Tán tụng hồng ân- Ca đoàn Thiên Ân
httpv://www.youtube.com/watch?v=zfyUFaZkQng
Bốn mùa và em – Dậu Nguyễn
httpv://www.youtube.com/watch?v=6qREAivfS4c&list=UUBoUB-hqnQqJw-dGnS_a09g&index=1
Xin cám ơn anh Nguyễn Xuân Dậu gởi

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
httpv://www.youtube.com/watch?v=zfyUFaZkQng
httpv://www.youtube.com/watch?v=6qREAivfS4c&list=UUBoUB-hqnQqJw-dGnS_a09g&index=1
Xin cám ơn anh Nguyễn Xuân Dậu gởi
MINH TRIẾT CUỘC ĐỜI
“Con đừng nhút nhát khi cầu nguyện,
và đừng coi thường việc làm phúc bố thí.”
(Huấn ca 7:10)
Đây là minh triết cuộc đời
Những bài học sống tuyệt vời biết bao
Tương lai ai biết ra sao?
Chỉ còn có thể ước ao nồng nàn
Khó khăn quyết chẳng đầu hàng
Êm đềm không thỏa mơ màng phiêu du
Mọi người đều phải thiền tu
Chan hòa từ thiện khiêm nhu hiền lành
Giê-su huấn giáo ngọn ngành
Gọi mời xây dựng viên thành phận thân
Sẻ chia huynh đệ vang ngân
Cùng nhau cất bước phù vân cõi phàm
Hy sinh quảng đại hãy làm
Trái tim rộng mở luận đàm hợp hoan
Gia đình chăm chỉ lo toan
Phước ân Chúa đổ nhịp khoan diễm tình!
* Nguyễn Sông Núi
(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX, Jan. 8, 2013)
Anh chị Thụ & Mai gởi
Chúa làm tất cả!

WGPSG — Gần đây tôi có tham gia vào một công trình khoa học kỹ thuật khá lớn. Vì qui mô lớn của công trình, chúng tôi phải tìm kiếm những chuyên viên có trình độ và kinh nghiệm trong nhiều lãnh vực để cộng tác.
Vì là công trình của Giáo Hội nên thường thì các cộng tác viên sẽ phải là người Công Giáo, không phải chúng tôi có sự phân biệt gì giữa lương với giáo, nhưng trong quá trình nghiên cứu và sáng tác, vai trò Lòng Tin đóng một vị trí quan trọng cùng với những kiến thức cần thiết về tôn giáo, không kể trong khi làm việc sinh hoạt với nhau, đồng đạo sẽ dễ nói chuyện và dễ tổ chức chương trình chung hơn. Dù vậy, cũng có một vài lãnh vực không nhất thiết phải là người có Lòng Tin mới làm được, vì nó đơn thuần khách quan khoa học.
Có một vị tiến sĩ khoa học rất trẻ, tốt nghiệp từ nước ngoài về, làm giảng viên của một trường đại học công uy tín trong cả nước, anh không phải là Công Giáo nhưng lại nhận lời cộng tác với chúng tôi. Anh không tham gia từ đầu (công trình đã khởi sự ba năm nay) nhưng chỉ tham gia khi công trình bước vào phần chuyên môn của anh. Chúng tôi quen nhau và làm việc với nhau đến này cũng gần tròn một năm.
Trong một chuyến đi khảo sát vùng cao nguyên, chúng tôi được Đức Cha Kontum tiếp đặc biệt. Sau buổi nói chuyện, khảo sát công trình và bữa ăn, Đức Cha có tặng đoàn chúng tôi mỗi người hai cuốn sách về công cuộc truyền giáo ở Giáo Phận Kontum.
Lưu lại Kontum và Pleiku hai ngày, trên đường ra phi trường trở lại Sàigòn, anh hỏi tôi nhiều điều về những vấn đề tôn giáo, tôi ngạc nhiên về những câu hỏi này, anh cho biết hai ngày qua, từ khi được Đức Cha tặng sách, anh đã đọc ngay và đọc xong trọn vẹn hai cuốn sách ấy, trong khi cũng hai cuốn sách này vẫn còn nằm nguyên trong balô của tôi và của mọi người “có đạo” trong đoàn, chưa ai mở ra đọc và đọc tới nơi tới chốn như anh. Tôi e rằng tính đến hôm nay đã hai tháng, chắc cũng chưa có ai đọc hết hai cuốn sách đó ngoại trừ anh.
Cách đây hai ngày khi chúng tôi cần phải làm việc với nhau, một ngày làm thí nghiệm, mọi việc êm ả trôi qua, kết quả khả quan. Hôm sau, chúng tôi ngồi làm việc trong phòng, bầu khí căng thẳng, nhiều tranh cãi và nhiều bất đồng. Khi trời đã xế chiều, tôi mệt mỏi tỏ vẻ thất vọng và buồn phiền về những kết quả ít ỏi trong ngày, anh nhìn tôi và nói với mọi người: “Cha đừng lo, Chúa sẽ giải quyết hết cho chúng ta”. Tôi ngạc nhiên về lời nói của anh, một cộng tác viên duy nhất trong nhóm là người không Công Giáo, một cộng tác viên duy nhất nói lời… phó thác cho Chúa! Anh, một người bị coi là “ngoại đạo”, chứ không phải là tôi, một Linh Mục Công Giáo.
Chiều tối ấy, trên bàn ăn vui vẻ với nhau, một cộng tác viên Công Giáo nói với tôi: “Từ hôm qua đến hôm nay, con đếm được anh ta nói đến năm lần câu: Chỉ có Chúa làm được thôi! Và cũng chỉ có mỗi mình anh ta nói câu ấy!”
Từ ngày làm việc với nhau, máu nhiệt thành tự nhiên khuyến khích tôi tìm cách giới thiệu Đạo với anh, tôi mong muốn qua cơ hội này anh biết Chúa và tôi cũng nhớ cầu nguyện cho anh nữa. Nhưng bất ngờ hôm nay, anh củng cố niềm tin của tôi, anh truyền cho tôi và những anh chị em “có đạo” niềm tin của anh, niềm tin rất đơn giản và nguyên sơ, niềm tin chưa hề qua Bí Tích. Tôi tự hỏi “Ai truyền niềm tin cho ai?”
Một lần nữa trong nhiều lần, tôi có bài học Chúa làm tất cả! Chẳng phải tôi, chẳng phải ai, mà là Chúa, Chúa làm việc của Chúa. Đừng ai nghĩ là chính mình làm, đừng ai tự hào vô duyên, kiêu căng lố bịch, vênh vang như là không hề chịu lấy!
Bài học Máng Cỏ là bài học gì trong Mùa Giáng Sinh này?
Maria Thanh Mai gởi

“Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình”
Sứ Điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới Năm 2013

“Phúc cho những ai kiến tạo hòa bình”
Đức Thánh Cha Biển Đức XVI
1. Năm mới luôn mang lại cho chúng ta niềm hy vọng về một thế giới tốt đẹp hơn. Trong ánh sáng này, tôi nguyện xin Thiên Chúa, là Cha của nhân loại, ban cho tất cả chúng ta sự hoà thuận và bình an để những khao khát của chúng ta về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng có thể được thành tựu.
Năm mươi năm sau ngày khai mạc Công Đồng Vaticano II vốn là sự kiện giúp chúng ta đào sâu sứ mạng của Giáo hội trong thế giới, chúng ta phấn khởi nhận ra rằng những người Kitô hữu, như là Dân Thiên Chúa trong việc bước theo Người và sống giữa lòng thế giới, chúng ta dấn thân vào lịch sử để chia sẻ vui mừng và hy vọng, ưu sầu và lo lắng [1], khi chúng ta công bố ơn cứu độ của Đức Kitô và thăng tiến hòa bình cho nhân loại.
Thực tế, thời đại của chúng ta được đánh dấu bởi sự toàn cầu hoá với những khía cạnh tích cực và tiêu cực của nó, cũng như sự tiếp nối của những xung đột bạo lực và những đe doạ của chiến tranh, đòi hỏi một sự dấn thân mới mẻ và mang tính hợp tác trong việc theo đuổi ích chung cũng như sự phát triển của mọi người, và sự phát triển toàn diện của con người.
Thật đáng báo động khi chứng kiến sự lan tràn của những căng thẳng và xung đột gây ra bởi sự phát triển của sự bất bình đẳng giữa giàu và nghèo, sự lan tràn của não trạng cá nhân và ích kỷ vốn tìm thấy sự biểu hiện của nó trong chủ nghĩa tư bản tài chính thiếu sự kiểm soát. Bên cạnh những hình thức đa dạng của chủ nghĩa khủng bố và tội ác quốc tế, hoà bình cũng bị đe doạ bởi trào lưu chính thống và chủ nghĩa cuồng
tín, bóp méo bản chất tôn giáo đích thực, vốn mời gọi cổ võ tình liên đới và sự hoà giải giữa mọi người.
Thời nào cũng vậy, những nỗ lực khác nhau trong việc kiến tạo hoà bình nhan nhãn trong thế giới chúng ta chứng minh rằng ơn gọi căn bản của con người là hoà bình. Nơi mỗi người, khao khát hoà bình là một khao khát căn bản, trong một cách thức nào đó, hoà hợp với nỗi khao khát về một đời sống hạnh phúc và thịnh vượng tròn đầy. Nói cách khác, nỗi khát khao hoà bình liên quan đến một nguyên lý luân lý nền tảng, nghĩa là liên quan đến nghĩa vụ và quyền lợi nơi sự phát triển của cộng đồng và xã hội, vốn cũng là một thành phần trong kế hoạch của Thiên Chúa dành cho con người. Con người được sáng tạo cho sự hoà bình vốn là một qùa tặng của Chúa.
Tất cả những thao thức trên thúc đẩy tôi chọn chủ đề cho Thông Điệp năm nay từ những lời của Đức Giêsu: “Phúc thay ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con Thiên Chúa” (Mt 5,9).
Mối phúc Tin Mừng
2. Các mối phúc mà Đức Giêsu công bố là những lời hứa. Trong truyền thống Kinh Thánh, mối phúc là một thể loại văn chương liên quan đến những tin tốt lành, một “Tin Mừng”, là chóp đỉnh của một lời hứa. Do đó, các mối phúc không chỉ là những khích lệ về mặt luân lý, cổ võ người ta tuân giữ để thấy trước, thường là trong đời sống mai hậu, những phần thưởng hay những vị thế hạnh phúc trong tương lai. Đúng hơn, phúc lành mà các mối phúc nói đến hệ tại ở việc viên mãn của một lời hứa dành cho
tất cả những ai để cho mình được hướng dẫn bởi những đòi hỏi của chân lý, công
bình và bác ái. Trong con mắt của thế gian, những người tin tưởng vào Thiên
Chúa như thế thường bị xem là kẻ khờ khạo và xa rời thực tế. Tuy nhiên, Đức
Giêsu nói cho họ rằng, không chỉ ở đời sau nhưng ngay tại đời này, họ sẽ khám
phá ra mình là con cái của Thiên Chúa, và rằng Thiên Chúa đã, đang và sẽ mãi ở
bên cạnh họ. Họ hiểu rằng mình không lẻ loi, bởi vì Thiên Chúa là đồng minh với
những con người dấn thân cho chân lý, công bình và bác ái. Đức Giêsu, mạc khải
Tình yêu của Chúa Cha, không do dự trao ban chính mình như một sự tự hiến. Mỗi
khi chúng ta đón nhận Đức Giêsu, Đấng là Thiên Chúa và là con người, chúng ta
kinh nghiệm được niềm vui về một quà tặng lớn lao: sự sẻ chia chính sự sống của
Thiên Chúa, đời sống ân sủng và là lời hứa về sự hiện hữu hạnh phúc tròn đầy.
Cụ thể, Đức Kitô ban cho chúng ta bình an đích thực phát sinh từ một cuộc gặp
gỡ đầy tin tưởng giữa con người với Thiên Chúa.
Mối phúc của Đức Giêsu nói cho chúng ta biết hoà bình là một món quà của Đấng Mesia nhưng đồng thời cũng là hoa trái phát sinh từ những nỗ lực của con người. Thực vậy, hoà bình giả thiết về sự mở ra của con người đối với siêu việt. Nó là hoa trái của một món quà hỗ tương, của một sự phong phú mang tính hai mặt. Nhờ vào quà tặng này, một quà tặng có nguồn cội nơi Thiên Chúa, chúng ta có thể sống với và sống cho người khác. Nền đạo đức của hoà bình là đạo đức của tình liên đới và chia sẻ. Điều
tuyệt đối cần thiết là những nền văn hoá của chúng ta trong thời đại ngày nay
cần vượt qua những hình thức nhân loại học và đạo đức dựa trên những giả định
vốn chỉ mang tính chủ quan và thực dụng, nơi đó mối tương quan đồng tồn tại
được gợi hứng bởi các tiểu chuẩn về quyền lực và ích lợi, phương tiện trở thành
cùng đích chứ không phải ngược lại, văn hóa và giáo dục chỉ đơn thuần tập trung
vào thiết bị, kỹ thuật và hiệu quả.
Điều kiện cần thiết để có hoà bình là sự xoá bỏ chế độ độc tài của chủ nghĩa tương đối và của một giả định về nền luân lý hoàn toàn tự trị vốn không thừa nhận luật luân lý tự nhiên, được Thiên Chúa ghi khắc trong lương tâm của mỗi người nam và người nữ. Hoà bình cần được xây dựng trên sự đồng hiện diện của những thuật ngữ lý trí cũng như luận lý, được đặt nền tảng trên những tiêu chuẩn vốn không phải do con người tạo
nên, nhưng đúng hơn là do Thiên Chúa. Thánh Vịnh 29 nói rằng: Xin Yavê ban uy
lực cho dân Người, Yavê chúc lành cho dân Người bình an” (câu 11).
Hoà bình: Quà tặng của Thiên Chúa và hoa trái của nỗ lực con người
3.Hoà bình liên quan đến con người xét như toàn thể và nó đòi hỏi sự dấn thân trọn vẹn. Hoà bình với Thiên Chúa là một đời sống được sống theo ý muốn của Ngài. Hoà bình cũng là một sự bình an nội tâm nơi chính mình và hoà bình ngoại tại với tha nhân và với các tạo vật. Trên hết, như chân Phước Gioan 23 đã viết trong thông điệp Hòa Bình Trên Thế Giới (Pacem in Terris), mà chúng ta sẽ kỷ niệm 50 vào những tháng tới, hòa bình đòi hỏi xây dựng trên một sự đồng tồn tại được đặt nền tảng trên chân lý, tự do, bác ái và công bình[2]. Sự khước từ điều làm nên bản chất đích thực của con người trong những chiều kích thiết yếu nhất, trong khả năng nội tại để biết chân lý và sự thiện, và một cách tối hậu, là khả năng nhận biết chính Thiên Chúa, sẽ gây nguy hại cho việc kiến tạo hòa bình. Không có chân lý về con người vốn được Đấng Tạo Hóa ghi dấu trong trái tim con người, tự do và bác ái trở nên giả tạo, và công bình đánh mất đi nền tảng tồn tại của chính mình.
Để trở nên người kiến tạo hòa bình đích thực, chúng ta cần phải luôn nhớ về chiều kích siêu việt của mình và phải đi vào một cuộc đối thoại liên lỉ với Thiên Chúa là Cha giàu lòng thương xót, ngang qua đó chúng ta sẽ khám phá ra ơn cứu chuộc mà Người Con Duy Nhất của Ngài đã mang đến cho chúng ta. Nhờ đó, con người có thể vượt qua được những bóng mờ của sự tiến bộ và sự khước từ hòa bình vốn là tội lỗi trong tất cả hình thức của nó: ích kỷ, bạo lực, kiêu căng, khao khát quyền lực và thống trị, thiếu lòng khoan dung, ghen ghét và các cơ cấu bất công.
Thành tựu hòa bình phụ thuộc trước hết vào việc chúng ta nhận ra, nơi Thiên Chúa chúng ta là một gia đình nhân loại. Như Hòa Bình Trên Thế Giới (Pacem in Terris) dạy rằng, gia đình này được cấu trúc bởi các mối tương quan liên vị và các thể chế vốn được hỗ trợ và được làm sống động bởi cộng đồng “chúng ta”, đòi hỏi một trật tự luân lý nội tại cũng như ngoại tại, mà trong đó, hợp với chân lý và công bình, các quyền hỗ
tương và các nghĩa vụ tương ứng được chân nhận. Hòa bình là một trật tự được
sống động và hòa hợp bởi đức ái, trong đó chúng ta sẽ cảm thấy nhu cầu của tha
nhân cũng là của chính mình; chúng ta chia sẻ thiện ích với tha nhân và lao tác
cho thế giới cho một sự hiệp thông lớn hơn về những giá trị tinh thần. Hòa bình
là một giá trị đạt được trong tự do, nghĩa là trong một cách thế phù hợp với
phẩm giá của con người, với bản chất của mình như là những hữu thể có lý trí,
con người chịu trách nhiệm cho hành động của mình.[3]
Hòa bình không phải là một giấc mơ hay một điều gì đó không tưởng, nhưng là một điều khả thi. Chúng ta cần nhìn sâu xa hơn, vượt qua những vẻ bề ngoài và các hiện tượng bên ngoài, chúng ta sẽ nhận ra một thực tại tích cực tồn tại trong trái tim con người, vì mỗi người nam và nữ đã được sáng tạo theo hình ảnh của Thiên Chúa và được mời gọi để lớn lên và góp phần vào việc xây dựng một thế giới mới. Chính Thiên Chúa, ngang qua mầu nhiệm nhập thể của Người Con và công trình cứu chuộc của Người, đã đi vào lịch sử và đã mang đến một cuộc tạo dựng và một giao ước mới, giao ước giữa Thiên Chúa và con người (xem Gr 31,31-34), và ngài cũng ban cho chúng ta một “trái tim mới” và một “thần khí mới” (xem Gr 36,26).
Vì lý do này, Giáo Hội nhận ra một nhu cầu cấp thiết trong việc tái công bố về Đức Giêsu, là yếu tố đầu tiên và nền tảng của sự phát triển hội nhất nơi con người và cũng là của sự hòa bình. Đức Giêsu là hòa bình đích thực, là công bình và sự hòa giải của chúng ta (x. Ep 2,14; 2Cr 5,18). Người kiến tạo hòa bình, theo mối phúc của Đức Kitô, là người tìm kiếm thiện ích cho người khác, thiện ích trọn vẹn nơi linh hồn và
trong thân xác, hôm nay cũng như mai sau.
Từ lời dạy này, người ta có thể suy ra rằng, mỗi người và mỗi công đoàn, cho dù thuộc về tôn giáo, nền giáo dục và văn hóa nào đi nữa, tất cả đều được mời gọi để lao tác cho hòa bình. Hòa bình là một sự thành tựu những thiện ích nơi một xã hội trong mọi mức độ khác nhau, ở mức độ cơ sở, trung cấp, quốc gia, quốc tế và toàn cầu. Rõ ràng, vì lý do này con đường để đạt đến thiện ích chung cũng chính là con đường phải đi
trong việc theo đuổi hòa bình.
(còn tiếp)
Maria Thanh Mai gởi
TÂM TRẠNG CHÁN ĐỜI KHÔNG NÊN Ở KHÔNG
Tác giả: Tuyết Mai
Nếu thỉnh thoảng chúng ta có tâm trạng chán nản, không buồn ra khỏi giường, không muốn đi đâu hay muốn làm gì dù có người rủ mời, là chuyện bình thường thôi! Chẳng có gì đáng lo ngại hay bất bình thường cả!. Ta hãy đổ thừa cho thời tiết thất thường,
nhất là vào mùa lạnh, thiếu bóng dáng của ánh nắng mặt trời, và đường xá có
tuyết phủ. Hay những mùa mưa thì cũng chẳng cách nào ta ra đường cho được vì lụt lội và vì trời u ám xám xịt cả ngày. Khí hậu thì luôn ảnh hưởng đến sức khỏe của con người nhất là cái lạnh thấu xương. Nhìn quanh ai ai cũng cảm, cũng ho, cũng khò khè, và quấn mền không ra được khỏi cái giường.
Có buồn chán lắm không vì chẳng biết làm gì cho qua thời giờ mà nhất là ta có rất nhiều giờ trong tay mà không biết làm gì cho qua giờ qua khắc?. Nhất là các anh chị em trẻ sau mùa thi cử, nghỉ hè, hay bị nghỉ bất đắc dĩ vì bị mất việc, v.v……
May mà thời buổi của ngày nay rất văn minh và hiện đại, ta còn có thể liên lạc với anh chị em ở khắp cùng trên mạng, nghe nhạc cũng trên mạng, coi phim, và muốn xem bất cứ thứ gì thì chỉ cần lên mạng.
Nhưng có những lúc ta thấy cái gì cũng nhàm chán, tự ta không muốn hay cảm thấy hứng thú hoặc vui vẻ với ngay cả chính mình? Có phải ta cần có ai đó có mặt mà đấm cho mấy đấm hay thọt lét cho ta cười, hay nói những câu để ta nghe xóc óc mà chịu đứng dậy để chịu vực dậy cái tấm thân lười của ta hay không?. Đó cũng là chuyện tâm lý bình thường của con người mà thôi, không gì trầm trọng lắm đâu!.
Điều tốt nhất là ta nên tìm những việc làm có tính cách hữu ích nhất là cho cái đầu óc của mình phải bận luôn. Bận tay bận chân lại còn tốt hơn nữa vì người Việt chúng ta
có câu “nhàn cư vi bất thiện” luôn là đúng đó!. Thà là chúng ta không biết việc gì để làm thì đi ngủ là tốt nhất, vì khi ta đi ngủ nó giống như được “turn off” hoàn toàn. Mà anh chị em có biết khi ta ngủ thì là lúc mọi tế bào trong cơ thể của ta chúng được nghỉ ngơi và được dưỡng bệnh không, nhất là trong khi ta bị cảm. Mọi tế bào (cells) lúc ta nghỉ ngơi là lúc chúng làm việc rất hăng say, được sinh nở thêm để thay thế cho
những tế bào đã chết từ tận bên trong như máu, ngũ tạng, cơ bắp, mọi thứ trong
đầu và tận bên ngoài là tóc, lông, và da.
Thế cho nên sự ngủ nhiều là điều tốt cho sức khỏe phải không nào? Miễn là chúng ta đừng ngủ nhiều quá mà thôi, hay triệu chứng ngồi đâu ngáp đó cảm thấy lúc nào người cũng mệt mỏi như người thiếu ngủ, thiết tưởng ta nên đi gặp bác sĩ để khám sức khỏe toàn diện xem sao?. Chứ thường tuổi các cháu trẻ thì còn nhiều hay dư sinh lực
lắm, nên tìm việc mà làm, chứ đừng ngồi không. Chúng tôi thường khuyên các cháu nhà khi chúng được nghỉ học và chờ mùa học tới là tìm kiếm việc bán thời gian để làm, thứ nhất để có thêm tiền dành dụm phòng cho những chuyệnbất trắc có thể xẩy ra, thứ hai là cho nhu cầu tối thiểu như quần áo, sách vở, ăn vặt, và xài vặt, v.v….
Kiếm tìm thêm nơi để làm việc thiện nguyện, làm đầu tàu để rủ hết thảy các bạn cùng giúp một tay vừa được thêm người lại thêm niềm vui cho anh chị em khốn cùng. Rồi để cho quân bình đầu óc được thoải mái thì cùng rủ nhau đi chơi nhóm như leo núi, đi biển, đi công viên, thăm thắng cảnh, hay tổ chức chung ăn uống, v.v….. Cùng bao nhiêu việc bác ái khác mà các cháu trẻ có thể làm như rủ nhau đi thăm trẻ cô nhi
viện, nơi nhà tình thương, nhà tù, giúp các em sống lề đường, v.v…. Đây chỉ là
lời góp ý chứ ngoài ra còn không bao nhiêu việc hữu ích khác mà các cháu trẻ
biết đến còn nhiều hơn chúng tôi nữa!. Chúng ta chỉ sợ thiếu người có lòng thiện chí, thiếu người có tấm lòng mà thôi chứ việc thiện nguyện thì không sao mà kể hay giúp cho hết được, thưa có phải?.
Điều chúng tôi xin góp ý cho các bạn trẻ khi nào chúng cháu rảnh cảm thấy quá buồn, chán nản, không còn biết việc gì để làm hay đi đâu cho có ý nghĩa thì hãy rủ nhau làm những việc hữu ích trên, dần tập cho các cháu có trách nhiệm với chính mình và với tha nhân qua các việc chịu thương chịu khó của các cháu bỏ công, bỏ thời giờ ra làm. Khi đã có lên chương trình, có tinh thần, và có dự định làm việc gì, các cháu hãy
nên bỏ ngoài tai những lời thị phi, phê bình với tính cách thiếu tinh thần xây
dựng và làm các cháu nản lòng. Vì tình yêu thương và lý tưởng thiết nghĩ các cháu cứ thế mà làm, dù ít nhiều gì cũng làm đẹp lòng Chúa và lòng người, và có phải đó đã là làm trọn lề luật yêu thương mà Chúa kêu gọi?. Trừ khi các cháu làm vì tiền hay vì muốn được nổi nang cho riêng mình thì công việc làm phước sẽ ra uổng công mà thôi!.
Thật tội nghiệp lắm thay cho những cháu vì không được người hướng dẫn, nhất là thiếu tình yêu thương từ trong gia đình, mà phải gánh vác việc đời ngay từ tuổi còn trẻ, nên vì trẻ người non dại đã có tư tưởng làm những sự việc thiếu suy nghĩ. Vì các cháu để cho mình bị ảnh hưởng quá nhiều khi coi phim ảnh quá khiêu khích nên đã tự hủy hoại đời mình và đời của người khác, hoặc cách này hay cách khác!?.
Lậy Thiên Chúa Vua tình yêu, xin luôn yêu thương hết thảy chúng con, chúc lành và ban bình an, để chúng con cảm nhận được tình yêu Chúa trên hết thảy mọi tạo vật và mọi điều chúng con không thấy và không cảm nhận được; những gì Chúa ban cho chúng con rất nhưng không. Mà không gì trên trần gian có thể mua hay sánh ví cho bằng. Như thử chúng con nín thở để đếm tiền thì không hiểu chúng con đếm được bao nhiêu thì bị tắt thở và lăn ra chết. Nghĩ thì buồn cười Chúa nhỉ nhưng con người nông cạn của chúng con thì luôn bám lấy tiền của trần gian cho thật chặt mà chẳng bao giờ muốn buông bỏ chúng?. Amen.
** Xin bấm vào mã số để hát theo:
http://www.youtube.com/watch?v=CILVKqh7urQ
(Cảm Tạ Chúa Đến Muôn Đời)
Y Tá của Chúa,
Tuyết Mai
(1-9-13)
SỰ THINH LẶNG TRONG ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG
Giữ thinh lặng là một nét đặc sắc của các tu sĩ chiêm niệm trong các đan viện. Nó cũng là điều được khuyến
khích và thường được tôn trọng trong những cuộc tĩnh tâm dành cho bất kì ai, không phân biệt linh mục, tu sĩ hay giáo dân. Mục đích của việc giữ thinh lặng là để suy gẫm, để gặp gỡ Thiên Chúa.
Có hai thứ thinh lặng: thinh lặng bên ngoài và thinh lặng bên trong hay nội tâm. Sự thinh lặng bên ngoài chủ yếu cốt ở tránh giao tiếp bằng lời nói với những người chung
quanh. Ngược lại, sự thinh lặng bên trong không liên quan gì đến tương quan với người khác, nhưng chỉ liên hệ đến chính bản thân. Như chúng ta đều biết, nội tâm chúng ta làm xuất hiện những ý tưởng, những hình ảnh và những điều tưởng tượng không liên quan gì đến việc cầu nguyện; trong nội tâm chúng ta nhiều khi nổi dậy những tình cảm và cảm xúc tự nhiên như vui, buồn, giận v.v… mà chúng ta quen gọi là thất tình.
Vậy thinh lặng nội tâm cốt ở tránh tất cả những cái đó mà chúng ta coi như là những tiếng nói và những tiếng động gây ồn ào bên trong. Chính cái ồn ào hay náo động này
phá sự yên tĩnh của tâm hồn. Chúng ngăn cản tâm hồn gặp gỡ Thiên Chúa, sống
hiệp nhất với Ngài, lắng nghe những lời nhắn nhủ của Ngài, đón nhận ơn soi sáng
của Chúa Thánh Thần, thưa gửi cùng Thiên Chúa và giải bày với Ngài những tâm
tình, những ước nguyện .v.v.
Như vậy, giữ thinh lặng bên trong là để cầu nguyện. Vì thế, trong viễn tượng đạo đức, sự thinh lặng bên ngoài chỉ có ý nghĩa khi nó tán trợ hay bảo vệ sự thinh lặng bên
trong. Cần nói như vậy vì trong không ít trường hợp, sự thinh lặng bên ngoài lại chỉ là cái bình phong che đậy cả một thế giới nội tâm ồn ào, náo động. Sự thinh lặng bên ngoài còn được hiểu theo nghĩa rộng là phải tránh nghe, đọc hay xem những gì có thể phá rối sự trầm mặc của tâm hồn. Nhưng cũng vì ý nghĩa hay mục đích của sự thinh lặng bên ngoài là như thế, nên sự thinh lặng này có tính cách mềm dẻo, nghĩa là, trừ trường hợp nó phải được tuân giữ tuyệt đối, nó vẫn cho phép có những cuộc trao đổi hay nói chuyện về Thiên Chúa và về những vấn đề thiêng liêng, những giờ cầu nguyện chung bằng lời kinh, tiếng hát, những lời khấn nguyện trong lúc riêng tư.
Nói giữ thinh lặng bên trong để cầu nguyện, tức là nhận có sự phân biệt giữa thinh lặng nội tâm và cầu nguyện. Nên nhắc đến sự phân biệt này, bởi lẽ chúng ta thấy rằng môn Yoga hay thiền Ấn Độ, kể cả thiền Phật Giáo, cũng tìm sự thinh lặng nội tâm, nhưng không phải để cầu nguyện. Tuy sự thinh lặng nội tâm khác với sự cầu
nguyện, nhưng cả hai gắn liền với nhau chặt chẽ; cái thứ nhất là điều kiện cần
thiết cho cái thứ hai; cái thứ nhất là phương thế, còn cái thứ hai là mục đích.
Vì sự thinh lặng nội tâm cốt ở sự vắng bóng những cái gây ồn ào náo động trong tâm hồn, nên chúng ta có thể hình dung đây là tâm hồn rỗng không. Nhưng vì là rỗng không để cầu nguyện, nên điều này cũng có nghiã là tâm hồn rỗng không để được đầy tràn, và cái làm đầy tràn chính là sự hiện diện của Thiên Chúa. Nói cách khác, giữ
thinh lặng nội tâm đồng nghĩa với việc gạt bỏ những cái gây ồn ào náo động để
tâm hồn được yên tĩnh, vì đó là nơi dành riêng cho Thiên Chúa, Đấng còn được gọi là Thiên Chúa thinh lặng.
Sự thinh lặng nội tâm có nhiều mức độ. Con người càng sống siêu thoát, nghĩa là càng từ bỏ mình và thế gian, thì sự thinh lặng càng sâu xa, bởi vì cái tôi được nuông chiều và thế gian được ham thích chính là những cái gây ồn ào náo động. Vì thế, ngày
xưa các vị tu rừng vào rừng sâu hay sa mạc là nơi thanh vắng để bỏ lại mọi sự
thế gian như tiền của, danh giá, địa vị. Họ từ bỏ mình bằng cách bắt thân xác chịu cực khổ, như mỗi ngày hay vài ngày mới ăn một bữa rất đạm bạc, mỗi đêm chỉ ngủ vài ba giờ. Có vị còn đeo xiềng xích nặng nề, tự giam mình trong chòi không đủ cao để đứng và không đủ dài để nằm, v.v… Bằng lối sống siêu thoát như vậy, họ có ý giữ cho tâm hồn được yên tĩnh để ngày đêm gặp gỡ Thiên Chúa, hay nói cách khác, để cầu nguyện liên tục trừ lúc ngủ. Điều vừa nói chứng tỏ rằng sự thinh lặng nội tâm là thành quả của sự từ bỏ và của cả một công trình tu luyện. Cũng vì thế mà có thể nói rằng
chỉ các vị thánh – thánh ở đây hiểu theo nghĩa thánh Công Giáo – mới là những
người giữ được sự thinh lặng nội tâm sâu xa. Nhưng không được phép nói ngược lại rằng người giữ được sự thinh lặng nội tâm sâu xa là người thánh. Thực vậy, sự thinh lặng nội tâm tự nó không phải là cầu nguyện hay hiệp nhất với Thiên Chúa, vì như đã nói trên, có những người ngoài Công giáo cũng từ bỏ mình và từ bỏ thế gian để đi tìm sự thinh lặng nội tâm. Vậy khi nói thinh lặng nội tâm, chúng ta chú ý đến một khía cạnh của linh hồn trong quan hệ với Thiên Chúa, đó là gạt ra ngoài các thứ “tiếng động” và “ồn ào” do xác thịt, thế gian và ma quỷ gây ra trong tâm hồn, để nhờ đó chúng ta mới có thể chăm chú gặp gỡ Thiên Chúa với thái độ lắng nghe. Đây là lúc chúng ta ở trong tình trạng hồi tâm, thu tâm (recueillement). Giữa lúc này, những tiếng động và ồn ào có thể tái xuất hiện và đe dọa phá vỡ tình trạng thu tâm kia. Nhưng dù chúng ta chưa là thánh nhân, chúng ta vẫn có thể, nhờ ơn phù trợ của Thiên Chúa, cố gắng ngăn cản được chúng. Chính sự cố gắng này cũng góp phần vào việc chúng ta chống lại sự cám dỗ của xác thịt, thế gian và ma quỷ.
Sau cùng, sự thinh lặng nội tâm cũng cần được bảo vệ và nâng đỡ bằng cảnh vật yên tĩnh bên ngoài do sự vắng bóng những người qua lại. Khi đọc Phúc Âm chúng ta biết Chúa Giêsu, sau khi chịu phép rửa ở sông Giođan, đã vào sa mạc cô tịch và sống ở đó
bốn mươi đêm ngày. Trong quãng đời hoạt động công khai, Ngài từng tìm nơi vắng vẻ để cầu nguyện: trên núi (Mt 14,23; Mc 6,46; Lc 9,28), trên núi vào lúc đêm khuya (Lc 6,12); nơi hoang vắng (Lc 5,16); nơi hoang vắng và sáng sớm, lúc trời còn tối mịt (Mc 1.35); trong vườn Giêtsêmani vào lúc đêm khuya (Mt 26, 36-46).
Hẳn không ai phủ nhận rằng những nơi thanh vắng, cô tịch là khung cảnh thuận lợi để nâng đỡ và bảo vệ sự thinh lặng nội tâm. Vì thế, các đan viện của các Dòng tu chiêm niệm, nếu không ở những nơi hiu quạnh thì ít ra cũng nằm trong những khu đất được vây kín. Các nhà tĩnh tâm cũng thường là những nơi tĩnh mịch, vắng vẻ. Ngay các tu viện hoạt động tông đồ, khi có thể, cũng có một khoảng đất nhỏ yên tĩnh, một mảnh vuờn kín đáo chẳng hạn, để dùng làm nơi cho tâm hồn hưởng những giây phút thư giãn và thanh thản, hoặc sống trầm mặc trong bầu khí êm dịu của cầu nguyện.
Rôcô Đinh Văn Trung, S.J.
Trích Tập San Hiện Diện
nguồn: Anh chị Thụ & Mai và
langthangchieutim gởi
KHI TÔI CHẾT !
Tác giả: Trần Đình PhanTiến
Khi tôi chết là khi linh hồn tôi bay bổng
Đến Thiên Nhan diện kiến Đấng toàn năng
Thân xác tôi nằm yên bất động
Nhưng thật ra,
tôi đang đi tới cõi vĩnh hằng
Lúc bấy giờ tôi mới ngộ ra rằng
Sự sống là do linh hồn bất tử
Còn xác thân chỉ là tạm bợ đương thời
Thân xác tôi của mẹ cha cho rồi
Nhưng linh hồn là mầm của sự sống
Từ bé xíu theo dần qua năm tháng
Thân xác lớn lên, linh hồn cũng trưởng thành
Năm tháng trôi qua, tôi được học hành
Được đào tạo để trở thành linh mục
Theo Chúa Kiô tôi thực hành nhân đức
Cùng vớii Người biến đổi nhân gian
Qua thời gian năm tháng yên hàn
Cùng sứ vụ tôi được phong giám mục
Nhờ ơn Chúa tôi cùng tiến bước
Cùng đồng hành với sứ vụ chủ chăn
Rồi đến lúc Chúa cho tôi ngừng việc
Ngoẳnh nhìn đời đã bảy sáu mùa thu
Tạ ơn Chúa không phải tôi bị mù
Mà là lúc tôi được chìm sâu trong Chúa
Khi tuổi hưu tôi vừa đúng lúc
Tôi được gọi mời sống đời ẩn tu
Bốn mươi năm trong sa mạc âm u
Tôi cảm nhận ân tình của Thiên Chúa…
Đời giám mục già nua khiếm thị
Trong xác thân như đứa trẻ tập đi
Sống tươi,sống đẹp chẳng phiền chi
Vâng Thánh ý ,tôi bền lòng trong Chúa
Cho đến hôm nay Ngài gọi tôi về
Linh hồn tôi trong sáng chẳng u mê
Trước Nhan Thiên Chúa tôi thật mãn nguyện
Khi tôi chết là thân xác trả lại đất
Chỉ còn linh hồn là bất tử muôn đời
Vậy ai không tin là không có linh hồn?
Không có Thiên Chúa làm sao có sự sống?
Khi tôi chết chính là lúc tôi sống
Chẳng già nua, chẳng bệnh tật chi
Thân xác tôi vùi chôn trong lòng đất
Sẽ tan ra theo hạt bụi của thời gian
Khi tôi chết người đời cho là mất
Nhưng kỳ thực ra tôi đi đến cõi trường sinh
Ngụp lặn trong ánh sáng quang vinh
Mình Chúa mình tôi tình đáp tình
Khi tôi chết là lúc tôi nhắm mắt
Để chia tay cùng bạn hữu gần xa
Nhưng khi tôi chết là lúc trở lại quê nhà
Vì chẳng có ai già mà không chết
Khi tôi chết chính là lúc tôi phải lìa xa
Để sống mãi trong vinh quang của Thiên Chúa./.
Kính tưởng niệm Đức cha Antôn Nguyễn Văn Thiện
Vị giám mục cao niên nhất thế giới.;
P.Trần Đình Phan Tiến
Đức khiêm nhường
Tác giả: Trầm Thiên Thu
(Chúa nhật I TN, năm C – Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa)
Chúa Giêsu hoàn toàn không hề có tội vì Ngài là Thiên Chúa, nhưng Ngài vẫn lãnh nhận Phép Rửa. Ngài để cho ngôn sứ Gioan làm Phép Rửa cho Ngài trong dòng sông Gio-đan vì Ngài muốn nêugương khiêm nhường cho chúng ta. Khiêm nhường rất cần cho bất cứ ai, vì khiêm nhường là nền tảng của mọi nhân đức.
CAN ĐẢM ĐỂ LÀM GÌ ?
Thiên Chúa phán: “Hãy an ủi dân Ta. Hãy ngọt ngào khuyên bảo Giêrusalem, và hô lên cho Thành: thời phục dịch của Thành đã mãn, tội của Thành đã đền xong, vì Thành đã bị tay Đức Chúa giáng phạt gấp hai lần tội phạm” (Is 40:1-2). Chúa rất nhân từ, Ngài nói rõ là “an ủi” và “ngọt ngào khuyên bảo” người khác, chứ Ngài không bảo dùng “quyền” mà “hành” người khác, hoặc dùng “mệnh lệnh” mà “trấn áp” người khác. Lời Ngài rất đáng để chúng ta phải tự nghiêm túc xét lại mình.
Có tiếng hô to: “Trong sa mạc, hãy mở một con đường cho Đức Chúa, giữa đồng hoang, hãy vạch một con lộ thẳng băng cho Thiên Chúa chúng ta. Mọi thung lũng sẽ được lấp đầy, mọi núi đồi sẽ phải bạt xuống, nơi lồi lõm sẽ hoá thành đồng bằng, chốn gồ ghề nên vùng đất phẳng phiu. Bấy giờ vinh quang Đức Chúa sẽ tỏ hiện, và mọi người phàm sẽ cùng được thấy rằng miệng Đức Chúa đã tuyên phán” (Is 40:3-5). Sa mạc là nơi hoang vu, tĩnh mịch, vắng vẻ. Sa-mạc-tâm-hồn cũng rất cần cho chúng ta, đó là những giây phút tịnh tâm, nhất là những buổi tối, hoặc những ngày cấm phòng. Vì khi ở trong “sa mạc”, chúng ta có thể nhận biết mình rõ hơn, và nhờ đó mà có thể mở đường rộng, vạch đường thẳng, san núi đồi, lấp thung lũng, san bằng chỗ gồ
ghề,… để đến với Thiên Chúa và tha nhân.
Ngôn sứ Isaia kêu gọi: “Hỡi kẻ loan tin mừng cho Sion, hãy trèo lên núi cao. Hỡi kẻ loan tin mừng cho Giêrusalem, hãy cất tiếng lên cho thật mạnh. Cất tiếng lên, đừng sợ, hãy bảo các thành miền Giuđa rằng: “Kìa Thiên Chúa các ngươi!” (Is 40:9). Lên cao và nói to, sống đúng sự thật thì không gì phải sợ ai. Chính Đức Kitô vẫn thường xuyên động viên: “Đừng sợ!” (Mt 10:26; Mt 10:28; Mt 10:31; Mt 14:27; Mt 17:7; Mt 28:5; Mt 28:10; Mc 5:36; Mc 6:50; Lc 1:13 & 30; Lc 2:0; Lc 5:10; Lc 12:4; Lc 12:7; Lc
12:32; Lc 21:9; Ga 6:20).
Tại sao không sợ? Ngôn sứ Isaia cho biết: “Kìa Đức Chúa quang lâm hùng dũng, tay nắm trọn chủ quyền. Bên cạnh Người, này công lao lập được, trước mặt Người, đây sự nghiệp làm nên. Như mục tử, Chúa chăn giữ đoàn chiên của Chúa, tập trung cả đoàn dưới cánh tay. Lũ chiên con, Người ấp ủ vào lòng, bầy chiên mẹ, cũng tận tình dẫn dắt” (Is 40:10-11). Muốn “đừng sợ” thì phải có lòng can đảm, muốn can đảm thì phải tập bằng cách tự động viên mình. Hãy hít sâu, nắm chặt hai bàn tay, và thở mạnh,
cảm giác sẽ khác hẳn. Nhưng đừng quên hướng về Đức Kitô.
Hãy tự nhủ như tác giả Thánh vịnh: “Chúc tụng Chúa đi, hồn tôi hỡi!”, và thân thưa với Chúa: “Lạy Chúa là Thiên Chúa con thờ, Chúa muôn trùng cao cả!” (Tv 104:1a). Thiên Chúa mà chúng ta tôn thờ rất khác biệt, không như bất kỳ thần thánh nào khác: “Áo Ngài mặc: toàn oai phong lẫm liệt, cẩm bào Ngài khoác: muôn vạn ánh hào quang. Tầng trời thẳm, Chúa căng như màn trướng, điện cao vời, dựng trên khối nước cõi thanh không. Chúa ngự giá xe mây, Ngài lướt bay cánh gió” (Tv 104:1b-3).
Đoàn tùy tùng của Ngài cũng hoàn toàn kỳ lạ: “Sứ giả Ngài là làn gió bốn phương, nô bộc Chúa là lửa hồng muôn ngọn” (Tv 104:4). Các việc Ngài làm vô số và không ai khả dĩ hiểu thấu: “Công trình Ngài, lạy Chúa, quả thiên hình vạn trạng! Chúa hoàn thành tất cả thật khôn ngoan, những loài Chúa dựng nên lan tràn mặt đất” (Tv 104:24). Nhận biết Thiên Chúa để chúng ta có thể đủ niềm tin, nhờ đó mà có thể can đảm hơn.
Không sinh vật nào lại không nhờ ân lộc Ngài trao ban: “Này đại dương bát ngát mênh mông, nơi muôn vàn sinh vật to lẫn nhỏ vẫy vùng, hết mọi loài ngửa trông lên Chúa đợi chờ Ngài đến bữa cho ăn” (Tv 104:25). Ngài không chỉ ban cho những điều cần thiết mà còn ban cho những điều vượt ngoài tầm tay của chúng ta, thậm chí Ngài ban cả những điều mà chúng ta chưa biết mở miệng xin: “Ngài ban xuống, chúng lượm về, Ngài mở tay, chúng thoả thuê ơn phước” (Tv 104:28). Thế mà nhân loại vẫn vô ơn, bạc nghĩa. Ngay chính chúng ta – những người vinh hạnh làm con cái Ngài – cũng vẫn thường xuyên bội bạc, làm được điều gì nhỏ nhoi đã tưởng mình tài giỏi mà dám vênh vang tự đắc, coi khinh người khác. Chúng ta chỉ là “số không” mà cứ tưởng mình là “cái rốn của vũ trụ”. Đó là ảo tưởng, là kiêu ngạo!
CAN ĐẢM ĐỂ KHIÊM NHƯỜNG
Nhà toán học Pythagore nói rất chí lý: “Đừng thấy bóng mình to mà tưởng mình vĩ đại”. Là một bác học danh tiếng cả thế giới mà ông thấy vẫn chẳng là gì. Hoặc như Thánh Thomas Aquinas, Tiến sĩ Giáo hội, thông minh xuất chúng và viết nhiều sách giá trị, đặc biệt là bộ Tổng luận Thần học (Summa Theologiae), thế mà ngài lại nói: ngài khiêm nhường cho biết: “Những gì tôi đã viết có vẻ như rơm rác”. Còn khi người ta hỏi: “Làm thế nào để được cứu độ?”, Thánh Thomas trả lời ngắn gọn: “Phải khiêm nhường”.
Một hồng ân hiển nhiên mà chúng ta luôn cần thiết là không khí, nhưng chúng ta lại không coi đó là đại ân, hoặc cho đó là điều “dĩ nhiên”, là chuyện tự nhiên. Tác giả Thánh vịnh phân tích cặn kẽ: “Chúa ẩn mặt đi, chúng rụng rời kinh hãi; lấy sinh khí lại, là chúng tắt thở ngay, mà trở về cát bụi. Sinh khí của Ngài, Ngài gửi tới, là chúng được dựng nên, và Ngài đổi mới mặt đất này” (Tv 104:29-30). Thế thì sao lại dám kiêu
ngạo chứ?
Thánh Phaolô nói rõ: “Quả thế, ân sủng của Thiên Chúa đã được biểu lộ, đem ơn cứu độ đến cho mọi người. Ân sủng đó dạy chúng ta phải từ bỏ lối sống vô luân và những đam mê trần tục, mà sống chừng mực, công chính và đạo đức ở thế gian này” (Tt 2:11-12). Tại sao phải như vậy? Thánh Phaolô giải thích: “Vì chúng ta trông chờ ngày hồng phúc vẫn hằng mong đợi, ngày Đức Kitô Giêsu là Thiên Chúa vĩ đại và là Đấng cứu độ chúng ta, xuất hiện vinh quang. Vì chúng ta, Ngài đã tự hiến để cứu chuộc chúng ta cho thoát khỏi mọi điều bất chính, và để thanh luyện chúng ta, khiến chúng ta thành Dân riêng của Ngài, một dân hăng say làm việc thiện” (Tt 2:13-14). Như vậy, chắc chắn người-hăng-say-làm-việc-thiện là người-của-Chúa, vì Chúa là Đấng từ bi, nhân hậu, và giàu lòng thương xót.
Thiên Chúa là Đấng cứu độ chúng ta, Ngài đã “biểu lộ lòng nhân hậu và lòng yêu thương của Ngài đối với nhân loại” (Tt 3:4).
Thánh Phaolô “nói toạc móng heo”, không hề úp mở: “Không phải vì tự sức
mình chúng ta đã làm nên những việc công chính, nhưng vì Ngài thương xót, nên
Ngài đã cứu chúng ta nhờ phép rửa ban ơn Thánh Thần, để chúng ta được tái sinh
và đổi mới” (Tt 3:5). Rõ ràng chúng ta chẳng có thể viện cớ gì để mà biện
hộ cho thói kiêu căng của mình. Tất cả là Hồng ân – Hồng ân nối tiếp Hồng ân: “Thiên Chúa đã tuôn đổ đầy tràn ơn Thánh Thần xuống trên chúng ta, nhờ Đức Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng ta. Như vậy, một khi nên công chính nhờ ân sủng của Đức Kitô, chúng ta được thừa hưởng sự sống đời đời, như chúng ta vẫn hy vọng” (Tt 3:6-7).
Trình thuật Tin Mừng được Thánh sử Luca kể ngắn gọn nhưng súc tích: Hồi đó, dân đang trông ngóng, và trong thâm tâm, ai nấy đều tự hỏi: biết đâu ông Gioan lại chẳng là Đấng Mêsia!
Nghe vậy, ông Gioan trả lời thẳng với mọi người: “Tôi, tôi làm phép rửa cho anh em trong nước, nhưng có Đấng mạnh thế hơn tôi đang đến, tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài. Ngài sẽ làm phép rửa cho anh em trong Thánh Thần và lửa” (Lc 3:16). Ngôn sứ Gioan Tẩy Giả là con người khiêm nhường với câu nói nổi tiếng: “Tôi không đáng cởi quai dép cho Ngài”. Không đáng cởi quai dép chứ đừng nói chi “xách dép”.
Là người đời, nhưng F. Engels cũng đã biết nhận xét tinh tế: “Trang bị quý giá của con người là sự khiêm tốn và tính giản dị”.
Thánh Luca cho biết rằng khi toàn dân đã chịu phép rửa, Đức Giêsu cũng chịu
phép rửa, và đang khi Ngài cầu nguyện thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống
trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: “Con là
Con của Cha, ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con” (Lc 3:22). Chính Chúa Cha đã
công khai xác nhận Đức Giêsu Kitô là Con Yêu Dấu, là Ngôi Hai Thiên Chúa. Quá
minh nhiên, không còn gì khả nghi nữa!
Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin giúp chúng con luôn biết sống khiêm nhường và yêu thương để có thể đến với Chúa qua tha nhân. Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên-Chúa-Làm-Người và Đấng Cứu Độ của chúng con. Amen.
TRẦM THIÊN THU
Vài Suy Niệm Bất Chợt Về Chúa Jesus Và Mẹ Maria
(01/08/2013)
Tác giả : Chu Tất Tiến
Buổi sáng. Mưa nặng hạt. Những cành đào trụi lá yếu đuối, gầy guộc, như đang run lên, lạnh lẽo. Các đóa hồng hết mùa buồn bã chấp nhận những cánh mong manh rơi lả tả dưới chân. Những bông hoa xứ cũng bạc mầu đi, rũ rượi. Cả khu vườn chìm trong ảm đạm của cơn mưa dầm cuối năm làm cho không gian mang tính chết chóc, u ám đến rợn người.
Chết? Làm người, ai không chết? Cả cây cỏ, muông thú, cho đến núi đá cũng có
ngày bị sụp đổ. Sự sống, sự chết cứ thay nhau luân chuyển. Có những địa danh
nổi tiếng về du lịch trên thế giới đã từng là ngọn núi lửa hừng hực. Có những
vùng hồ nước xanh tươi lại từng là núi non sừng sững cách đây chỉ hơn trăm năm.
Mặt trái đất đảo lộn không ngừng. Cho đến ngày nay, người ta vẫn còn tiếp tục
đào xới dưới mặt đất để tìm ra những thành phố đã bị chôn vùi cả ngàn năm.
Người ta đang đi và sống trên biết bao nóc nhà, sinh mạng của các lớp người
trước mà không hề hay biết rằng mình đang dẫm chân lên biết bao hạnh phúc, khổ
đau, nụ cười, nước mắt, niềm vui của con người. Vũ trụ cứ xoay chuyển lặng lẽ
và vẫn bùng nở lên từng giờ, từng phút. Người ta cũng không để ý rằng ngày hôm
nay, khoảng cách của trái đất và các thiên hà mỗi ngày một xa nhau hơn, vì vũ
trụ vẫn nở lớn lên khủng khiếp. Nếu chỉ viết những con số về khoảng cách không
gian lên mặt giấy và đọc, chắc sẽ có nhiều người điên loạn vì sợ hãi.
Tất cả, từ vật chất đến tinh thần của con người, của vũ trụ đều thay đổi, hủy
hoại, thoái hóa, chỉ có một điều bền vững muôn đời: “Tình Yêu của Thiên Chúa!”
Đọc lại Thánh Kinh chân chính (không phải những sách Thánh mà đời sau, người ta
chế biến cho thích hợp với nhu cầu phổ biến của một số nhân vật), sẽ thấy rằng
Đấng Sáng Tạo vẫn luôn yêu thương con người qua mọi giai đoạn, vẫn cho con
người hạnh phúc, trên hết là “Hạnh Phúc Trí Tuệ” tức là được hiểu biết, thông
thái, được Tiến Hóa mãi trong Trí Tuệ. Càng ngày con người càng tìm ra những
điều mới lạ, và càng hiểu biết thì những người công chính lại càng kính sợ
Thiên Chúa hơn. Con người ngày nay biết thông cảm với những khổ đau của Thiên
Chúa, đại diện là Chúa Jesus, khi phải “xuống thế làm người và ở giữa chúng ta”
nhiều hơn khi trước. Chúa đã hy sinh xuống trần để cứu độ chúng ta thoát khỏi
vòng đau khổ. Những lời dậy của Chúa Jesus đã nâng con người lên một hàng cao
hơn cái tục lụy trần thế tầm thường và thoái hóa liên tục. Để đáp ơn Chúa, con
người đã viết rất nhiều về sự hy sinh của Chúa, nhất là về những nhục hình mà
Chúa phải chịu vì nhân loại, về sự đóng đinh đau đớn, căng da xẻ thịt, về những
mạo gai đâm sâu vào đầu nhức buốt kinh hoàng, về những đòn roi vút vào thân
thể, móc ra từng miếng thịt, hay về mũi đòng đâm suốt trái tim… Máu Chúa đã đổ
đầy trên mặt đất, thấm đen.
Nhưng có ai biết rằng có một nỗi khổ lớn lao hơn hết mà ít ai nhắc đến là nỗi
khổ của Thiên Chúa, Đấng sáng tạo ra muôn vật và con người, lại phải hạ mình
“xuống” để sống chung với tạo vật của Ngài những 33 năm! Tưởng tượng một ông
chủ hãng chế tạo đồ chơi con nít, ngày nào đó phải biến thành chính món đồ chơi
đó, để giúp cho các đồ chơi biết chạy nhẩy tốt hơn…những 33 năm! Thống khổ hơn
cả là trong khi Chúa biết mình là “Chúa tể muôn vật” mà vẫn phải chấp nhận sống
bình thường như mọi vật, ngày qua ngày, ăn uống, sinh hoạt như những tạo vật
của mình, chờ đợi đúng 33 năm để viên mãn ý nguyện của Chúa là hy sinh cho nhân
loại, một nhân loại vô ơn và bội bạc. Những thế kỷ sau này, nhân loại càng xa
rời Chúa, chỉ biết đến quyền lợi, “sex”, tiền, và danh vọng nên tìm mọi cách
giết lẫn nhau hàng loạt, giết tập thể, giết cả một dân tộc, một giống nòi.
Người ta bây giờ nhạo báng Thiên Chúa bằng những khí cụ tinh vi hơn khi Chúa
còn ở thế gian rất nhiều. Đánh Chúa trên màn hình điện ảnh, chửi Chúa qua
Internet, làm nhục Chúa bằng các thứ đồ chơi điện tử, và giết con chiên của
Chúa bằng các vũ khí tinh vi… Nhưng độc ác hơn hết là biến một số tu sĩ yếu
đuối thành “yêu râu xanh” khiến cho các tín hữu khác dần dần mất niềm tin vào
Chúa. Thánh đường dần dần vắng bóng con chiên, cho dù Đức Mẹ, một Thiên Thần
trên Thiên Đàng đã hóa thân xuống thế, thành người nữ tên Maria để hạ sinh
Chúa, hiện nay vẫn còn khóc trên các bức tượng và vẫn làm phép lạ cứu người,
cũng không thấy số tín đồ đông hơn, mà chỉ thấy có nhiều vụ “scandals” trong
nhà thờ xấu xa hơn. Nói về Đức Mẹ, không khỏi không nghĩ đến sự đau khổ của Đức
Mẹ khi biết con trẻ mà mình sinh ra lại chính là Thiên Chúa mà mình thờ phụng,
nên phải hết sức tuân phục chính con của mình rồi phải chứng kiến người con của
mình bị làm ô nhục, bị đòn đánh rách da, phải vác cây thập giá nặng nề, ngã lên
ngã xuống rồi bị lột trần treo lên cây, máu và nước chẩy ra đầm đìa, rồi phải
vĩnh biệt con mình, Chúa của mình, đi vào cõi chết âm u…
Ôi! Những nỗi đau đứt ruột, xé da, tim thắt của Chúa Jesus và Mẹ Maria, có bút
nào diễn tả được, có phim ảnh nào nói lên đầy đủ được? Vậy mà ngày nay, thiên
hạ vẫn trâng tráo làm những nỗi đau ấy cứ dầy lên, tưởng ngập chín tầng trời
bằng những chém giết tàn bạo, bằng sự ghen ghét, đố kị, hận thù luôn muốn tiêu
diệt người khác. Có kẻ còn vác tượng Chúa đi đánh nhau, muốn đập tan lòng tin
tưởng vào tôn giáo khác, muốn máu của người khác tôn giáo đổ ra ngập đường thì
lòng mới thỏa thuê, vui sướng…
Còn biết bao người thật tâm yêu Chúa, thật tâm phụng sự Chúa trong cõi đời ô
trọc này? Hay chỉ yêu Chúa vì lời Chúa hứa: “Hãy xin thì sẽ được. Hãy gõ thì
cửa sẽ mở.” Xin được thì cười vui. Nếu xin không được, thì phẫn nộ, đổ hết tội
cho Chúa…
Ngoài trời, mưa vẫn rơi nặng hạt.
Chu Tất Tiến,
ngày cuối năm 2012.
Lm. Chân Tín: Luồng gió mới – Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người (3)
Đăng bởi lúc 2:39 Sáng 9/01/13
nguồn:Chuacuuthe.com

VRNs (09.01.2013) – Sàigòn
Mầu nhiệm Thiên Chúa làm người
Trong một chuyến xe lửa ở xứ xa lạ, nếu một người đồng hành chỉ một đứa trẻ tầm thường đang đùa chơi với chúng bạn trên đường đầy cát bụi và bảo với ta: em bé ấy chính là Đấng Tạo Thành vũ trụ, Đấng muôn dân mong chờ, đấng sẽ giải phóng nhân loại, Đấng mọi người phỉa kính mến phụng thờ, Đấng sẽ xét xử trần gian,chắc chắn chúng ta sẽ nhún vai mỉm cười rồi thản nhiên tiếp tục đọc báo.
Thế nhưng cách đây gần hai ngàn năm, trên đất Do Thái, giữa một đêm giá lạnh, một hài nhi tên là Giêsu đã sinh ra trong hất hủi và nghèo túng, một hài nhi yếu đuối, mỏng manh, cần đến sự che chở của mẹ mình, phỉa bú mớm, ngủ nghỉ như các hài nhi khác. Đến khi khôn lớn Giêsu cungu cung cắp sách đi học, cũng đùa chơi với các trẻ cùng xóm. Lúc thành niên, vì cảnh túng thiếu của gia đình, Giêsu phải theo học nghề thợ mộc để nuôi mẹ nuôi thân. Sau 30 năm, sống một đời sống bình thường như bao nhiêu người khác, Giêsu đã đi rao giảng Nước Trời, triệu tập được một ít đồ đệ , nhưng sau cùng đã bị giới lãnh đạo Do thái nộp cho trấn thủ Roma và lên án tử hình trên
thập tự giá. Nói tóm, xem bên ngoài, Giêsu là một người Do thái trăm phần trăm
giữa những người Do thái khác.
Nhưng Thánh Kinh cho chúng ta hay con người Do Thái ấy chính là Ngôi Lời Thiên Chúa hằng sống: “Từ nguyên thủy đã có Ngôi Lời và Ngôi Lời ở cùng Thiên Chúa và Ngôi Lời là Thiên Chúa” (Ga,1,1) Người là Đấng tạo thành vạn vật: “Mọi vật do Người mà có, và nếu không nhờ Người, sẽ không có vật nào” (Ga,1,3). Chính Người là sự sống, là ánh sáng trần gian: “Ngôi Lời là sự sáng thật soi chiếu mọi người” (Ga,1,9). Người là Đấng muôn dân mong chờ, là Đấng giải phóng nhân loại, là Đấng xét xử chúng ta, là Đấng chúng ta phải phụng thờ, vì đó là chính “Ngôi Lời đã làm người và ở giữa chúng ta” (Ga,1,14) – Thánh Gioan đã cảm động nói lên sự lạ ấy: “Điều đã có từ đầu, điều chúng tôi đã từng nghe, điều chúng tôi đã từng thấy tận mắt, điều chúng
tôi đã ngắm nhìn và tay chúng tôi đã sờ đến đó là LỜI HẰNG SỐNG. Quả thật SỰ
SỐNG đã tỏ hiện, chúng tôi đã từng thấy, chúng tôi chứng thật và chúng tôi loan
truyền cho anh em SỰ SỐNG ĐỜI ĐỜI hằng có với CHÚA CHA và đã tỏ ra cho chúng tôi. Điều chúng tôi đã từng thấy và từng nghe, chúng tôi loan truyền cho cả anh
em nữa, ngõ hầu anh em được hiệp thông với chúng tôi, nhưng sự hiệp thông của
chúng ta là thông điệp với CHÚA CHA và với, ĐỨC GIÊSU KITÔ con của Người. Những điều này, chúng tôi viết ra, ngõ hầu sự vui mừng của chúng tôi được nên trọn”
(1 Ga 1,4).
Thiên Chúa là người, đã ở giữa chúng ta, nhưng loài người không nhìn nhận: “Người ở trong trần gian, trần gian đã được Người tạo dựng nhưng trần gian lại không biết Người. Người đến giữa dân Người, nhưng dân Người không đón nhận” (Ga,1,10). Vì sao dâ Người không đón nhận? Là vì lời hứa của Thiên Chúa không thực hiện như ý họ: họ mong một đế quốc giàu mạnh, đuổi được quân xâm lăng, nhưng Chúa lại đến trong yếu hèn và nghèo khó. Thiên Chúa hiện diện trong nhân loại, nhưng đối với một số đông, hình như Người không có mặt, vì họ không biết nhận chân tướng của Người. sự vinh hiển của Thiên Chúa thì khác sự vinh hiển do trí óc ta nghĩ ra. Ta không thể nhìn nhận những giá trị của Thiên Chúa, nếu ta cứ bo bo với những tư tưởng hẹp hòi của con người. ta cần phải đưa mắt cao hơn chân trời của ta, để nhìn
lên một chân trời mới, phải bỏ nơi đồng bằng để hưởng cảnh huy hoàng của núi
non hùng vĩ. Ta không thể đi tới Chúa, nếu ta chỉ đi con đường của con người.
ta phải bỏ mình, bỏ đường lối của mình, bỏ ý định của mình. Phải đi sâu vào
trong nơi sâu của cõi lòng, phải từ bỏ những gì kéo mình lại, phải bỏ tất cả
những gì cản trở mình đến với Chúa. Chúng ta chỉ đến với Chúa lúc chúng ta biết
bỏ chỗ chúng ta muốn ở mãi mãi. Quá bám vào con người của mình, vào những cái
mình có, ta sẽ quên sự hiện diện của Chúa, ta sẽ chống đối Chúa, xua đuổi Chúa
và muốn ghiết Chúa. Con Thiên Chúa làm người, đã bị dân mình xua đuổi, đã chết
trên thập giá.
Thiên Chúa làm người ở giữa chúng ta gần 2000 năm nay. Nhưng cũng như dân Do Thái, loài người không đón Chúa, xua đuổi Chúa. Trong giây phút thiêng liêng của đêm Giáng Sinh năm nay, chúng hãy mở rộng lòng để đón Người và tin chắc rằng: “NGÔI LỜI ĐÃ LÀM NGƯỜI Ở GIỮA CHÚNG TA”.
Nguyệt san Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp
Số 151 – 12/1961
