Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

Bài viết đã đăng trên Danlambao vào tháng 4/2014 của Nguyễn Ngọc Già.

LỜI THÚ NHẬN CHÂN TÌNH CỦA NGƯỜI CÓ GIA ĐÌNH NẰM VÙNG CHO Việt Cộng

  • ” Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.
  • Tôi biết ơn Việt Nam Cộng Hòa

Nguyễn Ngọc Già (Danlambao) – Một số người trong nước cũng như người Việt hải ngoại cho rằng không nên vực dậy “xác chết” có tên Việt Nam Cộng Hòa.

Tuy nhiên, lịch sử là nguồn cội của bất kỳ dân tộc nào. Lịch sử là khoa học và tính Người được thể hiện cao nhất từ đó. Bất kỳ một giai tầng nào hay một bậc vua chúa hoặc một nhà độc tài nào đi nữa, cũng không thể nào trốn được lịch sử. Lịch sử là Con Người.

Lịch sử dù đau thương như VNCH đã để mất Hoàng Sa, hay đáng tủi hổ như công hàm 1958 của VNDCCH và hội nghị Thành Đô của CHXHCNVN cùng nhiều biến cố sự kiện quan trọng khác không thể không nhắc lại.

Nhắc lại để hiểu rõ hơn và để cho thế hệ con cháu hôm nay, ngày mai nghiền ngẫm, dọn mình cho một thời đại mới – đang bắt đầu ló dạng. Tôi không biết mình có mơ mộng hão huyền trong tình thế của nước CHXHCNVN hôm nay không, nhưng trong tâm hồn tôi, từ lâu, tôi muốn nói: Cám ơn Việt Nam Cộng Hòa – Nhà Nước mà ở đó, làm cho tôi “Trích Lục Bộ Khai Sanh” [*].

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG và TỔNG HỢP ở SÀIGÒN-CHỢ LỚN và GIA ĐỊNH ...

Sài Gòn – nơi tôi được sinh ra, lớn lên, chứng kiến một góc nhỏ nhoi những trầm luân của số phận dân tộc Việt Nam.

Dù VNCH tồn tại ngắn ngủi, nhưng tôi không sao quên được cuộc sống chan hòa nhân ái của tuổi hoa niên, dù ngay trong những ngày chiến tranh lửa khói.

Hôm nay, bỗng nhiên trong tôi bật ra lời thành tâm này. Tôi viết với nỗi xúc động rưng rưng trên khóe mắt, khi xem lại hình ảnh những tử sĩ đã ngã xuống tại Hoàng Sa – Trường Sa ngày xưa.

Hoàng Sa Paracel: Bia Chủ Quyền Đảo Song Tử Tây Thuộc Quần Đảo Trường ...

Thay mặt gia đình

Như đã viết rải rác trong nhiều bài trước đây, tôi sinh ra và lớn lên tại Sài Gòn, trong một gia đình trung lưu với việc làm ăn phát đạt, dần dẫn đến giàu có hơn.

Thật ra, sau này tôi mới biết ba tôi là “Việt Cộng nằm vùng”, do đó có thể nói, gia đình tôi là gia đình “ăn cơm quốc gia thờ ma cộng sản”. Cách đây vài chục năm, khi nghe câu này, tôi khá giận dữ và cảm thấy bị sỉ nhục. Cảm giác đó dễ hiểu bởi sự thật chưa được phơi bày như sau này.

Tuy nhiên, cũng nhờ đó mà tôi tự tìm tòi. Tôi nghĩ, không có cách gì thuyết phục nhất cho mỗi người, nếu như tự thân mình không chủ động tìm hiểu và can đảm nhìn thẳng vào Sự Thật. Nhìn một cách thẳng thắn, không hề né tránh là điều chưa bao giờ dễ dàng, cho bất kỳ ai, cho bất kỳ điều gì, không riêng lãnh vực chính trị.

Ít nhất, cho đến nay, tôi có thể nói, tôi đã nhìn thẳng vào Sự Thật mà tôi biết, tôi tin một cách có căn cứ.

Từ cảm giác giận dữ, dần dần tôi chuyển qua cảm giác nhục nhã. Nhục nhã vì sự vong ân bội nghĩa của gia đình mình đối với Quốc Gia mà từ đó gia đình tôi làm ăn khá giả một cách chân chính, còn bản thân tôi lớn lên từ đó.

Tôi không có ý định chạy tội cho ba tôi hay những người thân khác. Suy cho cùng, gia đình tôi vừa là đồng phạm, vừa là nạn nhân của cộng sản. Đó là sự thật. Ba tôi chưa bao giờ giết bất kỳ một ai.

Ba tôi đã chết dưới tay người cộng sản. Tôi có căm thù không? Có. Có muốn báo thù không? Đã từng.

Điều mỉa mai, ba tôi chết không phải vì người cộng sản trả oán hay trù dập mà cái chết của ba tôi đến từ sự “ân sủng” dành cho ông – một người chưa bao giờ cầm một đồng tiền bất chính nào, cũng như chưa bao giờ nhận bất kỳ sự “ban ơn” nào từ người cộng sản.

Một cái chết khá đặc biệt trong muôn vàn cái chết, do người cộng sản gây ra. Có thể đó là một niềm an ủi cho tôi. Cũng có thể đó là một ơn huệ của Ơn Trên, đã sắp đặt cho ba tôi một cái chết không hề nhơ nhuốc mà nhuốm màu thê lương trong một con người thơ ngây và chơn chất. Nhưng đó là câu chuyện quá vãng của gần 20 năm về trước, không phải những gì tôi muốn viết hôm nay.

Tôi có ba người chú ruột đều được “phong liệt sĩ”. Cả ba người đều chết thời Pháp. Bà nội tôi được “tặng” “bà mẹ Việt Nam anh hùng”. Tôi có hai người cậu ruột, trốn ngoại tôi để đi tập kết năm 1954. Hai người cậu ruột khác lại làm trong chế độ VNCH. Hai người cậu này đều có chức phận vào thời bấy giờ. Tôi có một người chị ruột làm trong nhà thương và “thân cộng” lúc đó.

Một người anh ruột là sĩ quan thuộc quân lực VNCH (nhưng thật ra là VC nằm vùng), một người anh ruột khác là hạ sĩ quan cũng thuộc quân lực VNCH (thuần túy là lính, không quan tâm và tham gia vào chính trị, cũng như không phải VC nằm vùng). Tôi có vài người anh, chị ruột nữa, họ là dạng “cách mạng 30/4”.

Một số bà con thân thuộc nội ngoại khác, người thì ở trong “khu”, người lại chống Cộng triệt để. Vài người khác, người thì là quân nhân, người nữa lại là công chức của VNCH v.v…

Hồi trước 1975, đa số gia đình đều đông con. Ít thì ba, bốn; nhiều thì chín, mười. Có gia đình lên đến mười hai – mười bốn người con, đều bình thường trong nếp sống lúc bấy giờ. Một đời sống sung túc, hầu hết gia đình khá giả, đều giống nhau suy nghĩ: nhiều con là phúc lộc Trời cho. Chế độ VNCH cũng không có việc “sinh đẻ có kế hoạch”. Mắn đẻ lại là điều tốt mà phụ nữ thời xưa luôn tự hào. Cuộc sống dung dị như thế. Không chỉ riêng những gia đình giàu có mà có thể nói hầu hết đều tương tự như vậy.

Dông dài như thế, để nói rằng giòng tộc nội ngoại của tôi khá phức tạp. Giá như…

Vâng, chính cái “giá như” nó đã làm hầu hết giòng tộc, anh chị em đại gia đình tôi “tan đàn xẻ nghé” từ dạo ấy. Dạo mà “rầm rập bước chân ta đi rung chuyển đường phố Sài Gòn” với ngày 30/4/1975 (!)

Một giòng tộc như thế mà nói đến “đoàn kết” (như CSVN đang kêu gọi) thì quả là… hài kịch.

Ba tôi và anh chị tôi đã từng đi tù dưới chế độ VNCH. Ba tôi ra tù sớm, chị tôi thì được tha bổng sau vài tuần tạm giam, vì không đủ chứng cớ kết tội. Riêng anh tôi nhận án “20 năm khổ sai” và bị đày đi Côn Đảo cho đến (tất nhiên) 1975.

Điều tôi cám ơn Nhà Nước Việt Nam Cộng Hòa thật giản dị:

– Ngày ba tôi ra tù, ông vẫn mạnh khỏe. Về đến nhà chỉ một tuần sau là ông có thể bắt tay trở lại công việc làm ăn.

– Suốt thời gian ba và anh chị tôi bị điều tra cho đến lúc kết án chính thức, gia đình tôi (những người không liên quan) không hề bị săn đuổi, bắt bớ vô pháp, hành hung, xách nhiễu v.v…

Má tôi đã gánh vác mọi việc làm ăn vào lúc đó. Chúng tôi vẫn đi học bình thường và sống trong môi trường không hề bị kỳ thị của bất kỳ thầy cô hay bạn bè nào. Hàng xóm láng giềng cũng không vì thế mà ghẻ lạnh, hắt hủi hay tiếp tay như kiểu bây giờ mà người ta gọi là “đấu tố thời đại mới”.

– Anh tôi – người ở tù Côn Đảo, ngày trở về đất liền vẫn mạnh khỏe, dù ốm o đen đúa, nhưng không hề mang thương tật gì cả.[**]

Quảng Ngãi: Mất đất, gia đình liệt sĩ kêu cứu suốt 11 năm! - Pháp Luật ...

Cá nhân tôi

Tôi cám ơn Việt Nam Cộng Hòa, không chỉ vì tôi được sống trong một xã hội – có thể chưa phải là tốt đẹp nhất – nhưng tốt đẹp hơn chế độ cộng sản 39 năm qua, mà tôi còn biết ơn vì tôi đã hấp thụ được nền giáo dục, có thể nói, cho đến nay 39 năm, dù VNCH không còn, dù CHXHCNVN cố gắng “cải cách” giáo dục nhiều lần rất tốn kém nhưng không hề mang lại chút tiến bộ nào khả dĩ.

Và nói cho công bằng, giáo dục hiện nay tính về chất lượng, vẫn không thể nào đạt được như trước 1975 của miền Nam.

Nền giáo dục trước 1975 mà tôi hấp thụ, dù ngắn ngủi, nó thật sự là nền giáo dục nhân bản và khai phóng. Trung thực và hiền lương. Ganh đua nhưng không đố kỵ. Biết phẫn nộ nhưng không tàn ác. Đặc biệt nền giáo dục đó giúp cho hầu hết học trò luôn biết dừng lại đúng lúc trước cái sai với nỗi xấu hổ và tính liêm sỉ – tựa như “hàng rào nhân cách” được kiểm soát kịp thời.

Những hình ảnh hiếm về nữ sinh Sài Gòn – Gia Long xưa đẹp mê hoặc lòng ...

Chính xác hơn, tôi cám ơn Thầy – Cô của tôi, có lẽ bây giờ hầu hết đã qua đời, nếu còn sống chắc cũng đã nghễnh ngãng hay quá già yếu.

Tôi biết ơn các Giáo sư [***]. Tôi muốn nói rõ: Tôi không hề có danh vị, bằng cấp gì cả.

teolangthang.blogspot.com: Nhìn lại nền Giáo dục VNCH - Huỳnh Minh Tú

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi, vì nhiều độc giả thương mến (có lẽ qua những bài viết), họ ngỡ tôi là: giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, nhà văn, nhà giáo v.v… nhưng tôi thưa thật, tôi chỉ là một người “tay ngang” trong viết lách. Qua từng bài viết, tôi rút ra kinh nghiệm. Đặc biệt, tôi luôn cố gắng viết cẩn trọng và khách quan nhất để thuyết phục độc giả. Tính cách này, tôi đã học từ Thầy – Cô tôi, ngày xưa. Dù môn Văn Chương ngày ấy, tôi luôn nhận điểm thấp tệ.

Tôi biết ơn Thầy – Cô của tôi cũng vì, sau 1975, cả nước rơi vào đói kém, làm cho “tính người” trong xã hội cũng mai một dần và tôi không là ngoại lệ. bao-cap-so-luong-thuctem - Guide Voyage AsieThảm trạng xã hội lúc đó biến tôi trở nên chai lỳ, mất cảm xúc và lạnh lùng. Đặc biệt “chữ nghĩa” hầu như trôi sạch hết cùng những “tem phiếu”, “xếp sổ mua gạo”, chầu chực “mua nhu yếu phẩm” v.v… ngày xưa.

Về sau này, khi cuộc sống đỡ hơn, tôi có thời gian hơn cùng với thời cuộc đảo điên, dần dần, tôi cảm nhận tôi “trầm mình” trong nỗi đau của bản thân, gia đình, từ đó tôi mới thấu hiểu những điều ngày xưa tôi học và tôi giật mình vì sự lãng quên đáng trách đó.

Tôi tìm lại được “tính Người” mà bấy lâu nay tôi đánh mất.

Một lần nữa, tôi cám ơn Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa và các Thầy – Cô của ngày xưa

( Lưu mạnh Hiệp )

Chú thích:
 
[*] Vì những năm loạn lạc, đặc biệt tết Mậu Thân, nhiều nơi cháy nhà và thất lạc giấy tờ. Sau khi tạm bình yên, má tôi đã ra Tòa Hành Chánh Quận 3 thời bấy giờ để làm “Trích Lục Bộ Khai Sanh” cho tôi.
 
[**] Tôi nhớ khoảng đến cả tháng sau (tức đâu khoảng cuối tháng 5/1975) anh tôi mới về tới SG, nhưng chưa được về nhà ngay mà ở đâu đó (lâu quá rồi tôi không còn nhớ địa điểm, hình như lúc đó ở tại một trường học nào đó thì phải?) đợi thẩm vấn điều tra từ “chính quyền cách mạng lâm thời” lúc bấy giờ, đâu hết cả hai tuần nữa mới được về nhà. Tôi nhớ lúc đó, tôi hỏi anh tôi rất ngây ngô: Ủa! Sao hơn cả tháng trời anh mới về nhà? Anh tôi cười và im lặng không nói. Mãi về sau, tôi mới lò mò tìm hiểu, thì ra, dù là “phe mình”, nhưng bản chất người cộng sản là “bản chất Tào Tháo”. Họ có tin ai bao giờ đâu! Họ giữ lại tất cả tù chính trị để điều tra xem thử có phải là gián điệp (các loại) được cài lại hay không (để tính chuyện lâu dài).
 
[***] Trước 1975, từ đệ thất (nghĩa là lớp 6 bây giờ), Thầy – Cô được gọi là Giáo Sư – một cách gọi trân trọng, không phải học hàm như bây giờ nhiều người biết.

DÂN CHỦ HÓA LÀ ĐIỀU BẮT BUỘC

Báo Quyền Được Biết

Song Chi.

Song Chi Facebook

Trước năm 1975, có rất nhiều trí thức, văn nghệ sĩ, thầy tu, linh mục… sống trong chế độ VNCH nhưng thân Cộng, mê chủ nghĩa Mác, mê lý tưởng của chủ nghĩa cộng sản, lầm tưởng rằng chế độ do đảng cộng sản lãnh đạo là tốt đẹp hơn.

‘Ký giả ăn mày’(*) — Tiếng Việt

Sự chiến thắng của đảng cộng sản, của một chế độ man rợ hơn, vào ngày 30/4/1975 là nỗi bất hạnh lớn nhất của đất nước, dân tộc VN. Nhưng nghĩ cho cùng trong cái rủi có cái may. Đó là: chỉ những dân tộc nào từng trải qua chế độ độc tài do đảng cộng sản lãnh đạo, khi có cơ hội thay đổi mô hình thể chế chính trị theo con đường dân chủ hóa mới không còn bị lừa bịp nữa và dứt khoát với con đường cũ, như các nước XHCN Đông Âu cũ chẳng hạn.

Riêng nước Nga vì còn vướng Putin, vốn sinh ra và lớn lên trong thời Liên Xô, là một tay tình báo KGB cũ, nhưng lại mê quyền lực nên mới mơ màng muốn quay trở lại thời kỳ của nước Đại Nga hay Liên Xô cũ. Cũng có thể có những người Nga không hài lòng vì cảm thấy nước Nga bây giờ không phải là một cường quốc có tiếng nói quyết định trên trường quốc tế như Liên Xô trước kia, nhưng nếu tất cả những quốc gia từng là đế quốc, từng có nhiều thuộc địa trên thế giới hay từng hùng mạnh trong quá khứ, đánh đâu thắng đó mà vẫn giữ những suy nghĩ tiếc nuối, hung hăng như vậy thì thế giới này làm sao yên ổn?

Trở lại Việt Nam, giờ đây sau gần nửa thế kỷ, chúng ta có thể nói VNCH không phải là quá khứ mà là tương lai. Chúng ta tiếp tục nói về VNCH nhưng không hẳn là về chế độ VNCH đã không còn tồn tại, mà là mô hình thể chế cộng hòa tam quyền phân lập, pháp trị, tự do dân chủ mà đất nước VN sẽ phải hướng tới trong tương lai gần, bởi vì cho đến nay đó vẫn là mô hình tốt nhất của nhân loại. Mô hình thể chế độc tài độc đảng tước đoạt mọi quyền tự do của con người, chà đạp lên nhân phẩm, kìm hãm sức sáng tạo của con người trong khi biến đất nước, nhân dân thành tài sản riêng, quyền sở hữu riêng của một đảng, thậm chí của một nhóm người, để cho cái đảng đó, cái nhóm người đó ngồi trên đầu trên cổ nhân dân, tha hồ vơ vét tham nhũng, tha hồ muốn làm gì thì làm…mô hình thể chế đó dứt khoát không thể tiếp tục tồn tại.

Dân chủ hóa là con đường bắt buộc phải đến. Dù mau hay chậm. Và đến chừng đó, những di sản của chế độ VNCH như kinh nghiệm kiến quốc, Hiến pháp 1967, một nền giáo dục với triết lý Nhân bản – Dân tộc – Khai phóng, một môi trường tự do cho sáng tác, sáng tạo… sẽ là những kinh nghiệm quý để chúng ta không đến nỗi phải bắt đầu từ số 0.

* Tựa bài do QĐB đặt.

Vận động ngoại giao cuối cùng trước ngày 30-04-1975

Báo Đàn Chim Việt

Tác Giả:  Trần Gia Phụng

Bản đồ từ Google (Internet)

Trong cuộc chiến 1954-1975 giữa Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ở Bắc Việt Nam và Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam, khi tình hình càng ngày càng căng thẳng và bất lợi cho Nam Việt Nam, thì Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa, một nước cộng sản, mở cuộc vận động ngoại giao nhằm tránh sự sụp đổ của Nam Việt Nam.  Đây là một diễn biến khá bất thường, nên để tìm hiểu việc nầy, xin quay trở lại chủ trương ngoại giao của CHND Trung Hoa từ năm 1954 về vấn đề Đông Dương.

Nguyên sau hiệp định Genève ngày 20-7-1954 chia hai Việt Nam ở vĩ tuyến 17, nhà cầm quyền CHND Trung Hoa chẳng những bang giao với nhà cầm quyền cộng sản ở Bắc Việt Nam, mà còn đề nghị bang giao với chế độ tương lai thân tây phương ở Nam Việt Nam.  Tuy nhiên Nam Việt Nam đã từ chối. (Stanley Karnov, Vietnam A History, New York: The Viking Press, 1983, tr. 204.  Nguyễn Văn Duệ, Nhớ lại những ngày ở cạnh tổng thống Ngô Đình Diệm, California, 2003, tt. 33-34.)

Sự kiện nầy cho thấy tuy Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa (CHND Trung Hoa) theo chủ nghĩa cộng sản, nhưng chủ trương mở rộng ngoại giao với tất cả các nước trên thế giới, không phân biệt học thuyết hay chủ nghĩa chính trị, dù cộng sản hay tư bản, miễn sao có lợi cho CHND Trung Hoa.

Ngày 8-3-1965, ở Nam Việt Nam, thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ vào Đà Nẵng để giúp quân đội Nam Việt Nam chống quân đội cộng sản từ bắc vào nam.

Hai tháng sau (5-1965) CHND Trung Hoa bắt đầu gởi quân qua giúp Bắc Việt Nam, nói rằng để giúp Bắc Việt Nam xây dựng hạ tầng cơ sở, đường sá, thiết lộ, cầu cống. Số quân nầy tăng dần lên tối đa trên 310,000 quân.  Quân đội CHND Trung Hoa chẳng những chỉ giúp Bắc Việt Nam, mà còn để bảo vệ mặt nam CHND Trung Hoa.  Lực lượng CHND Trung Hoa đóng rãi rác khắp các tỉnh thành ở phía bắc sông Hồng.

Nguồn ảnh: The Blade, Toledo, Ohio: Thứ Ba 16-5-1989. (Trích lại từ DCVOnline.net, ngày 13-8-2012.)

Trong nội bộ khối cộng sản quốc tế, sau khi Stalin chết năm 1953, hai bên CHND Trung Hoa và Liên Xô bắt đầu tranh chấp nhau, rồi sau đó vào tháng 3-1969, quân đội hai nước thực sự đánh nhau tại vùng sông Ussuri (Ô Tô Lý), một phụ lưu của sông Amur, ở biên giới phía đông bắc Trung Hoa, nên hai bên càng thêm đố kỵ nhau.

Vị trí đóng quân của quân đội CHND Trung Hoa ở Bắc Việt Nam
Chú thích: PLA = People Liberation
Army = Nhân Dân Giải Phóng Quân.
Nguồn: Xiaobing Li, A History of the Modern Chinese Army,
The University Press of Kentucky, 2007, tr.2

Trong khi tranh chấp với CHND Trung Hoa, Liên Xô tăng viện mạnh mẽ cho Bắc Việt Nam vừa để Bắc Việt Nam cầm chân Hoa Kỳ tại Á Châu, vừa để lôi cuốn Bắc Việt Nam về phía Liên Xô trong khối cộng sản quốc tế.

Điều nầy khiến cho CHND Trung Hoa quan ngại rằng một khi Bắc Việt Nam chiến thắng Nam Việt Nam, làm chủ toàn bộ Việt Nam, thì đảng cộng sản Việt Nam sẽ rảnh tay phía nam, có thể liên kết với Liên Xô chống CHND Trung Hoa.

Trong trường hợp Bắc Việt Nam thành công ở Việt Nam, CHND Trung Hoa có thể sẽ lâm vào thế hai đầu gặp địch: Liên Xô ở phía bắc, cộng sản Việt Nam ở phía nam.  Vì vậy CHND Trung Hoa ra sức vận động nhằm giữ cho Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam khỏi sụp đổ, để cầm chân Bắc Việt Nam.  Đồng thời CHND Trung Hoa bắt đầu thay đổi thái độ đối với Hoa Kỳ. (George J. Veith, sđd. tt. 555-556.)

Về phía Hoa Kỳ, vào cuối thập niên 60, học thuyết địa lý chính trị (geopolitics) mới thịnh hành, cho rằng Bắc Việt Nam không nguy hiểm đối với Hoa Kỳ bằng Liên Xô và CHND Trung Hoa, là hai nước cộng sản thủ đắc võ khí nguyên tử, có thể bất ngờ tấn công hủy diệt Hoa Kỳ.  Học thuyết nầy khuyến khích Hoa Kỳ hòa hoãn với Liên Xô và CHND Trung Hoa, đồng thời rút quân ra khỏi Nam Việt Nam để tránh khiêu khích CHND Trung Hoa.

Thêm vào đó, lúc bấy giờ lại diễn ra những cuộc biểu tình phản chiến, chống chiến tranh Việt Nam rầm rộ khắp thế giới và tại nội địa Hoa Kỳ.  Sự kiện nầy ảnh hưởng đến cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ vào đầu tháng 11-1968.  Trong cuộc bầu cử năm nầy, dân chúng Hoa Kỳ chọn Richard Nixon làm tổng thống.  Khi tranh cử, Nixon hứa hẹn với dân chúng sẽ đem lại “hòa bình trong danh dự” cho Hoa Kỳ.

Như thế, trước đây tuy đối địch nhau, nhưng nay Hoa Kỳ và CHND Trung Hoa đều có nhu cầu xích lại gần nhau.  Dấu hiệu thân thiện công khai đầu tiên của cả hai bên là: CHND Trung Hoa mời đoàn tuyển thủ bóng bàn Hoa Kỳ sang thi đấu giao hữu tại Bắc Kinh ngày 14-4-1971; và cũng trong ngày nầy, Hoa Kỳ quyết định bãi bỏ lệnh cấm vận CHND Trung Hoa, mà Hoa Kỳ đã thiết lập từ năm 1949.

Cũng trong năm 1971, trong một cuộc tiếp tân tại tòa đại sứ Miến Điện ở Paris, đại diện của thủ tướng CHND Trung Hoa gặp gỡ và đàm đạo với tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong, một thành viên trong phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa đang tham dự hội nghị Paris.  Ông Phong đã từng cầm đầu phái đoàn Việt Nam Cộng Hòa trong cuộc họp tại Paris ngày 18-1-1969 giữa bốn bên Việt Nam Cộng Hòa, Hoa Kỳ, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam Việt Nam, để bàn về thủ tục hội nghị Paris sắp bắt đầu.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong không công bố nội dung cuộc gặp gỡ với đại diện của CHND Trung Hoa.  Về sau, ông cho biết sơ lược rằng đại diện của CHND Trung Hoa tỏ ý tìm cách liên lạc với tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng tổng thống Thiệu không trả lời. (George J. Veith: “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022: History and Public Policy Program.)

Vào đầu năm 1972, khi gặp Alexander Haig (lúc đó là Deputy National Security Advisor của tổng thống Hoa Kỳ) đến Bắc Kinh để bàn thảo chương trình thăm viếng CHND Trung Hoa của tổng thống Richard Nixon, thủ tướng CHND Trung Hoa là Châu Ân Lai đã dặn dò Haig rằng: “Do not lose in Vietnam.” (“Đừng để thua ở Việt Nam.”)  Theo Haig, CHND Trung Hoa quan ngại rằng Hoa Kỳ rút lui khỏi Đông Nam Á là điều nguy hiểm cho CHND Trung Hoa. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Ngoài ra, cựu phó tổng thống Việt Nam Cộng Hòa là Nguyễn Cao Kỳ (nhiệm kỳ 1967-1971), còn cho biết rằng CHND Trung Hoa đã cử đại diện tiếp xúc với ông tại Sài Gòn vào cuối năm 1972, đề nghị ông Kỳ đảo chánh lật đổ tổng thống Thiệu, rồi tuyên bố Nam Viêt Nam trung lập, không theo Hoa Kỳ, cũng không theo Liên Xô, thì CHND Trung Hoa sẽ ủng hộ ông Kỳ giữ cho Việt Nam Cộng Hòa khỏi sụp đổ. Tuy nhiên ông Kỳ đã từ chối đề nghị nầy. (George J. Veith, sđd. tr. 557.).

Sau trận Hoàng Sa ngày 19-1-1974, khi trả tù binh Việt Nam Cộng Hòa về nước, CHND Trung Hoa đề nghị với Việt Nam Cộng Hòa mở một cuộc họp giữa hai bên.  Việt Nam Cộng Hòa không trả lời.  Vào mùa hè năm đó (1974), CHND Trung Hoa nhờ người nói chuyện lần nữa với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, nhưng người nầy lại trình bày với đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn là Graham Martin, và đại sứ Martin cũng im lặng luôn. (George J. Veith, sđd. tr. 557.)

Tất cả những sự kiện trên đây cho thấy ngay từ trước hiệp định Paris (27-01-1973) và trước khi CHND Trung Hoa rút hết quân ra khỏi Bắc Việt Nam (1973), CHND Trung Hoa muốn duy trì nguyên trạng miền Nam Việt Nam, không để Việt Nam Cộng Hòa sụp đổ.

Xin đừng quên lúc đó người Việt gốc Hoa chẳng những tập trung khá đông ở Chợ Lớn (Sài Gòn), Biên Hòa, mà còn sống rãi rác tại các thành phố dọc duyên hải Nam Việt Nam và các thành phố miền tây nam Việt Nam, qua tận Cambodia, hoạt động thương mại rất nhộn nhịp.

Bên cạnh những vận động của CHND Trung Hoa, một người Pháp cũng góp sức nhằm duy trì Nam Việt Nam tránh sụp đổ năm 1975 là Paul Vanuxem.

Paul Vanuxem đã từng tham chiến ở Việt Nam trước năm 1954 khi còn cấp bậc đại tá.  Về Pháp, ông thăng dần lên cấp trung tướng, rồi xuất ngũ vào giữa thập niên 60 và hoạt động trong ngành báo chí.  Tháng 4-1975, Paul Vanuxem đến Nam Việt Nam với tư cách là đặc phái viên của tuần báo Carrefour.

Sáng ngày 30-4-1975, Paul Vanuxem đến dinh Độc Lập, gặp cựu đại tướng Dương Văn Minh, vừa nhận chức tổng thống chiều ngày 28-4-1975.  Hai bên có thể đã từng quen biết nhau từ thời còn là sĩ quan trong quân đội Liên Hiệp Pháp trước 1954.  Trong lúc Paul Vanuxem và Dương Văn Minh đàm luận, có ba người chứng kiến là Nguyễn Hữu Hạnh, Nguyễn Võ Diệp và Lý Quý Chung.

Nguyễn Hữu Hạnh nguyên là chuẩn tướng quân lực Việt Nam Cộng Hòa, giải ngũ tháng 4-1974, được tân tổng thống Dương Văn Minh giao chức phó tổng tham mưu trưởng quân đội. Sau ngày 30-4-1975, người ta mới biết Nguyễn Hữu Hạnh là kẻ “nằm vùng”, bí mật hợp tác với cộng sản khi còn tại ngũ.  Trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình PBS (Hoa Kỳ) năm 1981, Nguyễn Hữu Hạnh tiết lộ chi tiết cuộc gặp gỡ trên đây giữa hai cựu tướng Pháp-Việt. (George J. Veith, Drawn Swords in a Distant Land, New York: Encounter Books, 2021, tr. 559.)  (PBS = Public Broadcasting Service – Series Vietnam: A Television History.)

Nguyễn Võ Diệp đã từng giữ chức tổng trưởng bộ thương mại và kinh tế chính phủ Nguyễn Bá Cẩn ngày 14-4-1975, tức chính phủ cuối cùng thời tổng thống Nguyễn Văn Thiệu.

Lý Quý Chung là dân biểu nền Đệ Nhị Cộng Hòa, được cựu đại tướng Dương Văn Minh mời làm tổng trưởng thông tin.  Lý Quý Chung cho biết:  Trong cuộc nói chuyện tại dinh Độc Lập ngày 30-4-1975, khi Paul Vanuxem đưa ra đề nghị với cưu đại tướng Dương Văn Minh hãy kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ để cứu vãn tình hình, thì cựu đại tướng Minh cười lớn và trả lời Vanuxem rằng: “…Tôi xin cảm ơn các ý định tốt đẹp của ông, nhưng trong đời tôi, tôi đã phục vụ như kẻ tay sai của Pháp, rồi kẻ tay sai của Mỹ.  Đủ rồi, tôi không muốn làm tay sai lần nữa...” (“… I thank you for your good intentions, but during my life I have already served as a lackey for the French and then as a lackey for the Americans.  That is enough, I do not want to be a lackey again…” (George J. Veith, sđd. tr. 560.)  [Lý Quý Chung sau năm 1975 là nhà báo Chánh Trinh, chuyên viết về thể thao.]

Chính phủ Pháp không lên tiếng về việc nầy vì nguyên tắc ngoại giao quốc tế là không can thiệp vào nội tình nước khác.  Trong khi đó, theo gia đình Paul Vanuxem, không thể có chuyện chính phủ Pháp giao cho ông việc liên lạc với cựu đại tướng Dương Văn Minh, vì Paul Vanuxem từng bị chính phủ Pháp khiển trách do ông đã liên hệ đến biến động ngày 21-4-1961 về vấn đề Algérie. Hơn nữa, vào năm 1975, chính phủ Pháp có sẵn tòa đại sứ tại Sài Gòn, thì chính phủ Pháp đâu cần đến Vanuxem. (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam: the Last Great Secret of the Vietnam War”. Internet: 9-2-2022.)

Ngang đây, một câu hỏi được đặt ra là nếu Paul Vanuxem tự mình đứng ra vận động, thì ông vận động để làm gì? Vận động cho ai?  Thêm nữa, trước khi đề nghị với cựu đại tướng Minh kêu gọi CHND Trung Hoa giúp đỡ, phải chăng Paul Vanuxem đã liên lac trước với các giới chức CHND Trung Hoa nên ông mới biết dự tính của nước nầy, hay Vanuxem chỉ tiên đoán ý định của CHND Trung Hoa?  Vẫn chưa có câu trả lời.

Lúc đó, Pháp còn nhiều quyền lợi ở Nam Việt Nam, nhứt là việc giao thương và các đồn điền Pháp ở Nam Việt Nam. Việt Nam còn được Pháp sắp vào nhóm “francophonie” (cộng đồng Pháp ngữ).

Vào năm 1975, sau khi quân đội Bắc Việt Nam chiếm quân khu I ngày 29-3-1975, chiếm quân khu II ngày 18-4-1975, và tiến xuống phía nam, đe dọa Sài Gòn, thì đại sứ Pháp là Jean Marie Mérillon cố gắng thuyết phục đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin áp lực tổng thống Thiệu từ chức. (Chính Đạo, 55 ngày đêm: Cuộc sụp đổ của VNCH, Houston, Nxb. Văn Hóa, 1999, tt. 309-312.)

Lúc đó tại Sài Gòn lan truyền những tin đồn rằng cộng sản sẵn sàng thương thuyết nếu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra đi, nhưng tin tình báo của Hoa Kỳ từ Tây Ninh ngày 8-4 cho biết Bắc Việt Nam quyết đánh sập Việt Nam Cộng Hòa dầu tổng thống Thiệu từ chức. (Thomas L. Ahern Jr., CIA and the Generals,1998, Center for the Study of Intelligence, tr. 175.)

Cuối cùng, do tình hình biến chuyển mau lẹ, Graham Martin gởi điện văn tối mật ngày 17-4 về Washington DC, xin chính phủ Hoa Kỳ cho ông thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.  Ông được ngoại trưởng lúc đó là Henry Kissinger đồng ý. (Nguyễn Tiến Hưng và Jerrold L. Schecter, Hồ sơ mật dinh Độc Lập, Los Angeles: C&K Promotions, INC. 1987, tt. 554-556.)

Tối thứ Bảy 19-4-1975, Graham Martin cử Charles Timmes, một nhân viên CIA (Central Intelligence Agency) trong phái bộ DAO (Decentralized Autonomous Organization) đến thuyết phục tổng thống Thiệu từ chức.

Hôm sau, 20-4-1975, đích thân đại sứ Martin đến gặp tổng thống Thiệu.  Đại sứ Hoa Kỳ nói với tổng thống Thiệu rằng ông không yêu cầu tổng thống từ chức, nhưng chỉ còn một ít thời gian để tránh việc cộng sản tấn công Sài Gòn, nếu tổng thống không từ chức thì các tướng lãnh sẽ có thể yêu cầu điều đó. (Thomas L. Ahern, Jr., sđd. tr. 189.)

Cuối cùng, tối 21-4-1975, tại phủ tổng thống (dinh Độc Lập), tổng thống Nguyễn Văn Thiệu loan báo quyết định từ chức và theo hiến định, giao quyền cho phó tổng thống Trần Văn Hương.

Trước khi nhận chức, giáo sư Trần Văn Hương mời cựu đại tướng Dương Văn Minh cộng tác và làm thủ tướng chính phủ, nhưng cựu đại tướng Minh từ chối và nói rằng: “Thầy [chỉ ông Hương] đã hy sinh đến mức này, thôi xin thầy ráng hy sinh một bước nữa mà thầy trao trọn quyền cho tôi.” (Nguyên văn lời trong diễn văn nhận chức của tổng thống Trần Văn Hương.) (Internet).

Giáo sư Trần Văn Hương cho rằng làm như thế là trái với hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa, nên ông không đồng ý đề nghị của cựu đại tướng Minh.

Sau khi ông Hương nhận chức ngày 21-4-1975, CHND Trung Hoa cử đại diện đến gặp và đề nghị tiếp viện cho Việt Nam Cộng Hòa, nhưng ông Hương từ chối.  Ông nói với giới thân cận: “Cho Trung Cộng vào, chiến cuộc tiếp diễn trên lãnh thổ ta, ngay cả nếu chiến thắng thì khi nào mới đuổi Trung Cộng ra được…” (Đoàn Kim Định ghi lại trong “Lời tâm sự thay cho lời tựa” thi tập Bó Hoa Cuối Mùa của Trần Văn Hương, tái bản tại Hoa Kỳ, 2023, trang X.)

Tân tổng thống Hương mời gặp một người bạn cũ để tham khảo ý kiến là tiến sĩ Nguyễn Xuân Phong.  (Đã viết về hoạt động của ông Phong ở trên.).  Khi gặp nhau, tiến sĩ Phong nói với tổng thống Hương rằng nếu ông Hương còn cầm quyền, thì chắc chắn Bắc Việt Nam sẽ không thương thuyết với Nam Việt Nam.  (George J. Veith, “China and the Fall of South Vietnam…” Internet: 9-2-2022.)

Sau cuộc gặp gỡ nầy, tổng thống Hương quyết định từ chức chiều 28-4-1975 và giao cho quốc hội tùy nghi quyết định người thay thế.  Tuy không được hiến pháp quy định, nhưng do thời cuộc đột biến cấp bách, cuối cùng quốc hội suy cử cựu đại tướng Dương Văn Minh lên thay.

Lúc đó, Pháp đề nghị thêm rằng cựu đại tướng Minh nên liên lạc với Cộng Hòa Lâm Thời Miền Nam Việt Nam để thành lập một chính phủ liên hiệp do cựu đại tướng Minh đứng đầu để thương thuyết với Bắc Việt Nam, nhưng cựu đại tướng Minh không theo kế sách nầy. (George J. Veith, bài đã dẫn: “China and the Fall of South Vietnam…”),

Vì quá cấp bách, không vận động đủ nhân sự, nên khi nhận chức chiều 28-4-1975, chính phủ của tân tổng thống Dương Văn Minh chỉ gồm bốn thành viên là Dương Văn Minh (tổng thống), Nguyễn Văn Huyền (phó tổng thống), Vũ Văn Mẫu (thủ tướng), Lý Quý Chung (tổng trưởng thông tin).

Hôm sau bổ sung thêm các ông Hồ Văn Minh (phó thủ tướng), Bùi Tường Huân (tổng trưởng quốc phòng), Nguyễn Võ Diệu (tổng trưởng kinh tế), trung tướng Vĩnh Lộc (tổng tham mưu trưởng quân đội), Nguyễn Hữu Hạnh (phó tổng tham mưu trưởng quân đội), Triệu Quốc Mạnh (giám đốc nha Cảnh sát Đô thành).  (Lý Quý Chung, Hồi ký không tên, Nxb. Trẻ, 2004, ch. 12.)

Điều đáng chú ý là tại Hà Nội, cuộc họp của bộ chính trị đảng Lao Động từ 30-9 đến 8-10-1974 đưa ra kế hoạch quân sự tại miền Nam năm 1975 là tiếp tục lấn đất giành dân, chỉ sử dụng 10% võ khí dự trữ; đến cuối năm 1976, khi diễn ra cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ thì sẽ tổng tấn công để chiếm toàn bộ Nam Việt Nam.  (Viện Nghiên Cứu Chủ Nghĩa Mác Lênin, Lịch sử đảng Cộng Sản Việt Nam, tập II (1954-1975), Nxb. Chính Trị Quốc Gia, 1995, tr. 648.)  Như thế có nghĩa là Bắc Việt Nam chưa dự tính đánh chiếm Nam Việt Nam trong năm 1975, nhưng do hoàn cảnh thuận lợi, Bắc Việt Nam mới thay đổi kế hoạch.

Nguyên vào lúc đó, tại Hoa Kỳ, quốc hội thông qua “tu chính án Jackson – Vanik”, sửa đổi điều 301 của “Đạo luật Thương mại năm 1974”, đưa ra những điều kiện khó khăn, nhằm hạn chế việc giao thương với các nước cộng sản, mà chính yếu là Liên Xô và CHND Trung Hoa, và được tổng thống Gerald Ford ban hành ngày 3-1-1975. (Wikipedia)

Để trả đũa Hoa Kỳ, Liên Xô gởi đại tướng Viktor Kulikov, thứ trưởng bộ Quốc phòng, đến Hà Nội ngày 22-12-1974, nói là để chào mừng lễ kỷ niệm 30 năm thành lập quân đội Bắc Việt Nam (1944-1974), nhưng thực tế là để nghiên cứu tình hình tại chỗ, tìm cách chống lại Hoa Kỳ.

Khi Viktor Kulikov về nước, Liên Xô tăng viện gấp bốn lần cho Bắc Việt Nam. (Henry Kissinger, Years of Renewal, New York: Simon & Schuster, 1999, tt. 27-28, 481.  Trần Đông Phong, Việt Nam Cộng Hòa, 10 ngày cuối cùng, Fountain Valley, CA: Nxb. Nam Việt, 2006, tt. 29-30.)   Nhờ số viện trợ lớn lao của Liên Xô, Bắc Việt Nam tung quân tấn công mạnh mẽ ở Nam Việt Nam từ đầu năm 1975.

Trong khi đó, quốc hội Hoa Kỳ cắt gỉảm tất cả những chi phí quân sự ở Đông Dương từ tháng 01-1973. (Richard Nixon, No more Vietnam, London: W.H.Allen, 1986, tt. 169-170.)  Viện trợ Hoa Kỳ giúp Việt Nam Cộng Hòa xuống đến độ chỉ đủ cung ứng một nửa nhu cầu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa. (Cao Văn Viên, Những ngày cuối cùng của Việt Nam Cộng Hòa (Nguyên bản: The final Collapse, Nguyễn Kỳ Phong dịch, Vietnambibliography, 2003, tr. 83-85.)  Quân đội Việt Nam Cộng Hòa thiếu phương tiện chiến đấu, nhứt là xăng dầu, đạn dược…, nên  cuối cùng đành phải buông súng.

Tóm lại, trước ngày 30-4-1975, hai nước CHND Trung Hoa và Pháp vì những quyền lợi riêng tư, đã mở những cuộc vận động ngoại giao quốc tế để tránh sự sụp đổ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa ở Nam Việt Nam. Tuy nhiên, những cố gắng của hai nước nầy đã quá trễ, nên cuối cùng đều thất bại.

Hy vọng trong tương lai sẽ còn có nhiều tài liệu khác dần dần được bạch hóa, để có thể làm sáng tỏ hơn nữa lịch sử hiện đại của đất nước chúng ta.

TRẦN GIA PHỤNG

(Đã trình bày tại Viện Việt Học, California, 26-3-2023)

(California, 26-3-2023)

CÂU CHUYỆN NGÀY 30 THÁNG 4: AI LÀ KẺ THÙ?

Xuyên Sơn

Sách Cổ Học Tinh Hoa có câu chuyện sau:

[Trích dẫn]

Tựa:

QUÝ LỜI NÓI PHẢI

Vua nước Tấn đi chơi thuyền.

Các quan đi hầu đông đủ cả.

Vua hỏi:

– Loan Doanh ta đã cấm cố một nơi,

con là Loan Phường trốn chạy ra ngoại quốc. Có ai biết Loan Phường bây giờ ở đâu không?

Các quan yên lặng, không ai nói gì cả.

Người lái thuyền tên là Thanh Quyên buông tay chèo đứng dậy thưa rằng: -Nhà vua hỏi Loan Phường làm gì?

Vua nói:

– Từ khi ta đánh được họ Loan đến nay, nghe họ Loan người già chưa chết hết, người trẻ đã lớn lên. Ta lo họ phục thù, cho nên ta mới hỏi.

Thanh Quyên:

– Nếu nhà vua khéo sửa sang chính sách nước Tấn, trong được lòng quan, ngoài được lòng dân, thì dù cho còn con họ nhà Loan mà làm gì được nhà vua. Nhưng nếu nhà vua không sửa sang chính sách nước Tấn, trong mất lòng quan, ngoài mất lòng dân thì ngay cả những người ngồi trong thuyền này ai cũng là con nhà họ Loan cả.

Vua khen:

– Ngươi nói phải lắm.

Rồi sáng hôm sau cho đòi Thanh Quyên đến, ban cho một vạn mẫu ruộng.

Thanh Quyên từ không nhận.

Vua nói:

– Lấy một vạn mẫu ruộng ấy đổi lấy một lời nói kia, kể ra nhà người còn thiệt mà quả nhân còn lợi nhiều, nhà ngươi cứ lấy.

Ấy người đời cổ quý lời nói phải như thế đấy.

[Hết trích dẫn]

Vua Tấn trong câu chuyện trên là

Tấn Bình Công thời Xuân Thu ở Trung Quốc.

Loan Doanh là bầy tôi của vua Tấn.

Vì bị gièm pha mưu hại nên ông ta chạy sang nước Tề.

Vua Tề muốn dùng Loan Doanh chống Tấn nên cấp quân cho họ Loan quay về đánh Tấn.

Loan Doanh đánh úp kinh thành Giáng Đô, khiến Tấn Bình Công phải bỏ chạy. Nhờ có Phạm Mang giúp,

quân Tấn sau đánh bại được Loan Doanh.

Cả họ Loan sau đó bị diệt tộc,

chỉ còn Loan Phường trốn thoát sang nước Tống.

Vua Tấn tuy diệt được cả họ Loan, nhưng vẫn còn Loan Phường sống sót nên thâm tâm ông ta vẫn lo sợ có ngày họ Loan báo thù, vì vậy mà có câu chuyện trên.

Chuyện xưa đã trên hai ngàn năm, tưởng chỉ kể cho vui, nhưng ai biết được rằng đời nay có câu chuyện giống như vậy đang xảy ra?

****

Năm xưa, quân Cộng Sản miền Bắc tiến chiếm miền Nam, cuộc chiến kết thúc ngày 30 tháng Tư 1975.

Sau khi chiến thắng,

Cộng Sản hứa sẽ “khoan hồng” cho tất cả người đã từng chiến đấu trong quân đội miền Nam hoặc làm việc cho chính quyền miền Nam, kêu gọi hòa giải dân tộc, cùng tái thiết đất nước.

* Nhưng những gì CS nói và CS làm khác xa nhau.

CS đã lùa hàng triệu quân cán chính của chế độ miền Nam cũ vào các trại gọi là để “học tập cải tạo”,

kỳ thực là các trại lao động khổ sai,

để cho họ chết lần mòn vì lao động quá sức, thiếu ăn, thiếu thuốc men.

Ai trốn trại bị xử bắn không thương tiếc.

Vợ con những người này cũng không được buông tha, họ bị ép đi các vùng gọi là “kinh tế mới”, là những nơi đất hoang chưa được khai thác.

Họ phải bỏ nhà cửa ở thành phố lên những vùng đất hoang đó,

được cấp lương thực chỉ đủ vài tháng, với nhiệm vụ khai khẩn đất đai.

Nhiều người sau khi hết lương thực phải mò về lại thành phố kiếm sống,

nhưng nhà cửa đã bị chính quyền CS chiếm, họ trở thành những kẻ vô gia cư, sống lây lất đầu đường xó chợ.

Ai may mắn còn giữ được nhà thì trở thành những công dân hạng hai trong chế độ mới. Họ bị liệt vào thành phần “ngụy”, không được nhận vào các cơ quan nhà nước, không được vào làm các công ty quốc doanh

(thời đó hầu hết các công ty đều là quốc doanh),

không được kết nạp vào Đảng CS hay Đoàn Thanh Niên CS,

thi vào đại học bị xếp cuối bảng thứ tự ưu tiên, phải được điểm thật cao thì may ra mới đậu.

Không sống được với CS, hàng triệu người đã bỏ nước ra đi bằng cách đào thoát trên những chiếc thuyền mong manh.

Hàng trăm ngàn người đã bỏ xác trên biển cả, vì bão tố, vì thiếu xăng dầu, vì thiếu lương thực, vì lạc hướng, vì hải tặc, và nhiều lý do khác nữa.

Có những người vượt biên bằng đường bộ qua Campuchia định đến Thái Lan thì gặp phải quân kháng chiến Cộng Sản Khmer Đỏ.

Vốn thù hận CS Việt Nam nên họ trút giận lên những người Việt nào rơi vào tay họ.

Họ hãm hiếp phụ nữ, giết chết nam giới, trấn lột, hoặc bắt cóc đòi tiền chuộc mạng.

CS đã gọi những người bỏ nước ra đi là “rác rưởi trôi dạt về bên kia bờ đại dương”.

Những người ở lại cũng không được yên. CS đã mở các chiến dịch gọi là

“đánh tư sản mại bản” nhằm vào những người có chút ít của cải.

CS lập ra những đội kiểm tra, bất cứ nhà nào có chút của cải là các đội kiểm tra ập vào kiểm kê. Họ xáo tung đồ đạc để tìm tiền, vàng bạc hoặc các đồ quý giá.

Nhà nào bị kiểm kê là coi như tan hoang, dù không giàu có, của cải vẫn bị tịch thu.

Không có luật lệ, quy định nào về việc kiểm kê này, đội kiểm kê muốn lấy gì thì tùy thích.

Thời đó, ai chống đối thì bị ghép vào tội “phản cách mạng” là coi như đi tù rục xương.

Tất cả những của cải thu được không ai biết nó đi đâu.

Trên danh nghĩa nó được thu về cho “chính quyền cách mạng”

để “xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa”, nhưng thực tế nó vào túi các cán bộ kiểm kê và những người lãnh đạo.

Năm 1979, Trung Quốc xua quân tràn qua biên giới phía bắc Việt Nam để “dạy cho Việt Nam một bài học” vì Việt Nam đã đưa quân sang xâm lăng Campuchia mấy tháng trước đó.

Cuộc chiến chỉ kéo dài gần một tháng và kẻ được học “bài học” không phải là Việt Nam mà là Trung Quốc.

Trong cuộc chiến này quân đội Trung Quốc đã bị tổn thất nặng nề về nhân mạng.

Sau khi quân Trung Quốc rút khỏi Việt Nam, chính quyền CS Việt Nam coi người Việt gốc Hoa là những đối tượng bị nghi ngờ.

Đa số người gốc Hoa đã sinh sống lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người sinh trưởng ở Việt Nam, chưa từng về Trung Quốc.

Có người không còn liên hệ gì với Trung Quốc, dù vẫn còn nói được tiếng Hoa. Nay họ bỗng trở thành đối tượng bị nghi kỵ.

Chính quyền CSVN đã ép họ phải hồi hương, tức là quay về lại Trung Quốc. Hàng trăm ngàn người Việt gốc Hoa đã phải bỏ nhà cửa, tài sản, cơ nghiệp xây dựng từ mấy đời, để đi qua biên giới Trung-Việt.

Trung Quốc thì lại không muốn nhận những người này, cho nên rốt cuộc họ bị kẹt ở biên giới (phía bên Trung Quốc).

Sự kiện này được gọi là “Nạn Kiều” hay “Hoa Kiều Hồi Hương”.

CSVN luôn đổ lỗi cho Trung Quốc xúi giục người gốc Hoa hồi hương,

sự thực là chính CSVN đã ép họ đi.

Gần nửa thế kỷ đã trôi qua, những người mà CS gọi là

“ngụy quân ngụy quyền” phần lớn đã qua đời, hoặc ra đi nước ngoài.

Những người còn sống thì đã già nua. Thế nhưng bất cứ ai trong lý lịch 3 đời còn dính tới “ngụy” là vẫn bị phân biệt đối xử.

Sách giáo khoa dạy cho trẻ em vẫn đầy những từ ngữ hằn học, cay cú về cái chế độ từ lâu đã không còn tồn tại, tựa như nó vẫn còn là mối đe dọa với chế độ CS vậy.

Nếu như sau gần 50 năm, CSVN xây dựng được một chế độ dân chủ, tiến bộ, xã hội công bằng, thì cho dù cái đám con cái “ngụy” còn đông đúc đi nữa, thì họ có làm được gì để xoay chuyển tình thế?

Nhưng rõ ràng là CSVN đã không làm được điều đó.

Họ không xây dựng được chế độ dân chủ, không đem lại công bằng cho xã hội.

Chính quyền đầy những quan chức tham nhũng, thối nát.

Xã hội đầy dẫy bất công, giàu nghèo cách biệt.

Công an, cảnh sát sách nhiễu dân. Nhà cửa, đất đai của dân bị cưỡng chế vô cớ, tòa án xét xử bất công. Đâu đâu cũng có dân oan.

Chính sự thối nát của chính quyền CSVN là điều kiện tốt để giúp cho bọn “ngụy”, bọn “ba que” ngóc đầu lên, vì khi dân chúng oán giận thì họ phải tìm ai đó đồng cảm với mình để ta thán, và những người đồng cảm đó không ai khác hơn là bọn “ngụy”.

Nếu như chính quyền CSVN mà tốt đẹp, trong sạch, thì những trang facebook, những kênh Youtube của bọn “phản động”, “ba que” trong và ngoài nước như Anh Chỉ Râu Đen, Trương Quốc Huy, Lisa Phạm, v.v… chẳng có mấy ai thèm đọc hay nghe, vì bọn họ đâu có chuyện gì để nói!

Năm 1861, nước Mỹ xảy ra nội chiến, liên bang miền Bắc và liên minh miền Nam đánh nhau vì bất đồng về chế độ nô lệ.

Miền Bắc muốn xóa bỏ chế độ nô lệ trong khi miền Nam muốn duy trì.

Vì kinh tế miền Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nên họ muốn có nô lệ người da đen để làm công việc đồng áng.

Kết quả miền Bắc chiến thắng vào năm 1865.

Sau khi chiến thắng, có hai khuynh hướng đối nghịch nhau trong chính quyền liên bang miền Bắc, một phe thì muốn trừng phạt miền Nam,

một phe chủ trương xóa bỏ hận thù, cùng chung tay tái thiết đất nước.

Cuối cùng phe xóa bỏ hận thù thắng thế.

Chính quyền liên bang đã chú tâm vào việc xóa bỏ chế độ nô lệ và tái thiết kinh tế miền Nam.

Không có trả thù, không có sự phân biệt đối xử với người miền Nam.

Chỉ sau vài thập niên, Hoa Kỳ là một quốc gia hoàn toàn thống nhất, không chỉ về địa lý, chính trị, mà thống nhất cả lòng người.

CSVN đã bỏ lỡ cơ hội thu phục nhân tâm, thống nhất lòng người sau năm 1975.

Nhưng họ có …. cả gần nửa thế kỷ để làm chuyện đó, mà có vẻ như họ không muốn làm.

Cái mà họ quan tâm là làm sao tận diệt được bọn “ngụy, ba que”,

không cho chúng ngóc đầu lên, làm sao để bảo vệ chế độ CS đến cùng.

Họ vẫn tiếp tục bóp méo lịch sử, nhồi nhét vô đầu thế hệ trẻ những lời tuyên truyền dối trá mà họ gọi đó là lịch sử.

Chả trách sao bây giờ các nhà giáo vẫn thường hay kêu ca là học sinh bây giờ dốt sử.

Viết sử, dạy sử không nhằm mục đích nâng cao kiến thức mà chỉ nhằm mục đích tuyên truyền nhồi sọ thì làm sao học sinh thích học được.

Trở lại chuyện nước Tấn. Sau đời vua Tấn Bỉnh Công, nước Tấn còn tồn tại thêm hơn 100 năm nữa.

Đến đời vua Tấn Tĩnh Công, ba gia tộc Hàn, Triệu, Ngụy vốn là bầy tôi của nhà Tấn, đã có âm mưu cướp nước từ lâu, truất phế vua Tấn.

Nước Tấn bị diệt vong, lãnh thổ bị chia thành ba nước Hàn, Triệu, Ngụy.

Rốt cuộc nước Tấn không bị con cháu họ Loan tiêu diệt như Tấn Bình Công lo sợ, mà bị chính những gia tộc được coi là “công thần” tiêu diệt.

Như người chèo thuyền Thanh Quyên đã nói:

nếu không sửa sang chính sự,

thì chính những người đang ở bên cạnh mình sẽ là kẻ thù tiêu diệt mình.

******

Ghi chú:

Sách “Cổ học tinh hoa” do hai học giả Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân biên soạn năm 1926.

Sách này gom góp những câu chuyện hay trong lịch sử và văn chương Trung Quốc với ý nghĩa răn đời.

Sách có thể được xem miễn phí trên mạng

(dùng Google tìm kiếm).

Blogger: Người Vá Trời

https://nguoivatroi.blogspot.com/

Thiếu tá Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy đã đánh và phá điều tra của X4 Bộ Công An sau 30-4 như thế nào

Thiên Nga thiếu tá điệp viên Nguyễn Thanh Thủy với lý tưởng Quốc Gia sáng ngời, bà cho ta thấy :

  1.  Không ai ra khỏi tù X4 của Bộ Công An mà không hoặc chết hoặc cộng tác với giặc.
  2.  Bà ra khỏi X4 vì phép lạ từ Chúa (giống như trường hợp trại Cổng Trời, Lý bá Sơ của đại úy Phan Nhật Nam, tù đày của trung tá Phạm quang Trình, …) và lý tưởng Quốc Gia VNCH.
  3. Ngày 28-4 Bà đốt hết khóa mật mã của các Thiên Nga dưới quyền chấp nhận thương đau tù đày và ngay cả cái chết nhờ đó khoảng 66 Thiên Nga khác khỏi bị chết và tan vỡ gia đình.
  4. Bà tương kế tựu kế đưa danh sách ba mươi mấy cán bộ CS vào danh sách Thiên Nga nộp cho X4 phá thê thảm hệ thống đầu não địch.
  5. Có lẽ đây là 1 trong những chiến công cuối cùng của điệp viên VNCH.
  6. Bò đỏ bò hường đọc sẽ thấy lý tưởng Quốc Gia VNCH mạnh cỡ nào, vừa mạnh vừa nhân ái, chứ không bám càng chạy tuột quần như họ nói.

Xin cám ơn “Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt” đã thực hiện Video và Anh Thư Nước Việt, Thiên Nga Nguyễn Thanh Thủy.

Một vụ án y khoa

Người mẹ trẻ ở bang Washington, Mỹ đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau, vì theo xét nghiệm nó không phải là con ruột cô.

“Cô là ai? Cô đang âm mưu gì với bọn trẻ?”

Lydia Fairchild, 26 tuổi, sinh nở ba lần. Sau khi sinh đứa thứ ba, cô bị thất nghiệp. Do không đủ điều kiện kinh tế nuôi ba con một mình, Lydia phải viết đơn xin trợ cấp hàng tháng của chính phủ tại địa phương cư trú, tiểu bang Washington. Mọi người trong gia đình cô đều được triệu tập tới Sở Dịch vụ xã hội để chứng minh một số thông tin có liên quan.

Ban đầu, Fairchild nghĩ đó đơn giản là một cuộc triệu tập như thường lệ với một nhân viên xã hội. Nhưng cô không ngờ bị thẩm vấn nghiêm khắc giống như một nghi can tội phạm. Cô chết điếng khi toà tuyên bố bạn trai cô là bố bọn trẻ. Còn cô, người đã sinh ra chúng lại không phải là mẹ, vì DNA của cô không trùng hợp với chúng.

 

Lydia Fairchild sẽ còn nhớ mãi cái ngày hôm ấy. Nhân viên tòa án gọi cô đến hỏi một cách đầy ngờ vực: “Cô là ai? Cô đang âm mưu gì với bọn trẻ?” Ngạc nhiên, Lydia trả lời,: “chúng là con tôi mà, sao lại có chuyện âm mưu gì ở đây?”. Người đó đáp lại lạnh lùng: “Chúng không phải là con cô. Chúng tôi đã xét nghiệm DNA. DNA của cô và bọn trẻ không giống nhau”.

Từ tòa án trở về, Lydia tưởng như sắp phát điên. Rõ ràng cô là mẹ của ba đứa trẻ. Cô đã mang thai và sinh nở bình thường. Tất cả những người thân trong gia đình, hàng xóm và bác sĩ ở nhà hộ sinh đều biết. Thậm chí, mẫu DNA bố của bọn trẻ cũng phù hợp với DNA của cả ba đứa. Nhưng tất cả những cái đó đều vô nghĩa trước tòa. Lý thuyết y học đã khẳng định DNA của mẹ và con phải tương đồng. 100% trường hợp đều như vậy. Ngược lại chỉ có thể là giả mạo.

Nghi ngờ xét nghiệm của tòa có sai sót, Lydia xin thực hiện lại xét nghiệm ở một số phòng thí nghiệm độc lập do chính cô lựa chọn. Kết quả vẫn y nguyên, không có chút sai sót nào. Cô, người sinh ra chúng lại không phải là mẹ. Mặc dù, cả ba đứa trẻ đều khăng khăng khẳng định mẹ chúng chính là Lydia Fairchild – người đang đứng trước mặt chúng.

Science discovers that a man who was never born has fathered a son.

Tuy nhiên, đó chưa phải là bằng chứng đủ sức thuyết phục. Như vậy, từ chỗ chỉ muốn xin một khoản trợ cấp xã hội hằng tháng để nuôi con, Lydia phải đối mặt với nguy cơ phạm tội: Cô có thể bị buộc tội giả mạo và lạm dụng bọn trẻ, thậm chí là bắt cóc trẻ em. Trong trường hợp đó, lũ trẻ sẽ bị đưa vào trung tâm bảo trợ xã hội và Lydia sẽ không bao giờ gặp lại các con mình. “Cô biết đấy. Chúng tôi có thể đón bọn trẻ đi bất cứ lúc nào”, một nhân viên xã hội nói với Lydia trước khi cô rời khỏi phòng.

Có sự nhầm lẫn?

Sau những giờ “thẩm vấn” xót xa, đầy hoài nghi, Lydia bắt đầu hoảng loạn, cô bước đi loạng choạng. Lydia vội vã trở về nhà tìm những bức ảnh siêu âm trong quá trình cô mang thai của từng đứa con một. Vừa nỗ lực lục tìm, Lydia kể với cha mẹ mình về kết quả xét nghiệm DNA  “quái dị” ấy. Cha mẹ Lydia không tin điều đó.

This Mom Took A DNA Test, Only To Discover That Her Children Weren’t ...

“Lúc đầu, tôi nghĩ rằng, con bé đang nói đùa. Chắc có sự nhầm lẫn nào đó. Chính tôi là người đưa Lydia đến bệnh viện sinh. Rồi cả ba lần sinh, chính mắt tôi nhìn thấy bọn trẻ do Lydia mang nặng đẻ đau. Tôi còn nhẹ nhàng ẵm chúng lên, khoe với mọi người trong gia đình và một số bạn bè”, bà Carol Fairchild, mẹ của Lydia kể lại trong sự ngỡ ngàng và đau khổ.

Tiến sĩ Leonard Dreisbach, bác sỹ khoa sản, người trực tiếp ba lần đỡ đẻ cho Lydia khẳng định, Lydia là mẹ của cả ba đứa trẻ. Ông còn cho rằng, trường hợp kỳ lạ của Lydia chắc chắn có sự nhầm lẫn nào đó trong kết quả xét nghiệm DNA. Ông cũng rất sẵn lòng làm chứng trong phiên tòa về “sự thật” này.

Dr. Leonard Dreisbach, MD – Kennewick, WA | Obstetrics & Gynecology

Xét về tình, các thành viên ban hội thẩm cũng tin rằng, Lydia Fairchild là mẹ của cả ba đứa trẻ. Nhưng về lý, Lydia Fairchild không có bằng chứng chứng minh, cô và các con có cùng dòng máu. Lydia có thuê luật sư biện hộ cho cô nhưng không ai nhận. Vì họ biết chắc, họ không thể thắng, kết quả DNA đã cho biết điều đó. Sau cùng, Luật sư Alan Tindell “dũng cảm” nhận lời, bởi theo linh cảm ông tin, Lydia không phải là kẻ bắt cóc chúng, mà cô chính là mẹ đẻ.

Người có DNA từ nhiều nguồn khác nhau (Genetic Chimerism).

Trong thời điểm u ám ấy, một tia hy vọng chợt lóe lên. Luật sư Alan Tindell tìm thấy một bài viết trên tạp chí New England Journal of Medicine, có nói đến một trường hợp ở Boston tương tự như của Lydia. Ông đệ đơn lên tòa xin hoãn xét xử khi các xét nghiệm này có thể thực hiện.

Attorney Alan James Tindell - LII Attorney Directory

Đó là trường hợp của bà Karen Keegan, một bà mẹ 52 tuổi có hai con trai ở Boston. Xét nghiệm trước ca ghép thận của Karen cũng cho thấy DNA của bà và bọn trẻ không giống nhau. Bác sĩ ở đó, mặc dù biết chắc chắn rằng không hề có sự giả mạo nào, nhưng cũng không thể giải thích nổi điều gì đã diễn ra. Họ tiến hành những mẫu xét nghiệm ở máu, tóc, mô miệng nhưng tất cả đều không có DNA  của con trai bà.

Các bác sĩ đã tìm hiểu kỹ hơn tuyến giáp của Karen. Lý do khiến các bác sỹ chọn tuyến giáp để xét nghiệm AND vì trong 100 ml máu ở người bình thường, có 2 – 2,5 mmol calcium (100 mg/l) và tồn tại dưới 3 dạng là 40% gắn với protein, 5 – 10% ở dưới dạng muối kết hợp với phosphat, bicarbonat, citrat; và 50% còn lại tồn tại dưới dạng ion hóa, để đảm bảo cho hoạt động điện sinh lý của các tế bào.

Mỗi ngày, cơ thể hấp thu vào 25 mmol canxi và thải trừ 20 mmol ra phân + 5 mmol ra nước tiểu. Hormon tuyến giáp có vai trò huy động canxi từ xương ra máu, và vitamin D giúp hấp thu canxi vào cơ thể, đưa đến xương. Karen Keegan gặp một vấn đề khá hiếm trong y học gọi là chimerism.

Hiện tượng này xảy ra ở người hay động vật khi hai trứng được thụ thai, hoặc phôi thai kết hợp cùng nhau trong thời kỳ đầu của thai kỳ. Mỗi hợp tử mang một bản sao DNA của bố mẹ, vì vậy hợp tử mới có một bộ gene khác biệt. Về cơ bản, đứa trẻ sinh ra là song sinh của chính nó. Chimerism ở người rất hiếm. Trong các thử nghiệm DNA nhằm xác định con ruột của bố mẹ đã phát hiện trường hợp Chimerism khi đứa trẻ không có liên hệ sinh học với người mẹ – nó mang một DNA khác. Lydia Fairchild là trường hợp điển hình sinh ra một chimera. Người mẹ trẻ ở bang Washington đã phải đấu tranh với tòa án để giữ đứa bé mà cô mang nặng đẻ đau.

Trên thế giới có khoảng 30 trường hợp như vậy được ghi nhận.

Thực chất đó là trường hợp hai cá thể song sinh tồn tại trong một cơ thể. Nguyên nhân là do có hai trứng cùng được thụ tinh, nhưng khi trong tử cung, đáng lẽ phải phát triển thành hai trẻ song sinh thì chúng lại “hòa lẫn” vào nhau, và trở thành một bào thai hoàn hảo duy nhất, nhưng có hai mã di truyền khác nhau – hai chuỗi DNA khác nhau.

Nói một cách khác, Karen là hai người trong một cơ thể và điều đó không thể quan sát bằng mắt thường, mà chỉ có thể phát hiện nếu xét nghiệm vật chất di truyền. Đó là lý do DNA trên khắp cơ thể bà lại khác với DNA của các con, nhưng DNA ở tuyến giáp lại giống.

Câu chuyện của Karen khiến Lydia có cơ sở thuyết phục quan tòa cho cô thêm thời gian. Cuối cùng, sau hàng loạt xét nghiệm, bác sĩ kết luận rằng Lydia cũng là một trường hợp chimerism. Hồ sơ vụ án được khép lại với một kết thúc có hậu: Lydia được công nhận là mẹ đẻ của các con cô và được nhận trợ cấp hàng tháng. Mỗi lần nhớ lại chuyện đã qua, Lydia vẫn thầm cảm ơn Karen: “Nếu không có bà ấy, tôi đã mất con”.

Câu chuyện của Lydia được lưu kỹ lưỡng trong hồ sơ xử án của tòa án tiểu bang Washington. Họ xem đây là “một vụ án y khoa” hiếm gặp. Còn phía y học và các nhà khoa học, đặc biệt là những nhà chuyên môn nghiên cứu về DNA cả về con người và động vật, họ xem đó là một bước tiến mới.

From: TU-PHUNG

Sự kết thúc chiến tranh Việt Nam-Henry Kissinger-Đỗ Kim Thêm dịch

Sự kết thúc chiến tranh Việt Nam

Posted by BVN1

Henry Kissinger

Đỗ Kim Thêm dịch

Đại tá Bùi Tín của QĐNDVN chào tiễn biệt toán lính Mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam vào ngày 29 tháng 3 năm 1973. Nguồn ảnh: Picture alliance / AP / Charles Harrity

Lời người dịch: Nguyên tác của bản dịch là “The Vietnam War and its Conclusions”, một trích đoạn trong tác phẩm Leadership – Six Studies in World Strategy của Henry Kissinger do Nhà xuất bản Penguiun Press, New York ấn hành ngày 5-7-2022, (Trang 149-163).

Trong bài viết, Kissinger nêu lên chiến lược nguyên thuỷ khi đàm phán của Richard Nixon đề ra là binh sĩ Mỹ và Bắc Việt phải cùng lúc rút ra khỏi miền Nam. Nhưng khi Kissinger dự thảo cho Hoà ước Paris, có sự thay đổi điều kiện là Lê Đức Thọ chỉ chấp thuận cho việc binh sĩ Mỹ đơn phương ra đi trong khi binh sĩ Bắc Việt được tiếp tục đồn trú tại miền Nam. Kissinger không giải thích tại sao phải chấp nhận điều kiện này.

Trong cuốn sách Kissinger’s Betrayal: How America Lost the Vietnam War, do Nhà xuất bản Real Clear Publishing ấn hành vào tháng 4 năm 2023, Stephen B. Young đã dẫn chứng nhiều nguồn tài liệu và thư tín của Ellsworth Bunker, Henry Kissinger, Lưu Văn Lợi và Nguyễn Anh Vũ, Anatoly Dobrynin, Claude Dulong-Sainteny cũng như trực tiếp phỏng vấn Bunker và Nixon. Stephen B. Young kết luận, Kissinger đã qua mặt cả Nixon khi tự ý đề ra điều kiện cho binh sĩ Bắc Việt ở lại. Lá thư của Kissinger gửi cho Bunker vào ngày 25-5-1971 và biên bản cuộc họp ngày 9-1-1971 tại Toà Bạch Ốc với Đại sứ Dobrynin là hai bằng chứng cụ thể.

Sau khi tiếp xúc với Kisinger, Đại sứ Dobrynin xác nhận với Moscow và Hà Nội là: “…Nếu Hoa Kỳ cam kết rút toàn bộ lực lượng trong một thời hạn nhất định và có thể không yêu cầu lực lượng QĐNDVN rút đồng thời ra khỏi miền Nam … Bắc Việt nên cam kết tôn trọng lệnh ngừng bắn trong thời gian Hoa Kỳ rút quân …”

Richard Nixon nói không biết Kissinger thật sự làm gì vào năm 1971.

Cho đến nay, Kissinger chỉ lăp lại các biện minh quen thuộc: Hậu quả của Watergate làm cho Nixon ra đi, Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ làm cho miền Nam không thể tiếp tục chiến đấu, không thú nhận bị Lê Đức Thọ lừa đảo và hay có bất cứ một trách nhiệm nào về chính trị hay đạo đức cá nhân. Kissinger vẫn chưa trả lời các cáo buộc của Stephen B. Young.

***

Khi Nixon tuyên thệ nhậm chức vào tháng Giêng năm 1969, Hoa Kỳ đã có gần hai thập niên can dự tại Việt Nam, 30.000 binh sĩ đã tử thương trên chiến trường và nhiều cuộc biểu tình phản chiến, đôi khi bằng bạo lực. Trong lần gặp gỡ Nixon đầu tiên sau khi thắng cử tại khách sạn Pierre, ông nhấn mạnh, kiên quyết kết thúc cuộc chiến Việt Nam trong nhiệm kỳ đầu tiên. Ông hứa với các gia đình tử sĩ về một sự kết thúc phù hợp với vinh dự của nước Mỹ. Ông muốn đạt được việc này bằng chính sách ngoại giao thông qua liên kết với Liên Xô. Ý tưởng về việc mở cửa đối với Trung Quốc cũng có thể sẽ đóng một vai trò, nhưng ông sẽ không bán tháo (chủ trương). Một nền an ninh của các dân tộc tự do, hoà bình thế giới và tiến bộ tuỳ thuộc vào việc tái lập và đổi mới tinh thần lãnh đạo của Hoa Kỳ. Các nỗ lực về chính trị và quân sự cũng phải được duy trì song song.

Ngay trong lúc đầu của nhiệm kỳ tổng thống Harry Truman, Hoa Kỳ đã tham gia việc bảo vệ miền Nam để chống lại sự nổi dậy của Cộng sản bằng cách gởi các cố vấn quân sự. Eisenhower gia tăng viện trợ Mỹ và nâng số lượng các cố vấn quân sự từ 35 lên đến gần 700 vào năm 1956, đặt họ trực thuộc Toà Đại sứ Mỹ tại Sài Gòn. Vào lúc cuối nhiệm kỳ, Eisenhower kết luận là, qua việc mở ra các đường tiếp vận mới, các đơn vị Bắc Việt thâm nhập được Lào và Kampuchea, hai nước yếu và trung lập nằm cạnh biên giới Nam Việt Nam, làm cho tình hình an ninh tại Sài Gòn ngày càng bị đe doạ và do đó phải kháng cự.

Các đường tiếp vận, một hệ thống mà sau này nổi danh là đường mòn Hồ Chí Minh dài 1000 cây số chạy qua một khu vực rừng hoang dọc theo biên giới phía nam của miền Nam Việt Nam, do đó, rất khó để phát hiện, tấn công hay phong toả. Đường mòn Hồ Chí Minh trở thành một điểm quan trọng của các nhà chiến lược Bắc Việt để họ làm suy yếu và cuối cùng làm sụp đổ chính phủ miền Nam.

Trong lúc chuyển giao quyền tổng thống vào năm 1960, Eisenhower khuyên John F. Kennedy, người kế nhiệm, là nên điều động quân Mỹ đến khu vực, và trong trường hợp cần thiết, chống lại các cuộc xâm nhập trong các nước láng giềng trung lập. Kennedy không thi hành ngay các lời khuyên này của Eisenhower, nhưng thay vào đó, cố thử tìm kiếm một giải pháp chính trị thông qua ngoại giao với Hà Nội. Kết quả là một Hiệp ước Quốc tế về Trung lập Lào được ký kết vào năm 1962.

Về sau, khi Hà Nội vi phạm tình trạng trung lập của Lào qua việc thâm nhập nghiêm trọng, Kennedy phản ứng bằng cách gởi 15.000 binh sĩ Mỹ đến để huấn luyện và cố vấn cho các đơn vị chiến đấu của Nam Việt Nam. Vì chính quyền Kennedy nhận ra là Ngô Đình Diệm, nhà lãnh đạo độc tài Nam Việt Nam, thiếu sự ủng hộ rộng rãi của dân chúng và ý chí chính trị để chiến thắng, nên thúc giục quân đội lật đổ. Cuộc đảo chính đã đưa đến việc sát hại ông Diệm vào ngày 2 tháng 11 năm 1963 và làm suy yếu chính quyền Nam Việt Nam ngay trong lòng cuộc nội chiến, mà theo định nghĩa, một chính quyền bị bao vây là một cái giá chủ yếu. Bắc Việt dùng cơ hội này để thâm nhập các lực lượng chiến đấu chính quy nhằm tăng cường cho các lực lượng quân kháng chiến.

Sau vụ sát hại Kennedy vào ngày 22 tháng 11 năm 1963, Lyndon B. Johnson đã theo lời khuyên của toán công tác về an ninh quốc gia mà gia tăng các nỗ lực quân sự tại Việt Nam. Ông tiếp nhận nhóm này có từ thời Kennedy, trừ một người trong nhóm chệch hướng là George Ball, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao (1). Tuy nhiên, không bao lâu sau, Johnson nhận ra rằng, các hỗn loạn chính trị trong khu vực phức tạp hơn, vì các rối rắm qua việc triển khai một chiến lược quân sự.

Đối với Mỹ, quy mô tuyệt đối của việc gởi quân Mỹ đến một khu vực xa xôi tạo ra chuyện tối cần thiết là phải chấm dứt chiến cuộc một cách nhanh chóng. Nhưng Hà Nội kéo dài xung đột để làm kiệt quệ tinh thần người Mỹ. Trong một cuộc đọ sức giữa một đạo quân được cơ giới hoá và các đạo quân kháng chiến đặt cơ sở hoạt động trong rừng thì các bộ đội này chiếm ưu thế, vì họ sẽ thắng cho đến lúc nào mà họ không thua.

Tháng Giêng năm 1969, Bắc Việt kiểm soát 1/3 lãnh thổ phía Tây của Lào và một phần của Kampuchea, vì nó lọt ra ngoài phạm vi của các lực lượng Mỹ. Họ sử dụng các nơi này như là những căn cứ, một phần lớn là để gởi hàng tiếp vận tới miền Nam và đe doạ vùng cực nam của miền Nam, kể cả Sài Gòn. Do đó, Bắc Việt có vị thế tiếp vận để thử thách tinh thần kiên trì của người Mỹ ở trong nước. Như Phạm Văn Đồng, Thủ tướng Bắc Việt, giải thích cho Harrison Salisbury, ký giả của tờ New York Times, là họ theo đuổi một chiến lược dựa vào một niềm tin, người Bắc sẽ chiến đấu cho Việt Nam kiên cường hơn người Mỹ, điểm chủ yếu là nhiều người Việt sẵn sàng chết cho Việt Nam nhiều hơn người Mỹ.

Bế tắc trên chiến trường và số lượng thương vong tăng cao, tạo ra phân hoá xã hội tại hậu phương Mỹ. Trong thời chính quyền Johnson, những cuộc thảo luận trong các khuôn viên đại học về các mục tiêu và khả năng thực hiện của cuộc chiến đã bắt đầu. Khi Nixon tuyên thệ nhậm chức, những cuộc thảo luận đã bộc phát và trở thành những đối kháng trong mối quan hệ về giá trị và phương pháp của Mỹ. Cuộc chiến có chính nghĩa không? Nếu không được biện minh, tốt hơn là nên từ bỏ toàn bộ công cuộc chiến đấu. Mặc dầu thoạt đầu thái độ bỏ cuộc được coi như là cực đoan; về sau, quan điểm này có trong phần lớn giới trí thức của xã hội Mỹ.

Chủ thuyết xem Mỹ là ngoại lệ bị đảo lộn; chủ thuyết duy tâm nhằm đề cao việc hỗ trợ cho Mỹ đảm nhận trách nhiệm quốc tế sau Thế chiến thứ Hai được đề cập trở lại khi Mỹ đối diện với cuộc chiến Việt Nam, nhằm vào việc bác bỏ vai trò lãnh đạo toàn cầu. Cuộc khủng hoảng niềm tin do việc Mỹ tham chiến tại Việt Nam đã vượt ra khỏi vấn đề cuộc chiến và chuyển hướng sang bản chất đích thực và nền tảng trong các mục tiêu của Mỹ.

Phong trào phản chiến ngay trong lòng các đại học tạo thành các cuộc biểu tình của quần chúng, nó đạt đến cao điểm làm cho Tổng thống Johnson không thể xuất hiện trước công chúng trong các cuộc vận động tranh cử vào năm 1968, chỉ với ngoại lệ khi nào ông đến các căn cứ quân sự. Tuy vậy, việc rút quân đơn phương ra khỏi cuộc chiến không được dân chúng ưa chuộng. Hubert Humphrey, ứng viên Tổng thống của Đảng Dân chủ và Richard Nixon, đối thủ của Đảng Cộng hoà, đều từ chối việc rút quân đơn phương. Nhưng trong cuộc vận động tranh cử, họ hứa hẹn là sẽ tìm ra một đường lối kết thúc cuộc chiến qua đàm phán.

Nixon không nói rõ bằng cách nào, nhưng chỉ nói là sẽ có một phương sách mới. Tuy nhiên, các các cơ sở của Đảng Dân chủ phản đối việc rút quân mà không đề cập đến chi tiết. Vấn đề gây cho Đảng Dân chủ chia rẽ và ngày Đại hội đảng để đề cử ứng viên vào tháng Tám xáo trộn là thúc giục đòi hỏi việc rút quân của hai phía (Mỹ và Bắc Việt) ra khỏi Nam Việt Nam. Nghị sĩ Edward Ted Kennedy và các đảng viên Dân chủ theo phe bồ câu dự trù khuôn khổ của việc đề nghị rút quân Mỹ, nhưng chỉ đề cập đến như là một số lượng quân đáng kể.

Từ cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi, Nixon kiên quyết tìm ra một lối thoát đầy vinh dự tại Việt Nam, đó là tất yếu cho vai trò lãnh đạo thế giới của Mỹ. Trong thời gian chuyển quyền sau bầu cử, chúng tôi định nghĩa “đầy vinh dự” là những người Đông Dương đã chiến đấu cho tự do của họ có được một cơ hội để tự quyết định cho vận mệnh của mình, trong khi phong trào phản chiến tại Mỹ chỉ đòi hỏi một phía rút quân, điều mà Nixon cực lực phản đối.

Theo quan điểm của Nixon, quyền lợi quốc gia đòi hỏi phải có một đường lối trung dung giữa chiến thắng và rút quân. Theo Nixon, rút quân không điều kiện đưa đến sự thoái vị về tinh thần và địa chính trị, nói khác đi, một sự thiệt hại nặng nề về ý nghĩa của Hoa Kỳ đối với trật tự quốc tế.

Khi Nixon nhậm chức, ông khám phá ra các lý do thiết thực để từ chối việc rút quân đơn phương. Vị Tham mưu trưởng Liên quân ước lượng rằng, để chuẩn bị cho việc rút nửa triệu quân và các thiết bị phải cần thời gian 16 tháng. Ngay cả khi cho rằng, việc ước lượng của vị Tư lệnh này bị ảnh hưởng do ác cảm, kinh nghiệm đầy hỗn loạn trong việc rút 5.000 lính Mỹ ra khỏi Afghanistan trong năm 2021 cho thấy tình trạng vô trật tự tiềm ẩn qua việc rút quân đơn phương trong điều kiện chiến tranh. Tại Việt Nam, có khoảng hơn 150.000 binh sĩ Mỹ và ít nhất là 800.000 binh sĩ Bắc Việt và một số lượng tương đương binh sĩ miền Nam, thái độ của họ là có cảm tưởng bị phản bội, có thể xảy ra từ sự thù nghịch dẫn đến hỗn loạn.

Chính vì thế, như đã tuyên bố trong cuộc vận động tranh cử, Nixon quyết định đạt được sự liên kết một giải pháp ngoại giao với Liên Xô. Ông theo đuổi chiến lược này ngay khi đối diện cuộc tấn công của Bắc Việt, nó bắt đầu nội trong ba tuần sau khi ông nhậm chức, trước khi ông đưa ra bất cứ một hành động quân sự quan trọng nào, việc này làm cho hơn 6.000 binh sĩ thương vong trong sáu tháng đầu tiên trong nhiệm kỳ tổng thống của ông.

Nixon muốn tìm ra một sự kết hợp ngoại giao bằng cách áp lực buộc Liên Xô cắt giảm viện trợ cho Hà Nội. Ban Tham mưu của tôi dự kiến một kế hoạch ngoại giao để giải thích, trong đó chúng tôi chuẩn bị trình bày các tương nhượng cho Bắc Việt, để có thể thông qua Moscow. Song song, với bí danh “Duch Hook” (2), Ban Tham mưu của tôi có các chọn lựa khác là việc leo thang quân sự (chủ yếu là phong toả và ném bom). Trường hợp Moscow từ chối các đề nghị của chúng tôi, Nixon muốn cố thử áp đặt bằng bạo lực quân sự (việc này đã xảy ra, khi một phần lớn kế hoạch quân sự được thực hiện trong ba năm sau này, tháng 5 năm 1972, như là phản ứng trước việc tấn công của Hà Nội trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa).

Là nhà đàm phán của chính quyền Johnson với Bắc Việt, Cyrus Vance tỏ ra nhạy bén cho ý tưởng khi được bổ nhiệm làm đặc sứ trong trường hợp đề nghị của chúng tôi được đồng thuận.

Được Nixon thoả thuận, tôi đưa ra một khái niệm với Anatoli Dobrynin, Đại sứ của Liên Xô tại Hoa kỳ, mà không nêu chi tiết. Chúng tôi không nhận được câu trả lời nào từ phía Moscow, nhưng trong lần gặp gỡ đầu tiên vào tháng 8 năm 1969 với Bắc Việt, Xuân Thuỷ, Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hà Nội, từ chối lời đề nghị với lập luận là Hà Nội không bao giờ đàm phán thông qua phe thứ ba.

Trong khi nghiên cứu về các đường lối ngoại giao, Nixon đề ra một khái niệm chiến lược toàn diện trước thế giới vào ngày 25 tháng 7 năm 1969. Về địa điểm của bài diễn văn, ông chọn một nơi vắng vẻ thuộc phía Tây Thái Bình Dương của đảo Guam, ông dừng lại ở đây vào buổi chiều trong chuyến công du khắp thế giới, ngay trước đó ông chào đón các nhà phi hành không gian Mỹ, khi họ vừa từ mặt trăng trở về.

Qua lời tuyên bố có vẻ đầy ấn tượng trong cuộc họp báo này, Nixon trình bày về chính sách Đông Nam Á. Thực ra, bài diễn văn này đã được Toà Bạch Ốc chuẩn bị cẩn trọng và tu chỉnh ngay trong chuyến bay, nhằm nhấn mạnh đến mối bang giao của Hoa Kỳ và các đối tác trong vùng. Nixon cảnh báo về các nguy cơ do các chế độ Cộng sản tại Trung Quốc, Bắc Hàn và Bắc Việt gây ra và tiếp tục lập luận là:

“Hoa Kỳ phải tránh một chính sách mà các nước tại châu Á trở nên quá lệ thuộc vào chúng ta, đến độ mà chúng ta bị ràng buộc trong các cuộc tranh chấp như cuộc tranh chấp mà chúng ta có tại Việt Nam”.

Dĩ nhiên, báo chí tháp tùng có hỏi về các chi tiết mà Nixon đã chuẩn bị sẵn để trả lời. Ông đáp: “Tôi tin rằng, thời điểm đã đến khi Hoa Kỳ phải nhấn mạnh đến hai điểm về mối quan hệ đối với tất cả các nước thân hữu châu Á.

Thứ nhất: Chúng ta sẽ tuân thủ các nghĩa vụ kết ước … nhưng thứ hai, trong những vấn đề có liên hệ đến an ninh nội địa và bảo vệ quốc phòng, với ngoại trừ việc các cường quốc có trang bị vũ khí hạt nhân đe doạ, Hoa Kỳ sẽ khuyến khích và có quyền kỳ vọng các quốc gia châu Á là sẽ càng lúc càng tự lo liệu về các vấn đề của họ và tự đảm nhận trách nhiệm”.

Những gì mà về sau nổi danh là “chủ thuyết Nixon” bao gồm ba nguyên tắc cơ bản:

  1. Hoa Kỳ sẽ tuân thủ các nghĩa vụ kết ước.
  2. Hoa Kỳ sẽ sẵn sàng bảo vệ trong trường hợp cường quốc nguyên tử đe doạ tự do đối với một trong các nước đồng minh của chúng ta hoặc một nước mà sự sống của họ còn được Hoa Kỳ xem như cần thiết cho nền an ninh của Hoa Kỳ và toàn khu vực.
  3. Trong trường hợp có các loại tấn công khác, nghĩa là, các cuộc tấn công bằng vũ khí quy ước của các cường quốc không có vũ khí hạt nhân, Hoa Kỳ sẽ yểm trợ bằng quân sự và kinh tế, khi được họ yêu cầu. Nhưng Hoa Kỳ cũng chờ đợi các nước bị đe doạ trực tiếp, đảm nhận trách nhiệm chủ yếu trong việc cung ứng nhân lực cho việc bảo vệ.

Trong khuôn khổ mà về sau được gọi là “Việt Nam hoá chiến tranh”, Hoa Kỳ muốn viện trợ quân sự, huấn luyện và yểm trợ không quân theo theo nguyên tắc thứ ba trong ba nguyên tắc kể trên, để cho Sài Gòn có điều kiện cầm cự cho đến khi nào đủ mạnh để tự bảo vệ. Mục đích của chủ thuyết Nixon là thể hiện việc người Mỹ kiên quyết và khả năng của miền Nam Việt Nam có thể phòng thủ để Hà Nội đồng thuận về một giải pháp chính trị, nó cho phép dân chúng miền Nam tự quyết định tương lai của mình.

Nixon hứa tuân thủ các nghĩa vụ của Hoa Kỳ đối với các đồng minh kết ước như Nam Hàn và Thái Lan và cũng bảo vệ các nước khác tại châu Á, khi họ bị các cường quốc nguyên tử đe doạ, việc này ám chỉ Trung Quốc và Liên Xô. Sự khác biệt giữa Nixon và các bậc tiền nhiệm là ông làm ràng buộc phạm vi các viện trợ Mỹ, các nước bị đe doạ phải tự nhận trách nhiệm bảo vệ. Mục tiêu chính là ông muốn trấn an các nước mà sự sống còn của họ dựa vào niềm tin về vai trò của Mỹ, khi các cuộc đàm phám để chấm dứt chiến tranh Việt Nam không đánh dấu về việc triệt thoái chiến lược từ châu Á (3).

Vào cuối nhiệm kỳ, tổng thống Johnson đã có các cuộc đàm phán chính thức với Bắc Việt và được tiếp tục dưới thời Nixon. Hàng tuần đại diện của Bắc Việt, Mỹ, chính quyền miền Nam của Sài Gòn và Mặt trận Giải phóng miền Nam gặp nhau tại khách sạn Majestic, Paris. Hà Nội không bao giờ xem các cuộc đàm phán này là một tiến trình ngoại giao, mà chỉ là một giai đoạn tiếp tục của một chiến lược tâm lý, để họ làm hao mòn ý chí của Mỹ và làm sụp đổ chính quyền mà họ cho là “bất hợp pháp” của Nam Việt Nam.

Vào những ngày cuối cùng của chiến dịch vận động tranh cử năm 1969, Tổng thống Johnson công bố với niềm hy vọng tràn trề là Bắc Việt theo đuổi hai mục đích trong các cuộc đàm phán này: Đối với chính phủ Nam Việt Nam phải mất tính chính danh, để trước hết Hà Nội hoàn toàn từ chối đàm phán với họ và kiên trì là Mặt trận Giải phóng miền Nam là phía đàm phán cho miền Nam tại bàn hội nghị.

Sau khi một thoả hiệp được tìm ra để cả hai phe của miền Nam được tham dự đàm phán chính thức, Hà Nội từ chối không hề nói đến bất cứ vấn đề nội dung nào. Mục tiêu của Bắc Việt là kéo dài các cuộc đàm phán cho đến khi nào Hoa Kỳ kiệt sức hoặc do các phản đối của dân chúng Mỹ đến độ phải quay lưng từ bỏ đồng minh Nam Việt Nam.

Diễn đàn đàm phán chính thức tại khách sạn Majestic mà phái đoàn Bắc Việt do Xuân Thuỷ lãnh đạo, mang lại một kỳ tích bất thường. Trong bốn năm được gọi là đàm phán, không có tiến bộ nào đạt được và kết quả chỉ nhằm trình bày hàng loạt các lời tuyên bố cho có hình thức với nội dung rỗng tuếch.

Vào mùa hè năm 1969, Nixon tìm hiểu rằng qua kênh đàm phán với Moscow có thể đạt được kết quả đầy vinh dự theo quan điểm của chúng tôi. Trước khi thực hiện cách này để gia tăng áp lực, ông quyết định thử lại một lần nữa khi khởi động lại các cuộc đàm phán. Việc này có hai phần: Tôi phải huỷ chuyến du hành thế giới để hội kiến với Xuân Thuỷ tại Paris vào ngày 4 tháng 8 năm 1969. Đó là cuộc mật nghị đầu tiên mà từ đó cho đến tháng 4 năm sau, một kênh mật đàm giữa Lê Đức Thọ và tôi diễn ra.

Pháp là quốc gia duy nhất trong khối NATO có quan hệ ngoại giao với Hà Nội, và cuộc gặp gỡ do Jean Sainteny, Đại sứ Pháp tại Hà Nội, thu xếp. Đối với tôi, phu nhân của Sainteny là một người bạn thân thiết sau khi bà đã tham dự một khoá học quốc tế kéo dài ba tháng trong khuôn khổ chương trình mùa hè của Đại học Harvard, do tôi giảng dạy. Nhờ thế, cuộc mật nghị giữa các giới chức của Nixon và Việt Nam diễn ra trong một căn phòng sang trọng của Sainteny trên đường Rivoli. Khi ông giới thiệu những người Việt cho chúng tôi, ông đặt điều kiện là không được phép phá vỡ bất cứ các đồ gia dụng nào.

Một cuộc trao đổi sau đó cho thấy trước viễn cảnh bế tắc trong ba năm sau. Xuân Thuỷ lên lớp giảng dạy về cuộc chiến đấu hào hùng của người Việt cho độc lập và lòng kiên quyết của Hà Nội để theo đuổi cuộc chiến cho đến cùng. Tôi nghe các lời này lặp đi lặp lại không biết bao nhiêu lần trong nhiều năm và kết thúc bằng việc công bố các điều kiện tiên quyết của Hà Nội. Đến phiên tôi, tôi giải thích là sẵn sàng đàm phán trên cơ sở của một tiến trình chính trị mà tất cả các phe nhóm, kể cả những người cộng sản, có thể tham gia.

Nixon chỉ thị cho tôi nên dùng cơ hội cho các biện pháp táo bạo. Tôi đã truyền đạt là nếu cho đến ngày 1 tháng 11 mà chúng tôi không có được một hồi đáp giá trị nào về các đề nghị của chúng tôi thông qua các kênh ngoại giao của hai phía, chúng tôi sẽ cứu xét đến các biện pháp khác hơn là ngoại giao, có hàm ý về việc dùng biện pháp quân sự. Xuân Thuỷ, cũng như những nhà đàm phán Việt mà tôi gặp gỡ, họ tỏ thái độ rất lịch sự khi trả lời bằng cách lặp lại các điều kiện tiên quyết của Hà Nội: Mỹ rút quân và chính phủ Sài Gòn sụp đổ trước khi có các cuộc đàm phán đầy ý nghĩa.

Vì Nixon không có ý định thảo luận trong các điều kiện như vậy, nên vào ngày 20 tháng 10 tại Toà Bạch Ốc, ông quyết định lặp lại một tối hậu thư cho Dobrynin, Đại sứ Nga. Nixon cầm một tập ghi chú màu vàng từ trên bàn của phòng Bầu Dục đưa cho vị Đại sứ và nói: “Tốt hơn, ông nên đưa ra một vài ghi chú”. Dobrynin đặt vài câu hỏi cần làm sáng tỏ và cho là không biết gì về nội dung của vấn đề. Để ép Moscow và Hà Nội phải cho ngày hẹn chót, Nixon còn đi xa hơn khi cho rằng ngày 3 tháng 11 ông dự trù sẽ có bài diễn văn nói chuyện về vấn đề Việt Nam. Việc này trở thành một trong các cách hùng biện nhất của ông.

Bất chấp những cuộc biểu tình đang làm tê liệt Washington từ mấy tuần qua, Nixon kêu gọi đa số người Mỹ thầm lặng nên kiên quyết cho một nền hoà bình trong vinh dự.

“Đừng để các nhà viết sử ghi là, Mỹ một nước hùng mạnh nhất thế giới, chúng ta đứng bên kia lề đường và cho phép các hy vọng cuối cùng về hoà bình và tự do của nhiều triệu người bị bóp nghẹt bởi các sức mạnh của các chế độ độc tài. Và tối nay, trước quý vị là đa số thầm lặng dân chúng Mỹ, tôi yêu cầu quý vị hãy yểm trợ”.

Nhưng ông từ bỏ những gì trong tiến trình mà ông công bố, đây là lần duy nhất trong lúc tôi làm việc chung với ông. Khi chúng tôi tiến gần đến ngày hẹn chót của tối hậu thư tháng 11, Hà Nội không thay đổi thái độ hay Tổng thống không có một quyết định gây hậu quả nào, theo đúng nguyên tắc là Cố vấn An ninh Quốc gia, tôi soạn thảo hai văn bản ghi nhớ đệ trình cho Tổng thống để phân tích vấn đề về các quyết định quan trọng.

Bản ghi nhớ đầu tiên phân tích, liệu việc Việt Nam hoá chiến tranh có thực sự đạt được các mục tiêu của chúng ta đã thoả thuận không. Bản thứ hai trong ngày hôm sau phân tích các động lực khích lệ cho một giải pháp ngoại giao trong các chiến lược hiện hành. Nixon quyết định duy trì các chủ trương đang tiến hành trên thực tế.

Để tránh việc leo thang quân sự mà ông đe doạ và Ban Tham mưu của ông chuẩn bị, cũng như tránh việc triệt thoái binh sĩ đơn phương do Hà Nội và các phong trào phản chiến tại Mỹ đòi hỏi, điểm chủ yếu mà ông quyết định theo đuổi tiến trình Việt Nam hoá, như ông đã khởi thảo trong cuộc họp báo tại đảo Guam. Trong bài diễn văn ngày 3 tháng 11, ông mô tả chiến lược là việc rút các binh sĩ Mỹ một cách tuần tự, cùng lúc các cuộc đàm phán tiến hành, cho đến khi nào Sài Gòn đủ mạnh cho một giải pháp chính trị, để người dân miền Nam có khả năng tự định đoạt cho số phận của mình. Chương trình Việt Nam hoá chiến tranh do Bộ trưởng Quốc phòng Melvin Laid triển khai và Nixon công bố, có nghĩa là một việc rút quân tuần tự của binh sĩ Mỹ, cùng với việc thay thế bởi các binh sĩ miền Nam. Khi Nixon đọc diễn văn, việc rút quân khoảng 100.000 binh sĩ Mỹ đã được thực hiện.

Lúc đó, tôi không thoải mái với quyết định của Nixon. Trong suốt nhiều năm, khi suy nghĩ về các giải pháp tương ứng khác, tôi kết luận rằng Nixon đã đề ra một tiến trình khôn ngoan hơn. Nếu như ông theo những trực giác đầu tiên, có lẽ ông sẽ có khủng hoảng nội các, nó kết hợp bởi các cuộc biểu tình phản chiến tại các thành phố làm cho cả nước sẽ bị tê liệt. Việc mở cửa cho Trung Quốc vẫn chỉ là một ý tưởng, các phản ứng đầu tiên của Bắc Kinh vẫn chưa nhận được (4). Việc đối mặt đọ sức với Liên Xô tại vùng Cận Đông và Berlin chưa kết thúc, và các cuộc đàm phán với Liên Xô còn trong thời kỳ thăm dò. Hơn thế, lúc đầu năm quan trọng này, trong chuyến công du của Nixon tại châu Âu, các Đồng minh châu Âu đã tỏ ra có ác cảm, chống lại cuộc chiến tại Đông Nam Á.

Vì thế, dù có những dè dặt ban đầu, trong những năm sau đó, tôi thực hiện quyết định của Nixon với niềm tin tưởng. Cả Nixon và tôi đều tin rằng sự ổn định của một cấu trúc quốc tế được phát triển cần phải được minh chứng, thông qua một chiến lược khả tín của Mỹ, chúng tôi không hoang phí, nhất là đối với Trung Quốc và Liên Xô.

Bất chấp việc giới tinh hoa khinh miệt, Nixon cố gắng giữ lời hứa mà ông đưa ra với đa số người Mỹ thầm lặng, không phải chỉ tránh việc thất bại nhục nhã mà cũng tránh được việc gởi con em đến trong một cuộc chiến không kết thúc. Liệu các mục tiêu này có phù hợp theo trọng tâm của những cuộc thảo luận đang diễn ra trong cả nước không, và không khí bạo loạn trong các khuôn viên đại học và trên các đường phố, cũng như những chống đối thường trực của giới thân cận khi Nixon áp đặt các cưỡng chế.

Mặt khác, trong nhiều thập niên, Hà Nội đã không tranh đấu chống Pháp và Mỹ vì lợi ích của một tiến trình chính trị hay một thoả hiệp đã được đàm phán, nhưng chỉ muốn đạt đến một chiến thắng chính trị toàn diện.

Vì Nixon muốn cố thử xem có một giải pháp đàm phán không, ông chấp nhận các cuộc mật nghị về chính trị. Sau đó Hà Nội phái Lê Đức Thọ, Uỷ viên Bộ Chính trị, làm Trưởng đoàn Bắc Việt đến Paris, nơi mà tôi gặp ông khoảng cứ ba tháng một lần. Cuộc gặp gỡ này mang nhiều thực chất tiến bộ hơn các cuộc đàm phán chính thức, nhưng cũng với mức độ không đáng kể.

Cứ mỗi lần gặp, Lê Đức Thọ đọc lời cáo buộc về những vi phạm của Mỹ gây ra đối với Việt Nam. Các điều kiện đòi hỏi tối thiểu và tối đa của Hà Nội giống nhau. Điều kiện tiên quyết cho Hà Nội đàm phán là chính quyền Sài Gòn phải được thay thế bởi các nhân sĩ “yêu chuộng hoà bình” và toàn thể lính Mỹ phải rút. Khi chúng tôi tìm hiểu định nghĩa của họ về những người “yêu chuộng hoà bình”, thì nhận ra rằng, không một khuôn mặt chính trị nổi danh ở Nam Việt Nam nào có đủ tiêu chuẩn của họ.

Nhưng Nixon không nản lòng. Hai năm sau, vào ngày 25 tháng 1 năm 1972, trước sự ngạc nhiên của giới truyền thông, họ cáo buộc rằng từ lâu ông không quan tâm đến tiến trình hoà bình, ông công bố biên bản các cuộc mật nghị của tôi với Lê Đức Thọ trong thời gian hai năm.

Trong một bài diễn văn trong cùng buổi tối, ông đưa ra một đề xuất chung quyết trong các điểm chính. Ông kết hợp một cuộc đình chiến, việc tự quản của chính quyền miền Nam và rút quân Mỹ, một chiến lược mà ông âm thầm chấp nhận giống như trong bài diễn văn trong ngày 3 tháng 11 năm 1969.

Hà Nội phản ứng bằng cách khởi động một cuộc tấn công vào ngày 30 tháng 3 năm 1972 trong chiến dịch mùa hè đỏ lửa. Họ huy động tất cả các sư đoàn chiến đấu, ngoại trừ một sư đoàn, và lần đầu tiên kể từ khi Nixon nhậm chức, họ chiếm được tỉnh lỵ Quảng Trị.

Qua cuộc leo thang quân sự, Hà Nội suy đoán rằng Mỹ sẽ không bị ảnh hưởng về một cuộc họp thượng đỉnh với Liên Xô, dự trù vào tháng 5 năm 1972, năm Mỹ có tranh cử.

Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, chúng tôi đang kết thúc các mục tiêu trong chương trình Việt Nam hoá chiến tranh: Cho đến cuối năm 1972, toàn bộ các đơn vị chiến đấu đã được triệt thoái. Cuối năm 1972, có ít hơn 25.000 binh sĩ còn lại trong nước, con số xuống thấp vì lúc Nixon nhậm chức là hơn nửa triệu. Trong khi các đơn vị bộ binh miền Nam đã tham chiến với sự yễm trợ của không quân Mỹ, để chống trả các cuộc tấn công mới của Hà Nội. Số lượng thương vong của binh sĩ Mỹ xuống thấp đáng kể, từ 16.899 trong năm 1968 còn lại là 2.414 trong năm 1971 và chỉ còn 68 trong năm 1973, khi Mỹ hoàn toàn rút hết các đơn vị còn lại ra khỏi nước, chiếu theo Hiệp định Paris.

Thời điểm của chiến dịch mùa hè đỏ lửa đã làm gia tăng nguy cơ vì Nixon có thể đáp trả bằng bất kỳ hành động nào. Chuyến Hoa du của Nixon là một bước lịch sử đầu tiên làm thay đổi Chiến tranh Lạnh; cuộc họp thượng đỉnh tại Moscow vào tháng Năm trở thành một diễn biến quan trọng khác. Tại Washington, đa số đồng thuận cho việc hạn chế quân sự; đúng như dự đoán, Nixon phản bác cách này.

Trong cuộc họp của Hội đồng An ninh Quốc gia tại Toà Bạch Ốc vào buổi sáng ngày 8 tháng 5 năm 1972, Tổng thống xác nhận việc leo thang để báo thù có thể gây hại cho cuộc họp thượng đỉnh tại Moscow và các công tác trù bị này kéo dài hàng tháng. Nhưng nếu chúng ta không hành động gì hoặc bị đẩy lui ra khỏi Việt Nam, điều đó đoán chắc là, trong các cuộc đàm phán với Moscow, chúng ta mang danh là thoái thác vai trò lãnh đạo quốc gia.

Trình bày trước quốc dân trong ý nghĩa này, Nixon đề ra quan điểm của Mỹ. Điểm chủ yếu là ông lặp lại các đề nghị về hoà bình mà ông đã đề ra vào tháng Giêng: Ngưng chiến và triệt thoái quân Mỹ là điều kiện đáp ứng cho việc công nhận chính phủ Sài Gòn, một chính phủ được thành hình qua một tiến trình chính trị mà trước đó đã được thoả thuận.

Nixon giải thích: “Đối với chúng tôi, chỉ có hai vấn đề để lại trong cuộc chiến này.

Thứ nhất: Trước cuộc xâm lăng ồ ạt, chúng tôi phải đứng nhìn, gây thiệt hại cho sinh mạng của 60.000 người Mỹ, kể cả các nhân viên dân sự, để lại cho những người miền Nam trước một đêm dài khủng bố? Việc này sẽ không xảy ra. Chúng tôi sẽ làm tất cả những gì phải làm để bảo vệ mạng sống của người Mỹ và vinh dự của Mỹ.

Thứ hai: đối với các thái độ hoàn toàn ngoan cố trong bàn hội nghị, chúng ta phải liên kết với kẻ thù để thiết lập một chính phủ cộng sản tại miền Nam sao? Việc này cũng sẽ không xảy ra. Chúng ta sẽ không vượt qua lằn ranh từ tinh thần hào phóng để đến sự phản bội”.

Theo một nguyên tắc mà ông thường phát biểu, người ta phải trả cùng một giá trong một hành động nào đó khi làm nửa vời, cũng giống như khi làm trọn vẹn, Nixon bấy giờ ra lệnh thực hiện toàn bộ các biện pháp mà ông dự kiến lúc đầu cho năm 1969. Ông tiên liệu việc gài mìn các hải cảng Bắc Việt và ném bom các đường tiếp vận, bất cứ nơi nào mà họ đặt ra. Với các biện pháp này, ông huỷ bỏ thoả ước về việc đình chỉ không kích có hiệu lực từ năm 1968.

Moscow chọn cách né tránh các thách thức, và cuộc họp thượng đỉnh xảy ra đúng như dự trù. Liên Xô lên án việc leo thang, cũng như việc phong toả; tuy nhiên, họ giới hạn việc phê bình chỉ trong một buổi ăn tối tại tư thất của Breschnews. Liên Xô không đe doạ, cuối cùng, trong cùng trong buổi tối này, Ngoại trưởng Andrei Gromyko và tôi lại tiếp tục thảo luận về việc giới hạn vũ khí chiến lược (SALT).

Ngay sau cuộc họp thượng đỉnh, Nilolai Podgory, Tham mưu trưởng, nhân danh lãnh đạo nhà nước Liên Xô, đi thăm Hà Nội. Liên Xô không đề ra các biện pháp báo thù, Moscow kết luận, không thể từ bỏ các nỗ lực để làm quân bình đối với sáng kiến của chúng tôi về Trung Quốc.

Tháng 7, Đồng minh Nam Việt Nam tái chiếm Quảng Trị. Hà Nội trở nên bị cô lập, cả Liên Xô và Trung Quốc đều không viện trợ, ngoại trừ các phản đối chính thức. Trong cùng tháng, các cuộc đàm phán với Lê Đức Thọ lại tiếp tục.

Trong khi các quan điểm chính thức vẫn không thay đổi, nhưng ông có một giọng điệu thân thiện hơn. Ông đặt vấn đề tìm hiểu tốc độ mà đàm phán có thể đạt được một thoả thuận chung cuộc, ông dự trù đạt được mức đột phá.

Trong cuộc họp ngày 8 tháng 10, ông đột nhiên đưa ra một tài liệu chính thức, với tài liệu này, Hà Nội sẽ chấp nhận đề xuất cuối cùng của Nixon vào tháng Giêng. Ông xác định là: Đề nghị mới này đúng là của Tổng thống Nixon tự đề xuất: Đình chiến, chấm dứt chiến tranh, trao trả các tù binh và rút quân.

Chủ yếu các điều này là đúng, dù có một vài cạm bẫy được nhận ra trong các cuộc đàm phán. Nhưng khi chấp nhận chính phủ Sài Gòn như là một cấu trúc liên tục, chúng ta đã đạt được một trong những mục tiêu chính.

Khi Lê Đức Thọ chấm dứt, tôi yêu cầu có thời gian. Sau khi ông rời phòng họp, tôi quay sang Winson Lord, người bạn và là một phụ tá đặc biệt của tôi, bắt tay ông và nói: “Chúng ta có thể tiến hành việc này” (5).

Sau khi kềm chân chúng tôi gần ba năm dài, bây giờ, Lê Đức Thọ thay đổi hẳn thái độ, bởi vì Hà Nội nóng ruột khi cho rằng, các cuộc đàm phán đang đứng trước cuộc bầu cử tổng thống Mỹ; mặt khác, sau đó Hà Nội lo sợ phải thương thuyết với vị tổng thống tái đắc cử do đa số chọn.

Nixon ý thức rằng trong nhiệm kỳ thứ hai có lẽ ông sẽ gặp phải thái độ thù nghịch của Quốc hội, khi họ sẵn sàng cắt giảm các viện trợ cho chiến tranh.

Trong một thời gian ngắn, các tính toán về chiến thuật của hai phía cùng theo về một hướng: Cuối cùng, cuộc xung đột đã đến một điểm mà các học giả nghiên cứu về các giải pháp trong hội nghị cho rằng đã chín muồi.

Khi Lê Đức Thọ và tôi cùng trải qua ba ngày ba đêm dài để soạn thảo bản thoả thuận chung quyết (ngoại trừ việc đồng thuận của Nixon và Sài Gòn), hoà bình đang trong tầm tay, và Hà Nội thúc giục chúng tôi kết thúc ngay công việc.

Nhưng cả Nixon và tôi đều không muốn kết thúc cuộc chiến bằng cách áp đặt lên dân tộc mà họ đã đứng về phía chúng ta chiến đấu trong suốt 20 năm. Và Sài Gòn cũng biết rõ là cuộc chiến đấu sống còn của họ không thể kết thúc với một hòa ước, họ kiên quyết về các cuộc đàm phán được kéo dài qua các chi tiết, trong một tiến trình cho thấy là không phải chỉ có miền Bắc có khả năng chịu đựng. Thật ra, chiến thuật trì hoãn của Sài Gòn có ý nghĩa sâu xa hơn: Lo sợ bị bỏ rơi với một kẻ thù ngoan cố, mà từ “hoà bình” đối với họ chỉ có ý nghĩa chiến thuật.

Trong khoảng thời gian này, tình hình đúng là một sự đảo ngược, mà nó đã xảy ra trong suốt nhiệm kỳ đầu của Nixon: Hà Nội thúc ép chúng tôi kết thúc một thỏa ước mà họ kéo dài gần mười năm. Họ muốn quy định cho chúng tôi về những gì đã được thảo luận và công bố toàn bộ các văn bản về kết quả đàm phán.

Trong cuộc họp báo ngày 26 tháng 10 năm 1972, tôi giải thích về diễn tiến của tình hình và nhấn mạnh là vẫn còn cam kết cho quy luật đàm phán. [Với sự đồng thuận của Nixon], tôi dẫn nhập bằng cách dùng câu: “Hoà bình đang ở trong tầm tay”. Tôi kết thúc lời tuyên bố với đoạn văn nhằm phản ảnh mức khẩn thiết và giới hạn của chúng tôi:

“Chúng tôi sẽ không để bị thúc ép trong một thoả ước, cho đến khi nào mà các quy định của thoả ước này là hợp lý. Chúng tôi cũng sẽ không để bị chệch hướng từ một thoả ước mà những quy định của thoả ước này là đúng đắn. Và với thái độ này và sự hợp tác của phía bên kia, chúng tôi tin là có thể tái lập rất sớm hoà bình và thống nhất tại Hoa Kỳ”.

Sau khi Nixon tái đắc cử vào ngày 7 tháng 11, Lê Đức Thọ tin rằng thời gian đã đến cho phía của ông và dùng các chiến thuật để làm đình trệ trong thời kỳ trước khi cuộc đột phá về đàm phán.

Cho đến đầu tháng 12, Nixon kết luận rằng, Hà Nội đang tìm cách kéo dài các cuộc đàm phán trong nhiệm kỳ thứ hai của ông, ông đề ra một chiến dịch không kích với phi cơ B-52 để chống các mục tiêu quân sự. Lệnh này đã bị truyền thông, Quốc hội và quốc tế phê bình kịch liệt.

Nhưng hai tuần lễ sau, Hà Nội trở lại bàn hội nghị, và đồng ý các tu chỉnh do Sài Gòn đòi hỏi. Hòa ước Paris được ký kết vào ngày 27 tháng 1 năm 1973, văn bản bao gồm các điều khoản quan trọng mà Nixon đề ra một năm trước đó.

Chín quốc gia, cũng như các chính phủ Sài Gòn và Hà Nội và Cộng Sản miền Nam chính thức đồng thuận bản hòa ước và đánh dấu một cao điểm về chính sách Việt Nam của Nixon.

Tuy nhiên, vào tháng 3, Hà Nội lại vi phạm hòa ước một cách nghiêm trọng, bằng cách dùng đường mòn Hồ Chí Minh để đưa một số lớn thiết bị quân sự vào miền Nam. Đầu tháng 4 năm 1973, Nixon quyết định không kích trên các đường tiếp vận của Hà Nội. Việc này được dự định cho đầu tháng 4, sau khi các tù binh Mỹ hồi hương từ các nhà tù Bắc Việt.

Giữa tháng 4, John Dean, Cố vấn Toà Bạch Ốc, bắt đầu hợp tác với các công tố viên liên bang trong vụ điều tra liên quan đến các cáo buộc việc tham gia vụ nghe lén và các hoạt động khác của Nixon. Vụ lùm xùm này loan ra tai tiếng rất nhanh, mà ngày nay nổi danh là Watergate. Do ảnh hưởng của vụ này, Quốc hội dùng quyền bảo lưu để cấm toàn bộ các hành động quân sự tại Đông Dương.

Hòa ước Paris luôn tuỳ thuộc vào tinh thần sẵn sàng và khả năng chấp hành các điều kiện quy định này. Hòa ước dựa trên sự mặc định là, đầu tiên, như trong cuộc tấn công của Bắc Việt trong năm 1972, Sài Gòn đã chứng tỏ có khả năng cầm cự các khả năng quân sự của Bắc Việt, cho đến khi nào mà miền Nam nhận được tiếp liệu như đã ghi trong Hiệp định (cụ thể là các vũ khí và thiết bị được thay đổi trên căn bản một đổi một), thứ hai, trong trường hợp có một cuộc tấn công toàn diện của Bắc Việt, không lực Mỹ sẽ sẵn sàng hỗ trợ.

Trong cuộc điều tra Watergate, công luận mệt mỏi, không hỗ trợ cho một cuộc xung đột thêm tại Đông Dương. Quốc hội cắt giảm toàn bộ các viện trợ quân sự cho Kampuchea và vì thế, để nước này cho Khmer đỏ chiếm đóng. Quốc hội giảm bớt viện trợ quân sự và kinh tế cho Nam Viêt Nam đến 50%, cấm chỉ mọi hoạt động quân sự bằng bộ binh, không quân trong và tại các ven biển của Bắc Việt, Nam Việt, Lào và Kampuchea. Trong tình hình này, việc thực thi các giới hạn của Hiệp định là không thể được, và các hạn chế dành cho Hà Nội tiêu tan.

Với Hiệp định Paris, Nixon đã mang về cho đất nước một kết quả thể hiện được vinh dự và địa chính trị, mà kết quả này về sau bị choáng ngợp do thảm hoạ nội chính. Tháng 8 năm 1974, Nixon từ chức tổng thống. Tám tháng sau đó, Sài gòn thất thủ sau một cuộc tấn công toàn diện của quân đội Bắc Việt, kể cả các sư đoàn chiến đấu. Ngoài Hoa Kỳ, không một nước nào trong số các cường quốc quốc tế đứng ra bảo đảm Hiệp định, phản đối.

Chiến tranh mang lại một sự phân hoá nội bộ trong xã hội Mỹ, cho đến nay vẫn còn xâu xé. Cuộc xung đột mang lại một phong cách trong cuộc thảo luận công cộng mà nó có ít liên quan đến nội dung hơn là động cơ chính trị và các bản sắc. Nổi giận đã thay thế cho cuộc đối thoại như là một phương tiện để thực hiện các tranh chấp, và sự bất đồng trở thành một cuộc xung đột của các nển văn minh. Trong tiến trình này, người Mỹ đang đứng trước cơ nguy trong việc quên đi các điều kiện mà các xã hội trở thành vĩ đại, nó không phải chỉ bằng chiến thắng của một phong trào hay đè bẹp chống đối trong nước, không phải là chiến thắng của phe này với nhóm kia, mà là qua một mục tiêu chung và hoà giải.

__________

Chú thích của tác giả:

  1. Khi làm như vậy, Johnson đã tuân theo trường phái tư duy đang thịnh hành, thuyết này cho rằng những thách thức của cộng sản tại châu Á có cùng đặc điểm với châu Âu trong thập niên 1940 và 1950. Do đó, Mỹ có thể chống lại bằng cách đề ra những lằn ranh an toàn cho dân chúng bị đe doạ, họ có thể tập hợp để theo đuổi tự do của họ. Thật không may, có một sự khác biệt quan trọng giữa hai trường hợp: về cơ bản, các xã hội châu Âu là gắn kết và do đó, khi mang lại được an ninh, họ có thể để xây dựng bản sắc lịch sử của họ.

Ngược lại, Đông Dương bị chia rẽ về sắc tộc và do nội chiến. Chiến tranh xâm lược diễn ra không chỉ qua các ranh giới theo địa lý mà còn ngay trong lòng xã hội. Năm 1965, Lâm Bưu, trợ lý của Mao, đã đưa ra một tuyên ngôn kêu gọi nông dân khắp thế giới trỗi dậy và đánh bại các thành phố. Cả hai chính quyền Kennedy và Johnson giải thích các thách thức của cộng sản là một cuộc thập tự chinh trong toàn cầu, mà trong đó Đông Dương tiêu biểu cho giai đoạn đầu tiên.

  1. Tôi không có hồi ức hay phân tích lý do tại sao hoặc ai chọn tên cho các bí danh này.
  2. Vào tháng 6, ngay trước khi Nixon khởi hành cho chuyến đi vòng quanh thế giới, một cuộc triệt thoái gồm 30.000 quân đã được thông báo. Việc cắt giảm này được đề ra để chuẩn bị cho bản tuyên bố tại Guam, nhưng dường như đến quá sớm trong chiến lược.
  3. Xem Chương 3, trang 170-171.
  4. Winston đã được thuyết phục không nên từ chức để phản đối Hoa Kỳ khi xâm nhập nhằm chống các căn cứ của Hà Nội đóng tại Campuchia trong năm 1970. Tôi lập luận rằng, ông nên lựa chọn giữa hai việc, một là mang băng biểu tình trước Toà Bạch Ốc và hai là ở lại trong một thời gian để chúng ta cùng nhau hoàn tất nhiệm vụ.
  5. Các giả định có thể so sánh được đã chi phối và duy trì Hiệp định đình chiến Triều Tiên năm 1953.

Đ.K.T. d.

Nguồn: Baotiengdan.com

Chính Nghĩa VNCH tiếp tục được duy trì – Dự Án làm Bảo tàng Di sản Việt Nam Cộng Hòa

Theo RFA

Quốc Phương, cộng tác viên RFA Tiếng Việt từ London

Ông Trịnh Hữu Long – Tổng biên tập của Luật Khoa Tạp Chí – bên giá sách bao gồm các sách xuất bản ở miền Nam Việt Nam trước năm 1975

 Photo: RFA

“Khi nghĩ tới bảo tàng, mọi người thường nghĩ tới những tòa nhà rất lớn, những góc trưng bày cũng rất lớn có ánh sáng, có người hướng dẫn rất đầy đủ, chúng tôi hoàn toàn không có những thứ đó, nhưng lại có một thứ khác giúp khởi đầu,” một luật gia, nhà hoạt động và nhà báo, và đồng thời là nhà sưu tập di sản Việt Nam Cộng Hòa từ hải ngoại nói với Đài Á Châu Tự Do trong dịp 48 năm biến cố lịch sử 30/4/1975 được đánh dấu và tưởng niệm.

“Dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa của chúng tôi không phải khởi đầu với một triệu Mỹ kim hay là với mười triệu Mỹ kim hay bởi một tòa nhà hoành tráng nào cả, mà nó khởi đầu chính bằng vài trăm cuốn sách thời Việt Nam Cộng Hòa mà chúng tôi sưu tập được và nó khởi đầu chỉ bằng vài ngàn đô-la, mà một vài người bạn trong nhóm của Luật Khoa Tạp Chí của chúng tôi và một số Mạnh Thường Quân, cùng một số anh chị ở hải ngoại đóng góp, để chúng tôi có thể mua được những cuốn sách này, và đấy là khởi đầu của chúng tôi,” luật gia Trịnh Hữu Long, đồng Sáng lập viên, Tổng Biên tập Luật Khoa Tạp Chí và người sáng lập một phông lưu trữ hay một thư viện sách thời Việt Nam Cộng Hòa ở hải ngoại, nói với RFA Tiếng Việt hôm 27/4/2023.

“Thư viện sách Việt Nam Cộng Hòa này của chúng tôi đang đặt tại trụ sở của Luật Khoa Tạp Chí tại Đài Bắc, Đài Loan và thư viện này nằm trong khuôn viên của Đại học Chính trị Quốc lập Đài Loan, một trong những trường có thể nói là hàng đầu về chính trị học ở Đài Loan.”

Về dự án thành lập Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa, mà khởi đầu bằng thư viện trên, ông Trịnh Hữu Long chia sẻ:

“Chúng tôi đã làm việc với Đại học này để họ có thể trợ giúp chúng tôi về kỹ thuật, về cơ sở hạ tầng, về cách bảo quản sách, về cách quản lý một thư viện, và đó là khởi đầu.”

Những hiện vật nào sẽ được thu thập và trưng bày?

Khi được hỏi dự án Bảo tàng sẽ quan tâm thu thập và trưng bày những hiện vật nào, ông Trịnh Hữu Long nói:

“Chúng tôi nhắm tới một số hiện vật, hiện nay chúng tôi ưu tiên những hiện vật có thể tái hiện nền chính trị và pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa và một điều nữa là chúng tôi muốn thu thập những hiện vật về thuyền nhân Việt Nam.

Thuyền nhân Việt Nam là một chương sử gắn với Việt Nam Cộng Hòa và là một chương sử rất đau thương, chúng tôi muốn thu thập những hiện vật liên quan đến vấn đề này để giúp công chúng có thể nắm được một thảm kịch rất gần với chúng ta ngày nay.

Về Việt Nam Cộng Hòa chúng tôi mong muốn thu thập và trưng bày một số hiện vật chẳng hạn như một số lá cờ, những đồng tiền, các hiện vật tái hiện khung cảnh, cũng như cách thức hoạt động của chính quyền Việt Nam Cộng Hòa, từ cơ quan lập pháp, tư pháp, cho đến hành pháp, trong đó có những hiện vật gì, hình ảnh gì, chúng tôi rất muốn thu thập được những thứ như thế.

Chúng tôi cũng mong muốn thu thập và trưng bày những hiện vật liên quan Chiến tranh Việt Nam, những ‘tàn tích’ mà có thể là một số loại vũ khí mà một số nơi vẫn còn lưu giữ được, tuy đó chưa phải là trọng tâm mà chúng tôi ưu tiên, so với điều mà chúng tôi đang mong muốn tìm hiểu là cách thức vận hành của nền chính trị và pháp lý của Việt Nam Cộng Hòa, và tất cả những gì có thể giúp chúng ta hình dung được về khung cảnh chính trị, về cách thức nền pháp lý vận hành, chúng tôi mong muốn có được những hiện vật đó.

Với những ai đang lưu trữ những hình ảnh, những tư liệu về thời kỳ đó, có thể liên lạc với chúng tôi, để chúng tôi tư vấn cách gửi cho chúng tôi tới văn phòng của chúng tôi ở Đài Bắc, mà địa chỉ chúng tôi cũng đã có để ở trên Website rồi, tuy nhiên với những ai muốn gửi cho chúng tôi những tư liệu, hiện vật đó, chúng tôi sẵn sàng tư vấn cách gửi.

Nó sẽ tốn một ít thời gian, một ít kinh phí và với một số hiện vật dễ vỡ chẳng hạn, sẽ cần một số cách thức đóng gói, vận chuyển sao đó cho được cẩn thận, và đó là một số phương cách rất đơn giản mà chúng tôi hiện đang nghĩ tới.”

vnchbookbyluatkhoa.jpeg
Những cuốn sách thời VNCH được thu thập bởi Dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa ở Đài Bắc. Hình: Legal Initiatives for Vietnam

Những cuốn sách được thu thập đến nay như thế nào?

Khi được hỏi về cách thức mà những cuốn sách cũ từ thời Việt Nam Cộng Hòa đã tìm được đường tới với Thư viện của Luật khoa Tạp chí, mà theo ông Trịnh Hữu Long sẽ trở một thành thành tố cốt lõi để phát triển dự án Bảo tàng về di sản nói trên, luật gia và nhà sưu tầm này nói:

“Thú thật là 300 cuốn sách được thu thập từ nhiều nguồn, và những nguồn này có thể được thu thập từ trong nước, cũng như từ ngoài nước, nhưng hầu hết từ trong nước và hiện nay quý vị cũng có thể thấy ở Việt Nam cũng có một số diễn đàn, một số trang mạng có bán lại những đầu sách cũ này.

Họ là những người sưu tầm, những người yêu thích sách vở, yêu thích lịch sử, họ thu thập lại những cuốn sách đó và họ bán lại trên diễn đàn mạng, và chúng tôi cứ lần theo những thông tin đó, chúng tôi cóp nhặt dần. Những cuốn sách ấy hiện nay không hẳn là bị cấm ở Việt Nam, nhưng không được chính thức lưu trữ trong các thư viện, hay không được bán trong các nhà sách chính thống, mà đây là những sách vở do những cá nhân thu thập, do những người buôn bán một cách nhỏ lẻ tiến hành.

Từ năm 2014 đến nay cũng gần 10 năm, chúng tôi tích góp dần thì được ngần ấy sách, vì số sách này tương đối đắt, sách hiếm, sách “cổ” cho nên có thể lên tới vài trăm Mỹ kim một cuốn. Trong kho sách của chúng tôi đa số là những cuốn sách về luật, về chính trị, mà quý vị có thể tìm thấy chẳng hạn những văn bản luật của Việt Nam Cộng Hòa như Bộ luật Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự, hình luật, Bộ luật Thương mại v.v…, chúng tôi còn có những bộ luật cổ hơn mà xuất bản dưới thời Việt Nam Cộng Hòa.

Ở đây, quý vị cũng có thể tìm thấy những tập san của Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng Hòa, trong đó có ghi các quyết định xét xử, các bản án, mà đã được xét xử thời kỳ đó, đấy là một nguồn tư liệu mà tôi nghĩ với những ai nghiên cứu về luật, thì đó là vô giá.

Ngoài ra, quý vị cũng có thể tìm thấy những cuốn sách về luật và chính trị học do Đại học Luật khoa Sài Gòn và Học viện Hành chánh Quốc gia Sài Gòn xuất bản trong thời kỳ đó, mà quý vị có thể tìm thấy những tên tuổi của những học giả rất nổi tiếng, ví dụ Vũ Văn Mẫu, hay Nguyễn Văn Bông, hay là Vũ Quốc Thông, có thể nói đó là những đại thụ trong nền chính trị học và luật học của nước ta (Việt Nam) trong lịch sử.

Về nội dung, đó là những cuốn sách rất có giá trị về mặt chuyên môn, về mặt tri thức, vì thứ nhất được viết một cách không có kiểm duyệt, các Giáo sư thời đó viết không có kiểm duyệt, thứ hai nữa là họ có bề dày về tri thức rất vững chắc, để có thể nắm bắt được các xu hướng tư tưởng trên thế giới và truyền đạt lại cho người Việt Nam thông qua những giáo trình đó.”

Ông Trịnh Hữu Long cho biết ông và các đồng nghiệp trong dự án Thư viện và Bảo tàng đã và đang tiến hành số hóa các cuốn sách và tư liệu, và đối với dự án Bảo tàng sẽ được xây dựng trong tương lai, ông cũng sẽ áp dụng những công nghệ mới, trong đó có công nghệ ảo trong trưng bày, giới thiệu tư liệu, hiện vật, và trong quá trình xây dựng, vận hành dự án, sẽ quan tâm những hợp tác, hỗ trợ từ chuyên môn cho tới nguồn lực.

Cần hợp tác hỗ trợ gì và khi nào Bảo tàng khai trương?

Về khía cạnh tìm kiếm sự giúp đỡ về các nguồn lực, trong đó có vấn đề thu thập hiện vận, ông Trịnh Hữu Long nói:

“Một trong những khó khăn của chúng tôi hiện nay là vấn đề nguồn kinh phí để có thể mua thêm được sách, để có thể thu thập thêm những hiện vật, để có phòng ốc trưng bày và lưu trữ những cuốn sách và những hiện vật.

Đó là những gì chúng tôi đang xúc tiến và chúng tôi rất mong muốn rằng quý khán, thính giả người Việt Nam ở khắp nơi, trong nước và ngoài nước, không những là những ai trăn trở về Việt Nam Cộng Hòa, mà còn là những người tò mò về lịch sử Việt Nam, những người mong muốn có một cái nhìn chân thực về lịch sử Việt Nam, mong muốn đi tìm tri thức pháp lý, tri thức chính trị, mong muốn đi tìm những câu trả lời cho tương lai chính trị của Việt Nam, có thể góp tay cùng với chúng tôi bằng nhiều cách.

Quý vị có thể đóng góp bằng tài chính, quý vị có thể đóng góp bằng hiện vật, bằng sách vở, hoặc làm một tình nguyện viên cho chúng tôi để dần dần thu thập sách vở và hiện vật để xây dựng nên Bảo tàng này.

Chúng tôi không muốn đại ngôn, hay nói lớn về dự án này, vì nó còn đang là một nỗ lực khiêm tốn, tuy nhiên tham vọng của chúng tôi là một tham vọng lớn, tham vọng của chúng tôi là có một kho dữ liệu rất đồ sộ, nếu không muốn nói là kho dữ liệu lớn nhất về Việt Nam Cộng Hòa mà có thể có được, mà điều ấy cần rất nhiều nỗ lực…

Tôi mong muốn rằng sẽ có nhiều bạn, nhiều cô, chú, bác, anh, chị em ở khắp nơi chung tay với chúng tôi, để xây dựng nên Bảo tàng này và nó được kỳ vọng sẽ là một dự án có thể tạo ra những thay đổi cực kỳ quan trọng trong việc nghiên cứu, tìm hiểu về thời kỳ chiến tranh Việt Nam, cũng như về Việt Nam Cộng Hòa…”

Khi được hỏi khi nào thì Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa sẽ được khai trương để công chúng quan tâm có thể tiếp cận, ông Trịnh Hữu Long, người chủ trì dự án đáp:

“Về Thư viện tại Đài Bắc, hiện nay chúng tôi đã tiếp nhận một số học giả, một số bạn sinh viên quan tâm tới nghiên cứu.

Chính thức ra, chúng tôi còn gặp một số hạn chế về điều kiện, không gian để có thể mở cửa, tiếp khách, tuy nhiên thư viện số hóa với những cuốn sách này, chúng tôi sẽ công bố rất sớm, và có lẽ trong năm nay, chúng tôi sẽ công bố thư viện này. Và đó sẽ là nỗ lực đầu tiên mang Thư viện này đến với công chúng.

Còn với dự án lớn hơn là dự án Bảo tàng di sản Việt Nam Cộng Hòa mà trong đó không chỉ có sách, mà còn có các hiện vật, chúng tôi mong muốn có thể khai trương dự án này vào thời điểm kỷ niệm 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam, đó là vào tháng tư năm 2025.

Nửa thế kỷ trôi qua, đó là lúc người Việt Nam sẽ cần những nỗ lực cực kỳ bài bản, nghiêm túc, chuyên nghiệp, và với tinh thần cầu thị, nhìn nhận về lịch sử, chúng tôi mong muốn 50 năm ngày kết thúc chiến tranh Việt Nam là thời điểm chúng tôi có thể công bố Bảo tàng này và từ đó chúng ta có thể bắt đầu những nỗ lực tiếp theo trong việc hàn gắn những vết thương chiến tranh qua việc tìm hiểu về Việt Nam Cộng Hòa và trong việc học hỏi từ Việt Nam Cộng Hòa, cho quá trình kiến tạo một quốc gia dân chủ trong tương lai; 50 năm là thời điểm rất xa rồi và chúng ta cần phải bắt đầu những nỗ lực như vậy.

“Và tháng tư năm 2025, chúng tôi hy vọng sẽ gặp được nhiều khán, thính giả của Đài RFA tại Đài Bắc để chúng ta có thể bắt đầu mở cửa, khai trương Bảo tàng này về di sản Việt Nam Cộng Hòa” –  luật gia, nhà hoạt động, nhà sưu tầm tư liệu về Việt Nam Cộng Hòa, ông Trịnh Hữu Long chia sẻ với RFA Tiếng Việt trên quan điểm riêng.

Luật Pháp XHCN vừa tức hộc máu vừa hài hước – Không được điều tra cái chết xảy ra trong đồn Công An, không được cải táng

Theo RFA

Con chết trong đồn công an, cha kêu oan thì bị bắt

Cha của nạn nhân chết bất minh trong đồn công an bị bắt do đòi hỏi làm rõ vụ việcLực lượng chức năng đọc lệnh khám xét, lệnh bắt tạm giam đối với bị ông Đào Bá Cường

 Công an Tuy Hòa-Phú Yên

Ông Đào Bá Cường, cha của nạn nhân Đào Bá Phi bị chết trong đồn Công an Tuy Hòa- Phú Yên hồi tháng 10 năm ngoái, bị khởi tố và bị bắt do kiên trì đòi hỏi làm sáng tỏ về cái chết của người con.

Trưởng Công an Thành phố Tuy Hòa – Thượng tá Nguyễn Hữu Sơn, ngày 27/4 cho truyền thông Nhà nước biết các biện pháp vừa nêu và cáo buộc đối với ông Đào Bá Cường là “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân” theo Điều 331, Bộ Luật Hình sự Việt Nam.

Công an Thành phố Tuy Hòa cho biết từ tháng 12/2022 đến tháng 4/2023, ông Đào Bá Cường nhiều lần gửi đơn đến các cơ quan chức năng yêu cầu giải quyết làm rõ một số nội dung liên quan đến cái chết của con trai Đào Bá Phi và đề nghị trả xác cho gia đình, cầu cứu giải oan cho con trai.

Như tin đã loan, Công an tỉnh Phú Yên vào ngày 20/10/2022 ra thông báo về vụ bắt giữ công dân Đào Bá Phi, ngụ ở phường 4, thành phố Tuy Hoà, vào ngày 16/10/2022 để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Lúc này ông Phi hoàn toàn khoẻ mạnh. Đến 5 giờ ngày 18/10, người bị tạm giam cùng ông Phi phát hiện ông Phi đang treo cổ trong phòng giam. Ông Phi được sơ cứu và đưa đến Trung tâm Y tế thị xã Đông Hoà nhưng không qua khỏi.

Theo thông cáo báo chí thì Công an thị xã Đông Hoà “đã thông báo về thời gian, địa điểm khám nghiệm tử thi và đề nghị đại diện gia đình Đào Bá Phi chứng kiến, nhưng gia đình đưa ra các điều kiện không phù hợp với quy định của pháp luật nên Hội đồng khám nghiệm đã tiến hành khám nghiệm tử thi Đào Bá Phi theo đúng trình tự, thủ tục tố tụng hình sự.”

Ngày 28/11/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Phú Yên kết thúc kiểm tra, xác minh và ra quyết định không khởi tố vụ án hình sự đối với vụ việc theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bà Đào Thị Quyên, chị gái của ông Đào Bá Phi, sau cái chết của người em trai, cho Đài Á Châu Tự do biết nhận được nhiều thông tin trái ngược với những điều mà phía công an đưa ra.

Theo lời bà Quyên, tầm 11 giờ trưa ngày 16/10, có ba người công an mặc thường phục vào nhà yêu cầu ông Phi lên công an phường 4, thành phố Tuy Hoà làm việc, mà không có giấy mời hay giấy triệu tập gì.

Đến trưa ngày 17/10, một cán bộ Công an thị xã Đông Hoà gọi điện cho gia đình thông báo ông Phi đã bị chuyển qua công an thị xã Đông Hoà, đồng thời yêu cầu người nhà mang hai bộ đồ với một ít tiền cho ông Phi ăn uống trong lúc bị tạm giữ.

Theo lời yêu cầu, ông Nguyễn Bá Cường, là cha của ông Phi, lên trụ sở công an gởi đồ thì thấy ông Phi đang bị còng tay. Nhìn thấy cha, ông Phi lớn tiếng kêu cứu.

Sáng ngày 18/10, Công an phường 4 và Công an thị xã Đông Hoà thông báo với gia đình là ông Phi đã chết do treo cổ tự tử. Bà Quyên cho biết ông Cường xin được nhìn con lần cuối, nhưng phía công an không đồng ý, họ yêu cầu ông Cường phải ký giấy đã nhận xác trước.Tối hôm đó, gia đình một lần nữa đến Công an thị xã Đông Hoà để đem xác ông Phi về, nhưng phía công an nói là phải đợi chỉ đạo của cơ quan có thẩm quyền:

Ngày 20/10, Bưu điện cùng lúc gởi cho ông Cường ba văn bản từ Công an thị xã Đông Hoà. Thứ nhất là Thông báo về việc giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với ông Đào Bá Phi để điều tra về hành vi trộm cắp tài sản. Thứ hai là Thông báo về việc người bị tạm giữ tự tử và thứ ba là Thông báo an táng người tạm giữ đã chết.

Bà Quyên cho biết, cho đến ngày 24/10, sau khi nhận thông báo ông Phi đã chết do tự tử, gia đình chưa một lần nào được nhìn mặt ông Phi. Công an cũng không cho gia đình biết ông Phi được an táng ở đâu.

Nhiều uẩn khúc trong vụ người bị tạm giữ chết trong đồn công an ở Phú Yên

Cho rằng phía cơ quan chức năng đang “bóp méo sự thật”, gia đình nạn nhân vào sáng ngày 19/10 mặc áo tang, tập trung ở đồn Công an thị xã Đông Hoà để đòi thi thể ông Phi. Một thành viên trong gia đình đã livestream lại vụ việc và video này nhanh chóng lan truyền trên mạng xã hội.

Công an Phú Yên thông tin vụ nghi phạm trộm xe chết trong nhà tạm giữ ảnh 1

Bà Quyên cho biết thêm, công an nói với gia đình rằng họ sẽ chỉ chỗ đã an táng ông Phi, với điều kiện gia đình phải ký giấy thoả thuận chỉ được bốc mộ cải táng sau 36 tháng.

Chính quyền VN: 48 năm vẫn cầm quyền như “lực lượng chiếm đóng”

Theo RFA

Quốc Phương, cộng tác viên RFA Tiếng Việt từ London

Chính quyền VN: 48 năm vẫn cầm quyền như "lực lượng chiếm đóng"Lực lượng an ninh đặt bảng cấm quay phim, chụp hình ở gần Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, trong khi có cuộc biểu tình nhỏ chống Trung Quốc diễn ra ngày 18/5/2014

 AP

Kể từ biến cố 30/4/1975, bốn mươi tám năm đã qua, thế nhưng chính quyền cộng sản Việt Nam vẫn ứng xử với đất nước “như một lực lượng chiếm đóng”, theo một nhà phân tích chính trị và hoạt động dân chủ, đa nguyên từ châu Âu.

“Chính quyền cộng sản ứng xử như một lực lượng chiếm đóng, tất cả những chức vụ dù rất nhỏ như là phó phòng, như là hạ sỹ quan, đều chỉ dành cho người cộng sản,” từ Paris, Pháp quốc, kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, người từng làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính trị tại đại học Minh Đức, Sài Gòn rồi giữ cương vị phụ tá Bộ trưởng kinh tế chính quyền Việt Nam Cộng Hòa thời Đệ nhị Cộng hòa với hàm Thứ trưởng cho đến ngày 30/4/1975, nói với đài Á Châu Tự Do tuần này trên quan điểm riêng, trong dịp nhìn lại và đánh dấu tròn 48 năm biến cố lịch sử đối với đất nước Việt Nam.

“Chúng ta đang có cả một thế hệ mới có kiến thức, hiểu biết, một thế hệ đã từ bỏ được di sản Khổng giáo để nhìn chính trị một cách đúng đắn như là một phương thức điều hành quốc gia mang lại phúc lợi cho người dân, một thế hệ rất là lớn.

Đảng cộng sản Việt Nam có bao nhiêu người? Tôi nghĩ rằng họ có 5 triệu đảng viên, nhưng mà thực ra, bỏ ra những vị đã về hưu rồi, thì còn lại khoảng 3 triệu đảng viên, họ là một thành phần rất là nhỏ. Nhưng mà họ chiếm lĩnh hết.

Vậy thì chúng ta có một thành phần trí thức trẻ có hiểu biết, đã rũ bỏ được văn hóa nhân sỹ của Khổng giáo, thành phần đó có kiến thức, có khả năng, rất nhiều anh em bây giờ đi du học tại Âu châu, hoặc du học tại Mỹ. Họ có những kiến thức dân chủ và tự do, nhưng họ bị gạt ra ngoài lề xã hội.”

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng, thành viên sáng lập Tập hợp Dân chủ Đa nguyên, một tổ chức tập hợp nhiều trí thức, nhân sỹ Việt Nam ở Pháp quốc, châu Âu và hải ngoại vốn có chủ trương vận động cho dân chủ và dân chủ hóa Việt Nam hậu 30/4/1975 bằng đường lối bất bạo động và trong tinh thần hòa giải dân tộc, đồng thời cổ súy cho các đối thoại chính trị đa nguyên, đưa ra một lời cảnh báo với chính quyền cộng sản Việt Nam ngày hôm nay, ông nói: 

“Những chức vụ dù nhỏ nhất cũng dành cho những người cộng sản, và tôi sợ rằng nếu đảng Cộng sản và những người cộng sản Việt Nam không ý thức được điều đó, nó có thể là một trái bom nổ chậm và không tránh khỏi thảm kịch đã xảy ra ở Romania, thảm kịch ở Indonesia.”

Tại Romania trước đây, chính phủ của Tổng Bí thư đảng Cộng sản Romania khi đó, ông Nicolae Ceaușescu bị lật đổ bởi một cuộc đảo chính vào tháng 12 năm 1989, theo trang Bách Khoa toàn thư mở Wikipedia phiên bản tiếng Việt, mà trong biến cố đó, ông Ceaușescu và vợ là Elena đã trốn khỏi thủ đô bằng trực thăng, nhưng họ đã bị quân đội bắt giữ và bị kết án với hình phạt cao nhất bởi các lực lượng đảo chính trong cuộc cách mạng này.

Còn tại Indonesia trước đây, những vụ thanh trừng tại đây trong giai đoạn hai năm 1965-1966 được cho là một cuộc thanh trừng chống cộng sản, sau một cuộc đảo chính không thành ở thủ đô Jakarta mà sau này cuộc đảo chính này bị đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Indonesia (PKI). Và vẫn theo trang mạng Wikipedia phiên bản tiếng Việt, một ước tính được chấp nhận rộng rãi nhất là hơn nửa triệu người đã thiệt mạng. Các cuộc thanh trừng là một sự kiện quan trọng trong quá trình chuyển đổi các “trật tự mới” với đảng Cộng sản Indonesia (PKI) đã bị loại bỏ như là một lực lượng chính trị và các biến động dẫn đến các sự sụp đổ của Tổng thống Sukarno, và bắt đầu thời kỳ cầm quyền 30 năm của tổng thống Suharto.

Và ông Nguyễn Gia Kiểng, vẫn trên quan điểm cá nhân, nói tiếp:

“Điều đó là điều mà không ai muốn, bởi vì đất nước Việt Nam, trên cơ thể Việt Nam, đã có quá nhiều vết thương rồi, và chúng ta không có quyền tạo ra một vết thương nào mới nữa. 

Chúng ta phải cố gắng một mặt phải giảng giải để cho các anh em cộng sản hiểu rằng tương lai nào bắt buộc phải có đối với Việt Nam; và mặt khác, chúng ta cũng phải giải thích cho những người tự coi là nạn nhân của chế độ hiểu rằng nếu chúng ta tiếp tục trong tinh thần thù hận, chúng ta sẽ còn tiếp tục là nạn nhân nữa. Con đường và lối thoát duy nhất, là lối thoát của sự quảng đại, của tình cảm dân tộc, của tình anh em.”

sach Nguyen Gia Kieng.jpg
Cuốn “Tổ Quốc Ăn Năn – Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới” của tác giả Nguyễn Gia Kiểng xuất bản tại Paris năm 2004 và cuốn “Khai Sáng Kỷ Nguyên Thứ Hai – Dự án chính trị dân chủ đa nguyên” do tác giả Nguyễn Gia Kiểng tham gia chấp bút, xuất bản và được in năm 2015 tại Hoa Kỳ. Ảnh: Quốc Phương/RFA

Khi được hỏi liệu một lực lượng chính trị nào đó lâu nay cầm quyền và củng cố quyền lực đã nắm được đó qua suốt nhiều thập niên liên tục, có thể nào dễ dàng và tự nhiên hay là không, làm một sự thay đổi mà có thể hiểu theo cách Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng đã đề cập, hay gợi ý như trên ở Việt Nam, cựu thành viên nội các chính quyền Việt Nam Cộng Hòa cho đến tận ngày 30/4/1975 và người đã từng có thời gian bị đi tù ‘học tập cải tạo’ dưới chính quyền cộng sản sau biến cố này, nói:

“Theo tôi, việc này dễ chứ không khó. Nếu chúng ta đọc lại chính những con số, những báo cáo của đảng Cộng sản Việt Nam, họ nói rằng trong 10 năm qua, họ đã kỷ luật 8.300 người về tội ‘tham nhũng’ mặc dù chiến dịch chống tham nhũng là một chiến dịch rất lớn, nhưng mà bên cạnh đó họ đã kỷ luật 25.000 người vì ‘suy thoái tư tưởng’, vì ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’.

Tức là tôi nghĩ rằng phong trào lớn nhất trong đảng Cộng sản Việt Nam hôm nay là phong trào hướng về dân chủ; và ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’ chính là một cụm từ để chỉ những người có khuynh hướng dân chủ. 

Tôi nghĩ chống tự diễn biến, tự chuyển hóa sự thực là một điều vô lý. Một mặt thì kêu gọi ‘đổi mới’, chủ trương ‘đổi mới’, một mặt lại chống ‘diễn biến’. Đổi mới là gì? Đổi mới là tự diễn biến chứ còn là gì nữa?

Nhưng mà họ muốn đổi mới mà không thay đổi và họ luẩn quẩn ở trong sự bế tắc của chủ nghĩa Marx-Lenin mà ngày nay cả thế giới nhận định là không những là sai lầm, mà còn độc hại nữa.

Thành ra tôi nghĩ họ không thể ngăn cản phong trào và tâm lý tự diễn biến, tự chuyển hóa được đâu. Và trong số 25 ngàn người mà bị quy là ‘tự diễn biến, tự chuyển hóa’ đó, phải có những người trong đó mà có tư tưởng, tức là những người trung cao cấp mà như thế.

Tôi nghĩ ngày hôm nay, niềm tin, niềm lạc quan chính là tinh thần dân chủ và tình cảm dân tộc đã xâm nhập vào đảng Cộng sản Việt Nam, và có những anh em ở trong đảng cộng sản đã nhận ra được rằng tương lai của họ không phải là với đảng cộng sản, mà là với dân tộc.”

Khi được hỏi liệu Việt Nam nói chung tới nay đã sẵn sàng hay chưa cho một sự đổi thay, hay cải tổ triệt để thể chế chính trị – xã hội mà có thể được toàn xã hội và nhân dân cùng các giới kỳ vọng, mong đợi, ông Nguyễn Gia Kiểng nói:

“Để trả lời câu hỏi trên, tôi nghĩ rằng chúng ta nhìn vào vấn đề, chúng ta nhìn vào thực tại, nhìn vào những vụ án như là vụ xử mới đây xử 6 năm tù giam mà lại xử kín với một người như là Kỹ sư Nguyễn Lân Thắng, bởi vì anh bị cho là đả kích cố Chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng hạn, nhìn vào đó, chúng ta thấy chế độ này còn tàn bạo, còn dữ dằn lắm.

Nhưng mà thực ra, nếu chúng ta bình tĩnh nghĩ lại, nhìn lại toàn cảnh của đất nước, chúng ta thấy rằng dân chủ hóa là không xa và tôi nghĩ hạn kỳ dân chủ hóa là tương đối gần. 

Tất cả vấn đề là tất cả chúng ta có quyết tâm hay không mà thôi, mà nếu chúng ta chủ trương phải dân chủ hóa trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, bằng đường lối gạt bỏ tất cả những âm mưu, những ý tưởng về bạo lực, có thể hạn kỳ dân chủ sẽ rất là gần và không những chỉ là gần mà nó còn đẹp nữa,” ông Nguyễn Gia Kiểng nêu quan điểm với RFA Tiếng Việt trên quan điểm riêng từ Lognes, thuộc Île-de-France, miền bắc nước Pháp trong dịp này.

Kỹ sư Nguyễn Gia Kiểng sinh năm 1942 tại Thái Bình, miền Bắc Việt Nam, trong một gia đình mà cha và các chú bác đều là đảng viên Việt Nam Quốc Dân Đảng, theo trang Wikipedia tiếng Việt. Năm 1954, ông di cư vào miền Nam cùng với gia đình. Nguyễn Gia Kiểng học hết trung học năm 1961 và được học bổng đi du học Pháp. Sau khi tốt nghiệp kỹ sư tại trường École Centrale de Paris, ông học thêm cao học kinh tế rồi làm việc tại Pháp 5 năm và về nước năm 1973. Về nước, dưới chế độ Việt Nam Cộng Hòa, ông làm chuyên viên ngân hàng và dạy môn kinh tế chính trị tại đại học Minh Đức Sài Gòn rồi làm phụ tá Bộ trưởng kinh tế với hàm Thứ trưởng cho đến ngày 30/4/1975. 

Sau ngày này, ông bị đưa đi tập trung cải tạo trong hơn ba năm rồi được sử dụng làm chuyên viên dưới chế độ mới cho đến khi được đi Pháp do sự can thiệp của chính phủ Pháp năm 1982. Năm 1982, trở lại Pháp, Nguyễn Gia Kiểng hành nghề kỹ sư và doanh nhân. Ông trở thành Chủ tịch, Tổng giám đốc một công ty tư vấn cho đến khi nghỉ hưu năm 2005, để dành toàn thời gian cho hoạt động chính trị, trong đó ông có thành lập một tổ chức chủ trương đối thoại chính trị đa nguyên, bất bạo động, mang tên gọi Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Ông là tác giả của cuốn sách chính luận bằng tiếng Việt “Tổ quốc ăn năn – Nghĩ lại đất nước trên ngưỡng cửa một thế kỷ và một thiên niên kỷ mới” (Paris, 2004), mà đã được dịch sang tiếng Anh dưới tựa đề “Whence… Whither… Viêtnam?). Năm 2015, ông cũng tham gia chấp bút một cuốn sách khác có tựa đề “Khai sáng kỷ nguyên thứ hai – Dự án chính trị dân chủ đa nguyên”.

Chính nghĩa Cờ Vàng tiếp tục tỏa sáng – Thống Đốc Tiểu Bang Michigan công nhận ngày tưởng niệm 30-4

  • Tin phấn khởi đến từ tiểu bang Michigan mà chủ tịch cộng đồng Việt Nam ở đó đã gọi là một món quà vô giá của Thống Đốc tiểu bang tặng cho đồng bào Việt Nam.
  • Tiểu bang Michigan lấy ngày 30-4 làm ngày tưởng niệm chiến sĩ Hoa Kỳ, Việt Nam và đồng bào thuyền nhân đã bỏ mình cho lý tưởng tự do.
  • Chính nghĩa VNCH ngày càng tỏa sáng sau một thời gian ngủ im.
  • Hoa Kỳ, Âu Châu thức tỉnh trước hiểm họa đe doa của Tàu Cộng, chính điều này giúp họ quan tâm hơn đến lý tưởng tự do nói chung.