nghiêm minh!

***

Nhân chuyện ông Hà, có lẽ cử tri Việt Nam nên chất vấn những cá nhân vừa là thành viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương đảng, vừa sắm vai đại biểu cho dân chúng khu vực nào đó trong Quốc hội Việt Nam, rằng tại sao phòng – chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” nhưng lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền vẫn cương quyết không đáp ứng đề nghị của nhiều người thuộc nhiều giới, trong nhiều năm vừa qua: Công bố các tờ khai tài sản?

Từ chối công bố tờ khai tài sản của những viên chức trong diện buộc phải kê khai tài sản có khác gì sợ dân chúng thực thi quyền giám sát và khiếu nại, tố cáo, sợ các viên chức trong hệ thống chính trị, hệ thống công quyền cũng như thân nhân của họ không… vui, không… hãnh diện bởi không còn cơ hội… khoe sang, khoe giàu, khoe sự sành điệu trong chuyện hưởng lạc thú cuộc đời nhờ biết cách… vươn lên trong việc theo đảng dẫn dắt quốc gia, dân tộc xây dựng CNXH, xây dựng “xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”?

Tai sao phòng – chống tham nhũng “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” mà lại từ chối xem việc viên chức không thể giải trình hợp lý về nguồn gốc tài sản là phạm tội “làm giàu bất chính” khi sửa Luật Hình sự năm 2015 (3). Đến năm 2018 lại tiếp tục từ chối các đề nghị: Hoặc hình sự hóa hành vi ‘làm giàu bất chính’. Hoặc giao cho Tòa án quyết định, hoặc tịch thu sung công, hoặc định giá rồi buộc nộp thuế theo tỉ lệ 45% tính trên tổng giá trị,… khi sửa Luật Phòng, chống tham nhũng (4)?

***

Không thể đếm xuể số lần ông Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí đồng đảng với ông thề thốt, hứa hẹn sẽ kiên quyết phòng – chống tham nhũng, tiêu cực ở tất cả các cấp. Cũng không thể đếm xuể số lần ông Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí đồng đảng với ông than thở rằng công cuộc phòng – chống tham nhũng, tiêu cực ở tất cả các cấp “vừa… khó khăn, vừa… phức tạp”. Thời nào cũng thế và ở đâu cũng vậy, phòng – chống tham nhũng, tiêu cực chưa bao giờ là công việc đơn giản.

Tuy nhiên ở Việt Nam, thay vì học thiên hạ, trước nay, ông Nguyễn Phú Trọng và các đồng chí đồng đảng với ông chỉ… thề rồi… than. Làm sao “phòng – chống tham nhũng, tiêu cực” có thể hữu hiệu khi thẳng tay gạt bỏ toàn bộ các biện pháp răn đe lúc sửa Luật Hình sự, Luật Phòng, chống tham nhũng, khăng khăng từ chối việc công bố các tờ khai tài sản cho dân chúng xem xét, đối chiếu với lý do “rất nhạy cảm” (5) để áp dụng những… “sáng kiến” kiểu như Nghị định 130/2020/NĐ.CP (tháng 10/2020): Hướng dẫn kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ quyền hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị bằng cách tổ chức… bốc thăm, lựa chọn ngẫu nhiên xem ai thuộc trường hợp phải xác minh – kiểm tra mức độ chính xác, trung thực khi kê khai tài sản, thu nhập.

Nếu hệ thống chính trị, hệ thống công quyền tại Việt Nam thiếu sự tôn trọng yếu tố “rất nhạy cảm” liên quan đến… “quyền đời tư và bí mật cá nhân” đó, sẽ còn bao nhiêu người trung thành với sự nghiệp xây dựng CNXH tại Việt Nam như ông Phạm Hồng Hà?

Chú thích

(1) https://tuoitre.vn/vi-sao-ong-pham-hong-ha-cuu-chu-tich-ubnd-tp-ha-long-bi-bat-20220514202724593.htm

(2) https://thanhnien.vn/can-canh-biet-thu-khung-dan-xe-lien-quan-vu-cuu-chu-tich-tp-ha-long-bi-bat-post1458876.html

(3) https://dantri.com.vn/phap-luat/giau-bat-thuong-co-the-bi-tich-thu-tai-san-1386181152.htm

(4) https://thuvienphapluat.vn/tintuc/vn/thoi-su-phap-luat/chinh-sach-moi/21990/quoc-hoi-thong-qua-luat-phong-chong-tham-nhung-sua-doi

(5) https://www.tienphong.vn/xa-hoi/tong-bi-thu-ke-khai-tai-san-can-bo-la-van-de-rat-kho-nhay-cam-1286576.tpo

WB: Thể chế có thể là ‘trở ngại lớn’ để Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao (VOA)

WB: Thể chế có thể là ‘trở ngại lớn’ để Việt Nam trở thành quốc gia thu nhập cao

19/05/2022

Một góc đường ở Hà Nội. Ngân hàng Thế giới cho rằng trong 35 năm qua, Việt Nam đã triển khai thực thi những ưu tiên phát triển với kết quả chưa được đồng đều.

Thể chế có thể sẽ trở thành trở ngại lớn đối với việc hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, một báo cáo mới công bố hôm 18/5 của Ngân hàng Thế giới (WB) đưa ra nhận định.

Theo WB, để thực hiện được mục tiêu trên, Việt Nam cần chuyển đổi mô hình tăng trưởng và cải thiện rõ rệt năng lực trong phối hợp và triển khai những cải cách chính sách kinh tế và đầu tư công.

Báo cáo có tên “Để tươi sắc đào xuân – cải cách thể chế hướng tới thực thi hiệu quả” của WB nói mô hình tăng trưởng truyền thống của Việt Nam đang đối mặt với những thách thức lớn do đại dịch COVID-19, toàn cầu hóa chững lại và nguy cơ ngày càng dễ bị tổn thương đối với những cú sốc bên ngoài, trong đó có rủi ro khí hậu.

“GDP theo đầu người của Việt Nam đã tăng gấp năm lần sau ba thập kỷ qua, trong khi thể chế của quốc gia chưa thích ứng với tốc độ thay đổi đó kể từ thời kỳ Đổi mới vào cuối thập kỷ 1980”, bà Carolyn Turk, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, nhận định trong thông cáo đưa ra hôm 18/5.

Theo bà Carolyn Turk, “Cải cách thể chế đồng bộ có thể giúp quốc gia tránh bẫy thu nhập trung bình qua nâng cao hiệu quả ứng phó với những thách thức mới và phức tạp phát sinh trong nước và trên toàn cầu.”

WB cho rằng trong 35 năm qua, Việt Nam đã triển khai thực thi những ưu tiên phát triển với kết quả chưa được đồng đều. Mặc dù quốc gia Đông Nam Á đã mở cửa thương mại và hòa nhập xã hội, nhưng vẫn chưa đạt kết quả mong muốn về đẩy mạnh tăng trưởng xanh và nâng cấp hạ tầng cơ bản của quốc gia.

Để đạt được mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045, WB cho rằng có 5 cải cách thể chế quan trọng mà Việt Nam cần triển khai. Các cải cách này bao gồm: tạo nền tảng thể chế vững chắc cho từng ưu tiên phát triển nhằm biến những ưu tiên phát triển đó thành hành động cụ thể; hài hòa các quy trình, thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả của chính quyền các cấp; sử dụng các công cụ thị trường để tạo động lực cho các bên liên quan trong khu vực nhà nước và tư nhân; thực thi hiệu lực các quy định và quy tắc nhằm nâng cao động lực, lòng tin và công bằng; áp dụng các quy trình có sự tham gia để đảm bảo nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình.

Ngân hàng Thế giới nói Việt Nam cần tiếp tục cải cách thể chế với quy mô như từng được triển khai trong thời kỳ Đổi mới của thập kỷ 1980 và thành công như triển khai mở cửa thương mại trong hai thập kỷ qua.

Theo dự báo của WB, nền kinh tế Việt Nam có thể tiến tới mức tăng trưởng GDP trước đại dịch là 6,0 đến 6,5% từ năm 2022 trở đi. Tuy dự báo này được cho là tích cực nhưng vẫn thấp hơn 4.5% so với mức tăng trưởng GDP bình quân của Việt Nam trong thời kỳ trước đại dịch Covid-19.

httpv://www.youtube.com/watch?v=TaDNXjscRGc