TPHCM yêu cầu báo chí xóa tin về nhà phê bình Đặng Tiến

Đài Á Châu Tự Do 

Giáo sư Đặng Tiến, tác giả cuốn Vũ trụ thơ, qua đời ở Pháp ngày 17/4, thọ 83 tuổi. Ông là thành viên của Ban vận động thành lập Văn đoàn Độc lập, một tổ chức độc lập với Hội Nhà văn Việt Nam và không được nhà nước công nhận, thậm chí còn bị sách nhiễu, đàn áp.

Các bài viết về sự ra đi của nhà phê bình Đặng Tiến ở các trang Tuổi Trẻ Online và Phụ Nữ Online đã không còn truy cập được, trong khi một số trang khác như VnExpress hay Thể thao Văn hoá người đọc vẫn còn có thể xem bài viết về chủ đề này.

Thông tin về việc gỡ bỏ bài viết được Phó giáo sư, tiến sỹ Hoàng Dũng, thành viên của Ban vận động thành lập Văn đoàn Độc lập, khẳng định với Đài Á Châu Tự Do (RFA) vào ngày 21/4:

“Chuyện gỡ bài là có thật và tôi có thông tin của người bạn của tôi làm nghề báo. Tôi có đọc được cái chỉ thị, tin nhắn thì đúng hơn.

Nguyên văn: Về trường hợp ông Đặng Tiến vừa qua đời tại Pháp, đề nghị các cơ quan báo chí không thông tin (nếu đã thông tin thì gỡ ngay), vì đây là nhân vật tham gia tổ chức chống Đảng và Nhà nước Việt Nam (Văn đoàn Độc lập). Trân trọng.”

#RFAVietnamese #dangtien #vandoandoclap #DangCongsanVietNam

RFA.ORG

TPHCM yêu cầu báo chí xóa tin về nhà phê bình Đặng Tiến  

LẠI NÓI CHUYỆN THIẾT CHẾ VÀ CÁ NHÂN

LẠI NÓI CHUYỆN THIẾT CHẾ VÀ CÁ NHÂN

Nhà thơ Thái Hạo

(Bài hay của Nhà giáo Thái Hạo )

[Sau khi tôi đăng cái tus nói về ông Nguyễn Quang Tuấn và cơ chế, có một số bạn vào tranh luận, lại vẫn luẩn quẩn câu chuyện con gà – quả trứng. Ở đây nói thêm cho rõ]

Ông Montesquieu – một nhà triết học chính trị khai sáng lỗi lạc, nói: dân sống lâu dưới quyền chuyên chế thì không biết đến đạo đức là gì nữa. Từ nhận thức này, những người như ông mới đề xướng lên cái thuyết tam quyền phân lập, để phá vỡ chuyên chế, xây nên nền dân trị mà cải tạo mọi mặt của đời sống, trong đó có con người.

Nếu không có cái hiểu biết căn bản mà nay đã trở nên thường thức ấy, có lẽ ông và Âu – Mỹ nói chung đến giờ vẫn còn mở lớp dạy đạo đức cho cán bộ… Và rồi cả thế giới vẫn đang chìm đắm trong các giáo điều vô ích, mà xã hội thì cứ băng hoại vô phương cứu vãn.

Như thế, Chí Phèo khi nói “Ai cho tao lương thiện” là đã gần như đạt đến độ minh triết xuất thần trong một khắc, đến mức chẳng có mấy cách biệt với nhà triết học lỗi lạc kia! Nhiều người sẽ nói rằng, nhưng Chí Phèo là một thằng bần cố nông say rượu, còn ông Tuấn là một giáo sư, sao có thể mang ra mà so sánh! Không, ở đây chúng ta phải nhìn con người và xã hội trong tất cả chiều kích của nó: sự tha hóa, chứ không phải chỉ chuyện tham nhũng.

Chí ban đầu vốn không phải là một thằng nát rượu, Chí hiền như đất, Chí có ước mơ bình dị mà lương thiện, Chí chăm chỉ làm việc, Chí không phải kẻ lưu manh. Lúc còn trai tráng, trước sự quyến rũ của bà Ba, Chí chỉ thấy nhục nhã chứ không sung sướng gì. Nhưng rồi Chí tha hóa, từ một người lương thiện, Chí trở nên lưu manh, rồi thành quỷ dữ, sau 7 – 8 năm bị quyền lực của Bá Kiến (kẻ đại diện cho nền cai trị) đẩy vào tù.

Ừ thì đấy là nông dân thất học, nhưng còn Hộ, còn Thứ, cũng của Nam Cao, thì sao? Tất cả đều tha hóa. Một kẻ nhân hậu có tài và có khát vọng cao đẹp chỉ muốn tạo lập một sự nghiệp để đời, nhưng rồi miếng ăn và sự tàn nhẫn của xã hội đã đẩy Hộ trượt dài. Hắn đã viết những thứ văn chương nhạt nhẽo bất lương để kiếm tiền nuôi miệng và cứu vợ con. Rồi từ một người lấy tình thương làm lẽ sống, hắn trở nên vũ phu, hắn đánh vợ đuổi con, hắn thành một con thú dữ.

Nam Cao cảnh cáo chúng ta cách đây gần 1 thế kỷ về sự hủy hoại con người bởi một chế độ/xã hội bất công và vô luân. Và Chí Phèo trở thành cái loa phát ngôn cho ông. Những người có đầu óc lành mạnh đều hiểu được cái chân lý ấy. Hãy đọc Nguyễn Huy Thiệp những năm 80 thì rõ thêm, sự tha hóa đã ăn vào tận sâu vào bọn tiến sĩ và tầng lớp có học nói chung.

Trong Tướng về hưu, một cô vợ bác sĩ khoa sản mang thai nhi về nuôi chó becgie kinh doanh trước mặt một ông chồng ươn hèn là nhà vật lý nổi tiếng. Trong cái thế giới “không có vua” ấy, người ta chỉ thấy một bầy người gồm đủ cả đồ tể đến trí thức, nhưng sống như súc vật, “Ai đồng ý bố chết thì giơ tay”.

Hãy nhìn vào lịch sử Việt Nam suốt gần một thế kỷ qua. Những Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường có phải là những trí tuệ sáng chói của dân tộc ta? Những Nguyễn Hữu Đang, Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm…, có phải là những tài năng lớn của dân tộc ta? Một Nhân văn – Giai phẩm đủ giết chết cả một thế hệ tài hoa và khí phách bậc nhất.

Ai đã đánh họ? Chính những cây bút lừng lẫy như Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Đình Thi, v.v., đã hạ thủ dưới sự chỉ đạo của bề trên. Cả 2 thế hệ ưu tú ấy đã bị hủy hoại theo những cách không giống nhau, một là con mồi và một là đồ tể.

Hãy nhìn rộng ra, ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới mà chuyên chế/độc tài ngự trị, ở đó lụi bại, đặc biệt là nhân tính. Sự lụi bại không chỉ thô thiển như việc tham nhũng, nó có muôn ngàn lối khác nhau: hoặc là trở nên lưu manh tha hóa, hoặc là trở nên độc ác tàn nhẫn, hoặc là hèn đi, hoặc vô cảm, zombie… Xã hội có một sức mạnh hủy diệt mà không một cá nhân đơn độc nào có thể chống lại được.

Hữu Loan có thể coi là một nhân cách kiên cường bậc nhất trong thế kỷ 20 của Việt Nam, ông không bị hư hỏng về tư cách như những người cùng thời nhưng ông đau khổ và đầy lòng bi phẫn. Bản thân điều đó cũng đã là một sự phá hủy lương thức của con người rồi. Đó là chưa nói tới một tài năng như ông, nếu không rơi vào vũng bùn ấy thì có thể ông còn nhiều, nhiều nữa những “màu tím hoa sim” để để lại cho đời, chứ không đến nỗi ngày ngày vào núi thồ đá kiếm ăn và chết mòn nơi thôn cùng xóm vắng.

Hãy đọc những “Người xa lạ”, “Huyền thoại Sisyphe” của A. Camus; “Hóa thân”, “Vụ án” của F.Kapka; “Buồn nôn” của J.P. Sartre… để thấy tình trạng này ở chiều kích nhân loại trong các hoàn cảnh lịch sử đặc biệt của nó.

Trong tiếng thét của các nhà tư tưởng và tiếng khóc của các nhà văn, chúng ta sẽ luôn nghe thấy giọng phê phán xã hội một cách dữ dội và tiếng kêu hãy cứu lấy con người bằng cách thay đổi cái xã hội tàn bạo đã ăn thịt con người. Chỉ có những kẻ điếc mới không nghe thấy những thanh âm ấy.

Xã hội cũng giống như một bàn cờ, ở đó giá trị của mỗi cá nhân luôn phụ thuộc vào cái cấu trúc (thế cờ) của cả bàn cờ ấy. Việc dịch chuyển bất kỳ một quân cờ nào cũng sẽ lập tức làm thay đổi giá trị của tất cả. Một thế cờ tốt nhất chính là một thiết chế xã hội mà tất cả những quân cờ đều phát huy được ý nghĩa và sức mạnh của mình. Trong hiểu biết cơ bản này, không kẻ ngu ngốc nào lại cố đi tìm cách thay một quân cờ gỗ bằng một quân cờ kim cương để hi vọng rằng mình sẽ chiến thắng trong cuộc đấu.

Tại sao nhân tài đổ về nước Mỹ còn chất xám thì chảy khỏi Việt Nam? Tại sao chúng ta không có phát minh sáng chế, tại sao chúng ta không có thành tựu khoa học kỹ thuật, tại sao chúng ta nghèo nàn lạc hậu, tại sao và tại sao? Ta hay nhắc câu của Tản Đà, “Nước bốn ngàn năm vẫn trẻ con”, là vì sao? Con người ở đâu trên thế giới thì cũng cơ bản giống nhau, không có chủng tộc nào ưu việt; những đất nước có một dân chúng khỏe khoắn, văn minh, trí tuệ và trưởng thành là bởi họ được sống trong các thiết chế tiến bộ. Cũng là một dân tộc đấy, tại sao Hàn Quốc và Triều tiên lại khác nhau đến thế, cả về mọi mặt của xã hội đến phẩm chất con người?

Bất cứ kẻ nào cũng phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình, tất nhiên, điều ấy chẳng cần phí thời gian bàn cãi làm gì. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó và yên tâm rằng, bỏ tù hay rao giảng đạo đức là đủ, thì bao nhiêu cuộc cách mạng mà nhân loại đã đổ máu, tù đày, thống khổ, là vì cái gì? Các nước dân chủ Anh, Pháp, Mỹ v.v., đâu phải từ trên trời rơi xuống, đó là thành quả của những cuộc cách mạng gian nan và trường kỳ. Không ai biện minh cho Chí Phèo cả, Chí Phèo đáng chết. Nhưng Bá Kiến còn đáng chết hơn. Và quan trọng là điều này: nếu không có Bá Kiến thì rất có thể sẽ không có Chí Phèo; nhưng một khi đã có Bá Kiến thì chắc chắn Chí Phèo được sinh ra, không chỗ này thì chỗ khác, không kẻ này thì kẻ kia. Không gì có thể bào chữa cho Hộ cả, nhưng nếu không muốn có hàng triệu anh Hộ trong cuộc đời thì hãy thay đổi cái bàn cờ nơi Hộ chỉ là một quân cờ. Việc mang anh ta ra giáo huấn hay đấu tố, được thôi, nhưng chẳng có ý nghĩa gì hết cho những thằng Hộ khác trong hiện tại và cả tương lai.

Con người là một sản phẩm của hoàn cảnh, “ở bầu thì tròn ở ống thì dài”, đó là chân lý. Thức ngộ cái chân lý ấy để làm gì? Không phải để buông xuôi, cũng không phải để đi sửa từng trái trái dưa, mà là thay/phá cái khuôn. Không lựa bầu hay ống nữa, phải để mỗi loài cây trái được phát triển tự nhiên trong một môi trường rộng lớn, khoáng đạt và tự do để chúng phát huy hết vẻ đẹp và sự hữu ích của mình.

Việc phê phán mỗi cá nhân hay phê phán dân chúng nói chung chỉ có ý nghĩa chừng nào sự phê phán ấy nhằm đánh thức nơi mỗi người cái ý thức cải tạo môi trường, cải tạo xã hội. Phan Châu Trinh đã dành cả đời để làm công việc này. Ông không “chửi dân” một cách chung chung như chửi những những kẻ xấu xa tồi tệ, ông chỉ ra cho họ thấy rằng, họ tệ như vậy là vì xã hội, và muốn thay đổi cái xã hội ấy thì họ phải trở thành những công dân mang ý thức công lợi để rồi cùng nhau thiết lập một thế cờ mới. Chỉ có như thế, đời họ, đời con cháu họ mới được sống trong lẽ công bằng, tự do và tốt lành.

Nếu Phan Châu Trinh chỉ hô hào bỏ tù những kẻ làm sai hay thuyết giáo “độc thiện kỳ thân” thì ông đã chẳng đáng được hậu thế nhắc đến. Cái vĩ đại của ông là ở chỗ, không ngừng phê phán dân tộc mình, nhưng là để họ gắng gỏi mà đứng dậy tự gánh vác lấy một cuộc đổi thay. Thảm hại thay, ngày nay hậu duệ của ông đã không mấy ai còn nhớ đến điều ấy nữa, họ vẫn chỉ muốn đập chết những con ruồi bẩn thỉu chứ không muốn dọn đống rác, vì dọn đống rác thì vất vả và nguy hiểm, lại không có cơ hội nói đạo lý mà làm sang cho mình.

Thái Hạo

https://www.facebook.com/permalink.php?story_fbid=pfbid0wzWXeiV2pPA5Wc8do5HFACu834qxSUkC24yL7h8g2ifPUJy5LCoEQw1WLWA2HNiTl&id=1000

MÓN NỢ TUỔI HAI MƯƠI-Trần Trung Đạo

Chính Luận Trần Trung Đạo

Trần Trung Đạo

(Đọc Mãi mãi tuổi hai mươi, nhật ký của Nguyễn Văn Thạc, người lính miền Bắc chết ở chiến trường Quảng Trị 1972)

Tôi đọc nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của anh Nguyễn Văn Thạc, người lính miền Bắc chết ở Quảng Trị lần đầu trên chuyến bay từ California về lại Boston một thời gian ngắn sau khi phát hành 2005. Nhật ký dày 296 trang, tính cả phần giới thiệu, bắt đầu từ ngày 2 tháng 10 năm 1971, 28 ngày sau khi anh nhập ngũ, đến trang cuối cùng ở Ngã Ba Đồng Lộc ngày 3 tháng 6 năm 1972. Tôi đã có lần đề cập đến Mãi mãi tuổi hai mươi trong một bài viết khác, nhân dịp 30-4 muốn viết một bài riêng.

Anh Nguyễn Văn Thạc sinh ngày 14 tháng 10 năm 1952 tại làng Bưởi, Hà Nội. Cha mẹ anh có đến 14 người con, vốn là chủ nhân một xưởng dệt nhỏ, có thuê người làm nhưng khi chiến tranh bùng nổ phải bán hết và dọn về xã Cổ Nhuế, huyện Từ Liêm. Gia đình đông đúc, đời sống khó khăn, mẹ anh phải đi cắt cỏ bán lấy tiền.

Dù nghèo khó, anh Thạc học rất giỏi tất cả các môn, nhất là môn văn. Ngày 6 tháng 9 năm 1971, anh gia nhập bộ đội. Tháng 4 năm 1972 anh được đưa vào Nam. Anh viết cuốn nhật ký từ ngày 2 tháng 10 năm 1971 đến ngày 3 tháng 6 năm 1972. Trước khi tham gia chiến trường Quảng Trị, anh đã gửi cuốn nhật ký cùng nhiều lá thư về cho anh trai từ ngã ba Đồng Lộc. Hai tháng sau, ngày 30 tháng 7 năm 1972 anh chết tại mặt trận Quảng Trị sau khi chưa tròn một năm trong đời quân ngũ.

Các hệ thống truyền thông của đảng tuyên truyền rằng trong “một trận đánh ác liệt bên Thành cổ Quảng Trị, chiến sĩ thông tin Nguyễn Văn Thạc đã bị trọng thương mảnh pháo đã cắt ngang đùi trái trận chiến đẫm máu và hy sinh tại Cổ Thành Quảng Trị.”

Thật ra, theo lời anh Nguyễn Văn Hà người thương binh cùng trung đội truyền tin và cũng là người đã mai táng anh Nguyễn Văn Thạc kể lại với phóng viên báo Tiền Phong, anh Thạc không tham gia trận chiến đẫm máu tại Cổ Thành và cũng chưa bắn một viên đạn nào. Khẩu AK, bốn băng đạn vẫn còn nguyên vẹn. Sau khi vượt sông Ba Lòng, anh Thạc là người đầu tiên trong đơn vị bị pháo binh VNCH bắn trúng. Cũng theo lời anh Nguyễn Văn Hà, anh Thạc còn rất tỉnh táo tuy bị thương ở đùi. Máu ra nhiều nhưng không có y tá để giúp đỡ, không một viên thuốc cầm máu hay giảm đau, và như thế anh Thạc ra máu cho đến chết.

Anh đặt tên nhật ký là Chuyện Đời nhưng được thay bằng Mãi mãi tuổi hai mươi khi phát hành vào năm 2005. Giống như Nhật ký Đặng Thùy Trâm, nhật ký Mãi mãi tuổi hai mươi của Nguyễn Văn Thạc qua bộ máy tuyên truyền của đảng đã trở một tác phẩm có số lượng phát hành kỷ lục và gây tiếng vang lớn tại Việt Nam.

Anh Thạc thú nhận “ước mơ thầm kín” của anh là trở thành nhà văn. Cũng vì tập làm nhà văn nên văn trong nhật ký của anh không có được nét tự nhiên. Anh tả cảnh hơi nhiều. Ví dụ, ngày 20 tháng 11 năm 1971 anh tả trong nhật ký: “Cơn gió thổi từ phía đồi mặt trời qua hồ cá. Sương mù thốc nhẹ lên rặng phi lao ven đường… Con trâu đi ngang, con cá trắng bơi dọc, và những vòng sóng hình tròn toả rộng chung quanh… Sự sống hiện ra ở khắp mọi chiều. Và chỗ nào mà chẳng có mầm xanh, chỗ nào mà chẳng có giọt nắng hình quả trứng lăn nghiêng”; hay ngày 4 tháng 2 năm 1972, thay vì ghi lại những gì xảy ra trong ngày, anh tả một cơn gió mùa: “Cả rừng bạch đàn vặn mình. Những cây bạch đàn thân nâu lốm đốm trắng nghiêng ngả. Những chiếc lá thon dài nằm ngang trong gió. Thấp thoáng trong rừng những mái nhà gianh và những lều bạt. Gió mạnh phần phật những tấm tăng đã cũ. Gió reo vù vù…”

Ngoại trừ tình yêu say đắm dành cho chị Như Anh mà tôi sẽ không nhắc trong bài viết này vì tôn trọng tình cảm riêng tư, anh Thạc là sản phẩm kiểu mẫu của nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Anh không được đi ra nước ngoài dù đi Liên Xô, đi Tiệp. Anh chỉ nghe đài phát thanh Hà Nội, học tập lý luận chính trị từ các bài diễn văn của Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, đọc truyện dịch của các tác giả Liên Xô, đọc thơ Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, các nhà thơ Liên Xô, ngoài ra không có một nguồn tư liệu nào khác. Anh tả nhiều hơn viết, một phần cũng vì ở tuổi còn nhỏ sự gần gũi và va chạm với xã hội còn khá ít.

Thần tượng tuổi trẻ của anh Thạc là Paven, tức Pavel Korchagin trong Thép đã tôi thế đấy của Nikolai Ostrovsky.

Lại cũng Paven!

Ngày 24 tháng 12 năm 1971 anh viết về thần tượng Paven của anh: “Dạo ấy Paven mới 24 tuổi. Ba năm của thời 20, anh đã sống say sưa, sống gấp gáp và mạnh mẽ. Cưỡi trên lưng con ngựa cụt hai tai trong lữ đoàn Buđionni anh đã đi khắp miền đất nước. Cuộc sống của anh là một dòng mùa xuân bất tận giữa cuộc đời. Đó là cuộc sống của người Đảng viên trẻ tuổi, cuộc sống của một chiến sỹ Hồng quân. Mình thèm khát được sống như thế. Sống trọn vẹn đời mình cho Đảng, cho giai cấp. Sống vững vàng trước những cơn bão táp của cách mạng và của cuộc đời riêng.”

Thép đã tôi thế đấy là một trong những tác phẩm anh Thạc mang theo trên đường vào Nam và được anh trích dẫn khá nhiều. Anh xem đó như là nhựa sống: “Mêrétxép và Paven… Những người đầy nghị lực và có thể nói được họ đã đi tới mục đích của đời mình!” Anh hổ thẹn vì chưa được thành đảng viên CS giống như Paven: “Hôm nay, lần đầu tiên trong đời mình cảm thấy hổ thẹn với mọi người, hổ thẹn với Paven, Pavơlusa thân yêu. Mình chưa phải là một đảng viên!”

Ước mơ của chàng thanh niên Việt Nam 20 tuổi Nguyễn Văn Thạc là được sống như Paven Korchagin.

Chẳng lẽ anh không biết một số rất đông anh hùng dân tộc Việt Nam, đã sống, chiến đấu và hy sinh cho độc lập tự do của đất nước trong khi còn rất trẻ. Trần Quốc Toản (1267–1285) “phá cường địch báo hoàng ân” năm 18 tuổi. Trần Bình Trọng (1259–1285) “thà làm quỷ nước Nam hơn làm vua đất Bắc” khi 26 tuổi. Nguyễn Thái Học (1902–1930) “chết vì tổ quốc chết vinh quang” lúc 28 tuổi. Cuộc đời họ là những bản hùng ca tuyệt vời gấp ngàn lần hơn anh chàng Nikolai Ostrovsky bị tẩy não kia.

Đọc phóng sự Vua An Nam (Le Roi d’Annam, Nguyễn Duy Chính dịch) của ký giả Jean Locquart đăng trên Le Monde ngày 23 tháng 2 năm 1889 để biết tuổi trẻ Việt Nam đã sống và chết trung liệt như thế nào.

Ký giả Jean Locquart tường thuật khá chi tiết cảnh biệt đội Pháp do Đại úy Boulangier chỉ huy bắt sống vua Hàm Nghi chiều ngày 1 tháng 11 năm 1888:

“Một buổi chiều biệt đội của đại uý được tin là sau khi bị đội lính dõng thiện chiến truy kích liên tục, cựu hoàng lẩn trốn cùng với người tuỳ viên là Tôn Thất Thiệp con trai cựu phụ chính Thuyết tại một làng hẻo lánh và kín đáo trong rừng núi cao nguyên Giai. Biệt đội của Boulangier liền bao vây nơi nhà vua ở và khi cửa chính bị đạp tung ra thì thấy Thiệp đã thức giấc vì tiếng động của vụ tấn công còn vua Hàm Nghi đang ngủ say ở bên cạnh. Cả hai người đều để gươm trần ở bên cạnh và trong tay có khí giới nhưng không chống trả được gì.Thấy chủ soái thất thế, và để tránh cảnh tủi nhục khi bị bắt đem đi, Thiệp toan đâm chết ông [vua Hàm Nghi], nhưng vì quân Pháp dự tính bắt sống nên lập tức nổ súng hạ gục Thiệp. Sau đó họ chặt đầu Thiệp và đem bêu trên cọc tre ở ngoài chợ Dang-Kha là một nơi sầm uất và còn đang xao động.”

Hai người gánh cả một non sông trong giai đoạn lịch sử vô cùng bi tráng đó đều chỉ mới 18 tuổi, còn nhỏ tuổi hơn anh Thạc.

Tôi tự hỏi, khi dừng chân nghỉ ngơi trong hành trình đầy gian khổ ở Quảng Trị vua Hàm Nghi và Tôn Thất Thiệp nói chuyện gì với nhau. Một ông vua trẻ trước đây chưa từng ra khỏi Huế và một chàng vệ sĩ còn trong tuổi vị thành niên hẳn không có nhiều điều trao đổi. Nhưng có một điều chắc chắn họ đã từng chia sẻ, đó là mơ ước một ngày dân tộc Việt Nam sẽ không còn làm nô lệ cho Tây. Giọt máu của Tôn Thất Thiệp nhỏ xuống trên chiếc cọc tre cắm ngoài chợ Dang-Kha và giọt nước mắt của vua Hàm Nghi nhỏ xuống bên thành tàu Biên Hòa trên đường đi đày cùng có một mùi đắng cay, tủi nhục giống nhau.

Là sinh viên Đại học Tổng hợp Hà Nội và từng là học sinh giỏi văn nhất miền Bắc hẳn anh biết Trần Bình Trọng, Trần Quốc Toản, Hàm Nghi, Tôn Thất Thiệp là ai, rất tiếc anh không được uốn nắn để sống theo những tấm gương trung liệt đó.

Trong mùa hè đỏ lửa năm 1972, hàng trăm ngàn đồng bào Quảng Trị phải bồng bế, gồng gánh nhau chạy vào Huế và Đà Nẵng, những quận Đông Hà, Gio Linh và các khu vực chung quanh Cổ thành Quảng Trị đã trở thành những bãi chiến kinh hồn nhưng trong nhật ký ngày 4 tháng 4 năm 1972, anh hãnh diện chép lại bản tin của đài phát thanh Hà Nội: “Đài phát thanh truyền đi tin chiến thắng rực rỡ của tiền tuyến ở mặt trận Trị-Thiên-Huế ở đường 9, Cam Lộ, Gio Linh, đã diệt 5.500 tên địch; 10 vạn đồng bào nổi dậy – Đài phát thanh tiếng nói Việt Nam đã phải mở thêm các buổi phát thanh để truyền tin chiến thắng của miền Nam anh hùng.”

Anh Thạc tin một cách chân thành rằng những tin tức đó là thật. Nếu có một nhà sưu tầm nào thu thập các bản tin chiến sự của đài phát thanh Hà Nội trong suốt cuộc chiến và cộng lại, tổng số tổn thất của quân đội VNCH ít nhất cũng bằng nửa dân số miền Nam!

Trong nền giáo dục CS, anh Thạc không phải mất công tìm kiếm câu trả lời cho những thắc mắc của mình vì Đảng đã có sẵn các câu trả lời cần thiết cho suốt cuộc đời anh.

Trong nhật ký ngày 12 tháng 1 năm 1972, khi ưu tư về tương lai, anh Thạc trích ngay câu nói của Lê Duẩn: ”Thanh niên hãy lấy sự hy sinh phấn đấu cho cách mạng làm hạnh phúc cao cả nhất của đời mình, đừng để cho tình cảm cách mạng nguội lạnh vì những tính toán được mất cho cá nhân.” Không có tình cảm riêng tư nào cả, cách mạng là hạnh phúc cao cả nhất. Anh viết câu nói của Lê Duẩn vào nhật ký một cách trang trọng tưởng chừng y đang ngồi trước mặt và sau đó yên tâm đi tiếp, không thắc mắc gì thêm.

Dù trong bất cứ một hoàn cảnh nào, cuộc tranh đấu giữa thiện và ác diễn ra không ngừng trong mỗi con người cũng như trên phạm vi xã hội. Cũng có lúc các đặc tính nhân bản, tự do bẩm sinh trong con người anh đứng lên chống lại các yếu tố ác độc, nô dịch của ý thức hệ CS đang dồn dập tấn công.

Trong nhật ký ngày 27 tháng 4, anh viết những câu đau xót cho cuộc đời mình: “Phải hết sức trấn tĩnh, tôi mới không xé hoặc không đốt đi cuốn Nhật ký này. Trời ơi! Chưa bao giờ tôi chán nản và thất vọng như buổi sáng nay, như ngày hôm nay cả. Tôi không giải thích ra sao nữa. Người ta giải thích được cần phải trấn tĩnh mới hiểu lý do và lung tung. Còn tôi rời rã tôi chán nản với hết thảy mọi điều, mọi thứ trên trái đất này. Phải, tôi hiểu rằng, với một người con trai đang khoẻ mạnh, đang sung sức, đang ở giữa mùa xuân của đời mình thì buồn nản, thì chán đời là một điều xấu xa và không thể nào tưởng tượng được – Người ta đã chửi rủa biết bao lần những thanh niên như thế – Nhưng tôi biết làm sao khi chính bản thân tôi đang buồn nản đến tận cùng này. Tôi lê gót suốt con đường mòn – Con đường mòn như chính cuộc đời tôi đang mòn mỏi đi đây – Tôi ngồi bệt xuống bờ sông, con sông cạn đang rút nước. Tôi vốc bùn và cát ở dưới lòng sông, và qua kẽ ngón tay tôi nó rớt xuống, rớt xuống. Tôi muốn khóc, khóc với dòng sông.”

“Tôi muốn khóc, khóc với dòng sông”, khóc cho anh, cho thế hệ anh đang lê gót trên con đường mòn.

Nhưng thiện tính bẩm sinh trong con người anh Thạc mong manh như một nhánh tre non giữa cuồng phong thù hận. Anh bị tiêm thuốc độc vào người từ thuở mới sinh ra, biết đọc, biết viết cho đến tuổi hai mươi. Những vi trùng Pêlêvôi (Người mẹ cầm súng), Marétxép (Anh hùng phi công Marétxép) đã mê hoặc anh bằng một loại chủ nghĩa anh hùng không tưởng.

Thiện tính trong anh không chống đỡ nổi, đã gục xuống, đầu hàng để rồi vài hôm sau trong nhật ký ngày 7 tháng 5 năm 1972 anh lại mơ được “Đảng tin và trao cho những nhiệm vụ nặng nề.” Anh Thạc không thể thoát ra khỏi được quỹ đạo của bộ máy tuyên truyền CS tinh vi. Mà cũng ít người thoát ra được.

Trong số 8 người bạn học đi thi giỏi văn toàn miền Bắc, phần lớn được đi học nước ngoài, riêng anh và một người bạn khác phải đi bộ đội. Trong nhật ký ngày 24 tháng 5 năm 1972, anh tự hỏi chính mình: “Thạc còn buồn không? Có còn buồn bã vì những năm tháng phải xa trường đại học, vì không được ra nước ngoài học tập – Vì các bạn Thạc, người đi đây, người đi đó, sống êm ả, sung tức với tập giáo trình. Ngày mai, các bạn về, các bạn có kiến thức, các bạn là kỹ sư, là các nhà bác học, còn Thạc sẽ chỉ là một con người bình thường nhất, nếu chiến tranh không cướp đi của Thạc một bàn chân, một bàn tay…”

Anh không thể tự trả lời.

Tuy nhiên, đoạn nhật ký trong cùng ngày đã giải thích lý do một học sinh hạng A1, giỏi toàn diện và từng đoạt giải giỏi văn nhất miền Bắc như anh lại không được đi học nước ngoài: “Lại nói tiếp về những trang lý lịch – Người ta bắt khai tỉ mỉ hết sức – Nào là ông, bà, cô dì, chú bác. Làm sao mà nhớ được cơ chứ – Ngay cả cái tên mình cũng khó mà nhớ được Nữa là phải nhớ cả ngày tháng năm sinh. Nhớ cả sinh hoạt vật chất và chính trị của các cụ ấy từ ngày mình có lẽ chưa có một chút gì trên trái đất này, ngay cả đó là những tế bào đầu tiên đơn sơ nhất!”

Anh Thạc nhiều tài năng đã chết một cách oan uổng chỉ vì như anh viết “vết đen của quá khứ gia đình đè trĩu hai vai.”

Cha mẹ anh chẳng phải phạm tội cướp của giết người gì cả nhưng từng có xưởng dệt, mướn thợ làm công và như thế trên quan điểm Marx-Lenin, anh thuộc thành phần tư sản bóc lột, tội ác.

Anh Thạc chưa được kết nạp vào đảng và cũng chưa được làm đối tượng đảng.

Anh viết trong nhật ký ngày 7 tháng 5 năm 1972:“Chao ôi, bao nhiêu lần mình ao ước có được hạnh phúc xa vời ấy, được Đảng tin và trao cho những nhiệm vụ nặng nề. Có người sẽ bảo: Thì đấy, anh được đi bộ đội đó thì sao? Chẳng lẽ anh không được Đảng tin cậy mà lại trao nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc à? Không, đừng ai nói thế! Chuyện gì cũng có điều tế nhị của nó. Nói ra ư, không khéo thì trở thành phản cách mạng mất. Có đi trong quân đội mới cảm thấy nỗi khổ của những người không phải Đỏ hoàn toàn.” Trong cùng ngày, anh viết: “Cứ mỗi lần khai lý lịch, mình lại buồn, buồn tận sâu xa.”

Anh Thạc nhắc đi nhắc lại đến mười một lần hai chữ “lý lịch” trong nhật ký và điều đó cho thấy “vết đen” lý lịch ám ảnh anh sâu đậm đến mức nào.

Anh khổ tâm, đau đớn vì lý lịch gốc tư sản của cha mẹ anh trước đây cũng là điều dễ hiểu. Trong xã hội miền Bắc, đảng là chiếc thang duy nhất đại diện cho quyền lực và quyền lợi mà mọi người phải chen nhau, đạp nhau và ngay cả giết nhau để được trèo lên cao.

Chủ nghĩa CS và chủ nghĩa Quốc Xã Đức giống nhau một điểm quan trọng, đó là sự tin tưởng vào mỗi cá nhân đặt cơ sở trên lý lịch. Chính trị lý lịch (Bio-politics) không chỉ bảo đảm tính kế tục về dòng giống nhưng còn bảo đảm mục đích của chế độ được hoàn thành trong ngắn hạn cũng như dài hạn.

Chính Adolf Hitler, đối thủ hàng đầu của Stalin, đã từng bày tỏ sự thán phục dành cho Stalin và ca ngợi y trong việc làm thuần khiết hóa đảng CS Liên Xô qua việc loại bỏ các mầm mống Do Thái như Leon Trotsky, Grigory Zinoviev, Lev Kamenev, Karl Radek khỏi nội bộ lãnh đạo đảng. Stalin phê bình quan điểm chủng tộc Aryan siêu việt của Hitler và gọi đó là Phát Xít nhưng chính y lại biện hộ cho chính trị lý lịch dựa trên giai cấp xã hội.

Anh Thạc có yêu nước không?

Tôi tin là có.

Không những anh Thạc mà rất đông tuổi trẻ miền Bắc tình nguyện lên đường “giải phóng miền Nam” cũng vì lòng yêu nước. Nhưng tình yêu nước của các anh không phát xuất từ trái tim trong sáng của tuổi hai mươi mà được dạy để yêu nước theo quan điểm giai cấp.

Miền Nam mà các anh được đảng mô tả là địa ngục trần gian chứ không phải là những cánh đồng bát ngát, những vườn cây sai trái, những dòng sông nhuộm đỏ phù sa. Người dân miền Nam mà đảng vẽ trong nhận thức các anh là những người đang rên xiết trong gông xiềng “Mỹ Ngụy” chứ không phải là mấy chục triệu người chơn chất hiền hòa chỉ mong được yên ổn để xây dựng cuộc sống mới sau gần một thế kỷ bị thực dân đô hộ. Cũng trong nhật ký ngày 24 tháng 5, anh Thạc tin rằng Sài Gòn ngày đó là một “Sài Gòn tăm tối, dưới ách quân thù.”

Anh Thạc hiểu thế nào là tổ quốc?

Trong bài thi học sinh giỏi văn miền Bắc in ở phần cuối của nhật ký, anh phân tích tổ quốc: “Được mang ngòi bút của mình phục vụ Tổ Quốc, nhằm giáo dục lập trường và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa cho nhân dân ta, các nhà thơ ta, bằng nghệ thuật hiện thực xã hội chủ nghĩa, đã tái hiện cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của dân tộc ta đang chiến đấu theo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, và dưới ánh sáng đường lối văn nghệ, chính trị của Đảng” hay trong nhật ký ngày 7 tháng 1 năm 1972, anh viết “Tổ quốc vẫn dựng xây và đánh giặc hai hòn gạch vẫn gắn chặt vào nhau nhờ nhiệt tình của con người cộng sản.”

Tổ quốc gắn liền với “lập trường và nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa” hay “gắn chặt vào nhau nhờ nhiệt tình của con người cộng sản” như anh viết nằm bên sông Volga, sông Hoàng Hà chứ không phải sông Hồng, sông Cửu.

Đoạn văn anh viết được trích gần như nguyên văn từ các đề cương văn hoá, nghị quyết, bài giảng kinh tế chính trị ở trường mà anh đã nhập tâm. Không phải chỉ một mình anh Nguyễn Văn Thạc mà phần lớn nhà văn miền Bắc không ít thì nhiều đều phạm tội đạo văn của đảng.

Anh Thạc không phân biệt được sự khác nhau, nói chi đến mâu thuẫn, giữa tổ quốc và đảng, giữa ý thức dân tộc nhân bản và chủ nghĩa Marx-Lenin độc tài toàn trị.

Đọc bài văn đoạt giải nhất này để thấy bộ máy tuyên truyền của đảng không những có khả năng điều khiển hành động mà còn có thể sai khiến cả nhận thức của anh.

Trong nhật ký ngày 15 tháng 11 năm 1971 anh viết: “Thằng Mỹ, nó thế nào? Trời ơi, sao lâu quá. Bây giờ cái khao khát nhất của ta – cái day dứt nhất trong ta là khi nào được vào miền Nam, vào Huế, Sài Gòn – xọc lê vào thỏi tim đen thủi của quân thù.”

Anh không biết “Thằng Mỹ, nó thế nào” và vẫn muốn “xọc lê vào thỏi tim đen thủi” của nó. Khủng khiếp thật. Ai dạy anh viết những câu sắt máu vượt qua tuổi tác của anh như thế, chắc chắn không phải cha mẹ anh mà từ bộ máy tuyên truyền của Đảng.

Anh Thạc là nạn nhân của một chính sách thuần hóa tinh vi. Mục tiêu hàng đầu của tuyên truyền tẩy não CS là đào tạo những con người biết tuân phục. Thuần khiết toàn xã hội qua sách lược trồng người là mục đích tối hậu của nền giáo dục CS. Đó là lý do tại sao các lãnh tụ CS thích hôn nhi đồng. Từ Lenin, Stalin, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh, Kim Nhật Thành cho đến Fidel Castro, Pol Pot đều thích hôn nhi đồng. Hình ảnh “hiền từ” của họ bên cạnh nhi đồng là hình ảnh phổ biến nhất tại các nước CS.

Nhà thơ Nguyễn Chí Thiện tả cảnh “hôn nhi đồng” tại miền Bắc trong bài thơ ông viết năm 1970:

Bác Hồ rồi lại bác Tôn
Cả hai đều thích ôm hôn nhi đồng
Nước da hai bác màu hồng
Nước da các cháu nhi đồng màu xanh
Giữa hai cái mặt bành bành
Những khăn quàng đỏ bay quanh cổ cò.

Bộ máy tuyên truyền của CSVN là thành quả được “vận dụng một cách sáng tạo” từ cả hai hệ thống tuyên truyền CS Liên Xô và Trung Cộng nên không lạ gì họ đã lừa gạt bao nhiêu thế hệ thanh niên miền Bắc một cách dễ dàng.

Đọc lại nhật ký của anh Nguyễn Văn Thạc để thấy, CSVN vào được Sài Gòn trong ngày 30 tháng 4 năm 1975 bằng nhiều phương tiện nhưng hữu hiệu nhất là phương tiện tuyên truyền.

Trang nhật ký cuối cùng ghi ngày 25 tháng 5 năm 1972, anh Thạc viết: ”Kẻ thù không cho tôi ở lại – Phải đi – Tôi sẽ gởi về cuốn Nhật ký này, khi nào trở lại, khi nào trở lại tôi sẽ viết nốt những gì lớn lao mà tôi đã trải qua từ khi xa nó, xa cuốn Nhật ký thân yêu đầu tiên của đời lính. Ừ, nếu như tôi không trở lại – Ai sẽ thay tôi viết tiếp những dòng này? Tôi chỉ ước ao rằng, ngày mai, những trang giấy còn lại đằng sau sẽ toàn là những dòng vui vẻ và đông đúc. Đừng để trống trải và bí ẩn như những trang giấy này.”

Anh Thạc không trở lại. Nhật ký ngày 3 tháng 6 năm 1972 chỉ là địa chỉ “Ngã ba đồng lộc.” Hết.

Những trang giấy còn lại của cuốn nhật ký cũng không phải là những dòng vui vẻ đông đúc như anh muốn. Anh ngã xuống ở Quảng Trị và trên vùng đất đó, máu của nhiều thanh niên miền Nam cũng đã đổ xuống để giành lại Cổ thành Đinh Công Tráng, giành lại Cam Lộ, Đông Hà, Triệu Phong và những vùng đất miền Nam thân yêu khác.

Anh Nguyễn Văn Thạc đã chết. Hàng triệu thanh niên miền Bắc đã chết. Hàng trăm ngàn cựu thương binh miền Bắc may mắn hơn nhưng phải sống phần đời còn lại trong khó khăn túng thiếu với số tiền phụ cấp chỉ vỏn vẹn sáu trăm ngàn và nhiều nhất là ba triệu đồng một tháng cho cả gia đình.

Tất cả những mất mát và chịu đựng đó chỉ để hoàn thành mục tiêu CS hóa Việt Nam như đã xác định từ cương lĩnh đảng CSVN 1930, cương lĩnh 1935 và lần nữa khẳng định trong cương lĩnh 1991: “Mục đích của Đảng là xây dựng nước Việt Nam dân chủ, giàu mạnh theo con đường xã hội chủ nghĩa và cuối cùng là thực hiện lý tưởng cộng sản chủ nghĩa.” Sau 39 năm, ngoại trừ những kẻ bị tẩy não, một người có nhận thức và theo dõi thời cuộc đều đã nhận ra khẩu hiệu “chống Mỹ cứu nước” chỉ là một chiêu bài và “độc lập, tự do, hạnh phúc” chỉ là chiếc bánh vẽ.

Xương máu của nhiều thế hệ thanh niên miền Bắc đổ xuống chỉ để hôm nay mọc lên những biệt thự nguy nga, sang trọng của các chủ tịch, bí thư, ủy viên trung ương, ủy viên bộ chính trị, những kẻ sống xa hoa trên một đất nước độc tài, tham nhũng, lạc hậu và bị phân hóa đến tận cùng.

Đảng CSVN nợ những người đã chết và còn sống trong tật nguyền đau đớn quá nhiều thứ nhưng món nợ lớn nhất mà đảng không thể nào trả nổi, đó là, món nợ tuổi hai mươi.

Trần Trung Đạo

Tháng Tư… ngu! – Huy Phương

Huy Phương

Trước hết, tôi xin tự kiểm điểm cái ngu của bản thân mình trước, trong hàng nghìn cái ngu của thiên hạ, vì ngu mà phải mất nước, “lỗi tại tôi mọi đàng” hay “tôi làm tôi mất nước”. Là một cán bộ chiến tranh chính trị trung cấp, hết làm tâm lý chiến, rồi chính huấn, tức là huấn luyện chính trị cho hàng nghìn tân binh tại một trung tâm huấn luyện lớn nhất nước, mà khi nghe Cộng Sản vào đến Sài Gòn, không chịu tìm đường chạy, vì cứ nghĩ mình gốc nhà giáo, hòa bình rồi, đi ‘học” mấy ngày rồi về dạy học lại!

Tôi ngu vì đã suy diễn hay hiểu sai thời gian đi “học tập,” nên chỉ đem theo 10 gói mì ăn liền Vifon, để ăn sáng trong 10 ngày, ngày thứ 11 đã ăn cơm nhà rồi!

Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định ra thông cáo tất cả các quân nhân cấp úy phải trình diện đi “học tập cải tạo,” mang theo tiền ăn trong 10 ngày, cấp tá mang theo tiền ăn cho một tháng. Sau này có người đi tù 17 năm ròng rã, chúng ta “chửi” Cộng Sản lừa dối, nhưng xem kỹ lại các văn bản, không thấy đoạn nào nói, cấp úy chỉ đi tù 10 ngày, cấp tá một tháng, mà chỉ nói “đóng tiền ăn”. Chẳng qua, vì chúng ta hay suy luận, và ngây thơ, khờ dại nên mắc mưu sự khôn lanh, xảo quyệt của kẻ thù, đó chính là vì chúng ta ngu!

Sau này, ra Bắc, chính tai tôi đã nghe một quản giáo cai tù nói rằng: “Đưa các anh ra biển thì cũng từ từ, trước hết là gần bờ, sau mới dần dần đưa các anh ra xa hơn, nếu không các anh chóng mặt, say sóng, chịu làm sao nổi!”

Tôi đoan chắc anh em chúng ta, nhất là quý vị tướng lãnh, nếu biết được những ngày tù không bản án, mà có người ra đi biền biệt 17 năm trời, chịu bao nhiêu khổ ải, nhọc nhằn, nhục nhã, thì một nửa trong chúng ta đã tự sát tại nhà mà chết, hoặc chạy vào rừng để rồi cũng chết vì súng đạn của Việt Cộng. May hay rủi, vì ngu mà chúng ta mới sống đến ngày hôm nay.

Khi đến các địa điểm trình diện, không ai nghĩ “đi tù” mà chỉ nghĩ “đi học”. Tại trường Trưng Vương, là nơi trình diện từ cấp phó giám đốc trở lên, hai vị, một từng là phó thủ tướng VNCH, dân biểu, một vị đã là thượng nghị sĩ, đi học còn mang theo gối ôm, và khi xếp hàng vào cổng, có vị đã giành đi trước, vì có giấy giới thiệu của Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn-Gia Định. Sau đó, bộ đội Cộng Sản mới ra lệnh: “Ai có giấy giới thiệu thì đứng qua một bên!” Giấy giới thiệu đây là giấy gọi “trình diện” cho các viên chức cấp cao, còn đối với cấp nhỏ thì chỉ có thông cáo chung trên báo chí, đài phát thanh.

Những ai còn đứng lấp ló ngoài cửa chưa chịu vào, còn nghi ngại dò la thì những chiếc xe mang tên nhà hàng Soái Kình Lâm, Đồng Khánh… mang thức ăn vào quý vị dùng bữa tối, hẳn đã đánh tan mối hoài nghi về thiện ý của người thắng trận.

Đến khi lên xe Molotova, phủ bạt kín rồi, chúng tôi vẫn còn lạc quan tin lời Cộng Sản được đưa đến chỗ đầy “đủ tiện nghi,” (chắc là có đủ điện nước, máy lạnh, sân bóng chuyền…) để học tập và khi biết đoàn xe ra đến xa lộ Biên Hòa, thì việc di chuyển lên Đà Lạt như cầm chắc trong tay. Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, trường Chỉ Huy Tham Mưu, trường Đại Học Chiến Tranh Chính Trị là những nơi lý tưởng nhất để “học tập”. Khi đến nơi ở tù rồi, Cộng Sản đưa tù vào một cái nhà kho, một trại gia binh hay một cánh rừng thì vẫn tin tưởng vào số ngày trong thông cáo, chờ ngày ra sân vận động Cộng Hòa làm lễ mãn khóa: “Quỳ xuống hỡi những cải tạo viên – Đứng lên hỡi những công dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam!”

Câu chuyện những người trên con tàu Việt Nam Thương Tín, Tháng Năm, 1975, sang đến đảo Guam rồi, lại đốt “barrack,” tuyệt thực đề đòi “về với tổ quốc,” là một bài học xót xa cho những người trong cuộc, có người phải trả giá bằng 17 năm tù. Nhạc sĩ Huỳnh Công Ánh kể chuyện, anh em “tù cải tạo” tại trại tù K2, Nghệ Tĩnh, gọi những người này bằng biệt danh “đội q…!”

Tại trại 15 NV. Long Thành, một nhạc sĩ đã hồ hởi sáng tác những bản nhạc được cai tù bắt cả trại hát: “Trồng rau, trồng đậu, trồng tình thương trong tâm hồn người..”. Ra tới Bắc Thái lại thêm một bài “Ngày vui đã tới!” nhưng mà “ngày về” thì xa lắc xa lơ!

Thậm chí khi lên con tàu chở súc vật Sông Hương lưu đày ra Việt Bắc rồi, có người vẫn lạc quan “biết đâu nó chở tù miền Nam ra Đệ Thất Hạm Đội Hoa kỳ hay đi thẳng qua Guam để giao cho Mỹ!” Tàu chạy hơn một ngày một đêm rồi mà vẫn nghĩ là cập bến Đà Nẵng chứ không ai nghĩ là lên cảng Hải Phòng.

Ở trong nhà tù vẫn còn người tin tưởng “học tập, lao động” tốt thì được “Cách Mạng” cứu xét cho về với gia đình sớm, nên làm trối chết, kiệt sức, đấu tố anh em… để lấy điểm với cán bộ, cũng như đau xót cho quý bà ở nhà, dắt díu con cái đi vùng “kinh tế mới” cho chồng sớm được tha! Sau 10 “bài học tập,” tới buổi “thu hoạch” thì cứ nghĩ là viết hay thì được tha về, viết dở thì ở lại “học” tiếp.

Trước ngày 29 Tháng Ba, 1975, khi Cộng Quân chưa vào Đà Nẵng, một số người thuộc phe hòa hợp hòa giải tin tưởng thời cơ đã đến nên đã sắp đặt đưa Bác Sĩ Phạm Văn Lương lên làm thị trưởng Đà Nẵng, tin sau đó được đài BBC loan báo. Trong lần phỏng vấn bà quả phụ Phạm Văn Lương tại Nam California, bà xác nhận với chúng tôi Bác Sĩ Phạm Văn Lương chưa bao giờ là thị trưởng Đà Nẵng, nhưng có chuyện là khi có nguồn tin này, một vị trung tá đã đến gặp ông xin làm tài xế cho ông, để nhờ ông che chở, lánh nạn. Sao có người “ngu” đến mức như thế!

Ngày 5 Tháng Tư, 1975, Bác Sĩ Phạm Văn Lương cùng nhiều y sĩ khác bị đưa vào nhà tù Kỳ Sơn, và một năm vào ngày 3 Tháng Tư, 1976, Bác Sĩ Lương đã uống thuốc ngủ cùng 10 viên cloroquine để tự tử.

Trong những ngày cuối cùng của miền Nam, Tướng Dương Văn Minh vẫn còn tin tưởng Thượng Tọa Thích Trí Quang, người hứa sẽ đưa người “phía bên kia” đến thương lượng để thành lập chính phủ liên hiệp. Nhưng cuối cùng, tiếng than cuối cùng tuyệt vọng của “Tổng Thống” Dương Văn Minh là: “Thầy giết tôi rồi!”

Có những người làm lớn hoặc từng “làm rung rinh nước Mỹ” mà còn ngây thơ như vậy, thì đừng trách chi một thằng lính như tôi tin tưởng vào lời của “cách mạng” đem đủ 10 gói mì ăn liền, là… ngu!

Quân tử, ngay thẳng, ngây thơ mà đối đầu với tiểu nhân, xảo trá, độc ác thì không chết cũng bị thương. Tôi đâm ra nghi ngờ rằng, khó “đem đại nghĩa để thắng hung tàn,” và thời nay thấy nhan nhản chuyện “cường bạo áp đảo cả chí nhân!”

Huy Phương

https://www.facebook.com/profile.php?id=100007178779184

Hình: Trại “cải tạo” của CSVN sau năm 1975

Ôi Việt Nam-Đất nước-Con người

Linh Cao

Minh Tran

Chọn bất kì một tấm hình người VN nào đó rồi đem để kế bên một tấm hình một người nước ngoài, dù Châu Âu, Châu Mỹ hay Châu Phi sẽ thấy rõ sự khác biệt. Ngoài các yếu tố về màu da, chủng tộc thì sắc mặt là thứ dễ nhận ra nhất. Nhìn vào gương mặt một người VN không thể nào có nét vô tư, tươi tắn, hồn nhiên và thoải mái như người nước ngoài được. Những lo âu, toan tính, sợ hãi, dè chừng, mưu mô hằn lên sắc mặt của mỗi người.

Người ta nói tâm sinh tướng. Quả thật vậy! Tâm không bình mặt sao an. Nếu trong đầu óc anh toàn tính toán và lo âu, căng thẳng thì những điều ấy nó hiện ra nét mặt. Nhìn sắc mặt của một người VN là cả một xã hội bộn bề, lọc lừa, dối trá, bịp bợm, mưu mô hiện trên đó. Mỗi một nếp nhăn là một bài học mà người sở hữu nó, dù muốn dù không, gặt hái từ cuộc sống.

Không một xã hội nào mà người ta phải đắn đo, suy tính từ cả những việc đơn giản, nhỏ nhặt như ăn cái gì, nói câu gì, chơi ở đâu cho an toàn. Một xã hội cứ hở ra là bịp nhau nên hễ mua cái gì cũng tự động lên giây cót cảnh giác không biết nó có bán cho mình hàng kém chất lượng không, nó có lừa mình không, nó có nhận tiền xong rồi dông không. Bước ra chợ cũng phải đắn đo cái gì có độc cái gì ít độc, rau nào phun thuốc, thịt nào có hàn the, cá nào có u-rê.

Bước chân đến chốn công quyền phải nhìn mặt cái đứa gọi là công bộc của dân để liệu lời mà nói chuyện. Nhắm cái mặt nó khó chịu quá thì lại phải nhét thêm tí vào phong bì. Chạy cái xe trên đường cũng phải ngó trước dòm sau. Dừng đèn đỏ mà sau lưng có container thì quẹo phải luôn còn giữ được cái mạng. Có va quệt với đứa nào cũng nín lặng mà đi, cự cãi có khi mất mạng. Dừng xe nghe điện thoại thì tấp vào lề, tay nào cầm điện thoại phải hướng vào phía trong phòng hờ nó giật từ phía ngoài. Đeo túi, đeo vàng, đeo cái gì có giá trị cũng nơm nớp, ngay ngáy. Vào quán ăn có dám vô tư đặt túi chỏng chơ trên bàn rồi đi vệ sinh không? Quên đồ khi ra khỏi quán đừng quay lại tìm làm gì cho mất công. Cứ xác định là mất rồi để đỡ mất thời gian.

Cả xã hội vội vã, cả đất nước vội vã, cả phố phường vội vã. Ai ai cũng vội vã. Vội đến mức đèn đỏ còn 5s đã phóng vút đi. Đứa đứng sau bóp kèn chửi đứa đứng trước sao không đi. Đứa đứng trước chửi mày thích sao không lên mà đi. Thế là đánh nhau. Đèn đỏ được phép quẹo phải. Cái góc đường vừa bằng cái góc phòng, đứa đứng trước dừng xe sát cột đèn, đứa sau muốn quẹo phải không được nên văng tục, đứa đứng trước ngứa tai thế là 2 đứa cùng vào bệnh viện. Hai xe va vào nhau, họ cũng không thể chờ CSGT hay bảo hiểm đến giải quyết mà họ dùng luôn nắm đấm và bạo lực cho nhanh. Tất cả là vì ai cũng vội. Họ không thể chờ dù là 1 phút đèn đỏ. Những cái vội vã ấy nó biến thành cái hằn học, hơn thua, nanh nọc, hằn lên sắc mặt của những người không thích chậm.

Ba đi làm, con đòi theo. Nếu không vội thì có thể ngồi xuống dỗ dành, vuốt ve, phân tích để con hiểu. Nhưng điều ấy sẽ mất của ba 30’ hay thậm chí cả tiếng nên ba gạt con vào phòng lấy cho ba cái nón. Con quay ra ba đi mất. Cái sự lừa dối ấy nó hình thành trong lòng đứa trẻ sự cảnh giác và nghi ngờ. Lần sau cha mẹ nói bất cứ điều gì nó cũng không tin. Con đi mẫu giáo mà ị để cô phải rửa đít là cô cho ăn đòn. Con tự hiểu là phải nín cho đến khi về nhà. Con ăn chậm là cô đánh nên con phải ra sức nhét, nhét không kịp nhai, không kịp nuốt. Mẹ đón con, trước mặt cô con đâu dám nói con bị bạo hành. Về nhà con cũng không dám kể mẹ nghe vì trước đó cô đã dọa kể là cô đánh thêm. Ngay từ những năm đầu đời mà một đứa trẻ đã phải toan tính, dè chừng, lo sợ thì trên gương mặt nó có những nét ưu tư thì cũng đâu có gì lạ.

Rồi nó đi học, nó luôn phải làm hài lòng cha mẹ bằng điểm số, làm vui lòng thầy cô bằng những hộp quà, những cái phong bì do bố mẹ chuẩn bị. Và nó thừa biết những hành động đó không hề xuất phát từ lòng kính trọng, yêu thương, mà nó là một thủ tục để được yên thân. Tự trong lòng nó sẽ hình thành thói dối trá, xạo láo, nịnh bợ. Và tất nhiên Những thói quen này tạo thành tính cách. Những tính cách này lâu ngày lại thể hiện qua lời nói, hành động và nét mặt.

Hành trình sống của một con người ở VN là một chuỗi dài những toan tính. Khi vào đại học, nó lại phải tính xem có nên ngủ với ông thầy này để qua môn không (nếu là nữ), có nên đưa phong bì cho ông thầy nọ để tốt nghiệp không (nếu là nam). Rồi khi ra trường đi làm nó lại phải tính toán bỏ ra bao nhiêu để mua cái ghế ấy, mất bao lâu để gỡ vốn. Hằng ngày phải đối mặt với những dèm pha, dè bỉu của đồng nghiệp. Phải chơi với ai để kết bè. Phải theo phe nào để không bị hạ bệ. Tất tần tật những cái đó nó hằn hết lên gương mặt con người ta.

Về già cũng chưa hết lo. Già rồi hễ dính líu đến thủ tục hành chính mà phải đi lại cũng vất vả. Sang tên cho con thì không biết khi nào dâu/rể nó hất mình ra khỏi nhà. Nên già mà cũng đâu an thân. Cũng còn lắng lo, toan tính lắm chứ. Đau đầu cho đến lúc chết.

Không phải người nghèo mới mang những nét ấy trên khuôn mặt. Bọn giàu ở VN nhìn cũng rất khác các tỷ phú thế giới. Nếu nhìn vào gương mặt Ellon Musk người ta dễ nhận ra nét trí tuệ, đĩnh ngộ thì ngược lại gương mặt những đứa giàu ở VN chất chứa toàn nét xảo trá, điếm thúi và gian hùng vì đồng tiền mà chúng có được là từ mồ hôi, nước mắt, xương máu của nhân dân. Chữ tỷ phú mà chúng đạt được là từ những kế hoạch cướp nhà, cướp đất của dân, từ những kế hoạch dồn dân vào chỗ chết, từ những chữ kí khiến người dân chỉ biết kêu trời. Tất cả những nét khốn nạn, lọc lừa, bất nhân đó hầu hết đều dễ dàng tìm thấy trên gương mặt những đứa làm cha thiên hạ ở VN.

Chỉ khi nào mà vào quán không phải hỏi giá trước, để quên đồ quay lại vẫn còn, quẹt xe không bị ăn đấm, đi học không bị ăn đòn, đi du lịch không lo bị chặt chém, mua đồ không lo bị hớ, mua chung cư không lo bị lừa, đến cửa quyền không phải vác theo phong bì, vào bệnh viện không lo gửi gắm…thì mới mong gương mặt người Việt giãn ra được.

Từ fb Mai Thị Mùi

SỰ TRÁO TRỞ TỪ MỘT TẤM HÌNH

Báo Quyền Được Biết

Lấy một tấm hình trước 1975 ở Hà Nội

Rồi ghi chú đó là cảnh của Sài Gòn

Thế kỷ 21 mà vẫn còn gian dối

Vẫn còn tưởng mình là kẻ chiến thắng ban ơn

Thế kỷ 21 mà vẫn còn xảo trá

Cứ tưởng mình đi giải phóng địa cầu

Ai mà ngờ chính tấm hình láu cá

Đã tố cáo người và vật như nhau

Ai mà ngờ tấm hình biết nói

Phân biệt thế nào là Hòn Ngọc Viễn Đông

Dân Hòn Ngọc có ai xài nón cối

Chỉ có hòn… kia mới bị nhuốm phong trần!

18-4-2023

Bùi Chí Vinh
Nguồn FB. Hoa Mai Nguyen.

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Đỗ Nam Trung

Tác Giả: Tưởng Năng Tiến

Hôm 26/03/2023, FB Trịnh Nhung ái ngại cho hay: “Hiện tại chị Bong Tuyet vợ TNLT Đỗ Nam Trung đang gặp khó khăn trong việc tìm và thuê nhà. Kính mong cô bác thương tình, có căn nhà nào đang để trống thì cho chị ấy thuê lại với ạ. Để có chỗ còn sinh sống và các cháu được yên ổn học hành. Xin cám ơn mọi người!”

Qua ngày sau, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết (FB Bong Tuyet) mới cho biết sự việc rõ ràng hơn :

“Thời gian này tôi phải chuyển nhà với lý do đột xuất của bác chủ nhà lấy lại nhà. Trong khi đó tôi mới đóng 3 tháng tiền nhà kì mới không được bao lâu, thì đã phải nhận tin không vui này. Nhưng vì lý do không thể nào đừng, nên tôi cũng đồng ý trả nhà cho bác ấy.

Mấy mẹ con tôi cùng nhau tập trung đi tìm nhà, thì có tìm được 1 căn ngay gần nơi tôi đang ở cũ, đã chốt với chủ nhà đã nhận tiền đặt cọc để giữ chỗ chờ ngày bên kia họ bàn giao nhà, là tôi chuyển sang. Đến ngày gần chuyển sang, thì chủ nhà mới cọc lại báo không cho thuê nữa vì có việc đột xuất của gia đình, nên muốn gửi lại cọc. Đành chấp nhận, lại đi kiếm nhà gấp tiếp… Mấy ngày qua, tôi tiếp tục đi tìm nhà gấp thì có mấy bạn thanh niên đi sau theo dõi. Khiến tôi cảm thấy bất an, hoảng sợ, và cảm thấy mình đang bị nguy hiểm.”

Bà Bông Tuyết không phải là người đầu tiên (hay duy nhất) lâm vào hoàn cảnh khó khăn như thế. Hơn 10 năm trước, hôm 15 tháng 4 năm 2010, ông Phan Thanh Hải (bút danh Anhbasg) cũng ở vào tình huống oái oăm không khác:

“Mình cũng bị tất cả bốn lần như vậy, lần nào cũng nhận ra tình trạng xung đột tình cảm của chủ nhà … Rõ ràng là có áp lực của ‘một cái gì đó’ bắt người ta đòi hủy một hợp đồng ký chưa ráo mực, họ sẵn sàng trả lại tiền nhà tiền cọc cho mình, chỉ vì muốn được yên thân.”

Vài tháng sau, vào ngày 13 tháng 10, trên trang CLB Nha Bao Tu Do, lại có những lời phàn nàn tương tự của luật sư Lê Trần Luật:

“7h 30 sáng nay, vừa mở cửa, vợ chồng chủ nhà liền nói: ‘Mời anh Luật qua nhà, chúng tôi trao đổi chút việc’. Vợ chồng chủ nhà bắt đầu kể:’ Tối hôm qua làm việc với công an gần 12h30 mới cho về. Họ nói cho chúng tôi nghe về anh. Chúng tôi là người công giáo, giờ mới biết anh là luật sư của vụ Thái hà. Chị tôi là một Sơ trong nhà dòng có biết và nói anh là người tốt, không sao. Dù không nói ra nhưng theo chúng tôi hiểu là bên công an không muốn vợ chồng tôi cho anh thuê nhà…”

Nạn nhân kế tiếp là Paulo Thành và Trịnh Kim Tiến: “Tôi viết những dòng này trong thời gian ngắn ngủi còn lại trong ngôi nhà tôi vừa dọn tới ở chưa đầy 24 tiếng. Họ (công an) sách nhiễu chủ nhà với đủ các lý do để buộc vợ chồng tôi phải rời khỏi nơi ở trước đêm nay…”

Cái “lý do” thực sự khiến “họ” tìm mọi cách gây khó khăn cho Paulo Thành và Kim Tiến vì hai người “dám” mở cửa hàng No-U Shop, rồi kêu gọi tẩy chay hàng hóa độc hại của Trung Quốc. Phan Thanh Hải cũng can tội gần như vậy. Ông đã cùng bè bạn “xúc phạm đến tình hữu nghị đời đời bền vững với nước bạn Trung Hoa vỹ đại” qua vụ Beijing Olympics. Còn trường hợp Lê Trần Luật thì chỉ vì ông đã đứng về phía nạn nhân trong những vụ tranh chấp đất đai với chính quyền.

Thế “thường dân” Nguyễn Thị Ánh Tuyết thì sao?

Chả lẽ người phụ nữ này bị trả thù (hay trừng phạt) chỉ vì là hôn thê của ông Đỗ Nam Trung – người vừa bị kết án mười năm tù và bốn năm quản chế, vào hôm 24 tháng 3 năm 2022! Ngay sau phiên tòa này, bà Nguyễn Thị Ánh Tuyết đã nghẹn ngào phát biểu: “Bản thân tôi thì tôi nghĩ chúng nó quá kinh khủng, quá tàn độc, quá dã man. Không còn lời gì để tả về chúng nó nữa.”

Sự thực, “chúng” không chỉ “quá tàn độc” và “quá dã man” mà còn rất đểu cáng và vô cùng ti tiện nữa cơ. Giam giữ ở Nam Định không bao lâu thì Đỗ Nam Trung bị chuyển trại, cách Hà Nội gần 200 KM. Vể sự kiện này, RFA có đôi lời bình luận: “Việc các tù nhân bị kết tội với các bản án liên quan đến an ninh quốc gia bị chuyển tới giam giữ tại các cơ sở xa nhà đã thành thông lệ ở Việt Nam. Các tổ chức nhân quyền quốc tế gồm Ân xá Quốc tế và Theo dõi Nhân quyền đều cho rằng đây là một hình thức trừng phạt mà chính quyền đưa ra, nhằm cản trở việc người thân đi thăm nuôi các tù nhân.”

Đỗ Nam Trung đã làm chi mà bị “chính quyền” này oán hận đến thế?

Bản tin của báo Sài Gòn Nhỏ cho biết: “Anh Đỗ Nam Trung, 40 tuổi, được biết đến với vai trò là một nhà hoạt động xã hội, ông đã từng tham gia các phong trào như ‘đánh BOT’ bị cho là bẩn vì đặt không đúng vị trí hoặc thu phí quá hạn và phanh phui các vụ tham nhũng thông qua mạng xã hội. Trước đó, hồi Tháng 2, 2015, anh Trung từng bị xử 14 tháng tù giam do tham gia vào việc đưa tin về các vụ biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam.”

Đỗ Nam Trung, rõ ràng, đã phạm vào cả hai điều tối kỵ ở xứ sở này: đụng chạm đến thiên triều và quyền lực, cũng như quyền lợi, của những kẻ cầm quyền. Đây cũng là hai tử huyệt về tính chính danh, và sự bất lực của chế độ hiện hành trước nạn tham ô vô phương kềm chế.

Bởi thế, không chỉ riêng ông bị tù tội mà ngay cả vị hôn thê cũng bị trừng phạt – theo như lời của chính bà Bông Tuyết than thở vào hôm 27 tháng 3 vừa rồi: “Mấy ngày qua, tôi tiếp tục đi tìm nhà gấp thì có mấy bạn thanh niên đi sau theo dõi. Khiến tôi cảm thấy bất an, hoảng sợ, và cảm thấy mình đang bị nguy hiểm…”

Chỉ vì “đưa tin về các vụ biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Việt Nam” và “tham gia vào các phong trào chống BOT bẩn” mà ông Đỗ Nam Trung phải lãnh án 10 năm tù và 4 năm quản chế, và bà Bông Tuyết thì bị theo dõi từng bước khi đi tìm nhà thuê. Vậy mà nhà đương cuộc Hà Nội vẫn cổ võ mọi người là phải “sống và làm việc theo hiến pháp”, dù ai cũng biết rằng Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau … cương lĩnh của Đảng!”

Luật sư Vũ Đức Khanh mỉa mai: “Nếu thế thì đâu cần gọi là Hiến pháp; phải gọi là ‘Đảng pháp’ mới đúng!”

Nhà báo Từ Thức cay đắng: “Nước Việt sống dưới ách đô hộ của một nhóm mafia, tự phong cho mình toàn quyền sinh sát.”

Tôi thì tin rằng ngay cả những băng đảng Mafia cũng không hề có cái thứ luật lệ hay “cương lĩnh” khốn nạn và đốn mạt đến thế!

Nguồn: Báo Đàn Chim Việt

Một cựu bác sĩ cấp cứu ER tìm ra cách mới phục vụ cộng đồng sau khi nghỉ hưu

Theo Nhật báo Phố Wall

hình ảnh

Kể từ khi nghỉ hưu, cựu bác sĩ phòng cấp cứu Paula Glosserman dành thời gian xóa hình xăm cho các cựu thành viên băng đảng. Ảnh: Eric Berkowitz

Là một bác sĩ phòng cấp cứu, Paula Glosserman không có nhiều thời gian cho những việc khác trong nhiều năm qua. Cô nói: “Tôi yêu công việc của mình và không bao giờ nghi ngờ đó là một quyết định và chọn lựa đúng đắn. Mặc dù vậy, cô cảm thấy mệt mỏi với những ca làm việc qua đêm, cuối tuần và ngày lễ.

Cô ấy quyết định nghỉ hưu hoàn toàn sớm ở tuổi 58. Nó mang lại cho cô ấy một khoản “lương hưu hấp dẫn” trong khi cô ấy tiếp tục làm việc với lịch trình giảm bớt trong bảy năm tới.

Bây giờ Tiến sĩ Glosserman, 69 tuổi và sống ở Los Angeles, bận rộn hơn bao giờ hết, xóa hình xăm, làm bác sĩ trại hè và huấn luyện sinh viên trường y.

Năm 2000, cô gặp một người đã giúp phát triển chương trình xóa hình xăm như một phần của Homeboy Industries, một tổ chức phi lợi nhuận cung cấp hỗ trợ cho các cựu thành viên băng đảng và các thành viên bị gạt ra ngoài lề xã hội.

Cô ấy nói: “Tôi nghĩ đó là một cách tuyệt vời để có tác động rõ ràng đến cuộc sống của ai đó, điều đó thật ấn tượng và có sức lôi cuốn tôi. “ điều đó bày tỏ cho tôi thấy cái lợi ích ngay lập tức.”

Cô trở thành giám đốc y tế tình nguyện vào năm 2015.

Cô ấy nói: “Việc loại bỏ những hình xăm không mong muốn giúp một người có một khởi đầu mới trong cuộc sống của họ. “Nó tạo cơ hội để họ phát triển mà không bị kỳ thị, xấu hổ và hồi nhớ về dĩ vãng.”  Khi xóa chữ Vạn khỏi một khách hàng từng bị giam giữ vào năm 2019, Tiến sĩ Glosserman, người Do Thái, đã hỏi anh ta liệu anh ta có bạn Do Thái nào không. Thế là anh cựu tù nhân nói “Tôi xóa nó ngay bây giờ” . Cô ấy nói rằng cô ấy đã có nhiều trao đổi tích cực như vậy. “Mỗi ngày, điều đó làm cho tôi cảm thấy thật mãn nguyện.”

Cô ấy cũng đã dành nhiều thời gian hơn tại một trại hè trên đảo Catalina, bắt đầu tình nguyện phục vụ ở đó với tư cách là bác sĩ của trại vào năm 1995 trong một tuần vào mùa hè. Kể từ khi nghỉ hưu, cô ấy đã tăng con số đó lên ba tuần.

Summer Camp & Summer Camp-Out 2018 - Melbourne

“Đó là nơi hạnh phúc của tôi,” Tiến sĩ Glosserman nói về trại, nơi trẻ em tham gia đi bộ đường dài, bơi lội và các hoạt động khác. Cô nói: “Tôi chọn học y khoa  cấp cứu là chuyên khoa của mình, một phần vì tôi có thể làm việc trong bộ đồ ngủ (quần áo) của mình. Cô hài hước nói, “Làm việc trong bộ đồ tắm thậm chí còn tốt hơn.”

hình ảnh

Tiến sĩ Glosserman, sống ở Los Angeles, đang bận rộn hơn bao giờ hết khi bà đã nghỉ hưu. Ảnh: Eric Berkowitz

Mùa thu năm ngoái, cô bắt đầu công việc được trả lương với tư cách là huấn luyện viên hướng dẫn sinh viên tại Trường Y khoa Keck thuộc Đại học Nam California. Cô ấy có một nhóm sinh viên năm thứ nhất mà cô ấy đồng hành với họ trong suốt bốn năm ở trường y. Cô ấy coi điều này là đặc biệt quan trọng vì học sinh trường y phải đối mặt với những thách thức đáng kể về sức khỏe tâm thần trong những năm gần đây. Mục tiêu của cô ấy là “tìm ra các vấn đề và sau đó đưa ra các gợi ý để dẫn sinh viên tìm đến đúng người có thể giúp đỡ họ.”

Tiến sĩ Glosserman nói rằng những mục tiêu theo đuổi hiện tại của cô mang lại cho cô nhiều thỏa mãn về tinh thần. Cô ấy nói: “Một trong những thử thách lớn nhất của tôi vào thời điểm này trong cuộc đời là đầu hàng trước sự lão hóa. “Tôi vẫn cảm thấy mình có điều gì đó để đóng góp, và khi tôi không còn đóng góp được nữa là lúc (sự sống của) tôi dừng lại.”

Bạn có thể liên hệ với cô Halpert, một nhà văn ở Michigan và cho chúng tôi biết bạn đang bắt đầu lại (cuộc đời hưu trí) như thế nào, tại report@wsj.com .

Lời bàn: Thật tuyệt vời khi mình luôn có đóng góp hữu ích cho Đời ngay cả khi đời đã về chiều.

Bạn có thể viết bài về kiến thức hoặc về xây dựng cộng đồng rồi đăng ở các báo và các mạng giống như keditim.net này.  Nếu có thể, xin gởi bài cho chúng tôi ở địa chỉ rogerphung42@yahoo.com

Lạm phát của Anh Quốc cao nhất Âu Châu ở mức trên 10%

Theo hãng tin Reuters

LONDON, ngày 19 tháng 4 (Reuters) – Anh là quốc gia duy nhất ở Tây Âu có lạm phát hai con số trong tháng 3 sau khi lạm phát giảm thấp hơn dự kiến, dữ liệu chính thức cho thấy hôm thứ Tư, củng cố đặt cược rằng Ngân hàng Trung ương Anh sẽ tăng lãi suất một lần nữa vào tháng 5 .

Văn phòng Thống kê Quốc gia (ONS) cho biết, lạm phát giá tiêu dùng (CPI) giảm xuống mức 10,1% hàng năm, giảm từ mức 10,4% trong tháng 2 nhưng cao hơn nhiều so với dự báo 9,8% của các nhà kinh tế do Reuters thăm dò và 9,2% được dự đoán bởi BoE vào tháng Hai.

Lạm phát, đạt mức cao nhất trong 41 năm là 11,1% vào tháng 10, tiếp tục ăn mòn sức chi tiêu của những người lao động có mức lương đang tăng ít hơn.

Giá thực phẩm và đồ uống không cồn trong tháng 3 cao hơn 19,1% so với một năm trước đó – mức tăng lớn nhất kể từ tháng 8 năm 1977 – mà ONS cho biết phản ánh chi phí cao hơn đối với bánh quy và bánh ngọt, và ở mức độ thấp hơn là sô cô la và trái cây. Giá sữa và đường tăng khoảng 40% so với một năm trước.

Mua bán rau quả tại chợ New Covent Garden ở London

Tỷ lệ lạm phát chung của Anh hiện cao nhất ở Tây Âu và so với mức trung bình 6,9% ở khu vực đồng euro và 5,0% ở Hoa Kỳ. Áo ghi nhận tỷ lệ lạm phát cao hơn Anh trong tháng Hai.

Bài đọc nhấn mạnh những kỳ vọng rằng Anh sẽ phải chịu lạm phát cao trong thời gian dài hơn so với các quốc gia khác do nước này phụ thuộc vào khí đốt tự nhiên để sưởi ấm và điện, cũng như cơ cấu trợ cấp của chính phủ giúp làm dịu những thay đổi về giá.

Ngân hàng Anh cũng lo ngại rằng lạm phát cao có thể dẫn đến sự thay đổi lâu dài trong nhu cầu tiền lương và chiến lược định giá của các doanh nghiệp, trở nên trầm trọng hơn do lực lượng lao động giảm sau đại dịch cũng như các xung đột thương mại và thị trường lao động do Brexit gây ra.

Lạm phát cơ bản – loại bỏ giá năng lượng và lương thực dễ bay hơi – đã không giảm như mong đợi và thay vào đó giữ ở mức 6,2%, trong khi lạm phát dịch vụ – mà BoE coi là đại diện cho áp lực giá trong nước – giữ ở mức 6,6%.