ĐÊM BUỒN,



ĐÊM BUỒN,

Song Như.

Chuông đêm vọng lại thêm buồn,
Lời kinh báo hiếu…ai nguồn lệ rơi,
Sầu chi cứ phải đầy vơi,
Tâm tư héo úa dòng đời đắng cay,
Sương bay đọng mối ưu hoài,
Về đâu cánh nhạn non đoài thoáng mơ,
Đò ngang lạc bến xa bờ,
Đàn gieo lỗi nhịp dây tơ rối lòng,
Trăng vàng ánh đỗ mênh mông,
Ngồi đây bến vắng nhìn sông nhớ người,
Ra đi khuất bóng quên cười,
Bây giờ trở lại ba mươi năm tròn…
Vì sao nước chảy đá mòn,
Tương tư sống mãi như hòn núi cao…

Liverpool.5/9/2013.
Song Như.

Kính gởi quý Thầy Cô và các bạn LVC.
Kính chúc sức khỏe.
KT.

CUỘC ĐỜI TÙ ĐÀY

CUỘC ĐỜI TÙ ĐÀY


“Anh em hãy học với Thầy,
vì Thầy có lòng hiền hậu và khiêm nhu.”

(Mát-thêu 11:29)


Đời tù đày Đức Hồng Y
Mười ba năm sống khiêm ti từng ngày
Người môn đệ quyết theo Thầy
Thương yêu nhân chứng vơi đầy chứa chan
Khổ đau nhưng chẳng thở than
Phút giây hiện tại bình an vô vàn
Niềm Tin không chút phàn nàn
Dẫu rằng thiếu thốn cơ hàn khó khăn
Ngục nào thừa thãi của ăn?
Kẻ cầm giữ tựa “chó săn” rình mò
Ý Cha huyền nhiệm khôn dò
Nguyễn Văn Thuận chính học trò chân tu
Ra đi mãn cuộc chu du
Nay trên Vương Quốc thiên thu vui mừng!

* Nguyễn Sông Núi


(San Jose, “Thung lũng hoa vàng”, CA, Sep. 13, 2013)

Thiên Kim và chị Nguyễn Kim Bằng gởi

KHOAN DUNG

KHOAN DUNG

Bạn thân mến,

Có bao giờ bạn bị lạc mất một món đồ mà phải vất vả đi tìm không?  Lúc chưa kiếm được thì tâm trạng bạn ra sao?  Có bồn chồn nóng nảy, bực mình cay cú không?  Còn khi tìm được rồi thì bạn cảm thấy thế nào nhỉ?  Có thấy vui và nhẹ nhõm không?

Tuần trước tôi để cái thẻ nhớ của máy chụp hình trong chiếc áo khoác ngoài mà quên bẵng đi.  Rồi cứ loay hoay cả buổi đi tìm.  Moi móc từng góc cạnh của căn phòng nhỏ để tìm cho bằng được.  Tìm mãi không ra, cứ ngỡ rằng đã mất, mãi cho đến khi tình cờ đem quần áo đi giặt, lục túi áo mới bắt gặp nó.  Tôi thở phào nhẹ nhõm!

Mất cái thẻ nhớ của máy hình thì tôi có thể mua mấy cái khác thay thế.  Nhưng tôi quyết tâm kiếm cho được vì trong đó có chứa một vài tấm hình phong cảnh tôi chụp ở VN.  Những tấm hình đó có đầy ở trên internet, có khi còn đẹp hơn là hình tôi chụp nữa.  Nhưng đây là những tấm hình quan trọng, có giá trị với tôi nên tôi đã vất vả đi tìm.

Bài Tin Mừng hôm nay cũng nói lên một tâm tình tương tự như thế.  Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 nói về con chiên lạc, đồng bạc bị mất, và người con đi hoang.  Cả ba dụ ngôn đều nói lên trọn vẹn tâm tình của một Thiên Chúa yêu thương và nhẫn nại.  Cả ba đều diễn tả niềm vui khi tìm được cái đã mất.  Cả ba dụ ngôn đều nhấn mạnh vào hai cụm từ được lập đi lập lại: “mất” (Hy lạp: apollymi) và “tìm đuợc” (heuriskô) và sự  vui mừng khi tìm thấy điều đã thất lạc.

Này nhé, trong dụ ngôn con chiên lạc, ta nghe thấy: “Người nào trong các ông có một trăm con chiên mà bị mất một con, lại không để chín mươi chín con kia ngoài đồng hoang, để đi tìm cho kỳ được con chiên bị mất? Tìm được rồi, người ấy mừng rỡ vác lên vai. Về đến nhà, người ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được con chiên của tôi, con chiên bị mất đó!’”

Cũng tương tự như thế trong dụ ngôn đồng bạc bị đánh mất, ta lại nghe: “Hoặc người phụ nữ nào có mười đồng quan, mà chẳng may đánh mất một đồng, lại không thắp đèn, rồi quét nhà, moi móc tìm cho kỳ được? Tìm được rồi,
bà ấy mời bạn bè, hàng xóm lại, và nói: “Xin chung vui với tôi, vì tôi đã tìm được đồng quan tôi đã đánh mất.”


Và trong dụ ngôn người cha và hai đứa con, ta cũng nghe: “Vì con ta đây đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.  Và họ bắt đầu ăn mừng…  Nhưng chúng ta phải ăn mừng, phải vui vẻ, vì em con đây đã chết mà nay lại sống, đã mất mà nay lại tìm thấy.”

Trong phụng vụ Lời Chúa hôm nay, điểm nhấn là hai dụ ngôn đầu chứ không phải là dụ ngôn thứ ba vốn đã được đọc trong Chúa nhật thứ IV Mùa Chay năm nay.  Ở đây nói lên sự quan tâm của Thiên Chúa cho từng cá nhân.  Lòng khoan dung của Thiên Chúa, chứ không phải thái độ ăn năn thống hối của tội nhân, là đề tài Hội Thánh mời chúng ta cùng suy tư.

Con chiên, đồng bạc và người con thứ bị thất lạc trong những hoàn cảnh khác nhau.  Con chiên đi lạc vì nó không định hướng được với đàn.  Có thể vì nó u mê đi lạc, có thể vì nó ham ăn quên cả đường về, hay có thể vì nó vấp ngã đâu đó, bị cả đàn bỏ lại đằng sau.  Còn đồng bạc không tự mình đi, nhưng có thể nó bị mất vì rơi rớt đâu đó.  Có khi nó bị lẫn lộn trong hàng trăm thứ vật dụng cỏn con.  Nhưng đồng bạc lại không thể kêu lên như con chiên để người chủ đi kiếm.  Nó phải an phận trong bóng tối cho đến khi ai đó tìm thấy được.  Còn người con thứ thì có đủ tự do chọn lựa, nhưng anh ta đã chọn lầm và đã phải trả một giá đắt cho sự sai lầm của mình.  Thông thường chúng ta nghĩ rằng anh ta ra đi vì ham chơi đua đòi, muốn độc lập, hoặc bất mãn với cha mình.  Nhưng biết đâu đó là vì hoàn cảnh mà anh ta phải ra đi.  Có thể vì cuộc sống ở gia đình quá ngột ngạt buồn tẻ, có khi vì bị người anh ganh tị chèn ép.  Dù sao anh ta cũng đã bỏ nhà ra đi, và đối với gia đình làng xóm, anh ta đã thất lạc.

Dù đến từ nguyên nhân nào, sự thất lạc cũng đều gây cho người bị mất mát một nỗi xót xa nuối tiếc.  Một con chiên, có thể là một con chiên nhỏ trong đàn, có đáng giá là bao mà người chăn phải vất vả đi tìm cho kỳ được?  Một đồng bạc, chỉ là một đồng trong chuỗi tiền dùng làm đồ trang sức, có giá trị thế nào để người đàn bà phải đốt đèn quét nhà tìm cho kỳ được?  Phải chăng hai dụ ngôn này cho thấy hình ảnh của mỗi người chúng ta trong ánh mắt yêu thương của Thiên Chúa?

Từ cấp số 100 đến cấp số 10, Thiên Chúa luôn quan tâm đến từng cá nhân và quý trọng từng người một, như họ là những người duy nhất.  Không phải bởi vì 99 con chiên không lạc mà Ngài bỏ qua một con nhỏ nhoi.  Không phải vì 9 đồng bạc còn đó mà Ngài bỏ mặc một đồng bị rơi vào xó xỉnh nào đó.  Càng tha thiết gắn bó với của bị mất bao nhiêu, thì càng thôi thúc kiếm tìm bấy nhiêu.  Càng quý trọng vật bị mất bao nhiêu, thì càng làm cho nỗi vui mừng thêm chất ngất khi tìm gặp lại bấy nhiêu.

Đó cũng là tâm tình của người cha.  Ông vui mừng khôn tả khi thấy bóng con thất thểu từ đằng xa.  Ông quên hết những ưu phiền sầu muộn, những sỉ nhục dằn vặt mà đứa con thứ đã để lại cho ông khi nó đòi chia của rồi ra đi.  Ông quên hết tất cả.  Ông tha thứ tất cả.  Bây giờ chỉ còn lại trong ông là nỗi vui mừng hoan hỉ vì “con ta đã chết mà nay sống lại, đã mất mà nay lại tìm thấy.” Niềm hân hoan sung sướng là tiếng cười dòn dã, là lời khoe báo tin vui cho mọi người.

Thiên Chúa của chúng ta là thế đó.  Như lời thánh vịnh mô tả
“Ngài chậm giận và chan chứa tình thương.  Ngài không xử với ta như ta đáng tội.  Và không trả cho ta theo giá của ta” (TV 103).

Như người chăn chiên tìm lại được con chiên bị lạc, như người phụ nữ kiếm được đồng bạc bị mất, như người cha mở tiệc, giết bê béo ăn mừng, Thiên Chúa hân hoan vui mừng khi một người con của Ngài ăn năn trở về hơn là bao người lành thánh.  Và Ngài mong ước chúng ta chia sẻ niềm vui này với nhau.  Trong dụ ngôn thứ ba người cha kiên nhẫn mời người anh cả bước vào bàn tiệc để cùng chung vui với cha, với em.

Ba dụ ngôn của Tin Mừng Luca chương 15 là câu trả lời của Đức Yêsu cho những lời phàn nàn và ganh tị của người Biệt Phái.  Nhưng đó cũng là những lời cảnh tỉnh cho chúng ta hôm nay.  Thông thường mỗi khi phạm tội, chúng ta có khuynh hướng khoan hồng nhân nhượng với chính mình, nhưng lại ít khoan dung với kẻ khác.  Qua ba dụ ngôn này Đức Yêsu nhắc nhở chúng ta về lòng thương xót vô lượng của Thiên Chúa, cho chúng ta và ngay cả cho những người chúng ta không chấp nhận trong cuộc sống của mình – những người mà chúng ta coi là con chiên lạc hay người con hoang đàng.

Trong cuộc sống chúng ta hôm nay có biết bao người sa đọa, lầm đường lạc lối.  Như người con thứ, họ cũng đã phải trả một giá khá đắt cho những sai lầm của họ.  Nhưng liệu chúng ta có sẵn sàng đón nhận họ trở về?  Liệu chúng ta có là những chướng ngại vật ngăn cản họ đến với Chúa Cha?  Liệu thái độ xét đoán và óc phê bình của chúng ta có làm họ chùn bước để trở về với Thiên Chúa qua Hội Thánh?  Liệu chúng ta có tập mở rộng lòng thương xót, đồng cảm để đón nhận họ như người anh chị em cùng một Cha trên trời?

Lòng quảng đại và khoan dung của chúng ta là thước đo mối tương giao mật thiết với Thiên Chúa.  Chúng ta cần tập lòng khoan dung để có thể đón nhận người anh chị em lầm đường lạc lối với lòng thương xót, như lòng từ bi Thiên Chúa đã dành cho chúng ta.  Và như thế, chúng ta tiếp tay với Thiên Chúa để chia sẻ sự tha thứ và hoà giải trong thế giới hôm nay.

Lạy Chúa, xin cho con biết mở lòng khoan dung với anh em con như Chúa đã khoan dung nhân hậu với con.

Antôn Bảo Lộc


From: ngocnga_12 &

Anh chị Thụ Mai gởi

 

 

 

 

 

 

Bình luận về cái chết của anh Đặng Ngọc Viết

Bình luận về cái chết của anh Đặng Ngọc Viết

Đăng bởi lúc 1:53 Sáng 13/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (13.09.2013) – Sài Gòn – Các báo đài trong nước loan tin, anh Đặng Ngọc Viết (SN 1971) nổ súng khiến ông Vũ Ngọc Dũng, Phó giám đốc Trung tâm phát triển Quỹ đất TP Thái Bình tử vong và có ít nhất 4 cán bộ khác bị thương, tại Trung tâm Phát triển Quỹ đất Thành phố, thuộc UBND TP. Thái Bình, vào 14 giờ, ngày 11.09.2013. Sau đó, anh Viết dùng súng tự vẫn.

Hành động nổ súng của anh Viết là sai trái, vì nó đã cướp đi mạng sống, làm tổn thương người khác, nhưng nhiều người khi bình luận về vụ việc này cũng đưa ra những nguyên nhân sâu xa của nó.  Và nếu nhà cầm quyền không quay về với nhân dân, không đặt lợi ích của nhân dân lên lợi ích của nhóm nhỏ đang cầm quyền nước VN thì có thể sẽ xảy ra nhiều vụ việc tương tự như thế. Trầm Tử nhận xét: “Những dấu hiệu cho một “cuộc cách mạng” trong tương lai gần nếu chính quyền Cộng sản này không chịu sáng mắt ra.” Ngọc Thu bình phẩm: “Mình không khuyến khích những hành động thanh toán lẫn nhau, nhưng một khi công lý, lẽ phải không được tôn trọng, thì những chuyện xảy ra như thế là điều tất yếu. Người dân đã bị dồn tới bước đường cùng rồi. Nếu họ không biết lắng nghe dân sẽ còn nhiều vụ thảm khốc xảy ra hơn thế nữa.” Lê Anh Hùng cho rằng: “Gần 90 triệu “thế lực thù địch” sắp sửa vùng lên hết rồi”.

“Anh Viết bỏ trốn về quê ở xã Trà Giang, huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình và dùng súng tự sát.” Báo Nhân Dân xác nhận.

Theo báo Vietnamnet, anh Viết đã dùng loại súng col quay bắn đạn chì do Trung Quốc sản xuất (lại Trung Quốc !).

Cư dân mạng bày tỏ sự thương tiếc cho hoàn cảnh của anh Viết. Trương Ba Không chia buồn: “Mình đã khóc khi đọc 6 bài báo về một chủ đề. Khóc âm thầm cho những nỗi đau riêng của những kiếp người kém may mắn so với số đông cộng đồng nhưng khi chợt biết anh Đặng Ngọc Viết đã tự sát sau khi xả súng vào một nhóm quan chức địa phương Thái Bình thì mình đã khóc oà thành tiếng cho nỗi đau của cả một xã hội loạn.” Tien Hung Tran bày tỏ: “Tay cán bộ và cả cậu Viết đều là nạn nhân của cái xã hội đen tối khi mà toàn trị đến hồi điên loạn. Thôi thì nghĩa tử là nghĩa tận… Xin cho người nằm xuống, thấy bóng Thiên đàng, cuối trời thênh thang.”

Trong bài viết Tiếng gọi từ cái chết của tác giả Lê Diễn Đức  nhận định: “Bi kịch về cái chết của anh làm lắng đọng một điều tâm đắc: Cuộc sống là vô cùng cao quý, nhưng đôi khi vì những giá trị đích thực của nó, con người buộc phải chết khi không còn nơi nào nương tựa cho pháp lý, không còn lòng tin nào đối với thế lực cầm quyền. Cái chết của anh là tiếng gọi đánh thức lương tri và tinh thần tranh đấu chống lại bạo quyền của những người còn sống. Con giun xéo mãi cũng quằn, đó là bài học lớn cho chế độ chuyên quyền, cố vị hiện tại của Đảng Cộng Sản Việt Nam.”

“Nguyên nhân ban đầu được xác định là do chuyện mâu thuẫn giải phóng mặt bằng. Cách đây khoảng 1 tháng, Đội giải phóng mặt bằng có tiến hành giải quyết đền bù cho một số trường hợp, trong đó có trường hợp của gia đình anh Việt nhưng gia đình anh Viết không đồng tình với quan điểm giải quyết của cơ quan chức năng”. Đất Việt cho hay.

Osin HuyDuc nhận định: “Cái gọi là “chênh lệch địa tô” mà những người cộng sản đòi xóa bỏ đang trở lại và khiến họ trở nên mù lòa đồng thời đẩy người dân tới “bước đường cùng”. Quả bom Đoàn Văn Vươn đã không đủ để cảnh báo một hệ thống đã cạn kiệt khả năng thức tỉnh.” Sinh Lão Tà nhận xét: “Cuộc đấu tranh giai cấp có vũ trang ở Thái Bình đã có hậu quả đầu tiên. Nguyên nhân được tạm xác định là do việc giải tỏa, đền bù đất không hợp lòng dân”

Những lời nhận định trên có thể hiểu rõ hơn qua lời của bà Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan nói: “Từ tiền thương binh liệt sĩ, đến tiền của trẻ em vùng cao, tiền dành cho người nghèo…, ăn hết. Ngay ở giữa thủ đô Hà Nội cũng xảy ra chuyện ăn vacxin…”. Báo Tiền Phong kết luận: “[Họ] ăn của dân không từ cái gì”.

Theo Wikipedia, tỉnh Thái Bình thành lập từ năm 1890, tách từ Nam Định và phủ Tiên Hưng và huyện Hưng Nhân (từ tỉnh Hưng Yên) là tỉnh có truyền thống cách mạng. Tháng 5-1930, ở Thái Bình đã diễn ra nhiều cuộc biểu tình. Tháng 6-1942, nông dân Tiền Hải đòi chia ruộng công. “Tiếng trống Tiền Hải” đã đi vào lịch sử của Đảng Cộng Sản.

Trong vòng 10 năm (1987 – 1997) ở Thái Bình đã “xảy ra trên 300 (ba trăm) vụ mâu thuẫn, tranh chấp, khiếu tố, khiếu nại về đất đai, tố cáo cán bộ xã đã cấp, đã bán (nhiều diện tích đất) sai thẩm quyền; tham nhũng, tiêu cực trong quản lý kinh tế, tài chính ngân sách xã…”.

HT, VRNs

Khi lòng tin bị đánh mất.

Khi lòng tin bị đánh mất.


Lm. Minh Tường

9/10/2013
Đọc bản cam kết đề ngày 3/9/2013 giữa lãnh đạo xã Nghi Phương-Nghi Lộc-Nghệ An với bà con giáo dân Mỹ Yên, Gp Vinh, tôi buồn cho cả lãnh đạo và người dân, cho quê hương đất.

Đối với lãnh đạo vì đã không giữ lời hứa với người dân

Đối với người dân vì đã mất niềm tin nơi người lãnh đạo.

Theo tôi được biết, phần đa người dân chỉ biết ông chủ tịch xã là người “to nhất”; là người điều hành mọi việc, lo cho người dân về đời sống tinh thần cũng như vật chất.

Ngoài ra họ ít quan tâm, hay không quan tâm ông bí thư xã là ai, làm gì… hay là công an cũng vậy.

Bởi đó, lời hứa của ông chủ tịch là một điều vô cùng cao quý, trân trọng và tin tưởng đối với họ. Sau bao ngày chờ đợi khi người thân của họ bị bắt giam mà không hiểu lý do gì, được ông chủ tịch hứa (bản cam kết) họ đã vui mừng chờ đợi. (Trước yêu cầu của người dân, tôi Nguyễn Trọng Tạo thay mặt UBND xã cam kết với người dân sáng mai trực tiếp đề nghị công an tỉnh thả người trước 16 giờ ngày mai (04/9/2013).Nếu đến thời gian trên mà công an tỉnh Nghệ an không thả ông Ngô Văn Khởi và ông Nguyến Văn Hải thì UBND xã chịu trách nhiệm trước nhân dân).

Chắc rằng đêm đó rất nhiều người đã không ngủ để ”đến hẹn lại lên” để nhận người thân về với gia đình như lời hứa của ông chủ tịch. Đến hẹn lại lên; họ lại không thấy như vậy, mà thay vào đó là “họ ngỡ ngàng nhận ra là không hề có chuyện thực hiện lời cam kết đó! Không hề có chuyện thả người. Ngược lại nhà cầm quyền đã bày binh bố trận với hàng trăm công an, cảnh sát cơ động, dân quân tự vệ, chó nghiệp vụ. lựu đạn cay…để án ngữ lối vào trụ sở của UBND xã.

Chưa dừng lại ở đó (theo video và người dân thuật lại) họ còn khơi mào cho “côn đồ” ra tay trước để hy vọng người dân bị kích động (nếu có), để có cớ bảo là người dân “gây rối trật tự “, theo kiểu ba ông cảnh sát không mặc sắc phục lục soát đồ đạc của người đi Lễ, sau đó lại kết tội cho hai ông, Hải và Khởi là người gây rối trật tự.

Và kết cục lời hứa của ông chủ tịch là “ít nhất 30 người bị thương, trong đó có cả phụ nữ và thiếu niên. Một số nạn nhân còn trong tình trạng nguy kịch tính mạng”TCTGM.

Đúng là:

“Bước sang năm con Khái

Sáng ăn phở bò tái

Họp nghe thơ “chị gái”

Ra về khéo vãi đái.

Chưa giải thích lời hứa cũng như sự thất hứa của mình đối với dân, ông chủ tịch này tiếp tục “phán” với dân qua kiểu nói: “Qua các nhà báo, tôi xin gửi lời đến bà con giáo dân hãy bình tĩnh, nhận thức được rõ vấn đề, đừng để bị xúi giục, lợi dụng làm những việc sai trái mà tập trung vào lao động, sản xuất, phát triễn kinh tế gia đình, xây dựng quê hương, đoàn kết lương giáo, sống tốt đời đẹp đạo”.Báo QĐND

Đến đây tôi nhớ tới câu nói của ai đó “Cả thế giới phải kiêng nễ người Mỹ vì người Mỹ đã nói là làm. Nhưng người Mỹ lại sợ người Nhật vì người Nhật làm rồi mới nói. Người Nhật lại sợ Trung Quốc vì Trung Quốc không nói mà làm. Người Trung Quốc lại sợ Việt Nam vì Việt Nam nói một đàng làm một nẽo…”

Qua bản cam kết này, tôi chắc rằng, nếu sau này ông chủ tịch xã Nghi Phương có họp hành hay ban hành nghị quyết gì thì người dân vẫn luôn nhớ về “chị gái”cùng với kết quả mà “chị gái” đã tặng cho họ. Nói cụ thể hơn vì bản cam kết này đã đẩy người dân hiền lành vô tội phải đi tới chỗ: “Gây hỗn loạn, hoang mang và bất bình cho quần chúng; đặc biệt, ít nhất 30 người trong đó có nhiều phụ nữ bị đánh trọng thương, nhiều người trong tình trạng nguy kịch tính mạng” .

Lm Minh Tường.

Chấp nhận kế hoạch của Chúa

Chấp nhận kế hoạch của Chúa

Tác giả: Trầm Thiên Thu

Bộ phim “Unstoppable” (Không Thể Ngăn Chặn) của đạo diễn Kirk Cameron tập trung vào kế hoạch của Thiên Chúa. Khi người ta gặp tình huống khó khăn hoặc không biết chính xác mình muốn gì, đa số đều đổ lỗi cho Chúa. Trong đa số trường hợp, người ta không nhận ra cách mà Thiên Chúa làm cho mọi người hằng ngày.

Bộ phim “Unstoppable” đào sâu đức tin và cách nó ảnh hưởng mọi người. Thiên Chúa đã hy sinh rất nhiều và chúng ta phải sẵn sàng chấp nhận kế hoạch của Ngài – bằng mọi giá. Đây là vài bí quyết giúp bạn chấp nhậ kế hoạch của Thiên Chúa:

MẠNH MẼ

Nên nhớ rằng Thiên Chúa không bao giờ cho chúng ta nhiều hơn những gì chúng ta khả dĩ xử lý. Chúng ta cố gắng thì chúng ta sẽ mạnh mẽ hơn. Một lúc nào đó, chúng ta nhìn lại và chúng ta sẽ thấy Ngài đã đưa chúng ta đi xa theo kế hoạch của Ngài trong cuộc đời chúng ta. Trong những lúc khó khăn, chúng ta thấy có vẻ như thế giới này sắp tận cùng, nhưng hãy nhớ rằng vẫn còn chút ánh sáng ở cuối bất cứ đường hầm nào.

TÍCH CỰC

Sống tích cực và tìm kiếm điều tốt lành trong mọi thứ sẽ giúp bạn giữ được thái độ tốt và chấp nhận kế hoạch của Thiên Chúa. Chính thái độ tích cực sẽ tiến xa và làm cho thử thách giảm bớt mức độ khó khăn.

NHIỆM VỤ NHÂN BẢN

Thiên Chúa tìm kiếm mọi người, bạn cũng phải tìm kiếm những người khác ở xung quanh mình. Hãy biến điều đó thành nhiệm vụ nhân bản, nghĩa là đến với người khác và giúp đỡ những người thiếu thốn. Nếu chúng ta cùng nhau làm cho thế giới này tốt hơn, chúng ta sẽ làm cho Thiên Chúa vui mừng. Điều đó sẽ làm cho cuộc sống tròn đầy hơn.

ĐỪNG HOÀI NGHI

Đừng đặt ra những điều chúng ta muốn đề nghị với Thiên Chúa hằng ngày: Tại sao con lại thế này? Tại sao con phải làm việc này? Tại sao con không thể có điều đó?… Thay vì “chất vấn” Chúa, chúng ta hãy biết ơn Ngài về những gì bạn có trong cuộc sống và đừng coi mọi thứ là chuyện dĩ nhiên. Nếu bạn có thể chấp nhận những gì xảy ra, bạn sẽ làm cho kế hoạch hành động của Thiên Chúa xảy ra dễ dàng hơn.

CHẤP NHẬN

Hãy chấp nhận và để Thiên Chúa hướng dẫn bạn, đồng thời hãy biết rằng Ngài sẽ dẫn bạn đi đúng đường và không để bạn lạc hướng. Chấp nhận sẽ cho phép bạn loại bỏ lo lắng và sẽ giảm căng thẳng bằng cách hoàn toàn để cho Chúa kểm soát cuộc đời bạn.

TRẦM THIÊN THU

(Chuyển ngữ từ beliefnet.com)

SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

SỰ BẤT MÃN THƯỜNG XUYÊN CỦA TÂM HỒN.

Một tác giả nọ đã kể một câu chuyện ngụ ngôn về con lừa, con rùa và một con ruồi mà tuổi thọ chỉ có vỏn vẹn một ngày như sau:

“Nhận thấy kiếp sống của mình quá vắn vỏi, con ruồi đã than thân trách phận như sau:

-Nếu tôi được só nhiều thời giờ hơn, thì có lẽ mọi sự sẽ dễ dàng hơn. Các bạn cứ nghĩ xem, chỉ trong vòng 24 tiếng đồng hồ tôi phải sinh ra, phải lớn lên phải học hỏi kinh nghiệm, phải vui hưởng cuộc sống, phải đau khổ, phải già rồi cuối cùng phải chết. Tất cả đều diễn ra trong vòng 24 tiếng đồng hồ”.

Con lừa quanh năm ngày tháng chỉ bị đầy đọa trong những việc nặng nhọc thì lại than vãn:

-Giả như tôi chỉ có 24 tiếng đồng hồ để sinh ra, để sống, thì có lẽ tôi sẽ hạnh phúc hơn, bởi vì cái gì tôi cũng nếm thử được một chút và cái già tôi cũng chỉ chịu đựng trong một khoảng khắc mà thôi.

Đến lượt con rùa phát biểu như sau:

-Tôi không hiểu được các bạn, tôi đã sống được 300 năm nhưng tôi vẫn không thấy đủ giờ để kể hết những kinh nghiệm tôi đã trải qua. Khi được 200 tuổi, tôi chỉ mơ ước được chết cho xong, tôi thương hại chú ruồi, nhưng tôi lại ghen với ông bạn lừa.

Sau khi đã kể cho nhau nghe những kinh nghiệm sống của mình, xem chừng như không có ai thỏa mãn về kiếp sống của mình: người thì than phiền sống quá ngắn, người thì ngán ngẩm vì sống quá lâu. Cuối cùng ba chú mới rủ nhau đến tham vấn con nhện, vì con nhện vốn được xem là con vật khôn ngoan. Sau khi nghe mọi lời kể lể, con nhện mới dõng dạc ban cho mỗi con một lời khuyên. Với con rùa, nó nói như sau:

-Hỡi lão già rùa, đừng than phiền nữa, hỏi thử có ai được giàu kinh nghiệm cho bằng lão chưa?

Quay sang con ruồi, con nhện mới ra lệnh:

-Hỡi chú ruồi, chú đừng than thân trách phận nữa hỏi thử có ai có nhiều trò vui cho bằng chú không?

Với chú lừa, xem ra lời cảnh cáo của con nhện có vẻ nặng nề hơn cả, bác nói như sau:

-Còn đối với ông bạn lừa tôi không có lời khuyên nào cho ông bạn cả. Ông bạn là người bất mãn kinh niên. Ông bạn vừa muốn sống lâu như lão rùa, nhưng lại cũng muốn sống ngắn ngủi như chú ruồi. Trời nào có thể làm vừa lòng chú được.

Câu chuyện ngụ ngôn trên đây có thể nói lên sự bất mãn thường xuyên trong tâm hồn của con người. Thất bại hay thành công, nghèo hèn hay sang trọng, dốt nát hay thông minh, bệnh tật hay khoẻ khoắn, xem chừng như con người không bao giờ cảm thấy hoàn toàn hài lòng với chính mình, với người khác và với cuộc sống.  Con người dễ dàng đứng ở núi này để nhìn sang núi nọ. Tựu trung có lẽ sự bất mãn là biểu hiện của một thiếu sót lớn lao trong tâm hồn con người, đó là thiếu sót tình yêu. Có tình yêu, người ta sẽ không còn bất mãn, có tình yêu xem chừng như người ta cũng không màng đến thời gian. Một tác giả nào đó nói: “Thời gian quá chậm đối với kẻ chờ đợi và sợ hãi. Thời gian lại quá dài đối với những kẻ than phiền trách móc nhưng với những người đang yêu thời gian không còn nữa”. Phải chăng tình yêu không là liều thuốc để chữa trị căn bệnh bất mãn trong lòng người? Có chấp nhận chính mình, có yêu thương như chính mình chúng ta sẽ không còn phải than thân trách phận nữa. Có yêu thương tha nhân, có chấp nhận tha nhân chúng ta sẽ thấy được tha nhân là nguồn hạnh phúc của mình, và có yêu đời thì chúng ta mới thấy đời dễ thương. Nếu đưa mắt nhìn sang những tin “nóng” của thế giới: các em thai nhi bị giết từ trong lòng mẹ có được lên tiếng không? Những em nhỏ được cha mẹ “đồng giới” nhận làm con nuôi thì lên tiếng cách nào?

Hôm nay kỷ niệm ngày 9-11 của nước Mỹ.. Hỏi rằng những nạn nhân của tháp song đôi có thức dậy mà phàn nàn hay trả thù được ai không ? Những nước đang nội chiến thì họ than van trách móc ai để có “hòa bình” trở lại với họ ? Những nạn nhân “vũ khí hóa học” bên nước Syria có sống lại mà phản đối những người gieo tai họa không? Tỉ dụ trong tương lai những “cường quốc” muốn dùng vũ lực mà dậy đời cho những nước yếu thế thì sao? Đúng thế, trong mọi biến cố của cuộc đời đều có hai phía để nhìn vào; chỉ có những kẻ lạc quan vui sống sẽ tìm được chân lý trong đó: “đó là thánh ý Chúa thể hiện dưới đất cũng như trên trời”.

Lạy Chúa xin ban cho con được đôi mắt lạc quan để nhìn thấy nụ cười trong tất cả mọi sự. Xin ban cho con khối óc khôi hài để con có thể vững mạnh trước mọi hoàn cảnh, để cho dầu có khóc than, con cũng vẫn tiếp tục cười sau đó. Xin cho con đôi môi chỉ biết mỉm cười với mọi người và với cuộc đời. Xin ban cho con trái tim nồng nàn để chỉ biết yêu thương.

Amen.

Vhd sưu tầm 11-9-2013

Kỷ niệm 9-11-2001/2013

“Let Us Journey Together.”

-Pope Francis -St. Peter’s Balcony 3-13-2013.

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

nguồn:dântri.com.vn

(Dân trí) – Nhà tỉ phú nổi tiếng Bill Gates đăng lên facebook của ông bức ảnh cột điện chằng chịt dây điện mà ông chụp được ở đường phố Việt Nam kèm theo status: Tại Việt Nam, nhu cầu năng lượng đang tăng 14% một năm. Lưới điện cũ này bị quá tải. Nhưng đất nước như Việt nam làm sao để giải quyết nhu cầu điện ngày càng tăng”.
>>  Dân mạng Việt gây náo loạn Facebook của Bill Gates

Cột điện trên facebook của Bill Gates là “đặc sản” độc quyền Việt Nam

Những dòng trên status không có gì ghê gớm, nhu cầu điện tăng là chuyện đương nhiên, là rất bình thường. Vậy tại sao facebook của tỉ phú Mỹ thu hút sự chú ý của cộng đồng mạng như vậy?

Câu trả lời là vì cái cột điện. Có lẽ cộng đồng không quan tâm đến chuyện thiếu điện ở Việt Nam, mà sửng sốt trước cái cột điện như con quái vật trên đường phố. Bao nhiêu năm nay, dân mình thấy nó quá quen thuộc, quen thuộc đến độ chúng ta không xem nó là quái dị, là bất bình thường, là xấu xí, là nguy hiểm… Chùm dây điện trên đầu, chạy ngang qua cửa sổ nhà, dây điện từng gây chết người, móc vào cổ người đi đường, nhưng chẳng có gì quan trọng.

Nhưng cái cột điện với chùm dây mạng nhện “đặc sản” thuần Việt Nam trên facebook của Bill Gates đã gây sốc cho cả thế giới. Ở thế kỷ này rồi mà vẫn còn có quốc gia khai thác và truyền tải điện như Việt Nam quả thật rất đáng để tò mò. Những công dân văn minh của thế giới văn minh giật mình kinh hãi khi thấy cột điện nguy hiểm này, họ tự hỏi vì sao nó mất thẩm mỹ và mất an toàn như vậy mà vẫn cứ tồn tại ngay giữa đường phố của thủ đô Việt Nam.

Nhưng họ chưa biết rằng, không phải chỉ một cột mà ông Bill Gates chụp, còn có hàng vạn cột điện tệ hơn vậy trên khắp đường phố Hà Nội, TPHCM và nhiều thành phố khác của Việt Nam.

Nhiều người Việt Nam cảm thấy xấu hổ khi chuyện cái cột điện tệ hại được cộng đồng mạng đem ra bình luận. Ông tỉ phú người Mỹ đến Việt Nam và đã giới thiệu cho cả thế giới biết về sự lạc hậu của đất nước Việt Nam chỉ qua một tấm ảnh. Tấm ảnh đó rất điển hình, rất khái quát và rất trung thực về sự phát triển của ngành điện Việt Nam. Không trách ông Bill Gates, chỉ trách chúng ta quá tụt hậu và kém cõi.

Những người lãnh đạo ngành điện Việt Nam có xấu hổ khi hình ảnh quốc gia bị chính cái cột điện của các ông làm cho xấu xí trước mắt thiên hạ không?

Ngành điện độc quyền kinh doanh, bấu vào bầu sữa ngân sách, làm ăn thua lỗ, điện luôn không đủ cung cấp cho sản xuất và tiêu dùng. Những tồn tại và yếu kém đó bao năm không giải quyết được, hệ thống đường dây “quái vật” cũng thế, nó là một trong những sản phẩm từ sự yếu kém mà ra.

Cùng với cột điện và hệ thống dây điện trong thành phố, đô thị Việt Nam còn có hai thứ “đặc sản” khác là kẹt xe và ngập nước. Du khách nước ngoài đến Việt Nam luôn được thưởng thức quang cảnh kẹt xe. Nếu gặp cơn mưa, có thể câu cá hay chống xuồng đi trên đường phố. Những hình ảnh “ngộ nghĩnh” đó không thiếu ở các kênh thông tin, mạng xã hội. Làm một công dân có lòng tự trọng, thấy đó là một nỗi đau, huống chi là làm lãnh đạo.

Lê Chân Nhân

Tình bạn tuyệt vời của người xưa

Tình bạn tuyệt vời của người xưa

02920120821151629

Chuyện kể rằng vào đời nhà Tống ở Trung quốc có một đôi bạn thân, cả hai người đều học rộng, tài cao. Về phẩm hàm là quan nhất, nhị phẩm. Đó là nhà văn Vương An Thạch và nhà thơ Tô Đông Pha .Văn chương, thơ phú của cả hai người đều rất nổi tiếng, Vương An Thạch giữ chức Tể  tướng Còn Tô Đông Pha thì làm quan cai trị một vùng Hai người là bạn thân chơi với nhau từ lâu nhưng do mỗi người lại có năng khiếu và sở trường riêng, người này giỏi văn còn người kia thì lại giỏi về thơ, vậy cho nên Tô Đông Pha không  phục Vương An Thạch, coi bạn không giỏi bằng mình. Biết là bạn coi thường mình nhưng Vương An Thạch chỉ im lặng không nói gì cả. Có một lần Vương An Thạch chủ động mời Tô Đông Pha đến tư dinh Tể tướng của mình chơi để đàm đạo chuyện văn chương. Khi Tô Đông Pha đến, Vương An Thạch cố ý vắng mặt một cách tế nhị khi Tô Đông Pha bước vào thư phòng của ông . Vì không thấy chủ, lại thấy trên bàn có một bài thơ đã làm xong và một bài đang viết dở. Vì giỏi thơ, khi nhìn thấy có thơ là ông liếc mắt đọc ngay. Một bài có đôi câu như sau:

“ Minh nguyệt sơn đầu khiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa tâm”.

Tô Đông Pha nhíu mày, nhăn trán suy nghĩ : Minh nguyệt là ánh trăng sáng, mà khiếu là hót. Vậy thì ánh trăng sáng, sao mà lại hót được ở đầu núi nhỉ? Câu tiếp là Hoàng khuyển là con chó vàng thì làm sao lại ngọa ( nằm) được ở trong tâm ( giữa) bông hoa ?. Ông lắc đầu và tỏ rõ ý coi thường tác giả của bài thơ. Ông nghĩ “ Vậy mà người ta cứ đồn là Vương An Thạch giỏi”? Nhân lúc vắng chủ nhà, và sẵn tiện có bút mực tại chỗ, ông sửa lại ngay hai câu thơ là :

“ Minh nguyệt sơn đầu chiếu

Hoàng khuyển ngọa hoa âm”

Có nghĩa là ánh trăng chiếu nơi đầu núi và con chó vàng nằm dưới bóng của bông hoa. Sửa xong hai câu thơ trên, Tô Đông Pha tỏ vẻ rất hài lòng và cho rằng khi đọc lại hai câu thơ này thì Vương An Thạch phải phục tài của mình lắm. Thơ phải sửa như thế mới đúng ngữ và nghĩa chứ !

Đọc tiếp bài văn thứ hai, thấy Vương An Thạch  tả cảnh mùa đông lạnh lẽo, tuyết rơi, hoa cúc rụng tơi tả. Tự liên hệ, ông thấy rất bực mình vì trên thực tế không bao giờ có chuyện hoa cúc lại rụng. Với hoa cúc, khi tàn héo nó vẫn cứ bám vào đài và thân hoa cho đến khi cây cúc chết.( Hoa cúc như vậy nên các đôi trai gái khi yêu thường lấy hoa làm biểu tượng để tặng cho nhau thể hiện sự chung thủy của mình) Ông cầm bút viết ngay vào bên cạnh bài văn để nói thẳng với tác giả rằng “ Hoa cúc không bao giờ rụng cả”. Biết mình chức, tước và phẩm hàm còn dưới Vương An Thạch nên lúc ra về suy nghĩ lại, ông biết mình phạm thượng, vì Vương An Thạch là quan đầu triều, chỉ dưới có một mình vua ( dưới một người, trên muôn vạn người). Thế nào mình cũng sẽ bị trị tội, bị trả thù là cái chắc. Quả đúng như dự đoán, sau một thời gian ngắn Tô Đông Pha nhận được “ trát” điều đi nhậm chức tận vùng phương Bắc xa xôi như đi “đầy”. Tô Đông Pha hối hận và nhận ra hậu quả việc làm bồng bột của mình ! Còn với tể tướng Vương An Thạch, sau khi ban “trát” điều Tô Đông Pha đi, ông hạ lệnh” các quan lại địa phương mà Tô Đông Pha đến làm việc là phải tạo mọi điều kiện  thuận lợi cho ông tìm hiểu đất đai, thổ nhưỡng cũng như thiên nhiên vùng đó và phải đối xử với tiên sinh Tô Đông Pha như  bậc đại khách” Là một người yêu thiên nhiên và biết cảm thông với nỗi thống khổ của người dân ở vùng đất khô cằn, khắc nghiệt, Tô Đông Pha thường xuyên tiếp xúc với dân, ông thỏa sức du ngoạn để tìm hiểu về con người và đất đai khắp vùng. Vì sống hòa đồng và hết sức thân thiện với mọi người nên ông đi đến đâu cũng được từ quan đến dân đón tiếp chân thành và nồng thắm. Có một lần đến thăm một làng quê nọ Tô Đông Pha bỗng nghe thấy tiếng chim lạ hót véo von, tiếng hót rất trong lại vang vọng vào núi đá. Nhà thơ hỏi đấy là loại chim gì mà hót hay như vậy ? Những người dân địa phương trả lời : Đấy là tiếng hót của chim Minh Nguyệt.  Có một lần khác khi đi thăm một vườn trồng hoa, thấy mọi người đang bắt sâu, đó là một loại sâu lạ nằm giữa bông hoa để ăn nhụy. Ông hỏi đó là sâu gì thế ? Những người nông dân trả lời : Đó là sâu Hoàng Khuyển. Thì ra trên thực tế có cả loại chim Minh Nguyệt và loài sâu Hoàng Khuyển thật. Vì tự cao không hiểu hết ý và  tự sửa bài thơ của Vương An Thạch, làm sai nội dung và tứ thơ hay của bài thơ ! Thời gian trôi đi, khi mùa đông phương Bắc lạnh lẽo tràn về, Tô Đông Pha ngồi trong nhà nhìn ra ngoài  thấy tuyết trắng xóa bay đầy trời và ở dưới vườn nhà những cánh hoa cúc bị tuyết bám vào rụng rơi lả tả. Nhà thơ lại giật  mình lần nữa và không tránh được tiếng thở dài, thì ra có hoa cúc rụng thật. Chỉ có điều là nó rụng trong hoàn cảnh và môi trường như thế nào mà thôi. Ông ngồi suy nghĩ và hồi tưởng lại những sự việc đã diễn ra trong thời gian vừa qua, thấy rõ sự hiểu biết quá cạn cợt của mình, nghĩ việc mình được bổ nhiệm làm quan nơi xa xôi, được tiếp xúc, du ngoạn và được đón tiếp thịnh tình lại có thêm nhiều hiểu biết và những vốn sống phong phú ở một vùng thiên nhiên kỳ thú nhưng cũng vô cùng khắc nghiệt này. Tô Đông Pha bỗng nhận ra bạn mình  Vương An Thạch, quan Tể tướng – Nhà văn không phải là người tầm thường, không phải trả thù hay “ đầy” mình lên biên cương mà chính là quan tâm tạo điều kiện cho mình đi “ thực tế” để có thêm vốn sống và kiến thức  từ trong dân gian. Vừa thấm thía, vừa biết ơn cộng với sự cảm phục, nhà thơ Tô Đông Pha liền ngồi viết thư tạ lỗi với tể tướng Vương An Thạch.

.Sưu tầm.

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

NHỮNG CON SỐ BẢY MAY MẮN

Từ Kinh Thánh cho đến sòng bạc, con số 7 thường được xem là con số may mắn, hoàn hảo và kỳ diệu. Chúa Giêsu bảo chúng ta hãy tha thứ bảy mươi lần bảy cho những ai lỗi phạm đến mình.  Rõ ràng Ngài có ý muốn bảo chúng ta tha thứ đến vô cùng.  Sách Sáng Thế nói về bảy ngày tạo dựng, Kinh Thánh nói về bảy tổng lãnh thiên thần, và Sách Khải Huyền nói về Bảy dấu niêm phong Mặc Khải.  Kinh Thánh đầy dẫy con số bảy.  Phải mất vài trang để liệt kê ra cho hết.
Những gì có trong Kinh Thánh Kitô giáo cũng có trong các văn hóa khác.  Có bảy phúc thần trong thần thoại Nhật Bản, các Phật tử tin rằng khi mới hạ sinh, Đức Phật bước bảy bước.  Trong đạo Do Thái, có bảy ngày than khóc, buổi giảng kinh hàng tuần cũng được chia thành bảy phần riêng biệt, có bảy phúc lành được đọc lên trong đám cưới Do Thái, tân lang và tân nương mừng hạnh phúc trong vòng bảy ngày, và có bảy cảm xúc căn bản hướng đến Thiên Chúa.  Trong truyền thống Hồi giáo, có bảy thiên đàng bảy thế gian, bảy ngọn lửa trong địa ngục, bảy cửa lên thiên dàng, và bảy cửa xuống địa ngục.
Và còn có nhiều điều có liên hệ với con số 7: Có bảy châu lục trên thế giới, bảy màu cầu vồng, bảy ngày trong tuần, bảy nốt nhạc căn bản, bảy ngôi sao trong chòm Đại Hùng, và bảy thiên thể thấy được bằng mắt thường.  Số bảy là mã điện thoại ở Nga.  Ở Bắc Mỹ, các giải bóng chuyền, bóng rỗ, và hockey chính đều chia cuộc đua vô địch thành loạt bảy trận, và nhiều vận động viên ưu tú chọn số bảy làm con số áo, kể cả Mickey Mantle.  Các sòng bạc cũng rất thích con số 7.  Xếp được một hàng số bảy là cách chơi của rất nhiều trò may rủi.

Chúa Giêsu, Đạo Do Thái, Hồi giáo, Phật giáo, tự nhiên, cách xếp tuần, mã điện thoại của Nga, các giải thể thao chính, Mickey Mantle, và các sòng bạc – và bây giờ là một điều khác nữa!  Chẳng tình cờ khi người ta dùng rất nhiều số bảy:
Ví dụ như: chúng ta có đủ kiểu số bảy trong thần học và trong giáo hội:
Thần học Kitô giáo nói về bảy Ơn Chúa Thánh Thần: Khôn ngoan, Hiểu biết, Lo liệu, Sức mạnh, Thông minh, Đạo đức, và Kính sợ Thiên Chúa. Về Bảy mối tội đầu: Kiêu ngạo, Ghen tỵ, Giận dữ, Biếng nhác, Tham lam, Ham ăn, và Dâm dục; cũng như về bảy nhân đức tương ứng: Khiêm nhường, Rộng rãi, Nhẫn nhịn, Siêng năng, Nhân từ, Tiết độ, và Trong sạch.  Giáo hội cũng nói về bảy lời cuối cùng của Chúa Giêsu: “Xin Cha tha cho họ vì họ không biết việc họ làm”; “Thật, ta bảo thật, hôm nay, ngươi sẽ được ở cùng ta trên thiên đàng”; “Lạy Cha, con xin phú linh hồn trong tay Cha”; “Thưa bà, này đây là con bà… Đây là mẹ con”; “Lạy Cha, sao Cha bỏ con?”; “Ta khát”; “Mọi sự đã hoàn tất”.
Mohandas Gandhi cũng nói về bảy Tội lỗi của xã hội: Chính trị không nguyên tắc, không làm mà có ăn, buôn bán vô đạo đức, hưởng lạc vô lương tri, tri thức thiếu nhân cách, khoa học thiếu nhân đạo, và tôn kính Thượng đế mà không chịu hy sinh.  Và về điều này, Công giáo La Mã cũng đã có Bảy Luận đề về Huấn Giáo Xã hội của Giáo hội Công giáo: Mạng sống và phẩm giá con người; yêu cầu đối với gia đình, cộng đồng, và bổn phận; quyền và trách nhiệm; chọn người nghèo và người cô thế; giá trị của lao động và quyền của người lao động; tình đoàn kết; và chăm lo cho những gì được Thiên Chúa tạo dựng.
Giáo hội Công giáo La Mã có Bảy Bí tích:
rửa tội, thêm sức, Thánh Thể, giải tội, xức dầu bệnh nhân, truyền chức thánh, và hôn phối.  Bảy Việc thương người: Cho kẻ đói ăn, cho kẻ khát uống, cho kẻ rách rưới ăn mặc, cho kẻ cơ nhỡ trú ngụ, thăm viếng người ốm, thăm viếng tù nhân, và chôn xác kẻ chết.  Và kèm theo là Bảy Việc thương người phần hồn: Sửa dạy kẻ ngu muội, lấy lời lành mà khuyên người, răn bảo kẻ có tội, nhịn kẻ mất lòng ta, tha kẻ dễ ta, yên ủi kẻ âu lo, và cầu cho kẻ sống và kẻ chết.  Hơn nữa, Giáo hội Công giáo La Mã còn tôn kính Bảy sự thương khó Đức Mẹ: Lời tiên tri của ông Simeon, chạy nạn đến Ai Cập, lạc mất Chúa Giêsu trong đền thánh, gặp Chúa Giêsu trên đường Núi Sọ, Chúa Giêsu chết trên thập giá, nhận xác Chúa Giêsu trong tay, chôn cất Chúa Giêsu vào huyệt đá.
Và tất nhiên, vẫn chưa hết, chúng ta còn có Bảy Kỳ quan thế giới, dù bây giờ người ta đang tranh cãi nhau xem chính xác nên chọn cái nào làm kỳ quan: Một số đồng ý với danh sách cũ, Bảy kỳ quan của thế giới cổ đại, số khác lại ủng hộ Bảy kỳ quan của thế giới hiện đại, số khác lại nói về Bảy kỳ quan của thế giới Đương đại, và số khác nữa lại nhất quyết rằng những kỳ quan thật sự của thế giới này được dựng nên bởi tự nhiên và liệt kê ra Bảy kỳ quan Tự nhiên của thế giới.
Vậy đâu là danh sách xác đáng đây?  Những cái nào mới đúng là Bảy kỳ quan thế giới?
Gần đây trên Internet có xuất hiện câu chuyện thế này:
Một giảng viên yêu cầu các học sinh nêu tên Bảy kỳ quan thế giới.  Một số, chắc chắn có nhờ vào các phương tiện điện tử, nhanh chóng đưa ra những danh sách khác nhau.  Tuy nhiên, một cô gái trẻ, không dùng đến những tìm kiếm trên mạng như thế, đã tự viết ra danh sách của mình.  Bảy kỳ quan thế giới, theo kết luận của cô là: NHÌN, CẢM, NẾM, NGỬI, SỜ, THỞ và YÊU. Tôi tin rằng, danh sách đó, thắng vượt tất cả mọi danh sách khác và chứa đựng đủ tất cả bí tích thiêng liêng.


Fr. Ron Rolheiser

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Đăng bởi lúc 2:13 Sáng 8/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (08.09.2013) – Sài Gòn – Chân phước Mẹ Têrêsa Calcutta cả đời đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con. Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống. Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều tốt đẹp dành cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

Lạy Chân phước Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kinh cầu Chân phước Mẹ Teresa Calcutta

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con truyền bá hương thơm của Ngài tới mọi nơi con đến. Xin đổ vào linh hồn con tràn ngập tinh thần và tình yêu của Ngài. Xin làm thấm nhuần và sở hữu con hoàn tòn để cả cuộc đời con là ánh sáng của Ngài. Xin chiếu sáng con và ở trong con để mỗi linh hồn con giao tiếp đều có thể cảm nhận sự hiện hữu của Ngài trong linh hồn con. Xin để các linh hồn nhìn lên và không còn thấy con nữa mà chỉ thấy Chúa Giêsu. Xin ở lại với con và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Ngài tỏa sáng, tỏa sáng để thành ánh sáng cho người khác. Amen.

+ Kinh cầu này dùng làm Tuần Cửu Nhật kính nhớ CP Mẹ teresa Calcutta từ 27-8 tới 5-9.

(http://catholicism.about.com/od/dailyprayers/qt/Daily-Prayer-Of-Mother-Teresa.htm)

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG     1/ Hãy yêu thích việc mình làm, bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn và làm việc hiệu quả hơn    2/ Xét lại các yếu tố gây căng thẳng. Cố loại bỏ những yếu tố nào gây trói buộc và gây bực mình vô ích    3/ Đừng tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người. Bạn cần hiểu rằng: ta không thể nào làm được điều đó.    4/ Hãy sống đúng với con người mình. Tránh phí phạm năng lực một cách vô ích.    5/ Hãy biết làm vui lòng mình và lo nghĩ đến mình.    6/ Thỉnh thoảng hãy ra nơi thanh vắng và nhìn lại nội tâm mình.    7/ Hãy bộc lộ xúc cảm: Hãy nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình cảm nhận.    8/ Muốn tránh dằn vặt suy tư, hãy đối diện với các vấn đề của mình. Đừng hoãn lại hôm sau những gì mình làm được hôm nay.    9/ Đừng để những thay đổi quan trọng trong cuộc sống xảy ra liên tục trong thời gian quá gần nhau. Những căng thẳng chồng chất sẽ làm bạn không đủ thời gian để giải quyết.    10/ Dành thì giờ để làm việc mình ưa thích, hoặc chỉ ngồi mà mơ mộng vẩn vơ.    11/ Mỗi ngày thực hiện hai lần thư giãn (mỗi lần 15 phút).     12/ Hãy tập thể dục, hãy làm tiêu hao bớt năng lượng. Hans Selye nói "Như khi ta đói thì ăn ngon miệng hơn, ta cần phải mệt thì nghỉ ngơi mới thoải mái trọn vẹn".    13/ Thỉnh thoảng để xe ở nhà mà đi bộ.    14/ Đừng hy sinh thì giờ nhàn rỗi của mình.    15/ Hãy sống điều độ, dùng thức ăn đầy đủ, đúng bữa và ngủ đủ giấc.    16/ Hãy bắt đầu với bữa ăn sáng đầy đủ chất bổ.    17/ Hãy mỉm cười! Tương quan của bạn với những người xung quanh sẽ tốt hơn.    18/ Hãy hít sâu vào khi mình bực bội. Khi chú ý đến hơi thở thì nỗi bực tức đã vơi đi một nửa rồi.    19/ Hãy học cách yêu thương (bằng những cử chỉ âu yếm). Tình yêu là liều thuốc an thần tốt nhất.    20/ Tránh xa tiếng ồn, đừng xem truyền hình trong khi ăn. Hãy tìm cho mình những giây phút thinh lặng và yên tĩnh.    ( Tác giả: David Niven, Ph. D.)

20 BÍ QUYẾT ĐỂ LOẠI TRỪ CĂNG THẲNG

1/ Hãy yêu thích việc mình làm, bạn sẽ cảm thấy thú vị hơn và làm việc hiệu quả hơn

2/ Xét lại các yếu tố gây căng thẳng. …Cố loại bỏ những yếu tố nào gây trói buộc và gây bực mình vô ích

3/ Đừng tìm cách làm vừa lòng tất cả mọi người. Bạn cần hiểu rằng: ta không thể nào làm được điều đó.

4/ Hãy sống đúng với con người mình. Tránh phí phạm năng lực một cách vô ích.

5/ Hãy biết làm vui lòng mình và lo nghĩ đến mình.

6/ Thỉnh thoảng hãy ra nơi thanh vắng và nhìn lại nội tâm mình.

7/ Hãy bộc lộ xúc cảm: Hãy nói ra những điều mình nghĩ, những điều mình cảm nhận.

8/ Muốn tránh dằn vặt suy tư, hãy đối diện với các vấn đề của mình. Đừng hoãn lại hôm sau những gì mình làm được hôm nay.

9/ Đừng để những thay đổi quan trọng trong cuộc sống xảy ra liên tục trong thời gian quá gần nhau. Những căng thẳng chồng chất sẽ làm bạn không đủ thời gian để giải quyết.

10/ Dành thì giờ để làm việc mình ưa thích, hoặc chỉ ngồi mà mơ mộng vẩn vơ.

11/ Mỗi ngày thực hiện hai lần thư giãn (mỗi lần 15 phút).

12/ Hãy tập thể dục, hãy làm tiêu hao bớt năng lượng. Hans Selye nói “Như khi ta đói thì ăn ngon miệng hơn, ta cần phải mệt thì nghỉ ngơi mới thoải mái trọn vẹn”.

13/ Thỉnh thoảng để xe ở nhà mà đi bộ.

14/ Đừng hy sinh thì giờ nhàn rỗi của mình.

15/ Hãy sống điều độ, dùng thức ăn đầy đủ, đúng bữa và ngủ đủ giấc.

16/ Hãy bắt đầu với bữa ăn sáng đầy đủ chất bổ.

17/ Hãy mỉm cười! Tương quan của bạn với những người xung quanh sẽ tốt hơn.

18/ Hãy hít sâu vào khi mình bực bội. Khi chú ý đến hơi thở thì nỗi bực tức đã vơi đi một nửa rồi.

19/ Hãy học cách yêu thương (bằng những cử chỉ âu yếm). Tình yêu là liều thuốc an thần tốt nhất.

20/ Tránh xa tiếng ồn, đừng xem truyền hình trong khi ăn. Hãy tìm cho mình những giây phút thinh lặng và yên tĩnh.

( Tác giả: David Niven, Ph. D.)