19/06 ngày lễ kỷ niệm sự giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ

Hôm nay, ngày 19 tháng 06, ngày lễ để kỷ niệm sự giải phóng nô lệ ở Hoa Kỳ. Ngày lễ lần đầu tiên được tổ chức ở Texas, nơi vào ngày đó năm 1865, sau cuộc Nội chiến, những người nô lệ được tuyên bố tự do theo các điều khoản của Tuyên bố Giải phóng nô lệ năm 1862.

 

NHÀ VĂN TRẦN ĐĨNH – Người Tiết Lộ Những Chuyện “Động Trời”

Tuấn Khanh

Giới văn chương không chịu sự kiểm soát của Nhà nước, đã công khai bày tỏ sự thương tiếc với tin nhà văn Trần Đĩnh từ trần ngày 12 tháng năm năm 2022 tại nhà riêng ở Sài Gòn, hưởng thọ 93 tuổi. Trên các trang cá nhân, nhiều người đã viết những dòng kính trọng với một nhà báo, nhà văn suốt đời lận đận vì sự thật. Không thấy có dòng nào đưa tin về sự ra đi của ông trên báo chí nhà nước.

Tác phẩm gây sốc dư luận của nhà văn Trần Đĩnh, là bộ sách Đèn Cù. Trong một lần trò chuyện tại Sài Gòn, ông cho biết đã ôm ấp ý tưởng viết bộ ký lịch sử này, và thực hiện trong hơn 10 năm. Năm 1991, ông tạo những phác thảo đầu tiên và đến năm 2014, khi dàn khoan HD981 của Trung Cộng xuất hiện ở vùng biển thuộc chủ quyền kinh tế thuộc Việt Nam, ông quyết định gửi đi tại Mỹ (nhà xuất bản Người Việt Books). Tức thì cuốn sách gây rúng động với những câu chuyện kể đời làm báo của ông, và những điều mắt thấy tai nghe liên quan đến nhiều nhân vật quan trọng của Đảng Lao Động và Đảng Cộng sản Việt Nam.

Giải thích việc gửi ra nước ngoài in sách, ông Trần Đĩnh nói rằng “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Cuộc đời của nhà văn Trần Đĩnh, người cầm bút hơn 70 năm, bắt đầu với công việc ký giả cho tờ Sự Thật – một tờ báo chủ đích tuyên truyền do Trường Chinh làm Tổng biên tập. Nhà văn Trần Đĩnh sinh năm 1930. Năm 16 tuổi ông tham gia Việt Minh theo lời kêu gọi yêu nước, chống Pháp. Do làm việc trong một cơ quan báo chí cao nhất của Đảng, ông có cơ hội gặp gỡ hầu hết các khuôn mặt của chế độ từ Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Lê Duẩn, tới Lê Đức Thọ, Hoàng Tùng, Đỗ Mười… và những quan hệ này – như theo ông tâm tình trên BBC – đã giúp ông sớm nhận ra khuôn mặt thật của giới lãnh đạo cộng sản.

Trần Đĩnh thuộc lớp đảng viên tiên phong gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam từ năm 1948. Ông là người được tin cậy để được trao nhiệm vụ chấp bút tiểu sử của ông Hồ Chí Minh, chấp bút những tự truyện của nhiều nhân vật như Phạm Hùng, Lê Văn Lương, Bùi Lâm, Nguyễn Đức Thuận… nên những gì ông kể trong bản văn Đèn Cù, là có thể tin cậy được.

Khi Đảng Cộng sản Việt Nam đưa vấn đề chọn lựa tư tưởng Mao để chống xét lại, tức là chống lại chủ trương sống chung hoà bình do Tổng bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô lúc bấy giờ là Nikita Khrushchev đưa ra, theo Trần Đĩnh, ông đã ủng hộ lập trường của Khrushchev và chống tư tưởng Mao, nên bị ghép vào tội “chống đảng”. Mặc dù không bị bắt như anh ruột ông là Trần Châu, hay như những người khác như Hoàng Minh Chính, Vũ Thư Hiên, hoặc phải sống lưu vong như Nguyễn Minh Cần…, nhưng ông bị đày đi cải tạo lao động. Sau đó, tuy ông được xét làm báo trở lại nhưng với điều kiện: Không được ký tên Trần Đĩnh, chỉ viết về nông nghiệp, và không được viết anh hùng, chiến sĩ thi đua và cấp ủy cao. Cuối cùng là không được ở gần thanh niên, bởi sẽ gây tiêm nhiễm tư tưởng phản động cho thế hệ trẻ. Sau khi đất nước thống nhất, năm 1976 Trần Đĩnh bị khai trừ khỏi Đảng Cộng sản Việt Nam.

Bộ sách 600 trang của ông Trần Đĩnh đã tiết lộ nhiều chuyện “động trời”, trong đó, một trong những chuyện được nhiều người Việt trong và ngoài nước đọc qua, đã bàn tán không ngớt như chuyện ông Hồ Chí Minh và Trường Chinh cải trang đến tham dự buổi đấu tố cụ bà Nguyễn Thị Năm (Cát Hanh Long): “Cụ Hồ bịt râu đến dự một buổi và Trường Chinh thì đeo kính râm suốt.” (trang 84).

Đã có lần trong một cuộc phỏng vấn, khi được hỏi là những điều ông kể có chứng cứ không, ông Trần Đĩnh đã bật cười nói “Nó là cuộc đời tôi, diễn ra chung quanh tôi. Rất nhiều người cùng thời với tôi chứng kiến nay đã chết, họ đã mang những chứng cứ đó xuồng mồ, nên tôi phải viết lại”.

Câu trả lời thú vị nhất của ông, là khi được hỏi ông viết cuốn hồi ký với nhiều chi tiết gây sốc này, với mục đích gì. “Đèn Cù là tiếng kêu đau của tôi”, nhà văn Trần Đĩnh nói. Ông mô tả rằng người ta làm và sống với những điều tự nhiên, như đau thì phải kêu, và thấy sự thật, phải kể lại. “Đến lúc tôi phải viết xuống vì không thể để ai bịa đặt hay muốn nói như thế nào cũng được”, nhà văn Trần Đĩnh nói.

Lúc sinh thời, trong thời gian sống và làm việc tự do ở Sài Gòn, nhà văn Trần Đĩnh còn là dịch giả của nhiều tác phẩm văn học, như Linh Sơn của Cao Hành Kiện, Ngầm của Murakami Haruki.

Sau khi sách Đèn Cù trở thành một cú chấn động trong đời sống của người đọc sách, người quan tâm chính trị, báo chí nước ngoài gọi điện thăm hỏi rằng ông có bị khó dễ gì vì bộ sách này hay không, ông trả lời “Tôi đã đến tuổi không còn thấy điều gì làm khó được mình”.

Tuấn Khanh
Ng: Anh Huy.

From: Tu-Phung


 

Việt Nam Hôm Nay – Đỗ Duy Ngọc

Nhóm Thân Hữu NNHN

“Đánh cho Mỹ cút Ngụy nhào.

Đánh cho chết mẹ đồng bào miền Nam…”

– Bùi Giáng (?)

  1. Chơi  thể thao

Nhiều bữa không ngủ được, nằm nghĩ toàn mấy chuyện tào lao.  Ví dụ như những năm sau 1975, cơm không có mà ăn; ăn toàn bo bo với khoai mì, thức ăn toàn cá ươn và rau héo. Lúc đó chỉ mong có bát cơm trắng, bữa cơm có thịt. Giải trí thì chỉ quanh quẩn mấy bài ca cách mạng; thể thao thì chỉ loanh quanh bóng đá, bóng chuyền.

Thời mở cửa, tiền bạc khá hơn, đời sống được nâng cao, bắt đầu xuất hiện phong trào chơi “Tennis.” Thật ra trước 75, ở miền Nam, “Tennis” cũng là bộ môn có khá nhiều người chơi, nhưng toàn là tướng tá, nhà giàu, công chức cấp cao vì sân “Tennis” không nhiều mà dụng cụ thì giá rất đắt.

Từ cuối thập niên 80, phong trào chơi “Tennis” nở rộ; sân “Tennis” mở ra nhiều; Vợt, banh, giày, vớ, áo quần được nhập về; và “Tennis” lúc đó là thú chơi của người có tiền, nhất là cán bộ. Ra đường mà mặc bộ đồ đánh “Tennis” trắng, giày hiệu Adidas, Nike… với vợt hiệu Wilson, Head… chính hãng là quý tộc rồi.

Vẫn biết đó là môn thể thao để mang lại sức khoẻ. Thế nhưng lắm người đến với bộ môn này để khoe khoang. Thời đó là thú chơi trưởng giả, có “đẳng cấp” cao trong xã hội.

Ngồi đâu cũng nghe bàn về “Tennis,” thể hiện đẳng cấp.  Dần dà, khi phong trào “Golf” du nhập vào, nhiều sân “Golf “xây lên, 18, 36 lỗ đều có đủ. Người ta lấy luôn đất sân bay làm sân “Golf.” Từ đó “Tennis” thành trò chơi bình dân, ít vốn, không còn được nhắc đến nhiều nữa.

Từ đấy “Golf” mới là quý tộc, là đẳng cấp, là dân chơi thứ thiệt.  Đi vào thế giới của trưởng giả, của trọc phú, của doanh nhân, của cán bộ đều bàn chuyện “Golf”; và giá cả của các món đồ phục vụ thú chơi này với giá cao ngất ngưỡng.

Tennis” xuống giá. “Golf” lên giá.

Giá trị của “đẳng cấp” đã thay đổi.

  1. Chuyện ăn chay / ăn thịt

Một thời người ta mong có miếng thịt mỡ để có chất béo, để rán, để chiên. Mong có miếng thịt nạc để có thêm chất đạm.

Đến khi mở cửa, thức ăn tràn trề, thích gì có đấy, chỉ sợ không có tiền thì lại rộ lên phong trào ăn chay.

Doanh nhân bạc tỷ cũng ăn chay; nghệ sĩ, người mẫu cũng ăn chay; tu cũng chay mà không tu cũng chay.  Tiệm cơm chay mở ra tràn ngập, bình dân có, sang chảnh có. Đi đâu cũng nghe bàn chuyện ăn rau cỏ. Vào nhà hàng sang trọng, giá cả trên trời cũng chỉ gọi món rau trộn. Ăn chay trở thành phong trào, trở thành mốt thời thượng.

Ngược với ăn chay lại có một xu hướng kiếm ăn thịt thú rừng.  Thú càng hiếm càng quý, càng được săn đuổi. Thưởng thức thịt rừng là một thú vui quý tộc. Ăn những món ăn bình thường là tầm thường, phải tay gấu, óc khỉ, mật rắn, chồn hương, tê tê…  rồi sừng tê, mật gấu, cao hổ, nhung hươu mới là dân chơi thứ thiệt.

Chay hay mặn…  Cán bộ ta toàn là dân chơi thứ thiệt!

  1. Chuyện cúng bái / mê muội

Từ chuyện ăn chay lại dẫn đến chuyện tu hành.  Xã hội càng tàn bạo, khát máu, bạo lực, lừa lọc, dối trá, láo toét thì người nói chuyện tu hành, kinh kệ càng nhiều.  Chùa chiền mọc lên như nấm.

Thằng du đãng giết người cướp của, bà cho vay nặng lãi, chứa gái, buôn ma tuý, cán bộ tham nhũng, cướp đất của dân ngày rằm, mồng một, lễ, vía… đều mang tiền, dâng hương, vàng mã cúng lạy Phật.  Họ cầu chức, cầu tiền, làm ăn phát đạt. Họ cầu giàu càng giàu thêm, ghế càng cao thêm, chức tước bổng lộc càng nhiều hơn.

Bởi có chức là có tiền, có nhà to, có đô la, hột xoàn, vàng ký.

  1. Chuyện tu theo phong trào

Chưa bao giờ mà câu “A-Di-Đà-Phật” lại xuất hiện nhiều trên cửa miệng dân gian nhiều đến thế.  Nó tràn đầy trong các mạng xã hội, đầy dẫy trong các “comment.”  Tự hỏi họ có hiểu câu ấy muốn nói điều gì, ẩn chứa tư tưởng gì, chắc hẳn chẳng mấy người hiểu.

Họ bắt con chim đang sống tự do trên trời, con cá đang sống hạnh phúc dưới nước nhốt vào lồng, vào chậu, giam đói, chết khát rồi đúng giờ, đúng ngày đem thả ra gọi là phóng sinh.  Sát sinh chứ phóng sinh nỗi gì?

Tu theo phong trào, đọc kinh ê a theo phong trào, dạy người khác đạo lý, tín điều cũng theo phong trào.  Trở thành một xã hội cuồng tín và mê muội.  Một thời loạn tăng, loạn pháp…

Một số không ít thầy tu thuyết pháp toàn nói chuyện vớ vẩn, phản khoa học, công kích, nói xấu các tôn giáo khác.  Xu nịnh người giàu, coi thường kẻ nghèo, cứ bước vào chùa là thấy rõ. Chùa thành doanh nghiệp,  thầy tu thành doanh nhân,  loạn xà ngầu cả lên.

  1. Phong trào từ thiện

Bản chất của việc từ thiện là sự chia sẻ, là chuyện tốt, Nhưng làm từ thiện mà khoe khoang cho tất thảy mọi người, mà tự hào xem đó là công trạng thì chưa hiểu hết nghĩa bố thí của nhà Phật.

Vật để cho là mối liên kết giữa người cho và kẻ nhận. Vật này trước tiên hết phải thuộc về người cho sở hữu, nghĩa là nó là vật của người cho (chứ không phải là lấy của người, hay của công rồi đem cho!).

Cho một vật không phải của mình thời không thành nghĩa bố thí được. Sau khi cho, vật ấy trở thành vật của người nhận, và người cho không còn quyền hạn gì đối với vật ấy nữa.  Cho như thế có nghĩa là “xả bỏ” các sở hữu của mình, “xả bỏ” những gì mà mình có.

Còn cho rồi mà vẫn cầu ân, kể lể thì đó chỉ là làm cho cái tôi của mình chứ chẳng phải vì tha nhân.

  1. Chuyện chơi lan, chơi “Bonsai” đột biến

Chơi lan, chơi “bonsai là thú vui tao nhã.  Nhưng rồi người ta không dừng lại đó, đưa tới chuyện phá rừng, cưa cây đem về trưng bày trong vườn nhà.

Cây trăm năm trong rừng già biến thành chậu “bonsai” cho lớp người nhà giàu mới. Cây lan biến hoá thành đột biến giá cả trăm tỷ đồng.

Những thú chơi thanh lịch ngàn năm biến thành những trò cờ bạc, lọc lừa.

  1. Phong trào lạ – Mặc quân phục lính Mỹ, lính VNCH và hát nhạc lính miền Nam.

Có một hiện tượng khó mà cắt nghĩa được là hiện nay ở miền Bắc có phong trào mặc quân phục lính Mỹ, lính Việt Nam Cộng Hoà, hát nhạc lính miền Nam rất rầm rộ.

Họ tụ tập thành hội đoàn rất đông, có tổ chức đàng hoàng dù ngày xưa chửi Mỹ, hô hào “Đánh cho Mỹ cút, Nguỵ nhào!” Nam thanh, nữ tú đủ cả.  Mỗi lần họ tập họp nhìn y như cả tiểu đoàn quân đội VNCH đang chuẩn bị hành quân diệt cộng!

Nhìn mặt họ hân hoan, sung sướng, tự hào, thoả mãn mới chết người!

Thế là sao nhỉ?

  1. Chuyện Phản quốc (?)

Cũng một thời, người ta toàn nói chuyện yêu nước thương dân, lòng ái quốc, nghĩa đồng bào.  Những gia đình vượt biên bị niêm phong với dấu đỏ lòm là phản quốc.

Giờ thì ngồi đâu cũng nói chuyện Mỹ, chuyện Pháp, chuyện Anh.  Người Việt ngày xưa trốn chạy, vượt biên giờ trở thành “khúc ruột ngàn dặm.

Con cán bộ từ cấp trung đến cấp cao đều du học Mỹ. Nhiều cán bộ chưa về hưu đã có thẻ xanh lận túi, chờ đến giờ là vọt qua Mỹ.

Thế mới thấy trên đời này mọi giá trị chẳng có chi là vĩnh cửu.

  1. Chuyện giàu sang

Trong tiếng Việt chữ giàu đi với chữ sang.

Nhưng thời nay, giàu tiền thì nhiều nhưng mà sang thì không có mấy.  Đốt đuốc cũng khó tìm ra.  Bởi sang nằm trong cốt cách, trong cách ứng xử, trong trí tuệ, trong ngôn ngữ thể hiện, trong điệu đi, cách nói, kiểu cười.

Chẳng phải chơi “Golf” mà sang. Cũng chẳng phải có cây hoa quý đắt tiền mà sang. Cũng chẳng phải tiền muôn, bạc tỷ mà sang.

Chẳng phải có chút sắc đẹp, có chút địa vị xã hội, có hột xoàn cả ký, có nhiều người xu nịnh tiền hô hậu ủng mà sang…

Hết biết!

Đỗ Duy Ngọc

Trần Văn Giang (ghi lại)

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Trần Duy Sơn is with Son Tran.

Một thời gian ta dài tưởng đó là chân lý chễm chệ vị thế giảng đường sinh vật học với những bộ óc giáo sư kiệt xuất hậu thuẫn cho con vượn rụng lông hóa kiếp người.

Theo thời gian hóa ra phi lý tỏ tường .

Chỉ là Thuyết thôi mà, Darwin nào có tội

Chỉ tại loài người đã tự phong cùng chung giống

Người Việt trong nước cuối cùng đã lên tiếng rất nhiều về xe VinFast

Sự thật không thể che dấu nhất là về phương diện kỹ thuật, sự gian dối khi bị công chúng khám phá thì sẽ bị ghét bỏ và tẩy chay.

Đó là lý do chính làm cho xe VinFast bị ghét và chê trách quá thê thảm ở trong nước.

Tâm sự của một khổ chủ mới mua xe có 12 ngày, rất tội nghiệp:

  • Nói chuyện muốn khóc luôn.
  • Xe dán băng keo từ nhà sản xuất nguyên thủy.
  • Vì lý do gì mà các nạn nhân đã cả tin VinFast để rồi phải khổ như vậy? Chủ xe trả lời luôn.

Các người sắp mua xe nên xem clip này, vì được biết các kinh nghiệm rất đau lòng của các nạn nhân xe Vin Phét.

Khi Pin bị nóng chớ chạy xe trên xa lộ, rất nguy hiểm vì tốc độ bị  chậm còn chỉ có 21Km/h.

Ba tháng trước đây, có một người Singapore đang làm việc ở Việt Nam, ông Tom Peng mua xe VF8 để chạy thử, xe đã bị lỗi chết máy dọc đường và phải nằm ụ ở trạm sửa của VinFast hàng tuần lễ.

Đến nay, khi ông hào hứng mua xe VF9 cao cấp hơn vì họ (VinFast) đã rút tỉa kinh nghiệm kỹ thuật phần mềm nhiều hơn,  theo cách nói khuyến dụ của hãng Vin, chạy được mới có vài tuần thì xe mới cũng lại bị chết máy trong lúc đậu (cũng may không bị chết máy trên xa lộ như người khác)…

Mời Bạn nghe ông phàn nàn:

 

Chuyện gì sẽ tới trong tương lai gần: Một nghĩa địa cho xe VinFast.

Mời bạn đọc bài về nghĩa địa cho xe dỏm ở Trung Quốc và Việt Nam

 

Một Người Cộng Sản tương đối tỉnh táo nói gì về thành quả Cộng Sản sau 25 năm với 5 lần Đại Hội Đảng

Ông Nguyễn Bá Thanh nói Hàn Quốc chỉ cần 25 năm là họ dư sức chuyển mình từ đất nước nông nghiệp sang công nghiệp,  còn Đảng Cộng Sản 25 năm thì … Không làm được bao nhiêu, càng yếu kém và phức tạp hơn.

Còn gì là đất nước Việt Nam ta!

Cám ơn một người Cộng Sản can đảm và tự chuyển biến.

Điều vô cùng thiệt thòi cho nước Việt Nam là ông Nguyễn Bá Thanh đã bị Cộng Sản ta, Cộng Sản Tầu thuốc chết!

Bản án chết đương nhiên phải đến từ Cộng Sản Trung Ương cho người yêu nước Nguyễn Bá Thanh, nhưng mà tội cho tương lai dân tộc của tôi.

Hy vọng sẽ còn các Nguyễn Bá Thanh, Võ văn Kiệt tự chuyển biến  trong Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng, mong mau có Gorbachev ở đảng Cộng Sản Việt Nam cho dân tộc Việt Nam được hết lầm than.

10 bí quyết sống hạnh phúc của Đức Thánh Cha Phanxic

Đức Thánh Cha từng đưa ra 10 chỉ dẫn để mang lại niềm vui cho cuộc sống của mình như sau:

  1. “Sống và hãy sống”. Tất cả mọi người nên làm theo nguyên lý này. Ở Rôma có một câu nói thời danh tương tự: “tiến lên và giúp người khác tiến lên.”
  2. “Hãy trao ban bản thân cho người khác.” Mọi người cần mở ra và quảng đại với người khác. Nếu bạn co cụm vào chính mình, bạn có nguy cơ trở thành ích kỷ. Nước không thông sẽ trở nên hôi thối.
  3. “Giữ điềm tĩnh trong cuộc sống.” Đức Thánh Cha, sử dụng hình ảnh nước trong một cuốn tiểu thuyết của Ricardo Guiraldes, Argentina, trong đó nhân vật chính Gaucho Don Segundo Sombra nhìn lại cuộc sống của mình như sau: “Tuổi trẻ tôi sống sôi động như một dòng thác lũ; khi trưởng thành nó trôi đi như một dòng sông, và khi tuổi già nó lặng lẽ như mặt hồ.” ĐTC nói rằng, ngài thích hình ảnh của mặt hồ vì “nước trôi cách tử tế và khiêm nhường, một sự điềm tĩnh trong cuộc sống.”
  4. “Một cảm thức về nghệ thuật.” Tìm niềm vui nơi nghệ thuật, văn học và vui chơi với con cái. Ngài nói “Xã hội tiêu thụ làm cho chúng ta lo lắng quá nhiều và căng thẳng, khiến mọi người mất đi một “nền văn hóa lành mạnh của giải trí.” Thời gian dường như “nuốt chửng” con người để rồi họ không còn có thể chia sẻ cho nhau được nữa.

Dù các bậc cha mẹ làm việc nhiều giờ, nhưng phải dành thời gian để chơi với con cái; ngài nói: lịch làm việc dầy kín, nhưng bạn phải dành thời gian cho con cái. Các gia đình cũng phải tắt TV để trò chuyện khi ngồi ăn chung với nhau. Dù truyền hình rất hữu ích cho việc cung cấp thông tin nhưng “không thể thay thế việc giao tiếp” với nhau.

  1. “Nghỉ ngơi ngày Chủ nhật.” Công nhân còn được nghỉ ngày Chủ nhật vì vậy “Chủ nhật là dành cho gia đình”.
  2. “Tìm những sáng kiến để tạo công ăn việc làm tốt cho người trẻ.” Chúng ta cần giúp cho người trẻ có công việc. Nếu người trẻ không có cơ hội làm việc sẽ dễ đi vào nghiện ngập, dễ bị tổn thương đưa đến việc tự sát. Tạo công việc cho họ không chưa đủ. Cho họ nhận ra phẩm giá từ đôi bàn tay lao động của chính mình.
  3. “Tôn trọng và bảo vệ thiên nhiên.” Suy thoái môi trường là một trong những thách đố lớn nhất của chúng ta. Tôi nghĩ đến một câu hỏi mà chúng ta phải chất vấn luôn mãi là: Con người sẽ tự hủy diệt mình bằng việc sử dụng bừa bãi và độc tài trên thiên nhiên?
  4. “Ngăn chặn tiêu cực.” Nói xấu về người khác là hạ thấp lòng tự trọng của mình. Mang nghĩa là: Tôi cảm thấy yếu kém thay vì tự thân vươn lên tôi hạ người khác xuống bằng cách nói những điều tiêu cực về người khác.
  5. “Không chiêu dụ người khác theo tôn giáo; tôn trọng niềm tin của người khác.” Chúng ta có thể truyền cảm hứng cho những người khác bằng việc làm chứng để cùng lớn lên qua sự liên hệ giao tiếp. Nhưng điều tồi tệ là chiêu dụ người khác theo tôn giáo mình. Đừng bàn chuyện để thuyết phục người khác. Mỗi người có một bản sắc và cá tính riêng của mình. Giáo Hội phát triển nhờ sự ảnh hưởng chứ không phải là chiêu dụ người khác theo đạo.
  6. “Kiến tạo hòa bình.” Chúng ta đang sống vào thời điểm của nhiều cuộc chiến, lời kêu gọi hòa bình phải được la lên. Hòa bình đôi khi cho cảm giác là tĩnh lặng, nhưng không phải là thụ động hòa bình luôn luôn là chủ động và năng động.

Lm. Trương Hoàng Vũ DCCT

Niềm Vui Tin Mừng

Nhân bi kịch ở Đăk Lăk, nhắc lại đôi điều “ôn cố tri tân”

Báo Tiếng Dân

Lê Nguyễn

18-6-2023

Tổng thống Ngô Đình Diệm (ngồi) và anh trai là Giám mục Ngô Đình Thục (áo đen) trong một buổi lễ đón năm mới ở Tây Nguyên năm 1957. Ảnh: John Dominis/LIFE

Tôi muốn gọi những biến động vừa xảy ra ở Daklak (xưa viết là Darlac) là một bi kịch, bi kịch trong mối quan hệ giữa những tộc người đã chung sống với nhau hàng ngàn năm qua, từ khi “nước sông không phạm nước giếng” đến những năm dài chan hòa cuộc sống, và gần đây là những trận đụng độ kinh hoàng.

Lịch sử ghi chép rằng, cho đến thời các chúa Nguyễn, nơi sinh sống của các tộc người trên Tây Nguyên ngày nay vẫn được gọi là “nước”. Năm 1751, đời chúa Võ vương Nguyễn Phúc Khoát, (trích) “Thủy Xá, Hỏa Xá vào cống. Hai nước ở phía trên nước Nam Bàn (khi Lê Thánh Tông đánh được Chiêm Thành, dòng dõi nước ấy làm vua nước Nam Bàn, cắt cho đất từ núi Thạch Bi về phía Tây), thôn lạc có hơn năm chục, giữa có núi Bà Nam rất cao, vua Thủy Xá ở phía Đông núi, vua Hỏa Xá ở phía Tây núi. Buổi quốc sơ, vì cớ họ giáp giới với Phú Yên, cứ 5 năm một lần sai người đến các nước ấy cho quà (áo gấm, mũ, nồi đồng, chảo sắt và chén đĩa bằng sứ). Vua hai nước ấy nhận được vật cho, tức thì sắm sửa phẩm vật địa phương (kỳ nam, sáp ong, nhung hươu, mật gấu, voi đực) để hiến. Tới đây, sai sứ sang cống. Chúa hậu tứ rồi cho về”. (Hết trích) – (Đại Nam thực lục – Tập một – NXB Giáo Dục 2002, trang 157).

Xem như thế, thấy rằng thời các chúa Nguyễn, chúa chủ động thể hiện tình lân bang bằng cách cho mang quà tặng hảo trước cho những sắc tộc sống ở Tây Nguyên ngày nay. Đó là cách thu phục chính danh nhất của kẻ bề trên, khiến người dưới chiếu cảm kích mà tuân phục. Năm 1794, dù cho cuộc chiến với nhà Tây Sơn đang hồi gay cấn, song khi vua Thủy Xá ở Tây Nguyên lên ngôi, chúa Nguyễn Ánh vẫn không quên ban phẩm vật cho, và vị vua này đã “sai man thuộc đến thông hiếu ở thượng đạo Phú Yên, xin làm phiên thuộc và xin ban ơn cho” (Đại Nam thực lục – sđd, trang 311).

Năm 1803, khi vua Gia Long đã thống nhất đất nước, vua hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá lại sai sứ đến quy phục tại Phú Yên, vua lại sai ban phẩm vật cho (ĐNTL, sđd, trang 556). Mối quan hệ hữu hảo đó kéo dài cho đến khi Việt Nam hoàn toàn nằm dưới ách đô hộ của người Pháp.

Về phần người Pháp, có lẽ do còn phải đối phó với nhiều biến động dưới đồng bằng nên gần như trong suốt thế kỷ XIX, họ không quan tâm lắm đến vùng gọi là Tây Nguyên ngày nay. Song các giáo sĩ phương Tây thì không thế. Ngay vào năm 1848, nghĩa là hơn 10 năm trước khi Pháp áp đặt chế độ thuộc địa cho Việt Nam, một số giáo sĩ Pháp như Combes, Fontaine đã lặn lội lên vùng này, cất chòi sống chung đụng với người Bahnar để thực hiện sứ mạng truyền đạo do Giáo hội La Mã giao phó.

Sự chung đụng gợi ra nhiều nghi kỵ cho người bản địa, song sau một trận dịch đậu mùa, các giáo sĩ tiêm chủng cho họ và cứu mạng nhiều người, mối quan hệ giữa hai bên dần tốt đẹp lên. Việc giảng đạo đạt kết quả, các giáo sĩ dạy cho người bản địa cách cày bừa, trồng lúa và trở thành cố vấn cho họ về nhiều mặt của đời sống. Năm 1854, có 4 giáo sĩ Pháp bị triều đình Huế truy sát, họ lang thang trong rừng nhiều ngày, sau được người Bahnar cứu thoát (Lê Nguyễn – Cuộc phiêu lưu của Marie Đệ nhất, quốc vương xứ Sedang – NXB Tổng hợp TPHCM 2019, từ trang 49).

Cho đến những thập niên cuối thế kỷ XIX, mối quan hệ giữa người Kinh và các sắc tộc thiểu số vẫn diễn ra tốt đẹp. An Khê, khu vực địa đầu của tỉnh Bình Định, trở thành một trung tâm thương mại nhỏ, nơi người Việt dưới đồng bằng mang hàng hóa, thực phẩm lên để đổi lấy thổ sản vùng cao. Ca dao thời ấy có câu:

Ai về nhắn với nậu nguồn,

Măng le gùi xuống, cá chuồn chở lên.

Người miền xuôi (người Kinh) mang lên muối, các loại hải sản (cá, tôm, cua..), kim loại (thiếc, đồng…) đổi lấy thổ sản miền ngược (Tây Nguyên ngày nay) như gạo, thuốc lá, sáp ong, mật ong, sừng tê giác… Chuyện mua bán, đổi chác giữa hai tộc người hầu như không thấy gì bất ổn xảy ra.

Về phần thực dân Pháp, có thể nói trong suốt thế kỷ XIX, họ không bận tâm đến vùng Tây Nguyên. Trừ một trường hợp vào năm 1888, khi Toàn quyền Đông Dương Constans nhận được tin một đoàn khảo sát người Đức đang tiếp xúc với chính quyền Xiêm (Thái Lan) và Ai Lao (Lào) về nhiều điều chưa được biết rõ. Ông ta lo ngại là những người Âu này sẽ dòm ngó vùng Tây Nguyên và khống chế hay chiếm hữu nó, vì thế, đã nhờ một tay viết báo thích phiêu lưu mạo hiểm tên David de Mayréna lên Tây Nguyên, kết hợp các bộ tộc chính như Bahnar, Djarai, Sedang… đặt dưới sự quản lý hay ít ra cũng dưới sự chi phối của chính quyền Pháp.

Nhờ tài ứng biến, sự lanh lợi và may mắn, De Mayréna hoàn thành mỹ mãn sứ mạng được giao phó, song sang đến viên Toàn quyền kế nhiệm Constans là Richaud, có lẽ vì thấy sự lo ngại của Constans đã không xảy ra, phần khác, do De Mayréna làm nhiều việc không bình thường trên cái gọi là “vương quốc Sedang” mà đang từ kẻ có công lớn, De Mayréna trở thành kẻ tội đồ.

Mãi đến những năm đầu thập niên 1890, sau khi nhà bác học Yersin tìm ra cao nguyên Langbian (Lâm Viên), căn cứ vào tình trạng khí hậu và thổ nhưỡng tốt của vùng đất này, chính quyền Pháp quyết định biến nơi đây thành nơi nghỉ dưỡng của bọn thực dân da trắng.

Năm 1904, một biến động lớn xảy ra. Người bản địa dưới quyền hai quốc vương Thủy Xá và Hỏa Xá phản ứng lại chính sách trực trị của người Pháp đang manh nha trên lãnh thổ họ. Họ mời viên công sứ Odend’han đến ăn yến rồi mai phục hạ sát ông này cùng 7 người giúp việc (Đại Nam thực lục chính biên – Đệ lục kỷ phụ biên – NXB Văn hóa-Văn nghệ 2011, trang 419, cùng một bài viết của tiến sĩ Nguyễn Văn Huy). Từ đó, thực dân Pháp xóa sổ hai vương quốc Thủy Xá và Hỏa Xá.

Nhiều người trong chúng ta biết rằng, vào thời Pháp thuộc, người Kinh gọi người sống ở vùng Tây Nguyên ngày nay là “Mọi”. Lớp người sinh trưởng tại miền Nam vào thập niên 1940 trở về trước thường nghe cụm từ “mọi cà răng căng tai” dùng để chỉ người miền Thượng, vì nhiều tộc người cà cho hàm răng của họ ngắn lại, đeo những chiếc vòng nặng trĩu trên tai, khiến dái tai họ to ra và trĩu xuống.

Từ cách gọi của người Kinh, người Pháp cũng gọi họ là Moi hay Mois.

Từ “mọi” gợi ra một cái gì đó thấp kém, lạc hậu và dã man nữa. Thời Đệ nhất Cộng hòa, chính quyền Ngô Đình Diệm cấm chỉ gọi họ là “mọi”, mà gọi là “người Thượng”, thậm chí là “đồng bào Thượng”. Từ “đồng bào” có lẽ được sử dụng với một nghĩa bao quát hơn, chỉ những tộc người sống thành một cộng đồng rộng lớn bên dưới đại lục Trung Hoa. Từ đó, khẩu hiệu “Kinh-Thượng một nhà” rất phổ biến trên các biểu ngữ, các phương tiện truyền thông.

Song song với hai từ Kinh-Thượng, về mặt lãnh thổ lúc bấy giờ, miền Trung được chia thành hai vùng rõ rệt là vùng “cao nguyên Trung Phần”, tức khu vực của người Thượng và “duyên hải Trung Phần” của người Kinh, từ Qui Nhơn-Bình Định trở về hướng biển.

Cuối những năm 1950, có lẽ do bận rộn với việc định cư và cung ứng các điều kiện sinh sống của gần một triệu đồng bào miền Bắc di cư vào Nam mà chính quyền Ngô Đình Diệm có những sơ hở về mặt quản lý các đồng bào sắc tộc. Năm 1958, một tổ chức có chủ trương chống chính quyền ra đời có tên BaJaRaKa, với sự kết hợp của bốn sắc tộc khác nhau là Bahnar, Jarai (hay Djarai), Radhés, Kaho đã gửi thư đến các sứ quán Pháp, Mỹ và đại diện Liên Hiệp Quốc, tố cáo những hành vi phân biệt sắc tộc của chính quyền Đệ nhất Cộng Hòa và yêu cầu các cường quốc can thiệp để người Thượng được độc lập trong khối Liên hiệp Pháp hoặc dưới sự lãnh đạo của Hoa Kỳ.

Đầu những năm 1960, quan hệ giữa VNCH và chính quyền Cambodge (Campuchia) gặp nhiều rắc rối, đi đến chỗ bế tắc, hai bên rút Đại sứ về và chỉ quan hệ với nhau ở cấp thấp hơn (Đại lý Đại sứ). Năm 1964, với sự hỗ trợ tinh thần của quốc vương Campuchia Sihanouk, các tổ chức bất đồng với chính quyền VNCH liên kết lại thành một tổ chức thống nhất, lấy tên Pháp là Front unifié pour la Libération des Races Opprimées (Mặt trận thống nhất giải phóng các sắc tộc bị áp bức), viết tắt là FULRO.

Sau thời điểm này, chính sách của chính quyền VNCH đối với người thiểu số vùng cao đã có những cải tiến rõ rệt, về lượng cũng như về chất. Thông thường ở vùng đồng bằng, cơ cấu chính quyền cấp tỉnh có hai Phó Tỉnh trưởng là Phó Tỉnh trưởng Hành chánh và Phó Tỉnh trưởng Nội An (chức vụ sau bị bãi bỏ từ năm 1966). Tại các tỉnh cao nguyên Trung Phần, chính phủ VNCH đặt thêm chức Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ, phụ trách các vấn đề liên quan đến đời sống của đồng bào Thượng. Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum đầu tiên là ông Paul Nưr, một thành viên trong các tổ chức chống đối trước đây. Dưới cấp tỉnh, ở cấp Quận, cũng có những ban sắc tộc do các công chức hay quân nhân người gốc Thượng đảm trách.

Không chỉ về mặt quản lý hành chánh, về mặt luật pháp, chính quyền VNCH cũng quan tâm đến việc giải quyết những vấn đề phát sinh trong cộng đồng người thiểu số có lý tới phong tục, tập quán của họ. Ngay từ năm 1929, thực dân Pháp đã cho thành lập các “Tòa án tập quán” ở các cấp Tỉnh, Quận, Xã nhằm để cho người Thượng xét xử người Thượng, xét xử căn cứ vào tín ngưỡng của các bộ tộc.

Sang thời VNCH, năm 1965, chính phủ cho thiết lập các “Tòa án phong tục” trên cao nguyên Trung phần, hoạt động như các Tòa án tập quán thời Pháp, chỉ có khác là Tòa án tập quán là một tổ chức hành chánh, còn tòa án phong tục là một tổ chức tư pháp hẳn hoi (Nguyễn Trắc Dĩ – Đồng bào các sắc tộc thiểu số Việt Nam (nguồn gốc và phong tục) – Sài Gòn 1972, trang 155-160)

Những cải tiến về các chính sách nêu trên giúp nhiều người Thượng có học vấn tham gia thiết thực vào việc điều hành công vụ của chính quyền VNCH. Tiêu biểu là ông Touneh Hàn Thọ, cựu sinh viên Học viện Quốc gia Hành chánh, vào những năm 1969-1970, từng được cử vào học trường Cao đẳng Quốc phòng, chung với nhiều sĩ quan cao cấp trong quân đội, thông thường ở cấp Đại tá. Năm 1970, ông Touneh Hàn Thọ ra trường Cao đẳng Quốc phòng với luận văn nhan đề “Quan niệm về sở hữu đất đai và thực trạng sinh kế của các sắc dân Thượng”.

Vào nửa đầu thập niên 1970, ông Hàn Thọ được cử giữ chức vụ Tổng Thư ký Bộ Phát triển sắc tộc, một cơ quan quan trọng được thành lập ngay vào năm đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng hòa (1967). Đến lúc đó, sự tham gia của đồng bào Thượng vào chính quyền đương nhiệm là một việc làm có thực chất, không mang màu sắc tuyên truyền hay mị dân. Có những người được bầu vào Quốc Hội, vào bộ máy chính quyền, tiêu biểu là Bộ Phát triển sắc tộc. Người đầu tiên lãnh đạo bộ này chính là ông Paul Nưr, nguyên Phó Tỉnh trưởng Thượng vụ tỉnh Kontum.

Năm 1975, khi trở thành tù cải tạo, người viết bài này từng sống chung nhà, chung đội với nhiều đồng bào Thượng từng là dân biểu, viên chức cao cấp của Bộ Phát triển sắc tộc. Họ rất hiền hòa, sống chan hòa với các bạn tù người Kinh, đến bây giờ, tôi vẫn còn thấy nhớ người bạn tù hiền lành Touneh Yơh, một con người luôn vui vẻ, cười đùa với mọi người và cư xử với bạn tù một cách chân tình nhất.

Ngay sau tháng 4.1975, chính quyền mới của những người thắng cuộc đã đưa nhiều đồng bào miền Bắc đến Lâm Đồng (tên cũ là tỉnh Tuyên Đức) để lập nghiệp. Chính sách di dân là hệ quả tất yếu của sự phát triển dân số, khiến vùng này có mật độ dân cư quá cao, dẫn đến nhiều hậu quả bất lợi về xã hội, vùng khác mật số dân số thấp, đất đai, rừng núi chưa được khai thác đúng mức.

Tuy nhiên, chính sách di dân hay giãn dân nếu không được thực hiện xuyên suốt, có quan tâm đến quyền lợi, đời sống văn hóa, xã hội của người bản địa, sẽ dễ trở thành chính sách tàm thực (tằm ăn dâu) và dẫn đến nhiều hậu quả khó lường. Điều lo lắng này không phải là không có cơ sở, cùng là đồng bào, đồng chủng với nhau, chung một tổ tiên, nòi giống, mà sau gần 50 năm, giữa người thắng cuộc và kẻ thua cuộc vẫn còn những khoảng cách nhất định, về mặt tâm thức cũng như quan điểm chính trị, thì nói gì đến mối quan hệ giữa chính quyền với đồng bào thiểu số Tây nguyên từng vùng lên tranh đấu dưới thời VNCH.

Chính sách di dân theo kiểu “tằm ăn dâu” khiến người các sắc tộc thiểu số dễ có cảm giác đất đai của tổ tiên họ ngày bị thu hẹp dần, nhiều quyền lợi căn cơ có nguy cơ bị tước đoạt, đời sống không được cải thiện theo đúng xu thế một đất nước đã thống nhất gần 50 năm trời…

Trong trường hợp đó, nếu chính quyền địa phương cai trị thiếu sự chân tình hay có nhiều sơ hở trong các biện pháp quản lý xã hội thì cái ngòi nổ trong quả bom bất mãn dễ dàng bị kích nổ. Khi người thiểu số sống trong một tâm trạng như thế thì dù có “thế lực thù địch” đứng đàng sau hay không, những hậu quả bất lợi cũng dễ dàng xảy đến.

Trong những ngày qua, đọc tin về việc đồng bào Nghệ An, Thanh Hóa… vây bắt được nhiều người dính líu tới bi kịch vừa xảy ra, không ít người trên mạng xã hội bày tỏ sự… bất ngờ. Bất ngờ vì sự tham gia, chủ động của những cư dân từ phương xa đến lập nghiệp trên vùng đất Tây nguyên.

Từ sự bất ngờ đó, họ dễ dàng suy diễn đến nhiều tình huống khác. Việc xây dựng đường dây điện Bắc-Nam, đường Hồ Chí Minh, với những lợi ích nhãn tiền hẳn nhiên là dễ dàng thuyết phục người thiểu số Tây Nguyên, mất bao nhiêu đất họ cũng dễ dàng hứng chịu. Song còn sự hiện diện quá nhiều người từ các địa phương khác đến, liệu tác động thế nào đến người bản địa? Điều đó, có ai thực hiện những cuộc điều tra tỉ mỉ và khả tín, để có thể giúp đưa ra những quyết sách có tình, có lý, hợp với tính nhân bản vẫn là cốt cách của dân tộc này?

Trở lại chuyện cách nay hơn 50 năm, sau những rối loạn ở Tây Nguyên vào nửa sau thập niên 1950 và nửa đầu thập niên 1960, chính quyền VNCH đã có những cải tiến rõ rệt trong chính sách đối với đồng bào thiểu số, tiêu biểu là các tòa án phong tục, các định chế quốc gia có sự tham gia của người Thượng, một cách tích cực và có thực chất, thì liệu chính quyền hiện nay có cần quan tâm hơn nữa đến tâm tư nguyện vọng và quyền lợi chính đáng của họ hay không?

Trong lịch sử hiện đại, một anh hùng Núp chỉ có công lớn với người thắng cuộc, trong công cuộc “chống Mỹ cứu nước”. Song anh hùng cũng năm bảy kiểu anh hùng, sau 1975, đồng bào Tây Nguyên cần có thêm nhiều anh hùng khác, góp phần thiết thực, mang lại cơm no áo ấm cho họ, kéo họ lên khỏi đáy vực của u mê, tăm tối, bảo tồn cho họ di sản đất đai, văn hóa do tổ tiên họ để lại. Có như thế, họ mới sẽ dễ dàng hợp tác với chính quyền, không một “thế lực thù địch” nào dám bén mảng đến gần họ.


 

Diễn tiến mới nhất vụ Người Ê Đê tấn công hai đồn Công An ở Ea Tiêu và Ea Ktur

Lời thú tội của kẻ bị coi là cầm đầu nhưng không giống như một người cầm đầu.

YouTube player

Vậy Người Cầm Đầu thực sự là ai?

Mời Các Bạn xem Video sau của Luật Sư Nguyễn Văn Đài:

Đâu là nguyên nhân chánh của mọi đau khổ của Đồng Bào Các Dân Tộc ở  Việt Nam

Phân tích thực hư của Phil Dong:

  • Mâu thuẫn Kinh Thượng đã xảy ra từ nhiều đời qua.
  • Sự áp bức của Cán Bộ và người di cư miền Bắc vào đã dồn đồng bào Ê Đê vào con đường cùng.
  • Hy vọng sau vụ việc này Cộng Sản tỉnh ngộ hơn một chút và nghiên cứu các nguyên do sâu xa dẫn đến sự cuồng trí của đồng bào thiểu số bị áp bức và dồn họ đến con đường cùng.

Mối thù ‘không đội trời chung’ của thủ lĩnh Wagner với bộ trưởng quốc phòng Nga chứng tỏ rằng Putin không còn kiểm soát được nội bộ

Theo nhật báo tốc hành – Daily Express

Việc Evgeny Prigozhin không ngừng nhắm vào Sergei Shoigu, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Nga, bao gồm cả việc công khai kêu gọi xử tử ông bộ trưởng, cho thấy Vladimir Putin ‘không thực sự kiểm soát (nội bộ chóp bu)’, một chuyên gia người Anh về chính trị Nga cho biết.

“Và hơn nữa, ông ấy thực sự đang kêu gọi xét xử và hành quyết Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu. Ý tôi là, điều đó hoàn toàn là một hành động điên rồ dựng tóc gáy và nó chỉ cho thấy rằng Putin không thực sự kiểm soát được.”

Prigozhin đã gây chú ý trong những tuần gần đây với một loạt lời chỉ trích gay gắt đối với các nhân vật cấp cao của Nga, bao gồm cả Shoigu, một trong những người mà ông đã đề xuất nên đối mặt với án tử hình.

Hình trích từ Video của báo Ấn Hindu Times

Đầu tuần này, Bộ Trưởng Quốc Phòng Nga, Shoigu cho biết tất cả các Công ty quân sự tư nhân (PMC), bao gồm cả Wagner, sẽ được đặt dưới sự chỉ huy của quân đội Nga, một đề nghị bị Prigozhin, 62 tuổi, giận dữ bác bỏ.

Ông Matthews, người có cuốn sách Overreach: The Inside Story of Putin’s War Against Ukraine, đã được xuất bản vào đầu tháng này, nói với Express.co.uk: “Những gì đang diễn ra về cơ bản là sự vắng mặt hoàn toàn của sự lãnh đạo từ Điện Kremlin.

Ông Matthews cho rằng “phong cách quản lý” của Putin là luôn có tình trạng cấp dưới “cạnh tranh với nhau”, nhưng những nhân chứng đấu đá nội bộ trong những tháng gần đây ở một cấp độ (nghiêm trọng rối ren) hoàn toàn khác.

Ông  giải thích: “Việc Prigozhin thậm chí vẫn đi trên Trái đất là điều phi thường đối với tôi. “Mẩu tin ít gây ngạc nhiên nhất trên thế giới sẽ là việc Yevgeny Prigozhin bị sát hại.

“Tuy nhiên, những gì ông ấy đại diện là một điều gì đó cực kỳ đáng sợ, bởi vì những gì ông ấy nói là ‘người Ukraine rất cứng rắn, họ được trang bị vũ khí tốt, họ có động cơ rất tốt, người Ukraine là một kẻ thù đáng gờm, và hiện tại chúng tôi đang thua cuộc’. Anh ấy nói điều đó một cách công khai.

Vladimir Putin Yevgeny Prigozhin

Vladimir Putin đối mặt với Yevgeny Prigozhin© 

Owen Matthews tin rằng mặc dù còn quá sớm để coi người sáng lập Tập đoàn Wagner là một đối thủ nặng ký của Tổng thống Nga, nhưng đẳng cấp quân sự của ông chắc chắn đặt ra câu hỏi về việc có bao nhiêu quân sẽ hỗ trợ ông trong trường hợp xảy ra nội chiến.

Ông Matthews nhấn mạnh Prigozhin không thể được coi là một nhân vật của điện Kremlin – nhưng cũng không nên đánh giá thấp ông ta. “Ông ta đã ở tiền tuyến, ông đã bị sa thải, ông thực sự hiểu rõ điều đó.”…

“Nhưng anh ấy cũng nói chuyện với những người Nga bình thường và thông điệp của anh ấy là, ‘những bà mẹ ****** ưu tú,  Điện Kremlin ngồi trong những văn phòng sang trọng và gửi những đứa con trai của bạn ra chiến trường để bị làm thịt, và làm tiêu rữa họ.”

Ông Matthews nói thêm: “Prigozhin là một cựu tù nhân, một đầu bếp và một tỷ phú cung cấp thực phẩm cho Putin, người chỉ huy 50.000 người đàn ông được trả lương từ ngân sách nhà nước Nga. Vì vậy, anh ta không phải là đối thủ của sức mạnh to lớn của nhà nước Nga. Nhưng câu hỏi đặt ra là, bao nhiêu quân đội Nga sẽ đi cùng Prigozhin nếu phải lựa chọn?

“Liệu họ có chọn Prigozhin trong một tình huống kiểu nội chiến không, mặc dù rõ ràng chúng ta vẫn còn một chặng đường dài để xảy ra điều đó.

“Ngay bây giờ, tôi không nghĩ Prigozhin là một ứng cử viên nặng ký cho Điện Kremlin, nhưng thực tế là bạn về cơ bản có chỉ huy của một đội quân tư nhân, cảm thấy rằng ông ta có thể chỉ trích Bộ trưởng Quốc phòng mà không bị trừng phạt là một dấu hiệu của sự vô tổ chức thực sự nghiêm trọng. và sự yếu đuối (của Chính Phủ Putin).”


Con cháu của anh hùng Núp, không… núp nữa!

Báo Tiếng Dân

BM B’krông

17-6-2023

Như chúng ta đều biết, Việt Nam hiện nay là một quốc gia có hình chữ S, với diện tích hơn 300,000 km2, chia làm 3 miền Bắc Trung Nam, có 64 tỉnh thành, dân số khoảng 100 triệu người, bao gồm 54 dân tộc khác nhau. Trong đó, người Kinh, tức người Việt, chiếm khoảng 86%, còn 14% là các dân tộc thiểu số, gọi chung là người Thượng, sinh sống rải rác ở miền núi, cao nguyên.

Trong đất nước này, có một vùng lãnh thổ vô cùng đặc biệt là Tây Nguyên. Đây là nơi mà những người Thượng đã định cư hàng ngàn năm, như người da đỏ Indian định cư ở châu Mỹ. Nếu người da đỏ được coi là người bản địa của châu Mỹ, thì người Thượng ở Tây Nguyên cũng phải được coi là người bản địa của vùng lãnh thổ này. Vùng đất này tiếp giáp với biên giới Campuchia và Lào, là hai quốc gia hiện rất thân thiện với Trung Quốc.

Người Thượng ở Tây Nguyên bao gồm nhiều dân tộc thiểu số khác nhau như người Jarai, Ede, Raglai, Churu, Bahnar, Sedang, Hre, Koho, Mnong, Brau, Rmam, Stieng, Bru-Van Kieu, Katu, Gietrieng, Taoi, Ma, Cor, Chrau… Và một thực tế không thể chối cãi là, những người dân thiểu số hoàn toàn khác biệt với người Kinh, tức người Việt, về mọi mặt như ngôn ngữ, truyền thống, tôn giáo, luật lệ, y phục, văn hoá, tính cách, lối sống… Tương tự như thổ dân da đỏ ở châu Mỹ, hoàn toàn khác biệt với người da trắng từ châu Âu đến xâm chiếm lục địa của họ từ sau thế kỷ 17.

Sau khi cộng sản Việt Nam thống nhất đất nước bằng vũ lực hồi tháng 4-1975, vùng Tây Nguyên mặc nhiên bị sát nhập vào lãnh thổ Việt Nam và trở thành một bộ phận của quốc gia này. Đồng thời, người dân Tây Nguyên mặc nhiên bị đặt dưới sự cai trị của đảng Cộng sản Việt Nam một cách miễn cưỡng. Họ, người Thượng Tây Nguyên, có muốn vậy không? Tất nhiên là không.

Đừng chỉ nhìn Tây Nguyên với con mắt của “khách du lịch”

Trong chiến tranh Việt Nam giữa hai quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (ở miền Bắc) và Việt Nam Cộng hòa (ở miền Nam), một số người Thượng đã tích cực tham gia vào lực lượng cộng sản Bắc Việt, chiến đấu chống lại Việt Nam Cộng hòa, không phải vì họ ủng hộ và muốn đưa dân tộc mình đi theo chế độ cộng sản, mà bởi vì họ được giới lãnh đạo cộng sản hứa hẹn rằng, sau khi tiêu diệt được Việt Nam Cộng hòa, nhà nước cộng sản sẽ để cho vùng Tây Nguyên trở thành khu vực tự trị. Tuy nhiên, nhà nước cộng sản đã không bao giờ thực hiện lời hứa đó.

Sau khi thống nhất được đất nước, nhà nước cộng sản không bao giờ cho người Thượng quyền tự trị vùng Tây Nguyên, trái lại, họ nhanh chóng áp đặt quyền cai trị độc đoán lên các dân tộc thiểu số này, bất chấp sự khác biệt sâu sắc về chủng tộc, ngôn ngữ, văn hoá, tôn giáo, luật lệ, lối sống… Và mọi sự bất bình, phản kháng của người Thượng đều bị cộng sản dập tắt bằng bạo lực.

Vậy là, sau nhiều thập niên nhiệt tình hăng hái giúp sức cho “đối tác” cộng sản Bắc Việt tiêu diệt Việt Nam Cộng hòa, cuối cùng, người Thượng bị “đối tác” trở mặt, xâm lược luôn lãnh thổ của mình, biến dân tộc mình thành nô lệ.

Thế lực thù địch xuyên tạc về tình hình ở Tây Nguyên

Nhưng đó mới chỉ là bước khởi đầu, bước tiếp theo mới thật sự kinh hoàng. Trong suốt nhiều thập niên sau khi chiến tranh kết thúc, nhà nước cộng sản Bắc Việt không ngừng thực hiện âm mưu đồng hoá người Thượng Tây Nguyên, xóa bỏ bản sắc dân tộc của họ, bằng nhiều chính sách hiểm độc. Đáng kể nhất là họ liên tục đưa người Kinh (tức người Việt) tới định cư ở vùng Tây Nguyên, chiếm đoạt một cách thô bạo và có hệ thống đất đai canh tác của người Thượng bằng các thủ đoạn nham hiểm, cũng như bằng cái luật đất đai “biến thái” nhất hành tinh, quy định là “đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý”. Nói một cách thực tế, nghĩa là “toàn bộ đất đai vùng Tây Nguyên đều thuộc quyền sở hữu của đảng Cộng sản Việt Nam”!

Vậy là kết cục đã rõ, vùng đất Tây Nguyên màu mỡ mà tổ tiên người Thượng dày công khai phá hàng ngàn năm qua, rừng núi Tây Nguyên mênh mông trù phú đã nuôi sống nhiều thế hệ người Thượng từ bao đời nay, cuối cùng đã bị đảng cộng sản “sở hữu”! Nhà nước cộng sản tự cho mình quyền “sở hữu” toàn bộ đất đai ở Tây Nguyên, cũng như trên lãnh thổ Việt Nam, với sức mạnh bạo lực trong tay, đã dễ dàng chiếm đất, chiếm rừng của người Thượng ở bất cứ nơi nào họ muốn, bằng thuật ngữ “quy hoạch”.

Nhà nước Cộng sản Việt Nam cho rằng, chiếm đất là cách làm kinh tế hiệu quả vô cùng. Ví dụ, họ chiếm một khu đất A của người Thượng, đền cho người chủ đất 100 ngàn đồng/m2, một cái giá chỉ bằng hai tô phở, để đuổi người ta đi. Sau đó, họ làm dự án nhà ở thương mại hoặc khu dân cư cao cấp gì đó, hoặc chỉ đơn giản là phân lô bán nền cho khách hàng người Việt với giá hàng triệu đồng/m2. Thế là họ kiếm lãi gấp hàng chục, thậm chí hàng trăm lần, so với số tiền bỏ ra “đền bù”, thử hỏi trên thế giới có mô hình kinh doanh nào tạo ra lợi nhuận siêu khủng như vậy không? Thế mà các “thế lực thù địch” cứ chỉ trích nhà nước cộng sản chỉ giỏi chiến tranh, bắn giết, không biết làm kinh tế!

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây nguyên đã từng chạy sang tỉnh Ratanakiri để lánh nạn cách nay một thập niên

Người Thượng Tây Nguyên bàng hoàng, phẫn nộ và bất mãn. Nhiều lần họ đứng lên phản đối, tranh đấu ôn hòa bằng lý lẽ, quyết bảo vệ đất đai canh tác quý giá mà ông cha để lại, nhưng chỉ dẫn đến một kết cục: Nhà nước cộng sản cho công an hoặc cảnh sát cơ động đàn áp họ bằng bạo lực, chứ không có lý lẽ phải trái gì cả. Người Thượng đã thực sự rơi vào tình thế rất tuyệt vọng. Họ không những không bảo vệ được đất đai, mà còn bị đánh đập, bắt bớ, tra tấn, bỏ tù, sát hại một cách tàn bạo như nô lệ da đen ở nước Mỹ thời xưa. Ngay cả niềm tin tôn giáo của họ cũng liên tục bị nhà nước cộng sản cấm đoán và xoá bỏ một cách quyết liệt. Trong bối cảnh bất lực và cùng quẫn ấy, một số người Thượng đã chọn cách bỏ chạy sang các quốc gia khác xin tị nạn.

Tổ quốc của họ thực sự không còn, nó đã bị giặc ngoại bang xâm lược.

Ước mơ tự trị của người Tây Nguyên như ngọn lửa chưa bao giờ lụi tắt, nhưng bàn tay sắt máu tàn bạo của nhà nước cộng sản đã bóp lấy ngọn lửa ấy và cứ siết chặt dần. Cho đến hôm nay, ước mơ ấy chỉ còn là một bệnh nhân thoi thóp những hơi thở sau cùng trước khi sự sống hoàn toàn tắt lịm.

Vậy trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên có cái gì? Sự sợ hãi! Đúng, một nỗi sợ giống hệt nỗi sợ của người nô lệ da đen dành cho các chủ nhân da trắng tàn bạo của mình bên nước Mỹ thuở xưa. Ngoài nỗi sợ ra, họ còn gì nữa không? Còn. Lòng căm thù!

Đúng, một lòng căm thù vĩnh viễn không thể gỡ bỏ, dành cho nhà nước cộng sản, những kẻ xâm lược, những tên “chủ nô” da vàng còn tàn bạo và độc ác hơn đám chủ nô da trắng bên xứ Mỹ thời xưa.

Nếu có một cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, cho phép họ đưa ra ba điều ước, thì người Thượng sẽ ước gì? Ồ, họ thật sự không cần đến ba điều ước, họ chỉ cần một điều thời. Chắc chắn họ sẽ ước rằng, tất cả bọn cộng sản người Kinh và các đồng chủng da vàng của chúng hãy cút xéo ra khỏi vùng Tây Nguyên ngay lập tức, trả lại quyền tự trị cho người Thượng. Hãy biến đi, và đừng bao giờ quay trở lại với các luật lệ tàn ác xấu xa của mình như điều 331 và 117. Chỉ thế thời.

Với vụ đột kích táo bạo vào hai trụ sở nhà nước cộng sản ở Đăk Lăk ngày 11 tháng 6, giết nhiều công an và cán bộ cộng sản đang tụ tập ăn nhậu và xem bóng đá, được thực hiện bởi một lực lượng vũ trang rằn ri người Thượng, họ đã đưa ra một thông điệp mạnh mẽ và dứt khoát: Đó là họ muốn lấy lại vùng Tây Nguyên, để thành lập quốc gia riêng biệt của mình, như Campuchia và Lào, tách biệt khỏi lãnh thổ Việt Nam, là nước đang bị Đảng Cộng sản cai trị từ 1975.

Ngọn lửa Tây Nguyên có thể chỉ loé sáng một lần rồi vụt tắt trước bàn tay tàn bạo ngày càng bóp chặt hơn của nhà nước cộng sản, với hàng loạt vụ truy lùng bắt bớ người Thượng vô tội vạ sau sự việc, kiểu như “cứ thấy mặc đồ rằn ri là bắt trước đã, rồi tính sau” thậm chí, ai bán đồ rằn ri cũng bị xử phạt, không cần căn cứ theo điều luật, quy định nào cả. Nhưng trong trái tim của người Thượng Tây Nguyên, trong tận cùng sâu thẳm của tâm hồn họ, ngọn lửa ấy không thể nào bị dập tắt được, cũng như niềm tin, niềm hy vọng rằng, một ngày kia họ sẽ tìm thấy cây đèn thần như trong truyện cổ tích “Nghìn Lẻ Một Đêm”, để biến điều ước thiêng liêng duy nhất của dân tộc mình thành sự thật.

Bắt một trong những kẻ cầm đầu vụ dùng súng tấn công trụ sở UBND xã ở Đắk Lắk - Ảnh 1.

Dù kết cuộc có bi thảm hay đẫm máu thế nào, khi dám đứng lên đương đầu với nhà nước cộng sản tàn bạo, cũng xin nghiêng mình kính cẩn trước 40 chiến binh rằn ri, những đứa con của núi rừng bất khuất. Các anh không phải là bọn khủng bố. Đứng lên chống giặc ngoại xâm, sao lại gọi là khủng bố?

Ngọn lửa các anh đốt lên hôm nay sẽ sáng mãi trong tim người Tây Nguyên, sẽ đi vào lịch sử hào hùng của vùng đất huyền thoại này. Vinh quang thay 40 chiến binh vệ quốc, những hậu duệ phi thường của anh hùng Núp năm xưa, các anh đã quyết định không… núp nữa!


 

Không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương

Giả nghèo sống với người vô gia cư, sau nửa năm , ra loạt bài chấn động nước Mỹ

William James – ký giả tờ báo New York Times đã cải trang thành một người lang thang, nghèo khổ và què một chân.

Anh đã trà trộn và sống với những người vô gia cư ở Miami, một thành phố ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ khoảng nửa năm để tìm hiểu cuộc sống của họ.

Ngay ngày đầu tiên, nhìn thấy James tàn tật, ăn mặc rách rưới và bẩn thỉu, từ trong đáy mắt của những người vô gia cư này đã lập tức biểu lộ ra một sự quan tâm, một người đàn ông trong nhóm đã bước đến, đưa cho James một cây gậy gỗ và nói với anh rằng: “Người anh em, hãy cầm lấy nó, như thế sẽ thuận tiện hơn nhiều”.

The State of Homelessness in NYC and How to Help | Broke Ass Stuart's ...

James đưa tay đón lấy cây gậy, dùng tay vuốt ve cây gậy này hết lần này đến lần khác, trong lòng không khỏi cảm kích. Đúng lúc đó, một bóng dáng loang loáng phản ánh trên mặt dường, dáng đi không bình thường, ngẩng lên nhìn, trong lòng James cảm thấy như bị cái gì đó thiêu đốt: người đàn ông đưa gậy lúc nãy đang đi cà nhắc…

Seattle to put up to $11.6 million to help organizations serving ...

Chống cây gậy này, James dường như cảm thấy có một loại sức mạnh vô hình từ nó truyền đến; rất mau, anh đã giành được tín nhiệm của những người vô gia cư này. Họ dẫn James đi đến nơi đặt những chiếc thùng rác ở các siêu thị, đến khu dân cư để thu lượm thức ăn và phế liệu bị người ta vứt đi. Họ còn nói cho James biết nơi nào có nhiều đồ phế liệu, những phế liệu nào đáng tiền và nên đi lượm vào khung giờ nào, .v.v…

Trong một lần trông thấy James bước đi khập khiễng một cách vất vả để lật tìm phế liệu, một anh chàng thanh niên da đen với hàm răng trắng bóng đã bước đến, vỗ nhẹ lên vai của James, đưa cho anh túi phế liệu và nói: “Này người anh em, anh hãy đi sang bên cạnh nghỉ ngơi một chút, túi đồ phế liệu này anh hãy cầm lấy đi!”.

James nghe xong, đứng ngẩn ra đó, như thể không tin vào tai mình: “Vậy làm sao được? Những thứ này cậu vất vả lắm mới lượm được mà!”

Người lang thang đó nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói một cách rất vui vẻ: “Tôi dễ dàng hơn anh một chút”.

Nói xong, liền quay người bỏ đi.

Can and bottle recycling center in Harlem New York City where homeless ...

James xách túi phế liệu đó, nhớ lại câu mà anh chàng da đen vừa nói khi nãy, trong tâm cảm thấy vô cùng ấm áp và cảm động.  Tới buổi trưa, trong lúc đang cảm thấy đói, một người đàn ông bị còng lưng trong nhóm đi đến trước mặt James, đưa cho anh hai ổ bánh mì và nói: “Này người anh em, hãy ăn đi!“.  James nghe xong, cảm thấy có chút ngại ngùng: “Nếu anh cho tôi, thế thì anh ăn gì đây?”.

Người đàn ông nghe xong, khẽ nhếch miệng cười, nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”.

Nói xong, liền lảng sang bên cạnh bỏ đi.

- Manhattan, homeless is searching for salvageable items in a rubbish ...

James cầm hai ổ bánh mì trong tay, nước mắt lã chã rơi, phải rất lâu sau đó mới bình tĩnh lại được. Đến tối, James cùng vài người vô gia cư rủ nhau co rúc dưới chân cầu. Nhìn thấy James ngủ ở nơi ngoài rìa chân cầu, một ông lão đầu tóc bạc trắng chầm chậm đi đến, vỗ nhẹ vào vai anh rồi nói: “Này người anh em, cậu hãy đến ngủ ở chỗ tôi, ở đó thoải mái hơn một chút”.

James nghe xong, cảm thấy nghi hoặc nói: “Nếu tôi ngủ chỗ ông, thế thì ông ngủ chỗ nào?” Ông lão đó nghe xong, nhoẻn miệng cười, nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút!”

Lại là “tôi dễ dàng hơn cậu một chút !“, James nghĩ, những người vô gia cư sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội này, tuy cuộc sống vô cùng gian khổ, thế nhưng khi họ nhìn thấy người khác khó khăn, đều luôn chìa tay giúp đỡ, họ luôn thấy bản thân mình có một phương diện mạnh hơn người khác.

De Blasio says NYC is 'on the offensive' to tackle staggering ...

James sống chung với những người vô gia cư này hơn nửa năm, trong khoảng thời gian hơn nửa năm đó, sớm chiều ở chung đã khiến anh sinh ra tình cảm thân thiết sâu sắc.

Chàng trai vô gia cư người da đen tên Ali luôn thích nói đùa kia, một tay bị tàn tật, nhưng cậu vẫn luôn thích giúp đỡ những người bị tật cả hai tay. Khi người này bày tỏ cảm kích, cậu luôn thích nói một câu: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

Anh chàng vô gia cư tên Bobby, thính giác ở hai lỗ tai không được tốt lắm, mỗi lần nhặt được thứ gì tốt, luôn thích chia sẻ một chút cho người bạn vô gia cư có tật ở mắt; khi người này bày tỏ sự cảm kích, anh luôn nói một câu, chính là: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”.

76 homeless people die of coronavirus in NYC - New York Daily News

Anh chàng vô gia cư thân thể ốm yếu tên Chater ấy, luôn thích giúp đỡ người bạn vô gia cư thân thể béo phì kia của mình; khi nhận được sự cảm kích, câu mà Chater thích nói nhất cũng chính là: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”

Không lâu sau đó, James có một loạt bài viết trên trang New York Times với tiêu đề: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút.” Loạt bài báo đã gây sự chấn động lớn đối trái tim và tâm hồn hàng triệu độc giả thân thiết của tờ báo. James ngập trong những bình luận bất tận đầy xúc động của độc giả gửi về. Một nhà bình luận nói, đó thực sự là một loạt bài đánh thức những trái tim đã ngủ quá lâu trong sự thờ ơ, lạnh nhạt ở một đất nước quá coi trọng sự riêng tư.

Bất kỳ ai đọc loạt bài đó đều muốn ngả mũ chào những người vô gia cư mà họ gặp, với sự kính trọng thực sự. Tuy họ sống ở giai tầng thấp nhất trong xã hội, nhưng họ luôn có thể nhìn thấy bản thân mình có ưu thế hơn người khác, và dùng ưu thế nhỏ nhoi ấy để giúp đỡ những người yếu hơn, mang cho người khác một loại cảm giác ấm áp và dũng khí để tiếp tục sống.

Hàng triệu độc giả của tờ báo danh tiếng hàng đầu thế giới bàng hoàng nhận ra, sự rách rưới, bẩn thỉu, tàn tật hay nghèo khó, không ngăn cản con người trở nên tôn quý và cao cả. Và không cần phải giàu có bạn mới có thể trao đi tình yêu thương, nỗi đồng cảm, thậm chí cả một chút vật chất vốn không có mảy may ra gía trị gì đối với hầu hết mọi người… như là một cây gậy…

James đã viết trong loạt bài gây chấn động của mình rằng: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút”, là câu nói kỳ lạ nhất lưu truyền trong những người vô gia cư, câu nói kỳ lạ nhất mà anh từng đươc nghe thấy trong đời, bởi vì mỗi khi nó được thốt ra từ một người vô gia cư tàn tật, rách nát mà với anh là không thế nào khốn khó hơn, nó bỗng biến thành một sức mạnh cảm hoá mãnh liệt khiến hết thảy những quan niệm cố hữu về người khác, sự lạnh nhạt, vô tình, sự hãnh tiến và ích kỉ của một người ở tầng lớp trên như anh tan biến.

Nó cho anh một thứ niềm tin về cuộc sống mà anh chưa bao giờ cảm thấy khi đến những toà nhà tráng lệ nhất New York, giữa những chính khách, nhà tài phiệt, hay ngôi sao đỉnh cao thế giới…

Và chúng ta, những con người chắc chắn giàu có hơn rất nhiều những người vô gia cư khốn khổ, lại thường là những kẻ kêu ca than phiền nhiều nhất về số phận.

Thực ra cuộc đời sẽ đơn giản và hạnh phúc hơn rất nhiều nếu chúng ta có thể nói: “Tôi dễ dàng hơn cậu một chút” với bất kì ai đó mà bạn gặp trên đường đời.

Bởi vì như những người vô gia cư kia, bạn luôn có thể nói câu nói đầy cảm hứng đó ngay cả khi bạn không có gì cả, ngoài… một trái tim.

From: TU-PHUNG