NGỦ VÙI…

NGỦ VÙI…

Cái cò cái vạc đi đâu ?

Cho cơn buồn ngủ chìm sâu giấc nồng,

Mẹ về chợ sớm hừng đông,
Đôi vai gánh nặng lưng còng núi sông…

Ầu ơ…chén nước mưa trong,

Có làm sống lại những dòng sử xanh,

Biển xa nắng rọi long lanh,

Ai về mộ gió chòng chành ước mơ…

Con thuyền chở nặng vần thơ,

Trường, Hoàng Sa vẫn đợi chờ dân ta…

Liverpool.8/2/2013.

Song Như.

*Mộ gió…là mộ người chết mất xác trên biển…

Mộ chỉ có tấm bia.

Những nàng Phong lan hoang lạ

Những nàng Phong lan hoang lạ

Họ lan (Orchidaceae) là một họ thực  vật có hoa, thuộc bộ Măng tây (Asparagales). Lan là một trong những họ lớn nhất của thực vật và có mặt hầu như khắp nơi trên hành tinh này. Có loài sống dưới mặt đất và chỉ nở hoa trên mặt đất, có loài sống ở những vùng núi cao, rừng sâu. Lan có thể sống ở các vùng có khí hậu nhiệt đới đến các vùng tuyết phủ giá băng. Lan chủ yếu sống trên thân cây và thường được gọi là Phong lan. Một số loài sống ở mặt đất (Địa lan) và trên các vách đá (Thạch lan).

Anh Nguyễn v. Thập gởi

TÂN XUÂN CHÚC LÀNH

TÂN XUÂN CHÚC LÀNH

 

“Chúa là sức mạnh, là khiên mộc


chở che tôi, lòng tôi đặt tin tưởng nơi Ngài.”

(Thánh Vịnh 28:7)

 

Tân Xuân nguyện Chúa chúc lành


Thánh ân huyền nhiệm Ngài dành cho ta


Tình Trời bát ngát bao la


Phàm hèn đất bụi tụng ca tháng ngày


Mong sao luôn được vơi đầy


Sống vui bác ái lời Thầy dẫn đưa


Cuộc đời sáng nắng chiều mưa

Vô thường cõi tạm dây dưa thêm phiền


Dâng Cha chí ái nhân hiền


Mừng Năm Quý Tỵ khắp miền Quê Hương


Đoàn chiên yên hưởng náu nương


Tri ân Thượng Đế thơm hương Vĩnh Hằng!

 

* Nguyễn Sông Núi

(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX, Feb. 6, 2013)


——————————————————–

CHÚC LÀNH

 

Cám ơn Bn đã đc thư

Mong luôn hnh phúc tâm tư vơi đy

Sng theo giáo hun ca Thy

Ri ta s được tháng ngày bình an

Tình Ngài bát ngát cha chan

Phàm hèn cm t mênh mang tâm hn!

*Joseph Nguyễn Thanh Sơn, DCCT

(Tv Thánh Gioan Neumann, Dallas, TX, Feb. 6, 2013)

 

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

haimuoido

Một diễn giả nổi tiếng bắt đầu cuộc nói chuyện bằng một tờ 20 đô la trên tay.

Trong khán phòng lúc này có hơn 200 người khách, ông giơ tờ tiền lên và hỏi:

“Ai muốn có tờ 20 đô la này?”

Những cánh tay lần lượt giơ lên.

Người diễn giả nói tiếp:

“Tôi sẽ đưa tờ tiền này cho một trong số các vị, nhưng trước tiên, tôi muốn làm một việc”.

Ông liền vò nát tờ tiền, rồi lại hỏi:

“Ai vẫn muốn nó nào?”, vẫn có những cánh tay đồng ý. Ông hỏi tiếp: “Vậy thì, nếu như tôi làm thế này…”, diễn giả quăng tờ tiền xuống đất rồi dùng chân mình giẫm và nghiền nó.

Sau đó, ông nhặt lên, lúc này tờ tiền đã trở nên nhàu nát và dơ bẩn.

Ông lại hỏi: “Bây giờ, ai vẫn muốn nó?”, vẫn có những cánh tay giơ lên.

Ông nói:

Các bạn thân mến, vừa rồi các bạn đã có được một bài học rất giá trị. Những hành động tôi đã làm với tờ tiền đều không quan trọng, bạn vẫn muốn có nó vì nó không hề giảm giá trị, nó vẫn có trị giá 20 đô la.”

Tất cả những gì tôi muốn các bạn biết là trên cuộc đời này, có không ít lần chúng ta bị chà đạp, bị coi thường, bị cho là những hạt cát nhỏ bé.

Lúc đó, ta cảm thấy mình thật vô dụng, nhưng đừng bận tâm đến những điều đã và sẽ xảy ra với bạn bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào, không bao giờ bạn mất đi những giá trị đích thực của con người mình. “Giàu hay nghèo, sang hay hèn, nhàu nát hay phẳng phiu thì bạn vẫn luôn ‘có giá’ với những người thân yêu. Giá trị cuộc sống
không phải ở cái ta đã làm, những gì ta biết, mà là ở việc chúng ta là ai. Và
xin đừng bao giờ quên một điều:

Bạn đặc biệt và là duy nhất!

H.A (Dịch từ Inspirationpeak)

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Năm Thường niên

Chuyện phiếm đọc trong tuần thứ Năm
Thường niên Năm C 10-02-2013

Trần Ngọc Mười Hai

nguồn:Vietcatholic.net

 

2/7/2013

“Em thường hay ước mơ”

“Mơ người yêu lý tưởng.

Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu hùng,

điểm chút phong sương.”

(Y Vân – Tình Yêu Lý Tưởng)

(Mt 23: 11)

Ước mơ của bần đạo, hồi đó, rất lý tưởng. Lý tưởng, không chỉ vì Tình Yêu Thiên
Chúa rất trừu tượng, mà còn là tình yêu hiện rõ nơi mọi người. Chí ít, là người
ít tiền, ít của, ít cả tham vọng nữa. Tham vọng, mà làm gì khi các nhân vật mà
người Hoa bên Trung Quốc vẫn cứ ước và cứ mơ chỉ là Lưu Bang, Tần Thuỷ Hoàng,
Mao Trạch đông, vv… nay đi vào chốn quên lãng, rất chê bai.

Nhớ về “Tình Yêu Lý Tưởng” có ước và mơ, bần đạo lại nhớ về chuyến “tư du”
Trung Quốc đầu niên lịch 2013 có khá nhiều điều buồn/vui lẫn lộn. Điều vui buồn
đáng nhớ hôm ấy, là khi bần đạo được hai hướng dẫn viên du lịch trẻ một tên
Khương và một tên là Alison Wong dám nói lên điều mình nhận xét về nhân vật nổi
tiếng tàn bạo là Tần Thuỷ Hoàng và cả Mao Trạch Đông, khi xưa đốt sách giết
người có học. Anh Khương nói: “Về với lịch sử Trung Quốc, theo tôi bạo chúa họ
Tần là người đầu tiên từng đốt sách, hạ bệ và diệt trừ giới trí thức. Ngàn năm
sau, lại cũng có một đấng hậu duệ khác cũng rơi vào dấu mòn vết cũ, như tội
ác… Người đó là ‘Mao sếnh sáng’, tức Mao Trạch Đông. Ông này là vị đồ tể cuối
cùng của lịch sử của người Hán.”

Là ‘sếnh sáng’, đồng nghĩa với đấng chóp bu lịch sử mà nhất cử nhất động vị ấy
vẫn được người đời biết đến. Được biết đến, là biết về “tình lý tưởng” đeo mang
ý tưởng hơi khác người như một ước mơ cũng rất khác, như lời người nghệ sĩ sau
đây:

“Em thường hay ước mơ.

Mơ người yêu lý tưởng.

Với vẻ hào hoa lắm nét kiêu hùng

điểm chút phong sương.

Đây là chàng chiến binh,

Hay là chàng phi công hay là chàng thủy thủ..”

(Y Vân- bđd)

Nhân vật nào dù “lắm nét kiêu hùng” của bạo chúa, rồi ra cũng có ngày tan tành
tâm trí lẫn tâm tư và sẽ chìm lắng trong hôn hoàng, trời mây. Thế nhưng, nói
thế đâu có nghĩa bảo rằng vị nào vị nấy cứ tung hoành bạo tàn như hai đấng
‘chóp bu’ nọ của Trung Quốc/nước Tàu đều quẫn bức giới có học đâu. Nơi nhà Đạo
cũng thế, thủ lãnh nhà Đạo mình chẳng bao giờ tung hoành lập thành tích bất
ưng, nhưng vẫn được nhiều người nhớ và ước mơ, được như thế. Ước mơ, một lý
tưởng hoặc ước vọng tưởng là mơ, lại được đấng bậc chuyên chăm nhà Đạo biến
thành chuyện để kể, rất hôm nay. Truyện, do đấng bậc hôm nay kể lại chính là
đan viện phụ nọ ở Bỉ, cũng có ước và có mơ về một lý tưởng; nhưng “nửa đường
đứt…bóng’ rất như sau:

‘Nhất định. Nhất định rồi!

Tôi không thể trở thành đương kim Giáo Hoàng được nữa rồi! Bởi các đấng bậc của
tôi, nay lại bầu vị khác thay vì tôi. Thế nên, nay tôi xin bộc bạch dự
kiến/chương trình mà lâu nay tôi hoạch định để mọi người còn biết mà cảm thông.

Giả như tôi được bầu làm đấng bậc cao cả đến là thế, hẳn là đương nhiên tôi đã
trở thành vị giám quản giáo phận La Mã rất đương nhiệm, thôi! Và khi ấy, tôi sẽ
yêu cầu Hồng y giáo chủ Ratzinger, lên án các triết thuyết ngộ đạo này khác và
cáo buộc bất cứ lập trường/tư tưởng này khác của người đạo rối. Nhất thứ là
những vị cứ giả tảng/làm ngơ muốn biến vai trò của vị ‘giám quản giáo phận
Roma” thành đấng chủ quản toàn cầu hoặc trở thành vị chánh-trương/chánh-quản
toàn thế giới.

Và lúc đó, có lẽ tôi cũng gỡ bỏ mọi chất kích tác mọi ước vọng khỏi niềm mơ ước
của Cộng Đồng Vatican 2 chỉ muốn thiết lập một tập đoàn giám mục rất đoàn kết.
Và rồi, vào năm đầu triều đại giáo hoàng, tôi sẽ triệu tập một thượng-hội-đồng
giám mục gồm toàn các vị chủ quản giáo hội toàn cầu, quyết đề ra chương trình
hành động khả dĩ khiến mọi giám quản tham dự thượng hội đồng này được coi như
‘phụ mẫu chi dân’, rất trong Đạo.

Để chuẩn bị cho một thượng-hội-đồng giống như thế, có lẽ tôi sẽ phát tán toàn
bộ thư luân-lưu đến hội đồng giám mục các nơi trên thế giới; và nói với các
đấng một câu như: “chư huynh đừng sợ!’ Tôi sẽ khuyến khích các ngài nhận lãnh
trách nhiệm mới, để rồi còn truyền bá cho toàn hội-đồng, hầu các vị mới am
tường về nhu cầu của mọi người, nam cũng như nữ đang sống đạo ở giáo phận; cả
người Công giáo cũng như người ngoại Đạo. Và khi đó, có lẽ tôi sẽ yêu cầu Hồng
Y Ratzinger hoàn tất một số tài liệu mới về nền tảng thần học cho tập-đoàn giám
mục khắp nơi. Có thể, tôi cũng sẽ kêu mời các giám mục đia phương nhận lãnh
trọng trách mục vụ của các ngài, mà chẳng sợ gì đội ngũ ‘đức ông‘ vẫn có thói
quen điều hành cơ quan/sở bộ khác nhau, ở giáo triều.

Sau đó, có lẽ tôi cũng sẽ yêu cầu bãi bỏ các chuyến công du của chính tôi và
các vị giáo chủ kế-tục tôi, ta sẽ không còn xuất dương ra khỏi giáo phận La Mã,
cho đỡ tốn. Và, tôi sẽ thiết lập một thế hệ mới mẻ bao gồm mọi thành phần
giáo-dân có khả-năng truy cập mạng của giáo triều La Mã mình. Bằng vào tiền
tiết kiệm/dành dụm, thay vì xuất dương du ngoạn nước ngoài như thế, sẽ giúp tôi
thiết lập một dự án cho phép tất cả mọi công dân trên địa cầu này được tự do
vào mạng này cách dễ dàng, trước nhất ưu tiên cho người nghèo hoặc ít tiền.

Và, tôi sẽ chuẩn bị dư luận để cuối cùng lại cũng cho phép nữ-giới được tấn
phong làm linh mục đã chọn kỹ từ các vị nữ-lưu khôn ngoan, khéo léo, lành
thánh. Đương nhiên, tài liệu này sẽ khởi lên như một bản văn chính thức của
tông-toà trong đó ghi đôi câu như sau: “Hội thánh La Mã lúc nào cũng tin tưởng
và đặt nặng vào giáo huấn như thế.’

Còn nữa, tôi sẽ mời gọi hết thảy các thánh bộ trong giáo triều hãy cải-hối
chính mình thành cơ-quan chức-năng thực tế, chỉ phục vụ giáo hội và các cơ sở
tôn giáo địa phương thôi. Tôi sẽ cố gắng tin tưởng các hội-dòng chiêm-nghiệm
chuyên sống khắc kỷ và các tu hội này khác vẫn cứ tồn tại sau nhiều thế kỷ gặp
khủng hoảng. Đồng thời, tôi cam kết với họ rằng: các ngài sẽ không bị khuyến dụ
hoặc kêu mời làm thành-viên trong tổ chức Công-Trình Của Chúa (tức Opus Dei);
đồng thời nhắc nhở các ngài rằng: nhiều thế kỷ qua, các ngài vẫn thật sự là
‘chiến hữu’ Đức Kitô. Và, tôi cũng tự mình xem xét các phong trào mới – hoặc để
giải thoát/hiệp thông hoặc làm tân tòng của Chúa- nhưng vẫn tôn trọng quyền tự
trị và sức sống của hội thánh địa phương.

Bên cạnh các cơ sở tôn giáo mang tính cổ truyền, là cơ quan có mục tiêu chính
như tái sáng chế ra thứ nước nóng đang cần. Tôi cũng sẽ yêu cầu giáo triều La
Mã -trước khi tự biến cải chính mình – sẽ đồng thuận để trở thành hình-thái mới
khả dĩ phối-kết giáo hội, hầu đáp ứng những gì được coi như hơi thở của Thần
Khí cho nhiều thập niên mà không cần đến chỗ đứng trong giáo luật. Là, gia-đình
linh-đạo gồm cả nam lẫn nữ, có gia đình hoặc độc thân, giáo dân hay linh mục,
sống năng-động hay chỉ chiêm-nghiệm, nhất nhất đều kết hiệp quanh thị-kiến
linh-đạo cũng rất chung qua hiệp-thông phục-vụ Thiên Chúa, thế giới và Nước
Trời.

Tôi sẽ tiến đến giải-pháp đình chỉ việc phong chân phước và hiển thánh cho đến
khi tất cả tín-hữu tốt-lành hôm nay được biết đến cả danh tánh, sử hạnh và giáo
huấn của các bậc hiển thánh trong quá trình 25 năm qua. Tôi sẽ đề ra một luật
trừ cho vị nào được toàn thể dân Chúa coi là vẫn muốn phong làm thánh nhưng lại
bị thánh-bộ “phong thánh” quên tên như trường Đức Giám mục Oscar Romêrô chẳng
hạn.

Tôi sẽ hít vào buồng phổi lớp tro tàn của phong trào Linh thánh dấy lên ở Châu
Mỹ La-tinh vào năm tháng quẫn bách dưới chế-độ hà-khắc của đám quân-binh
độc-tài kiểu Pi-nô-chê để rồi tặng ban sự sống mới cho các phong trào bị xoá
tên vì sợ bị ảnh hưởng từ chủ-nghĩa xã-hội đích thực. Tôi sẽ tổ chức các buổi
hội-nghị chuyên đề thảo-luận và trình-bày cho thấy nền thần-học giải-phóng cũng
đem đến cho hội thánh hiện-tại các thần-học-gia sâu sắc của Châu Âu thời Công
đồng Vatican 2 nay tuyệt chủng; vì nền thần học này đang ngày càng thoái hoá,
suy sụp.

Tôi sẽ đề nghị các thần-học-gia nhà mình hãy sáng-tạo hơn nữa trong điều
nghiên, hầu dẫn-giải sứ-điệp Tin Mừng thành thứ gì đó cho mọi người cả nam lẫn
nữ đều có thể hiểu được, để rồi họ sẽ có vai trò không chỉ bó mình trong việc
bình giải văn bản của các Tổ phụ, thôi. Tôi sẽ khuyến khích các vị ấy biết
chỉnh-sửa lẫn nhau và biến đổi giáo-triều hầu bảo vệ niềm tin đi vào cơ sở
chuyên chăm nghiên cứu thần học.

Tôi cũng nói thêm một lần nữa, cho giới trẻ biết tương lai của Hội thánh và yêu
cầu họ giới hạn chuyện đi đây đó trong các năm sắp tới, dành tiền tiết kiệm cho
việc dựng-xây nơi-ăn-chốn-ở cho các vị cao niên –có khi cũng là ông bà của họ
tại nước họ đang sống. Tôi vẫn biết Đại Hội Giới Trẻ ở Cologne bị lỗ nặng về
tài chánh và bãi bỏ các Đại hội như thế bằng cách bán cơ sở/cao ốc hiện được dùng
làm văn phòng ở Vatican.

Tôi chỉ muốn bán các cơ sở ở Vatican đi, trừ Vương Cung Thánh Đường Phêrô thôi,
rồi sau đó, mua một căn hộ nho nhỏ để sống tại quận lỵ dân dã ở Rôma, và khi
muốn đi đây đó tới các ty/sở, tôi sử dụng xe chuyên-tu dành cho Giáo Hoàng,
thôi.

Và rồi, tôi quyết tâm sẽ về hưu sớm. Nhưng ở tuổi 75, xem ra tôi vẫn còn trẻ vì
tôi cũng sắp đi vào tuổi đó rồi. Tôi sẽ bớt việc của các hồng y xuống thành
những việc mang tính danh dự thôi, và sẽ tổ chức bầu cử Giáo Hoàng kế tục cho
dân La Mã, vì đó là giáo phận ngài chăm sóc.

Đấy! Quí vị thấy đấy. Họ có cho tôi cơ hội nào đâu dù chỉ một cơ hội duy nhất
để biến chương trình này thành hiện thực.” (xem Lm Armand Veilleux Trappist –
Abbot of Scourmont, Belgium- If I had been elected Pope…)

Là đấng bậc viện-phụ mà chỉ ước và mơ mỗi như thế, cũng không thành. Nghĩ cho
cùng, làm sao thành sự được khi đó chỉ là những mơ cùng ước. Ước mơ/mơ ước
thành sự ở thơ văn/âm nhạc, mà thôi. Bởi thế nên, người nghệ sĩ của ta vẫn hát
câu thơ khá mơ và ước như sau:

‘Tuổi mộng mơ,

tuổi mộng mơ ước mơ tiên.”

(Phạm Duy- Tuổi mười ba)

Tuổi mộng mơ, chưa chắc là tuổi của những mơ và ước. Ước và mơ, thật ra cũng
chẳng cần đợi tuổi tác hoặc năm tháng/ngày giờ, mới đạt được. Mơ và ước, hầu
như ai cũng có cơ hội và có quyền hạn để thực hiện. Tuy nhiên, cứ sự thường thì
người đời chỉ mơ và ước khi mình còn trẻ, tức thời gian còn dài để có thể đợi
mong nó thành hiện thực. Trường hợp đấng bậc trên, kể cũng lạ và hiếm có. Thế
nên, đức thày mình vẫn cứ mơ và cứ ước lại không nghĩ rằng những ước mơ của
ngài sẽ được thực hiện, cũng chóng thôi.

Tuy nhiên, người đời tuy biết thế nhưng vẫn ước và mơ. Mơ ước, nhưng không là
mơ mộng. Và, chắc chắn không là mộng ảo, mộng tưởng hoặc mộng mỵ. Mộng gì thì
mộng, tưởng gì thì tưởng hẳn cũng không là mộng ước của vua cha như truyện kể,
ở bên dưới.

Truyện rằng,

Vị vua tài đức nọ giàu đức hạnh, nhưng không có hoàng tử nối ngôi. Vua ta bèn
nghĩ tới việc chiêu mộ những người trẻ tài đức để có thể kế vị ông sau khi ông
qua đời.

Một ngày kia, vua cho mời tất cả các trẻ em từ 5 đến 12 tuổi vào hoàng cung. Vị
vua giải thích cho các em ý định của ông là muốn tìm người tài đức để thay ông
cai quản đất nước. Ông trao cho mỗi em một hạt giống và dặn các em rằng sau ba
năm, các em hãy mang mỗi cây mà mình sẽ trồng đến trình diện tại cung điện. Sau
khi nhận hạt giống, mỗi em đều nhiệt tình trồng hạt giống của mình và ngày đêm
chăm sóc chúng với hy vọng là cây của mình sẽ lớn nhanh và có thể sinh hoa kết
quả. Một số em nghĩ rằng, mình phải gây sự chú ý của nhà vua bằng cách làm cho
cây của mình thật lớn và có hoa quả.

Ðúng ngày đã hẹn, cả nước nhộn nhịp tiến vào cung điện để xem thử cây nào là
cây đẹp nhất, có nhiều trái nhất, và để xem ai sẽ là vị vua tương lai cho đất
nước. Quả đúng như dự tính, mỗi em đều mang đến cây mà mình đã trồng với nhiều
màu hoa hương sắc. Người ta cũng thấy có những cây đã kết trái thật xum xuê.
Nhà vua đi đến từng địa điểm để hỏi thăm các em, cách thức các em trồng cây. Sự
hồi hộp và im lặng của đám đông càng tăng lên khi nhà vua tiến đến những cây
tươi trái tốt; nơi mà nhiều người nghĩ rằng một trong số các em này sẽ được
chọn là hoàng tử.

Thế nhưng, nhà vua vẫn tiếp tục đi qua và bỗng dưng ông dừng lại trước một cậu
bé. Trên tay cậu bé là một chậu đất không cây. Thấy nhà vua đứng lại bên mình,
cậu biểu lộ sự thất bại bằng dòng nước mắt chảy dài trên má. Nhà vua hỏi,
“Tại sao con khóc?” Cậu bé thưa, “Con đã gieo hạt giống vào chậu
đất này, con đã bón phân cho nó, con đã tưới nước cho nó hằng ngày, con đã che
nắng cho nó và con đã làm nhiều cách để chăm sóc hạt giống của con, nhưng cuối
cùng không có cây nào.” Càng nói, cậu bé càng khóc lớn tiếng.

Nhà vua ôm cậu vào lòng và ra lệnh cho quân lính mời cậu lên chỗ cao danh dự.
Giờ đây, trước sự sửng sốt của bao nhiêu người, và kể cả cậu bé, nhà vua bắt
đầu lên tiếng. “Hôm nay, bệ hạ đã tìm được người mà bệ hạ mong đợi từ lâu.
Cậu bé đây đã chân thật khi nhận sự thất bại của mình. Và thực đúng là như vậy.
Vì tất cả hạt giống ta trao cho các con cách đây ba năm, chúng đã bị luộc chín
cả rồi.”

Nhà vua quay qua cậu bé và nói. “Con đã biết trung thành và trung tín
trong việc nhỏ; con đã không bị ngai vàng và danh lợi mê hoặc; con đã cần mẫn
chu toàn công việc của con với hết khả năng của mình. Ðó là điều ta mong
muốn.” Nhà vua nói tiếp, “Trên tay con là chiếc chậu đất không cây,
nhưng chính trong trái tim con, con đã gieo hạt giống sự thật vào lòng mọi
người hôm nay.”

Thật ra thì, vua cha mơ ước như thế, có thể là chuyện thực tế ở đời, cũng rất
thật. Khổ một điều, là: sự việc ở đời thường vẫn không như vua cha mơ ước. Thế
nên, thi ca/âm nhạc lại vẫn thấy có những câu ca rất mộng và rất mơ, như sau:

“Em ước mơ em là,

em được là tiên nữ

Ban phép tiên cho hoa

biết nói cả tiếng người

Ban phép tiên cho người

chắp cánh bay giữa trời.

Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!

Thật đẹp thay! Thật đẹp thay! Giấc mơ tiên!”

(Phạm Duy – Tuổi Mười Ba)

Ước và mơ của nghệ sĩ và của đan-viện-phụ nọ ở Scourmont, nước Bỉ vẫn là chuyện
thực tế, nhưng hơi mơ. Mơ và ước, cả những mệnh lệnh của Chúa sẽ thành hiện
thực, như Kinh sách nói:

“Các ngươi cũng chớ gọi mình

là lãnh đạo.

Vì lãnh đạo của các ngươi

chỉ có một: Đức Kitô.

Kẻ lớn hơn trong các ngươi

sẽ là tôi tớ của các ngươi.”

(Mt 23: 11)

Phải chăng mơ và ước đó, là của mọi người trong Đạo. Như Đạo Chúa vẫn dạy?

Mơ gì thì mơ. Ước gì thì ước, hãy cứ ước và mơ những chuyện nho nhỏ, nhè nhẹ
như truyện kể để suy nghĩ, rất như sau:

“Nhà nghèo, chạy vay mãi mới được xuất hợp tác lao động, Thanh coi đó như cách
duy nhất để giúp đỡ gia đình. Nhưng ảo mộng chóng tan. Xứ người chẳng phải là
thiên đường. Thanh chỉ còn biết làm quần quật và dành dụm từng đồng.

Để nhà khỏi buồn, trong thư Thanh tô vẽ về một cuộc sống chỉ có trong mơ. Ngày
về, mọi người mừng rỡ nhận quà, Thanh lại tiếp tục nói về cuộc sống trong mơ.

Đêm. Chỉ có Mẹ. Hết nắn tay, nắn chân Thanh rồi Mẹ lại sụt sùi. Thanh nghẹn
ngào khi nghe Mẹ nói:

-Dối Mẹ làm gì! Giơ xương thế kia thì làm sao mà sung sướng được hở con!” (x.
Kangtakhoa, Lòng Mẹ)

Trong mọi mơ ước, nhiều người vẫn cứ sống trong mơ mà chẳng giấu được ai hết,
chí ít là mẹ hiền. Vì, mẹ hiền hiểu biết lòng dạ của con cái, cũng rất nhiều.
Hệt như thế, nếu dân con nhà Đạo chạy đến hỏi han Mẹ hiền Hội thánh xem nay Mẹ
có mơ hay ước gì không? Phải chăng, Mẹ đang có nỗi mơ và ước về con cái và cho
các con của mình được hạnh phúc, hơn khi trước?

Hỏi, tức đã trả lời rồi, dù không rõ.

Trần Ngọc Mười Hai

Cũng ít khi hỏi người, hỏi mình

về những ước mơ

rất như thế.

Suy niệm Lời Ngài đọc trong tuần thứ Năm mùa thường niên năm C 10.02.2013

“Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa,”

“Em về trăng mọc bến chân như.”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Lk 5: 1-11

Gót nhỏ lên thuyền, gót của em. Người em dân dã, vẫn cứ về. Em về trăng mọc,
bến chân anh. Người anh mộc mạc, xưa theo Chúa.

Trình thuật thánh Luca, nay ghi về chuyến lên thuyền để đánh bắt rất nhiều cá.
Cá ở đây, gồm truyện kể về quà tặng Chúa ban, không chỉ cho mỗi dân con được
chọn, mà cả con dân ngoài Đạo, cũng vẫn được. Trước nhất, là về Galilê, và sự
thể đánh bắt, vào thời đó.

Biển hồ Galilê, là hồ nhân tạo duy nhất ở Israel. Hồ này dài đến 55 cây số,
chạy vòng quanh bến bãi, ở nơi đây. Hồ này sâu từ 25m đến 45m, nhưng mực nước
lại thấp hơn mặt nước biển đến 200m. Hồ nhân tạo, nhưng đây là chốn lý tưởng để
đánh bắt đủ mọi loại cá. Với dân chài, thì Biển hồ Galilê là nơi tốt nhất để
bắt cá. Với khảo cổ, lại có khám phá tuyệt vời từng phát hiện một thuyền đánh
cá dài rộng cỡ 8m x 2.20m x 1.35m bộ, với niên đại có từ năm 40 trước Công
nguyên. Thuyền này được gọi là “Con Thuyền Của Chúa”, vì là đặc trưng tiêu biểu
thời Chúa sống.

Dân chài đây, có nhóm chuyên đánh bắt các loại cá có chất lượng để cung cấp
khắp nơi, cả người Ai Cập cũng là khách hàng thường xuyên mua về đem hun khói
thành đặc sẳn rất tuyệt vời. Các khai quật cho thấy thuyền đánh cá ở đây được
trang bị khá tốt để có thể đánh bắt suốt cả đêm. Sản phẩm đánh được lại đã tạo
nguồn lợi tức cho một số công ty chuyên ngành trong thời gian dài, chuyên
nghiệp.

Dân chài ở đây, có người còn có nghề tay trái không chỉ đánh cá đóng thuyền
thôi, nhưng còn kinh doanh và tránh thuế. Dân chài người Bét-sai-đa sống ở
Ca-pha-na-um quen tránh né đám thu thuế; nên, nghề cá là nghề ít bận tâm về
luật thuế nhất. Nói chung, dân chài ở đây biết nhiều thứ, chứ không chỉ sơ sơ
mỗi cá tôm.

Thế nên, cử toạ đầu tiên tìm đến Chúa để nghe Ngài giảng giải, lại là dân chài
Biển hồ Galilê. Chúa hoạt động công khai, Ngài cũng di chuyển loanh quanh các
vùng: Bét-sai-đa, Ca-pha-na-um, Ghê-nê-sa-rét, Mag-đa-la, hoặc Ghê-ra-sa cùng
các vùng chài lưới và thôn làng ở Biển hồ. Chúa giảng rao vùng cận duyên gồm
các làng chài trong đó có cả Tyrô và Siđôn nữa. Hôm ấy, bên vệ đường cạnh hồ
Galilê, Chúa gặp ông Phêrô (cùng nhạc mẫu) và các bạn chài là: An-rê, Giacôbê
và Gioan (có bà Zêbêđê) và cả anh Lêvi thu thuế, nhất nhất đều đến từ
Ca-Pha-Na-Um, ở quanh đó.

Chúa vẫn thường có thói quen di chuyển trên hồ bằng thuyền bè. Chính ở nơi này,
Ngài chỉ cho các thánh biết đánh bắt thật nhiều cá, như phép lạ. Và cũng ở
triền hồ, Ngài còn phân phát cho cả ngàn người được no nê, ăn thoả chí. Tin
Mừng thánh Luca (đoạn 24) cũng cho thấy Chúa đã trở lại hồ này ngay sau ngày
Ngài Phục sinh quang vinh.

Vấn đề hỏi là: làm sao thánh Luca lại biết rõ điều ấy. Bởi, ai cũng đều biết
thánh Luca đâu thuộc thành phần dân chài và cũng chẳng là tay thu thuế. Thế
nên, nguồn văn của trình thuật hôm nay, có lẽ đã được rút từ Tin Mừng thánh
Matthêu đoạn 4 câu 18. Đoạn này, thánh Matthêu ám chỉ một Xuất hành mới cốt để
tái lập Vương quyền của Đavít.

Thánh Luca không chỉ nhấn mạnh sự kiện Chúa gọi mời dân chài làm tông đồ, nhưng
nhấn mạnh lên câu Chúa nói với Phêrô, rằng: “Từ nay ngươi sẽ là kẻ chài lưới
người.” Có thể là, thánh Luca không có ý đó, nhưng thánh Mátthêu lại trích dẫn
lời ngôn sứ Giêrêmia đoạn 16 câu 16 và Êdêkiel đoạn 47 câu 9, trong đó Chúa
nói: “Này Ta sai ngư phủ đến, một số đông và họ sẽ vung lưới bắt chúng.” Tất cả
điều đó, chỉ muốn nói rằng: Chúa đến như thể cuộc đánh bắt rất nhiều cá chứ
không phải chỉ mỗi thứ cá, là người Do thái mà thôi.

Ở đây, thánh Luca lại nói lên lập trường của riêng thánh-nhân về ơn cứu độ Chúa
rộng ban, không chỉ gửi đến với dân được chọn là Do thái mà thôi, nhưng còn mở
ra với hết mọi người, mọi sắc tộc, giòng giống. Và cũng thế, các tông đồ của
Chúa được gửi đến với mọi người có giòng giống sắc tộc, rất khác nhau. Ngài sẽ
không phân biệt một ai để rồi đem tất về với Vương quốc của Ngài, cũng là vùng
đất có biển có hồ, mầu mỡ rất nhiều cá.

Truyện kể ở trình thuật thánh Luca hôm nay cũng rất đẹp, trong đó tác giả cho
thấy kết quả của công việc hợp tác giữa hai chiếc thuyền đánh cá mỏng manh đến
suýt chìm vì nặng chĩu những cá. Một trong thuyền đó, có Simôn Phêrô đã thành
công đánh bắt được rất nhiều cá. Một lần nữa, ở đây thánh Luca cũng không nhiều
kinh nghiệm về sông nước với đánh bắt. Nhưng tác giả đã để Chúa yêu cầu thánh
Phêrô chèo đò vào bờ, rồi theo Ngài.

Nhiều năm qua, có học giả người Do thái là Abraham Joshua Heschel đã nói về vai
trò của ngôn sứ ở Israel. Theo ông, ngôn sứ là người hiểu được những “xúc cảm”
của Thiên Chúa. Qua cụm từ “xúc cảm”, ông muốn nói: Thiên Chúa không xa với với
con người chúng ta, theo nghĩa khoảng cách thần linh, thánh thiêng; nhưng Ngài
là Đấng rất cần gần gũi với những khổ đau/sầu buồn, như con người. Ngài cũng có
cảm xúc như con người. Giữa Ngài và con người, luôn có sự tuỳ thuộc hỗ tương,
tức là: Chúa cần ra khỏi tính thánh thiêng để đến với chúng ta. Và chúng ta
cũng thế, cần ra khỏi hoàn cảnh của mình để ra đi mà đến với Chúa. Để sống với
những cảm xúc của chính Chúa.

Ý tưởng của diễn giả Heschel đem đến cho ta một mô hình mẫu mực để hiểu được tư
tưởng của thánh Luca viết ở đây. Thánh Luca tuy không là ngôn sứ, giống như
thế. Chúa của thánh sử cũng không là Thiên Chúa của tác giả Heschel. Nhưng theo
thánh Luca, thì Chúa cũng có cảm xúc muốn san sẻ sự vui mừng với chúng ta. Ngài
đã đi vào cuộc sống phàm trần theo cung cách cũng trần tục để niềm vui của Ngài
lấp đầy hết mọi người. Trong mọi người. Và niềm vui của ta cũng có kết quả
tương tự, đối cới Chúa.

Thật ra thì, cụm từ “xúc cảm” ở đây cũng không đúng nghĩa cho lắm khi ta diễn
tả điều mà thánh Luca muốn nói. Nhưng điều mà thánh sử Luca muốn nói chính là
niềm vui chung vẫn có giữa Đức Giêsu và các thánh tông đồ, rất thuyền chài. Đó
là niềm vui rất lớn không biên giới nhưng đã hoàn toàn rộng mở. Niềm vui ấy,
nay phát tán đi vào với thế giới gồm đầy khổ đau, âu sầu. Vui, là rung động với
những cảm xúc hân hoan của con người để đi vào tận tâm can con người vẫn thường
gặp nhiều klhổ đau/sầu buồn vào mọi lúc. Niềm vui ấy, như thể đàn cá tung tăng
nhẩy xổ vào lưới bắt của các vị tông đồ/thuyền chài. Đàn cá xem ra thích nhảy
vào lưới như thế. Và các tông đồ/thuyền chài cũng mỉm cười vui thích khi thấy
đàn cá cứ làm thế.

Và thánh Luca vẫn ghi lại những truyện kể ở trình thuật có Đức Giêsu mỗi lần
đến với ai, là người đó cũng sẽ vui mừng, nhảy chồm lên vì sung sướng. Và lòng
thương xót của Chúa lớn lao gồm đủ những cảm-xúc và niềm vui to lớn còn là kết
quả của sự việc nhảy ra khỏi làn da, thớ thịt mà Chúa từng làm và từng sống với
ta như thế. Đức Giêsu cũng đã làm như Chúa đã làm như thế với mọi người. Như thế,
thì Ngài đích thật là Người Con của Thiên Chúa.

Điều này dấy lên một vấn đề hỏi rằng: làm sao chủ đề “ơn cứu độ” lại có thể trở
nên chuyện chính yếu đối với tác giả Luca, là thế? Đôi khi, đó còn là trọng tâm
Tin Mừng của thánh-nhân nữa. Chuyện này kể cũng thực, nhưng không phải là tiên
quyết. Ít ra, tác giả cũng không đến nỗi ưu tư nhiều như thế. Ơn cứu độ, là cụm
từ ta dùng để chỉ về trạng huống ta trải nghiệm Niềm vui chung có Chúa đã từng
đảo ngược mọi chuyện tiêu cực thành cơ hội để ta suy tư về ân huệ trọng yếu
này.

Những điều kể trên, đôi khi làm người đọc lại nghĩ về truyện ông Noê ở Cựu Ước.
Truyện kể vẫn cứ kể về điều là những sinh vật được cứu sống, chỉ mỗi vài cặp
thú vật trên thuyền mà thôi. Cứ tin là như thế. Như thế, tức như thể không phải
tất cả mọi thú vật đều có mặt ở đó, hết. Thế thì, các thú khác và người khác
thì sao? Có được cứu rỗi không? Về cá heo và chúng bạn vẫn tung tăng bơi lội và
cười đùa vui vẻ ngoài con thuyền cách vô tội vạ thì sao? Chúng không được cứu
sao?

Nếu thế, cũng không phải là ý của tác giả, cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Bởi Thiên
Chúa là Đấng thực sự rất Vui và rất đại độ. Có lúc Ngài cũng tung tăng vui vẻ,
ngoài con thuyền đấy chứ? Dù thuyền đó là thuyền đánh cá của Phêrô hay thuyền
cứu độ của Noê, cũng đều thế. Cả tác giả Luca cũng thế. Cũng đâu bao giờ có
được ý tưởng buồn cười về cuộc sống được cứu rỗi và về Thiên Chúa đến như thế.

Thế nên, đọc trình thuật thánh Luca, người đọc hẳn đôi lúc cũng nghĩ như nhà
thơ bên dưới:

“Gót nhỏ lên thuyền một kiếp xưa,

Em về trăng mọc bến chân như.

Người Em hơi thở say mùi huệ,

Mây trắng vương buồn mắt thái sơ.”

(Đinh Hùng – Trái Tim Hồng Ngọc)

Trái tim của Chúa, cũng “Hồng Ngọc”, tức: cũng mầu hồng và bằng ngọc, luôn
tưởng nhớ hết dân gian mọi người, dù là dân chài thợ mộc, Ngài vẫn mời theo
Ngài giảng rao ơn cứu độ thân thương, rất hồng ngọc. Để dân gian mọi người sẽ
trở thành ngọc hồng, ngọc bích vẫn cứ thương.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh –

Mai Tá lược dịch

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

(Dân trí) – Đá cuội ở sông suối không phải là thứ xa lạ đối với hầu hết mọi người. Tuy nhiên, khi xem những viên đá cuội đã được nữ họa sĩ Ernestina Gallina “thổi hồn”, chắc chắn người xem không khỏi thán phục.

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Họa sĩ Ernestina Gallina đến từ Cenestino, nước Ý từ khi còn là một đứa trẻ đã biết
cách biến những vật tầm thường thành những vật độc đáo lạ mắt. Lúc nhỏ, bà
Gallina rất đam mê lĩnh vực hội họa, thiết kế. Tuy nhiên, do gia đình Gallina
không ủng hộ sự lựa chọn này của bà cho nên bà không có cơ hội để phát triển kỹ
năng của mình cũng như đăng ký tham gia học tập tại bất kỳ trường nghệ thuật
chính thống. Bà chỉ thể hiện tài năng nghệ thuật của mình như là một thú vui
giải trí.

 

Biến đá cuội thành tác phẩm độc đáo

Năm 1987, bà cùng với gia đình chuyển đến thành phố Nairobi, ở Kenya để sinh sống. Tại đây sự nghiệp hội họa của bà được thăng hoa. Gallina kể lại, vào một hôm tại
thư viện, vô tình bà đã vấp phải một cuốn sách được trưng bày trên những bức
tranh đá. Từ hôm đó bà bắt đầu suy nghĩ về cách biến những viên đá cuội bình
thường ở sông suối thành những tác phẩm nghệ thuật. Đây chính là điểm mấu chốt
giúp bà kết hợp và phát huy được niềm đam mê nghệ thuật cùng với tình yêu thiên
nhiên đất trời. Kể từ đó, bà đến với nghệ thuật vẽ tranh trên đá như một điều
tất yếu và không bao giờ ngừng lại được.

Sau 3 năm làm quen với công việc vẽ tranh trên đá, bà Ernestina Gallina đã có thể dạy lại những bí quyết vẽ tranh trên đá cho nhiều học viên, đến năm 2003 bà đã thành lập câu lạc bộ vẽ trên đá đầu tiên tại Ý.

Chiêm ngưỡng một số tác phẩm của bà Ernestina Gallina:An TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn TửAn Tử

TỪ NAY ANH SẼ LÀ KẺ LƯỚI NGƯỜI

TỪ NAY ANH SẼ LÀ KẺ LƯỚI NGƯỜI

http://www.google.com.vn/url?sa=i&rct=j&q=luca+4,30&source=images&cd=&cad=rja&docid=dH7VzgVml2UysM&tbnid=7ZdbQwBxxZ5yOM:&ved=0CAUQjRw&url=http://menchuayeunguoi.com/index.php?option=com_content&view=article&id=5495:cn-4-tn-c-c-giesu-tht-bi-ti-nadaret&catid=135:suy-nim-suy-t-chia-s&Itemid=365&ei=_nQTUfSiPOiaiAey1YFo&bvm=bv.42080656,d.aGc&psig=AFQjCNEgznsugNf60S_oHCJ5uI1raj84Fg&ust=1360315988424091

Chẳng ai ngờ cuộc đời Simon có thể chuyển hướng. Ông đã có nghề nghiệp ổn định và đã lập gia đình. Thế giới của ông là hồ Ghênêxarét, là những con cá quẫy đuôi trong lưới, là gia đình cần phải chăm nom săn sóc.

Ông yêu vợ con, ông yêu biển cả. Chúa đã đặt ông vui sống trong thế giới ấy, nên chỉ có Ngài mới có thể kéo ông ra, và bất ngờ đưa ông vào một thế giới mới, một đại dương bao la hơn nhiều, một gia đình rộng lớn hơn vạn bội. Chỉ Chúa mới có thể làm trái tim ông say mê một Ai khác, yêu một Ai đó hơn những người ông đã từng yêu.

Đức Giêsu đã đến với Simon thật tự nhiên. Ngài chọn thuyền của ông làm nơi giảng dạy. Sau đó Ngài mời ông thả lưới bắt cá, Simon có nhiều lý do để khước từ. Ông có thể dùng kinh nghiệm của mình để nhận thấy tốt hơn nên chờ dịp khác, hay nại lý do mệt mỏi, sau một đêm ra khơi. Nhưng Simon đã vâng lời, chỉ vì tin Lời Thầy Giêsu, Lời đầy quyền uy, Lời trừ được quỷ (Lc 4,30). Lời mạnh mẽ đã chữa cho mẹ ông khỏi
bệnh (4,39).

Mẻ cá lạ lùng, mẻ cá chỉ có trong mơ. Mẻ cá làm Simon run rẩy nhận ra mình tội lỗi, và nhận ra Đấng ở gần bên. Mẻ cá bất ngờ mở đường cho một lời mời gọi mới: “Đừng sợ, từ nay anh sẽ thành kẻ bắt người.”

Simon lại có nhiều lý do hơn để từ chối. Chuyện gia đình bề bộn, tương lai bấp bênh. Kẻ quen bắt cá đâu có khả năng bắt người. Kẻ tội lỗi đâu xứng với sứ mạng. Nhưng một lần nữa, Simon dám tin vào Lời Chúa, để cho Chúa tự do lôi kéo mình.

Ông đã bỏ lại bao điều ông yêu mến. Khi bỏ lại hai thuyền đầy cá, ông tin rằng những mẻ cá mới đang đợi ông. Và Simon cứ lớn dần lên sau mỗi bước của lòng tin.

Tin đòi vượt trên lối suy luận thông thường, vượt trên kinh nghiệm, vượt trên mệt mỏi của xác thân.

Tin đòi tôi ra khơi buông lưới thêm một lần nữa.

Tin đòi tôi bỏ lại tất cả để theo Chúa. Bỏ tất cả là đặt tất cả dưới Chúa và sử dụng tất cả trong Ngài.

Chúa vẫn gọi tôi ra khỏi lối mòn quen thuộc, khỏi những điều tưởng như không thể thay đổi. Tôi có sẵn sàng lên đường theo Ngài không?

***

Lạy Chúa, chúng con  không hiểu tại sao Chúa chọn Simon, một người đánh cá ít học và đã lập gia đình, để làm vị Giáo Hoàng đầu tiên của Giáo Hội.

Chúa xây dựng Giáo Hội trên một tảng đá mong manh, để ai nấy ngất ngây trước quyền năng của Chúa.

Hôm nay Chúa cũng gọi chúng con theo Chúa, sống cho Chúa, đặt Chúa lên trên mọi sự: gia đình, sự nghiệp, người yêu.

Chúng con chẳng thể nào từ chối viện cớ mình kém đức kém tài.

Chúa đưa chúng con đi xa hơn, đến những nơi bất ngờ, vì Chúa cần chúng con ở đó.

Xin cho chúng con một chút liều lĩnh của Simon, bỏ mái nhà êm ấm để lên đường, hạnh phúc vì biết mình đang đi sau Chúa. Amen.

Trích từ “Manna”

nguồn: ngocnga Và Anh chị Thụ & Mai gởi

Soi gương, soi lòng

Soi gương, soi lòng

Nhà văn Quyên Di

image

Ngày nọ, tôi gặp một vị linh mục trung niên, tính tình vui vẻ hòa đồng. Lâu ngày không gặp, tôi nhìn thấy nơi khuôn mặt vị linh mục những nét phong sương, nếp nhăn xuất hiện trên vừng trán và khóe mắt, nụ cười tuy vẫn tươi nhưng nét môi như chùng xuống. Tôi nói:

– Trông cha như già đi…

Vị linh mục xác nhận, ông nói:

– Soi gương thì thấy mình già…

Nhưng ông tiếp ngay:

– Soi lòng thì thấy vốn là thanh niên.

Rồi ông cười, giọng đầy hào sảng.

Cuộc gặp gở ngắn ngủi kết thúc. Buổi tối trở về nhà, tôi nhớ hoài đến câu thơ ”soi gương, soi lòng” ấy. Và rồi tôi soi gương, soi lòng chính tôi thật.

Tôi soi gương và thấy  khuôn mặt tôi trong đó. Tôi hôm nay khác hẳn tôi mấy chục năm về trước. Đã có một thời xa xưa nào đó, tôi là một khuôn mặt trẻ thơ, hiền lành, nhút nhát; có thể là một khuôn mặt ngây ngô, không lanh lợi cho lắm. Nhưng dù sao đó cũng là một khuôn mặt không mấy khó ưa. Thời đó, tóc tôi còn xanh, đôi mắt còn trong, dĩ nhiên là không phải đeo kính như bây giờ. Thời đó tuy là con trai nhưng da
mặt của tôi mịn (da trẻ em nào mà không mịn), cánh môi tôi cũng xinh; má tôi
không phính, nhưng nhiều người lớn thấy tôi cũng muốn ”véo má một cái”. Thời
đó, trán tôi chưa hề có nếp nhăn, lông măng phơn phớt, một vài đường gân xanh
nhỏ bên thái dương và những tia máu nhỏ chạy li ti trên đôi má, Thời đó khuôn
mặt tôi hiền hậu, dễ thương. Ít là tôi nghĩ như thế.

Rồi thời gian qua đi. Khuôn mặt tôi biến đổi cho phù hợp với tuổi thiếu niên tôi có. Tóc trở nên rậm và cứng hơn. Da không còn mịn nữa. Nó đã hơi ”gồ ghề” và nhiều nơi có mụn trứng cá. Đôi má không còn hấp dẫn để cho người lớn ”muốn véo một cái” nữa. Cặp mắt tôi sâu hơn, đen hơn và đôi lông mày rậm. Khuôn mặt tôi thuở ấy hình
như có những nét không cân đối và thiếu hòa hợp. Có lẽ không phải vì những
đường nét tự nhiên của khuôn mặt, nhưng do ảnh hưởng của thể lí và sinh lí tuổi
đang lớn.

Khuôn mặt tôi biến đổi một lần nữa khi tôi bước vào tuổi thanh niên. Tôi không phải là một người vạm vỡ, cao lớn. Nhưng dù sao ở tuổi ấy, khuôn mặt tôi cũng có góc cạnh hơn, tóc tai “đâu vào đấy” hơn. Tôi vốn không phải là người chú ý đến diện mạo bên
ngoài nên không nhớ mình có “đẹp trai” không. Những cô bạn gái của tôi
không ai chú ý đến khuôn mặt tôi cả, họ để tâm đến tính nết tôi hơn. Nhưng dù
sao tôi cũng không bị mang tiếng là người xấu xí.

Thế rồi thời gian cứ trôi, khuôn mặt tôi vẫn cứ biến đổi. Không biết bao nhiêu lớp da với những tế bào cằn cỗi đã bị đào thải, thay vào đó là những lớp da mới. Đã nhiều lần khuôn mặt tôi trầy xước, xây xát vì những vết thương; nhiều lần sưng phù, mọng đỏ,
mụn mằn vì những cơn bệnh; nhiều lúc hóp lại vì mệt nhọc, lo lắng, ưu tư. Cũng
đôi khi khuôn mặt ấy hồng hào vì khỏe mạnh, rạng rỡ vì niềm vui. Tất cả những
khuôn mặt ấy đều là ”TÔI” cả .

Cho đến ngày hôm nay, một buổi tối thinh lặng, tịch mịch, một mình tôi đối diện với tấm gương. Tôi thấy là lạ vì không có thói quen soi gương sửa soạn cho khuôn mặt. Tôi vốn có tính xấu: cẩu thả và luộm thuộm; phải đi đâu vớ được bộ quần áo nào là xỏ vào ngay, không chắc mặc nó ”hợp’ hay ”không hợp”. Tóc thì chỉ cần đưa tay lên
“cào” vài cái là xong. Chính vì vậy, hôm nay nhìn kĩ khuôn mặt mình trong
gương, tôi thấy nó kì kì. Tôi nhăn mũi, lè lưỡi chọc ghẹo cái khuôn mặt trong
gương ấy. Nhưng rồi tôi cũng quan sát nó thật kĩ. Tôi, trong gương, bây giờ là
một khuôn mặt trung niên; mái tóc đã có một vài sợi bạc; trán có kha khá nếp
nhăn; lông mày còn rậm, nhưng đuôi lông mày bên trái bị đứt một đoạn ngắn, hậu
quả của một lần mí mắt bị sưng và làm độc. Da tôi không đen nhưng sạm màu, làn
da cũng có những nếp nhăn và không còn phẳng phiu, mịn màng như ”ngày xưa còn
bé ”.

Tôi nhìn tôi trong gương, không thấy mình đáng ghét cho lắm, nhưng không còn chút nào vẻ thơ trẻ hồn nhiên. Thời gian và những biến thiên dời đổi của cuộc đời đã để lại trên khuôn mặt tôi nhiều vết tích không phai mờ. Tôi thử cười một cái, nụ cười làm
cho khuôn mặt tôi có nhiều nếp nhặn hơn. Nụ cười không làm cho tôi trẻ đi, tươi
hơn; trái lại, hình như trông già hơn, héo hơn một chút.

Trong khoảnh khắc, tất cả mọi khuôn mặt của tôi liên tiếp xuất hiện trong gương, rất nhanh nhưng cũng rất rõ. Tất cả đều là tôi, là “tôi-trong-cùng-một-lúc”; không có
”tôi” nào trước, ”tôi” nào sau. Bởi vậy, nếu hỏi rằng tôi thích “tôi” nào nhất thi tôi không trả lời được.

Bỏ tấm gương đấy, tôi muốn ”soi lòng”. Tôi tắt đèn đi, ngồi thu lu trên giường, đắm chìm trong bóng tối và sự tịch liêu. Lòng mình là cái rất khó nhìn vào và rất khó thấy rõ. Bởi vậy, tôi cần sự trợ giúp của bóng tối, che phủ tất cả những ngoại cảnh,
ngoại vật, để tôi không còn bị chi phối mà chú tâm vào lòng mình. Trong bóng
đêm thinh lặng, cõi lòng tôi mở ra, và tôi soi tôi trong cõi lòng ấy.

Tôi nhìn lại cõi lòng tôi, lúc thiếu thời mở cửa cho tuổi hoa niên. Khi ấy cõi lòng tôi phơi phới nở hoa. Bao nhiêu mơ mộng thần tiên với những hoa và bướm. Tôi lớn lên với những giấc mộng đẹp và lí tưởng cao trong đáy trái tim. Lòng tôi đã bao phen reo vui và  ngây ngất với những tâm tình hướng thượng. Tuổi trẻ nào cõi lòng cũng đẹp và lí tưởng nào cũng tuyệt vời. Nhưng nhiều người tuổi trẻ khi lớn lên đã thấy mình
lầm, vì bị lợi dụng để phục vu cho những mục tiêu cá nhân, vụ lợi:

“Nhân Ái, Công Bình, Yêu Thương, Bất Khuất,

Viết chữ hoa trong óc tuổi mười lăm.

Khi ba mươi biết được chuyện xưa lầm

Thì đau khổ đã hằn trên trán nhỏ,

Thì uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ,

Rồi cô đơn như một kẻ chăn cừu,

Trên đường về nhìn tinh tú luân lưu…”

Tạ Ký (Sầu Ở Lại)

image

Rất may cho riêng tôi  ! Qua tuổi mười lăm, mười bảy; đến tuổi hai mươi, hăm lăm; rồi tuổi ba mươi, rồi lớn hơn nữa… chưa bao giờ tôi thấy “chuyện xưa lầm” và cũng chưa bao giờ ”uất hận vạch trời nhưng chẳng tỏ. ”Lí tưởng và những giấc mơ đẹp có
khi bùng cao, chói sáng; có khi trầm lắng, giấu ẩn… nhưng lúc nào ước vọng
làm đẹp cho đời, cho người cũng vẫn còn đấy. Bao nhiêu người đã than thở: “Mộng
bền năm xưa chỉ là mơ qua”.
Tôi chưa hề một lần than thở, dù rằng đau
khổ không những “hằn trên trán nhỏ” mà đôi khi còn tạo nên
những lết thương làm tan nát cõi lòng.

Tôi soi lòng, và nhìn thấy trong đó những đam mê cuồng nhiệt của tình cảm; những nhớ nhung đằm thắm; những mong đợi thiết tha. Tôi soi lòng tôi và thấy cả những ”bối rối bồi hồi, ráo riết miệt mài” khi yêu lần cuối, những “bỡ ngỡ xôn xao, cuống quít dạt dào” khi yêu lần đậu (Phạm Duy, Giọt mưa trên lá). Tôi soi lòng, và cảm nhận những chao nghiêng, vùi lấp; nghe thấy những tiếng: sóng lúc rì rào, khi ào ạt. Những cơn sóng lòng đôi khi như bị nhân chìm tôi vào biển tình cảm.

Tôi soi lòng lôi, và may mắn không thấy hiện lên những hận thù, cũng không có cả những mưu mô gian ác, những tính toan bất chính, những lường gạt phi nhân. Nhưng tôi thấy trong lòng. đôi khi có những ghét ghen nhè nhẹ, những bực dọc âm thầm, những trách cứ nghiêm khắc và những đòi hỏi sự lưu tâm.

Tôi soi lòng tôi và tìm thấy ở nhiều lúc có những nỗi chán chường, những cơn buồn dày dặc; và những sự tủi thân, âm thầm, không muốn cho ai biết. Những cơn buồn và sự tủi thân gặm nhấm lòng tôi, làm cho đắng cay, đau đớn.

Tôi soi lòng tôi, và bắt gặp những thân thương, ấm áp của tình yêu, tình bạn, tình người. Những tình cảm nồng nàn và ân cần, làm cho tôi thấy cuộc đời tươi đẹp, hạnh phúc và đáng sống.’

Tôi soi lòng tôi và cũng thấy những nỗi cô đơn. Có những phút giây cõi lòng tôi hoang lạnh, tưởng chừng như không có ai và cũng chẳng biết đến ai.

Tôi soi lòng tôi, thấy hết trong cùng một lúc niềm vui nỗi buồn, khổ đau và hạnh phúc; tâm tình hướng thượng và tư tưởng thấp hèn; cô đơn và thân ái; chấp nhất và thứ tha; hăng say và buồn chán; bất ổn và bình an.

Và tôi thấy lòng tôi để rồi thấy trong đó một chú bé, chú bé ”tôi-ngày-xưa”. Chú bé thân quen và dễ thương. Vị linh mục tôi mới gặp ”soi lòng thì thấy vẫn là thanh niên”.
Tôi, tôi thấy mình không còn là thanh niên nữa. Tôi già giặn, chín chắn và trầm
tĩnh hơn tuổi thanh niên ngày trước rất nhiều, nhưng trong lòng tôi vẫn có một
chú bé, và tôi muốn chơi với chú. Tôi nhớ lại bạn tôi nói: ”Trong lòng mỗi
người chúng ta đều có một chú bé hay một cô bé , và rất nhiều khi chúng ta phải
mở cửa cho em bé ấy ra ngoài chơi. “Tuổi thơ đẹp, không phải chỉ ở trong
quá khứ. Tuổi thơ có thể được gọi về, bất cứ lúc nào; nếu chúng ta gọi với đúng
ngôn ngữ và tâm tình của tuổi thơ, những tín hiệu mà tuổi thơ có thể ”bắt’ được.

Hôm nay, một buổi tối cuối năm, tôi ngồi ”soi gương” và “soi lòng”. Chẳng mấy khi trong đời tôi làm được như thế. Soi gương, với tôi, có lẽ không cần thiết lắm. Nhưng soi lòng, tôi mong rằng tôi thực hiện mỗi ngày, vào những buổi tối trước khi tôi
thiếp vào giấc ngủ, để thấy những gì mình làm vui lòng Chúa và vui lòng người
khác; những gì mình làm buồn lòng Chúa và buồn lòng người khác. Nếu tôi thực
hiện được như vậy, chắc cuộc đời tôi sẽ dễ thương hơn, hữu ích hơn và đáng sống
hơn một chút.

Nhà văn Quyên Di

Anh Nguyễn v Thập gởi

TÔI VẪN NHỚ,

TÔI VẪN NHỚ,

Song Như.

Lâu lắm không về thăm cố hương,

Hàng tre xanh thẩm khuất nẻo đường,

Trâu già phe phẫy đuôi xua muỗi,

Nhai lại trong mồm nỗi nhớ thương…

Hàng cây trứng cá hoa trăng trắng,

Cánh bướm khoe màu lượn tung tăng,

Lục bình lờ lửng trên sông cạn,

Cá đớp mồi trưa sóng nhập nhằn…

Võng đưa kẽo kẹt mà ai đã,

Đưa khúc đồng dao đến mọi nhà,

Cho hồn dân tộc thêm tha thiết,

Len lỏi trong lòng khách phương xa…

Chiều chiều ngắm vạt nắng vàng rơi,

Nghe tiếng ầu ơ dạ rối bời,

Tết nay lại vắng nhà lần nữa,

Tết tới về thăm… nhớ lắm rồi…

Liverpool.6/2/2013.

Song Như.
Kính gởi Quý Thầy Cô và các bạn LVC.

Bảo vệ đức tin trong thế giới chống Kitô

Bảo vệ đức tin trong thế giới chống Kitô

Trầm Thiên Thu
LTS – Năm nay là Năm Đức Tin, chúng ta cần xem lại đức tin của mình cả chiều ngang,
chiều dọc, chiều cao, chiều sâu, chiều dài và chiều rộng. Nhờ đó mà xứng đáng
là môn đệ của Đức Kitô, cả về danh nghĩa và thực tế. Mùa Xuân về, mùa Chay đến,
mỗi người hãy tự suy nghĩ về cách sống của mình – nhất là khi chúng ta gặp
những người chống Kitô giáo. Trên trang GotQuestions.org có đăng cách lập luận
thú vị, xin mời bạn cùng tìm hiểu!
Là Kitô hữu, có hai điều chúng ta có thể làm để ủng hộ Đức Kitô là “sống Lời Chúa” và “nhận biết Ngài”. Chúa Giêsu nói: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những công việc tốt đẹp anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời” (Mt 5:16). Nghĩa là chúng ta phải SỐNG và HÀNH ĐỘNG theo Phúc Âm.
Chúng ta cũng phải  “mang toàn bộ binh giáp vũ khí của Thiên Chúa, để có thể đứng vững trước những mưu chước của ma quỷ” (Ep 6:10-17) và thế gian xung quanh chúng ta. Trước hết, Thánh Phêrô khuyên: “Đức Kitô làĐấng Thánh, hãy tôn Người làm Chúa ngự trị trong lòng anh em. Hãy luôn luôn sẵn sàng trả lời cho bất cứ ai chất vấn về niềm hy vọng của anh em” (1 Pr 3:15). Những gì chúng ta có thể làm là sống và hành động như Đức Kitô, phần còn lại cứ phó thác cho Ngài lo liệu.
Những người phê bình Kitô giáo ngày càng nhiều. Một phần vì có nhiều người không tin Thiên Chúa hoặc không hiểu gì về Ngài. Tuy nhiên, số người chống Kitô giáo tăng cũng do nhận thức. Với nhiều chủ đề, những người coi thường Kitô giáo là những người lớn tiếng nhất trong số những người không có niềm tin tôn giáo.Đại đa số những người không tin đều không đủ sức làm phiền các tín hữu. Một số ít người không có niềm tin Kitô giáo tỏ ra bực tức, lớn tiếng, cay cú và làm ồn ào để làm ra
vẻ đông số hơn.
Lời lăng mạ chủ yếu từ số người ngoại đạo cho rằng các tín hữu là “dốt
nát”,“ngu xuẩn”, “bị tẩy não”, hoặc cho rằng các tín hữu kém thông minh hơn
những người không có niềm tin tôn giáo. Khi một Kitô hữu khéo léo bảo vệ đức tin,
lại bị cho là “tin mù quáng”, “cực đoan”, hoặc “cuồng tín”. Khi họ biết các tín
hữu sống tử tế và yêu thương, người vô thần giống như kẻ ngu si nói: “Làm gì có
Thiên Chúa” (Tv 53:1). Đa số những người không có niềm tin tôn giáo đều không
có lý do riêng để coi các Kitô hữu là tiêu cực, nhưng đôi khi họ nghe nhiều từ
những người chống Kitô giáo cho rằng các Kitô hữu chỉ làm ra vẻ vậy thôi. Họ cần
những tấm gương sống như Đức Kitô để thấy sự thật.
Dĩ nhiên, khi người nào đó nhận mình là Kitô hữu mà không hành động như Đức Kitô, thì đám đông tức giận và lớn tiếng sẽ coi người đó là giả hình. Đây là điều chúng ta đã được cảnh báo: “Phúc thay anh em khi vì Thầy mà bị người ta sỉ vả, bách hại và vu khống đủ điều xấu xa” (Mt 5:11), hoặc: “Vì họ đã không thèm nhận biết
Thiên Chúa, nên Người đã để mặc họ theo trí óc lệch lạc mà làm những điều bất
xứng, lòng họ đầy bất chính, xấu xa, tham lam, độc ác đủthứ; nào là ganh tị,
giết người, cãi cọ, mưu mô, thâm hiểm; nào là nói hành nói xấu, vu oan giá hoạ”
(Rm 1:28-30).
Cách tốt nhất là trích dẫn câu Kinh thánh nói chống lại những người làm như
vậy. Hãy nhắc cho những người vô thần biết rằng chỉ vì ai đó nhận mình là Kitô
hữu, thậm chí nghĩ mình là Kitô hữu, thì cũng chẳng phải người đó là Kitô hữu.
Chúa Giêsu đặt vấn đề: “Cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi
gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng, làm gì có vả mà bẻ? Cứ xem họ sinh
hoa quả nào, thì biết họ là ai. Ở bụi gai, làm gì có nho mà hái? Trên cây găng,
làm gì có vả mà bẻ? Vậy, cứ xem họ sinh hoa quả nào, thì biết họ là ai
” (Mt
7:16 & 20). Rất rõ ràng. Và hãy nói với những người chỉ trích đó rằng “chẳng
ai lại không phạm tội
” (x. Rm 3:23).
Điều quan trọng cần nhớ rằng, dù khéo léo thuyết phục cỡ nào thì cũng không ai
có thể ép buộc người khác tin cái gì mà họ không muốn tin
. Dù đó là chứng cớ hoặc là tranh luận, người ta sẽ chỉ tin cái mà họ muốn tin (x. Lc 12:54-56). Kết tội không là nghề của các Kitô hữu. Chúa Thánh Thần mới kết tội người ta (x. Ga 14:16-17), và tùy họ tin hay không tin. Điều chúng ta có thể làm là cố gắng hết sức để sống như Đức Kitô. Đáng buồn là có nhiều người vô thần đã từng đọc toàn
bộ Kinh thánh chỉ để tìm lý lẽ để chống lại các Kitô hữu, và có nhiều Kitô hữu hầu như không đọc Kinh thánh.
Người ta khó mà kết tội một Kitô hữu nào đó là người tin mù quáng và đáng ghét nếu người đó thể hiện cách sống tử tế, khiêm nhường và trắc ẩn. Khi một Kitô hữu có thể thảo luận, tranh luận hoặc vạch trần chính xác những cách tranh luận trần tục, cái nhãn “dốt nát” không còn thích hợp nữa. Một Kitô hữu đã đọc các bài tranh luận trần tục và có thể lịch sự dẫn chứng các điểm sai sót sẽ giúp“hạ hỏa” các định kiến từ phía những người vô thần. Hiểu biết là vũ khí mạnh, và điều đó bất khả khuất phục khi chúng ta để cho Đức Kitô hướng dẫn chúng ta cách sử dụng.
(Trầm Thiên Thu chuyển ngữ)
BENEDIC AMUS DOMINO – DEO GRATIAS!
Đức Giê-su Ki-tô vẫn là một, hôm qua cũng như hôm nay,
và như vậy mãi đến muôn đời (Dt 13)
HN. ThaoNhi

Mồ Mả: Mộ Người Chết Hay Tâm Hồn Người Sống?

Mồ Mả: Mộ Người Chết Hay Tâm Hồn Người Sống?

Linh Mục Nguyễn Tầm Thường Dòng Tên, S.J.

Qủy nhập là điều có thật:
Giáo Hội xác tín điều đó.  Giáo Hội đã có mục vụ đặc biệt cho những trường hợp này.  Các Giám Mục trong địa phận phải chỉ định cách riêng một linh mục nào đó để khi chuyện xảy ra, có kẻ trừ tà.  Không  gì rõ bằng trong Kinh Thánh.  Phúc Âm xác nhận quỷ nhập vào người ta, Kinh Thánh cũng nói đến trừ quỷ.  Chúa Kitô trừ quỷ.  Các môn đệ trừ quỷ.
Hiện tượng quỷ nhập rất phức tạp, có thể lẫn lộn với bệnh tâm thần.  Phức tạp không có nghĩa là không có quỷ thật sự nhập vào người ta.  Vì thế phải rất cẩn thận khi đề cập đến.  Tôi không dễ tin những chuyện này.  Không dễ tin, nhưng có những
chuyện tôi phải tin.

Tôi bắt đầu để ý về những hiện tượng quỷ nhập khi đọc tờ báo National
Catholic
Reporter số ra ngày 1 tháng 9 năm 2000. Tờ National Catholic Reporter dành nguyên một số báo đề cập đến hiện tượng quỷ nhập.  Theo
điều tra của tờ National Catholic Reporter, trong vòng hai trăm năm vừa qua,
Giáo Hội khá lặng im về vấn đề này.  Bỗng dưng đầu thế kỷ này, hiện tượng quỷ nhập xảy ra nhiều nơi.  Theo thống kê, cha Gabriele Amorth, người được bổ
nhiệm trừ quỷ của địa phận Roma, cũng là một trong những người sáng lập International Association of Exorcists, vào trung tuần tháng bẩy năm 1993 trong đại hội những người trừ quỷ tại Roma chỉ có sáu người tham dự.  Vào năm 2000, con số tăng lên 200 người.  Vẫn theo tờ National Catholic Reporter, tại
Roma vào năm 1986 chỉ có 20 người làm mục vụ trừ quỷ.  Hiện nay toàn nước Ý con số lên tới 300 người.
Theo kinh nghiệm mục vụ, cha Gabriele Amorth viết một cuốn sách mang tên: An Exorcist Tells His Story – Câu Chuyện Của Kẻ Trừ Tà.
Ngài cho biết quỷ có thể làm cho người bị nó nhập mửa ra những đụm tóc người.  Ta
cũng có thể khám phá ra quỷ nhập bằng cách trộn Nước Phép vào đồ ăn rồi xem nó
phản ứng ra sao.  Cũng trong số báo này cho biết, cha James LaBar, được Đức Hồng Y John J.O’Conner bổ nhiệm làm kẻ trừ quỷ của địa phận New
York,
cho hay trong năm 1999, ủy ban của ngài đã phải đương đầu với
25 trường hợp quỷ nhập.  Theo ngài, nhu cầu mỗi ngày một gia tăng. Ngài nổi tiếng là “kẻ trừ quỷ” sau vụ trừ tà ở Florida năm 1991 và được chương trình 20/20 của đài truyền hình Mỹ ABC phát hình.  Tờ Atlanta Journal Constitution, 1999 làm một
cuộc điều tra, cho biết 50% người Mỹ tin rằng cuộc sống ít nhiều cũng có lúc bị
quỷ nhập vào.  Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã trừ quỷ cho một người đàn bà Ý tên là Francesca Fabrizzi, Ngài gọi nó là kẻ sát nhân và là vua gian dối của vũ trụ.  Theo Cha Amorth, Đức Giáo Hoàng đương kim đã trừ quỷ ba lần trong điều đại của ngài.  Phúc Âm Mátthêu và Luca tường thuật, Đức Kitô cũng trừ quỷ (Mt. 2:63, Lc. 8:26-40).  Theo tờ National Catholic Reporter, nhiều thần
học gia tại Hoa Kỳ cho rằng quỷ nhập là một sự kiện phải nhìn nhận một cách
nghiêm chỉnh.
Với những sự kiện trên, tôi đặt dấu hỏi cho những tò mò của tôi.

Tại sao thời đại này lại có nhiều hiện tượng quỷ nhập như thế?
Đời sống con người trong thời đại này thế nào?
Niềm tin tôn giáo?  Sự công bình xã hội?
Giá trị luân lý?
Giá trị gia đình?
Đang lúc tôi muốn tìm hiểu vấn đề này, tôi bắt gặp câu chuyện quỷ nhập một người ở Ba Tri, thuộc tỉnh Bến Tre, Việt Nam.  Tôi không dễ tin, nên tôi muốn gặp tất cả đương sự, kẻ làm chứng, nhất là giáo quyền, linh mục trừ tà để kiểm điểm sự kiện.  Điều tôi mong muốn đã xảy ra.

Câu chuyện xảy ra đã hơn hai mươi năm về trước.

Trong số những chứng nhân, chỉ có thân sinh của nạn nhân là qua đời.
Tôi gặp chính cô Hồng, người bị quỷ nhập.  Ngày đó mới hai mươi hai tuổi, hôm nay cô bốn mươi bẩy.

Tôi gặp cô Chi, người sống bên cạnh cô Hồng mấy tháng trời, nuôi cô.

Người giảng viên giáo lý tên Chi này là nhân chứng biết nhiều chuyện về cô Hồng nhất.

Tôi gặp mẹ cô Hồng, bà cụ cũng già yếu rồi.
Tôi gặp các giáo dân, những người trong ca đoàn cùng tuổi cô Hồng của nhà thờ Cái Bông.
Tôi gặp cha phó nhà thờ Cái Bông, lúc đó là thầy giúp xứ.
Tôi gặp chính cha quản nhiệm Nguyễn Văn Quang, người đã trừ quỷ cho cô Hồng.

Một trong những điều làm tôi tò mò là tại sao quỷ hay chọn mồ mả làm nơi cư trú. “Khi Đức Giêsu sang qua bờ bên kia, và đến miền Gađara, thì có hai người bị quỷ ám từ trong đám mồ mả gặp Ngài.  Chúng rất dữ tợn đến nỗi không ai dám qua lại lối ấy” (Mt. 8:28).  Đức Giêsu và các môn đệ tới vùng đất của dân Ghêsarê, “từ mồ mả có một kẻ bị thần ô uế ám ra gặp Ngài.  Người này thường sống trong đám mồ mả và không ai có thể trói anh ta lại được, dầu phải dùng đến cả xiềng xích.  Nhiều lần bị gông cùm và bị xiềng xích, nhưng anh ta vẻ gẫy xiềng xích, đập tan gông cùm.  Không ai có thể kiềm chế anh được.  Suốt đêm ngày, anh ta cứ ở trong đám mồ mả và trên núi đồi, tru tréo và lấy đá đập vào mình” (Mc. 5:2-5).  Bốn Phúc Âm đều nói đến mồ mả.  Tôi có thể chia ra ba loại mồ mả sau đây:

– Quỷ thường sống ở mồ mả.
– Người ta cũng là một thứ mồ mả. “Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài
có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế.  Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác” (Mt. 23:27).
– Chúa phục sinh từ mồ mả.
Trong những thứ mồ mả trên chỉ có ngôi mộ của Chúa Kitô có sự sống.  Về câu chuyện cô Hồng, vào những đêm cô trốn nhà  người ta thường bắt gặp cô ở nghĩa địa gần đó.  Cách nhà thờ không xa có một nghĩa địa lâu đời.
Chị Kim Chi đã dẫn tôi đến nghĩa trang này chụp hình, chị cho tôi biết, nhiều đêm cô ta biến mất, đổ đi tìm thì thấy cô đang nằm ngoài nghĩa địa trên các mồ mả cỏ rậm um tùm.

Ma quỷ gần với sự chết.  Nó yêu thích sự chết.  Căn nhà cư trú của nó là sự chết.  Không phải những người nằm dưới đó là bạn bè nó.  Nhưng nghĩa trang là nơi dành cho sự chết.  Ngoài nghĩa trang chỉ còn một nơi nữa nó có thể cư ngụ là lòng con người.  Như Đức Kitô đã nói, lòng con người có thể là một “mồ mả tô vôi”.  Trong ý nghĩa ấy, có biết bao ngôi mộ đang đi ngoài đường, đi trong chợ, ngồi ở tiệm ăn.  Theo lời Đức Kitô nói, có biết bao mồ mả tô vôi, bên ngoài đẹp đẽ mà bên trong toàn xương người.  Có thể ngôi mộ ấy là người bạn của chính mình.
Họ ở cạnh nhau.
Bà mẹ cô Hồng kể cho tôi biết cô ta có dấu hiệu khác người từ hồi lên năm tuổi.  Tính đến ngày cô được trừ quỷ vào năm cô hai mươi hai, nghĩa là dòng dã mười bẩy năm.  Bà cụ cho biết trong gia đình không người con  nào mặc bệnh tâm trí.  Riêng cô Hồng lúc năm tuổi thì bắt đầu đau yếu.  Khoảng mười tuổi thì bỏ nhà đi làm nhiều điều phi thường ai cũng sợ.  Bà kể cô ta ăn hết một chiếc nồi đất để luộc
bánh tét.  Một chiếc nồi đất to thế mà cô cứ ngồi nhai rau ráu, ăn chỉ chừa có cái vành nồi.  Rồi bà tự hỏi:

– Ông cha coi đó, nó ăn như vậy mà không sao, bụng đâu mà chứa hết một cái nồi
đất to như vậy.
Tôi nghe bà kể, rợn người.  Bên cạnh bà, trước mặt ống kính máy thu hình, chị Hồng cũng ngồi bên cạnh. Tôi giả bộ, lại bào chữa cho hành động phi thường ấy. Tôi bảo bà:
– Thưa cụ, người bị bệnh tâm thần cũng có thể làm như thế.
Chưa để bà cụ trả lời, cô Hồng lên tiếng ngay:
– Thưa cha không mà, con bị quỷ nhập thật mà cha ơi!
Chị Kim Chi cũng đang trước ống kính thu hình, kể thêm:
– Thưa cha người tâm thần gì mà treo lơ lửng trên trần nhà, lúc con nhân danh
Chúa truyền cho nó ra, nó thả cô ta rơi đánh bịch cái xuống mà không hề bị gì.
Cô Kim Chi lúc ấy là giảng viên giáo lý, gặp cô Hồng ngoài đường, dẫn về nhà thờ.  Theo lời cô Kim Chi thuật lại, lúc tới cổng nhà thờ cô Hồng bỏ chạy. “Nó sợ nhà thờ”.  Cô Chi nói vậy.  Sau này đem cô Hồng về nhốt trong căn nhà thuộc
đất nhà xứ.  Đó là phòng họp dành cho hội Legio Mariae.  Bên cạnh nhà có một giếng nước khá to.  Khi quỷ nhập vào, cô nhảy xuống giếng, nằm nổi trên mặt nước hằng giờ.  Những cô trong ca đoàn bấy giờ cũng chỉ độ hai mươi, bây giờ đã mấy mặt con rồi, họ là chứng nhân còn sống.  Tôi gặp một nhóm sáu người, phỏng vấn họ:
– Tại sao các chị cho rằng cô Hồng bị quỷ nhập mà không phải là bệnh thần kinh?
– Thưa cha, thần kinh làm sao biết được những chuyện kín?  Một hôm chúng con đang ngồi xem cô ấy lên cơn.  Nó bảo: “Đấy, thằng Quang vừa đi tìm
cách để chống lại ta.”  Không ai hiểu nó nói gì.  Sau này mới biết khi nó nói thế
chính là lúc cha Quang ở nhà thờ lái xe lên toà giám mục xin đức cha làm phép
giây Stola trừ quỷ đem về.  Thần kinh gì mà khi hú nghe rợn người.  Nó hú nghe ghê
lắm cha ơi.  Bây giờ mà con còn rởn da gà lên đây nè.  Lúc lên cơn trốn chạy, nó chỉ
về ngủ ở nghĩa trang.
Lúc tôi phỏng vấn mấy chị này, trời đã xế trưa.  Tôi sẽ ra nghĩa trang chụp mấy tấm hình.  Tôi lại liên tưởng đến Phúc Âm hay nói về quỷ và mồ mả.  Nếu đời sống mà linh hồn là ngôi mộ tô vôi, bên trong chất chứa sự dữ, chỉ giả hình bên ngài thôi thì đấy chính là quê hương của nó trú ngụ.  Lời Chúa nói về mồ mả trong Phúc Âm Mátthêu lại vẽ trong tâm trí tôi một thứ quê hương của ma quỷ. Một thứ mồ mả nơi con người sống đang biết đi, đang mặc áo đẹp.
“Các người giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong
thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các người cũng vậy, bên ngoài thì
có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian
ác” (Mt. 23:27).
Phải chăng nếu sống mà linh hồn là nơi nó cư trú thì khi chết chôn xuống lòng đất
nó sẽ tìm về ngôi mộ đó.
Linh Mục Nguyễn Tầm Thường Dòng Tên, S.J.