GIÁO DỤC

BẢO TỒN TIẾNG VIỆT 

GIÁO DỤC. (2)

Lệ thương tuổi nhỏ học trò

Còng lưng cõng sách cặp to nặng đầy

Rừng cao lũ trẻ đu dây

Lội sông vượt suối chẳng tầy nguy nan

Mẹ cha lệ đổ tuôn tràn

Tiền trường phí sách lầm than cuộc đời

Thầy cô đã mất nụ cười

Đau lòng cháo phổi một thời chạy “sô”

Người nào quên học bưng bô

Lên vùng sỏi đá tha hồ muối ăn

Cô xinh lệnh nó bắt lăn

Dâng quan tiệc rượu nâng khăn hầu bàn

Một thời giáo dục nát tan

Thay đi đổi lại các quan thêm giàu

Dân lành gánh trọn nỗi đau

Tương lai dân tộc mồ sâu tiến gần

Quan to máy lạnh phì thân

In thêm sách vở chia phần vàng đô

Giáo dục nền tảng cơ đồ

Còn toang như rứa ”tài” khô nước tàn

Tương lai tổ quốc tiêu tan

Quê hương còn lại vạn ngàn đắng cay

Học trò cầm bút run tay

Mua dăm kiến thức tràn cay lệ nhòa

Một con cha mẹ khóc òa

Hai con vài đứa nhà ra lề đường

Không ‘xìn’ đóng cái tiền trường

Trẻ thơ thất học c.hết đường tương lai

Ngày mai cạn kiệt nhân tài

Chỉ còn một lũ quái thai cầm quyền

‘Chiều nay’ thổ phỉ lột tiền

Chia nhau giọt máu dân hiền xương khô

Chống lưng có lũ quan to

Người dân mãi kiếp con bò cày sâu

Một thời cướp cạn cầm đầu

Một thời giáo dục cây cầu gẫy đôi

Tương lai đất nước tả tơi

Bởi quan tham nhũng bởi người miệng câm

Cường quyền lợi nhuận nó đâm

Người dân im lặng c.hết bầm nước tan .

(xuanngocnguyen)

Phật giáo miền Nam sau 30/4/1975: Khi các nhà sư vỡ mộng – Trần Phương Tạp chí Luật Khoa

Trần Phương.

Các nhà sư khối Ấn Quang biểu tình yêu cầu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức, ngày 3/4/1975. Ảnh: Bettmann/CORBIS.
Vào tháng 11/1975, mùa mưa ở miền Nam sắp hết nhưng không khí căng thẳng mà quân giải phóng đem đến thì chỉ mới bắt đầu.Người miền Nam đi chùa như một thói quen hằng ngày nhưng lúc bấy giờ quân giải phóng đã không nghĩ như vậy. Cách mạng nếu không tịch thu thì cũng ra lệnh đóng cửa các ngôi chùa của khoảng 40.000 tăng ni lúc đó.

Không chùa nào được treo giáo kỳ. Không ngày lễ được tổ chức. Không có ngoại lệ nào cho các nhà sư, kể cả những người từng ngồi tù vì biểu tình chống chiến tranh hay chống chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Đàn áp và lao tù đến ngay sau ngày thống nhất.

12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu

Vào lúc đó, cách tỉnh Cần Thơ khoảng 30 cây số về hướng Sóc Trăng bây giờ, trụ trì Thích Huệ Hiền cùng với 11 tăng ni ở Thiền viện Dược Sư đang chuẩn bị những ngày cuối cùng của mình.

Tất cả đã cùng nhau tự thiêu tại chùa vào ngày 02/11/1975.

12 tăng ni chùa Dược Sư đã tự thiêu như thế nào? Xác của họ được chôn ở đâu? Và vì sao các tăng ni, trong đó có một người 15 tuổi và một người mới 14 tuổi, lại chọn cách tự vẫn đau đớn như vậy trong khi đất nước vừa mới hòa bình?

Thiền viện Dược Sư là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất (GHPGVNTN), được thành lập vào cuối năm 1963 sau cuộc tranh đấu chống chính quyền Ngô Đình Diệm

Trong cuộc tranh đấu đổ máu đó, hình ảnh Hòa thượng Thích Quảng Đức, 67 tuổi, điềm nhiên châm lửa thiêu mình ở ngã tư Phan Đình Phùng – Lê Văn Duyệt, Sài Gòn đã làm xúc động thế giới.

Hòa thượng Thích Nhất Hạnh kể rằng sau cái chết dũng cảm của Hòa thượng Quảng Đức, chính quyền thủ đô Hà Nội đã tổ chức lễ truy niệm hòa thượng tại Quảng trường Ba Đình, dân chúng kéo đến đông không khác gì ngày Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập.

Nhưng thảm kịch tại chùa Dược Sư thì đã mau chóng bị vùi lấp.

GHPGVNTN và chính quyền lúc đó đã có những ý kiến trái ngược nhau về bi kịch này.

Theo nhật báo Chicago Tribune, ba tuần sau thảm họa chùa Dược Sư, Hòa thượng Thích Trí Thủ, Viện trưởng Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN lúc bấy giờ, người sau này trở thành Chủ tịch đầu tiên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam vào năm 1981, đã gửi thư đến Chính phủ Cách mạng Lâm thời miền Nam để khiếu nại.

Hòa thượng Trí Thủ nói rằng cán bộ cách mạng đã tịch thu chùa Dược Sư và cả thi thể của các tăng ni.

Bức thư được gửi cùng với thư tuyệt mệnh của trụ trì Huệ Hiền, trong đó ghi lại tên tuổi của 11 tăng ni và lý do tự thiêu là để yêu cầu chính phủ cách mạng “tôn trọng triệt để tự do tín ngưỡng của các tôn giáo đúng mức”.

Trong thư, ông nói bi kịch chùa Dược Sư xảy ra sau khi cán bộ cách mạng cấm chùa treo cờ Phật giáo và cầu siêu cho những nạn nhân chiến tranh. Các tăng, ni được yêu cầu “ăn và nói một cách bình thường [như mọi người] để học theo những con đường của cách mạng”.

Cán bộ ra lệnh Đại đức Huệ Hiền phải cắt nghĩa cho các tăng ni về “chiến thắng quang vinh và lịch sử của cách mạng”, động viên họ tham gia sinh hoạt chính trị trong các tổ chức của cách mạng lúc bấy giờ.

Hòa thượng Trí Thủ viết trong thư: “Qua vụ việc trên, chúng tôi hy vọng ông [bức thư gửi đến một lãnh đạo của chính phủ] và chính phủ cách mạng sẽ lưu tâm đến những gì đang diễn ra ở cấp cơ sở. Chúng tôi không muốn tin rằng vụ việc đáng tiếc trên cũng như nhiều vụ việc liên quan đến tự do tôn giáo khác phản ánh chính sách của Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng Lâm thời”.

“… đáng lẽ chúng tôi nên đến gặp ông để trình chi tiết và kín đáo hơn là gửi bức thư này. Tuy nhiên, một cuộc họp như vậy có vẻ là bất khả thi, kể từ khi thống nhất chúng tôi đã xin gặp chính phủ ba lần để nói về quan điểm của giáo hội đối với vấn đề tôn giáo nhưng liên tiếp bị từ chối”.

Tương tự như yêu cầu xin gặp chính phủ cách mạng, bức thư của Hòa thượng Trí Thủ không được hồi đáp.

Sau biến cố 30/4/1975, báo chí trong nước bị chính quyền kiểm soát. Các phóng viên quốc tế đã rời khỏi miền Nam, mọi biến động lúc đó đều không được đưa tin kịp thời. Phải đến gần một năm sau, báo chí quốc tế mới đưa tin về thảm kịch chùa Dược Sư.

Sau đó, tổ chức nhân quyền Ân Xá Quốc tế đã gửi thư đến Bộ Nội vụ Việt Nam vào tháng 9/1976 để yêu cầu cung cấp thông tin.

Khoảng sáu tháng sau, Bộ Nội vụ đã hồi đáp bức thư đó bằng một giải thích rất bất ngờ.

Chính phủ cho rằng theo lời khai của các nhân chứng thì ông Phạm Văn Có (tên khai sinh của Đại đức Huệ Hiền) đã giết hai ni cô lần lượt vào năm 1972 và năm 1974 sau khi ông ta làm hai người này mang thai, “và vẫn tiếp tục hành động vô đạo đức của mình sau ngày giải phóng”.

Theo tuyên bố của chính phủ, “vì sợ việc làm của mình bị lộ ra ngoài, ông Có đã quyết định tự sát, trước khi đốt chùa và tự thiêu mình, ông đã giết chết 11 người khác trong chùa, trong đó có hai thiếu niên”.

Trong một bài viết vào năm 1992, Hòa thượng Thích Quảng Độ, lúc đó là Tổng thư ký Viện Hóa Đạo của GHPGVNTN, sau này trở thành tăng thống thứ năm của giáo hội, nói rằng ông và các vị hòa thượng Thích Thiện Minh, Thích Huyền Quang không chấp nhận lời giải thích của chính quyền.

Hòa thượng Quảng Độ đã tham gia một cuộc điều tra của chính quyền. Sau cuộc điều tra, ông đã từ chối công nhận bản kết luận của chính quyền vì nội dung kết luận không đúng với bức thư tuyệt mệnh của Đại đức Huệ Hiền.

Bản kết luận điều tra mà chính quyền yêu cầu Hòa thượng Quảng Độ công nhận ghi rõ rằng Đại đức Huệ Hiền đã tự sát cùng “11 người khác” vì các lý do sau: sợ bị cách mạng trừng trị vì đã làm chỉ điểm cho “Mỹ – Ngụy,” không còn lương thực để sống vì trước đó được “Mỹ – Ngụy” chu cấp và sợ chuyện dâm ô với các ni cô bị bại lộ.

Từ việc 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu tập thể để đòi quyền tự do tôn giáo (theo nhận định của GHPGVNTN), qua cuộc điều tra của chính quyền đã trở thành một vụ án dâm ô và giết người diệt khẩu.

Nhưng dù lý do là gì đi nữa thì bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư cũng đã mở ra hàng loạt vụ tự thiêu sau đó.

Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội

Ngay trước ngày 30/4/1975, nỗi sợ chế độ cộng sản đã khiến hàng vạn người chạy khỏi miền Nam nhưng cũng có không ít gia đình đã chọn ở lại.

Một trong những lý do ở lại vào lúc đó là vì người ta tin rằng nếu không dính líu đến chính trị ở chế độ cũ thì vẫn có thể sống bình yên với cách mạng.

Đối với các tăng ni, phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang thì lại càng có nhiều lý do hơn nữa để ở lại đất nước. Họ là những người đã đổ máu trong những cuộc biểu tình vang dội để chống chiến tranh, chống các chế độ độc tài ở miền Nam.

Với khả năng tổ chức bậc thầy, Ấn Quang đã huy động được một lực lượng rất đông đảo là các tăng ni, phật tử, sinh viên theo chủ trương chống chiến tranh, chống chính quyền miền Nam trong những năm 1960.

Các nhà sư khối Ấn Quang bước đi trên đường Lê Duẩn ngày nay trong một cuộc biểu tình phản đối chính phủ Nguyễn Văn Thiệu vào năm 1967. Ảnh: Co Rentmeester

Giáo sư Nguyễn Long, một phật tử nhiệt thành của khối Ấn Quang và giảng dạy về chủ nghĩa cộng sản ở Viện đại học Vạn Hạnh sau khi lấy bằng tiến sĩ ở Mỹ, cũng đã nghĩ như thế.

Mấy hôm trước ngày 30/4/1975, ông đã phân vân giữa ra đi hay ở lại quê hương.

Sau này, ông đã kể lại cuộc sống ở miền Nam sau ngày 30/4/1975 trong cuốn sách “After Saigon Fell: Daily Life Under the Vietnamese Communists” (Sau khi Sài Gòn sụp đổ: Cuộc sống thường ngày dưới tay những người cộng sản Việt Nam).

Ông Long sinh ra trong một gia đình thuần nông ở Đà Lạt. Khi còn là sinh viên ở Sài Gòn, ông cùng với những sinh viên khác ở tuyến đầu của phong trào sinh viên phật tử chống chính quyền miền Nam từ Ngô Đình Diệm, chính quyền của tướng Nguyễn Khánh rồi chính quyền Nguyễn Văn Thiệu. Ông từng bị bắt giam hai lần và được hai hòa thượng Thích Huyền Quang và Thích Mãn Giác (thuộc khối Ấn Quang) can thiệp thì mới được thả ra.

“Do đó, tôi không cảm thấy mình cùng loại với những người miền Nam khác mà cộng sản cho là ‘ngụy quân’ hay ‘ngụy quyền’, nghĩa là có liên quan trực tiếp hay gián tiếp với chế độ cũ hay chính sách của Mỹ. Nhiều người Việt ở các vị trí xã hội khác cũng có thái độ tương tự. Điều này đặc biệt đúng với các luật sư, bác sỹ, kỹ sư, nhà báo hay nhà văn. Hầu hết họ cảm thấy mình không phạm tội và không có mối quan hệ với chính trị trong quá khứ, do đó không lý do để rời khỏi Việt Nam”.

Và hơn nữa, ông là người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản. “Tôi thú nhận rằng trong một vài khía cạnh, chủ nghĩa cộng sản đối với tôi đã ngày càng hoàn thiện hơn, thực tế hơn và nhân văn hơn bất kỳ học thuyết phương Tây hay phương Đông nào mang lại”.

Nhưng mọi lý do kể trên đã thành con số không sau ngày 30/4/1975.

Ông Long buộc phải đi học tập chính trị. Cán bộ liên tục theo dõi ông, hàng xóm và kể con trai của ông bị chính quyền dùng để dò la xem ông đã nói gì, làm gì lúc ở nhà. Vì cách mạng cho rằng “ngụy thầy” (false educator) còn nguy hiểm hơn là “ngụy quân”.

Chính quyền đã thành lập hàng loạt các “hội yêu nước” để giáo dục và phân loại các thành phần công dân. Các phiên đấu tố diễn ra ở khắp nơi. Tất cả các hoạt động đi lại đều phải xin phép. Mọi người trong nhà ông đều phải trình diện vào khung giờ nhất định.

“Nhận thức của mọi người về bản thân mình và những người theo cộng sản đã khác nhau quá xa. Chúng tôi đã sớm thấy rằng xã hội dưới chế độ cộng sản mọi thứ đã bị chính trị hóa nhiều hơn bất cứ đánh giá nào của chúng tôi. Theo quan điểm của cộng sản, không có chỗ cho một cá nhân phi chính trị”.

“Yêu nước là yêu chủ nghĩa xã hội” là một tuyên truyền phổ biến lúc bây giờ.

Trong hồi ký của ông Long, chính quyền lúc đó đã dùng khẩu hiệu này để gắn kết giữa chủ nghĩa quốc gia và chủ nghĩa cộng sản. Ngoài ra, chính quyền còn cố gắng đồng nhất chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa yêu nước, một người yêu nước thì phải là một người cộng sản, nếu anh ta không phải là cộng sản thì anh ta không yêu nước.

Sau hai lần vượt biên thất bại, ông đưa gia đình vượt biên thành công đến trại tị nạn ở Indonesia vào năm 1979.

Bối cảnh ngay sau 30/4/1975 có thể giải thích một phần nào đó vì sao khối Phật giáo trước năm 1975 được xem là có cảm tình với cách mạng lại phải hứng chịu những trận đàn áp không nương tay của chế độ mới.

Ấn Quang dưới tay chính quyền cộng sản

Sau cuộc điều tra về bi kịch tự thiêu tập thể ở chùa Dược Sư, bất đồng giữa chính quyền và khối Ấn Quang ngày càng gia tăng.

Vào đêm ngày 06/04/1977, sau khi tịch thu cô nhi viện Quách Thị Trang vào tháng Ba trước đó, công an đã bố ráp chùa Ấn Quang với khoảng 200 nhà sư đang tu tập ở đây.

Trong cuộc bố ráp này, các hòa thượng Quảng Độ, Huyền Quang, Thanh Thế, Thiện Minh, Thuyền Ấn, Thông Huệ và nhiều người khác đã bị bắt.

Ngay sau đó, Phái đoàn Phật giáo Hòa bình tại Pháp (do Thiền sư Thích Nhất Hạnh đứng đầu) đã tuyên bố rằng có 120 tăng ni miền Nam sẵn sàng tự sát để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo.

Lúc bấy giờ, báo chí độc lập không còn hiện diện ở miền Nam như trước kia. Cách mạng đã kiểm soát mọi kênh truyền thông. Các vụ đàn áp Phật giáo phải mất rất nhiều thời gian mới đến được báo chí quốc tế.

Khoảng sáu tháng sau cuộc bố ráp vào chùa Ấn Quang, Hòa thượng Thích Mãn Giác, Phó hiệu trưởng của Viện đại học Vạn Hạnh, Ủy viên trung ương trong GHPGVNTN, đã vượt biên đến Paris (Pháp) để tố cáo cuộc đàn áp đạo Phật đang diễn ra rất trầm trọng ở miền Nam.

Ông nói mình đã mang theo nhiều tài liệu về xung đột giữa Phật giáo và chính quyền cộng sản.

Hòa thượng Thích Mãn Giác. Ảnh: Việt Báo.

“Chế độ mới đang theo đuổi chính sách triệt hạ các cộng đồng tôn giáo ở đất nước chúng tôi. Hàng trăm các tăng ni bị bắt. Hàng trăm các ngôi chùa bị tịch thu rồi bị biến thành cơ quan hành chính. Các tượng phật bị hạ xuống để đập phá. Không được tổ chức lễ Phật Đản như một ngày lễ quốc gia”, Hòa thượng Mãn Giác nói với báo giới vào tháng 11/1977.

“Đảng Cộng sản dường như không hiểu cũng không khoan dung về ước vọng sâu sắc nhất của chúng tôi. Chúng tôi đã rất đau khổ vì bị ngược đãi, kỳ thị và đàn áp”.

Phong trào Phật giáo của khối Ấn Quang “không tranh giành quyền lực chính trị… mà đòi hỏi sự khoan dung và quyền được tham gia xây dựng đời sống không phải như một cái máy mà bằng khối óc và trái tim”.

Hãng tin Reuters lúc đó đã dẫn tin rằng khối Ấn Quang đã bị mất sức ảnh hưởng ở miền Nam và bị chia rẽ trầm trọng khi kể từ khi nhà nước thành lập Hội Phật giáo Yêu nước.

Hòa thượng Mãn Giác nói Hòa thượng Thích Trí Quang, một trong các nhà sư nổi tiếng nhất thời Việt Nam Cộng Hòa thuộc khối Ấn Quang vì chống chiến tranh và chống chế độ cũ rất quyết liệt, có lẽ đang bị cách mạng giam giữ tại chùa.

Trích từ bài viết Giữa hai làn đạn của Nguyễn Hữu Thái đăng trên Thư Viện Hoa Sen. Ảnh: Tạp chí LIFE.

Cuộc chiến sống còn

Mặc dù từng đổ máu trong các cuộc biểu tình những năm 1960, từng bị cảnh sát quốc gia tra tấn, nhưng các nhà sư khối Ấn Quang đã kinh hồn bạt vía vì những màn tra tấn của công an cộng sản.

Trong một bài phỏng vấn Hòa thượng Thích Thiên Quang (hoặc Thích Thiện Quang), phó trụ trì chùa Ấn Quang, đã tiết lộ về màn tra tấn của chính quyền sau khi ông vượt biên đến Indonesia vào tháng 6 năm 1979.

Sau năm 1975, ông cho biết mình đã bị cách mạng giam cầm trong hai năm trước khi được thả vào năm 1977.

Ông nói rằng chuồng cọp của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dùng không là gì so với màn tra tấn mà Hòa thượng Trí Quang trải qua trong nhà tù cộng sản.

Ông cho biết Hòa thượng Trí Quang bị bắt nằm trong một cái hố như quan tài và không thể ngồi dậy trong suốt 16 tháng. Mỗi ngày ông được cho ra ngoài 15 phút để vận động và tắm rửa. Vì vậy mà hai chân của ông bị teo lại khi được cho về chùa vào năm 1977.

Hòa thượng Thiện Quang nói lúc ông rời khỏi Việt Nam thì Hòa thượng Trí Quang vẫn đang phải ngồi xe lăn, học cách đi lại bằng đôi nạng và bị giam giữ tại chùa. Trong số những người bị bắt của khối Ấn Quang chỉ có ba người nữa được thả ra và cũng bị cấm ra khỏi chùa.

Vào lúc đó, chùa Ấn Quang bị canh giữa nghiêm ngặt và phật tử chỉ được đến chùa thắp nhang hai lần trong tháng.

Chùa Ấn Quang hay còn gọi là Tổ đình Ấn Quang là nơi chứng kiến các hoạt động sôi nổi của Phật giáo vào những năm 1960. Ngày nay, chùa nằm trên đường Sư Vạn Hạnh, quận 10, thành phố Hồ Chí Minh. Ảnh chụp chùa vào năm 1998. Ảnh: Australian War Memorial.

Vào cuối năm 1978, sau khi Hòa thượng Thiện Minh đã chết trong trại giam, chính quyền đưa các hòa thượng của khối Ấn Quang ra xét xử với nhiều tội danh khác nhau. Dưới áp lực quốc tế, các hòa thượng Quảng Độ và Thanh Thế được trắng án. Hai hòa thượng Huyền Quang và Thuyền Ấn bị tuyên án hai năm tù treo. Hòa thượng Thông Huệ bị tuyên án ba năm tù giam.

Hòa thượng Thiên Quang nói rằng mâu thuẫn giữa Phật giáo và chính quyền sau năm 1975 đã bắt đầu từ vụ 12 tăng ni chùa Dược Sư tự thiêu ở Cần Thơ.

Ông cho biết trong năm 1977 và 1978, miền Nam đã có thêm 18 tăng ni khác tự thiêu riêng lẻ. Ông cũng cho biết rằng các tôn giáo khác như Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Thiên Chúa giáo cũng đang bị đàn áp nặng nề không kém gì Phật giáo.

Khi được hỏi tại sao các nhà sư Ấn Quang phải tranh đấu với chế độ cộng sản sau khi đã gây ra quá nhiều rắc rối cho chính quyền ông Thiệu, ông trả lời: “Dưới chế độ của ông Thiệu, chúng tôi chỉ chống tham nhũng mà thôi. Bây giờ, dưới chế độ cộng sản, chúng tôi không thể tồn tại được. Giờ đây, chúng tôi phải chiến đấu để sống hoặc chết”.

Ngay sau ngày 30/4/1975, Phật giáo miền Nam đã bước chân vào một bi kịch mới. Số vụ các tăng ni đã chết vì tự thiêu bị che dấu. Tổng số các tăng ni bị giam giữ, chết trong trại giam từ sau ngày 30/4/1975 không được tiết lộ. Tổng số các chùa bị đập phá và tịch thu không được công bố. Chính phủ chưa bao giờ thừa nhận đã đàn áp Phật giáo miền Nam.

Đến những năm 1990, các vụ tự thiêu vì đàn áp tôn giáo vẫn còn tiếp diễn.


 

Các tổng thống Mỹ gần đây đã nói gì với Việt Nam

Báo Tiếng Dân

Washington Post

Tác giả: Olivier Knox

Cù Tuấn, biên dịch

6-9-2023

Từ khi Tổng thống Bill Clinton tới Việt Nam hồi cuối năm 2000, mọi Tổng thống Mỹ đều đã đến thăm quốc gia cựu thù thời chiến mà nay đã trở thành đối tác thương mại. Tổng thống Biden sẽ đưa tên mình vào danh sách này vào Chủ nhật tới, với những lo ngại về Trung Quốc xuất hiện sau một chuyến thăm chớp nhoáng.

Lịch trình của Nhà Trắng không nói rõ liệu ông có mặt tại Hà Nội trong 24 giờ hay không. Tuy nhiên, điểm dừng chân của ông ở đó sẽ được theo dõi chặt chẽ trên toàn khu vực – và Bắc Kinh sẽ đặc biệt quan tâm – phần lớn là do những căng thẳng Trung – Mỹ gần đây.

Sẽ rất thú vị để xem thông điệp mà Biden mang đến. Clinton và những người kế nhiệm ông đã đưa ra một số chủ đề chung ở đó, nhưng những khác biệt của các chủ đề này cho thấy, sự tiến triển của mối quan hệ Mỹ – Việt trong một phần tư thế kỷ qua.

Đây là những gì họ đã nói.

Clinton: Chiến tranh đã kết thúc

Chuyến thăm của Clinton tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là khúc hát thiên nga về ngoại giao trong nhiệm kỳ tổng thống của ông. Ông được chào đón trên thảm đỏ, trở thành một ngôi sao nhạc rock và trở thành nhà lãnh đạo nước ngoài đầu tiên có bài phát biểu được truyền hình trực tiếp trên đài truyền hình quốc gia tại Việt Nam.

Nhưng thông điệp mạnh mẽ nhất mà ông gửi tới Việt Nam thực ra đã đến từ 5 năm trước đó, vào tháng 7 năm 1995, khi ông tuyên bố Mỹ và quốc gia cựu thù thời chiến của họ sẽ nối lại quan hệ ngoại giao. Điều này diễn ra sau khi Mỹ dỡ bỏ lệnh cấm vận thương mại và sự phản đối của Mỹ đối với viện trợ đa phương.

Tại Đại học Quốc gia Việt Nam, Clinton thúc giục Việt Nam chấp nhận sự cởi mở về chính trị – tự do ngôn luận, tự do tôn giáo – nhưng nhấn mạnh thông điệp cốt lõi của ông rằng, cả hai nước cần phải vượt qua di sản chiến tranh.

Ông nói: “Một quá khứ đau thương và khổ đau có thể được chuộc lại bằng một tương lai hòa bình và thịnh vượng”.

Bush: Đó là vấn đề kinh tế, đồ ngốc ạ

Tháng 6 năm 2005, Tổng thống George W. Bush tiếp đón một nhà lãnh đạo Việt Nam đầu tiên tại Nhà Trắng kể từ sau chiến tranh. Tháng 11 năm 2006, ông [Bush] tới Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, tập trung chủ yếu vào việc ca ngợi nền kinh tế Việt Nam mà ông nói là “giống như một con hổ non”.

Dựa trên thông điệp của Clinton về quyền tự do dân sự, Bush đã tham dự một buổi lễ tại nhà thờ ở Hà Nội và nói rằng “mọi người trên khắp thế giới” nên được hưởng quyền tự do tôn giáo. Ông cũng đến thăm Viện Pasteur ở Thành phố Hồ Chí Minh để nêu bật sự hợp tác giữa Mỹ và Việt Nam trong nghiên cứu khoa học.

Nhưng nền kinh tế của nước chủ nhà vẫn ở vị trí trung tâm của các thảo luận, và ông đã gặp gỡ các lãnh đạo doanh nghiệp và tham quan thị trường chứng khoán Việt Nam.

Ông Bush nói tại một bữa tiệc chiêu đãi cấp nhà nước: “Trong nhiều thập niên, các bạn đã bị chiến tranh tàn phá. Ngày nay, nhân dân Việt Nam có được hòa bình và nhìn thấy được lợi ích của cải cách. Người Việt đã có quyền sở hữu doanh nghiệp riêng và ngày nay nền kinh tế Việt Nam đang phát triển nhanh nhất ở Đông Nam Á”.

Obama: Súng đạn và bơ sữa (và cải cách)

Tổng thống Barack Obama đã dành phần lớn thời gian trong chuyến công du tới Việt Nam vào tháng 5 năm 2016 để thuyết giảng về cải cách chính trị – ông hát bài thánh ca gần giống với bài thánh ca của Clinton và Bush.

Phát biểu tại Trung tâm Hội nghị Quốc gia ở Hà Nội, ông nói: “Việc bảo vệ các quyền cơ bản – quyền tự do ngôn luận, hội họp và tôn giáo – không phải là mối đe dọa đối với sự ổn định, mà thực sự nó củng cố sự ổn định và là nền tảng của sự tiến bộ”.

Nhưng Obama đã gửi một thông điệp mạnh mẽ hơn nhiều vào ngày đầu tiên của chuyến thăm, khi ông tuyên bố, Mỹ sẽ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận bán vũ khí sát thương cho Việt Nam sau chiến tranh – một bước đi được nhiều người coi là một phần trong nỗ lực củng cố năng lực khu vực, trước một Trung Quốc đang trỗi dậy.

Ông Obama nói: “Sự thay đổi này sẽ bảo đảm rằng, Việt Nam có quyền tiếp cận các thiết bị cần thiết để tự vệ và xóa bỏ dấu tích còn sót lại của Chiến tranh Lạnh. Nó cũng nhấn mạnh sự cam kết của Mỹ trong việc bình thường hóa hoàn toàn mối quan hệ với Việt Nam, bao gồm cả quan hệ quốc phòng mạnh mẽ với Việt Nam và khu vực này trong dài hạn”.

Trump: Sứ mệnh với Kim Jong-un là có thể thực hiện được

Tổng thống Donald Trump đã có hai chuyến thăm Việt Nam: Một vào tháng 11/2017, một vào tháng 2/2019.

Đầu tiên, thông điệp của Trump phần lớn là ca ngợi sự chuyển đổi kinh tế của Việt Nam. Ông gọi những thay đổi kể từ sau chiến tranh “thực sự là một trong những điều kỳ diệu vĩ đại của thế giới”. Ông cũng thúc đẩy thương mại song phương giữa hai nước.

Thông điệp lần thứ hai được xác định bằng cuộc gặp thượng đỉnh với nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un, một nỗ lực cuối cùng không có kết quả nhằm thuyết phục lãnh đạo Triều Tiên từ bỏ các chương trình hạt nhân và tên lửa của mình. Nhưng ở đây, Trump cũng đề cập đến nền kinh tế Việt Nam, đề cập đến thương mại song phương và khuyến khích nước chủ nhà mua thiết bị quân sự của Mỹ.

Biden: Chưa xảy ra, chỉ hóng thôi

Thông qua đồng nghiệp Matt Viser, tôi biết được sự thật kỳ lạ này: Đây là lần đầu tiên Biden đến Việt Nam. Điều đó hơi gây tò mò vì ông đã phục vụ nhiều năm với tư cách là chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện, và đã đi đến nhiều quốc gia.

Ông dường như đang đi đúng hướng để tận hưởng dư âm thành công của Clinton, Bush và Obama, đặc biệt là về việc tăng cường quan hệ đối tác chiến lược (dù ông có đề cập rõ ràng đến Trung Quốc) và có thể nhẹ nhàng mắng mỏ nước chủ nhà về các quyền dân chủ – và có lẽ sẽ nêu bật sự ngưỡng mộ về kinh tế Việt Nam và thúc đẩy thương mại song phương theo kiểu Trump.

Matt lưu ý rằng, Biden đã tổ chức ăn trưa với Tổng bí thư Việt Nam Nguyễn Phú Trọng vào năm 2015, nhân kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Hai người sẽ gặp lại nhau vào Chủ nhật này.

Vào thời điểm bữa ăn trưa đó, ông Biden nói: “Thật đáng chú ý là trong suốt hai thập niên qua, tôi vẫn tin rằng… mối quan hệ của chúng ta chỉ mới bắt đầu”.

THẦN TƯỢNG “ĐIÊN”!

Mình thần tượng thằng cha điên quái kiệt này: Elon Musk. Dân nhập cư, đến Mỹ, được đất nước và nền giáo dục tạo điều kiện học hành.

Thế rồi “hắn” đứng ra thành lập, lãnh đạo, phát triển hàng loạt những thương hiệu hay tập đoàn “Quái vật”. Từ PayPal, qua Tesla, tới SpaceX, SolarCity, Hyperloop… tập đoàn nào cũng là những nhà khổng lồ, khai phá, tạo nên những cuộc cách mạng về khoa học, công nghệ, kinh tế, y khoa…

Mới vừa đây, lại thấy cái tin gây sửng sốt cho giới khoa học, người ta cấy chip vô não 3 con heo, mở ra một hướng đột phá phát triển trí tuệ nhân tạo, tương tác với não người trong tương lai, để chữa rất nhiều bệnh liên quan đến não. Lại là một cái tên khác, Neuralink, cũng của Musk!

Even if Elon Musk's Neuralink brain chip never gives us telepathy, it ...

Phải nói, chỉ cần có được một phần nhỏ những gì Musk làm được, đã đủ là vĩ nhân, là thiên tài…

Elon Musk làm việc với cường độ trên 80 giờ/tuần (gấp đôi giờ hành chính hiện nay) là chuyện thường. “Hắn” có thể ngủ trong xưởng máy với công nhân, hay vùi mình với đám kỹ sư đầy máu điên trong phòng thí nghiệm.

Why are all of Elon Musk's children male only? - AR15.COM

Đã nhiều năm, Musk làm việc với cường độ đó và không có ngày nghỉ, cũng như những đợt du lịch xả hơi.

X Æ A-Xii (Elon Musk Son) Biography, Age, Mother, Birthday, Height, Net ...

Và tất nhiên, Musk giàu. Nhưng lại như “đồng bọn” là hàng loạt tỉ phú Mỹ khác, hắn hứa và đã dành hầu hết tài sản để làm từ thiện.

Hình như (và đã rõ ràng), chỉ có môi trường Mỹ Quốc mới có thể tạo nên những quái kiệt như vậy. Họ như từ hành tinh nào đến, đóng góp cho nhân loại, vắt kiệt mình, rồi ra đi.

SpaceX Starships at Mars Base Alpha by Konstantin Ermolaev | human Mars

SpaceX với viễn tượng mô hình thám hiểm Sao Hỏa trong tương lai.

Và càng ngơ ngẩn, chẳng hiểu tại sao, người ta kêu là “bọn tư bản bóc lột” và kiên quyết duy trì học thuyết đó!

FB Nguyễn Danh Lam

Bạn nhìn thấy gì? Cảm thấy gì?

Báo Tiếng Dân

Đoàn Bảo Châu

1-9-2023

Thẩm mỹ viện JT Angel Clip phát quà từ thiện ngày 31-8-2023 tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh.

Hai tấn rưỡi gạo đã “bốc hơi” trong vòng 5 phút, ba người ngất xỉu phải đi cấp cứu, cổng viện bị đạp đổ, hai bàn gỗ vỡ tan, chiếc xe Range Rover bị móp nóc, vỡ kính, xước xát. 500 phong bì 300K đồng phải dừng, không được phát như kế hoạch.

Người dân quá khổ sau 48 năm được “giải phóng”. Thiên đường XHCN nhất định không phải của dân. Thiên đường là của quan tham, lợi dụng kẽ hở, sự lỏng lẻo của luật pháp để kiếm lợi chứ không phải của đám đông.

Việt Nam là nước xuất khẩu gạo thứ 3 trên thế giới, vậy mà người dân phải bỏ qua tất cả những sự ngại ngần, ý niệm về nhân phẩm để xông vào lấy gạo vì nỗi lo người khác lấy mất. Có người đến từ 3 giờ sáng để chờ.

Tôi không trách người dân. Họ quá khổ mới phải làm vậy. Tôi hy vọng clip này được các vị quan ở Việt Nam nhìn thấy và suy ngẫm. Tôi tin là các vị sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ như tôi đang có, bởi các vị luôn nói chính quyền này là chính quyền “do dân, vì dân”.

https://baotiengdan.com/wp-content/uploads/2023/09/Clip-phat-gao.mp4?_=1

Tôi tự hỏi, nếu trong một hội nghị quốc tế, một người bạn ngoại quốc cho các vị xem clip này thì các vị sẽ cảm thấy gì và sẽ giải thích sao?

Điều này cho thấy rằng tại sao nạn cướp giật ở thành phố Hồ Chí Minh lại tệ đến vậy.

Nhưng tôi tự hỏi, có bao nhiêu quan chức sẽ có cảm giác buồn và xấu hổ khi mà trong thời gian qua, trong những đại án Việt Á và “chuyến bay giải cứu” chúng ta được chứng kiến sự táng tận lương tâm, sự tham lam vô độ, miệng nói “vì dân” mà tay liên tục vơ vét, của những bộ mặt danh giá nhất trong hệ thống?

Nhìn clip này ta sẽ thấy một sự “bung, toang” thật sự và không hề “ngạo nghễ” chút nào. Tôi tự hỏi, còn bao nhiêu đồng chí chưa bị lộ, bên ngoài thì “trong veo” ngây thơ trong sáng như trẻ mẫu giáo nhưng thật ra trong lòng run sợ?

Đây cũng chỉ là một tiếng thở dài bất lực của một thằng dân yếu thế là tôi, đừng quy kết gì to tát mà nực cười.

Độc đảng – lưỡng đảng

Báo Tiếng Dân

Nguyễn Văn Nghệ

4-9-2023

Vừa qua, tôi có xem trên Facebook báo Tiếng Dân bài viết “Ước mơ tếu ngày Quốc khánh” của tác giả Mạc Văn Trang. Tác giả kể chuyện xem trận chung kết Cup bóng chuyền nữ quốc tế năm 2023 qua màn ảnh VTV giữa hai đội VN1 và VN2. Trận đấu diễn ra quyết liệt: “Nhân dân được xem hai đội thể hiện tài năng, ý chí, đạo đức thi đấu nên vô cùng hào hứng, sướng con mắt, đã cái bụng, đáng bỏ thì giờ, tiền bạc ra để thưởng thức tài nghệ của các cầu thủ, con em yêu quý của mình”.

Sau khi xem xong trận đấu chung kết giữa hai đội VN1 và VN2, tác giả bài viết: “Bỗng nhiên cảm hứng thăng hoa, nghĩ: Giá như Việt Nam cũng có hai đảng: Đảng Cộng sản 1 và Đảng Cộng sản 2, cùng lấy Chủ nghĩa Mác, Lê nin – Tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng… cũng chẳng sao, miễn là có hai đội thi đấu với nhau như hai đội bóng chuyền nữ VN1 và VN2 đấu công khai, sòng phẳng, có trọng tài độc lập, khách quan, lại có công nghệ VAR để kiểm tra lại những pha bên kia khiếu nại. Khách quan, công khai, minh bạch, công bằng như thế thì Dân chen nhau mua vé để xem và bầu chọn những người xứng đáng vào mỗi vị trí, tuyệt biết chừng nào”.

Ước mơ của Mạc Văn Trang khó mà thực hiện, bởi vì những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định: Kiên định đi theo con đường Bác đi! Mao Trạch Đông nói: “Đảng ngoại vô đảng, đế vương tư tưởng” (Ngoài đảng không có đảng nào khác, đó là ý nghĩ của các bậc đế vương). Do đó trên các thông tin lề phải khi đề cập đến đa đảng đều chốt lại một câu: “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng”.

Hiện nay, đa số người dân Việt Nam khi được hỏi trước đám đông (xin nhấn mạnh là “trước đám đông”): Ông (bà) thích độc đảng hay là đa đảng? Không cần phải suy nghĩ và sẽ có câu trả lời: Độc đảng tốt hơn!

Vào thập niên chót của thế kỷ trước, khi còn là sinh viên, tôi vào phòng ký túc xá nữ để thăm một người bạn. Tôi hỏi các bạn nữ trong phòng: Các bạn thích độc đảng hay đa đảng? Các bạn sinh viên sinh sống bên kia vĩ tuyến 17 trả lời phát một: Độc đảng!

Sau khi nghe xong, tôi mới đưa ra một ví dụ: Nếu cho bạn chọn lựa một trong hai, một bộ quần áo đẹp nhất trần gian và hai bộ quần áo xấu hơn một ít, vậy bạn chọn món nào? Sau một hồi đắn đo suy nghĩ và phân tích, các bạn nữ mới nói: bộ quần áo đẹp nhất trần gian, mặc vào rồi đến lúc phải dơ và cần phải giặt giũ và chẳng lẽ trong lúc giặt giũ phơi phóng mình phải khỏa thân sao? Hai bộ quần áo tuy có xấu hơn nhưng cũng có cái để thay ra thay vô!

Tất cả các cán bộ đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam đều có trình độ lý luận chính trị vững vàng, đều trải qua nhiều năm “Học tập và làm theo gương Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhưng xem đi ngó lại thì những bộ mặt tham nhũng trong thời gian qua toàn là đảng viên. Số lượng đảng viên tham nhũng ngày càng “đông như quân Nguyên” và họ đã “ăn không từ một thứ gì” (Lời phát biểu của bà Cựu Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan).

Với mong muốn làm trong sạch bộ máy của đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã mở “Chiến dịch đốt lò” chống tham nhũng. Những việc thanh trừng chống tham nhũng hiện nay chẳng qua là giữa phe này phái nọ “ghen ăn tức ở” với nhau mà thôi (Trong nội bộ đảng vẫn có phe phái. Mao Trạch Đông đã nói: “Đảng nội vô phái, thiên kỳ bách quái” [Trong nội bộ đảng mà không có phe phái là chuyện kỳ quặc, lạ đời]).

Năm Bính Thân (1296) thời vua Trần Anh Tông: “Nhân Huệ vương Khánh Dư từ Bài Áng vào chầu. Người trong trấn kiện Khánh Dư tham lam thô bỉ. Hành khiển đem sự trạng tâu lên. Khánh Dư nhân đó tâu vua: “Tướng là chim ưng, dân lính là vịt, dùng vịt để nuôi chim ưng có gì là lạ?”. Vua không hài lòng, Khánh Dư bèn trở về. Khánh Dư vào chầu không quá 4 ngày đã trở về, vì sợ ở  lâu bị vua khiển trách” [*].

Từ xa xưa đã có chuyện nương tay hoặc bao che cho nhau của giới cầm quyền. Giới cầm quyền có ai lại đi bẻ hết móng vuốt chim ưng mình đâu!

Thời Nguyễn Tấn Dũng còn giữ chức Thủ tướng, có phát biểu: “Tôi nhớ đồng chí Phạm Văn Đồng – có lẽ làm thủ tướng lâu nhất – có lần nói chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào. Hơn ba năm nay tôi làm thủ tướng cũng chưa xử lý kỷ luật một đồng chí nào” Hoặc nhiều vị lãnh đạo vin vào cái câu: Diệt hết tham nhũng lấy ai làm cán bộ? [**] Do đó móng vuốt chim ưng ngày càng dài ra và sắc bén.

Y phục có thuộc loại xịn nhất thế giới, mặc một thời gian sẽ bị dơ bẩn và khi ấy sẽ phải thay bộ y phục ấy chẳng lẽ bận bộ ấy hoài, như thế ai chịu nỗi. Sau khi thay thì phải cần có bộ y phục khác để mặc vào.

Câu nói “Đất nước Việt Nam, nhân dân Việt Nam không cần đa đảng và không chấp nhận đa đảng” luôn xuất hiện trên tất cả các phương tiện thông tin đại chúng của Nhà nước Việt Nam nhưng vẫn chưa được thực hiện bằng cuộc trưng cầu dân ý nào cả!

Nguyễn Văn Nghệ, Diên Khánh – Khánh Hòa

________

Chú thích:

[*] Đại Việt sử ký toàn thư tập II, Nxb Văn hóa- Thông tin, Hà Nội, 2000, t. 110

[**] https://tuoitre.vn/thu-tuong-nguyen-tan-dung-hon-3-nam-nay-toi-chua-ky-luat-ai-348716.htm


 

Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 Giải pháp cho rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ chứa nước Ka Pét

 11:37 | Posted by BVN4

Nguyễn Ngọc Chu

Xem bản đồ của Google, rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh có màu xanh đậm nhất trên toàn bộ giải đất phía Nam Tây Nguyên và Bình Thuận, kéo dài từ Gia Nghĩa, qua Bảo Lộc đến Phan Thiết. Mở rộng lên toàn bộ đất nước thì Mỹ Thạnh là một trong số rất ít các vùng có màu xanh đậm nhất. Nhìn bản đồ rừng Việt Nam từ năm 1945 qua các thời kỳ mà trong lòng như có muối xát. Chúng ta không chỉ làm ngắn tuổi thọ chính mình, mà đang cắt từng phần tuổi thọ của các đời con cháu.

I. Vài nét về dự án hồ chứa nước Ka Pét 

Nghĩ rằng, trước khi quyết định triệt phá 680,41 ha rừng tự nhiên, lãnh đạo tỉnh Bình Thuận, lãnh đạo Bộ NN&PTNT nhiệm kỳ 2010-2015 đã phải “nhắc lên, đặt xuống” nhiều lần. Và dự đoán rằng, trước khi bấm nút thông quyết định biến 680,41 ha rừng nguyên sinh thành lòng hồ Ka Pét, 500 vị ĐBQH khoá XIII cũng đã “rất trăn trở”.

Theo FB của Tuyên giáo Bình Thuận thì “DỰ ÁN HỒ CHỨA NƯỚC KA PÉT CÓ VAI TRÒ LỚN TRONG ỔN ĐỊNH KINH TẾ- XÃ HỘI, AN NINH ĐỊA PHƯƠNG”. Tóm tắt các điểm chính như dưới đây.

“Hồ thủy lợi Ka Pét được xây dựng ở Huyện Hàm Thuận Nam, có sức chứa 51,2 triệu m3 nước (nếu hoàn thành sẽ xếp thứ 4/50 hồ thủy lợi ở Bình Thuận). Tổng mức kinh phí đầu tư là 874 tỷ đồng.

Mục tiêu của dự án:

(1) Cấp nước tưới cho khoảng 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam;

(2) Cấp nước thô cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II: 2,63 triệu m3/năm; tạo nguồn nước thô để cấp cho sinh hoạt của khoảng 120.000 người dân khu vực huyện Hàm Thuận Nam và thành phố Phan Thiết;

(3) Phòng, chống lũ và cải tạo môi trường, điều tiết nước cho vùng hạ du khu vực huyện Hàm Thuận Nam và tỉnh Bình Thuận; tăng dòng chảy trong mùa khô, góp phần cải thiện môi trường sinh thái vùng hạ du nhất là đoạn qua thành phố Phan Thiết, góp phần phát triển du lịch, dịch vụ của Tỉnh.

Tổng diện tích sử dụng đất của dự án xây dựng hồ thủy lợi Ka Pét là 693,31 ha, trong đó diện tích có rừng là hơn 680 ha (680,41 ha).

Chuyển đổi mục đích sử dụng rừng đặc dụng là 162,55 ha; rừng phòng hộ là 0,91 ha; rừng sản xuất là 471,09 ha, rừng nằm ngoài quy hoạch 3 loại rừng là 45,85 ha và diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 12,9 ha.

Để thay thế cho 680,41 ha diện tích rừng tự nhiên bị ngập tại hồ thủy lợi Ka Pét, UBND tỉnh đã chỉ đạo các sở, ngành chức năng tổ chức khảo sát trồng mới với diện tích 1.844 ha (gấp 3 lần diện tích rừng dùng để xây dựng Hồ chứa nước Ka Pét)”.

II .Bẫy “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng 

Chính cơ chế “đổi 1 lấy 3” về diện tích trồng rừng là một trong những nhân tố “an ủi”, làm cho các vị ĐBQH Khoá XIII (2014) bấm nút thông qua dự án hồ Ka Pét. Xoá đi 680,41 ha rừng nguyên sinh, nhưng lại được “lời” đến 1844 ha rừng trồng mới. Cái tỷ lệ được gấp 3 lần diện tích rừng trồng mới, không chỉ “an ui”, mà thực ra đã đánh lừa nhiều người. Vì cây trồng mới đấy không phải là rừng tự nhiên. Rừng tự nhiên có được là từ nhiều chục ngàn năm. Tuổi của rừng tự nhiên không phải tính bằng tuổi vài trăm năm của cây lâu năm nhất còn tìm thấy trong rừng. Vì cũng như con người, cây rừng được thay thế từ đời này qua đời khác.

Giá trị của rừng nguyên sinh, khác với cây mới trồng – không phải là chủ đề để bàn luận ở đây. Nhưng cũng phải thêm một lần cảnh báo, để các vị ĐBQH thận trọng cho các quyết định về phá rừng nguyên sinh trong tương lai. Cây trồng mới, dù diện tích tăng gấp 10 lần, dù vài trăm năm sau nữa, cũng không phải là rừng nguyên sinh. Cho nên 18,44 km2 cây trồng mới trong kế hoạch – không thể nào so sánh được với 6,8 km2 rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh nhiều ngàn năm tuổi.

Chính cãi bẫy “đổi 1 lấy 3” đã trở thành “lá bùa” che mờ mọi mục đích phía sau của việc phá bỏ rừng nguyên sinh trong các dự án. Cứ tiếp tục cái bẫy “đổi 1 lấy 3” thì hàng ngàn ha rừng nguyên sinh sẽ tiếp tục bị huỷ diệt.

III. Đề xuất

Theo thông tin của người dân địa phương, ở ven biển TP Phan Thiết, đào sâu xuống 10 m mà vẫn bị nước mặn; còn ở phần cao phía Tây của Hàm Thuận Nam, khoan xuống 40 m may ra mới hy vọng có nước.

Bài toán “Cấp nước sinh hoạt cho 120000 người dân Hàm Thuận Nam và TP Phan Thiết, cấp nước tưới cho 7.762 ha đất sản xuất nông nghiệp của huyện Hàm Thuận Nam và 2,63 triệu m3/năm cho khu công nghiệp Hàm Kiệm II, không thể không giải quyết. Còn các mục tiêu khác của hồ Ka Pét có thể bỏ qua.

Nhưng không thể vì các mục tiêu này mà phá đi 680,41 ha rừng tự nhiên hàng ngàn năm mới có được. Phải tìm một lối thoát khác để vừa giữ lại được rừng tự nhiên cho muôn đời con cháu, vừa cấp được nước cho 120000 đồng bào Nam Bình Thuận cũng như nước tưới cho 7.762 ha đất nông nghiệp và khu công nghiệp Hàm Kiệm II.

Bởi vậy, xin đề xuất lối thoát theo các hướng sau.

1/ Bài toán đáp ứng nhu cầu nước

Xây dựng các chuỗi hồ nhân tạo nhỏ hơn ở các vị trí khác, không động đến rừng nguyên sinh, để giải bài toán về nước cho Hàm Thuận Nam. Để làm điều này cần thành lập một nhóm các nhà khoa học, giao nhiệm vụ đi khảo sát nghiên cứu thực địa và đề xuất giải pháp. Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

2/ Bài toán dân sinh

Nông nghiệp, đặc biệt là lúa, không đưa đến nguồn lợi lớn. Bởi vậy,

a/ Tạo công ăn việc làm mới trong lĩnh vực công nghiệp, du lịch và dịch vụ (có thu nhập cao hơn nông nghiệp) cho một bộ phận hoặc toàn bộ dân đang sống nhờ 7762 ha đất nông nghiệp. Giảm tỷ lệ dân nông nghiệp ở Hàm Thuận Nam xuống.

b/ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng. Giảm hoặc bỏ hẳn canh tác các cây trồng đòi hỏi nhiều nước mà không đưa lại lợi ích cao. Phải đặt mục tiêu kinh doanh hiệu quả nhất trên diện tích đất sở hữu, chứ không bắt buộc phải là trồng lúa, hay trồng cây nông nghiệp.

Đây là bài toán thuộc trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT và Bí thư Tỉnh uỷ tình Bình Thuận.

  1. Bài toán thoả hiệp tối thiểu

Vạn bất đắc dĩ, trong trường hợp không tìm ra lối thoát theo phương án 1 và 2 phía trên, thì xem tính khả dĩ của bài toán thoả hiệp tối thiểu. Tức là chỉ sử dụng một phần diện tích khu rừng (1/3 hoặc ít hơn), kết hợp với đào sâu lòng đất phần không có rừng, tạo nên 1 hồ chứa nước (khoảng 15 – 25 triệu m3 nước) đáp ứng cho nhu cầu tối thiểu. Với phương tiện hiện nay, đào hồ chứa nước nhân tạo 10 – 15 triệu m3 nước không phải là vấn đề khó. Hãy nghĩ đến đê ngăn nước biển của Hà Lan; hay dòng sông nhân tạo dài nhất thế giới 1600 km chảy qua sa mạc ở Libya chuyên chở 2,5 triệu m3 nước mỗi ngày; hay dự án Kaleshwaram trên sông Godavari, tưới cho 180000 ha, 19 hồ nước, 19 nhà máy bơm gồm 43 máy bơm, mỗi máy bơm công suất 40 MW, bơm qua 203 km đường ống và 1531 km kênh mương. Lúc đó sẽ nghĩ ra giải pháp cấp nước mà không cần phải phá rừng nguyên sinh.

Để có kết luận về hướng này cũng cần có nghiên cứu và đề xuất giải pháp của các nhà khoa học. Quyết định phương án này cũng là trách nhiệm của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT.

  1. Phương án khác

Dựa trên khảo sát thực tế, các nhà khoa học có thể đưa ra các phương án khác. Điều quan trọng nhất là quy tụ được trí tuệ của các nhà khoa học tốt nhất, và cả trí tuệ trong nhân dân, tham gia giải quyết vấn đề, chứ không chỉ riêng các nhà quản lý ở Bộ NN&PTNT, ở tỉnh Bình Thuận, ở QH “đóng cửa bấm nút”.

Tin tưởng một cách sắt đá rằng, nếu Bộ trưởng Bộ NN&PTNT biết huy động trí tuệ của các nhà khoa học và trí tuệ trong quần chúng, thì chắc chắn có giải pháp tốt cho vấn đề cấp nước ở Hàm Thuận Nam mà không phải phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh.

IV. Trách nhiệm của lãnh đạo hiện thời

Các quyết định của Quốc hội, Bộ NN&PTNT, Tỉnh uỷ Bình Thuận vào năm 2014, không có nghĩa là tự động phải tuân theo lúc này. Hoàn cảnh khác, tiềm lực khác, phương tiện khác. Lãnh đạo hiện thời mới là người quyết định có triệt phá 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh để xây dựng hồ chứa nước Ka Pét hay không.

Bởi thế, trách nhiệm số 1 trong quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào thời điểm hiện tại phụ thuộc vào quyết định của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan. Từ đề xuất của Bộ trưởng Bộ NN&PTNT mới đến trách nhiệm của Chính phủ và Quốc hội quyết định.

Cùng với Bộ trưởng Bộ NN&PTNT là trách nhiệm của Bí thư Bình Thuận đương thời. Quyết định của Bí thư Bình Thuận tiền nhiệm không phải lúc nào cũng đúng, cũng vô tư. Đã có rất nhiều lãnh đạo tiền nhiệm bị kỷ luật. Quan trọng nữa là thời thế khác. Vì quyền lợi của người dân Bình Thuận, Bí thư Bình Thuận hiện nay phải có trách nhiệm đưa ra quyết định về đồng ý hay phản đối việc phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh cùng các đề xuất.

Và không thể không nhắc đến trách nhiệm của các vị ĐBQH Khoá XV hiện nay. Nếu 680.41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh bị phá bỏ vào nhiệm kỳ QH Khoá XV, thì đó là trách nhiệm của QH khoá XV, chứ không thể né tránh là do QH khoá XIII đã thông qua mà thờ ơ. Bởi vì QH Khoá XV có toàn quyền thay đổi quyết định của QH khoá XIII về rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh và hồ Ka Pét.

Có người nói rằng, người dân Nam Bình Thuận thì đang cần nước, còn dân mạng xã hội thì đòi bảo vệ rừng. Đời người thường không quá 100 năm. Nếu không có nước thì không thể sống hết đời người, còn đâu mà bảo vệ rừng cho ngàn năm sau.

Để thấy được cả dân Nam Bình Thuận, cả mạng xã hội nói hộ cho người dân toàn quốc, cần một câu trả lời rõ ràng từ lãnh đạo các cấp có thẩm quyền hiện nay, cụ thể là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Minh Hoan, Bí thư Bình Thuận Dương Văn An, và 500 vị ĐBQH khoá XV. Khi vấn đề được xem xét lại kỹ lưỡng trên cơ sở các phương án đề xuất của các nhà khoa học, thì quyết định giữ hay bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh sẽ giải toả mọi băn khoăn của người dân.

Trước hết và đầu tiên, trước mọi quyết định hay trả lời, là Bộ trưởng Bộ NN&PTNT cần thành lập một tập thể các nhà khoa học có năng lực, với nhiệm vụ đi khảo sát và đề xuất các phương án giải quyết. Trong đoàn các nhà khoa học, cần bao gồm cả người ngoài Bộ NN&PTNT, cả những người không còn trong biên chế, cả những người dám nói khác ý lãnh đạo, và không bao gồm những người đã đồng ý với quyết định phá bỏ 680,41 ha rừng nguyên sinh Mỹ Thạnh vào năm 2014.

Chúng ta đang dần bán hết tài nguyên thừa kế của cha ông từ ngàn xưa mà không hề nghĩ đến để lại một phần cho đời sau. Chang ta đang tàn phá rừng nguyên sinh, dành bão lũ, sụt lở, nóng bức, thiếu ô xy cho con cháu. Tài nguyên thừa kế của tổ tiên ngàn đời không chỉ dành cho một thế hệ, mọi quyết định đều nặng ngàn cân, chứ không phải thích thì tuỳ tiện giơ tay bấm nút. Phát triển là để trường tồn, không phải phát triển để bức tử hậu thế.

 


 

Những gã khổng lồ năng lượng mặt trời của Trung Quốc đang bay quá gần mặt trời?

Theo báo Nikkei Á Châu

Các nhà sản xuất tấm pin mặt trời của Trung Quốc, vốn chiếm tới 95% năng lực sản xuất toàn cầu, đang tăng gấp đôi khoản đầu tư vào phân khúc đang bùng nổ này, đồng thời công bố kế hoạch mở rộng thêm chuỗi cung ứng.

Nhưng với công suất đã vượt quá nhu cầu và đang trên đà tăng vọt vào năm 2030, vượt xa yêu cầu dự báo của thị trường, các nhà phân tích cũng như nhà đầu tư đang bắt đầu đặt câu hỏi liệu những kế hoạch này có hợp lý hay không?

Theo kế hoạch, công suất của 5 nhà sản xuất hàng đầu Trung Quốc – Jinko Solar Holding, Longi Green Energy Technology, JA Solar Technology, Trina Solar và Canadian Solar – sẽ tăng 54% vào cuối năm nay, từ năm 2022 để đạt 465 gigawatt. Tính toán của Caixin dựa trên báo cáo tài chính của các công ty.

Thật vậy, mục tiêu sản xuất kết hợp từ 310 GW đến 325 GW trong năm nay của họ đã có thể đáp ứng hầu hết tổng nhu cầu của thế giới.

Khi bao gồm các nhà sản xuất nhỏ hơn và các công ty khác trong lĩnh vực tổng công suất của ngành quang điện (PV) của Trung Quốc sẽ đạt gần 1.000 GW vào cuối năm 2023, nhiều hơn gấp đôi mức tiêu thụ của thế giới, theo ước tính của một số chuyên gia. các tổ chức nghiên cứu và các chuyên gia trong ngành.

Theo SolarPower Europe, một nhóm vận động năng lượng mặt trời đại diện cho hơn 300 tổ chức trong toàn ngành, nhu cầu toàn cầu được dự báo sẽ đạt tới 402 GW trong năm nay và gần 800 GW vào năm 2027.

Mục tiêu cacbon

Sự mở rộng của các công ty quang điện khổng lồ của Trung Quốc được thúc đẩy bởi cam kết của chính phủ vào năm 2020 nhằm đạt mức phát thải carbon dioxide cao nhất vào năm 2030 và trở thành trung hòa carbon vào năm 2060. Điều này khiến ngành quang điện trở thành một ngành gần như được đảm bảo về tăng trưởng mặc dù tốc độ mở rộng kinh tế nhìn chung đang chậm lại và dẫn đến lượng vốn lớn đổ vào lĩnh vực này.

Trước năm 2020, trong suốt thập kỷ qua, năng lực sản xuất PV toàn cầu đã ngày càng chuyển từ Châu Âu, Nhật Bản và Mỹ sang Trung Quốc, quốc gia đã đầu tư hơn 50 tỷ USD vào công suất mới, gấp 10 lần so với Châu Âu kể từ năm 2011 và chiếm 80% 95% thị trường tấm pin mặt trời, theo báo cáo năm 2022 của IEA.

IEA cho biết Trung Quốc có khả năng duy trì thị phần đó trong 5 năm tới, bất chấp nỗ lực đa dạng hóa chuỗi cung ứng về mặt địa lý.

Ngành công nghiệp PV có một chuỗi sản xuất dài. Khu vực thượng nguồn tinh chế polysilicon từ silicon công nghiệp được nấu chảy từ quặng silicon.

 

Một nhà máy sản xuất polysilicon ở Zhangye, tỉnh Cam Túc, vào ngày 2/10/2023.

Polysilicon là nguyên liệu thô chính được sử dụng để chế tạo pin mặt trời. Qua các công ty trung gian, Polysilicon được  biến các thanh và thỏi polysilicon thành các tấm bán dẫn, Các công ty tiếp theo  chế chúng thành các tế bào quang điện.

Một công nhân đang kiểm tra các tế bào polysilicon được sản xuất tại một nhà máy ở Phúc Châu, tỉnh Giang Tây, vào ngày 31/7/2023.

Ở giai đoạn cuối, các tế bào được lắp ráp thành các mô-đun, còn được gọi là tấm pin mặt trời.

China's solar industry is at a crossroads | China Dialogue

Hầu hết các công ty lớn nhất,  dẫn đầu ngành đều đặt mục tiêu mở rộng thông qua cái gọi là “cách tiếp cận tích hợp”, nghĩa là họ cố gắng sản xuất mọi thứ trong chuỗi ngành, từ nguyên liệu thô đến sản phẩm cuối cùng hoặc ít nhất là các phân khúc sản xuất wafer, tế bào quang điện và mô-đun trung và hạ nguồn. Một số công ty đã mở rộng hoạt động của mình sang cả thượng nguồn, sản xuất polysilicon.

Theo Hiệp hội Công nghiệp Quang điện Trung Quốc, 8 trong số 10 mô-đun PV trên thế giới được sản xuất tại Trung Quốc, trong khi hơn một nửa số mô-đun PV của Trung Quốc được xuất khẩu.

 

Thuế quan của Mỹ đối với các mô-đun điện mặt trời do Trung Quốc sản xuất đã thúc đẩy việc sản xuất mô-đun di dời sang Đông Nam Á, nơi nhiều cơ sở sản xuất nhập khẩu tế bào từ Trung Quốc, theo công ty tư vấn năng lượng Wood Mackenzie. Theo Hiệp hội Công nghiệp Quang điện Trung Quốc, xuất khẩu PV của Trung Quốc cũng đang tăng nhanh sang Trung Đông, Brazil, Chile, Peru và Nam Phi. Tuy nhiên hiện nay những thị trường này đã bão hòa.

Lĩnh vực này đã trải qua một cuộc chiến giá cả tương tự khoảng 11 năm trước, trong đó các công ty quang điện Trung Quốc có thể mở rộng công suất nhờ các khoản trợ cấp hào phóng của chính phủ, nhưng sau đó gặp phải các rào cản thương mại khiến thị trường bị thu hẹp.

Trên thực tế, hơn một nửa các nhà sản xuất năng lượng mặt trời của Trung Quốc có thể bị buộc phải rời bỏ trong vòng 2 đến 3 năm tới vì dư thừa công suất, Li Zhenguo, chủ tịch của Longi Green Energy, nói với Bloomberg trong một cuộc phỏng vấn vào tháng 5/2023.

Đi về phía Tây

Các nhà sản xuất quang điện Trung Quốc cũng đang đẩy mạnh mở rộng công suất ở châu Âu và Mỹ, nơi họ đang tận dụng Đạo luật giảm lạm phát năm ngoái, bao gồm các ưu đãi trị giá 374 tỷ USD cho công nghệ sạch do Mỹ sản xuất.

Jinko đã đầu tư 52 triệu USD để xây dựng một nhà máy ở Jacksonville, Florida, nơi chính phủ của họ vào tháng 4 đã phê duyệt khoản tài trợ 2,3 triệu USD trong 10 năm cho một dự án mở rộng nhằm tăng công suất mô-đun lên 1 GW.

Vào tháng 1, JA Solar đã công bố kế hoạch xây dựng một nhà máy sản xuất tấm pin mặt trời trị giá 60 triệu USD ở Phoenix, trong khi Longi Green Energy sẽ hợp tác với nhà phát triển năng lượng mặt trời Invenergy của Mỹ để xây dựng một nhà máy lắp ráp tấm pin mặt trời 5 GW trị giá 600 triệu USD ở Ohio, chính quyền địa phương công bố vào tháng 3.

Dữ liệu từ InfoLink cho thấy các mô-đun PV ở Trung Quốc đã được bán ở mức 1,21 đến 1,25 nhân dân tệ mỗi watt trong tuần cuối cùng của tháng 8, so với 1,18 đến 1,3 nhân dân tệ ở châu Âu và 2,18 đến 3,27 nhân dân tệ ở Mỹ.

Nhưng chi phí xây dựng, nhân công và thiết bị ở Mỹ đắt hơn nhiều. Đối với một nhà máy mô-đun 1 GW, chi phí xây dựng ở Trung Quốc chỉ dưới 100 triệu nhân dân tệ. Nhưng chi phí cho nhà máy của JA Solar ở Mỹ là 570 triệu nhân dân tệ và hơn 800 triệu nhân dân tệ cho cơ sở của Longi.

REC Silicon (Na Uy)  sản xuất polysilicon ở Hoa Kỳ tại Hồ Moses ở Washington.

Mặc dù chi phí cao hơn nhưng các công ty Trung Quốc vẫn cho rằng rủi ro là thấp. Một giám đốc điều hành của một công ty Trung Quốc tin rằng họ có thể thu hồi chi phí trong năm thứ hai nhờ trợ cấp của Đạo luật Giảm lạm phát. Nhưng ngay cả khi không có trợ cấp, một nhà máy ở Mỹ vẫn có thể hòa vốn sau 3-4 năm, giám đốc điều hành công ty cho biết.

 

Bài viết của Yuan Xiaoshan và Qiu Yi thuôc tập đoàn Caixin Trung Cộng


 

Bản đồ mới của Trung Quốc đã gây phẫn nộ trong khu vực với ‘mối quan ngại tập thể’ ngay trươc thềm hội nghị Đông Á và G20

theo báo Bựu Điện Hoa Nam

Thủ tướng Trung Quốc Lý Cường (trái) được Tổng thống Indonesia Joko Widodo chào đón tại hội nghị thượng đỉnh ở Jakarta hôm thứ Tư. Bắc Kinh đang phải đối mặt với phản ứng dữ dội về bản đồ chính thức mới nhất của mình. Ảnh: AP

Bắc Kinh đang phải đối mặt với phản ứng dữ dội về “bản đồ tiêu chuẩn” mới của họ đưa ra yêu sách đối với phần lớn Biển Đông đang tranh chấp , cũng như lãnh thổ mà Ấn Độ và Nhật Bản tuyên bố chủ quyền, mà nước này công bố ngay trước hai hội nghị thượng đỉnh quan trọng.

Trong lúc các nước láng giềng nổi giận, Trung Quốc đang tham dự cả hai cuộc họp – Hội nghị thượng đỉnh Đông Á đang diễn ra ở Jakarta và cuộc đàm phán Nhóm 20 sẽ được tổ chức tại New Delhi vào tuần tới – mặc dù Thủ tướng Lý Cường sẽ tham gia các cuộc họp thay vì Chủ tịch Tập Cận Bình.

Nhật Bản là quốc gia châu Á mới nhất phản đối bản đồ do Trung Quốc công bố tuần trước, trong đó coi quần đảo Điếu Ngư là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Các đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông cũng được Nhật Bản tuyên bố chủ quyền và được gọi là Senkaku.

Chánh văn phòng Nội các Hirokazu Matsuno nói với các phóng viên hôm thứ Ba rằng Tokyo đã phản đối mạnh mẽ Bắc Kinh về bản đồ này. Ông cho biết quần đảo này “không thể chối cãi là một phần vốn có của lãnh thổ Nhật Bản, cả về mặt lịch sử lẫn luật pháp quốc tế”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Mao Ning hôm thứ Tư cho biết quần đảo này là “lãnh thổ cố hữu của Trung Quốc” và được đánh dấu trên bản đồ của nước này là “vấn đề tất nhiên”.

Ấn Độ là quốc gia đầu tiên đưa ra “phản đối mạnh mẽ” khi Trung Quốc công bố bản đồ mới về việc đưa bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ và cao nguyên Aksai Chin đang tranh chấp vào lãnh thổ Trung Quốc.
Theo sau là Malaysia , Philippines, Việt Nam và Brunei – tất cả đều có yêu sách đối với Biển Đông – cũng như Indonesia, quốc gia lo ngại về khu vực gần quần đảo Natuna có chồng lấn với yêu sách của Trung Quốc.

Nepal cũng chỉ trích bản đồ của Trung Quốc, cho rằng nó đánh dấu 3 khu vực mà nước này coi là một phần của Nepal là lãnh thổ của Ấn Độ.

Sun nói rằng trong bối cảnh cuộc chiến ở Ukraine, “các nước nhạy cảm hơn với việc Trung Quốc thể hiện ý định tương tự nhằm giành lãnh thổ bằng vũ lực hoặc bằng cưỡng bức”.

Sun nói: “Bản đồ được phát hành năm ngoái có thể có nội dung tương tự, nhưng không ai mong đợi bất kỳ sự theo dõi đáng tin cậy nào do các hạn chế đi lại do Trung Quốc tự áp đặt”. “Nhưng bây giờ Trung Quốc đã nối lại các hoạt động đối ngoại bình thường, ý nghĩa của bản đồ này còn quan trọng hơn nhiều vì giờ đây mọi người tin rằng Trung Quốc có thể hành động để thực thi nó.

“Trung Quốc có thể nghĩ rằng đây là điều họ đã làm thường xuyên và không hề bị phản đối. Nhưng năm nay mọi chuyện không còn như vậy nữa”

Chen từ viện nghiên cứu Hải Nam cho biết các cuộc biểu tình, phản đối từ các nước láng giềng có thể là một phần trong nỗ lực củng cố yêu sách của chính họ.

Ông lưu ý rằng căng thẳng trên Biển Đông đã gia tăng trong những năm gần đây, đặc biệt kể từ năm 2016, khi tòa án quốc tế ở The Hague ra phán quyết rằng không có cơ sở pháp lý cho các yêu sách của Bắc Kinh đối với tuyến đường thủy giàu tài nguyên – một phán quyết mà Bắc Kinh bác bỏ.

“Nếu họ không phản đối, điều đó có thể được coi là họ chấp nhận yêu sách của Trung Quốc”, Chen nói


TRỞ THÀNH TỶ PHÚ-Truyện vui

Một nhà triệu phú người Mỹ nghĩ hè ở một làng chài bên vịnh Mêhicô. Chiều chiều khi những thuyền cá kéo nhau cập bến, ông lại rảo bộ ngắm cảnh tấp nập ồn ào, hít ngửi làn gió tanh tanh mằn mặn.

Một chiều nọ, đứng trên bờ ông thấy một cô bé lấy tay che bớt ánh nắng và nhìn ra biển.

Nhà triệu phú bước tới bắt chuyện hỏi :

Cháu chờ ai vậy?

— Cô bé đáp: cháu chờ cha cháu đi khơi về để lấy cá đi bán .

Thường cha cháu đánh được nhiều cá không ?.

— Dạ, không nhiều đâu, mấy con cá ngừ….nhưng cha cháu chỉ đi có một loáng rồi về .

Thế sao cha cháu không câu nhiều cá hơn nữa ?.

— Dạ, ngần ấy đủ cho nhà cháu sống rồi ạ !.

Thế thời gian còn lại cha cháu làm gì ?

— Cha cháu chơi với cháu, dạy chúng cháu vá lưới, sửa đồ trong nhà. Cha giúp Mẹ cháu trồng cây, chặt củi, vét giếng. Thỉnh thoảng cha chơi Ghita hát hò với mấy chú hàng xóm. Cháu thấy cha cháu bận cả ngày ấy !

Nghe xong, nhà triệu phú nhún vai nói:

Cháu biết ta là ai không ? Ta là triệu phú, ta có bằng thạc sĩ kinh tế của trường Harvard. Ta sẽ chỉ cho cha cháu phải năng đi biển hơn, đi đủ bảy ngày mỗi tuần, từ sáng tinh mơ tới nửa đêm, câu thật nhiều cá bán lấy tiền. Rồi nhờ tiền đó, ông mua một chiếc thuyền to hơn, có thuyền to, ông có thể ra xa bờ nơi có nhiều cá hơn. Chẳng bao lâu cha cháu sẽ có đủ tiền sắm thêm vài chiếc thuyền, thuê người ra khơi. Khi có nhiều cá hơn nữa, cha cháu đừng bán cá cho lái mà phải mở xưởng đóng cá hộp riêng, tổ chức hệ thống bán lẻ riêng. Lúc đó, cha con cháu sẽ rời bỏ ngôi làng chài heo hút và chuyển lên Mexico City, rồi sang Mỹ, ban đầu thì ở Los Angeles, sau dời tới New York, cha cháu sẽ làm chủ cả một vương quốc đánh bắt, chế biến và tiêu thụ cá biển, cha cháu sẽ sống trong các biệt thự trị giá vài chục triệu đô la, mặc đồ thời trang khiến các minh tinh Holywood phát thèm…

— Dạ, thế mất chừng bao lâu mới được vậy ạ.?

Chừng 15 , 20 năm gì đó .

— Dạ, rồi sau đó thì sao ạ !

Rồi cha cháu phát hành cổ phiếu, đăng ký tham gia thị trường chứng khoán. Ồ lúc đó cha cháu sẽ rất giàu, là triệu phú như ta hiện nay …. biết đâu cha cháu trở thành tỷ phú cũng không chừng …

— Dạ, tỷ phú ? Rồi sao nữa ạ ?…

Sau cùng, cha cháu về hưu. Ông sẽ chơi với các con, dạy con vá lưới, phơi cá, sửa đồ trong nhà. Cha cháu sẽ giúp mẹ trồng cây, chặt củi, vét giếng …. thỉnh thoảng ông chơi Ghita hát hò với mấy chú hàng xóm. Rồi Cha cháu cũng bận rộn cả ngày ấy ..!

— Khi nghe xong , cô bé bình thản nói :

Thế thì cha cháu chẳng cần làm tỷ phú thưa ông. Cha cháu đã có tất cả cái sau cùng mà ông vừa nói rồi ạ ..!!

The beautiful and peaceful fishing villages in Nha Trang captivate ...

Khi bạn không thoát khỏi ham muốn, thì bạn sẽ bất chấp làm mọi thứ để bán rẻ sức khỏe của mình cho đồng tiền. Đời người nói dài cũng không quá dài, nói ngắn cũng không phải là quá ngắn. Cuộc sống này vô thường ngắn ngủi lắm bạn à! Câu chuyện trên như muốn khuyên ta:

Làm việc gì cũng được, miễn sao tâm hồn được thanh thản — làm điều gì cũng được, miễn sao thân thể được bình an — gia đình luôn vui vẻ hạnh phúc….

Sức khỏe và Gia Đình là điều vô giá không có đồng tiền nào có thể mua được…!!

Sưu tầm

From: haiphuoc47&NguyenNThu


 

Quan hệ Việt-Mỹ: Một Việt Nam dân chủ không có lợi cho Mỹ? – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Tiến sĩ Nguyễn Khắc Giang, nhà nghiên cứu là khách mời (visiting fellow) thuộc Viện ISEAS Singapore nhận xét với BBC rằng, quan hệ giữa Mỹ và Việt Nam từ thời Tổng thống Donald Trump tới thời Tổng thống Joe Biden, ưu tiên hàng đầu không phải là hồ sơ nhân quyền của Việt Nam, mà là địa chính trị, với việc liệu Việt Nam có vai trò như thế nào trong các chiến lược nêu trên.

Thêm nữa, mục đích của ông Biden đến Việt Nam là để nâng cấp quan hệ đôi bên trong nỗ lực kiềm tỏa sự trỗi dậy của Trung Quốc, nên việc gặp gỡ những nhà hoạt động nhân quyền sẽ đưa ra tín hiệu không tích cực đối với Việt Nam. Vì thế, ông Biden có thể sẽ tránh điều đó, theo TS Giang.

Cây viết David Hutt nhận xét với BBC rằng, Washington không coi một Việt Nam dân chủ là điều có lợi cho Mỹ:

“Một chính quyền hậu cộng sản ở Việt Nam sẽ mang tinh thần dân tộc chủ nghĩa cao hơn nhiều so với ĐCSVN, điều này sẽ làm tăng đáng kể nguy cơ xảy ra xung đột thực tế trên Biển Đông.”

BBC.COM

Quan hệ Việt-Mỹ: Một Việt Nam dân chủ không có lợi cho Mỹ? – BBC News Tiếng Việt

Một số nhà quan sát nhận định hồ sơ nhân quyền của Việt Nam tuy là một trong những điều làm Hoa Kỳ lo ngại nhưng sẽ không được đề cao trong chuyến thăm của ông Biden tới Hà Nội.


 

Cao Tuấn: Về một người Việt Nam đi tìm các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung

Diễn Đàn Thế Kỷ

Giáo Sư Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990). Wikipedia

Người Việt Nam nói ở đây là ông Nguyễn Ngọc Huy, tác giả quyển sách “Các Ẩn Số Chánh Trị Trong Tiểu Thuyết Võ Hiệp Kim Dung” xuất hiện ở Hải Ngoại vào khoảng 1985, 1986 nhưng tác phẩm này không được biết đến nhiều như các tác phẩm “chính thống” khác của tác giả Nguyễn Ngọc Huy. Tuy vậy, theo thiển ý, đó là một tác phẩm đứng đắn, độc đáo, đáng đọc và đáng suy nghĩ. Nếu ông Huy chứng minh nhà văn Kim Dung, người Trung Hoa, có những hậu ý chính trị khi viết các bộ tiểu thuyết võ hiệp nổi tiếng thì có thể chính ông Huy, một nhà chính trị Việt Nam cũng có những thông điệp chính trị riêng khi bỏ thì giờ viết sách về Kim Dung. Nhưng trước hết ông Nguyễn Ngọc Huy là người thế nào?

VĂN LÀ NGƯỜI

Ông Nguyễn Ngọc Huy (1924-1990) được biết đến đầu tiên là một người làm thơ. Ông làm thơ rất sớm, hầu hết các bài thơ đều được viết vào tuổi sấp sỉ 20. Thơ của ông, với bút hiệu Đằng Phương, nhất quán có một nội dung đặc biệt:

Tôi chẳng phải là một nhà thi sĩ

Lấy văn thơ làm Lẽ Sống trên đời

Đem ngọc châu trau chuốt mãi lên lời

Để trang điểm nàng Ly Tao diễm lệ

Tôi chỉ là một người dân đất Việt

Cảm nỗi buồn của kẻ mất quê hương

Nỗi nhục nhằn nỗi khổ cực đau thương

Của nòi giống kẹt trong cùm lệ thuộc

Tôi đánh bạo lấy vần thơ bỡ ngỡ

Để diễn trình quan niệm đấu tranh chung

Để phô bầy những nguyện ước chờ mong

Những triển vọng về tương lai giống Việt

Tôi mượn thơ để gây lòng phấn khởi

Cho chính mình trong những lúc gian lao

Trong những khi thất bại, những khi nào

Chân yếu đuối muốn rời đường chiến đấu

(Thay Lời Tựa tập thơ HỒN VIỆT xuất bản lần đầu vào năm 1950)

Thơ Đằng Phương nên được xếp vào loại “Anh Hùng Ca” – nói về dân tộc, lịch sử, lòng yêu nước, yêu quê hương, ngợi ca những người tranh đấu vì nước quên thân:

Hỡi những ai kia đã luỵ mình

Đã vì non nước chịu hy sinh

Đã vì chủng tộc khai đường sống:

Đây nén hương lòng kẻ hậu sinh!

(Nén Hương Lòng)

Diễn tả cảnh hy sinh bi tráng của họ như trường hợp Nguyễn Thái Học và 12 liệt sĩ Việt Nam Quốc Dân Đảng tuẫn tiết trên đoạn đầu đài:

Sau cái nhìn chào non nước bi ai

Họ thản nhiên, lần lượt bước lên đài

Và dõng dạc buông tiếng hô hùng dũng:

Việt Nam Muôn Năm! Một đầu rơi rụng

Việt Nam Muôn Năm! Người kế tiến lên

Và Tử Thần kính cẩn đứng ghi tên

Những liệt sĩ vào bia người tuẫn quốc.

(Ngày tang Yên Báy)

Ý nghĩ của nhà thơ trong sáng, giản dị:

…..

Trên đường lối đấu tranh cho lẽ sống, 

Bóng anh hùng nòi giống nếu không quên

Thì giang sơn vạn cổ vẫn lâu bền

Và Lịch Sử vẫn luôn bừng nhuệ khí

(Anh Hùng Đất Việt)

Nếu bài hát “Tình Ca” của Phạm Duy “tôi yêu tiếng nước tôi từ khi mới ra đời người ơi!…Mẹ hiền ru những câu xa vời… Ạ ạ  ơi…tiếng ru muôn đời…tiếng nước tôi….Bốn ngàn năm ròng rã buồn vui…Khóc cười theo mệnh nước nổi trôi, nước ơi!…” đã khiến người Việt Nam suốt mấy thế hệ không nguôi thương nhớ quê hương thì bài thơ “Anh Hùng Vô Danh” của Đằng Phương cũng có ảnh hưởng không kém kể từ thập niên 1950 cho đến ngày nay. Lời tâm can vang vọng rất tự nhiên:

Họ là kẻ khi quê hương chuyển động

Dưới gót giầy của những kẻ xâm lăng

Đã xông vào khói lửa quyết liều thân

Để bảo vệ Tự Do cho Tổ Quốc

Trong chiến đấu không nài muôn khó nhọc

Cười hiểm nguy, bất chấp nỗi gian nan, 

Người thất cơ đành thịt nát, xương tan

Nhưng kẻ sống lòng son không biến chuyển.

Và đến lúc nước nhà vui thoát hiểm

Quyết khước từ lợi lộc với vinh hoa

Họ buông gươm trở lại chốn quê nhà

Để sống lại cuộc đời trong bóng tối

Họ là kẻ anh hùng không tên tuổi

Trong loạn ly như giữa lúc thanh bình

Bền một lòng dũng cảm, chí hy sinh

Dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch

Tuy công nghiệp không ghi trong sử sách

Tuy bảng vàng bia đá chẳng đề tên

Tuy mồ hoang xiêu lạc dưới trời quên

Không ai đến khấn nguyền dâng lễ vật

Nhưng máu họ đã len vào mạch đất

Thịt cùng xương trộn lẫn với non sông

Và anh hồn chung với tấm tinh trung

Đã hoà hợp làm linh hồn giống Việt.

Sau tuổi hoa niên ông Nguyễn Ngọc Huy không còn làm thơ nữa hoặc làm rất ít, nhưng cuộc đời còn lại cho đến khi chết ông sống đúng như thơ, từ suy nghĩ đến hành động, luôn hướng về mục đích phụng sự Tổ Quốc.

Có lẽ không cần nhắc quá nhiều đến sự kiện ông Huy là người trí thức đậu cử nhân luật khoa và tiến sĩ chính trị học ở Paris trong trong thời gian sống lưu vong ở Pháp và trở về miền Nam Việt Nam làm giáo sư dạy về Luật Hiến Pháp, Học Thuyết Chính Trị, Bang Giao Quốc Tế tại các trường đại học Sài Gòn, Huế, Đà Lạt, Cần Thơ trong khoảng thời gian 1964-1975. Trong những năm tháng chiến tranh nhiễu nhương ấy, ông Huy nổi tiếng là một nhà giáo dậy giỏi, một lý thuyết gia uyên bác và một lãnh tụ chính trị quốc gia tận tuỵ nhưng cẩn thận, ôn hoà. Trong suốt cuộc đời ông Huy cũng viết nhiều sách báo giá trị bằng cả 4 ngôn ngữ Việt, Pháp, Anh, Hán

Tuy được xem là một lãnh tụ chính trị quan trọng của người quốc gia Việt Nam nhưng ông Nguyễn Ngọc Huy chưa bao giờ ở vị trí quyền lực để thực thi lý tưởng xây dựng một quốc gia dân chủ pháp trị lương hảo, tạo nội lực đủ sức chống lại chủ nghĩa Cộng Sản độc tài toàn trị.

Lần duy nhất ông đến gần guồng máy quyền lực là khi người đồng chí “như hình với bóng” của ông là ông Nguyễn Văn Bông, giáo sư đại học thạc sĩ công pháp, chủ tịch Phong Trào Quốc Gia Cấp Tiến mà ông làm Tổng Thư Ký, chuẩn bị ra làm Thủ Tướng vào năm 1971 theo lời mời bất đắc dĩ của ông Tổng Thống “quân phiệt” Nguyễn Văn Thiệu.

Tuy nhiên đảng Cộng Sản Việt Nam, trông thấy trước được mối nguy hiểm, đã mau chóng ra lệnh cho đặc công ở Sài Gòn ám sát ông Nguyễn Văn Bông như họ đã từng ám sát những địch thủ tài năng, đức độ và quan trọng khác của người Việt Quốc Gia là các ông Trương Tử Anh, Lý Đông A, Khái Hưng, Huỳnh Phú Sổ…trong cuộc phân tranh Quốc-Cộng kéo dài 30 năm (1945-1975).

Người ta có thể không đồng ý về những quan điểm chính trị của ông Nguyễn Ngọc Huy nhưng không ai có thể phủ nhận được trường hợp của ông Huy: “văn tức là người”. Bởi vì không ai có thể giải thích khác hơn được về một người “lúc hết hơi mới biết đến mạng trời và nhắm mắt mới đành thôi hoạt động” và khi chết chỉ sở hữu vài bộ quần áo cũ và một một ít sách.

Và cũng không có ai có dịp tiếp xúc với ông Huy mà không thấy ông là người chừng mực, tự chủ, quyết tâm. Bình dị trong lời nói nhưng phong phú trong ý tưởng. Không bao giờ làm bộ tịch, không bao giờ “đao to, búa lớn”. Một người “dâng đất nước cả cuộc đời trong sạch”. Một người “thong dong tựu nghĩa”.

Có nhiều người viết về Kim Dung nhưng viết hẳn một quyển sách công phu về riêng một khía cạnh – “ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung” –  thì ông Huy là người duy nhất.

Một câu hỏi đến tự nhiên: Tại sao một người lỗi lạc lại bận rộn như ông Huy lại “mất công” với với loại truyện giải trí bình dân như thế?

Câu trả lời chỉ tìm thấy sau khi đã đọc xong quyển “Những Ẩn Số Chánh Trị…” dầy 290 trang. Và câu trả lời có thể sẽ là như sau:

Mặc dầu truyện võ hiệp nói chung bị xem là loại văn chương bình dân nhưng riêng với Kim Dung ông Huy nhìn thấy hình ảnh của một đại văn hào có một sở học uyên bác và óc tưởng tượng dồi dào – Những bộ truyện trường thiên của Kim Dung đều có thể so sánh được với các bộ sách bất hủ của dân tộc Trung Hoa đã làm say mê cả người bình dân lẫn người trí thức, người Việt Nam lẫn người Trung Hoa, với những ý nghĩa triết lý hoặc các bài học chính trị, đạo đức tiềm ẩn như Tam Quốc Chí, Đông Chu Liệt Quốc, Tây Du Ký… Nếu suy nghĩ khi đọc truyện Kim Đung người ta có thể học được nhiều điều hữu ích.

Ông Huy nghiên cứu, quen thuộc với lịch sử, tư tưởng và  văn hoá Trung Hoa. Luận Án Tiến Sĩ  của ông ở đại học Paris viết bằng tiếng Pháp đã được chính ông dịch sang tiếng Việt có đề tài “Người Ưu Tú Trong Tư Tưởng Chánh Trị Trung Quốc Cổ Thời” (Le thème de l’élite dans la pensée politique de la Chine antique), 1963. Tác phẩm của Kim Dung, vì thế, đã hấp dẫn ông Huy một cách tự nhiên.

Ngoài sự kính nể của người trí thức đối với người trí thức, nhà tư tưởng đối với nhà tư tưởng,  ông Huy viết về truyện Kim Dung vì ông cùng chia sẻ với nhà văn một số giá trị căn bản chung, vì thấy ở Kim Dung một tâm hồn đồng điệu bất kể khoảng cách về không gian, thời gian hay chủng tộc. (Lẽ dĩ nhiên nói như thế không có nghĩa ông Huy đồng ý hoàn toàn với những điều ông tìm thấy về tư tưởng của Kim Dung).

Tác phẩm của Kim Dung phong phú, đồ sộ và có thể nghiên cứu, nhận định dưới nhiều khía cạnh. Ông Huy chỉ giới hạn, như đã nói, vào một khía cạnh mà ông quan tâm hơn cả đó là “các ẩn số chính trị” trong tác phẩm. Ông đi tìm những ẩn số này bằng khả năng phân tích và tổng hợp của một nhà khoa học chính trị, một người quen viết nghị luận cũng như bằng tâm tư của một chính trị gia Việt Nam đang “trong gian truân cố chuyển lại cơ trời”, luôn luôn suy nghĩ về những vấn đề của đất nước mình.

NHỮNG “BÍ MẬT” CỦA KIM DUNG ĐàĐƯỢC “BẬT MÍ” THẾ NÀO?

Để tránh những hệ luỵ rắc rối không cần thiết các tiểu thuyết gia gần như luôn luôn xác định “tác giả không có ý ám chỉ một nhân vật hay một sự việc có thật nào trong đời sống cho nên mọi trùng hợp nếu có chỉ là ngẫu nhiên”. Kim Dung cũng không đi ra ngoài thông lệ ấy khi tuyên bố “Nội dung tiểu thuyết không tránh khỏi sự biểu lộ tư tưởng của tác giả nhưng không phải tác giả cố ý đem nhân vật, sự tích cùng bối cảnh đến một lãnh vực tư tưởng hay một chính sách (có thật) nào đó…Tiểu thuyết võ hiệp không liên quan gì đến tư tưởng chánh trị, ý thức tôn giáo, khoa học trúng hay trật, đạo đức phải hay trái…”

Lập trường “phi chính trị” nhưng “nói để mà nói” của Kim Dung đã không ngăn cản ông Huy đi tim dụng ý chính trị của tác giả rải rác trong các tác phẩm và ông đã tìm ra, đã nhìn thấy một số dữ kiện có ý nghĩa chính trị. Các dữ kiện này vừa đủ số lượng, vừa ăn khớp vào nhau để có thể đưa ra nhũng thông điệp về lập trường của Kim Dung.

Trong phần “Lời Mở Đầu” của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy nêu một vài chi tiết quan trọng:

Lúc đảng Cộng Sản Trung Hoa tranh đoạt được quyền lãnh đạo Trung Quốc, Kim Dung vẫn còn ở lại lục địa, sau đó mới dời ra sống ở Hongkong và làm biên tập viên cho hai tờ báo thiên tả là Đại Công Báo và Trường Thành Hoạ Báo cho đến năm 1957. Sự kiện này cộng với các ẩn số chính trị tìm thấy trong một số các bộ truyện của Kim Dung khiến ông Huy suy đoán Kim Dung vốn là người trí thức khuynh Tả, có thiện cảm với các đoàn thể theo Xã Hội Chủ Nghĩa và các quốc gia theo chế độ Cộng Sản và không có thiện cảm với các đoàn thể thuộc phái Hữu và các quốc gia Tây Phương.

Qua thời gian, cái nhìn của Kim Dung dần dần thay đổi khi nhận chân người Cộng Sản áp dụng một chính sách chuyên chế toàn diện, tàn ác và phi nhân nên Kim Dung quay ra kết án họ.

Kim Dung cũng điều chỉnh lại cái nhìn đối với các đoàn thể có lập trường chống chọi nhau, cả Tả lẫn Hữu. Theo Kim Dung, không bên nào hoàn toàn phải, toàn người tốt. Không bên nào hoàn toàn quấy, toàn người xấu. Bên nào cũng có người xấu, người tốt  và thường vừa có phẩn phải vừa có phần quấy. Điểu đáng nói là chuyện mức độ –  tốt nhiều hơn hay xấu nhiều hơn, phải nhiều hơn hay quấy nhiều hơn. Chính, Tà không đơn giản là chuyện Trắng, Đen.

Tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung, từ khi xuất hiện từ đầu thập niên 1960s, trong khi làm mưa làm gió ở Hongkong, Singapore, Nam Việt Nam, các nước Đông Nam Á trong giới Hoa Kiều hải ngoại thì tuyệt đối bị cấm cửa ở Đài Loan và cả Hoa Lục ít nhất trong thời kỳ Tưởng Giới Thạch và Mao Trạch Đông còn sống.

Cũng cần lưu ý đối chiếu thời kỳ Kim Dung viết truyện Võ Hiệp ở Hong Kong bên cạnh lò lửa “Cách Mạng Văn Hoá” ở Hoa Lục….với bối cảnh chiến tranh lạnh giữa hai phe Cộng Sản và Tư Bản.

Trong phần kết luận của quyển “Các Ẩn Số Chánh Trị…” ông Huy cũng dè dặt nói thêm “không thể loại bỏ giả thuyết là sự trùng hợp giữa các nhân vật và sự kiện trong tác phẩm của Kim Dung với một số nhân vật và sự kiện có thật phát xuất từ nơi tiềm thức của tác giả chứ không phải là một sự cố ý. Nhưng ngay trong trường hợp này, Kim Dung cũng không phải hoàn toàn vô tâm, vì Kim Dung có nhiều ưu tư, nhiều chủ kiến ăn sâu trong tiềm thức thì các tác phẩm viết ra mới biểu lộ các ưu tư và chủ kiến đó cho chúng ta thấy”

Đi vào chi tiết liên hệ đến các ẩn số chính trị trong tiểu thuyết võ hiệp Kim Dung ông Huy nhận thấy 2 loại dữ kiện:

– Một số nhân vật đã được dùng để tượng trưng cho một vài quốc gia đặc biệt trên thế giới hoặc để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc cận đại.

–  Một số sự việc đã diễn tả quan điểm của Kim Dung về vấn đề tranh đấu chính trị và một phần trong quan điểm này dựa vào triết lý Đạo Giáo và Phật Giáo.

Ông Huy trình bầy những khám phá của ông một cách thứ tự, lớp lang, dựa trên lý luận với rất nhiều chi tiết khá tỉ mỉ. Sau đây chỉ là một số thí dụ về các ẩn số chính trị – xin nhắc lại chỉ là một số thí dụ tiêu biểu có giá trị thuyết phục cao trong rất nhiều ẩn số mà ông Huy đã tìm thấy – qua các truyện võ hiệp Kim Dung:

  1. Các nhân vật tượng trưng cho một số quốc gia đặc biệt trên thế giới.

Cuộc luận võ trên đỉnh Hoa Sơn được đề cập đến trong các bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp có mục đích xác định vai tuồng bá chủ võ lâm. Cuộc luận võ đầu tiên và quan trọng nhất có 5 nhân vật tham dự. Họ có ngoại hiệu là Trung Thần Thông, Đông Tà, Tây Độc, Bắc Cái, Nam Đế. Sau cuộc tỷ thí rất gay go, mọi người đều công nhận rằng Trung Thần Thông là người có võ công cao diệu hơn hết và được quyền giữ bộ Cửu Âm Chân Kinh. Những người còn lại thì tài nghệ suýt soát nhau.

Ngoài ra, còn một nhân vật thứ sáu cũng được xem đồng tài nghệ nhưng không tham dự cuộc luận võ này. Đó là bang chủ của Thiết Chưởng Bang tên là Cừu Thiên Nhạn ngoại hiệu là Thuỷ Thượng Phiêu. Cừu Thiên Nhận có người anh song sinh tên là Cừu Thiên Lý, võ công tầm thường, chỉ hay dùng xảo thuật để loè bịp.

Trong một giai đoạn của cuộc luận võ hay luận kiếm Hoa Sơn, năm nhân vật đầu tiên đã tỉ thí với nhau theo lối “ngũ quốc giao binh”, dịch sát nghĩa là “năm nước tranh chiến với nhau” hàm ý Kim Dung muốn dùng các nhân vật võ lâm để ám chỉ một số quốc gia. Vậy thì, nhân vật nào, quốc gia nào đây?

– Nhân vật tượng trưng cho nước Tầu: Trung Thần Thông.

Trung Thần Thông là ngoại hiệu của Vương Trùng Dương. Trung là ở ngay chính giữa. Tự ngàn xưa, người Tầu đã tự hào là họ sống ngay chính giữa địa cầu (!). Họ đã chính thức gọi dân tộc họ là dân tộc Trung Hoa và nước họ là Trung Quốc.

Về mặt tinh thần, người Trung Hoa theo đạo Trung Dung, đạo của người quân tử lúc nào cũng đứng trong vị thế quân bình. Trong mọi việc làm đều có thái độ thích ứng, vừa phải. Không thái quá, không bất cập. Người cố gắng theo đạo Trung Dung thì sẽ trở thành sáng suốt, hiểu biết và có thể biến cải để ứng phó vượt qua mọi trở lực, nói một cách khác sẽ trở thành Thần Thông.

Phái Đạo Giáo mà Trung Thần Thông đứng đầu là phái Toàn Chân, có nghĩa là sự thật đầy đủ, trọn vẹn. Toàn Chân là môn phái có thật trong lịch sử. Ngoài chủ trương riêng của Đạo Giáo, nó lại còn bao gồm đạo Trung Hiếu của Nho Giáo và các giới luật của Phật Giáo và điều này đã mô tả đúng tính cách tổng hợp của nền văn hoá Trung Hoa cổ truyền.

Tỷ thí tài nghệ để trở thành bá chủ võ lâm, tuy nhiên Trung Thần Thông lại có bản chất ngược lại với tư tưởng bá chủ – lấy được Cửu Âm Chân Kinh nhưng nhất quyết không dùng vì bí kíp võ học tuyệt tác này đòi hỏi phương pháp luyện công quá âm độc, dị thường. Tư cách của Trung Thần Thông, tức Vương Trùng Dương cho thấy cao hơn hẳn Đông Tà, Tây Độc và các nhân vật võ lâm khác, càng chứng tỏ xứng đáng vai trò lãnh đạo, phù hợp với họ Vương, có nghĩa là Vua, người đứng đầu thiên hạ. Đạo lý nhà vua phải theo để cai trị một cách chính đáng, nhân nghĩa gọi là Vương đạo. Chủ trương chính trị Vương đạo là chủ trương chính thức được đề cao trong sử sách Trung Hoa từ ngàn xưa.

Kim Dung là người Trung Hoa nên qua nhân vật Trung Thần Thông Vương Trùng Dương hàm ý nước Trung Hoa có đủ khả năng và tư cách làm số 1 trên thế giới cũng là điều không đáng ngạc nhiên.

– Nhân vật tượng trưng cho nước Nhật: Đông Tà.

Đông Tà là ngoại hiệu của Hoàng Dược Sư. Hoàng là mầu vàng ám chỉ Nhật Bản cũng là dân da vàng.

Nhật Bản nằm về phía đông của Trung Hoa phù hợp với ngoại hiệu Đông Tà của Hoàng Dược Sư. Đông Tà lại mặc áo mầu xanh, theo vũ trụ quan của người Trung Hoa thì mầu xanh thuộc về hành mộc và liên hệ với phương đông, nhấn mạnh thêm nước Nhật ở phía đông.

Căn cứ của Đông Tà là đảo Đào Hoa mà Nhật Bản là đảo quốc và nổi tiếng thế giới là xứ hoa Anh Đào.

Đông Tà có tánh sợ lửa. Điều này ám chỉ các đảo Nhật có nhiều núi lửa và thường bị động đất.

Bà vợ của Đông Tà có tên là Mai Hương. Mà hoa Mai lại được người Trung Hoa xem là quốc hoa. Điều này có thể ám chỉ dân tộc Nhật có liên hệ và chịu ảnh hưởng của văn hoá Trung Hoa.

Thân thế của Đông Tà còn tỏ rõ hơn nữa ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa rất sâu xa đối với nước Nhật – Đông Tà theo học võ với Châu Đồng. Ông này cũng là thầy của Nhạc Phi, một danh tướng anh hùng Trung Hoa. Trước đó Đông Tà là một thư sinh học theo Nho Giáo nên là người văn võ kiêm toàn. Đông Tà thông thạo các thú tiêu khiển của người Trung Hoa là cầm, kỳ, thi, hoạ; nắm vững mọi loại kỹ thuật Trung Hoa như y dược, bói toán, chiêm tinh, tướng số, nông điền thuỷ lợi, binh lược…; biết thưởng thức các món ăn ngon, các thứ trà quý của Trung Hoa…Tuy nhiên, Đông Tà lại thâm hiểu Đạo Giáo và hướng về sự thanh tĩnh vô vi. Đông Tà cũng có một số đức tính tốt là cương trực, nói lời giữ lời theo kiểu “quân tử nhất ngôn”, kính trọng các bậc trung thần, nghĩa sĩ, nhiều khi ra tay giúp người yếu thế, trừng trị bọn tham quan ô lại, bọn trộm cướp hiếp đáp dân lành.

Các dệ tử của Đông Tà đều mang tên Phong như Khúc Linh Phong, Phùng Mặc Phong, Lục Thừa Phong, Trần Huyền Phong, Mai Siêu Phong…Phong nghĩa là gió, giống như chữ Phong trong danh từ nổi tiếng của Nhật là Thần Phong (Kamikaze) nguyên là danh từ dùng để chỉ trận bão lớn năm 1281 đã đánh đắm các chiến thuyền của hạm đội Mông Cổ, cứu nước Nhật khỏi bị Mông Cổ thống trị. Trong thế chiến thứ hai, Thần Phong là tên của đội phi công cảm tử tình nguyện lao phi cơ chứa đầy chất nổ xuống các chiến hạm Mỹ và nổ tung với các chiến hạm này – một cố gắng hi sinh tuyệt vọng nhưng rẩt anh hùng mang đặc tính Nhật Bản.

Đông Tà tuy vậy không được Kim Dung coi là người theo chính đạo mà là một nhân vật nhuốm đầy tà quái hàm ý người Nhật chịu ảnh hưởng văn hoá Trung Hoa, nhưng chỉ theo một phần, rồi tìm cách biến chế và không cư xử đúng theo quan điểm đạo đức của người (quân tử mẫu mực) Trung Hoa.

Đông Tà, tức nước Nhật, trong mắt Kim Dung đã TÀ như thế nào?

Dựa vào Kỳ Môn Bát Trận của Khổng Minh để lập ra Phản Kỳ Môn Bát Trận để bảo vệ đảo Đào Hoa. Cũng dựa vào nguyên tắc sinh khắc, âm dương, ngũ hành, nhị thập bát tú và 64 quẻ kép của Bát Quái. Tuy nhiên trong trận đồ của Đông Tà, vị trí của các quẻ lại ngược lại vị trí các quẻ trong trận đồ Khổng Minh.

Thổi ngọc tiêu kích thích dục tình.

Thiếu tự chế – quá bi thương vì cái chết của vợ, gần như điên cuồng khi tưởng mất con.

Ăn cướp, tống tiền nhà giầu để có phương tiện lập căn cứ địa kiên cố, sang trọng. Dùng thủ đoạn xảo trá để đoạt Cửu Âm Chân Kinh.

Khi tức giận hai đệ tử phản bội đào thoát thì trừng phạt các đệ tử vô tội và hết sức trung thành khác bằng cách cắt đứt gân chân của họ rồi đuổi đi. Đâm mù mắt, chọc thủng tai các đầy tớ, gia nhân, vốn là các thành phần tội phạm, để kiềm chế họ và giữ bí mật về mình.

Sự tàn ác, ích kỷ của Đông Tà ám chỉ nước Nhật sau khi canh tân trở nên cường thịnh thì đi xâm lăng Trung Quốc và các nước khác cốt để làm lợi cho riêng mình, trắng trợn tự xưng là Đế Quốc Nhật Bản, khác với lý tưởng Vương đạo của người Trung Hoa – theo Kim Dung – “trị quốc” để dọn đường cho “bình thiên hạ” tức là tiến tới “thế giới đại đồng”. Biến cố “The rape of Nanking” năm 1937 gây kinh hoàng, chấn động thế giới khi quân Nhật chiếm thủ đô Nam Kinh của Trung Hoa Dân Quốc, đã hãm hiếp và giết hại 300,000 người dân Tầu, thây chất như núi, máu loang đỏ các sông ngòi, là một tội ác khó có thể nào quên.

   – Nhân vật tượng trưng cho các nước Đế Quốc Âu Châu: Tây Độc.

Tây Độc là một nhân vật kinh khủng, có lẽ còn đáng ghét hơn cả Đông Tà, theo sự diễn tả của Kim Dung ám chỉ các nước đế quốc thực dân Âu Châu đã sâu xé, dày xéo, bóc lột Trung Hoa và các dân tộc ở Châu Á, Châu Phi, Châu Mỹ hàng trăm năm.

Tây Độc là ngoại hiệu của Âu Dương Phong. Âu là Âu Châu. Âu Châu ở phía Tây của Trung Quốc. Người Âu Châu còn gọi là người Tây Dương, hay người Tây Phương. Tây Độc Âu Dương Phong cũng xưng là Bạch Đà Sơn Chủ, tức chúa núi Bạch Đà. Bạch là mầu trắng khiến liên tưởng đến người da trắng, giòng giống… Bạch Quỷ (!).

Trái với nếp sống thanh tĩnh theo Đạo Giáo của Trung Thần Thông Vương Trùng Dương, nếp sống của Tây Độc Âu Dương Phong là sự hưởng thụ vật chất tầm thường, ô trọc. Căn cứ Bạch Đà Sơn chứa đầy gái đẹp, ngọc ngà, châu báu, của ngon vật lạ… vốn là chiến lợi phẩm có từ cướp của, giết người, bắt cóc…do hai chú cháu Âu Dương Phong và Âu Dương Công Tử thực hiện. Mô tả này nhắc thời kỳ các nước Âu Châu ùa nhau đi chiếm thuộc địa, bắt buộc các dân tộc khác làm nô lệ, thực thi chính sách đế quốc bóc lột tàn nhẫn, trở nên giầu có và truỵ lạc

Sự mất trí, điên cuồng lúc về sau của Tây Độc biểu tượng cho sự vong thân của người Tây Phương dẫn đến khủng hoảng xã hội, cách mạng, nội chiến và đánh giết lẫn nhau gây ra đại chiến thế giới 1 và 2.

– Nhân vật tiêu biểu cho Liên Xô:  Bắc Cái.

Bắc Cái là ngoại hiệu của Hồng Thất Công.

Bắc Cái là bang chủ Cái Bang, là chúa ăn mày, tức là trùm vô sản.

Liên Xô ở phía Bắc và Tây của Trung Quốc. Bắc nhiều hơn Tây, vả lại Tây đã dùng cho trường hợp Tây Độc để ám chỉ Âu Châu.

Chữ Hồng, họ của Bắc Cái (Hồng Thất Công) theo Hán Văn là rộng lớn mênh mông nhưng lại đồng âm với chữ Hồng là đỏ, mầu tiêu biểu cho đảng Cộng Sản, tức Cái Bang. Thêm nữa, chữ Hồng gồm 2 phần, bên tả là bộ thuỷ, bên hữu là chữ cộng, y như chữ Cộng trong từ ngữ Cộng Sản.

Kỹ thuật tranh đấu của Bắc Cái là Đả Cẩu Bổng Pháp – dùng gậy để đánh chó của nhà giầu, đánh cả cường hào, ác bá, tham quan ô lại – tiêu biểu cho chủ trương Giai Cấp Đấu Tranh, Hàng Long Thập Bát Chưởng tiêu biểu Biện Chứng Pháp Duy Vật. Kiên Bích Trận của Cái Bang biểu tượng kỹ thuật tổ chức và tranh đấu tập thể của Đảng Cộng Sản Quốc Tế do Liên Xô lãnh đạo.

Cái Bang của Hồng Thất Công có 2 phe ăn mày hiềm khích và chống chọi nhau. Một phe áo lành và sạch nhưng ít người, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tứ với thủ lãnh Trotsky. Một phe áo rách và dơ nhưng đông người hơn, ám chỉ Cộng Sản Đệ Tam do Stalin cầm đầu. Bắc Cái Hồng Thất Công có thể vừa tượng trưng cho Liên Xô như là một quốc gia, vừa tượng trưng cho Lenin như là một nhân vật. Chỉ khi Lenin lúc còn sống mới dung hợp được cả phe Stalin và phe Trotsky.

    – Nhân Vật tiêu biểu cho các nước thuộc thế giới đệ tam – tức là các nước đang mở mang như Thái Lan:  Nam Đế.

Nam Đế là ngoại hiệu của Đoàn Chính Minh, vua nước Đại Lý, thuộc sắc dân Thái, sau thoái vị đi tu với pháp danh là Nhất Đăng, Nhất Đăng Đại Sư. Người thế độ cho ông không phải là một cao tăng Trung Hoa mà là một nhà sư Thiên Trúc, tức là Ấn Độ, theo Phật Giáo Tiểu Thừa khác với Phật Giáo Đại Thừa thịnh hành ở Trung Hoa.

Hiện nay có cuộc mâu thuẫn giữa các nước đã phát triển ở phương Bắc và các nước đang mở mang ở phương Nam, được gọi là tranh chấp Bắc Nam. Nam Đế là biểu tượng của thế lực phương Nam.

      – Nhân vật biểu tượng cho Đức Quốc Xã và Phát Xít Ý: Anh em Cừu Thiên Nhạn và Cừu Thiên Lý.

Được mời nhưng không tham dự cuộc Hoa Sơn Luận Võ, Bang Chủ Thiết Chưởng Bang Cừu Thiên Nhạn được xem là có tài nghệ ngang với Võ Lâm Ngũ Bá. Cừu Thiên Lý là anh song sinh của Cừu Thiên Nhạn, trông rất giống, có tánh mưu mẹo, gạt gẫm nhưng tài nghệ kém người em rất xa hàm ý Phát Xít Ý của Mussolini ra đời trước, hay khoa trương,  nhưng không có thực lực như Đức Quốc Xã của Hitler.

Theo sự mô tả của Kim Dung, Thiết Chưởng Bang (Bang hội Bàn Tay Sắt) lúc đầu là hội của những người yêu nước chống sự xâm lấn của nước ngoài, về sau lầm lạc đi vào con đường cướp bóc, hung bạo, xem mạng người như cỏ rác phù hợp với lịch sử chung của 2 chế độ độc tài hữu phái Quốc Xã và Phát Xít.

Ngoại hiệu Thuỷ Thượng Phiêu phản ảnh công phu độc đáo đi trên mặt nước của Cừu Thiên Nhạn ám chỉ chủ nghĩa siêu nhân và siêu tộc của Đức Quốc Xã.

Tín hiệu bàn tay sắt của bang chủ Cừu Thiên Nhạn là gợi ý đến từ bội tinh Thập Tự Sắt, huy chương quân công cao quý nhất của dân tộc Đức cũng như huy hiệu chữ Vạn thời Hitler.

    – Nhân Vật biểu hiệu cho nước Mỹ: Dương Qua.

Dương Qua nhận Tây Độc làm nghĩa phụ và được truyền dậy những công phu siêu đẳng hàm ý nước Mỹ có gốc gác Âu Châu, văn hoá Mỹ cùng tính chất văn hoá Âu Châu, gọi chung là Tây Phương. Dương Qua còn được gọi là Tây Cuồng.

Dương Qua chính là Thần Điêu Đại Hiệp mà chim điêu (eagle) là biểu hiệu của nước Mỹ. Quốc huy của nước Mỹ có hình chim điêu.

Trong lần Hoa Sơn Luận Võ cuối cùng, trong số 5 cao thủ có mặt thì Dương Qua là người trẻ nhất được xem như kế vị Tây Độc nhưng không ác hại như nghĩa phụ, lại học thêm được tinh hoa võ thuật của các cao thủ khác, cũng như tự sáng chế nên có bản lãnh cao hơn mọi người. Điều này phù hợp với sự kiện nước Mỹ là quốc gia Tây Phương, trẻ trung, cường thịnh vượt hẳn các nước đế quốc Âu Châu già nua, tàn tạ như đế quốc Bồ Đào Nha, đế quốc Tây Ban Nha, đế quốc Anh, đế quốc Pháp, đế quốc Hoà Lan, đế quốc Bỉ… để trở nên đệ nhất siêu cường.

  1. Các nhân vật được dùng để mô tả một vài chính khách nổi tiếng trong lịch sử Trung Hoa cận đại.

Trước hết là trường hợp các lãnh tụ Trung Cộng.

Trong thời kỳ sáng tác ba bộ Võ Lâm Ngũ Bá, Anh Hùng Xạ Điêu và Thần Điêu Đại Hiệp, Kim Dung còn thiên tả nhưng đến khi viết hai bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ và Lộc Đỉnh Ký, Kim Dung đã nhận chân được sự thật về Cộng Sản Quốc Tế nói chung và Cộng Sản Trung Hoa nói riêng.

Trong bộ Tiếu Ngạo Giang Hồ đề tài chính là cuộc tranh chấp đẫm máu giữa Triêu Dương Thần Giáo và các phe gọi chung là bạch đạo. Ông Huy đã tìm thấy nhiều dữ kiện chứng tỏ rằng Triêu Dương Thần Giáo trong Tiếu Ngạo Giang Hồ được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Trung Hoa và hai vị giáo chủ Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại biểu tượng hai nhà lãnh đạo quan trọng của Trung Cộng là Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ. Ông Huy lý luận như sau:

Triêu Dương là buổi sớm mai lúc mặt trời ở phía Đông mà bản quốc thiều của Trung Cộng là bản Đông Phương Hồng.

Khẩu hiệu chính của Trung Cộng trong thời kỳ chiến tranh lạnh là “gió đông thắng gió tây” cho nên Giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo có tên là Đông Phương Bất Bại là hiện thân của Lưu Thiếu Kỳ, người làm chủ tịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa (Trung Cộng) trong 9 năm và nắm thực quyền một thời gian dài trước khi bị lật đổ, bị tra tấn và bị giết.

Giáo chủ Nhậm Ngã Hành biểu tượng cho Mao Trạch Đông, Chủ Tịch đảng Cộng Sản Trung Hoa. Việc Đông Phương Bất Bại bí mật giam Nhậm Ngã Hành trong lòng đất dưới đáy Tây Hồ ở Hàng Châu ám chỉ thời kỳ Lưu Thiếu Kỳ liên kết với Đặng Tiểu Bình tập trung quyền lực Đảng trong tay, dồn Mao Trạch Đông vào thế “ngồi chơi xơi nước”, “hữu danh vô thực” sau thất bại “bước tiến nhẩy vọt” khiến Mao uất hận dùng “đại cách mạng văn hoá” long trời lở đất để quật ngược lại. Cuộc xung đột giữa Nhậm Ngã Hành và Đông Phương Bất Bại cũng kỳ bí và ghê gớm như cuộc xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lưu Thiếu Kỳ.

Thần Long Giáo trong Lộc Đỉnh Ký cũng được dùng để ám chỉ đảng Cộng Sản Tầu. Giáo Chủ Hồng An Thông là hình ảnh xấu xí của Mao Trạch Đông, bà vợ ác nghiệt nhưng trẻ đẹp Tô Thuyên tức Hồng Phu Nhân biểu hiệu cho Giang Thanh, bọn Ngũ Long Thiếu Niên tượng trưng cho Vệ Binh Đỏ. Những cảnh tượng xấu xa, tàn bạo, tệ hại liên quan đến Thần Long Giáo mà Kim Dung mô tả rất gần với thực trạng chính trị Hoa Lục thời Đại Cách Mạng Văn Hoá.

Kế tiếp là trường hợp của các chính khách quốc gia Trung Hoa trong mắt Kim Dung theo như sự suy đoán của ông Huy.

Cũng trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, nếu Triêu Dương Thần Giáo (bị gọi là Ma Giáo) tượng trưng cho phe Cộng Sản thì phái Bạch Đạo tương trưng cho phe Quốc Gia. Phe Bạch Đạo chính thức theo lập trường bảo vệ đạo lý và tình trạng đương hữu nhưng trong thực tế phân hoá trầm trọng. Có những người đàng hoàng, tử tế nhưng không thiếu kẻ gian ác. Nhân vật tiêu biểu cho loại người sau là Nhạc Bất Quần, chưởng môn của phái Hoa Sơn, sau lên làm “minh chủ” của 5 phái “hợp nhất” gọi là Ngũ Nhạc kiếm Phái gồm Hoa Sơn, Hành Sơn, Tung Sơn, Thái Sơn và Hằng Sơn.

Nhân vật Nhạc Bất Quần được Kim Dung dùng để ám chỉ Tưởng Giới Thạch, sau khi “quốc phụ” sáng lập là Tôn Dật Tiên chết, thì trở thành lãnh tụ số 1 của Trung Hoa Dân Quốc và Trung Hoa Quốc Dân Đảng.

Kim Dung dùng lối chơi chữ ở đây. Không để ý thì không thấy. Nhạc, theo chữ Hán, là hòn núi lớn gồm chữ “khâu” là gò và “sơn” là núi. Cả 3 chữ “nhạc”, “khâu” và “sơn” đều chỉ những khối lớn do đá cấu tạo nên. Mà đá tức là “thạch” – Tưởng Giới Thạch!

Dưới ngòi bút có phần cố ý …“bôi bác” của Kim Dung, Nhạc Bất Quần có bề ngoài khả kính của một lãnh tụ võ lâm mang ngoại hiệu Quân Tử Kiếm nhưng thực chất là Nguỵ Quân Tử hay Quân Tử giả hiệu.

Tưởng Giới Thạch còn có tên là Tưởng Trung Chánh hàm ý thành tín ngay thẳng, không những chính thức theo chủ nghĩa Tam Dân của Tôn Dật Tiên – Dân Tộc độc lập, Dân Quyền tự do, Dân Sinh hạnh phúc – mà còn luôn luôn đề cao Lễ, Nghĩa, Liêm, Sỉ nhưng, theo Kim Dung, thật sự là người theo chủ nghĩa quyền uy, một nhà độc tài hữu phái đứng đầu một chính quyền ung thối vì tham nhũng.

Giống như Nhạc Bất Quần lớn tiếng tố cáo, miệt thị Ma Giáo, Tưởng Giới Thạch kết án Cộng Sản tà nguỵ, bất nhân nhưng bên trong Tưởng hành động còn tà nguỵ, bất nhân hơn hay cũng chẳng kém. (Trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, Kim Dung còn nghiêng về Nhậm Ngã Hành tức Mao Trạch Đông, hàm ý Mao vẫn đỡ tệ hại hơn Tưởng. Chi trong Lộc Đỉnh Ký, qua nhân vật Giáo chủ Hồng An Thông Kim Dung mới xem Mao, Tưởng đều đáng ghét như nhau).

THÔNG ĐIỆP CHÍNH TRỊ CỦA KIM DUNG.

Trở lại những ẩn số chính trị mà ông Huy tìm thấy, những ẩn số quan trọng nhất có lẽ là những thông điệp mà Kim Dung đã kín đáo gửi đến cho đồng bào Trung Hoa của ông. Những thông điệp này cũng có thể trở thành những điều đáng suy ngẫm cho những người hoạt động chính trị hay tranh đấu chính trị nói chung ở bất cứ nước nào – Trung Hoa, Việt Nam, Miến Điện, Mỹ, Nhật, Âu, Phi….Chẳng hạn như:

  1. Chính nghĩa dựa trên đạo lý thường chỉ là nhận thức chủ quan, dễ dàng đưa đến sự thiên vị. Đoàn thể nào cũng xem đạo lý của mình là đúng, là chính còn đạo lý của đoàn thể khác là sai, là tà. Đấy là chưa kể “nói một đằng, làm một nẻo”.
  2. Trong mọi đoàn thể đều có người tốt, người xấu chứ không phải người của chính phái nhất định là tốt, người của tà phái nhất định là xấu. Ma Giáo có thể có người tử tế như Hướng Vấn Thiên, Khúc Dương Trưởng Lão, danh môn chính phái như Thiếu Lâm, Võ Đang có thể có đệ tử đồi bại như Trần Hữu Lượng, Tống Thanh Thư. Hệ quả này là người ta phải có tinh thần cởi mở và khoan dung đối với nhau. Nên cởi mở và khoan dung như Lệnh Hồ Xung trong Tiếu Ngạo Giang Hồ.
  3.  Mô tả quá trình các nhân vật đạt đến vị trí tối cao như lãnh tụ, như minh chủ nguyên tắc của Đạo Đức Kinh được thực thi là “tri túc bất nhục, tri chỉ bất đãi” (biết đủ thì không bị nhục, biết dừng lại đúng lúc thì không bị nguy) và nguyên tắc “bất tranh” (không tranh dành cho bằng được). Tả Lãnh Thiền, Nhạc Bất Quần tàn phế, tử vong, thân bại danh liệt vì quá tham lam, ham hố. Mưu thâm thì hoạ cũng thâm !
  4. Trong đoạn cuối của Tiếu Ngạo Giang Hồ, giáo chủ Triêu Dương Thần Giáo ngỏ lời gả con gái là Nhậm Doanh Doanh cho Lệnh Hồ Xung và mời Lệnh Hồ Xung làm Phó Giáo Chủ. Mặc dù yêu Nhậm Doanh Doanh tha thiết, Lệnh Hồ Xung khước từ và bỏ đi. Điều này có nghĩa:  Riêng tại các nước có sự phân tranh Quốc-Cộng như trường hợp Trung Hoa (cũng như Cao Ly, Cuba, Việt Nam) sẽ không có, không thể có, hoà giải, hoà hợp dân tộc thực sự nếu các đảng Cộng Sản đang nắm quyền lực tiếp tục chủ trương độc tài, độc đảng, độc tôn phi lý. Các đảng Cộng Sản này phải đi bước trước là thực hiện sự cải cách thực sự.

***

Trong hơn nửa thế kỷ vừa qua cho đến tận ngày nay có đến hằng trăm triệu độc giả ở Trung Hoa, Đài Loan, Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Âu Châu …say mê nghiền ngẫm truyện Võ Hiệp Kim Dung, có hàng trăm tác giả viết sách, báo bình luận về tư tưởng, cuộc đời của Kim Dung, thậm chí xuất hiện cả trường phái “Kim Học”.

Tuy nhiên, không thấy ai nghiêm túc đặt vấn đề “đi tìm các ẩn số chánh trị” trong các tác phẩm của Kim Dung. Hoặc giả có đặt vấn đề thì chỉ “giải quyết” bằng cách đưa ra các khái niệm mơ hồ về chuyện Tả, Hữu, Quốc, Cộng… chứ  không có ai tìm ra được các những “bí mật” ẩn tàng một cách rõ ràng, mạch lạc và có hệ thống như ông Nguyễn Ngọc Huy.

Kim Dung đã “qua mặt” được tất cả mọi người nhưng không “qua mặt” được một người – một người Việt Nam!

Phải chăng “dẫu cường nhược có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có”?

Cao Tuấn