Một số quốc gia có đồn cảnh sát “bí mật” hợp pháp đang bị soi dưới kính hiển vi sau vụ bắt giữ hai người đàn ông bị buộc tội âm mưu làm đặc vụ cho Trung Quốc và cản trở công lý do bị cáo buộc điều hành một đồn cảnh sát bí mật ở Thành phố New York.
Lu Jianwang và Chen Jinping đã hành động “dưới sự chỉ đạo và kiểm soát” của một quan chức từ Bộ Công an Trung Quốc, theo Bộ Tư pháp . Họ bị cáo buộc đã hỗ trợ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (PRC) bằng cách thiết lập một tiền đồn bí mật ở Manhattan để đe dọa những người bất đồng chính kiến ở Hoa Kỳ và ngăn chặn những lời chỉ trích đối với Bắc Kinh.
Những người đàn ông bị bắt, được xác định là “Harry” Lu Jianwang, 61 tuổi, ở Bronx và Chen Jinping, 59 tuổi, ở Manhattan, đều là công dân Hoa Kỳ. Theo các công tố viên, vụ bắt giữ liên quan đến các trung tâm này là vụ bắt giữ đầu tiên thuộc loại này ở bất kỳ đâu trên thế giới.
Các nhà chức trách cũng công bố các cáo buộc đối với 34 cá nhân khác hôm thứ Hai mà họ cho là thuộc về một nhóm cảnh sát Trung Quốc có tên là “Nhóm Công tác Dự án Đặc biệt 912”.
Một số sĩ quan cảnh sát của chính phủ Trung Quốc, những người hiện đang bị truy nã, đang phải đối mặt với cáo buộc âm mưu truyền tải các mối đe dọa giữa các tiểu bang và âm mưu thực hiện hành vi quấy rối giữa các tiểu bang.
“Chính phủ Hoa Kỳ đã nói rõ rằng chúng tôi sẽ sử dụng tất cả các công cụ có được để bảo vệ công dân Mỹ và những người Hoa Kỳ khác khỏi sự đàn áp xuyên quốc gia và các hình thức ảnh hưởng có ác ý của nước ngoài”, một quan chức cấp cao của chính quyền Hoa Kỳ nói với Newsweek . “Chúng tôi sẽ không dung thứ cho việc Chính phủ CHND Trung Hoa—hoặc bất kỳ chính phủ nước ngoài nào—quấy rối hoặc đe dọa người Mỹ.
Vào tháng 9 năm 2022, Tổ chức phi chính phủ (NGO) Safeguard Defenders có trụ sở tại Madrid đã công bố rằng cảnh sát Trung Quốc, phối hợp với các cá nhân ở nước ngoài có liên hệ với Đảng Cộng sản Trung Quốc, đã thành lập các “trạm dịch vụ” bí mật này, đáng chú ý nhất là ở châu Âu—nơi có chín trạm được phát hiện ở Tây Ban Nha, chẳng hạn.
“Mặc dù phần lớn công việc của họ chỉ đơn giản là phục vụ cư dân Trung Quốc hoặc khách du lịch, nhưng bằng chứng từ chính chính phủ Trung Quốc hiện cho thấy một trạm ở Madrid, đã tích cực làm việc với cảnh sát Trung Quốc để tham gia vào các hoạt động kiểm soát cách bí mật và bất hợp pháp ở Tây Ban Nha,” báo cáo của NGO viết.
Họ đã đưa ra một báo cáo tiếp theo vào tháng 12 nêu chi tiết hơn 100 đồn cảnh sát bí mật của CHND Trung Hoa được báo cáo là do các đơn vị khác nhau của Bộ Công an Trung Quốc kiểm soát. Các quốc gia khác ngoài Tây Ban Nha có các trạm này được báo cáo bao gồm Ý, Croatia, Serbia, Romania, Thụy Điển, Hungary và Nam Phi.
Châu Âu có hầu hết các đồn cảnh sát, theo báo cáo, với các địa điểm ở London, Amsterdam, Prague, Budapest, Athens, Paris, Madrid và Frankfurt. Bắc Mỹ là nơi có ít nhất bốn trung tâm, bao gồm ba địa điểm ở Toronto và một ở Thành phố New York .
Các công tố viên New York cho biết trung tâm ở thành phố New York được điều hành bởi chi nhánh Phúc Châu của Bộ Công an; (đơn vị này)không có quyền hoạt động trong thành phố và rằng các trung tâm là vi phạm luật pháp Hoa Kỳ và chủ quyền quốc gia.
Một khu vực tài phán của CHND Trung Hoa được cho là đã thuê 135 người để quản lý 21 trạm ban đầu của họ, với từ “thuê” được dịch có nghĩa là “được ký hợp đồng, được thuê hoặc được chỉ định.” Có một giấy chứng nhận công nhân được đan cử, nêu chức vụ “sĩ quan liên lạc ở nước ngoài” thuê theo hợp đồng ba năm ở Stockholm.
Marton Tompos, một nhà lập pháp Hungary, nói với Đài Châu Âu Tự do vào tháng 11 rằng: “Các cảnh sát hải ngoại của Trung Quốc này thường chỉ đề nghị giúp đỡ [cho công dân], nhưng họ cũng báo hiệu rằng sự giám sát của Trung Quốc đang có mặt ngay cả ở đây ” .
Tháng 9 năm ngoái, các sĩ quan Trung Quốc đã cùng với các quan chức Serbia tuần tra trên đường phố thủ đô Belgrade, Reuters đưa tin, bao gồm các phố đi bộ, địa danh, sân bay và thậm chí cả một trung tâm mua sắm của Trung Quốc ở ngoại ô khu vực.
Các quan chức Serbia và Croatia bác bỏ mạnh mẽ tuyên bố về sự hiện diện “trên thực tế” của cảnh sát Trung Quốc tại quê hương của họ, Balkan Insight đưa tin vào tháng 12. Các quan chức chính phủ của cả hai quốc gia đã quảng cáo về mối quan hệ với Trung Quốc và nhận thấy những tuyên bố và cáo buộc của tổ chức phi chính phủ (NGO) là “vô căn cứ”.
Trung Quốc phản bác
“Chúng tôi hy vọng rằng các bên liên quan ngừng thổi phồng nó để tạo căng thẳng,” Bộ Ngoại giao Bắc Kinh nói với CNN vào tháng 11. “Sử dụng điều này như một cái cớ để bôi nhọ Trung Quốc là không thể chấp nhận được.”
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Wang Wenbin đã không xem nhẹ tin tức về các vụ bắt giữ, nói với giới truyền thông hôm thứ Ba rằng đất nước của ông “phản đối sự vu khống và bôi nhọ của Hoa Kỳ, sự thao túng chính trị của họ, tường thuật sai sự thật về ‘sự đàn áp xuyên quốc gia’ và việc truy tố trắng trợn cơ quan thực thi pháp luật Trung Quốc.” và các quan chức quản lý mạng.”
Đảng CS TQ đã bảo vệ các trạm ở Châu Phi và Châu Á, Tổ chức “Bảo vệ An Toàn – Safeguard Defenders” trích dẫn các thỏa thuận song phương với các nước chủ nhà bao gồm cả Ý. Một thỏa thuận như vậy được Bộ Công An TQ công bố vào năm 2015 đề cập đến các cuộc tuần tra chung của cảnh sát với chính phủ Ý, sau đó dẫn đến các trạm (công an) “thí điểm” châu Âu ở Milan vào năm 2016 (của cảnh sát Ôn Châu) và 2018 (của cảnh sát Qingtian).
Vào tháng 12, Bộ trưởng Nội vụ Ý Matteo Piantedosi nói với tạp chí Il Foglio rằng quốc gia của ông sẽ ngừng cho phép cảnh sát Trung Quốc tuần tra chung với các sĩ quan Ý trên lãnh thổ của họ.
Các quan chức Trung Quốc đã coi thường các lời đe dọa, Reuters đưa tin, họ tuyên bố các cơ sở này là các trung tâm do tình nguyện viên điều hành nhằm giúp công dân gia hạn tài liệu trong khi các quy trình bị gián đoạn trong đại dịch COVID-19.
Sau tuyên bố của Tổ chức “Bảo vệ An toàn” rằng họ đã xác định được bốn ăng-ten bất hợp pháp ở Ile-de-France, đại sứ quán TQ đã phản ứng bằng cách tuyên bố rằng tổ chức phi chính phủ “đã tham gia vào các hoạt động chống Trung Quốc nhân danh nhân quyền trong nhiều năm.. .lan truyền và thổi phồng thông tin sai lệch, gây hiểu lầm nghiêm trọng cho công chúng Pháp.”
Yu Yong, người phát ngôn của Đại sứ quán Trung Quốc tại Nam Phi, trước đây đã gọi 13 đồn cảnh sát Trung Quốc ở Nam Phi là “tin giả”. Phát ngôn viên Yong cho biết, các trung tâm này ban đầu được thành lập vào năm 2004 và được tuyên bố là “các hiệp hội Trung Quốc hoàn toàn phi lợi nhuận” và không có cơ quan thực thi pháp luật.
Hoa Kỳ buộc tội 40 bị cáo trong một chiến dịch ngăn chặn Trung Quốc quấy rối công dân của họ ở New York và trên khắp đất nước Hoa Kỳ, những người có quan điểm bất đồng với chính phủ Trung Quốc, đây là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm đẩy lùi những nỗ lực của Bắc Kinh nhắm vào những người bất đồng chính kiến bên ngoài biên giới của họ. .
Các bị cáo, sống ở Trung Quốc và các nơi khác ở châu Á, đã tạo các tài khoản mạng xã hội giả để đe dọa những người bất đồng chính kiến Trung Quốc sống ở nước ngoài và tìm cách ngăn chặn bài phát biểu của họ trên nền tảng của một công ty viễn thông Hoa Kỳ không được xác định danh tính. Họ bao gồm 42 quan chức Trung Quốc được liệt kê trong danh sách và đang ở ngoài vòng pháp luật.
“Những trường hợp này cho thấy chính phủ CHND Trung Hoa sẽ bịt miệng và quấy rối những người Hoa Kỳ thực hiện các quyền cơ bản của họ, lên tiếng chống lại sự áp bức của CHND Trung Hoa, hành vi phạm tội bao gồm cả việc khai thác bất hợp pháp một công ty công nghệ có trụ sở tại Hoa Kỳ (như công cụ dùng để dập tắt biểu đạt ý kiến),” Trợ lý Tổng chưởng lý Matthew Olsen cho biết.
Trong một vụ án liên quan, các công tố viên liên bang đã buộc tội hai người đàn ông vì đã điều hành một đồn cảnh sát bất hợp pháp ở Khu Phố Tàu của Manhattan thay mặt cho Bộ Công an Trung Quốc và sau đó tiêu hủy bằng chứng khi các nhân viên FBI đối chất với họ.
Hai người đàn ông, Lu Jianwang và Chen Jinping, đã bị bắt hôm thứ Hai tại nhà của họ ở New York với cáo buộc rằng họ làm đặc vụ cho chính phủ Trung Quốc và cản trở công lý bằng cách phá hủy bằng chứng liên lạc với các quan chức Trung Quốc, Bộ Tư pháp cho biết trong một tuyên bố riêng .
Bắc Kinh ngày càng tìm cách theo đuổi những người chỉ trích họ ở nước ngoài khi ảnh hưởng quốc tế của họ tăng lên và trừng phạt các nhóm bất đồng chính kiến khi họ cáo buộc Đảng Cộng sản TQ vi phạm nhân quyền ở những nơi như Tân Cương.
Tổ chức Freedom House do chính phủ Hoa Kỳ hậu thuẫn cho biết trong một báo cáo năm 2021 rằng nước này có chiến dịch đàn áp xuyên quốc gia tinh vi nhất trên thế giới.
Theo các quan chức Hoa Kỳ, Lu đã tham gia một cuộc phản đối ở Washington chống lại “các thành viên của một tôn giáo bị cấm” theo luật pháp Trung Quốc khi Chủ tịch Tập Cận Bình đến thăm Hoa Kỳ vào năm 2015. Họ không nêu tên tôn giáo, nhưng Trung Quốc cấm Pháp Luân Công và nhóm này thường xuyên tổ chức các cuộc biểu tình tố cáo. Ba năm sau, Lu tham gia nỗ lực đưa một người Trung Quốc chạy trốn trở về cố hương. Nạn nhân cáo buộc bị quấy rối, bao gồm đe dọa bạo lực đối với các thành viên gia đình ở Mỹ và Trung Quốc.
Các đặc vụ FBI đã khám xét đồn cảnh sát bất hợp pháp vào năm 2022 và phát hiện ra rằng Lu và Chen đã xóa liên lạc với một quan chức Bộ Công an, các công tố viên cho biết.
“Việc truy tố này cho thấy hành vi vi phạm trắng trợn chủ quyền quốc gia của chính phủ Trung Quốc bằng cách thiết lập một đồn cảnh sát mật ở giữa thành phố New York,” Breon Peace, luật sư Hoa Kỳ tại Quận phía Đông của New York, cho biết trong tuyên bố. Olsen cho biết trạm được thành lập để “giám sát và đe dọa những người bất đồng chính kiến và những người chỉ trích chính phủ của họ.”
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Vương Văn Bân cho biết hôm thứ Ba tại một cuộc họp báo thường kỳ ở Bắc Kinh rằng quốc gia của ông “kiên quyết phản đối việc Hoa Kỳ bôi nhọ Trung Quốc và thổi phồng cái gọi là kế hoạch đàn áp xuyên biên giới.”
Ông nói thêm rằng Trung Quốc không vận hành các trạm vì mục đích chính trị ở nước ngoài.
Lời Bàn: Bấy lâu nay bò đỏ TQ và VN tung hoành, coi trồi bằng vung, tha hồ chửi bới tục tằn, miệt thị những nhà dân chủ, những trí thức lên tiếng phản biện trên mạng. Nay, chúng sẽ phải dè chừng và bớt thói hỗn láo, hung hăng. Bò đỏ TQ đã bị vạch mặt rồi sẽ tới bò đỏ VN, nhất là bọn chuyên đi bắt cóc người ở nước người rồi mang về nước bỏ tù .
Theo những nghiên cứu danh từ Thiên đàng, Địa ngục hay Niết bàn … chỉ là những biểu tượng ở cõi khác. Tùy theo cách ta sống mà khi chết ta được ở một nơi tương ứng cao hay thấp hơn.
Sự hiểu biết về cõi vô hình rất quan trọng, vì khi hiểu rõ những điều xảy ra sau khi chết, ta sẽ không sợ chết nữa. Nếu có chết chỉ là xác thân chứ sự sống không mất chỉ đổi thay, và hình hài chết đi thì sự sống mới tiến hoá ở một thể khác tinh vi hơn còn gọi là linh hồn.
Đây là một vấn đề hết sức hợp lý và khoa học cho thấy rõ sự công bình của vũ trụ. Khi còn sống con người có dục vọng, khi dục vọng được thỏa mãn nó sẽ gia tăng mạnh mẽ và sẽ bị tích tụ vào thể vía. Sau khi chết, dục vọng này trở nên mạnh mẽ vì không còn lý trí kiểm soát nữa, chính thế nó sẽ đốt cháy con người. Sự nung đốt của dục vọng chẳng phải địa ngục là gì?
Đức tính, phẩm hạnh khi còn trẻ, quyết định điều kiện sinh sống lúc tuổi già an vui hay hạnh phúc? đời sống cõi trần quyết định đời sống ở cõi bên kia.
Khi còn trẻ tập thể thao, giữ thân thể khỏe mạnh, thì khi về già sẽ ít bệnh tật. Khi còn trẻ chịu khó học tập để có một nghề vững chắc thì khi về già đời sống sẽ được sung sướng hơn. Những người nào chế ngự được dục vọng thấp hèn, làm chủ được đòi hỏi thể xác, thì các dục vọng này không thể hành hạ được họ khi chết.
Luật thiên nhiên đã ấn định khi về già thể xác yếu dần, đau ốm, khiến cho ta bớt đi các ham muốn và nhờ thế dục vọng cũng giảm bớt rất nhiều, nên thể vía cũng thanh lọc bớt các chất nặng nề để khi chết, sẽ thức tỉnh ở cảnh giới cao thượng hơn là thiên đàng…
Con người nên duyệt xét lại đời sống của mình ở cõi trần để khỏi bị lưu lại ở những cảnh giới thấp, nặng nề bên cõi âm. Biết chuẩn bị ở cõi trần sẽ rút ngắn thời gian bên cõi âm và thúc đẩy thời gian mau chóng lên cảnh giới cao hơn là được ở trên Thiên đàng để hưởng hạnh phúc đời đời.
Trái lại những người còn trẻ, lòng ham muốn còn mạnh mẽ, nếu chết bất đắc kỳ tử, có thể họ sẽ gặp đau khổ nhiều hơn và phải lưu lại cõi Trừng giới lâu hơn, vì họ chưa có thời gian chuẩn bị đi vào cõi bên kia.
Khi lớn tuổi cần chuẩn bị để dứt bỏ các quyến luyến, ràng buộc, các lo lắng ưu phiền, các tranh chấp, giận hờn, phải dứt bỏ mọi phiền não để mau chóng siêu thoát.
Đời sống cõi trần chỉ là một phần nhỏ của chu kỳ kiếp sống. Chu kỳ này là sự sống và chết là những nhịp cầu chuyển tiếp giữa hai cõi âm, dương, giữa thế giới hữu hình và vô hình.
Trên con đường tiến hoá có hằng hà sa số cách sống cho mỗi cá nhân. Linh hồn từ cõi thượng giới cũng phải cùng con người qua hạ giới là cõi trần là kiếp sống để chuẩn bị và thanh luyện. Phần quan trọng ở chỗ tiến vào cõi trần để chuẩn bị để được đi vào nơi nào cao quí hơn, đó là lúc con người chọn lựa không tha thiết đam mê thú vui vật chất, dục vọng mà lo tu thân làm phúc, tích đức và hướng về tâm linh để đưa linh hồn vào nơi vĩnh cửu kết hợp mật thiết với Đức Kitô Phục sinh.
Quá hay. Trong đời sống hàng ngày, nếu biết yêu thương, tích đức, làm nhiều việc thiện, lòng thanh thản, vô ưu. Tín thác hoàn toàn vào Thiên Chúa toàn năng. Đời sống hàng ngày có hạnh phúc, có niềm vui. Khi chết sẽ kéo dài hạnh phúc, niềm vui sang bên kia thế giới. Cho nên theo tôi nghĩ, thiên đàng là sự kéo dài hạnh phúc, vui vẻ ở đời này sang đời sau , sau khi chết.
Tàu cắt của lực lượng Bảo vệ Bờ biển (cảnh sát biển) Hoa Kỳ
Một trong những tàu tuần duyên lớn nhất của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ đã tổ chức buổi lễ thay đổi chỉ huy tại Cảng Honolulu vào thứ Hai trong thời gian dừng chân trên hải hành hướng tới các hoạt động kiểm tra ở Tây Thái Bình Dương.
Cảnh sát biển ngày càng đóng vai trò quan trọng trong chiến lược Thái Bình Dương của Mỹ khi Mỹ cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc. Không giống như Hải quân, Cảnh sát biển có các cơ quan thực thi pháp luật trong một số trường hợp cho phép họ lên tàu và kiểm tra các tàu bị nghi ngờ hoạt động bất hợp pháp trên biển, bao gồm cả đánh bắt cá bất hợp pháp.
Nó cũng có thể hoạt động ở nước ngoài thông qua các thỏa thuận của người lái tàu, đưa các quan chức địa phương lên tàu của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ để chỉ đạo kiểm tra và các hoạt động khác. Nhiều quốc đảo ở Thái Bình Dương thiếu lực lượng hải quân hoặc lực lượng bảo vệ bờ biển của riêng họ để bảo vệ vùng biển của họ và tiến hành các nhiệm vụ tìm kiếm cứu nạn, đồng thời trông chờ vào các quốc gia như Hoa Kỳ để giúp đỡ.
Krautler cho biết: “Chúng tôi được quốc tế công nhận về sự xuất sắc trong thực thi pháp luật, nghề cá, tìm kiếm cứu nạn, môi trường ứng phó sự cố tràn dầu thực sự”. “Các đối tác quốc tế của chúng tôi nhìn thấy điều đó và họ muốn giúp đỡ trong việc hợp tác với chúng tôi để thực hiện những nhiệm vụ đó.”
Tại Cảng Honolulu, Chuẩn Đô đốc Matthew Sibley, Phó Tư lệnh Lực lượng Bảo vệ Bờ biển Hoa Kỳ Khu vực Thái Bình Dương, cho biết: “Chúng tôi đang thay đổi ban lãnh đạo trên tàu Stratton, nhưng những người đàn ông và phụ nữ trong ban chỉ huy này sẽ tiếp tục cứu mạng sống, bảo vệ môi trường, thực thi luật pháp của chúng tôi và bảo vệ đất nước của chúng ta.” Anh ấy nói với phi hành đoàn, “Các bạn đã làm tất cả những điều này trong bóng tối của sự cạnh tranh chiến lược gia tăng trong khu vực.”
Trong khi các hoạt động của Cảnh sát biển về phía tây được nhiều quốc gia hoan nghênh, các quốc gia khác – đặc biệt là Trung Quốc – đã theo dõi với sự nghi ngờ.
Biển Đông là một tuyến đường thủy quan trọng mà hơn một phần ba tất cả các hoạt động thương mại quốc tế đi qua. Đây cũng là một lãnh thổ tranh chấp gay gắt, với việc Trung Quốc tranh chấp lãnh hải và quyền hàng hải với các nước láng giềng. Bắc Kinh coi gần như toàn bộ khu vực là lãnh thổ có chủ quyền độc quyền của mình bất chấp phán quyết của tòa án quốc tế năm 2016 ủng hộ Philippines đã bác bỏ hầu hết các yêu sách lãnh thổ của Trung Quốc.
Tàu tuần duyên Stratton được nhìn thấy đang đi qua vùng biển động ngoài khơi Tây Bắc Thái Bình Dương khi nó đang trên đường đến Bắc Cực, như đã thấy trong một bài đăng ngày 29 tháng 12 năm 2022. (Facebook)
Tranh chấp về đánh bắt cá nổi bật trong các cuộc tranh luận này. Từng là một trong những ngư trường dồi dào của thế giới, đánh bắt cá công nghiệp đã tàn phá nghề cá ở Biển Đông. Đội tàu đánh cá của Trung Quốc, lớn nhất thế giới và nhận được các khoản trợ cấp hào phóng của chính phủ, đã bị chỉ trích vì hành vi hung hăng trong khu vực, với cáo buộc rằng họ thường xuyên tấn công và quấy rối ngư dân từ các quốc gia khác.
Các tàu đánh cá công nghiệp của Trung Quốc thường lớn hơn so với các nước láng giềng. Hải quân và lực lượng bảo vệ bờ biển Trung Quốc cũng bị cáo buộc xâm phạm lãnh hải của các nước khác và đẩy ngư dân ra ngoài. Nhóm vận động an ninh lương thực của Philippines Tugon Kabu hayan ước tính vào năm 2021 rằng ngư dân ở Philippines đã mất ít nhất 7,9 triệu pound cá từ các tàu Trung Quốc đánh bắt cá truyền thống của họ.
Nhưng những tranh chấp này không chỉ là về con cá.
Chính phủ Trung Quốc đã bị cáo buộc sử dụng các tàu bề ngoài là dân sự như tàu đánh cá và tàu nghiên cứu để hỗ trợ hải quân nước này. Một số quốc gia đã cáo buộc những cái gọi là “dân quân biển ” này đã khoanh vùng các vùng lãnh thổ tranh chấp—bao gồm cả những vùng có thể có mỏ dầu dưới biển—quấy rối các thủy thủ và tiến hành các nhiệm vụ giám sát phối hợp với các tàu quân sự. Quân đội Trung Quốc cũng đã xây dựng các căn cứ trên các đảo và rạn san hô đang tranh chấp để khẳng định yêu sách của mình.
Trong khi nhiều chính phủ ở Thái Bình Dương mong muốn hợp tác với Hoa Kỳ để gửi thông điệp tới Trung Quốc, một số chính phủ cảnh giác với sự quan tâm ngày càng tăng của Hoa Kỳ trong khu vực của họ.
Liên đoàn quốc gia của các tổ chức ngư dân nhỏ ở Philippines cho biết trong một bài đăng trên Twitter vào tháng 2 để đáp lại thỏa thuận căn cứ mở rộng được ký giữa Washington và Manila rằng “lãnh hải của chúng tôi ở Biển Tây Philippines đã bị Trung Quốc quân sự hóa; điều cuối cùng mà Fili pino ngư dân muốn là mở rộng các căn cứ quân sự của Hoa Kỳ với cái giá phải trả là quyền chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của chúng tôi.”
Stratton, có cảng nhà ở Alameda, Calif., Là một trong chín máy cắt lớp Huyền thoại của Cảnh sát biển. Hai trong số đó, CGC Kimball và CGC Midgett, được chuyển đến Honolulu. Kimball hiện đang cập cảng khô tại Pacific Shipyards International ở Cảng Honolulu trong kỳ bảo dưỡng đầu tiên kể từ lần đầu tiên nó đến Hawaii vào năm 2018.
Một khách tham quan Triển lãm Công nghệ cao Quốc tế Bắc Kinh Trung Quốc lần thứ 21 nhìn vào một con chip máy tính qua kính hiển vi được trưng bày bởi dự án Tsinghua Unigroup do nhà nước kiểm soát. (Ng Han Guan/AP)
LONDON – Liên minh châu Âu đã kết thúc vào thứ ba (4-17-2023) khi phê duyệt kế hoạch tăng cường sản xuất chất bán dẫn khi họ tìm cách loại bỏ sự phụ thuộc vào châu Á đối với các chip máy tính nhỏ điều khiển mọi thứ từ ô tô đến máy giặt.
Nghị viện Châu Âu và 27 quốc gia thành viên của khối đã đạt được một thỏa thuận không chính thức về Đạo luật Chips trị giá 47 tỷ đô la, quy định các quỹ công và tư nhân, đồng thời cho phép viện trợ nhà nước khởi động các khoản đầu tư lớn cho các cơ sở sản xuất chip.
Ebba Busch, Bộ trưởng Công nghiệp của Thụy Điển, nước giữ chức chủ tịch luân phiên EU, cho biết: “Đạo luật Chips đưa châu Âu vào hàng đầu của các công nghệ tiên tiến cần thiết cho quá trình chuyển đổi kỹ thuật số và xanh của chúng ta”.
EU đang tranh giành để theo kịp Hoa Kỳ, quốc gia đã đưa ra Đạo luật Chips trị giá 52 tỷ đô la của riêng mình để thúc đẩy ngành công nghiệp bán dẫn của Mỹ.
Đạo luật chip của EU sẽ liên kết nghiên cứu, thiết kế và thử nghiệm cũng như điều phối đầu tư của EU và quốc gia. Nó nhằm mục đích giúp ngành công nghiệp bán dẫn phát triển để thị phần sản xuất chip toàn cầu của khối có thể tăng gấp đôi lên 20% vào năm 2030.
Cả Mỹ và EU đều muốn giảm sự phụ thuộc vào châu Á, nơi chiếm phần lớn sản xuất chất bán dẫn toàn cầu – một lỗ hổng đã bộc lộ trong đại dịch COVID-19, khi sự gián đoạn chuỗi cung ứng dẫn đến tình trạng thiếu ô tô, điện thoại thông minh và thiết bị y tế kéo dài. thiết bị.
Chip là mạch tích hợp được nhúng trong chất bán dẫn, một loại vật liệu – đặc biệt là silicon – có thể quản lý dòng điện. Các thuật ngữ “chip” và “chất bán dẫn” thường được sử dụng thay thế cho nhau.
Kết thúc ba ngày họp tại Karuizawa, Nhật Bản, hôm nay, 18/04/2023, các ngoại trưởng khối G7 đã thể hiện một mặt trận thống nhất, lên án các « hoạt động quân sự hóa » trên biển của Trung Quốc, đồng thời nghiêm khắc cảnh cáo những nước nào hỗ trợ Nga trong cuộc chiến xâm lược Ukraina.
Thứ tự các ưu tiên trong thông cáo cho thấy xung đột giữa Nga và Ukraina cũng như các tham vọng của Trung Quốc tại vùng châu Á – Thái Bình Dương, đã ngự trị các cuộc tranh luận của khối G7 bắt đầu từ hôm Chủ Nhật 16/04.
Theo AFP, thông cáo mở đầu bằng việc cực lực lên án cuộc chiến xâm lược Ukraina của Nga là « một hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế », bao gồm cả Hiến Chương Liên Hiệp Quốc, đồng thời cảnh cáo những nước nào hỗ trợ Nga trong cuộc chiến chống Ukraina sẽ phải « trả giá đắt ».
Trong phần liên quan đến Trung Quốc (mục thứ 3), nhóm G7 bày tỏ quan ngại về tình hình Biển Đông và biển Hoa Đông, phản đối mạnh mẽ mọi nỗ lực đơn phương thay đổi nguyên trạng bằng vũ lực hay cưỡng ép. Thông cáo ghi : « Trung Quốc không có một cơ sở pháp lý nào cho các yêu sách lãnh hải rộng lớn tại Biển Đông, và chúng tôi phản đối mọi hoạt động quân sự hóa tại khu vực ».
Văn bản của G7 nhấn mạnh đến tầm quan trọng, tính chất phổ quát và thống nhất của Công ước Luật Biển Liên Hiệp Quốc (UNCLOS), một khuôn khổ pháp lý cho phép điều chỉnh các hoạt động trên biển và đại dương, và cũng là cơ sở hữu ích để giải quyết mọi tranh chấp một cách hòa bình mà ví dụ điển hình là phán quyết của Tòa án Trọng tài ngày 12/07/2016, trong vụ Philippines kiện Trung Quốc.
Liên quan đến Đài Loan, khối G7 nhấn mạnh, duy trì hòa bình và ổn định tại eo biển Đài Loan là một « yếu tố không thể thiếu » cho sự thịnh vượng chung của cộng đồng quốc tế.
Thông cáo của G7 cũng bày tỏ « lo lắng » về việc « Trung Quốc liên tục mở rộng và nhanh chóng kho vũ khí hạt nhân » và cũng đề nghị Bắc Triều Tiên « ngừng » các cuộc thử hạt nhân mới và tên lửa đạn đạo.
Bắc Kinh đã có phản ứng gay gắt. Phát ngôn viên bộ Ngoại Giao Trung Quốc Uông Văn Bân hôm nay tố cáo khối G7 là đã « vu khống » và « bôi nhọ » Trung Quốc sau khi ra thông cáo chỉ trích các chính sách của Bắc Kinh.
Bên cạnh những hồ sơ nóng, thông cáo của G7 cũng đề cập đến nhiều vấn đề và khủng hoảng chính trị khác trên thế giới, từ Myanmar, Afghanistan, Trung Đông, Iran, Sudan…
Nhà đối lập Nga Vladimir Kara-Mourza, trong phiên tòa lúc bị tuyên án 25 năm tù, Matxcơva, ngày 17/04/2023.AFP – HANDOUT
Nhà cầm quyền Nga vừa ra một bản án được coi là ‘‘chưa từng có’’ đối với một nhà đối lập trong lịch sử Nga ‘‘kể từ thời Staline’’. Ông Vladimir Kara-Murza, 41 tuổi, người công khai chống lại cuộc xâm lược Ukraina, bị một toà án Nga hôm qua, 17/04/2023, trong một phiên xử kín, kết án 25 năm tù vì nhiều tội danh trong đó có các tội ‘‘phản bội’’, truyền bá ‘‘thông tin sai lạc’’ về quân đội Nga. Ngay lập tức nhiều nước phương Tây lên án Matxcơva.
Theo AFP, chính quyền Mỹ tố cáo Nga ‘‘gia tăng chiến dịch đàn áp’’, và đây là một bản án vì ‘‘động cơ chính trị’’. Liên Hiệp Quốc, Liên Hiệp Châu Âu và nhiều nước phương Tây đồng loạt lên án và kêu gọi Nga ngay lập tức trả tự do cho nhà đối lập.
Nhà cầm quyền Nga khi đưa ra một bản án nặng nề như vậy, nhằm răn đe những ai có các hành động phản đối chính quyền, và hợp tác với nước ngoài, dù chỉ là tối thiểu.
Thông tín viên Anissa el Jabri tường trình từ Matxcơva :
‘‘Hoàn toàn không có âm thanh.Không ai nghe thấy được những lời cuối cùng của Vladimir Kara-Murza, ngoại trừ một vài hình ảnh chất lượng kém khi tòa tuyên án, hình ảnh một người đàn ông đứng trong lồng, tay bị còng, xung quanh là các cảnh sát che mặt. Vào lúc tuyên án, nhà đối lập Vladimir Kara-Murza đã kín đáo trao đổi một nụ cười với nữ luật sư duy nhất của ông, ở kế bên. Một luật sư khác đã rời đất nước đã đi Mỹ từ vài ngày qua, do bị đe dọa, theo lời kể của luật sư với RFI.
Đối với tất cả những người vẫn cố gắng chỉ trích nhà cầm quyền, và các chính sách của Matxcơva, thông điệp là rất rõ ràng: Hãy rời khỏi nước Nga, nếu không chính quý vị cũng sẽ phải ngồi sau song sắt trong một thời gian dài. Nhà đối lập Vladimir Kara-Murza, người gần gũi với phó thủ tướng Nga Boris Nemtsov, bị ám sát vào năm 2015, cũng là người tranh đấu từ lâu năm vì các biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Nga.
Vladimir Kara-Murza chắc chắn là một chính trị gia đối lập tiêu biểu và án tù dành cho ông cũng có ý nghĩa biểu tượng. Tuy nhiên, bản án này cũng chứa đựng một thông điệp khác mà các quan tòa muốn đưa ra. Đây là phán quyết đầu tiên ở Nga thực thi toàn bộ một điều khoản mới của bộ Luật Hình sự về tội phản quốc và phạm vi áp dụng luật được mở rộng. Kể từ giờ bất kỳ sự hỗ trợ nào, thậm chí là tối thiểu, cho một tổ chức nước ngoài, cũng được coi là đe dọa an ninh của Nga. Một lời cảnh cáo gửi đến các công dân Nga bình thường’’.
Luật sư của nhà đối lập cho biết thân chủ của bà đã quyết định kháng cáo. Nhà đối lập Kara-Mourza đã là một trong những người đầu tiên lên án cuộc xâm lăng của Nga, từ nước ngoài. Ông bị bắt hồi tháng 4/2022, sau khi quyết định trở về nước.
Ngoại trưởng Blinken thăm tu viện của Dòng Thánh Phaolô thành Chartres tại Hà Nội vào sáng 15/4
REUTERS
Trong lịch trình dày đặc và khá kín của Ngoại trưởng Hoa Kỳ Antony Blinken thăm Việt Nam với chuyến thăm ba ngày (14-16/4/2023), ngay trong ngày thứ Bảy, 15 tháng Tư, theo thông báo chính thức từ Bộ Ngoại giao Mỹ, nhà ngoại giao hàng đầu của Mỹ sẽ đến thăm một cơ sở tôn giáo tại Hà Nội.
Các bức ảnh của phóng viên hãng tin Reuters đăng tải trong sáng 15/4 cho thấy, Ngoại trưởng Blinken và Đại sứ Marc Knapper đến thăm Nhà thờ tu viện Sainte Marie tại số 37 Hai Bà Trưng Phường Tràng Tiền, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Chuyến thăm này theo lịch dày đặc và bận rộn của phái đoàn Mỹ và xếp hàng thứ ba, sau khi trước đó, Ngoại trưởng Blinken có cuộc gặp với Thủ tướng Việt Nam Phạm Minh Chính vào lúc 8:15 sáng và dự lễ động thổ Tòa đại sứ mới của Hoa Kỳ ở Hà Nội vào lúc 9:25 sáng cùng ngày.
Vẫn theo lịch làm việc và kế hoạch của đoàn Mỹ, chuyến thăm tu viện St. Paul de Chartres của dòng các nữ tu Công giáo tại Hà Nội thậm chí còn diễn ra trước cả bữa trưa trao đổi làm việc (working lunch) giữa Ngoại trưởng Blinken với người đồng cấp, Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam, ông Bùi Thanh Sơn.
“Một thông điệp mạnh ủng hộ tự do tôn giáo”
Từ Hà Nội, một giáo dân Công giáo, ông Josephe N.V.T., người xin được giới hạn trong giới thiệu danh tính, đưa ra cảm tưởng của mình, ông nói:
“Tu viện này có từ xưa, sau này còn lại bên cạnh Bệnh viện St. Paul Hà Nội.
“Nếu ở Sài Gòn thì tu viện tương tự nằm ở đường Tôn đức Thắng, thuộc phường Bến Nghé, ở Quận nhất.
“Như vậy là ông Ngoại trưởng có thể sẽ đến thăm một trong hai cơ sở của dòng nữ tu và chọn tại Hà Nội.
“Thực ra vì Bệnh viện St. Paul đã lấy hết cơ sở ở 72, phố Nguyễn Thái Học rồi, nên tu viện chuyển về Dòng Mến Thánh giá ở 31 Nhà Chung, Hà Nội
“Tôi cho rằng đây là một hành động có tính chất biểu trưng, gửi thông điệp mạnh về việc ủng hộ tự do tôn giáo.
“Bởi vì tu viện này thuộc dòng nữ tu và trước đặt xây cất ở Bệnh viện St. Paul Hà Nội bây giờ, nhưng nhà nước đã lấy hết đất, nên phải chuyển về Dòng Mến Thánh giá như đã nói.
“Hiện vẫn chưa đòi lại được vì Nhà nước sử dụng cho Bệnh viện cho mục đích công ích.
Tu viện St. Paul de Chartres của dòng các nữ tu Công giáo tại Hà Nội được xây dựng trong thời Pháp thuộc tại Việt Nam vào năm 1883.
Theo một tường trình trên mạng công giáo quốc tế liên quan dòng Nữ tu toàn cầu, trong một cao điểm đấu tranh đòi lại đất đai và tài sản của giáo hội và dòng tu, các nữ tu thuộc tu viện St. Paul de Chatres hồi năm 2016 đã tiến hành nhiều hoạt động khiếu nại, thắp nến cầu nguyện, hiệp thương đòi giải quyết tranh chấp, chấm dứt các vi phạm tài sản của dòng và đã có kiến nghị tới các cấp, sở, ban ngành của chính quyền tại Hà Nội.
Theo nguồn này, vào ngày 26/8/2016, các nữ tu Thánh Paul de Chartres và những người ủng hộ giáo dân đã yêu cầu các quan chức Sở Tài nguyên và Môi trường Hà Nội trả lời về khiếu nại của họ về việc ai kiểm soát các khu đất lịch sử của tu viện của họ ở thủ đô Việt Nam.
Ngày 28/8 cùng năm, hơn một chục nữ tu, giáo dân đã có đơn gửi tới Ủy ban Nhân dân quận sở tại, Thành phố Hà Nội và cơ quan công an TP Hà Nội. Họ cũng đã gửi kiến nghị tới các lãnh đạo chính phủ, nhà nước Việt Nam khi đó là Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch nước Trần Đại Quang và các cơ quan nhà nước khác.
Và trong một cuộc phản đối mạnh mẽ nhất, khoảng 50 nữ tu và giáo dân Công giáo đã tuần hành ôn hòa dưới ánh nến vào sáng sớm ngày 25/7/2016 tới địa điểm tranh chấp gần tu viện của họ, nơi nhóm tuần hành cùng cầu nguyện và hát thánh ca.
Sau đó, đoàn tuần hành đến trụ sở Ủy ban Nhân dân Quận, yêu cầu các quan chức quận sở tại đưa cho họ một biên bản cuộc gặp trước đó giữa hai bên. Trong cuộc họp đó, 30 nữ tu, trong đó có cả những người già ngồi xe lăn, và giáo dân đã yêu cầu chính quyền Quận đình chỉ việc xây dựng trên đất của họ.
Vẫn theo nguồn từ truyền thông Dòng Nữ tu toàn cầu nói trên, thì đến ngày 28/7, UBND Thành phố Hà Nội đã phải ra lệnh đình chỉ việc xây dựng công trình và yêu cầu Sở Tài nguyên Môi trường giải quyết khiếu nại của nữ tu theo pháp luật.
Ông Blinken gặp sơ Bề trên Giám Tỉnh Tỉnh Dòng Hà Nội – Nữ tu Saint-Jean de Marie Trần Thị Anh. Ảnh: Reuters
“Chỗ nào lấy rồi thì khó đòi lại”
Ông Joseph N.V.T, nói thêm: “Mấy năm trước xảy ra vụ tranh chấp ở khu vực Bệnh viện Việt Nam – Cuba thuộc chỗ dòng Sainte Marie.
“Nhà thờ tu viện Sainte Marie thì nằm ở số 37 trên đường Hai Bà Trưng, Hà Nội, thì đã bị chiếm và xâm phạm trái phép, việc đó làm hư hỏng nghiêm trọng công trình tu viện, và với giáo dân và dòng tu, giáo hội, thì đã gây ra sự vị phạm pháp luật và xúc phạm tình cảm tôn giáo của người dân và giáo dân Việt Nam.
“Bây giờ họ (chính quyền) cởi mở hơn bằng cách cho cải tạo hoặc xây mới một số Nhà thờ ở một số nơi. Nhưng chỗ nào họ lấy rồi thì khó đòi lại được.
“Và Vatican cũng có giúp đỡ, tài trợ cho Giáo hội ở Việt Nam,” ông Joseph N.V.T chia sẻ.
Theo một số tổ chức theo dõi nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam, tại Việt Nam đến nay xảy ra ít nhất hàng chục, hàng trăm vụ khiếu kiện lớn nhỏ trong đó các giáo hội thuộc các tôn giáo và cộng đồng tín ngưỡng khác nhau vẫn liên tục có đơn từ, khiếu nại đòi nhà nước, chính quyền các cấp giải quyết, trao trả lại đất đai, tài sản của các cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, mà trong số đó đa số các chủ thể khiếu nại đều có các giấy tờ, chứng từ, chứng nhận có giá trị và bằng chứng, làm rõ về chủ quyền của bên khiếu nại và đòi đất đai, tài sản của các nhà thờ, dòng tu, các nhà chùa và các cơ sở tín ngưỡng, thờ tự trong cả ba miền.
Tuy nhiên, việc giải quyết vẫn diễn ra vẫn theo các đánh giá này là còn chậm, thậm chí rất chậm và trong nhiều trường hợp còn chưa thỏa đáng, và chỉ giải quyết với số lượng chưa đáng kể, với nơi được “giải quyết”, thì đa số trường hợp chỉ được giải quyết một phần, hoặc những giải pháp thay thế, đền bù, nếu có hy hữu xảy ra, có thể không tương ứng với giá trị văn hóa, lịch sử, tôn giáo và kể cả về mặt giá cả thực tế về đất đai, bất động sản v.v… trên thị trường.
Trong khi đó, vẫn theo các tổ chức theo dõi nhân quyền, trong đó có quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng quốc tế và khu vực, vẫn có nhiều phản ánh từ khắp cả nước ở Việt Nam về việc nhiều cơ sở tôn giáo tín ngưỡng bị xâm phạm, hoặc đe dọa xâm phạm đối về mặt hoạt động và tài sản, đất đai, trong số đó các nơi nào mà việc thành lập, hoạt động, dù trong quá khứ từ trước, hay gần đây, mà nhà nước, chính quyền cho là chưa, hay không được công nhận chính thức, có thể bị yêu cầu chấm dứt hoạt động, với các cơ sở có thể bị xóa bỏ, tịch thu, thu lại, xung công, nhiều trường hợp có liên quan tới bắt bớ, trấn áp đã được đưa tin.
“Rõ ràng là một biểu tượng của tự do tôn giáo”
Tuy nhiên, nhà nước và chính quyền Việt Nam và các cơ quan báo chí, truyền thông của nhà nước và đảng Cộng sản Việt Nam, luôn khẳng định và tuyên bố nhà nước và chính quyền luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và cả quyền tự do không tín ngưỡng, không tôn giáo của công dân.
Họ cho rằng các tranh chấp diễn ra, nếu có chỉ là dân sự và các trường hợp nếu có xảy ra các vụ bắt giữ, xét xử, đều do các cá nhân, chủ thể là các đối tượng vi phạm pháp luật của nhà nước, trong đó có pháp luật hình sự; và nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và tuân thủ nghiêm chỉnh các cam kết quốc tế mà nhà nước Việt Nam đã ký kết như một thành viên, trong đó có các văn bản, điều ước, hiệp định quốc tế, Hiến chương Liên Hợp Quốc liên quan các quyền con người, trong đó có các quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo bên cạnh các quyền công dân khác trong xã hội dân sự và xã hội truyền thống.
Truyền thông chính thống của Đảng cộng sản và nhà nước Việt Nam cũng đưa tin cho hay chính quyền đã thường xuyên có các cuộc đối thoại “cởi mở”, “xây dựng”, “công khai” với các tổ chức quốc tế, khu vực, nước ngoài, quan tâm đến các vấn đề tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam, có nhiều cuộc đối thoại với các cộng đồng trong nước, trong đó có các giáo hội, giáo dân, Phật tử, tín đồ v.v… để đáp ứng các quyền liên quan. Riêng về quan hệ với một số tôn giáo quốc tế, nhà nước cũng đã có lộ trình thiết lập các trao đổi và bang giao chính thức mang tính xây dựng.
Trở lại chuyến thăm của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đến tu việnSt. Paul de Chartres, dòng tu nữ, hôm 15/4/2023, một nhà quan sát chính trị và xã hội Việt Nam từ trong nước, cũng xin được không tiết lộ danh tính, cùng ngày đưa ra bình luận:
“Có 2 cơ sở ở Hà Nội mà ông Ngoại trưởng và đoàn Mỹ có thể lựa chọn lấy một để đến thăm thuộc tu viện Thánh Paul the Sartres.
“Nếu tiện hơn thì sẽ là cơ sở ở khu trục đường Nguyễn Thái Học – Trần Phú, cạnh đó vẫn có một khoảnh lớn không ai đụng tới và Vẫn đầy nữ tu sỹ.
“Rõ ràng việc lựa chọn tu viện này để thăm viếng là một biểu tượng của tự do tôn giáo, trong lúc riêng về Công giáo, nhà nước Việt Nam đang chuẩn bị lập quan hệ chính thức ở cấp đại sứ với Vatican,” nhà quan sát nêu quan điểm riêng của mình từ Hà Nội.
“Việt Nam không nên ảo tưởng rằng Mỹ sẽ bỏ qua các vấn đề về nhân quyền trong quá trình phát triển mối quan hệ giữa đôi bên.”
Ông Blinken gặp một nữ tu tại Hà Nội
Reuters
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải, chuyên gia về Khoa học Chính trị, nghiên cứu viên tại Trung tâm Tương lai Chính sách, Khoa Nhân văn và Xã hội học, Đại học Queensland, Úc nhận định như vậy với RFA sau khi ông Blinken rời Hà Nội, kết thúc chuyến thăm chính thức hai ngày đến Việt Nam, từ 14 đến 16/4/2023.
Trong hai ngày ở Việt Nam, ông Blinken đã gặp Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hà Nội vào sáng ngày 15/4. Cả hai đã từng gặp gỡ chính thức vào hồi tháng 5/2022 tại thủ đô Washington D.C của Mỹ. Ông Blinken cũng có cuộc hội kiến với Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam Nguyễn Phú Trọng.
Ngoại trưởng Mỹ cũng đã dự lễ động thổ để tiến hành xây dựng khu phức hợp Đại sứ quán Mỹ trị giá 1,2 tỷ USD tại Hà Nội. Đây được nói là một trong những Đại sứ quán Mỹ lớn nhất trên Thế giới.
Trong dịp này, ông Blinken đã đến thăm các nữ tu Dòng Thánh Phaolô thành Chartres. Các nữ tu của dòng này đã nhiều lần biểu tình, khiếu nại với chính quyền để đòi lại các phần đất có đầy đủ giấy tờ của nhà dòng bị phía chính quyền và một số hộ dân lấn chiếm, xây dựng trái phép trên đó.
Ý nghĩa của chuyến thăm
Tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải cho rằng chuyến thăm lần này của Ngoại trưởng Mỹ Antony Blinken đã đạt kết quả như kỳ vọng của đôi bên. Ông rút ra năm ý nghĩa chính về quan hệ song phương Việt – Mỹ sau chuyến đi Hà Nội lần này của người đứng đầu Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ.
Thứ nhất là nó đánh dấu trở lại sự tiếp xúc thường xuyên giữa quan chức cấp cao giữa hai chính quyền của hai nước:
“Năm 2021 thì phó tổng thống Mỹ Harris và bộ trưởng quốc phòng đã đến thăm Việt Nam, nhưng mà phải đến gần hai năm nay rồi thì đây là chuyến thăm cấp cao nhất của chính quyền tổng thống Joe biden đến Việt Nam.
Những cuộc tiếp xúc song phương vào các dịp giữa các hội nghị khu vực, hội nghị thượng đỉnh của khu vực hoặc là hội nghị Thượng đỉnh Asean – Mỹ…, chúng ta không thể tính những cuộc gặp đó bởi vì nó không phải là chuyến thăm chính thức.”
Ý nghĩa thứ hai là nhấn mạnh hơn về khả năng nâng cấp mối quan hệ hai nước lên tầm Đối tác chiến lược:
“Kết quả thứ hai là cả hai bên đạt được sự đồng thuận vững chắc hơn trong việc nâng cấp quan hệ.
Trong điện đàm với tổng thống Mỹ Joe Biden hôm 29/3 thì tổng thống Joe biden và Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng khi đó chỉ nói là đề nghị giao cho các cơ quan chức năng của hai bên trao đổi các nội hàm cụ thể để nhằm thúc đẩy mối quan hệ trong thời gian tới, chứ không nói rõ là có nâng cấp mối quan hệ hay không.
Nhưng mà trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lại nói rằng là quan hệ Việt – Mỹ có nhiều kết quả tích cực, là cơ sở để phát triển lên tầm cao mới. Tức là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng án chỉ là hai bên sẽ nâng cấp mối quan hệ.
Và trong họp báo kết thúc chuyến thăm thì Ngoại trưởng Blinken đã phát biểu hết sức khả quan về điều này. Ngoại trưởng Blinken nhấn mạnh rằng đối với nước Mỹ và chính quyền Tổng thống Joe biden thì quan hệ với Việt Nam là một trong những mối quan hệ năng động và quan trọng nhất. thì đó là kết quả thứ hai là khẳng định là hai nước sẽ tiến tới nâng cấp quan hệ vững chắc hơn.”
Kết quả thứ ba, theo ông Hải, là chuyến thăm càng khẳng định hơn là hai ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng sang Mỹ và Tổng thống Mỹ Joe Biden sẽ gặp mặt nhau trong năm nay:
“Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trong buổi tiếp Ngoại trưởng Blinken thì đã nói rằng giao cho các cơ quan chức năng thu xếp để tiến hành chuyển thăm đó vào thời gian thích hợp, còn Tổng thống Mỹ Joe Biden qua lời Ngoại trưởng Blinken nói rằng mong muốn sớm thăm Việt Nam.
Tóm lại là kết quả thứ ba là nó khẳng định chắc chắc chắn rằng trong năm nay sẽ có một hoặc hai chuyến thăm của hai nhà lãnh đạo sang Hà Nội hoặc là Washington, còn thời gian cụ thể thế nào thì hiện tại chúng ta chưa thể biết bởi vì vẫn còn các đàm phán, còn có những việc phải bố trí về thời gian lịch trình.”
Ý nghĩa thứ thư là về mặt niềm tin. Tiến sỹ Hải cho rằng chuyến thăm này khẳng định cam kết về quan hệ ổn định, lâu dài giữa hai nước:
“Nó thể hiện qua để động thổ xây dựng quần thể mới của Đại sứ quán Mỹ tại Hà Nội, mà theo phía Mỹ nói thì đây sẽ là một trong những quần thể sứ quán Mỹ lớn nhất trên thế giới.
Ngoài ra, Ngoại trưởng Mỹ đã nói lên và nhấn mạnh cam kết và lòng tin của phía Mỹ trong quan hệ Việt – Mỹ, và những cam kết đó nó sẽ thể hiện bằng những hành động cụ thể để từ đó trấn an cũng như củng cố lòng tin của Việt Nam đối với Mỹ.”
Ý nghĩa về nhân quyền
Ý nghĩa thứ năm và cũng là cuối cũng trong chuyến thăm mà tiến sỹ Nguyễn Hồng Hải đúc kết được đó chính là về vấn đề nhân quyền. Ông nói:
“Mỹ vẫn thể hiện cam kết về vấn đề nhân quyền cho dù hai nước có tiến tới Đối tác chiến lược.
Mặc dù là mang tính biểu tượng thôi nhưng việc mà Ngoại trưởng Hoa Kỳ đến thăm tu viện như vậy thể hiện cam kết của phía Mỹ đối với vấn đề nhân quyền. Nói cách khác là nó truyền tín hiệu gián tiếp rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ, cho dù là nâng cấp lên mối quan hệ đối tác chiến lược thì Mỹ vẫn quan tâm và xem xét đến vấn đề nhân quyền.
Và rõ ràng là trong cuộc gặp với thủ tướng Phạm Minh Chính thì Ngoại trưởng Blinken cũng đã đề cập đến vấn đề nhân quyền.
Tuy nhiên, cách tiếp cận của Mỹ trong vấn đề về nhân quyền với Việt Nam sẽ ý nhị hơn. Tức là cách tiếp cận mang tính xây dựng và mang tính đối thoại, không chỉ trích, phê phán quá mạnh mẽ. Điều này rất khác đối với quan hệ Mỹ và Trung Quốc.”
Tiến sỹ Hồng Hải khẳng định vấn đề nhân quyền sẽ luôn luôn đặt ra trong quá trình đàm phán nâng cấp mối quan hệ Việt – Mỹ, bởi vì nhân quyền là một trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ. Chính vì vậy, ông Hải nói:
“Đối với các nước như Việt Nam, khi quan hệ với Mỹ, thì không nên ảo tưởng rằng là Mỹ sẽ từ bỏ vấn đề nhân quyền.
Tuy nhiên, mặc dù nhân quyền là một trong những trụ cột trong chính sách đối ngoại của Mỹ nhưng mà phía Mỹ khi triển khai thực hiện vấn đề nhân quyền thì họ luôn luôn dựa trên chiến lược của họ. Chính vì thế cho nên mức độ ưu tiên nó sẽ khác nhau.”
Hơn nữa, theo tiến sỹ Hồng Hải, trước đây, khi Mỹ là một siêu cường duy nhất thì lúc đó Mỹ có thể dùng những chính sách nhân quyền để gây áp lực cho các nước khác.
Tuy nhiên, hiện nay, trong một thế giới mà sự đa cực ngày càng rõ và sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn thì chính phủ Mỹ phải điều chỉnh cách tiếp cận về vấn đề nhân quyền để nó phù hợp, mang tính xây dựng, tôn trọng lẫn nhau và có sự cân nhắc, đảm bảo lợi ích của tất cả các bên.
Nếu may mắn thì nhiều năm sau, lịch sử Việt Nam sẽ dùng tấm ảnh này để đánh dấu một giai đoạn quái đản và đau thương của luật pháp và xã hội.
Đây là hai ngôi nhà của bà Đỗ Thị Yến và con gái ông Đỗ Quang Hạnh, nằm lọt thỏm giữa đại công trường xây dựng sân bay quốc tế Long Thành (tỉnh Đồng Nai). Ngoài hai ngôi nhà này, trong vùng lõi của đại công trường vẫn còn hơn chục hộ dân cố trụ lại vì chưa thỏa thuận được với chủ đầu tư về giá đền bù.
Ngôi nhà giữa đống đất vun đống từ dự án sân bay Long Thành, Đồng Nai. Hình: Zing
Con sâu cái kiến
Thỏa thuận được thì rời đi. Chưa thỏa thuận được thì ở lại. Chủ đầu tư phải tiếp tục thương lượng, thỏa thuận với những người dân đang thưa kiện cho đến khi nào đạt được kết quả là cả hai bên đồng tình với giá hoặc phương thức đền bù. Hoặc Nhà nước ra quyết định cưỡng chế, bắt buộc dân rời đi để nhường đất cho dự án.
Trong quá trình thực hiện dự án, nếu chưa có lệnh cưỡng chế của Nhà nước thì rời đi hay trụ lại đều là quyền của người dân.
Quyền này được pháp luật thừa nhận.
Do đó trên lý thuyết, người dân và phía chủ đầu tư đều ngang bằng nhau về vị trí pháp lý. Cho đến khi đạt được một trong hai kết quả như nêu trên, không bên nào được ép buộc bên nào.
Thế nhưng chỉ nhìn vào tấm ảnh kể trên cũng đủ thấy sự “mạnh, bạo” và uy hiếp công khai, thậm chí đe dọa của phía chủ đầu tư với người dân.
Đất san lấp mặt bằng được cố tình cào vun lên đến tận ngang nóc hai ngôi nhà, khiến chúng trở thành nằm dưới đáy vực.
Đấy là cảnh tượng không thể chấp nhận ở một đất nước tự hào xưng hiệu ngữ “Độc lập, tự do, hạnh phúc”, tự xưng là mọi việc giữa Nhà nước và công dân đều theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.
Mỗi ngày, chủ nhân của hai ngôi nhà bi tráng bất đắc dĩ phải đạp lên núi đất cao ngút vây bọc xung quanh, chính xác là trèo từ đáy vực lên mặt đất để đi làm kiếm tiền sinh nhai.
Như tổ tiên nói, trên trái đất làm gì có đường, người ta đi mãi mà thành đường. Những bàn chân giẫm lên núi đất hết ngày này qua ngày khác tạo thành con đường mòn, kiên nhẫn, đáng thương và đáng phục như chính cuộc đi kiện của người dân.
Nam Bộ đang ở những ngày cuối cùng của mùa khô năm 2023. Chỉ vài tuần nữa là mùa mưa bắt đầu. Mưa xuống, toàn bộ núi đất sẽ chảy nhão ra thành những dòng thác bùn đỏ ào ào tràn xuống hai ngôi nhà đáy vực, thậm chí vùi lấp nó toàn bộ. Khi mùa mưa bắt đầu, sẽ không có con người nào có thể ở lại trong hai ngôi nhà đó, cho dù nhẫn nại đến đâu.
Đó có thể là lý do khiến những người thực hiện dự án điềm nhiên xúc đất đổ quanh hai ngôi nhà này. Không cần nói nhiều, phần thắng chắc chắn sẽ thuộc về họ.
Gần 30 năm “treo” chờ siêu dự án
Trước kia, nơi đây có tên là xã Suối Trầu, thuộc huyện Long Thành. Xã rộng khoảng 1.400 ha, gồm ba ấp, hơn 2.000 hộ dân với gần 6.000 nhân khẩu. Mấy con đường chính trong xã trải nhựa khá bằng phẳng và thẳng thớm, nhà dân bám theo đường đều đặn đẹp mắt, phía sau nhà ai cũng là vườn và rẫy rộng lớn trồng cao su, tiêu, điều…- những loại cây công nghiệp không cần chăm sóc nhiều nhưng lợi nhuận cao. Tuy thời tiết khô nóng nhưng vẫn tràn ngập màu xanh trên vùng đất đỏ. Nhà dân xen giữa vườn rẫy, nhiều chỗ được quy hoạch chăm chút tươm tất, cây cối xanh tươi xòe tán che mát trước hiên sau nhà.
Cho mãi tới sau năm 1975, Suối Trầu mới có di dân đến khai hoang lập ấp. Trong ký ức người dân Suối Trầu, hồi đó nơi đây là vùng rừng thiêng nước độc, bom đạn sót lại từ thời chiến tranh rải rác khắp nơi. Người dân vừa chặt cây khai hoang, vừa dọn phá bom mìn để có đất sạch trồng trọt. “Bom đạn nằm trên mặt đất thì gom lại thành đống rồi đốt bỏ. Hồi đó cách vài ngày lại nghe tiếng bom mìn nổ đì đùng”- dân Suối Trầu kể.
Cho đến tận 22 năm sau, vào năm 2021, tỉnh Đồng Nai vẫn phải kiến nghị xin 50 tỷ đồng để thực hiện dự án rà phá bom mìn giai đoạn 1. Đủ hiểu bom mìn thời chiến tranh ở mảnh đất này dày đặc đến mức nào và xương máu, mồ hôi của người dân đã đổ xuống nơi này ra sao.
Năm 1997, Thủ tướng Phan Văn Khai phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống sân bay toàn quốc, trong đó có sân bay Long Thành. Bảy năm sau, vào năm 2015, Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư sân bay Long Thành. Năm 2011, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phê duyệt quy hoạch dự án. Đến cuối năm 2017, Quốc hội thông qua báo cáo nghiên cứu tiền khả thi dự án thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư… Năm 2020, Chính phủ phê duyệt dự án đầu tư giai đoạn 1. Đến đầu năm 2021, sân bay Long Thành mới được khởi công giai đoạn một.
Nhưng người dân toàn vùng bị ảnh hưởng bởi dự án gồm năm xã của huyện Long Thành, trong đó xã Suối Trầu bị giải tỏa trắng và xóa tên trên bản đồ hành chính, thì đã bắt đầu cuộc sống khổ sở từ tận năm 1997.
Suốt mấy chục năm bị “treo” chờ siêu dự án, nhà dân hư mục cũng không được xây, sửa, bán. Vườn rẫy không dám đầu tư vì không biết sẽ phải phá bỏ, di dời vào lúc nào. Tách thửa cho con cũng không được, xin vay thì ngân hàng không duyệt. Nhiều người đang là chủ đất, chủ rẫy các loại cây công nghiệp dài hạn phải bỏ sang trồng khoai mì cho thu hoạch ngắn ngủn trong vài tháng, thu nhập giảm không phanh. Đường sá, các công trình công cộng đều bị bỏ phế, không tu bổ sửa chữa, mùa nắng ngập trời bụi đỏ, mùa mưa khắp nơi thành vũng bùn. Ngay cả chợ cũng không có. Muốn mua thực phẩm phải chạy sang xã khác cách bảy km hoặc mua tạm ở người bán rong. Cứ thế, suốt gần 30 năm người dân sống trong phập phồng vì không biết tái định cư ở đâu, sẽ được đền bù bao nhiêu, lo liệu cho cuộc sống như thế nào.
Dự án tái định cư cho dân bị giải tỏa mang tên Lộc An-Bình Sơn được quy hoạch ở hai xã Lộc An và Bình Sơn gần đó.
Mô hình sân bay Long Thành. Hình: Báo Chính phủ
Khu nhà lầu tái định cư rỗng tuếch
Tỉnh Đồng Nai hứa hẹn đây sẽ là khu đô thị hiện đại nhất khu vực.
Quả thực trên mặt bằng, khu tái định cư này được xây dựng khang trang, đường sá rộng rãi ngăn nắp thẳng thớm đẹp mắt. Thế nhưng hơn một năm sau khi người dân được đưa đến thì nhiều lời hứa của chủ đầu tư vẫn còn nằm trên tivi và đài báo. Đã có 3.000 nhân khẩu sinh sống nơi đây nhưng mới chỉ có duy nhất một trường mẫu giáo hoạt động. Trường cấp I, II… xây lên một tầng rồi bỏ dang dở. Học sinh phải đi học nhờ tại trường khác, lệch giờ với học sinh “chính chủ”, đeo khẩu trang ngồi trong lớp vì nơi này đang ngày ngày hứng bão bụi từ đại dự án xây dựng sân bay Long Thành. Không có chợ dân sinh, người dân muốn mua thực phẩm vẫn phải chạy đến chợ cũ cách đó 3-4 km hoặc xa hơn để mua.
Nhiều tờ báo ca ngợi khu tái định cư này là “khu biệt thự tiền tỷ”. Đúng, nhìn bên ngoài, nhà cửa rất khang trang, xây toàn tiền tỷ. Nhưng số tiền tỷ đó cũng là toàn bộ vốn liếng có được nhờ đền bù đất, và trong niềm vui khi lần đầu tiên có tiền tỷ trong tay, hầu hết người dân đã dốc hết vào ngôi nhà. Nói cách khác, khi còn Suối Trầu, tuy nhà cửa quê kiểng nhưng dân không bao giờ lo đói vì ai cũng có vườn có rẫy làm kế sinh nhai. Giờ chuyển làm dân thành thị, nhà lầu sáng choang nhưng mấy ngàn, mấy chục ngàn m2 đất trồng trọt đã được dùng để đổi lấy cái nhà trên mảnh đất thổ cư vài trăm mét đó thôi. Người nông dân sống nhờ vào đất đai giờ đã không còn cục đất chọi chim.
Bị bứt khỏi đất đai, người nông dân cũng lâm vào cảnh không nghề nghiệp. Mở quán tạp hóa, ăn uống, cà phê, cắt tóc… thì ế chỏng ế chơ vì loanh quanh chỉ thưa thớt dân tái định cư chứ không có khách vãng lai. Nhiều người đang còn tuổi lao động, vốn có thu nhập tốt khi còn ở nhà cũ nhưng giờ không còn vườn rẫy để trồng, đành phải sống nhờ vào con.
Nhưng con họ, ngoài một số người may mắn có công việc và thu nhập có thể chăm sóc cho cha mẹ thì hoàn cảnh cũng không khác gì. Cha mẹ là nông dân già, họ là nông dân trẻ. Nông dân trẻ có thể đi học nghề mới, nhưng việc dạy nghề cho nông dân chuyển đổi nghề nghiệp chưa bao giờ là điều mà các dự án tái định cư có thể tự hào. Họ dạy để hoàn tất dự án là chính, chứ không thực sự dạy được những nghề thiết thực và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh ở ngay khu tái định cư này.
Thành thử, sau vài tháng hoan hỉ tột độ vì cầm tiền tỷ trong tay và thỏa mãn nhu cầu ở nhà lầu, cất biệt thự, nhiều người dân đã không còn cầm cự nổi, phải rao bán nhà, đất rẻ để lấy tiền đi ở nơi khác phù hợp hơn.
Khu phố hoa mỹ bề ngoài nhưng kỳ thực rỗng tuếch vì mất căn cơ, dân sống chắt bóp đến nỗi ngay cả điện thắp sáng cũng phải tiết kiệm. “Vào nhà nhìn mãi không ra người, điện đóm tắt hết cho đỡ tốn vì có làm gì ra tiền đâu”- một người dân bộc bạch trên báo Dân Trí. Họ tóm tắt cuộc sống tại khu tái định cư gọn trong một từ: “Vỡ mộng”.
Nhà nước luôn luôn yêu cầu các chủ đầu tư khi thực hiện giải tỏa di dời dân cho các dự án thì phải đảm bảo cuộc sống nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ. Nhưng thực tế luôn chứng minh lời hứa của chủ đầu tư khi bắt đầu xin dự án luôn theo gió bay đi cực kỳ nhanh chóng.
Khu tái định cư Lộc An – Bình Sơn . Hình: VnExpress
Đất của mình bằng tô phở, đất về tay người thành kim cương
Quay lại với những ngôi nhà còn cố thủ ngay giữa đáy vực.
Người dân đã khai hoang và sinh sống trên mảnh đất này khi nó còn đầy rắn rết cọp beo và bom đạn. Bằng mồ hôi xương máu, họ biến đất hoang thành rẫy vườn trù phú, và sẽ ngày càng trù phú hơn nữa, đủ ôm ấp ước mơ cho nhiều thế hệ. Hầu hết người dân đều mong ước được đổi đời, được sống cuộc sống nhiều tiện ích, an ninh, an toàn ngay tại mảnh đất họ đang sống, ngay tại ngôi nhà họ đang sở hữu để có niềm an tâm lâu dài. An tâm thì mới đầu tư, mới gắn bó. Không ai muốn một ngày phải di dời, giải tỏa trong thế bị động.
Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, “mà thực chất là trạng thái vô chủ, rất dễ bị một nhóm lạm dụng phục vụ cho lợi ích nhóm mình, thay vì mang lại lợi ích cho toàn dân” (Luật sư Nguyễn Tiến Lập, công ty Quang và cộng sự) đặt người dân vào tình trạng ở nhờ suốt đời, luôn lo lắng không biết nơi ở, đất đai của mình có bị giải tỏa hay không. Tuy khẩu hiệu “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” luôn ra rả, nhưng thực tế, người dân luôn luôn ở trong tình trạng vô cùng yếu thế trước chủ đầu tư.
Không thỏa thuận được với chủ đầu tư, người dân chỉ có thể đi kiện hoặc khiếu nại đòi hỏi quyền lợi.
Dai dẳng suốt hàng chục năm, khiếu nại tố cáo đông người và có nhiều diễn biến phức tạp nhất vẫn là các vụ liên quan đến giải tỏa, bồi thường.
Trong năm 2022, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp nhận gần 3.500 lượt đơn khiếu nại tố cáo, trong đó hơn 96% liên quan đến đất đai. Đáng chú ý, có đến ngót 60% trong đó là đơn khiếu nại trùng lặp. Tuy theo pháp luật thì dạng đơn này không đủ điều kiện xử lý, nhưng về mặt xã hội, đó rõ ràng là chỉ dấu đáng lo ngại khi vụ kiện đã được giải quyết về hình thức nhưng vẫn không thể chiếm được đồng thuận của người dân. Nên họ mới không chấp nhận mà tiếp tục khiếu nại tố cáo vượt cấp.
Có những vụ khiếu kiện “bền vững” đến nỗi kéo dài từ đời cha mẹ đến đời con, và sắp là đời cháu.
Yếu tố khiến người dân bất bình đầu tiên là chênh lệch đến mức không chấp nhận được về giá trị bồi thường khi giải tỏa. Điển hình như ở Thủ Thiêm, gần 4.000 m2 đất của bà Nguyễn Thị Bạch Tuyết được đền bù gần 570 triệu đồng; vườn cây ăn trái đền bù hơn ba triệu. “Một m2 đất mua được ba tô phở”- bà Tuyết nói.
Bà Nguyễn Ngọc Thanh mua căn nhà giá 50 cây vàng, sau đó chính quyền bấy giờ buộc bà di dời vì nhà trong quy hoạch, được đền bù 94 triệu đồng. Rồi họ sắp xếp cho bà một căn chung cư nhưng yêu cầu phải trả thêm 800 triệu đồng mới được vào ở.
Vấn đề là nhà của bà Thanh không nằm trong diện giải tỏa. Bà cũng không thể có chừng đó tiền để đổi một ngôi nhà khang trang dưới đất lấy một căn chung cư nhỏ hẹp trên cao mà thời gian sử dụng có hạn.
Sau khi giải tỏa trắng Thủ Thiêm với giá 18 triệu đồng/m2, nhưng chủ đầu tư bán đất ra với giá ba bốn trăm triệu đồng/m2 (thời điểm 2018).
Trừ tiền vốn đầu tư và giá trị đất tăng cao sau khi được đầu tư bài bản, thì giá cả như nói trên vẫn là không thể với tới với đại đa số cư dân Thủ Thiêm. Nói dễ hiểu, họ đã bị đuổi khỏi ngôi nhà mảnh đất sinh sống từ nhiều đời của mình, bị tước mất cơ hội làm ăn tốt hơn để những người giàu có hơn đến ở và (tiếp tục) làm giàu.
Nhu cầu chính đáng của người dân là được tái định cư tại chỗ, hay “nơi ở mới phải bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ”, đã bị phớt lờ tận cùng.
Cục chì của kẻ mạnh
Yếu tố thứ hai là thái độ hành xử của phía chủ đầu tư và chính quyền với người dân. Không ai đang sinh sống làm ăn ổn định mà muốn bị giải tỏa di dời. Cuộc sống bị đảo lộn triệt để. Lo lắng, tính toán cho cuộc sống mới đủ khiến chủ nhà đau đầu, lên tim.
Trong các bài bản về tái định cư, một nội dung được nhấn mạnh là lắng nghe và thuyết phục dân. Nhưng trên thực tế, rất ít dự án làm được việc này. Nhân viên làm công việc áp giá đền bù chỉ xem đó là việc làm công ăn lương, hơn nữa là công việc vất vả mà rất nhức đầu, nên chẳng mấy ai đặt mình vào hoàn cảnh của người dân để thấu hiểu và cảm thông. Chủ đầu tư thì (phần nhiều) chỉ nhìn thấy lợi nhuận. Chính quyền nói hay nói tốt, nhưng nói xong để đó, hoặc tệ hơn là nói một đằng làm một nẻo. Sự trùng trình chậm di dời do chưa được đền bù thỏa đáng của người dân hầu hết bị xem là tham lam, đòi hỏi quá đáng, gây hấn để đòi thêm tiền… Để nhanh chóng đạt được kết quả, kẻ mạnh ném… cục chì qua và ngày càng tăng trọng lượng.
Lẽ ra là cuộc thương thuyết trên cơ sở bình đẳng, thì cuối cùng hầu hết các dự án giải tỏa lớn đều biến thành cuộc chiến bất cân sức, với phần thiệt thòi thuộc về những người chủ đầu tiên của mảnh đất.
Và những sự bất đồng, bất bình cứ thế dần tăng lên, biến thành uất ức và căm phẫn.
Tự do là vấn đề cốt lõi của cơ chế, chính sách và là điều kiện tiên quyết cho trí thức phản biện
Bài bình luận của ông Phạm Quý Thọ- PGS,TS nguyên Trưởng Khoa Chính sách Công, Học Viện Chính sách & Phát triển, Bộ Kế hoạch- Đầu tư, Việt Nam 2023.04.18
Blogger Nguyễn Lân Thắng, một người phản biện xã hội vừa bị kết án tù sáu năm với tội danh “tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”
Facebook Nguyễn Lân Thắng
Chuyển đổi thị trường thực chất là tự do hoá nền kinh tế, dù khái niệm có thể bị “đánh tráo”, lộ trình thực hiện nhanh chậm thì quá trình này vẫn hoạt động thông qua cơ chế: nhiều tự do hơn, nhiều kiến thức hơn, nhiều khám phá sáng tạo hơn, và từ đó mà sự thịnh vượng cũng sẽ đi theo sau. Tuy nhiên, nó đồng thời cũng gây “bất ngờ” cho giới lãnh đạo, trong đó nhiều thành phần kinh tế, doanh nghiệp và con người trở nên “độc lập” hơn với Đảng – Nhà nước, vì thế “toàn trị” trở nên lung lay. Thể chế bất ổn kéo dài bởi quốc nạn tham nhũng, suy thoái đạo đức công vụ, xã hội mất phương hướng, người dân hoang mang và niềm tin vào chế độ giảm sút… Ngoài ra, khủng hoảng lý luận về việc Đảng Cộng sản lãnh đạo thị trường, nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, sa vào ý thức hệ giáo điều trì hoãn thể chế hoá, cụ thể hoá các quyền công dân theo Hiến pháp… khiến Đảng đang “loay hoay” đối phó không hiệu quả những tác động của những “bất ngờ”, và đặt ra tương lai khó lường tiếp tục cải cách… Trước “những vấn đề của đất nước” như vậy, phải chăng Đảng cần cơ chế cho trí thức phản biện?
Như đã trình bày, để sửa đổi Nghị quyết số 27 năm 2008 “về xây dựng đội ngũ trí thức…”, liên tiếp có các lãnh đạo cao nhất của Đảng – Nhà nước, ông tân Chủ tịch nước ngày 16/2 và ông Tổng bí thư Đảng CS ngày 24/3/2023, có các cuộc gặp với giới trí thức, văn nghệ sĩ của chế độ, bày tỏ “sự tôn trọng” họ và cam kết “có cơ chế phù hợp” để họ “tư vấn, phản biện” đối với “những vấn đề của đất nước.” Liệu có thể một cơ chế cho trí thức phản biện nếu xa rời tự do?
Xây dựng một cơ chế phù hợp cho trí thức phản biện chính sách chỉ có thể khả thi khi khái niệm “phản biện chính sách” được nhìn nhận từ quan điểm tự do. Trước hết, hãy nói về phản biện. Phản biện được hiểu là hình thức giao tiếp, ứng xử từ một lối suy nghĩ đa chiều, sâu sắc để đưa ra các lập luận thuyết phục đối với người nghe. Nội hàm phản biện bao gồm: tư duy phản biện; một quá trình suy nghĩ một cách cẩn thận về một chủ đề hoặc một ý kiến mà không cho phép những cảm giác hay ý kiến khác ảnh hưởng tới; một quan điểm nói rằng cái gì đó là không chính xác hay một ý kiến phản đối chống lại một quan điểm, một ý kiến hoặc một gợi ý khác; và một hành động nói hoặc chứng minh rằng một ý kiến, một quan điểm hay một, nhóm người là không đúng…
Nói một cách khái quát: phản biện tạo ra sự khác biệt. Phản biện chính sách là khái niệm được áp dụng trong lĩnh vực chính trị, nó có thể tạo ra khác biệt về quan điểm, cách tiếp cận xây dựng và thực thi chính sách. Phản biện chính sách công liên quan đến quyền lực công và nó trở nên “nhạy cảm” khi quyền lực công không được kiểm soát hiệu quả và thực chất. Nghĩa là, trong môi trường thiếu tự do, dân chủ phản biện chính sách là hành động có nhiều rủi ro, thậm chí dưới chế độ chuyên quyền, toàn trị thường bị cấm đoán, những người phản biện có thể bị coi là đối tượng chống đối, thế lực phản động… và, các hình thức trừng phạt được dựng lên, từ răn đe, đề phòng bởi các các biện pháp gây áp lực công việc, “khủng bố” tinh thần… đến rào cản pháp lý với những điều luật “mơ hồ” tuỳ biến có lợi cho hành pháp mang tính chính trị và khung hình phạt cao nhất có thể.
Tri thức là nhân tố động lực phát triển thịnh vượng và, phản biện là một thuộc tính của trí thức cần có môi trường tự do. Bởi vậy, phản biện được coi là tiêu chí cần thiết để phân biệt những người làm việc trí óc thông thường, làm chuyên môn trong các lĩnh vực, các nghề chuyên sâu… Đội ngũ này có thể đông trong nền kinh tế trí thức, nhưng những trí thức phản biện không thể có nhiều, họ có số lượng và đặc điểm tuỳ thuộc vào môi trường ý thức hệ, chế độ chính trị, càng nhiều tự do, dân chủ thì họ càng đông và càng mạnh, hoặc ngược lại. Dưới chế độ toàn trị của Đảng CS Việt Nam quan niệm trí thức bị “đánh đồng” với lao động trí óc, trong đó số người do Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam “quản lý” gồm 3,7 triệu hội viên, trong đó có khoảng 2,2 triệu hội viên ‘trí thức’ (theo cách gọi của Đảng, nhưng thực chất là lao động trí óc), chiếm gần 1/3 số lượng trong cả nước. Đây là tổ chức chịu sự lãnh đạo trực tiếp, là cánh tay nối dài “toàn trị” của Đảng CS đối với lao động trí óc. Cơ quan này giúp Đảng không chỉ loại trừ các tổ chức phản biện độc lập mà còn dễ dàng trấn áp các tiếng nói khác biệt từ “gốc” khi chỉ mới có các dấu hiệu.
Giáo sư Chu Hảo, Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức
Chẳng hạn, GS Chu Hảo bị kỷ luật đảng năm 2018, ông bị coi là “suy thoái tư tưởng chính trị” trên cương vị là Giám đốc – Tổng Biên tập Nhà xuất bản Tri thức đã có một số phát biểu và cho xuất bản các cuốn có nội dung trái với hệ tưởng của Đảng CS, trong đó có “Đường về nô lệ” của nhà kinh tế đoạt giải Nobel F. Hayek… Và mới đây, cuối năm 2022 PGS. TS Hoàng Ngọc Giao, Viện trưởng Viện Nghiên cứu chính sách, pháp luật và phát triển thuộc Liên Hiệp hội, Trọng tài viên Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra bắt giam. Trong quyết định ông Giao bị khởi tố về tội “Trốn thuế”, nhưng dư luận cho rằng đó là cái cớ vì ông là “nhà phản biện nổi tiếng mạnh mẽ!”. Ranh giới phản biện và phạm tội thật mù mờ.
Sau hơn 30 năm Đổi mới mang lại thành tích kinh tế, nhưng môi trường tự do cho trí thức “sáng tạo” dường như “kém đi.” Như đã biết “Nhóm thứ sáu” tập hợp những trí thức của chế độ nhưng được cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt trọng dụng để nghe “tư vấn”. Cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh có cuộc gặp năm 1987 để “cởi trói” cho giới giới văn nghệ sĩ để họ cho ra đời nhiều tác phẩm văn hoá “xứng tầm” đổi mới. Tiêu biểu như các nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Dương Thu Hương, Phạm Thị Hoài, các đạo diễn Lưu Quang Vũ, Trần Văn Thủy…. Họ được công chúng đón nhận. Họ đã “dấn thân”, mặc dù gây khó chịu cho không ít quan chức bảo thủ, nhưng không ai trong họ bị bỏ tù. Hiện nay, trái lại, nhiều nhà bất đồng chính kiến, nhà báo phản biện về “các vấn đề” nóng của đất nước đã bị đàn áp. Mới nhất, ngày 14/4/2023 Blogger nổi tiếng Nguyễn Lân Thắng, người có tiếng nói phản biện thẳng thắn, đã bị kết án nặng nề. Được biết, cộng đồng mạng lan truyền một bức thư của cha mẹ của Blogger này gửi tới Hội đồng xét xử, trong đó có đoạn: “… Lân Thắng là một trong hàng triệu nhân chứng sống cho tiến trình Đổi mới của Việt Nam…” Chính quyền đã không cho là thế, và vì vậy, danh sách các “nhân chứng sống” như Thắng có thể sẽ tiếp tục kéo dài!
Trở lại với các cuộc gặp của lãnh đạo với các “trí thức” của chế độ như nêu trên, ông Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng muốn họ “… làm tốt hơn nữa nhiệm vụ tư vấn, phản biện trong quá trình xây dựng, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, các văn bản quy phạm pháp luật…” Tuy nhiên, có một ý kiến gây chú ý mang tính “phản biện” của ông Chủ tịch Hội Nhà văn đề đạt với Đảng hãy “đầu tư niềm tin, không gian sáng tạo” cho giới trí thức. Tất nhiên, ông Chủ tịch Hội Nhà văn là “người của Đảng” và, ông ấy đã không thể nói thẳng rằng họ cần có sự đảm bảo tự do cho hoạt động sáng tạo. Một cơ chế, chính sách “đặc biệt” cho trí thức phản biện cần sự cam kết từ Đảng được thể chế hoá về quyền tự do.