Bình an là gì?

Bình an là gì?

Chúc bạn một ngày tràn đầy Bình An của Chúa Thánh Thần nhé. Xin bạn dâng một lời kinh cầu nguyện cách riêng cho 19 trẻ em và hai người lớn đã thiệt mạng trong vụ xả súng tại một trường tiểu học Uvalde ở nam Texas, Mỹ. Đa tạ!

Cha Vương

Thứ 5: 26/5/2022

TIN MỪNG: Chúa là nguồn mạch bình an, xin Người ban cho anh em được bình an mọi lúc và về mọi phương diện. Xin Chúa ở cùng tất cả anh em! (2 Thx 3:16)

HOA QUẢ THỨ III: Bình An—Kết quả của niềm vui, làm cho ta được thư thái, không lay động trong những rộn ràng, sóng gió của cuộc đời.

SUY NIỆM: Bình an là gì? Bình an có phải là sự vắng mặt của chiến tranh, của đau khổ không? Nói về sự bình an thì đoạn Tin Mừng hôm nay cho bạn biết có hai loại bình an:

1)Bình an theo kiểu thế gian, tức là bình an theo chiều ngang: bình an giữa các dân nước, chủng tộc, giai cấp xã hội, tôn giáo. (2) Bình an phát xuất từ Thiên Chúa tức là sự bình an theo chiều dọc: bình an từ nguyên thuỷ phát xuất từ Thiên Chúa, giữa trời và đất, giữa Thiên Chúa và con người. Mọi hình thức bình an khác đều tùy thuộc vào sự bình an này. Khi trời đất được tạo dựng, Chúa Thiên Chúa thấy mọi sự Người đã làm ra quả là rất tốt đẹp! (St 1,2)

Loại bình an này là khi bạn cảm thấy lòng mình không lay động trong những rộn ràng, sóng gió cuộc đời! Bình an cũng không phải có ở một gia đình giàu có, sung túc, quyền lực cao sang! Bình an không phải có nơi sở hữu một chiếc xe hạng sang hay có được những món đồ cao cấp. Bình an của Đức Giêsu trao tặng cho các môn đệ và cho bạn hôm nay không chỉ dừng lại ở việc an toàn về mặt thể xác, mà còn đi xa hơn để đạt được thứ bình an trong sâu thẳm trong tâm hồn. Bình an này hướng bạn về mầu nhiệm ơn cứu độ, về sự sống vĩnh cửu. Bạn hoàn toàn thuộc về Chúa, không còn thiếu thốn chi nữa (Tv 23).

LẮNG NGHE: Thầy để lại bình an cho anh em, Thầy ban cho anh em bình an của Thầy. Thầy ban cho anh em không theo kiểu thế gian. Anh em đừng xao xuyến cũng đừng sợ hãi. (Ga 14:27)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, xin thêm ơn cho con để con biết luôn luôn tín thác cuộc đời của con trong tay Chúa và bước đi thanh thản trong sự bình an nhờ có Chúa ở cùng con con không sợ chi.

THỰC HÀNH: Hạn chế tham gia các nhóm buôn chuyện, hãy quyết tâm từ bỏ thói quen nói xấu, chỉ trích sau lưng người khác để mang lại bình an cho chính mình và cho kẻ khác.

From: Đỗ Dzũng

Người Việt ở Mỹ thành công, chính phủ Việt Nam giúp được gì? (BBC)

Người Việt ở Mỹ thành công, chính phủ Việt Nam giúp được gì?

  • Bùi Văn Phú
  • Gửi cho BBC News Tiếng Việt từ California

NGUỒN HÌNH ẢNH,BÙI VĂN PHÚ

Tác giả và gia đình chụp  hình lưu niệm với tân khoa

“Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” là câu hát mở đầu nhạc phẩm “Nỗi buồn hoa phượng” của nhạc sĩ Thanh Sơn, sáng tác cách đây hơn nửa thế kỷ, ghi lại tâm cảm của lứa tuổi học trò ở Việt Nam khi niên học sắp kết thúc.

Nửa thế kỷ trước, lúc còn ở quê nhà tôi cũng đã có nỗi buồn như thế khi thấy phượng nở đỏ sân trường và trên sóng phát thanh vang vang những lời báo hiệu mùa hè đang về.

Hôm nay, bên trời Mỹ, sắp vào hạ lòng tôi không buồn mà vui. Vui vì sắp hết niên học với các buổi lễ tốt nghiệp, khi khúc nhạc hoà tấu “Pomp and Circumstance” trổi vang chào đón tân khoa và mùa hè thư giãn đang chờ đón trước mặt.

Lúc này còn vui hơn vì nguy hiểm chết người của bệnh dịch Covid đã qua, đời sống đã bình thường trở lại sau hai năm với nhiều điều bất bình thường như làm việc từ nhà, đeo khẩu trang, giữ giãn cách xã hội để đề phòng lây bệnh. Có lúc thiếu nhu yếu phẩm, dân phải xếp hàng trước siêu thị chờ mua. Hai năm không còn tự do đi chơi đó đây. Xa lộ, phố phường có nhiều ngày vắng xe như giờ giới nghiêm thời chiến tranh trên quê hương cũ. Đó là những hình ảnh lạ trong đời sống Mỹ.

Năm 2020 khi lệnh cấm túc được ban hành vào tháng 3, học sinh không còn đến trường mà ở nhà học online. Hết niên học không nơi nào có lễ tốt nghiệp vì mọi sinh hoạt đông người đã phải tạm ngưng.

Cuối niên học 2021 đã có thuốc chống Covid và nhiều người được chích ngừa, một số nơi có lễ tốt nghiệp nhưng tổ chức đơn giản. Sinh viên học sinh vào những bãi đậu xe, ngồi trên xe nhận bằng. Chỉ vài người thân có mặt. Không bạn bè bên cạnh để chứng kiến, tặng hoa, chụp hình kỷ niệm, chúc mừng tân khoa.

Năm nay, sắp hết niên học và đang là thời điểm của các lễ tốt nghiệp truyền thống cho sinh viên, học sinh.

Chúng tôi vừa đi dự lễ tốt nghiệp của người cháu ở Đại học Colorado, Boulder.

Gần 10 nghìn sinh viên hoàn tất học trình của các ban cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ trong ba năm qua và hôm nay trường tổ chức lễ tốt nghiệp chung cho cả ba năm.

Như truyền thống, buổi lễ “Commencement” để tất cả sinh viên tốt nghiệp tập trung về sân vận động trường, mới đủ chỗ cho mấy chục nghìn người. Hiệu trưởng, các khoa trưởng chúc mừng tân khoa. Sinh viên và gia đình nghe khách mời đặc biệt là phóng viên đài NBC Tom Costello nói chuyện, chia sẻ kinh nghiệm.

Trong số gần một vạn sinh viên tốt nghiệp, chỉ một ít tốt nghiệp các năm trước về lại trường nhận văn bằng vì nhiều người đã có việc làm, ở xa trường không về được.

Người điều khiển chương trình giới thiệu một sinh viên tốt nghiệp năm 1968, nhưng khi đó vì phải gia nhập quân đội Hoa Kỳ sang chiến đấu tại Việt Nam, hôm nay sau 54 năm mới trở lại trường dự lễ.

Người con trai của em tôi cùng gia đình đến Mỹ định cư năm 2016, lúc đó cháu vừa học xong lớp 10 trường Lê Hồng Phong.

Lễ tốt nghiệp tại Đại học Colorado, Boulder hôm 4/5/2022

Gia đình tôi trước ở Ngã ba Ông Tạ nên các em và con cháu trong nhà đều là cựu học sinh các trường trong khu vực như Nghĩa Hoà, nay là Chi Lăng; Bành Văn Trân, trước là Mai Khôi; Thánh Tâm, nay là Tân Bình; hay Nguyễn Gia Thiều, Nguyễn Thượng Hiền, Nguyễn Thái Bình, trước là Nhân Chủ.

Cháu học cấp một trường Bành Văn Trân, cấp hai ở Nguyễn Gia Thiều, thi cấp ba trúng tuyển vào Lê Hồng Phong. Học hết lớp 10, vừa vào lớp 11 thì đi Mỹ định cư.

Bốn năm trước, khi hoàn tất bậc trung học, dù mới qua Mỹ không lâu nhưng với thành tích học tập tốt và tiếng Anh rất trau chuốt, cháu đã được chọn là một trong những học sinh có bài phát biểu trong lễ tốt nghiệp vào tháng 5/2018.

Hôm nay cháu nhận bằng cử nhân ngành giáo dục, với điểm trung bình GPA 3.75 và được tuyên dương là sinh viên xuất sắc. Cháu dự định làm việc vài năm trong chương trình gây quỹ giáo dục của University of Southern California rồi sẽ học lên cao hơn.

Hai con của người em vào đại học đều chọn ngành giáo dục, có thể không phải là lựa chọn của nhiều người Việt, nhưng là ngành mà các cháu thích.

Cô chị tốt nghiệp thạc sĩ Đại học Pennsylvania, một trường trong Ivy League. Những năm qua cháu làm việc cho một cơ sở giáo dục, giúp các bạn ôn tập thi SAT, ACT, TOEFL và hướng dẫn cho sinh viên, học sinh từ Việt Nam có cơ hội đến Mỹ du học.

Không như các thế hệ trước, phần đông sinh viên chọn các ngành nghề kỹ sư, bác sĩ, luật sư như trong nếp văn hoá Việt đã có. Ngày nay nhiều sinh viên Mỹ gốc Việt và cả du sinh đến từ Việt Nam đã chọn các ngành nhân văn, nghệ thuật.

Phạm Lan Phương, mà nhiều người biết qua bút danh Khải Đơn là một thí dụ. Chị từng là phóng viên của báo Tuổi Trẻ, sau đó có thời gian làm cho BBC Tiếng Việt. Được học bổng Fulbright học thơ văn tại Đại học San Jose State University và vừa hoàn tất chương trình thạc sĩ.

Năm ngoái, một học sinh gốc Việt là em Alexandra Huỳnh tốt nghiệp trung học ở thủ phủ Sacramento tiểu bang California đạt giải nhà thơ trẻ 2021 của nước Mỹ.

Thi sĩ gốc Việt Ocean Vương, qua Mỹ theo chương trình con lai vào đầu thập niên 1990 khi mới 3 tuổi, nay là một thi sĩ nổi tiếng đạt nhiều giải thưởng thi ca Hoa Kỳ.

Nhà văn gốc Việt Nguyễn Thanh Việt, đến Mỹ năm 1975 lúc mới 5 tuổi, tiến sĩ từ Đại học Berkeley, đạt giải Pulitzer văn chương 2016 của Hoa Kỳ với tác phẩm The Sympathizer.

Đại học Berkeley cũng đã có sinh viên từ Việt Nam nhận học bổng của Vietnam Education Fund theo học tiến sĩ về môi sinh.

Về nghệ thuật, nhiều hoạ sĩ gốc Việt như Bình Danh, Nguyễn Long, Ann Phong, Nguyễn Việt Hùng được giới phê bình chú ý.

Nghiên cứu lịch sử có các giáo sư tiến sĩ Nguyễn Liên Hằng, Vũ Tường. Về thần học có linh mục giáo sư Trần Quốc Anh.

Quân sự có các tướng Lương Xuân Việt, Nguyễn Từ Huấn. Truyền thông có Betty Nguyễn, Tini Trần.

Người Mỹ gốc Việt nay không chỉ học các ngành khoa học kỹ thuật, không chỉ có bác sĩ, luật sư, kỹ sư mà cũng có người tài giỏi trong giới văn chương, nghệ thuật hay tướng lãnh quân đội.

Hôm lễ tốt nghiệp tại Đại học Colorado, Boulder có diễn giả chính là phóng viên Tom Castello của truyền hình NBC, cựu sinh viên ngành truyền thông của trường. Trong hơn 20 năm qua, sau ngày tốt nghiệp năm 1987, ông ra đời làm việc và đã có mặt ở nhiều nơi, từ biên giới Hoa Kỳ – Mexico, New York đến London làm phóng sự.

Ông nhận định là một sinh viên mới ra trường không có nghĩa là biết mọi thứ, nhưng là người có căn bản để biết nêu câu hỏi, biết đặt vấn đề. Ông nhấn mạnh giữa thời đại nhiễu thông tin qua mạng xã hội, phóng viên có trách nhiệm với nền dân chủ, nhà báo phải tìm ra sự thật, vì nếu thiếu vắng nó sẽ không có nền dân chủ bền vững.

Đại học Colorado ở Boulder có 36 nghìn sinh viên. Trong tập chương trình lễ tốt nghiệp với tên của gần một vạn tân khoa, tôi tìm các tên họ Việt thấy có 2 tiến sĩ, 7 thạc sĩ và 45 cử nhân. Con số nay khiêm tốn, so với các đại học ở California, vì chỉ có 25 nghìn người Việt ở tiểu bang Colorado và đa số sống tập trung trong vùng Denver.

Hôm ở đây tôi đi lòng vòng thăm vài cơ sở người Việt. Có quán phở 888 làm ăn phát tài. Ông chủ người gốc xứ Nam Hoà, Ngã ba Ông Tạ. Người em lúc mới qua cũng làm phụ bếp ở đây. Một ngày tiệm bán cũng đến 300 tô, mùa tuyết lại đông khách hơn, có hôm bán cả nghìn tô.

Đóng góp cho sự phát triển của nước Mỹ không chỉ là giới khoa bảng mà còn thành phần tiểu thương người Việt. Từ những vườn cam ở phía nam California hay cánh đồng hoa vàng ở phía bắc, ngày nay các khu vực này tràn ngập cơ sở thương mại được gọi là “Little Saigon” ở nhiều nơi trên đất nước Hoa Kỳ.

Từ hải đảo biển xanh nắng ấm Hawaii cho đến vùng băng tuyết Alaska nay đã có phở và bánh mì. Đến bất cứ nơi thị tứ nào trên đất Mỹ, dù xa lạ cũng dễ dàng tìm ra quán phở, tiệm bán bánh mì.

Phở 79 nổi tiếng ở Quận Cam. Lee’s Sandwich với chuỗi cửa hàng bánh mì là điển hình của sự thành công trong thương trường của người Việt.

Còn hàng chục nghìn tiệm làm đẹp móng tay của người Việt, với số doanh thu lên đến 8 tỉ đôla một năm. Theo số liệu gần nhất của sở kiểm tra dân số năm 2012, người Việt làm chủ trên 300 nghìn cơ sở thương mại, với doanh thu 35 tỉ đôla một năm.

Rất nhiều gia đình đến Mỹ với hai bàn tay trắng, khởi nghiệp bằng cách đi bỏ báo, cắt cỏ, rửa chén, phụ bếp hay làm móng tay và chẳng bao lâu là có cuộc sống ổn định.

Hoa Kỳ là xứ sở của tự do kinh doanh. Người Việt tính chăm chỉ, sẵn sàng bươn trải, có đầu óc kinh doanh nên nhiều người muốn có văn phòng, cở sở riêng. Gặp thời và trở nên giầu.

Tự do kinh doanh đã đưa nước Mỹ phát triển. Người dân Mỹ, trong đó có người gốc Việt, có thể mở cơ sở thương mại một cách dễ dàng vì thủ tục không rườm rà, không phải lo hối lộ, bôi trơn.

Mới đây, khi Thủ tướng Phạm Minh Chính qua Mỹ dự họp thượng đỉnh Hoa Kỳ – ASEAN, trong một buổi gặp gỡ Việt kiều đã phát biểu là sự thành công của người Việt tại Hoa Kỳ phản ánh sự thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Báo Thanh Niên Online hôm 14/5/22 viết: “Thủ tướng giao trách nhiệm cho Đại sứ quán thúc đẩy, tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt với tinh thần tốt nhất có thể, phát triển nhanh nhất có thể.”

Tôi nghe mà giật mình tưởng mình đang ngủ mơ ở thiên đường xã hội chủ nghĩa. Thủ tướng hãy làm tốt hơn cho dân Việt Nam đi, tạo điều kiện kinh doanh dễ dàng cho tư nhân, cán bộ các cấp bớt vòi tiền bôi trơn để nước Việt Nam có thể phát triển.

Người Việt sống bên Mỹ thành công thì nhà nước Việt Nam đâu có giúp gì. Muốn vào đại học, ra trường muốn có việc làm, hay muốn mở một tiệm phở, tiệm làm đẹp móng tay, một công ti con, đâu có cần giúp đỡ của sứ quán Việt Nam mà thủ tướng lại vơ vào.

Chính vì nhà nước kiểm soát và can thiệp quá nhiều vào đời sống sinh hoạt của dân nên cả triệu người Việt đã bỏ nước ra đi, đến Mỹ tị nạn, lập nghiệp.

Nhà nước Việt Nam can thiệp thì chỉ làm chậm lại sự phát triển của cộng đồng người Việt. Như lãnh đạo đã và đang làm chậm phát triển Việt Nam.

Theo một khảo sát của PEW năm 2019, 22% người Mỹ gốc Việt trên 25 tuổi có bằng cử nhân và 10% có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ. So với toàn thể sắc dân châu Á ở Mỹ nói chung là 30% cử nhân và 24% với văn bằng cao hơn. Trong khi cả nước Mỹ, người trên 25 tuổi có bằng cử nhân là 20% và 13% có bằng thạc sĩ hay tiến sĩ.

Thủ tướng cần ban hành và thực thi nghiêm chỉnh những chính sách thu hút người Việt tài giỏi, để những ai muốn có thể về giúp quê hương. Cộng đồng người Việt ở Mỹ không cần sự giúp đỡ của nhà nước Việt Nam.

Đi dự lễ tốt nghiệp lòng tràn ngập niềm vui. Nghe thủ tướng Việt Nam phát biểu lòng lại man mác buồn.

Lá Thư HỒI ÂM CHÂN THẬT NHẤT THẾ KỶ !

Lá Thư HỒI ÂM CHÂN THẬT NHẤT THẾ KỶ !

Hôm nay có bài Hồi-Âm nầy khá hay của người trẻ đang sống và lớn lên ở VN, mời quí vị đọc để thấy…đắng cay thế nào ?!
Lá thư quá hay !!!

Bạn thân mến,
Lâu lắm rồi giới trẻ chúng tôi mới nhận được một bài viết nói lên sự thật ở đất nước tôi, dù sự thật ấy làm chúng tôi hết sức đau buồn.
Xin cám ơn bạn.

Ở đất nước tôi có câu “sự thật mất lòng” nhưng cũng có câu “thương cho roi cho vọt”, “thuốc đắng đả tật”. Bức thư của bạn đã làm thức dậy trong tôi niềm tự ái dân tộc lâu nay được ru ngủ bởi những bài học giáo điều từ nhà trường như“Chúng ta tự hào là một nước nhỏ đã đánh thắng hai cường quốc Pháp và Mỹ”.
Bạn đã nói đúng: “Tôi đang nhìn thấy một thế hệ, họ không còn biết phải tin vào điều gì, thậm chí còn không dám tin vào chính mình. Là một người Việt, khó lắm. Thật vậy sao?”

Bạn biết đặt câu hỏi như thế là bạn đã có câu trả lời rồi. Những gì tôi viết sau đây chỉ là những lời tâm tình của một người trẻ thiếu niềm tin, với một người bạn đến từ một đất nước vững tin vào dân tộc mình, vào chính bản thân mình.

Bạn nói đúng. So với nước Nhật, nước Việt chúng tôi đẹp lắm. Đối với tôi không có tấm bản đồ của nước nào đẹp như tấm bản đồ của nước tôi. Tấm bản đồ ấy thon thả đánh một đường cong tuyệt đẹp bên bờ Thái Bình Dương ấm áp. Trên đất nước tôi không thiếu một thứ gì cho sự trù phú của một dân tộc . Nhưng chúng tôi thiếu một thứ. Đó là Tự Do, Dân Chủ. Lịch sử của chúng tôi là lịch sử của một dân tộc buồn. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Người đã từng nhận được đĩa vàng tại đất nước Nhật của các bạn năm 1970 (bán được trên 2 triệu bản) với bài hát “Ngủ Đi Con” đã từng khóc cho đất nước mình như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu. Một trăm năm nô lệ giặc Tây. Hai mươi Năm nội chiến từng ngày Gia tài của mẹ để lại cho con Gia tài của mẹ là nước Việt buồn”. Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong “hai mươi Năm nội chiến từng ngày” ông sống tại miền nam Việt Nam nên nỗi đau của ông còn nhẹ hơn nỗi đau của người miền Bắc chúng tôi. Ông còn cóhạnh phúc được tự do sáng tác, tự do gào khóccho một đất nước bị chiến tranh xâu xé, được “đi trên đồi hoang hát trên những xác người” được mô tả người mẹ điên vì đứa con “chết hai lần thịt xương nát tan”. Nếu ông sống ở miền Bắc ông đã bị cấm sáng tác những bài hát như thế hoặc nếu âm thầm sáng tác ông sẽ viết như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu 
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Bảy mươi năm Cộng Sản đọa đày

Gia tài của mẹ, để lại cho con Gia tài của mẹ là nước Việt Buồn”
Bị đô hộ bởi một nước Tàu tự coi mình là bá chủ ở phương Bắc, bị một trăm năm Pháp thuộc . Một ít thời gian không bị ngoại bang đô hộ chúng tôi không có minh quân như Minh Trị Thiên Hoàng ở nước bạn. Huống gì thay vào đó chúng tôi bị cái xui là một trong những nước hiếm họi bị thống trị bởi một chế độ bị coi là quái vật của thế kỷ.
Tại sao người Việt tham vặt. Vì họ đã từng đói kinh khủng.Trong cuộc chiến tranh gọi là chống Mỹ, chống Pháp người dân miền Bắc chúng tôi đã đóiđến độ mất cảtình người. Vì một ký đường, một cái lốp xe đạp, vài lạng thịt người ta tố cáo nhau, chơi xấu nhau dù trước đó họ làngười trí thức. Cho nên ăn cắpl à chuyện bình thường.Tôi cũng xin nhắc cho bạn , năm 1945 hàng triệungười Việt miền Bắc đã chết đói vì một lý do có liên quan đến người Nhật các bạn đấy. Xin bạn tìm hiểu phần này trong lịch sử quân Phiệt Nhật ở Việt Nam. Tất nhiên người Việt vẫn nhớ câu ki “nghèo cho sạch, rách cho thơm” nhưng “thượng bất chính, hạ tắc loạn”. Khi chấm dứt chiến tranh. Người Việt biết họ phải tự cứu đói mình chứ không ai khác. Kẻ có quyền hành tranh dành nhau rừng của những xe chở hàng bị lật nhào. Thật là nhục nhã, thật là đau lòng. Bạn bảo rằng ở  nước bạn người dân giữ gìn vệ sinh công cộng rất tốt. Còn ở Việt Nam cái gì dơ bẩn đem đổ ra đường. Đúng vậy. Nhưng Tự Do, Dân Chủ đã ăn vào máu của các bạn để các bạn ý thức rõ đây là đất nước của mình. Còn chúng tôi? Chúng tôi chưa thấy nước Việt thực sự là của mình.

Ngày trước Nước Việt là của Vua, Có khi nước Việt thuộc Tàu, rồi nước Việt thuộc Pháp, rồi nước Việt là của Đảng Cộng Sản.

Ruộng của cha ông để lại đã từng trở thành của của hợp tác xã, rồi ruộng là của nhà nước chỉ cho dân mượn trong một thời gian nhất định. Đất là của nhà nước nếu bị quy hoạch người dân phải lìa bỏ ngôi nhà bao năm yêu dấu của mình để ra đi. Cái gì không phải là của mình thì người dân không cảm thấy cần phải gìn giữ. Nhưng sự mất mát đau lòng nhất trên đất nước chúng tôi là mất văn hóa và không còn nhuệ khí.

Biết làm sao được khi chúng tôi được dạy để trở thành công cụ chứ không được dạy để làm người. Tiếc thay bản chất thông minh còn sót lại đã cho chúng tôi nhận ra chúng tôi đang bị dối gạt. Nhất là trong những giờ học về lịch sử, văn chương. Lớp trẻ chúng tôi đã mất niềm tin và tìm vui trong những trò rẻ tiền trên TV trên đường phố. Nhớ năm nào nước của bạn cất công đem hoa anh đào qua Hà Nội cho người Hà Nội chúng tôi thưởng ngoạn. Và thanh niên Hà Nội đã nhào vô chụp giựt, bẻ nát cả hoa lẫn cành, chà đạp lên chính một nơi gọi là “ngàn năm Thăng Long văn hiến”. 

Nhục thật bạn ạ. Nhưng lớp trẻ chúng tôi hầu như đang lạc lối, thiếu người dẫn đường thật sự chân thành thương yêu chúng tôi, thương yêu đất nước ngàn năm tang thương , đau khổ. Thật buồn khi hàng ngày đọc trên báo bạn thấy giới trẻ nước tôi hầu như chỉ biết chạy theo một tương lai hạnh phúc dựa trên sắc đẹp và hàng hiệu.

Họ không biết rằng nước Hàn có những hot girls, hot boys mà họ say mê còn là một quốc gia cực kỳ kỷ luật trong học hành, lao động. Bạn nói đúng. Ngay cả bố mẹ chúng tôi thay vì nói với chúng tôi “con hãy chọn nghề nào làm cuộc sống con hạnh phúc nhất” thì họ chỉ muốn chúng tôi làm những công việc , ngồi vào những cái ghế có thể thu lợi tối đa dù là bất chính. Chính cha mẹ đã chi tiền để con mình được làm tiếp viên hàng không, nhân viên hải quan, công an giao thông… với hy vọng tiền thu được dù bất minh sẽ nhiều hơn bội phần. Một số người trẻ đã quên rằng bên cạnh các ca sĩ cặp với đại gia có nhà trăm tỉ, đi xe mười tỉ còn có bà mẹ cột hai con cùng nhảy sông tự tử vì nghèo đói. Mới đây mẹ 44 tuổi và con 24 tuổi cùng nhảy cầu tự tử vì không có tiền đóng viện phí cho con. Và ngày càng có nhiều bà mẹ tự sát vì cùng quẩn sau khi đất nước thái bình gần 40 năm.

Bạn ơi. Một ngày nào chúng tôi thực sự có tự do, dân chủ chúng ta sẽ sòng phẳng nói chuyện cùng nhau. Còn bây giờ thì :

“trải qua một cuộc bể dâu
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Dù sao cũng biết ơn bạn đã dám nói ra những sự thật dù có mất lòng. Và chính bạn đã giúp tôi mạnh dạn nói ra những sự thật mà lâu nay tôi không biết tỏ cùng ai.             

From: Do Tan Hung & KimBằngNguyễn  

NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI – TGM Ngô Quang Kiệt

NIỀM HY VỌNG NƯỚC TRỜI

TGM Ngô Quang Kiệt

Có nhiều người nghĩ thế giới chỉ bó gọn trong trái đất và con người chỉ thuộc về mặt đất.  Nhưng không phải thế.  Hôm nay, Chúa Giêsu lên trời là một bằng chứng cho niềm hy vọng của ta.

Việc Chúa Giêsu lên trời bảo cho ta biết rằng ngoài trái đất còn có trời.  Ngoài cõi nhân sinh nhỏ hẹp còn có cõi thần linh bao la.  Ngoài cuộc sống trần gian mau qua còn có cuộc sống thiên đàng vĩnh cửu.

Chúa Giêsu về trời là niềm hy vọng cho ta.  Mai sau ta cũng sẽ được về trời với Người.  Vì chính Người đã hứa: “Thầy đi để dọn chỗ cho anh em, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó với Thầy.”

Chúa Giêsu đã liên kết ta thành một thân thể với Người.  Người là đầu.  Chúng ta là chi thể.  Đầu tiến đến đâu thì chi thể cũng sẽ tiến đến đấy.

Chúa Giêsu dạy ta biết rằng ta là con của Thiên Chúa Cha, Đấng ngự trên trời.  Con sẽ được ở trong nhà cha mẹ.  Chúng ta sẽ được ở nhà Cha trên trời là tự nhiên.

Tuy nhiên Chúa Giêsu chỉ về trời sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ Đức Chúa Cha trao phó cho Người ở trần gian.  Nhiệm vụ đó là loan báo cho mọi người biết Chúa là Cha yêu thương mọi người.  Nhiệm vụ đó là làm chứng về tình yêu thương của Cha đối với mọi người.

Hôm nay, trước khi về trời, Chúa Giêsu uỷ thác nhiệm vụ đó lại cho ta.  Ta phải tiếp nối sứ mạng của Chúa Giêsu loan báo Tin Mừng yêu thương cho mọi người.  Đem niềm hy vọng đến cho kiếp người.

Với niềm hy vọng đó, người Kitô hữu chân đạp đất nhưng lòng vẫn hướng về trời cao.  Niềm hy vọng đó giải thoát ta khỏi nô lệ vào mặt đất nhờ đã biết rõ vật chất chỉ là phương tiện sẽ mau chóng qua đi.  Niềm hy vọng đó nâng cuộc sống con người lên vì từ nay ta hiểu rằng định mệnh loài người không phải như loài súc vật, nhưng ngang hàng với thần linh.  Niềm hy vọng đó làm cho cuộc sống của ta có ý nghĩa, vì Chúa tạo dựng nên con người không phải để con người tàn lụi đi theo quy luật của vật chất mà để con người phát triển, tồn tại đến vô biên, không phải bị kết án vào những đau khổ vất vả trần gian, nhưng đã được tiền định hưởng hạnh phúc vĩnh cửu trên thiên đàng.  Niềm hy vọng đó cho ta thêm động lực phục vụ tha nhân tận tâm hơn vì đó chính là sứ mang Chúa trao phó.  Niềm hy vọng đó khuyến khích ta tích cực xây dựng xã hội tốt đẹp hơn, vì đó chính là điều kiện cho ta được vào Nước Trời.

Lạy Chúa, xin giúp con chu toàn nhiệm vụ ở trần gian để sau này con được về trời với Chúa.  Amen.

TGM Ngô Quang Kiệt

From: Langthangchieutim

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

‘Đèn Cù’ và tác giả Trần Đĩnh

10:12 | Posted by BVN1

Nguyễn Văn Tuấn

Tôi nghiệm ra rằng lịch sử Việt Nam mình thời XHCN qua giai thoại và những phát biểu riêng tư có ý nghĩa hơn là qua văn bản. Đèn Cù là một cuốn sách có rất nhiều giai thoại, và qua đó cung cấp cho chúng ta một cái nhìn khác về những người lãnh đạo ở miền Bắc.

Có khi nào các bạn để ý đến các bài nói chuyện của giới lãnh đạo chánh trị ở Việt Nam? Tôi không nói đến những bài diễn văn mà họ đọc trước công chúng hay các buổi lễ lạc; tôi nói đến những buổi tiếp xúc mang tính riêng tư hay giữa những người trong cùng hội. Nội dung của những bài nói chuyện trong các buổi họp mặt như thế, mặc dù là khách mời – guest speaker – nhưng thường là những chuyện có vẻ tầm phào, chẳng có hàm lượng tri thức gì cả.

Có lần, trong một buổi họp mặt các phóng viên mảng khoa học, họ mời một ký giả kỳ cựu đến chia sẻ kinh nghiệm. Tựa đề bài nói chuyện được ghi trong giấy mời là “Báo chí và vai trò truyền tin khoa học” làm cho tôi chuẩn bị lắng nghe. Thế nhưng suốt buổi nói chuyện, ông chỉ nói về những trải nghiệm cá nhân (như cá tánh, nhậu nhẹt), những câu chuyện rời rạc (ví dụ như tai nạn nghề nghiệp), hay nói chung là những câu chuyện chẳng đâu vào đâu, thậm chí chuyện tiếu lâm liên quan đến các nhân vật quan trọng mà ông có dịp tiếp xúc. Ông nói không có note, mà giống như kể chuyện. Mọi người khen ông ‘nói hay’.

Nghe xong tôi không biết mình học được gì từ bài nói chuyện. Nhưng nếu ghép những ‘ký ức vụn’ đó vào những câu chuyện của các tác giả khác thì chúng ta có một bức tranh tương đối rõ nét về mấy vị lãnh đạo ngoài đó. Các tác giả khác đó là Bùi Tín, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Minh Cần, Trần Quốc Vượng, Dương Thu Hương, Tô Hải, Lê Phú Khải, và đặc biệt là Trần Đĩnh.

Ký ức của những người trong cuộc

Nếu là người bình thường đọc những sách của các tác giả trên, người ta thoạt đầu sẽ thấy… khó tin. Chính tôi cũng ở trong tâm trạng đó khi đọc ‘Đêm Giữa Ban Ngày‘ của Vũ Thư Hiên và Hoa Xuyên Tuyết của Bùi Tín. Khó tin vì tôi nghĩ chẳng lẽ mấy vị như HCM, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Trường Chinh, v.v. trông có vẻ rất uy nghi mà lại có những hành xử rất ‘trần ai’ như mô tả trong sách. Nhưng sau này, đọc nhiều sách của những nhân vật trong cuộc ngoài Bắc mới thấy những sự kiện họ kể lại trong sách là rất khả tín. Những cuốn sách của các tác giả đó có tác động như mở mắt cho tôi.

Tác giả Trần Đĩnh (tên thật là Trần Kim Đĩnh) mới qua đời tuần vừa qua (ngày 12/5/2022) tại Sài Gòn. Ông thọ 93 tuổi. Các bạn trẻ có lẽ không nghe hay biết đến ông, nhưng ông là một chứng nhân quan trọng. Ông là người từng chấp bút viết tiểu sử cho Hồ Chí Minh và từng tiếp xúc với nhiều nhân vật cộng sản cao cấp trong An Toàn Khu ở miền Bắc trong thập niên 1950. Trong vai trò đó, ông biết rất nhiều chuyện ‘thâm cung bí sử’ của các nhân vật lãnh đạo miền Bắc. Những câu chuyện được ông ghi chép lại khá cẩn thận, nhưng không thể in được ở trong nước. Năm 2014, Nhà xuất bản Người Việt Books ở California ấn hành cuốn ‘Đèn Cù‘ cho ông.

Đèn Cù không hẳn là hồi ký, mà là những mảnh ký ức vụn của ông trong vai trò một ký giả kỳ cựu. Trong sách, ông giãi bày những cảm tưởng, ghi lại những sự kiện lịch sử, và những câu chuyện mà sách giáo khoa và văn bản chánh thức của đảng không bao giờ đề cập đến.

Chuyện tử hình bà Nguyễn Thị Năm

Chẳng hạn như chuyện ông HCM cải trang đi xem buổi hành hình bà Nguyễn Thị Năm được mô tả rất chi tiết. Trần Đĩnh kể rằng hôm đấu tố bà Nguyễn Thị Năm, “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt”. Khi bà Năm bị bắn chết và người ta phải đưa thi thể bà vào cái hòm, nhưng cái hòm thô sơ và nhỏ nên không vừa với thi thể của bà. Thế là các “Du kích mấy người bèn đặt bà ta nằm trên miệng cỗ áo rồi nhảy lên vừa giẫm vừa hô…” Sau đó người ta đem thi hài của bà đi đâu chẳng có thân nhân nào biết (nghe nói sau này năm 1993 thân nhân tìm được mộ qua một nhà ngoại cảm). Đọc mà hình dung cảnh đó sao tôi thấy rợn người.

Cần nói thêm rằng bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long) như chúng ta biết là một ‘đại gia’ (nói theo ngôn ngữ ngày nay), nhưng cũng là một ân nhân của ông Hồ và những người lãnh đạo cao cấp trong đảng. Bà đóng góp 700 lạng vàng cho Việt Minh. Con trai của bà theo Việt Minh và làm sĩ quan trong quân đội. Các lãnh đạo Việt Minh thời đó như Trường Chinh và Hoàng Quốc Việt đều tá túc hay được bà giúp đỡ. Nói chung, bà là người tư sản và là người tốt bụng.

Nhưng Nhà văn Trần Đĩnh kể trong “Đèn cù” rằng trước khi đem bà đi bắn, ông HCM qua bút danh “C.B” viết bài “Địa chủ ác ghê” trên báo Nhân Dân tố cáo bà Nguyễn Thị Năm từng giết chết 14 nông dân, làm chết 32 gia đình, phản cách mạng, v.v. Bài viết đậm chất đấu tố cũng là bản án dành cho bà Nguyễn Thị Năm: tử hình.

Ông Đỗ Mười bị bệnh tâm thần?

Một trong những tiết lộ thú vị nhứt của Đèn Cù là ông Đỗ Mười, theo Trần Đĩnh, là người có vấn đề tâm thần. Ông viết rằng có lúc ông Đỗ Mười phải nhập viện khoa tâm thần Việt – Xô. “Khi lên cơn, ông leo lên cái cây cạnh cổng đứng xoạc chân cành cao cành thấp giơ tay hét xung phong. Các cô y tá ra dỗ bác xuống đều ù té chạy. Bác mặc quần đùi, trận địa pháo đài bày ra hết. Mà các cô thì không ở nam khoa, nội tiết. Sau gien điên của Đỗ Mười đã bền bỉ truyền sang cả con trai và cháu. Đồn rằng đặc điểm là thạo ăn người“.

Tôi không hiểu “thạo ăn người” có ý nghĩa gì. Nhưng trong sách có nhiều chỗ ông viết rất khó hiểu như thế.

Nhà tư tưởng Lê Duẩn và rau muống

Trần Đĩnh kể rằng ông Lê Duẩn thích thể hiện như là một nhà tư tưởng. Một hôm ông soạn một cương lĩnh về con người và phụ tá lái xe mời GS Trần Đức Thảo đến để nghe ông thuyết trình. Khi nói xong, GS Thảo ngồi yên, không có ý kiến. Khi phụ tá của ông Duẩn nhắc nhở, GS Thảo buông một câu rằng ông chẳng hiểu gì cả. Thế là Duẩn nổi nóng “thượng cẳng tay hạ cẳng chân” cho GS Thảo một phen suýt chết. Lê Duẩn còn ‘phạt’ để cho GS Thảo đi bộ vài cây số về nhà.

Ông Lê Duẩn đề nghị BS Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu xem một chén cơm ăn với rau muống luộc và rau muống xào thì bên nào giàu dinh dưỡng hơn. Tác giả viết “Tôi nghĩ ngay việc gì phải Phạm Ngọc Thạch nghiên cứu, cứ bày lên bàn ông Duẩn hai dúm cơm, một rang mỡ, một không là kiến nó cho ý kiến ngay không phải chờ Phạm Ngọc Thạch chỉ thị cho ngành y tế“.

Chuyện BS Phạm Ngọc Thạch

BS Phạm Ngọc Thạch là dân Nam Bộ, Tây học, và người có cá tánh. Ông tự lái xe hơi chứ không cần tài xế. Trong Đèn Cù, Trần Đĩnh kể rằng khi một đồng nghiệp Nam Bộ của ông là BS Nguyễn Văn Cương qua đời ở Hải Phòng, ông tự lái xe xuống Hải Phòng để đưa đám. Khi tới nơi, ông thấy tượng Phật và chuông mõ còn trong nhà mà không đưa theo linh cữu, nên ông nổi nóng nói: “Tin hay không là chuyện riêng của các anh; còn tất cả chúng ta đều phải tôn trọng tín ngưỡng của người thân đã khuất’”.

Chuyện về những “Thằng”

Chữ ‘thằng’ bây giờ rất nổi tiếng, nhứt là sau chuyến công du của ông thủ tướng PMC. Nhưng nếu đọc Đèn Cù, các bạn sẽ gặp rất nhiều ‘thằng’ được đề cập đến trong những buổi gặp mặt riêng tư. Trần Đĩnh kể rằng ông Nguyễn Chí Thanh (đại tướng) rất mê Tàu và hay nói chuyện bỗ bã. Có lần ông Thanh lý giải rằng bún là món ăn xa xỉ, rằng “thịt chó phải đi với thằng bún và “thằng mắm tôm”.

Nhưng ngạc nhiên là ‘thằng’ còn được dùng cho một tổ chức quốc tế. Đọc Đèn Cù, thấy có đoạn tác giả trích lại câu nói của ông Đỗ Mười nói về Liên Hiệp Quốc như sau:

“Anh có biết Liên Hợp Quốc là gì không? Nó là thằng địch phản động, thế mà anh lại giúp nó vu cáo ta, gây sức ép với ta bằng lá thư của anh. Nó đang chửi ta vi phạm nhân quyền kia kìa”.

Có một điều đáng chú ý là các nhân vật như ông HCM, Võ Nguyên Giáp, và cả Phạm Văn Đồng không thấy họ dùng chữ ‘thằng’. Chỉ có mấy người như Đỗ Mười, Lê Duẩn, Nguyễn Chí Thanh, v.v. hay dùng chữ ‘thằng’. Cái khác biệt giữa hai nhóm này là một bên là nhóm có học thức và một bên là hơi kém học thức.

Nói chung, trong Đèn Cù, Trần Đĩnh vẽ chân dung của những người trong vai trò lãnh đạo ngoài Bắc rất ư là… ‘trần ai’. Khó biết được bao nhiêu những gì kể trong sách là thật, nhưng nhiều điều được viết ra trong sách có vẻ nhứt quán với, và giải thích được, những gì xảy ra ngày nay. Tác giả Trần Đĩnh đã ra người thiên cổ nhưng những gì ông kể lại sẽ là chất liệu và chứng từ để thế hệ sau nghiên cứu về lịch sử cận đại của Việt Nam.

TRẦN ĐĨNH 1930 – 2022. Ảnh: Phạm Đình Trọng

N.V.T.

Nguồn: FB Nguyễn Tuấn

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

Tham nhũng, bệnh thành tích, hư danh do đâu mà ra?

10:27 | Posted by BVN1

Trương Quang Đệ

Hiện nay những tật xấu nói trên đã thành mãn tính, làm xói mòn niềm tin của dân chúng về đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn. Hình như mọi nơi mọi cấp đều thấy tham nhũng, thành tích dỏm, tiến sĩ cầu lông, giáo sư nửa chữ không thông.

Về bề mặt, những tật xấu này xuất hiện ở những khâu yếu kém về cơ chế quản lý, giám sát, về công tác nhân sự; thiếu vắng dư luận xã hội. Về chiều sâu những tật xấu ấy sản sinh từ một nền giáo dục không đủ tầm nhân bản.

Có một thời, tuy sống dưới chế độ thực dân phong kiến, học sinh các cấp vẫn được học trong sách Quốc văn giáo khoa thư những bài về ứng xử cao đẹp của con người, rồi đọc thêm bên ngoài những sách như “Cổ học tinh hoa”, “Những tấm lòng cao cả”, v.v. Ngày nay nói chung tài liệu học tập các cấp không đủ tầm nhân bản mà thiên về kiến thức khoa học cao siêu, chẳng hạn dạy đánh vần theo âm vị, âm tiết trong sách Tiếng Việt. Không biết chuyện tôi sưu tầm sau đây có thầy cô nào quan tâm dạy cho trẻ không?

“Một cậu bé ngồi chơi bên đường bắt được một con bướm. Vừa lúc ấy một nhà sư đi ngang qua, mang nặng trên vai một bó củi thu lượm trong một khu rừng gần đó. Cậu bé ra hiệu cho nhà sư dừng lại, đặt bó củi xuống đất rồi nói:

– Trong tay cháu có một con bướm, đố sư ông biết nó sống hay chết? Nếu sư ông nói sai, bó củi thuộc về cháu đó.

Sư ông mỉm cười, không chút do dự, nói ngay:

– Nó chết rồi!

Cậu bé cười đắc thắng, xòe tay ra, con bướm sống bay vút lên không.

– Sư ông thua rồi!

Sư ông mỉm cười chấp nhận thua rồi lững thững đi tay không về chùa.

Về đến nhà, cậu bé thích thú kể cho cha nghe chuyện con bướm và bó củi. Nghe xong người cha hoảng hốt, vác bó củi và dắt cậu bé đi đến chùa gặp nhà sư. Người cha trả lại củi cho nhà sư, nói ngắn gọn lời xin lỗi thay cho con. Nhà sư chỉ mỉm cười xoa đầu cậu bé rồi trao đổi vài lời với người cha về thời tiết, về công việc đồng áng. Hai cha con từ biệt nhà sư ra về. Dọc đường cậu bé thắc mắc hỏi cha:

– Nhà sư thua con mà, sao cha lại trả bó củi?

Người cha giải thích:

– Nhà sư biết con bướm còn sống, nhưng sợ rằng nếu ông nói đúng, con sẽ bóp chết con bướm. Vì vậy nhà sư cố nói sai để cứu sinh mạng con bướm. Con biết không? Đó là lòng từ bi của nhà sư. Con nhớ lấy chuyện này để tâm niệm cả đời làm việc thiện, tránh làm điều ác”.

Muốn có một nền giáo dục nhân bản phải có một tầng lớp tinh hoa trong xã hội làm nền tảng. Tiếc thay hiện nay tầng lớp đó bị xóa bỏ. Ngày trước “Đã là con nhà thì không làm điều sai trái”, đã là nhà giáo, sinh viên thì dân chúng tin tưởng tuyệt đối về phẩm hạnh.

Ngoài nhà trường ra, dư luận xã hội cũng là môi trường giáo dục. Một thứ “chế tài” hiệu quả đối với những kẻ xấu là bạn bè xa lánh.

Nhưng trong xã hội vẫn có thể lưu truyền những điều tai hại ẩn náu dưới dạng những kinh nghiệm sống. Tôi ngán nhất là thường nghe ai đó nói một cách chắc nịch:

– Tham nhũng là chuyện phổ biến không riêng gì ở nước ta mà khắp mọi quốc gia trên thế giới.

– Không ai làm việc tốt một cách vô tư cả, ai cũng có động cơ về lợi ích cá nhân.

– Thương trường là chiến trường.

…

Đó là những điều ngụy biện nhằm thanh minh cho nạn tham nhũng, những cách làm ăn chụp giựt, những lối cạnh tranh không lành mạnh, những việc thiếu trách nhiệm trong quản lý.

Nói tham nhũng là tật chung cho mọi quốc gia thì coi như bỏ cùng một rọ nhà nước dân chủ với nhà nước chuyên chế. Trong một nhà nước dân chủ, hệ thống luật pháp và việc tự do ngôn luận luôn nhanh chóng phát hiện các hiện tượng tham nhũng và xử lý kịp thời. Trong một nhà nước chuyên chế, việc chống tham những rất khó vì không ai dám nói gì, do đó nó chỉ được bó hẹp vào nhóm nắm quyền lực cao nhất, mọi việc vì vậy mà thường chậm trễ và hiệu quả thấp.

Nói không ai làm việc tốt mà không có động cơ cá nhân là phủ nhận biết bao người vô tư, trung thực, thiện chí; coi ai cũng xấu, xấu nhiều xấu ít mà thôi. Quả là một nhận định thê thảm cho loài người. Còn câu “thương trường là chiến trường” chỉ đúng cho các nền kinh tế thị trường sơ khai, hoang dã, chưa có thói quen làm ăn chính đáng, chưa biết cách hợp tác trong kinh doanh.

Bệnh thành tích và thói hư danh là sản phẩm của các xã hội không lấy thực chất con ngườì làm trọng mà chỉ dựa vào các con số thống kê, dựa vào những nhãn mác hình thức như bằng cấp, chức danh, học hàm học vị. Ở các nước tiên tiến người ta tuyển dụng nhân sự bằng các cuộc phỏng vấn, những ngày thử việc, chứ không dựa vào một mớ giấy tờ hỗn độn như các cấp quản lý ở các nước chậm tiến.

T.Q.Đ.

Nguồn: FB Truong Quang De

THỜI GIAN

THỜI GIAN

… Có thể đi qua những nông sâu của cuộc sống, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng người.

Có thể đi qua những khó khăn, rồi quay nhìn lại để hiểu lòng mình.

Nhưng không thể đi qua cái chết, rồi quay nhìn lại để hiểu cuộc sống. Cách duy nhất để hiểu cuộc sống là “sống”.

Thời gian đẩy mỗi người đi về phía hư vô, rồi không quên xóa hết từng dấu chân phía sau lưng họ. Thời gian như con đường một chiều, không cho người quay lại.

Khi càng sống trọn vẹn, tiếc nuối càng ít, nỗi lo sợ cái chết càng nhỏ.

Thời gian là con đường một chiều, không quay lại, không cho phép ai quay lại.

Cách duy nhất để hiểu được cuộc sống là “sống”.

Mong người luôn an.

Bài trích một đoạn từ

Cuộc Sống Nhìn Từ Ô Cửa Thiền

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”…- Tạp Ghi Huy Phương

Van Pham

Tạp Ghi Huy Phương

Sài Gòn và Hà Nội hay “Singapore & Paris Việt Nam”….

(Văn hóa của kẻ “thắng cuộc với văn hóa của người “thua cuộc”!!!)

Sau khi đi tù về vài năm, khoảng 1985, tôi có mở một tiệm làm hình và tráng phim gia công trên đường Lý Thái Tổ, Sài Gòn. Nhờ vậy, ở đây tôi có dịp tiếp xúc với nhiều người đủ mọi tầng lớp xã hội và ở khắp mọi miền, nhất là dân miền Bắc, sau Tháng Tư, 1975, đổ xô vào Nam kiếm ăn rất nhiều. Vì dù miền Nam sau ngày “giải phóng” đã xuống cấp tột cùng, trông cũng còn khá giả, tươm tất hơn ở miền Bắc sau 20 năm dưới chế độ cộng sản.

Một ngày nọ, tôi gặp một người trung niên miền Bắc, trông mặt mày cũng khôi ngô, nhưng áo quần nhàu nát, làn da xanh mét như người thiếu ăn, anh vào tiệm, ngửa tay ra, nói mấy câu. Nghe giọng nói tôi biết ngay là người này ở ngoài Bắc mới vào, đang hành nghề xin ăn.

Tôi hỏi anh:

– “Tận ngoài Bắc, sao anh vào đây đi ăn xin?”

Không hề ngượng nghịu, anh nói rõ:

– “Vào đây xin 10 người cũng có được 6 người móc túi cho, lại chẳng bao giờ bị chửi bới. Ngoài Bắc, nhất là Hà Nội, thì đừng hòng! Có mà chết đói.”

Ðó là điều tôi nhận ra, như vậy là có sự khác biệt nhau giữa Sài Gòn và Hà Nội. Hà Nội đại diện cho miền Bắc và Sài Gòn phản ánh cho những đặc tính của miền Nam.

Cộng Sản vào không phải làm điện khí hóa cho nông thôn trở thành thành thị, nhưng thật tình đã “nông thôn hóa” thành thị, nên dân Sài Gòn thường trực bị cúp điện, nhiều nơi tìm cách đào giếng để kiếm nước và sẵn sàng bới sân gạch lên để trồng khoai lang cải thiện, hay như ông bạn tôi ở chung cư Thanh Ða, bớt chỗ sinh hoạt để nuôi hai con heo nái trên sân thượng.

Sài Gòn sau thời gian đổi tên, nguyên do chỉ vì cái bến Nhà Rồng chết tiệt, chẳng mấy chốc xuống gần bằng Hà Nội. Bằng Hà Nội hơn, nhất là sau khi họ ồ ạt “vào thành phố” như một câu hát của Trịnh Công Sơn, với những “cửa hàng thịt phụ nữ,” “cửa hàng chất đốt thanh niên” mọc ra. Cái cảnh phơi áo quần trên cửa sổ, treo khăn lông trong “xe con,” nuôi heo, trồng rau ngay trong sân nhà, hay hai anh bộ đội lái xe khác chiều dừng xe ngay giữa lộ để nói chuyện với nhau, bất cần tiếng chửi của thiên hạ.

Mới thoạt nhìn, Sài Gòn bỏ ngỏ và bắt đầu nhếch nhác giống Hà Nội, nhưng sự thật trong gan ruột, hai thành phố đối cực, đối đầu này đang có những điều khác biệt, một bên là “nơi hang ổ cuối cùng và đâu cũng thấy tàn dư Mỹ Ngụy,” và Hà Nội, “thủ đô của lương tri, phẩm giá con người!” Vì vậy mà ngày nay, sau gần 40 năm “thống nhất” người ta còn đi tìm và thấy ra có quá nhiều khác biệt giữa Sài Gòn, Hà Nội.

Cách biệt vì cách đối xử chính trị như vậy, trách sao Sài Gòn và Hà Nội không cách biệt về văn hóa, mặc dầu lúc nào hai bên cũng cho bên kia là “quê hương tù dày!” Tuy vậy, Hà Nội thắt lưng, buộc bụng, tẩy não, “dốc hết hạt gạo, cục muối cho miền Nam đánh Mỹ,” làm sao so được với Sài Gòn “bơ thừa sữa cặn!”

Nói về giáo dục, sau Tháng Tư, 1975, đồng bào và thầy cô giáo miền Nam hẳn đã biết loại văn hóa ăn nói vô lễ, thô tục của lũ trẻ miền Bắc mới vào Nam, vì miền Bắc không có khẩu hiệu “tiên học lễ, hậu học văn” treo trong các lớp tiểu học. Ngày ra Bắc, lên tận Hoàng Liên Sơn, tôi đã trông thấy những nét văn hóa tiêu biểu, được viết bậy lên vách tường nhà trường tiểu học, chưa kịp xóa sạch, nói đến sự quan hệ của ngành công an và giáo dục: “Công An (đ.) Cô Giáo!”

Trên đường làng Cẩm Nhân, Yên Bái, chúng tôi đi ngang một nhà giữ trẻ của hợp tác xã, nghe tiếng trẻ khóc la và tiếng quát của một phụ nữ: “Bố mẹ chúng mày đéo cho lắm vào, để chúng mày làm khổ thân bà!” “Bà” đây là người giữ trẻ của hợp tác xã nông nghiệp, bà có nhiệm vụ giữ trẻ thì khỏi ra đồng như các hợp tác xã viên khác. Liệu lũ trẻ này lớn lên dưới sự chăm sóc của những người này này, ngôn ngữ của chúng sẽ ra sao?

Trên các blog và báo chí trong nước, đề tài “những sự khác biệt giữ Sài Gòn và Hà Nội” tương đối là một đề tài hấp dẫn.

Tôi dẫn một vài ví dụ:

Giao tiếp:

– Ở Sài Gòn, bạn dửng dưng khi thấy cô bán hàng cúi gập người chào bạn.

– Ở Hà Nội, bạn xúc động đến sững sờ khi thấy ai đó nói lời cảm ơn.

Hàng quán:

– Tô hủ tíu mì Sài Gòn được bưng ra với tô được đặt trên chiếc đĩa.

– Bát phở gà Hà Nội được khuyến mại với ngón tay cái của con bé bưng bê!

Ca ve:

– Khi bạn vừa thanh toán xong tiền cho cave…

Cave Hà Nội: “Cho em xin thêm 10 nghìn để còn đi xe ôm về.”

Cave Sài Gòn: “Em bớt cho anh 10 ngàn, lần sau nhớ kiu em nha!”

Nhà sách:

– Hà Nội: Nhân viên hách dịch.

– Sài Gòn: Vào đọc chùa thoải mái, nhất là các em bé, có thể ngồi tại chỗ đọc mà không sợ bị đuổi!

Trong quán ăn:

– Sài Gòn: “Vâng em làm ngay đây.”

– Hà Nội: “Làm gì mà cuống lên thế! Muốn nhanh thì xéo sang hàng khác!”

Bạn bè:

– Hà Nội: Hay để bụng, ghét mà trước mặt vẫn chơi, về nhà nói xấu.

– Sài Gòn: Mau huề, ghét là biến, không chạm mặt!

Nhưng liệu những sự khác biệt này kéo dài được bao lâu nữa? Bây giờ, Sài Gòn và Hà Nội đã bắt đầu đầu giống nhau, ảnh hưởng và bị đồng hóa, vì người Nam ra Bắc thì ít mà người Bắc vô Nam càng ngày càng đông, như một người tên Jor Dan viết trên blog: “Mỗi người có một cách suy nghĩ riêng. Nhưng đa phần chỉ nói yêu Hà Nội, nhưng lại thích được sống ở Sài Gòn. Ca sĩ Hà Nội vào Sài Gòn lập nghiệp nhiều quá còn gì!”

Sau 42 năm bây giờ hai thành phố này đã có những chuyện giống nhau. Ở đâu cũng kẹt xe kinh khủng, và sau một trận mưa, không chỉ ở thành phố “Singapore của bác” mà ở Hà… Paris… cũng lội!

Vô kỷ luật:

Sinh viên:

– Hà Nội: Nhiều em cave trông như sinh viên.

– Sài Gòn: Nhiều em sinh viên trông như cave.

Giao thông:

– Sài Gòn: Bạn có thể vượt đèn đỏ thoải mái.

– Hà Nội: Bạn có thể lượn lờ trước mũi xe hơi.

Chúng ta không hy vọng gì Hà Nội Paris và Sài Gòn Sing sẽ mãi mãi khác nhau vì chúng ngày càng gân hơn. Sự đồng hóa và việc di dân ồ ạt sẽ làm cho Sài Gòn càng ngày càng gần với Hà Nội. Ðiều rõ nhất là Hà Nội trước năm 1954 và Hà Nội bây giờ hoàn toàn khác nhau. Năm 1954, sau Hiệp Ðịnh Geneva, một số người đã mang sự thanh lịch của Hà Thành năm xưa đi xa, để “Hà Lội Paris” ngày nay cho những người mới vào tiếp thu, từ giọng nói đến văn hóa cư xử đã hoàn toàn khác biệt.

Người Sài Gòn hôm nay sẽ không còn là người Sài Gòn của những ngày tháng cũ, tất cả chỉ còn là chuyện thời gian. Chỉ sợ sau ngày Sài Gòn trở lại tên cũ, chất Sài Gòn sẽ không còn nữa.

Chúng ta yêu Sài Gòn chính là yêu chính chúng ta, cái bóng của dĩ vãng. Muốn Sài Gòn không đổi thay, chính lòng mình phải không thay đổi.

Hình minh họa: – Một xã hội đè lên nhau để chụp giựt…

Lại chuyện ‘án cho quan’ qua vụ thuốc giả mà thứ trưởng y tế bị bốn năm tù (RFA)

Đài Á Châu Tự Do 

Thông tin về án tù bốn năm cho Thứ trưởng Bộ Y tế được đăng tải trên fanpage của Báo điện tử VTV hôm 19/5, đến này có gần 900 lượt bình luận, rất nhiều trong số đó bày tỏ sự tức giận với việc toà giảm án dành cho cựu lãnh đạo Bộ Y tế.

Facebooker Trần Hưng bình luận: “Không thoả đáng. Cái quái gì vậy, như vậy có phải quá nhẹ nhàng? Luật pháp sao xử kỳ vậy! Kẻ sát nhân tiếp tay hại hàng nghìn con người vì uống thuốc giả, cướp tài sản, bao nhiêu nước mắt của người dân. Ấy vậy mà bốn năm tù!!”

“Nếu đúng như vậy thì không còn tin vào pháp luật Việt Nam nữa, phải phạt mức án cao nhất mới thỏa đáng.” – Người dùng Facebook tên Thuỳ Dung.

Facebooker Nguyễn Tân Tiến cho rằng: “Án nhẹ quá chắc sẽ còn nhiều Thứ trưởng khác theo anh!”

Ngay sau khi có bản án bốn năm như vừa nên, nhiều người nêu lại trên tài khoản Facebook những bản tin cũ trước đây ‘ Trộm sáu buồng cau, đổi án chín năm tù’, ‘Thanh niên lãnh bảy năm tù vì bắt một con vịt về nhậu’… !

#RFAVietnamese #TruongQuocCuong #ThutruongBoYte #BoYte

Lại chuyện ‘án cho quan’ qua vụ thuốc giả mà thứ trưởng y tế bị bốn năm tù

KHI TA GIÀ ĐI.

Lương Văn Can 75. Kimtrong Lam  

KHI TA GIÀ ĐI.

Hai tuần lui tới bệnh viện, tận mắt chứng kiến những bệnh nhân cao tuổi ở Khoa tim mạch, tiếp xúc, nói chuyện với những bệnh nhân già, chợt nghĩ đến một ngày ta già đi, ta sẽ tự nhủ mình rằng:

 Khi ta già đi, ta sẽ không lo nghĩ mấy cái chuyện bao đồng của con cháu 3 đời như cha mẹ ta thường lo lắng. Bởi con cháu đứa nào cũng có cuộc sống riêng của nó, ta cần sự tĩnh lặng để thư thái, nghỉ ngơi và cứ để mọi thứ thuận theo quy luật tự nhiên của cuộc sống.

 Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

 Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày, ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

 Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán, nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật. Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi, nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

 Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên mà thôi.

Nguồn: https://www.facebook.com/bacaihiensi/posts/723449085666749/

TIỀN VÀ TÌNH DỤC.

Lê Hoàng Nam

TIỀN VÀ TÌNH DỤC.

Nghệ thuật tiếp thị của người đẹp trong giới showbiz Việt lâu nay không phải là nhân cách. Nhân cách không phải là thứ có thể tiếp thị để kiếm tiền. Mất nhân cách mới là món hàng đáng giá. Càng mất nhân cách càng kiếm được nhiều tiền.

Có một hoa hậu đã ngang nhiên nói và báo Vietnamnet cũng ngang nhiên đăng rằng bạn trai muốn làm vừa lòng cô chỉ cần 4 bước. Đó là tặng tiền, xem đã hết tiền chưa để rồi tự động nhét tiền vào ví, tặng thật nhiều tiền và tặng tiền bất kỳ lúc nào không cần phải đợi lễ lượt.

Đó là cách chứng tỏ tình yêu và cũng là cách để lấy lòng người đẹp hiện nay.

Với một cô gái từng tuyên bố ” Không có tiền thì cạp đất mà ăn à” thì ê kip Vũ Khắc Tiệp đưa cô ta đến Pháp không phải để tiếp thị tài năng hay nhân cách. Đó là thứ mà Ngọc Trinh không có. Cái mà cô ta có là một thân thể gợi dục . Và thứ mà cô ta cần là những scandal trên mặt báo.

Vậy nên khi cô ta ăn mặc hở hang trên thảm đỏ , dư luận càng bàn tán , càng chửi bới thì ê kip lăng xê Ngọc Trinh càng thu được hiệu quả quảng bá. Chính vì thế càng chửi Ngọc Trinh càng hở bạo.

Ngọc Trinh là người mẫu quảng cáo đồ lót và cũng là người lợi dụng scandal tình , tiền để làm nên thương hiệu. Trong thời buổi bây giờ tên tuổi càng nóng càng nhận được nhiều hợp đồng quảng cáo vì hàng hóa có cô ta làm đại sứ thương hiệu càng bán chạy hơn.

Vô tình dân mạng chửi Ngọc Trinh nhưng đang tiếp tay cho cô ta làm giàu. Thất bại lớn nhất của Ngọc Trinh đó là đến Liên hoan phim với một trang phục kín đáo , thanh cao, lịch sự nhưng chẳng ai để ý đến vì chẳng hề đóng phim nào.

Nó cũng giống như Nguyễn Xuân Phúc đến dự hội nghị G7, G20 mà không tỏ ra ngớ ngẫn trong việc bắt tay, không quạt phành phạch khi nghe nhạc giao hưởng thì cả thế giới sẽ không hề biết thủ tướng Việt Nam là ai.

Nghệ thuật tiếp thị ngày hôm nay là tạo ra sự chú ý, cho dù sự chú ý đó mang nghĩa tiêu cực. Trong một xã hội độc tài khi đạo lý băng hoại, pháp luật không còn được coi trọng thì việc làm sao kiếm được nhiều tiền mới là mục đích tối thượng.Xã hội Việt Nam bây giờ mà đưa các tiêu chuẩn của người phụ nữ miền Nam trước 1975 ra làm thước đo sẽ bị cười là quá lạc hậu.

Tuy nhiên tiền và tình dục cũng chỉ có giá trị khi con người còn trẻ. Khi sự băng hoại về đạo lý đã làm một đất nước mục ruỗng như một con bệnh ung thư vào giai đoạn cuối thì tiền chỉ là những con số biết nhảy múa mà thôi. Sắc đẹp không ở mãi với con người và dục vọng cũng sẽ có ngày bị mất đi trong một cơ thể bệnh tật, không còn nhựa sống. Đến lúc đó dẫu có ôm trong tay một đống tiền cũng vô nghĩa.

Có người biện hộ là phải kiếm thật nhiều tiền để dành cho những lúc như thế để không phải đi ngửa tay ăn xin.Nhưng rồi sẽ thấy tiền không biết bao nhiêu là đủ.Đủ hay không là do ở mình.Vậy nên nhiều người khi về già đã chọn việc xa lánh chốn thị phi, gần gũi với tôn giáo để chiêm nghiệm lại những triết lý cuộc đời .

Fb Dương Hoài Linh

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến – Vũ Biện Điền

23/02/2022

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

Tôi (trộm) nghe nói rằng quân tử ba ngày mà không đọc sách thì diện mạo dơ dáng, và trò chuyện khó nghe. Tôi vốn bẩm sinh mặt mũi không mấy dễ coi, và chuyện trò vô cùng nhạt nhẽo nên (lắm khi) đến vài ba năm cũng chả nhìn đến một cuốn sách nào mà vẫn cứ sống phây phây – chả có (trăng) sao gì ráo trọi.

Tháng trước, tôi được nhà xuất bản Tiếng Quê Hương gửi cho một bộ sách to đùng, dầy hơn ngàn trang (thấy mà ớn chè đậu) tựa là Phiên Bản Tình Yêu. Bìa trước và bìa sau đều có hình của hai phụ nữ khỏa thân, và trông (hơi) gợi dục!

Tên tác giả (Vũ Biện Điền) lại hoàn toàn xa lạ. Trong tình yêu, cũng như tình dục, tôi rất ngại chuyện “phiêu lưu” nên lẳng lặng đẩy luôn cái “của nợ” trông rất “ướt át” này vào một góc! Tuần rồi, chả may, giáp mặt người tặng sách – nhà báo Uyên Thao:

– Cậu nghĩ sao về cuốn Phiên Bản Tình Yêu của Vũ Biện Điền?

Tôi đỏ mặt, ấp úng:

– Dạ, em chưa đọc chữ nào.

Dù không nghe nhưng tôi cảm được một tiếng thở dài (cố nén) của người đối diện. Với đôi chút áy náy, ngay tối hôm ấy, tôi đọc hơn bốn trăm trang sách. Sáng hôm sau, cáo bệnh, nằm nhà “chơi” luôn hơn bẩy trăm trang nữa với rất nhiều ngạc nhiên và thích thú.

Mấy thế hệ người Việt liên tiếp vừa qua, ít nhiều, đều là nạn nhân của thời cuộc hay của chế độ hiện hành nhưng chắc chưa có ai ngồi cặm cụi (nhiều năm trời) để ghi lại những nhận xét tỉ mỉ và chính xác của mình về “những loại nhà nước” hiện nay – như Vũ Biện Điền:

Trong số đó đáng kể hơn cả là nhà nước Đảng, còn gọi là nhà nước Quỷ hoặc Siêu Chính Phủ vì nó biến hóa như một cái bóng ma khổng lồ tác nghiệp lên tất cả các nhà nước khác. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có tổng bí thư, nội các cơ mật là bộ chính trị. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có bí thư tỉnh ủy, nội các cơ mật là ban thường vụ… Nó là đầu mối của mọi nhũng nhiễu, tai họa và tội ác nhưng rất có tài bẻm mép phủi tay

Tiếp theo là nhà nước Hành Chánh, còn gọi là nhà nước Hành Dân vì bộ nào của nhà nước này cũng có chức năng làm dân khổ cực do đặc tính cửa quyền, nó vâng lệnh đảng như một thứ đầu sai quản lý đất đai và điều hành nô lệ cho chủ nhân, thu gom vô tội vạ tài sản trong nhân dân, sau khi trích nạp cho chủ, nó được quyền chi tiêu xả láng. Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có một chủ tịch không thực quyền, nội các cơ mật là thủ tướng và các bộ trưởng. Ở địa phương, đứng đầu nhà nước này có chủ tịch, nội các cơ mật là ban thường trực và các giám đốc sở…

Thứ ba là nhà nước Quốc Hội, còn gọi là nhà nước Phường Chèo hoặc nhà nước Kỳ Nhông vì đặc tính hát ca véo von theo cách dàn dựng của đảng, nhanh nhạy thay vai đổi màu tùy từng vị trí – ở trung ương nó là lập pháp, ở tỉnh nó là hành pháp, ở tòa án nó là tư pháp. Hình thái nhà nước Quốc Hội về đến địa phương gọi là Hội Đồng Nhân Dân, đặc tính véo von và đổi màu vẫn lưu cửu.….

Thứ bốn là nhà nước Mặt Trận Tổ Quốc, còn gọi là nhà nước Chịu Trận, vì nó là một thứ bung xung vỹ đại hứng đòn – phản đòn – đỡ đòn cho các nhà nước kia. Nhà nước này còn có một chức năng định kỳ như một lò hộ sinh, phù phép hiệp thương ba lên bốn xuống trong mỗi mùa bầu cử, cho ra những đứa con đúng kiểu mẫu đặt hàng của đảng… Quá trình vận động, thành tích cao nhất của Mặt Trận Tổ Quốc là tạo ra Mặt Trận Việt Minh trước trước 1954, và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam trước 1975 – hai lá bài này khá ăn khách, nhưng tới hồi lật tẩy thì vô cùng bỉ ổi!

Thứ năm là nhà nước Quân Đội, còn gọi là nhà nước Vũ Trang… nhà nước này làm bằng sức người và của nả của nhân dân nhưng chỉ trung với đảng. Nên chi nó khu trú ở đâu là lãnh thổ riêng ở đó, từa tựa như một quốc gia trong một quốc gia. Khi cần, nó mạo danh quốc phòng, đưa quân chiếm hữu đất đai, rồi đặt ra định chế tự cấp tự quản… Ở trung ương, đứng đầu nhà nước này có quân ủy, hội đồng cơ mật bao gồm các tổng cục chuyên ngành… Nhà nước này hội đủ tính chất phong kiến trung cổ La Mã, sỹ quan là giai cấp đảng viên gọi là cán bộ, bổng lộc hậu hĩ – hạ sỹ quan và lính (con em nhân dân thi hành nghĩa vụ), gọi là chiến sỹ, chỉ được hưởng sinh hoạt phí vừa đủ cầm hơi tới ngày phục viên…

Thứ sáu là nhà nước Công An, còn gọi là nhà nước Tam Đại vì mỗi thành viên phải có lý lịch ba đời bần cố… vừa nghèo vừa ngu từ đời ông đến đời cháu. Đây là nhà nước bán vũ trang, thừa quan thiếu lính, quyền hành vô giới hạn, bổng lộc vô bờ bến. Không những nhân dân kinh sợ mà một số viên chức các nhà nước khác cũng chùn bước trước những đặc quyền đặc lợi của các ấm tử viên tôn. Lịch sử nhân loại từ xưa đến nay, chỉ dưới thời phát xít Đức-Ý-Nhật và các nước xã hội chủ nghĩa mới có thứ nhà nước kỳ lạ này. Nó đồng hóa mình với đảng chuyên chính, tự quyết tất cả và không chịu một quyền lực nào ràng buộc, một tổ chức nào kiểm soát.

 

                                                 Nguồn phóng ảnh: http://www.bacaytruc.com

 

Vũ Biện Điền cũng “tính sổ” rành mạch từng vụ một, cùng với tên tuổi rõ ràng của những tên chính phạm. Xin đơn cử vài vụ tiêu biểu:

Công Hàm 1958:

“Tôi mới lần ra danh sách bộ chính trị đảng CSVN từ 1951-1960. Đó là Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, Hoàng Quốc Việt, Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Chí Thanh, Lê Đức Thọ, Hoàng Văn Hoan, Nguyễn Duy Trinh, Phạm Hùng, Lê Thanh Nghị, và Lê Văn Lương. Phạm Văn Đồng chỉ là nhân vật hàng thứ sáu, chỉ bậc trung thôi… Án chung không thể tội riêng, một mình Phạm Văn Đồng mà dám qua mặt chủ tịch Hồ Chí Minh a? Dám qua mặt đảng Cộng Sản a?”

Thảm sát Mậu Thân 1968:

“Tôi đào được danh sách của bộ chính trị nhiệm kỳ ba của đảng Cộng Sản Việt Nam 1960 -1976. Nhìn chung, chẳng ai xa lạ, Hồ Chí Minh chủ tịch, Lê Duẩn bí thư thứ nhất, Trường Chinh chủ tịch quốc hội, Phạm Văn Đồng thủ tướng, Phạm Hùng phó thủ tướng, Lê Đức Thọ, Võ Nguyên Giáp phó thủ tướng kiêm bộ trưởng quốc phòng, Nguyễn Chí Thanh mất năm 1967, Nguyễn Duy Trinh phó thủ tướng, Lê Thanh Nghị phó thủ tướng, Hoàng Văn Hoan phó chủ tịch quốc hội, Trần Quốc Hoàn và Văn Tiến dũng, hai thành viên này được bổ sung từ năm 1972.”

Cách nhìn của Vũ Biện Điền về những người đồng thời với mình – qua lời những nhân vật của ông – cũng khá khắt khe, và rất có thể gây ra tranh cãi gắt gao:

“Nhưng người Hà Nội đến lạ! Họ biết Xã Hội Chủ Nghĩa là cái bánh vẽ cực kỳ thối tha mà cứ hớn hở ngồi vào lột lá bóc ăn và xơn xớt khen ngon khen ngọt đến nỗi người ngoài nhìn vào phát thèm. Họ biết Hồ Chí Minh gian manh xảo trá mà cứ ngoác miệng ngợi ca lúc ông ta còn sống và khóc khô nước mắt khi ông chết. Họ biết bè lũ kế thừa đang đi tiếp con đường của ác quỉ mà vẫn tranh nhau làm tôi mọi, cúc cung tận tụy.

 

Họ biết lịch sử đang rao giảng là thứ cực kỳ giả dối nhưng học thuộc vanh vách, nếu có ai mạnh dạn đính chính thì phồng mang trợn mắt, cãi cối cãi chầy như sợ mất đi độc quyền làm thân sáo vẹt. Họ nhận quá nhiều đau khổ do độc tài đảng trị nhưng không dám đối mặt với kẻ thù cứ ươn hèn đổ vạ cho phong kiến, cho tư sản, cho địa chủ, cho Mỹ Ngụy, xua con em vào chết ở miền Nam mà không biết đang hiến máu cho hung thần và đang hy sinh cho một thiên đường mù…

 

Ngoại trừ một số rất ít sớm thức tỉnh như Trần Độ, Hoàng Minh Chính, Trần Xuân Bách, Phạm Quế Dương, Nguyễn Thanh Giang, Dương Thu Hương, Lê Hồng Hà, Hà Sĩ Phu, Bùi Minh Quốc… tôi chưa thấy một tổ chức nào bi phẫn, chưa thấy một đoàn thể nào muốn nắm tay nhau liên kết xuống đường biểu tình, họp mít-tinh vạch mặt chỉ tên bè lũ tay sai Nga – Hoa, tập đoàn phi nhân bản, phản nhân quyền, bọn bán nước cầu vinh…”

Một tác phẩm mang đậm mầu sắc chính trị như thế sao lại có cái tựa trữ tình và ướt át là Phiên Bản Tình Yêu? Trong phần lời tựa nhà văn Trần Phong Vũ đã giải thích (phần nào) như sau:

“Như nhan sách, Phiên Bản Tình Yêu là một chuyện tình – mà là một chuyện tình xuyên thế hệ, mang nhiều kịch tính với những tình tiết éo le, ngang trái, chuyển biến bất ngờ. Nhưng Tình Yêu ở đây chỉ là lớp vỏ, là mặt nổi của một tảng băng sơn giữa đại dương mờ mịt…

 

Cuộc tình xuyên thế hệ ở đây có thể được hiểu như một thứ ‘thang’ để dẫn ‘thuốc’, một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu vào những âm mưu, những màn đấu đá, những trò lường gạt, thay bậc đổi ngôi trong một xã hội người ta nhân danh đủ thứ với những mặt nạ khóc cười, hỉ nộ đã được mã hóa khi thực chất chứa đầy tâm thái tham lam, ích kỷ, độc ác, chỉ vụ thỏa mãn những lợi ích cá nhân, bè nhóm, bất chấp sự an nguy của tiền đồ quốc gia dân tộc. Và trong chừng mực nào đó, với tư cách người chứng, tác giả đã đạt được mục đích của ông.”

Tôi cũng tin là Vũ Biện Điền hoàn toàn đạt được mục đích của mình nhưng e rằng ông không thành công (lắm) khi dùng hình thức tiểu thuyết như “một chất xúc tác, tạo hấp lực lôi cuốn người đọc đi sâu” vào “chuyện tình xuyên thế hệ” này. Những nhân vật trong Phiên Bản Tình Yêu (e) hơi quá nhiều kịch tính, nhất là qua những mẫu đối thoại rất dài và (rất) trí tuệ nhưng cũng rất xa lạ với đời thường hay đời thật.

Tất nhiên, đây chỉ là suy nghĩ hoàn toàn chủ quan (và có thể là hoàn toàn sai lạc) của một thường dân mà trình độ thưởng ngoạn nghệ thuật còn nhiều giới hạn. Mong được đón nhận những nhận định khác, từ những người đọc khác, về công trình tâm huyết và đồ sộ này của Vũ Biện Điền.

– Tưởng Năng Tiến