Phát triển toàn cầu: nghèo có giảm, nhưng 1.2 tỷ người vẫn nghèo cùng cực

Phát triển toàn cầu: nghèo có giảm, nhưng 1.2 tỷ người vẫn nghèo cùng cực


Vũ Văn An

10/27/2013

Con số người nghèo cùng cực trên thế giới đã giảm đáng kể trong 3 thập niên vừa qua, nhưng theo một cuộc phân tích mới đây của Ngân Hàng Thế Giới, vào năm 2010, số người nghèo cùng cực vẫn bao gồm chừng 400 triệu trẻ em. Đây là bản văn đầu tiên phân tích sâu xa khuôn mặt những người nghèo nhất trên thế giới.

Công bố ngày 10 tháng Mười vừa qua, bản phân tích cho hay: số người nghèo nhất thế giới, tức những người có thu nhập hàng ngày dưới 1.25 đôla, đã giảm đi 721 triệu người vào năm 2010 so với con số năm 1981. Nhưng phúc trình cũng đã kết luận rằng con số trẻ em trong số này không cân xứng chút nào. Các em hiện chiếm một phần ba trong số 1.2 tỷ người cùng cực nhất trên thế giới hiện nay. Ở các nước có thu nhập thấp, bách phân này còn tệ hơn nữa: đến nửa số trẻ em phải sống trong cảnh nghèo tận cùng.

Jim Yong Kim, chủ tịch Nhân Hàng Thế Giới cho hay: “Chúng ta từng chứng kiến tận mắt việc chuyển dịch lịch sử số người đông đảo ra khỏi cảnh nghèo trong ba thập niên qua, nhưng con số trẻ em hiện sống trong cảnh nghèo khiến ta biết chắc: vẫn còn nhiều điều cần phải làm. Chúng ta rất có thể đạt được mục tiêu chấm dứt nạn nghèo và thăng tiến thịnh vượng chung, kể cả việc chia sẻ sự thịnh vượng ấy với các thế hệ tương lai, nhưng chỉ với điều kiện phải hành động với nhau một cách khẩn trương. Không nên kết án trẻ em một cách dã man phải sống cuộc sống vô hy vọng, thiếu giáo dục và thiếu chăm sóc y tế xứng đáng. Chúng ta phải làm tốt hơn cho các em”.

Các nhà phân tích của Ngân Hàng Thế Giới cũng thấy rằng trong năm 2010, người nghèo vẫn tệ như năm 1981, ngoại trừ người nghèo tại Ấn Độ và Trung Hoa. Người nghèo “trung bình” tại các nước có thu nhập thấp mỗi ngày chỉ có 78 xu mỹ để sống trong năm 2010 so với 74 xu năm 1981.

William O’Keefe, phó chủ tịch tại Cơ Quan Cứu Trợ Công Giáo, cho rằng phúc trình này “lên tài liệu cho việc thành công trong cuộc chiến đấu toàn cầu chống nghèo đói hiện nay và các thách thức trước mặt”. Vì theo ông, giống như ở Hoa Kỳ, “nạn nghèo trên thế giới mỗi ngày mỗi trỡ thành số phận của trẻ em.

“Cơ Quan Cứu Trợ Công Giáo đang mở rộng một cách thành công và cải tiến các cố gắng canh nông, dinh dưỡng và y tế; các cố gắng này sẽ giúp các trẻ em nghèo hơn tại các nước nghèo đạt được các tiềm năng của chúng. Nhưng một mình chúng tôi, chúng tôi không thể giúp cả 400 triệu trẻ em được.

“Đức Thánh Cha đang kêu gọi người Công Giáo đương đầu với nạn đói hoàn cầu, và điều này một phần có nghĩa: thúc đẩy chính phủ của ta ở đây phải làm nhiều hơn nữa. Nền chính trị đầy ích kỷ của việc đóng cửa các cơ quan nhà nước đã khiến người ta sao lãng việc trợ giúp trẻ em khắp thế giới và tại quê nhà”.

Phân tích của Ngân Hàng Thế Giới cho thấy khó có thể đạt được mục tiêu chấm dứt nạn nghèo cùng cực vào năm 2030. Dù việc giảm nghèo trong mấy năm gần đây đã tiến bộ đáng kể tại các nước có thu nhập bậc trung như Trung Hoa và Ấn Độ, các nước có thu nhập thấp vẫn cho thấy một mức tiến bộ chậm hơn thế. Xét chung, nạn nghèo cùng cực đã xuy giảm, nhưng 35 nước có thu nhập thấp, trong đó 26 nước thuộc Phi Châu, đã ghi nhận sự gia tăng của hơn 100 triệu người nghèo cùng cực nữa so với ba thập niên trước. Năm 2010, 33 phần trăm người nghèo cùng cực sống tại các nước có thu nhập thấp, so với 13 phần trăm vào năm 1981.

Bản phúc trình cũng tính rằng số tiền mỗi năm cần có để kéo hơn một tỷ người ra khỏi nạn nghèo cùng cực là khoảng 169 tỷ đôla, bằng phân nửa phí tổn năm 1981.

Người nghèo cùng cực, thường tập trung tại các khu vực nông thôn, cũng là những người tiếp tục không được hưởng đầy đủ các dịch vụ căn bản khác. Chỉ khoảng 26 phần trăm người nghèo có nước sạch vào năm 2010, so với 56 phần trăm những người có thu nhập trên 1.25 đôla, vốn được dùng chỉ mức nghèo hiện nay.

Trong khi đó, ít hơn một nửa, chính xác là 49 phần trăm, những người nghèo nhất có điện dùng mà thôi. Và trong khi 61 phần trăm những người sống trên mức nghèo 1.25 đôla được hưởng các hệ thống vệ sinh căn bản, thì chỉ có 20 phần trăm những người nghèo cùng cực được hưởng các dịch vụ tương tự mà thôi

CÓ THIÊN ĐÀNG KHÔNG VÀ HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG RA SAO ?

CÓ THIÊN ĐÀNG KHÔNG VÀ HẠNH PHÚC THIÊN ĐÀNG RA SAO ?

LM ĐAN VINH

I. THIÊN ĐÀNG HIỆN HỮU THỰC SỰ :

1) Đây là một điều phù hợp với sự khôn ngoan và đức công bình vô cùng của Thiên Chúa, và đó cũng chính là cùng đích mầu nhiệm cứu chuộc của Đức Giê-su: Người đến để trả lại cho loài người chúng ta sự sống mà nguyên tổ A-đam E-và xưa đã đánh mất khi phạm tội vì bất phục tùng, để phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa cho chúng ta bắt đầu từ trần gian, và kéo dài mãi trên thiên đàng đời sau (x. Rm 5,12-21).

2) Đây còn là một chân lý đức tin:

a)Đức Giê-su nhiều lần đề cập đến thiên đàng trong các bài giảng của Người:

– “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,2).

– “Phúc thay ai có tâm hồn trong sạch, vì họ sẽ được nhìn thấy Thiên Chúa” (Mt 5,8).

– “Anh em hãy vui mừng hớn hở, vì phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5,12).

-“Anh em đừng tích trữ cho mình những kho tàng dưới đất, nơi mối mọt làm hư nát, và kẻ trộm khoét vách lấy đi. Nhưng hãy tích trữ cho mình những kho tàng trên trời, nơi mối mọt không làm hư nát, và kẻ trộm không đào ngạch và lấy đi được (Mt 6, 19-20).

-Trong dụ ngôn “Những nén bạc”, ông chủ nói với người đầy tớ biết làm lợi thêm những nén bạc ông đã trao: “Khá lắm, hỡi người đầy tớ tài giỏi và trung thành ! Được giao ít mà anh đã trung thành, thì tôi sẽ giao nhiều cho anh. Hãy vào mà hưởng niềm vui của chủ anh !” (Mt 25,21).

b) Đức Giê-su cũng nói với các Tông đồ về thiên đàng như sau: “Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở, nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi. Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng ở đó” (Ga 14,2-3).

c) Đến ngày tận thế, Đức Giê-su Vua Thẩm Phán sẽ tái lâm để phán xét chung. Tin mừng Mát-thêu tường thuật như sau: “Bấy giờ Đức Vua sẽ phán cùng những người ở bên phải rằng: Nào những kẻ Cha Ta chúc phúc, hãy đến thừa hưởng Vương Quốc dọn sẵn cho các ngươi ngay từ thuở tạo thiên lập địa” (Mt 25,34).

d) Tin Mừng Lu-ca đã ghi nhận về sự kiện Đức Giê-su lên trời như sau: “Chúa Giêsu được đem lên Trời” (Lc 24,51). Trời đây không phải trời xanh, mà là Thiên đàng, nơi Ba Ngôi Thiên Chúa là Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần ngự trị muôn đời.

e) Thánh Phao-lô cũng quả quyết có thiên đàng vĩnh cửu sau cuộc đời trần gian hôm nay: “Quả thật, chúng ta biết rằng: Nếu ngôi nhà của chúng ta ở dưới đất là chiếc lều này bị phá hủy đi, thì chúng ta có một nơi ở do Thiên Chúa dựng lên, một ngôi nhà vĩnh cửu ở trên trời, không do tay người thế làm ra” (2 Cr 5,1).

II. HẠNH PHÚC THIÊN ĐÁNG RA SAO?

1)Những quan niệm sai lạc về hạnh phúc thiên đàng: Một số người có những ý nghĩ không đúng về thiên đàng. Chẳng hạn:

a)Thiên Đàng là phần thưởng của Thiên Chúa ban nhằm thúc đẩy con người ăn ngay ở lành, giống như cha mẹ hứa cho con cái mình bánh kẹo để khuyến khích chúng chăm chỉ học tập. Như thế chẳng lẽ người ta chỉ làm các việc lành vì ích kỷ, nhằm tới lợi riêng cho mình sao ?

Thực ra, thiên đàng tuy là một phần thưởng (x. Mt 5,12), nhưng trước hết, thiên đàng là cùng đích cuộc đời chúng ta. Nếu con người sống mà không hướng về Thiên Chúa thì cuộc đời của họ sẽ vô nghĩa. Chúng ta làm lành để biểu lộ lòng yêu mến Thiên Chúa ở đời này giống như người gieo hạt giống tốt, và đương nhiên sẽ gặt được hoa trái là hạnh phúc thiên đàng đời sau.

b)Một số người lại tưởng tượng ra hạnh phúc thiên đàng theo sở thích của mình: Là nơi không còn phải ưu phiền thử thách, khỏi bị đau khổ, nhưng được sung sướng khoái lạc, được nhìn thấy những phong cảnh đẹp chưa từng được thấy, được nghe những điệu nhạc du dương chưa từng được nghe ở trần gian…

Thực ra, hạnh phúc Thiên Đàng trước hết là hạnh phúc siêu nhiên tinh thần, thỏa mãn được những như cầu của linh hồn chúng ta, được hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa “diện đối diện” như lời thánh Phao-lô dạy: “Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt” (1 Cr 13,12).

c)Có người lại quan niệm thiên đàng theo kiểu tình cảm trần gian. Theo họ: khi lên thiên đàng chúng ta sẽ được gặp lại những người thân của mình trươc đây, được nối lại tình xưa nghĩa cũ, vợ chồng con cái, cha mẹ anh em sẽ sống quây quần bên nhau như ở trần gian…

Thực ra, thiên đàng không phải chỉ là nơi để gặp gỡ các người thân của mình. Thiên Đàng tuy là một gia đình, nhưng là một gia đình thiêng liêng, là nhà của Thiên Chúa là Cha chung, trong đó mọi người đều là anh chị em với nhau.

2)Vậy hạnh phúc thiên đàng thực sự thế nào ? : Hiện nay chúng ta không thể diễn tả hạnh phúc Thiên Đàng như thế nào, vì chưa có ai được lên đó. Muốn hiểu hạnh phúc ấy, ta nên dựa vào Lời Chúa như sau:

a)Theo sách Khải huyền: “Rồi tôi nghe từ phía ngai có tiếng hô to: ‘Ðây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại, Người sẽ cư ngụ cùng với họ. Họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ. Thiên Chúa sẽ lau sạch nước mắt họ. Sẽ không còn sự chết; cũng chẳng còn tang tóc, kêu than và đau khổ nữa, vì những điều cũ biến mất” (Kh 21.3-4).

b)Thánh Phê-rô cũng khuyên các tín hữu: “Được chia sẻ những đau khổ của Đức Ki-tô bao nhiêu, anh em hãy vui mừng bấy nhiêu, để khi vinh quang Người tỏ hiện, anh em sẽ được vui mừng hoan hỷ” (1 Pr 4,13).

c)Thánh Phao-lô đã viết về hạnh phúc Thiên đàng như sau: “Điều mắt chẳng hề thấy, tai chẳng hề nghe, lòng người không hề nghĩ tới. Đó lại là điều Thiên Chúa đã dọn sẵn cho những ai mến yêu Người” (1 Cr 2,9).

3)Sự tiếp nhận hạnh phúc thiên đàng nhiếu ít là do phấn đấu của mỗi người:

a)Ơn cứu độ được ban cho hết mọi người: Trong dụ ngôn “Những người thợ đi làm vườn nho”, nhiều người đi làm vườn nho vào những thời điểm khác nhau trong ngày, nhưng đến cuối ngày, mọi người đều được chủ trả lương một đồng bằng nhau (x. Mt 20,1-15). Qua đó cho thấy: Người ta được ơn cứu độ là do tinh thương bao dung của Thiên Chúa, hơn là do công sức riêng của bản thân mình.

b)Tuy nhiên, mọi người không được hạnh phúc bằng nhau: Mỗi người được hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa nhiều ít tùy theo công việc tốt đã làm khi còn sống ở trần gian. Ai yêu mến và làm các việc lành theo thánh ý Thiên Chúa nhiều thì ở đời sau sẽ được hưởng hạnh phúc nhiều hơn. Còn người yêu mến ít và làm ít việc lành khi còn sống, nên đương nhiên sẽ được hưởng hạnh phúc ít hơn trên thiên đàng.

b)Đây cũng là điều hợp lý và phù hợp với đức công bằng vô cùng của Thiên Chúa. Thánh Kinh đã đề cập về vấn đề này như sau:

-Đức Giê-su đã nói với các môn đệ: ”Lòng anh em đừng xao xuyến. Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha của Thầy có nhiều chỗ ở. Nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi. Vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy sẽ trở lại và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu anh em cũng ở đó” (Ga 14,1-3).

-“Vậy ai bãi bỏ dù chỉ là một trong những điều răn nhỏ nhất ấy, và dạy người ta làm như thế, thì sẽ bị gọi là kẻ nhỏ nhất trong Nước Trời. Còn ai tuân hành và dạy làm như thế, thì sẽ được gọi là lớn trong Nước Trời” (Mt 5,19).

-Thánh Phao-lô trình bày về hạnh phúc thiên đàng khác nhau như sau: “Ánh mặt trời thì khác, ánh mặt trăng thì khác, ánh tinh tú thì khác, bởi vì ánh sáng tinh tú này khác với ánh sáng tinh tú kia. Việc kẻ chết sống lại cũng vậy: gieo xuống thì hư nát, mà trỗi dậy thì bất diệt; gieo xuống thì hèn hạ, mà trỗi dậy thì vinh quang; gieo xuống thì yếu đuối, mà trỗi dậy thì mạnh mẽ, gieo xuống là thân thể có sinh khí, mà trỗi dậy là thân thể có thần khí” (1Cr 15,39-44).

-Về sau, Công đồng Florence (1414 -1418) cũng đã khẳng định: “các Đấng Thánh tùy theo công trạng khác nhau sẽ được thấy Chúa khác nhau, người này hoàn hảo hơn người kia”.

-Tuy không bằng nhau, nhưng sẽ không có phân bì ganh ghét, vì mỗi người đều được tràn đầy hạnh phúc, đều ý thức rõ ràng tình yêu và sự công bằng vô cùng của Thiên Chúa. Ta có thể ví hạnh phúc Thiên Đàng giống như nước được đổ vào các đồ chứa mỗi người mang theo lên thiên đàng. Ai ở trần gian làm được nhiều việc lành giống như người sắm cho mình một chiếc chậu to, đang khi người khác làm ít việc lành lại chỉ có được một chiếc tô hay chén nhỏ… Vì ai nấy đều được Chúa đổ đầy ân sủng, nên tuy được hưởng hạnh phúc nhiều ít khác nhau, nhưng không có sự phân bì ganh ghét lẫn nhau.

4)Thiên đàng là nước tình yêu của Thiên Chúa:

a)Người tín hữu sống trên trần gian hướng về Thiên Chúa bằng ba nhân đức đối thần là Tin, Cậy, Mến:

Đức Tin làm cho ta thấy Chúa hiện diện trong mọi tạo vật để ngợi khen cảm tạ Chúa.

Đức Cậy làm cho ta vững lòng cậy trông để cầu xin Chúa ban ơn cứu độ.

Đức mến làm cho ta yêu mến Chúa trên hết mọi sự và tìm cách đáp lại tình yêu ấy.

b)Nhưng ở trên Thiên Đàng thì khác:

Đức tin không còn cần thiết vì ta đã được nhìn thấy Thiên Chúa “diện đối diện”.

Đức cậy cũng không còn, vì ta luôn có Chúa và không sợ phải lìa xa Chúa bao giờ.

Chỉ có đức mến sẽ tồn tại mãi mãi.

Các thánh trên thiên đàng sẽ luôn yêu mến Thiên Chúa vả yêu mến nhau, nên các ngài luôn được hưởng hạnh phúc viên mãn.

c)Thiên Đàng là Nươc Tình Yêu: Các Thánh sẽ không ngừng yêu mến Thiên Chúa, và nhờ tình yêu sẽ có tất cả như thánh Phao-lô đã viết: “Hiện nay, đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại. Nhưng cao trọng hơn cả là đức mến” (1 Cr 13,13). Các tín hữu đang sống ở trần gian vẫn có thể được hưởng hạnh phúc thiên đàng khi biết loại khỏi lòng trí các tội lỗi và các thói hư, để luôn sông tình mến Chúa yêu người. Khi sống trong tình yêu thương là chúng ta sẽ được sống trong Thiên Chúa, hưởng được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn, được hưởng hạnh phúc ngay từ đời này và sẽ kéo dài hạnh phúc ấy mãi mãi trên thiên đàng đời sau.

Trích Đối thoại năm Đức Tin: Các vấn đề Kinh Tế, Xã Hội và Thiên Đàng
LM ĐAN VINH

Lễ các linh hồn : Nay người – mai ta

Lễ các linh hồn : Nay người – mai ta


Anmai, CSsR10/27/2013


Chiều nay chầm chậm lần bước vào con đường mòn quen thuộc thường ghé. Lòng nặng trĩu nhớ người ra đi nơi phần mộ nằm khuất sau 3 dãy : Mẹ tôi.

Ngày Mẹ mất, Mẹ được nằm ở mặt tiền của khu mộ, đi vào thăm Mẹ không vướng víu gì cả. Vài năm sau đó, hàng mặt tiền che khuất bởi một hàng mộ mới. Và, vài năm sau nữa muốn đi vào thăm Mẹ phải đi ngang, đi dọc qua mấy người nữa mới đến Mẹ.

Thắp hương, nguyện cầu cho Mẹ cũng như cho những người nằm chung quanh Mẹ. Làn hương tỏa lên, cảm xúc lại dâng trào nhớ Mẹ, nhớ những người thân quen đã hơn một lần mình gặp gỡ nay đã ra đi mãi mãi.

Nguyện kinh, nguyện xin mà hình dung ra thân xác của Mẹ ngày xưa. Một thân xác tuyệt vời mà Thiên Chúa tạo dựng và rồi qua Mẹ, những đứa con được sinh thành. Thân hình đó, thân xác của Mẹ đó nay đã nằm sâu trong lòng đất và giờ đây sau hai mươi năm trời trở thành cát bụi thật sự.

Tạm biệt nghĩa trang chìm nơi Mẹ an nghỉ, tôi trở về với nghĩa trang nổi nằm trong khuôn viên của Tu Viện. Trong nghĩa trang nổi ấy, nơi tạm giữ tàn tro của biết bao nhiêu người thân quen, cách riêng quý cha quý thầy trong Dòng và riêng hơn nữa là những cha những thầy đã có một thời nên duyên nên nợ.

Nén hương trầm tỏa lan và những khuôn mặt thân quen lại dần hiện :

Cha già Giuse nhiều năm trời ở chốn lao tù, cách riêng ngài có tài hài hước qua những câu chuyện tục mà thanh để vơi bớt nỗi buồn. Cha cũng đã ra đi khi hơi tàn sức kiệt …

Thầy già Phêrô, một tu sĩ đi tu từ bé nên vẫn nhiệm nhặt giữ những quy luật của Nhà Dòng. Nếu ai không hiểu thầy thì sẽ khó chịu nhưng biết rồi thì cũng dễ đón nhận. Hình ảnh thầy già tưới cây, đạp chiếc xe đạp chạy quanh quanh nhà dòng nay cũng chẳng còn nữa vì theo quy luật của thời gian.

Cha G.B đầy nhiệt huyết nhưng rồi lại ra đi trong căn bệnh ung thư quái ác. Những ngày cuối đời, vòm họng đã làm cho Cha đau đến tột cùng và Cha cũng đã ra đi.

Cha F.X gần như cả đời mục vụ gắn kết đời mình với vùng truyền giáo nghèo biển mặn. Lửa truyền giáo vẫn bừng cháy nơi Cha nhưng vì sứ vụ Cha đi phục vụ trong công việc khác. Vẫn ước ao trở về quê Mẹ để phục vụ người nghèo nơi vùng truyền giáo nhưng ước mơ đó chưa trọn. Nay Cha trở về quê Trời thật sự, nơi mà lòng Cha hằng mong ước.

Cha Giêrađô, một con người cương trực thẳng tính. Cũng một thời phục vụ Tin Mừng và những năm cuối đời trở về ở trong ngôi nhà Mẹ của Nhà Dòng thật êm đềm. Hành trình về nhà Mẹ của Cha êm đềm như thế nào thì hành trình về nhà Cha của Cha Giêrađô cũng êm đềm như vậy. Chuẩn bị đi dâng Lễ ở xóm giáo thì Cha lại trở về nhà Cha.

Thầy Emmanuel, vì hoàn cảnh sức khỏe, thầy phải chịu đựng một thời gian dài. Thầy đã trở về nhà Cha để được bình an và thanh thản.

Cha già Stêphanô, cả một đời dấn thân cho người nghèo, đặc biệt trong truyền thông. Hình ảnh những ngày cuối đời của cha già vẫn còn in dấu trong tôi. Trong những cơn quặn đau của thể xác một cách tuyệt vời để cùng chịu đau khổ với Đức Kitô …

Nhiều và nhiều hình ảnh thân thương của quý cha quý thầy vẫn còn như đang sống với anh em bởi lẽ cũng đã từng chung chia với nhau sứ vụ, chung chia với nhau bữa cơm và chung chia với nhau cả giận hờn của tính người. Thế nhưng nay, những người đó chỉ còn là nắm tro nằm trong cái hủ chờ ngày Phục Sinh. Những người ấy, giờ đây ta muốn trò chuyện, hàn huyên tâm sự cũng chẳng còn cơ hội. Và, hơn thế nữa, có muốn giận, có muốn hờn, có muốn ghen với họ và ngược lại cũng chẳng được bởi lẽ hai thế giới cách biệt. Khi nằm xuống, xuôi đôi tay, ngừng hơi thở coi như mọi chuyện chấm dứt.

Trở về với góc phòng của Tu Viện, nhớ lại hình ảnh của Mẹ, của ông bà, của quý cha quý thầy thân quen … Những người đó thật gần nhưng giờ cũng đã xa. Dù có muốn làm gì đó cho những người thân đó cũng chẳng được dẫu là một bữa ăn ngon, một cái bánh cũng chẳng được. Và, dù có muốn giận, muốn hờn, muốn trách họ cũng không xong bởi lẽ họ không còn nói được với ta. Chỉ trong niềm tin, trong sâu lắng, trong lặng thầm, trong cõi thiêng ta nguyện cầu cho họ và họ nguyện cầu cho ta.

Ông bà, cha mẹ, những người thân thương nay đã ra đi. Còn ta ? Chẳng lẽ ta ở mãi trong cái cõi tạm này ? Mấy mươi năm ? Giỏi chăng cũng được một trăm. Sợ chưa đến gọi là thọ chứ làm gì có đến tuổi một trăm như thế. Cũng trong quy luật của cuộc sống, nay người thì mai lại đến phận ta. Dù có thuốc tiên đi chăng nữa cũng chẳng ai có thể trường tồn. Và, cũng chẳng ai lột da để sống mãi trên trần thế này. Mỗi ngày qua đi là mỗi ngày đời sống ở dương gian của ta dần khép lại.

Nhớ đến những người thân đó cũng là nhắc đến phận người của chúng ta. Nhắc như thế để liệu làm sao sống cho nhẹ nhàng và thanh thản. Và, hơn thế nữa, hãy cố sống làm sao để khi ta nhắm mắt thì mọi người khóc còn ta, ta mỉm cười thanh thản ra đi.

Nay người, mai ta ! Nhớ như thế để ngày mỗi ngày ta dần buông những gì là vướng bận của cuộc đời để thanh thản trở về Quê Trời, nơi mà cả đời ta hằng thao thức và mong đợi.

Anmai, CSsR

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

Vụ án Đinh Nhật Uy làm nổi bật thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Blogger Ðinh Nhật Uy sau khi được trả tự do.

Marianne Brown

29.10.2013

HÀ NỘI — Blogger Đinh Nhật Uy đã bị tòa án Việt Nam xét là can tội “lợi dụng quyền tự do dân chủ” vì đã dùng trang mạng xã hội Facebook để vận động cho việc trả tự do cho em trai là một người chỉ trích chính phủ đang bị bỏ tù. Theo tường thuật của thông tín viên Marianne Brown của đài VOA ở Hà Nội, đây là vụ xử mới nhất liên quan tới một thế hệ mới của những người tranh đấu đặt căn cứ trên internet.

Ông Đinh Nhật Uy, 30 tuổi, đã bị đưa ra tòa xét xử hôm thứ ba vì đã đăng tải thông tin trên trang Facebook để ủng hộ người em trai của ông đang thọ án tù 4 năm về tội phát tán truyền đơn chống chính phủ.

Ông Hà Huy Sơn, luật sư của ông Uy, nói rằng sau một phiên xử ngắn tòa án đã ra phán quyết cho rằng thân chủ của ông phạm tội dùng trang mạng xã hội này để chỉ trích chính phủ.

“Ðây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy (Ðinh Nhật Uy) bị truy tố.”

Phil Robertson, Human Rights Watch.”

“Theo văn bản khởi tố được đăng lại trên trang blog chính trị Dân Luận, những thông tin trên trang Facebook của Đinh Nhật Uy có những nội dung ngụy tạo, vu khống và xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và công dân.”

Ông Phil Robertson, phó Giám đốc bộ phận Á châu của tổ chức nhân quyền Human Rights Watch, nói rằng lệnh khởi tố ông Đinh Nhật Uy có tính chất khác thường vì nó đặt trọng tâm vào việc ông sử dụng trang mạng xã hội Face book.

“Ngay cả trong trường hợp có những vụ án khác ở Việt Nam dính líu tới những người đã đăng tải thông tin trên Facebook, tôi vẫn cho rằng đây là một trong những vụ án đầu tiên ở Việt Nam mà trang Facebook có vị trí trung tâm đối với những gì mà ông ấy bị truy tố.”

Vụ án này làm nổi bật một thế hệ mới của những nhà tranh đấu ở Việt Nam, là nước có 32 triệu người sử dụng internet trong khối dân khoảng 90 triệu người.

Hơn 70% công dân mạng ở Việt Nam sử dụng Facebook và mặc dù có đôi lúc bị ngăn chặn bởi một số các công ty cung cấp dịch vụ internet, trang mạng xã hội này đã trở thành một diễn đàn rất sinh động cho những người viết blog chính trị ở Việt Nam.

” Hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.

Nhà hoạt động Vũ Sỹ Hoàng.”

Ông Vũ Sỹ Hoàng, một nhà hoạt động ở Sài Gòn, là một trong số hàng ngàn người tham dự lễ thắp nến cầu nguyện tại một nhà thờ ở Sài Gòn hôm chủ nhật để bày tỏ sự ủng hộ đối với Đinh Nhật Uy và gia đình. Ông Hoàng cho biết cảm nghĩ như sau.

“Tôi nghĩ rằng hiện nay có một thế hệ mới của những nhà hoạt động, những nhà hoạt động internet. Họ là những người rất trẻ, rất can đảm. Họ dùng blog và mạng lưới xã hội để trao đổi thông tin và bày tỏ tình cảm, ý nghĩ của mình.”

Tuy hầu hết các nhân vật tranh đấu chính trị sử dụng truyền thông xã hội, các nhà quan sát nói rằng thế hệ trẻ hơn, lớn lên trong một hoàn cảnh kinh tế khá hơn, có cách tiếp cận riêng trong việc thảo luận về đề tài cải cách chính trị.

Ở Việt Nam trước đây, thảo luận về cải cách là lãnh vực riêng của các nhà trí thức. Nhưng giờ đây, theo giáo sư Jonathan London của Đại học Thành phố Hồng Kông, internet đang mở rộng cuộc thảo luận tới một khối người đông đảo hơn.

“Chúng ta đang thấy sự du nhập hoặc đa dạng hóa của những mô thức bày tỏ quan điểm chính trị. Và dĩ nhiên sức hấp dẫn của truyền thông xã hội ở Việt Nam là nó mang lại cho người dân Việt Nam một điều gì đó rất đặc biệt. Đó là tự do diễn đạt, là ngôn luận chính trị không qua trung gian. Đó là một việc thật sự mới mẻ ở Việt Nam và dĩ nhiên nó làm cho người ta cảm thấy phấn khởi.”

” Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam…

Jonathan London, Ðại học thành phố Hong Kong.”

Trong lúc các blogger chính trị tìm cách truyền bá thông tin và gây ảnh hưởng lên hàng triệu người sử dụng internet, chính quyền ở đây đang chật vật để tìm hiểu và quản lý diễn đàn mới của cuộc thảo luận chính trị. Giáo sư London cho rằng vụ xử Đinh Nhật Uy nêu bật mối căng thẳng đó.

“Một mặt, những người Việt Nam thuộc mọi thành phần đang đang ứng phó với một cuộc bàn thảo không ngừng thay đổi về xã hội và chính trị. Tôi nghĩ rằng đó là một quá trình mà tự bản thân nó là quá trình rất thú vị và phức tạp. Và mặt khác, đây là một vấn đề chính trị. Điều mà chúng ta đang chứng kiến là cuộc tranh đấu để thấy được những gì làm nên quyền tự do ngôn luận ở Việt Nam.”

Ông Phil Robertson của tổ chức Human Rights Watch cho biết ông tin là cáo trạng nhắm vào ông Đinh Nhật Uy có mục đích hăm dọa để những nhân vật tranh đấu và gia đình của họ không đi theo con đường của ông.

Nhiều người trong gia đình của các nhân vật bất đồng chính kiến đã sử dụng mạng internet để tranh thủ sự ủng hộ cho cuộc vận động của họ.

” Chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó…

Nguyễn Trí Dũng, con trai blogger Ðiếu Cày.”

Ông Nguyễn Trí Dũng, con trai của blogger Điếu Cày đang bị bỏ tù, cũng dùng trang Facebook của mình để vận động cho cha ông được thả. Ông nói rằng ông có thể bị bắt vì Điều 258 nhưng ông sẵn sàng chấp nhận hậu quả.

“Tôi không biết Kha và Uy nghĩ gì, nhưng tôi nghĩ rằng chúng tôi làm việc này cho tương lai. Tôi có một đứa con trai và tôi nghĩ về nó rất nhiều. Cho nên tôi nghĩ rằng điều mà tôi đang làm là làm cho nó và mẹ tôi hiểu được điều đó.”

Theo Human Rights Watch, 61 nhà hoạt động và bất đồng chính kiến ở Việt Nam đã bị tòa án Việt Nam kết tội trong năm nay, tăng đáng kể so với con số khoảng 40 người của cả năm 2012. Ông Robertson cho biết ông lo ngại là vụ xử Đinh Nhật Uy chứng tỏ xu hướng này sẽ tiếp tục.

Tôi Không Xin

Tôi Không Xin

Tôi không xin cả cuộc đời
Chỉ mong một chút tình người Việt Nam
Đời tôi nắng dãi mưa dầm
Ôm thương nhớ đứng gọi thầm tên nhau
Con tôi lưu lạc phương nào
Đứa ra miền Bắc, đứa vào miền Nam
Đứa về theo núi theo sông
Chết trong Trại Cấm, chết lòng biển sâu
Nhà tôi dột nát đã lâu
Bốn nghìn năm để một màu khăn tang
Tôi người hành khất Việt Nam
Ngồi nghe máu nhỏ xuống bàn tay khô
Tôi không giành giựt cơ đồ
Chỉ xin một chút tự do làm người.

Khuyết Danh

Lịch Sử Ngày Lễ Các Đẳng Linh Hồn!

Lch S Ngày L Các Đng Linh Hn!

Lm Nguyễn Phước, OFM

Ngay từ thời tiên khởi, Giáo Hội đã khuyến khích chúng ta cầu nguyện cho người chết như một nghĩa cử bác ái.  Thánh Augustine viết, “Nếu chúng ta không lưu tâm gì đến người chết, thì chúng ta sẽ không có thói quen cầu nguyện cho họ.”

Tuy nhiên, các nghi thức cầu cho người chết có tính cách dị đoan thời tiền-Kitô Giáo đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến nỗi mãi cho đến đầu thời Trung Cổ, nhờ các Dòng ẩn tu có thói quen cầu nguyện cho các tu sĩ đã qua đời hàng năm thì một nghi thức phụng vụ cầu cho người chết mới được thiết lập.

Vào giữa thế kỷ 11, Thánh Odilo, Tu Viện Trưởng Dòng Cluny,  ra lệnh rằng mọi tu viện Dòng Cluny phải cầu nguyện đặc biệt và hát kinh Nhật Tụng cầu cho người chết vào ngày 2 tháng Mười Một, ngay sau lễ Các Thánh.  Truyền thống này được lan rộng và sau cùng được Giáo Hội chấp nhận đưa vào niên lịch Công Giáo La Mã.

Ý nghĩa thần học làm nền tảng cho ngày lễ này là sự thừa nhận bản tính yếu đuối của con người.  Vì ít có ai đạt được một đời sống trọn hảo, mà hầu hết đã chết đi với vết tích tội lỗi, do đó cần có thời gian thanh tẩy trước khi linh hồn ấy được đối diện với Thiên Chúa.  Công Ðồng Triđentinô xác nhận có luyện tội và nhấn mạnh rằng lời cầu nguyện của người sống có thể rút bớt thời gian thanh luyện của linh hồn người chết.

Sự dị đoan vẫn còn dính dấp đến ngày lễ này.  Thời trung cổ người ta tin rằng các linh hồn trong luyện tội có thể xuất hiện vào ngày lễ này dưới hình thức các phù thủy, các con cóc hay ma trơi.  Và họ đem thức ăn ra ngoài mộ để yên ủi người chết.

Tuy nhiên việc cử hành lễ với tính cách tôn giáo vẫn trổi vượt.  Người ta tổ chức đọc kinh cầu nguyện ở nghĩa trang hay đi thăm mộ người thân yêu đã qua đời và quét dọn, trang hoàng với nến và hoa.

Có nên cầu nguyện cho người chết hay không, là một tranh luận lớn khiến chia cắt Kitô Giáo.  Vì sự lạm dụng ơn xá trong Giáo Hội thời ấy nên Luther đã tẩy chay quan niệm luyện tội.  Tuy nhiên, đối với chúng ta, cầu cho người thân yêu là một phương cách cắt bỏ sự chia lìa với người chết.

Qua lời cầu nguyện, chúng ta cùng đứng với những người thân yêu, dù còn sống hay đã ra đi trước chúng ta, để dâng lời cầu xin lên Thiên Chúa.

“Chúng ta không thể coi luyện tội là một nhà tù đầy lửa, cận kề với hỏa ngục – hoặc ngay cả ‘một thời gian ngắn của hỏa ngục’.”

Thật phạm thượng khi nghĩ rằng đó là một nơi chốn mà Thiên Chúa bủn xỉn đang bòn rút từng chút thân xác…

Thánh Catherine ở Genoa, vị huyền nhiệm của thế kỷ 15, viết rằng ‘lửa’ luyện tội là tình yêu Thiên Chúa ‘nung nấu’ trong linh hồn đến nỗi, sau cùng, toàn thể linh hồn ấy bừng cháy lên. Ðó là sự đau khổ của lòng khao khát muốn được xứng đáng với Ðấng được coi là đáng yêu quý vô cùng, họ đau khổ vì sự mơ ước được kết hợp đã cầm chắc trong tay, nhưng lại chưa được hưởng thật trọn vẹn.”

(Leonard Foley, O.F.M., Tin Chúa Giêsu).
Lm Nguyễn Phước, OFM

SÀI GÒN ƠI…..!!!

SÀI GÒN ƠI…..!!!

Tôi về thăm lại Sài Gòn,
Từng di tích một chẳng còn nơi đây,
Đường xưa thiếu bóng hàng cây,
Thiếu màu nhung nhớ đong đầy tim ai,
Nắng chiều nung mắt thêm cay,
Khói xe phủ kín hình hài quê hương,
Nhìn người xuôi ngược mà thương,
Trẻ thơ bỏ học đứng đường ăn xin,
Ôi bao cảnh cũ còn in,
Bây giờ xa lạ tâm tình nát tan,
Cuộc đời chìm nỗi lang thang,
Không nhà không cửa còn mang bệnh đời,
Thấu chăng chỉ có ông Trời,
Bao nhiêu khổ ải khắp nơi đất này…

Liverpool.29/10/2013.
Song Như.

Kính gởi quý Thầy Cô và các bạn LVC.
Kính chúc sức khỏe.
KT

CHẾT KHÔNG ĐỢI TUỔI

CHẾT KHÔNG ĐỢI TUỔI

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Đời người ! Nghĩ cũng lạ ! Có ngày bước vào trần đời ắt có ngày phải ra đi hay gọi là ngày chết. Ngày sinh ra, ngày bước vào đời có đó nhưng ngày chấm hết cuộc đời này không ai biết trước được. Chuyện sống chuyện chết là chuyện của Đấng tạo hóa, thụ tạo chỉ việc vui vẻ sống ngày nào hưởng ngày đó tùy vào đấng nhào nắn ra mình thôi.

Đứa trẻ con của hai vợ chồng thân quen được sinh ra, sống và lớn lên được 5 tuổi. Bỗng một ngày kia cháu sốt, nhập viện được vài tuần và cháu ra đi mãi mãi. Gia đình ngậm ngùi chào từ biệt em …

Người cha kể lại cho tôi hoàn cảnh bi đát của gia đình anh gặp phải đó là chuyện cô con gái 15 tuổi của gia đình. Bé đang đi học bình thường, bỗng dưng đến ngày kia bé sốt và đưa bé nhập viện. 2 tuần lễ chống chọi với cơn sốt và bé ra đi mãi mãi. Gia đình anh sốc đến cực độ nhưng rồi đúng 1 năm sau đó, Chúa lại ban cho anh chị một cháu nữa tạm gọi là thay vào nỗi đau cũng như trống vắng của gia đình.

Bé cháu ở nhà năm nay mới vừa bước vào cái tuổi thần tiên. Vì hoàn cảnh cha mẹ là nhà giáo, cháu cắm đầu cắm cổ học để cho mọi người khỏi cười chê. Ham học như thế, có những hôm chẳng nhớ là mình đã ăn chưa và mình đã đến giờ ngủ chưa … Và rồi những cơn đau đầu ập đến. Bé kể lại là cứ nghĩ là vì học nhiều nên đau đầu chứ cũng chẳng là gì đáng ngại để không cần phải đi kiểm tra sức khỏe. Cứ lướt qua, lướt qua và rồi một ngày kia đi bác sĩ kiểm tra thì kết quả thật đau lòng : bé bị ung thư não.

Với kết quả như vậy, bác sĩ bảo bây giờ không mổ cũng không được và mổ cũng không có khả năng lắm bởi lẽ chứng bệnh này hết sức đặc biệt. Cách đây vài tuần, bé đã mê man 3 ngày không biết gì nữa. Trong tiếng nấc nghẹn ngào, cháu bảo mạng sống của cháu giờ chỉ tính tháng tính ngày thôi chứ không còn tính năm nữa …

Buồn và đau khi nghe tin dữ ấy nhưng đành chịu bởi lẽ ngoài tầm tay với của cả gia đình, của đội ngũ bác sĩ giỏi trong một đất nước tiến bộ … Thế là cứ chờ và cứ đợi đến ngày cuối đời của cháu trong đau buồn của phận ngườ.

Mới đây thôi, một vị bác sĩ chuyên môn khá giỏi của một bệnh viện cũng lớn cũng đã qua đi vì chứng ung thư não. Khi phát hiện ra bệnh tình của mình, vị bác sĩ này nghiên cứu tỉ mỉ và thu thập tất cả các thông tin về bệnh của mình và gửi sang Pháp để nhờ các bác sĩ quen biết hỗ trợ nhưng vẫn không tìm ra giải pháp nào cho căn bệnh mà vị bác sĩ khá trẻ này đang mang. Sau một thời gian vắn, vị bác sĩ 41 tuổi đời này đã ra đi để lại niềm thương nỗi nhớ của gia đình, của bạn bè, của đồng nghiệp và cả những bệnh nhân mà bác sĩ đã tận tình chăm sóc khi còn sinh thời. Đặc biệt, cả bệnh viện gần như mọi người cảm thấy tiếc nuối cho một vị bác sĩ vừa giỏi vừa có tấm lòng đặc biệt với những bệnh nhân nghèo …

Có lẽ đây cũng là vài ba trường hợp mà tôi có dịp tiếp xúc, có dịp gặp gỡ, có dịp quen biết mà nay đã qua đi hay đang đón chờ cái chết đến mỗi ngày trong họ.

Thật ra chẳng có gì là lạ cả bởi lẽ sinh tử là chuyện của Đấng tạo hóa. Điều này chẳng có gì lạ và cũng chẳng có gì mới nơi thân phận con người.

Tính tuổi thọ trong ngoài bảy chục,

Mạnh giỏi chăng là được tám mươi,

Mà phần lớn chỉ là gian lao khốn khổ,

Cuộc đời thấm thoát chúng con đã khuất rồi.

(Tv 89, 10)

Ở Thánh Vịnh 144, câu 4 nhắc ta :

Ấy con người khác chi hơi thở,

vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu.

Không chỉ vài đoạn Thánh Vịnh như thế này nhắc ta về sự sống, về cái chết của con người nhưng phản phất và trải dài trong Thánh Kinh và ngay trong những biến cố đời thường ta vẫn thấy hạn chế của con người trước sự sống. Cái chết đến vào lúc con người không ngờ và vào giờ con người cũng chẳng biết.

Nhìn những biến cố như thế để không phải là ta bi quan chán nản buông xuôi cuộc đời của ta nhưng nhìn đó để thấy cái phận người hạn hẹp và mong manh của ta. “Hôm nay người người vui cười rồi mai đây lệ rơi, đời là giấc điệp qua mau nuối tiếc chi bóng sầu …” Tâm tình bài hát tiễn đưa nhắc nhớ phận của con người là như vậy.

Khi nhìn về phận người, về sự sống, về sự chết như vậy để ta nhìn lại cái phận người nhỏ bé và mong manh để rồi kịp nhận ra rằng cuộc đời ta hết sức vắn vỏi và hãy sống đẹp với những ngày tháng mà mình đang có. Và, trong cái đẹp nhất của đời người vẫn là tình yêu thương, vẫn là lòng mến mà Thiên Chúa đã trao ban và mời gọi. Hãy yêu nhau đi khi còn có cơ hội để lỡ may cơ hội vụt mất mà ta không kịp yêu thương cũng là điều dáng tiếc.

Ta đâu biết được ta sẽ sống được bao nhiêu năm, bao nhiêu tháng, báo nhiêu ngày trên đời để rồi ta phải bận lòng và tính toán thiệt hơn. Biết đâu được ngày hôm nay là ngày cuối cùng của ta sống trên cõi tạm này thì sao ?

Anmai, CSsR

Vụ án xét lại chống đảng, phần 4 – Những người che mắt lịch sử

Vụ án xét lại chống đảng, phần 4 – Những người che mắt lịch sử

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-10-24

maclam10242013.mp3

ldt-305.jpg

Hàng ngồi từ trái sang: Ông Võ Chí Công, Nguyễn Văn Linh, Lê Đức Thọ, Phạm Văn Đồng, Đỗ Mười.

File photo

Trong tập hai của Bên Thắng Cuộc mang tên Quyền Bính, trong chương “Tướng Giáp”, Huy Đức ghi lại lời kể của Trần Quỳnh, trợ lý Lê Duẩn nói về thành phần bị bắt thời gian này: “Những người không tán thành đường lối chống xét lại của Đảng, một số cán bộ cao cấp và trung cấp theo học ở trường Đảng cao cấp Liên Xô và trường quân sự cao cấp Liên Xô bàn kế hoạch chống lại đường lối của Đảng. Họ lập một nhóm vận động thành lập một tổ chức lấy việc thay đổi Bộ Chính trị làm mục tiêu. Họ nhắm vào những người không đồng tình với Nghị quyết 9, trước hết là những sĩ quan cao cấp trong quân đội và những ủy viên trong Trung ương”.

Thật ra đây chỉ là một mối nhỏ trong guồng chỉ rất lớn của vụ án chính trị nổi tiếng này. Những người bị bắt, bị lưu đày sau gần 50 năm vẫn chưa bao giờ được chính quyền chứng minh hành vi kết tội của họ đối với người bị bắt. Hầu hết nạn nhân của vụ án là người yêu chuộng sự đổi mới hợp lý khi chủ nghĩa tôn sùng cá nhân bị chỉ trích tại Liên Xô cũng chính là lúc Lê Duẩn, Lê Đức Thọ muốn củng cố địa vị của họ bằng sức mạnh theo kiểu Mao Trạch Đông chủ trương.

Nghị quyết 9, sự kết giao nguy hiểm

Nghị quyết 9 cho thấy khuynh hướng theo Trung Quốc và ai không đồng tình với khuynh hướng này thì bị thanh trừng. Quyền lực sẽ bị lu mờ nếu hào quang của Tướng Giáp vẫn còn tỏa sáng trên sân khấu chính trị Việt Nam khiến bằng mọi cách phe Lê Duẩn, Lê Đức Thọ phải thực hiện cho được sự ám toán ông qua một vụ án chính trị là cách hay nhất.

“Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: ‘phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng’. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh.
-Ô. Hoàng Minh Chính”

Ông Hoàng Minh Chính bị bắt đầu tiên, vợ của ông là bà Lê Hồng Ngọc kể lại nỗi gian truân trong thời gian ấy:

“Đang làm người lãnh đạo tập đoàn thanh niên được đảng tín nhiệm đưa đi học nước ngoài rồi về sẽ cho chức nọ chức kia. Anh tưởng là anh nói như vậy để giúp đảng nhưng cuối cùng cũng không giải quyết được gì hết mà còn bị tù tội. Thời kỳ đó gian khổ lắm vì mang trên đầu các chữ phản: ‘phản Tổ quốc, phản nhân dân, phản đảng’. Gia đình chúng tôi ở bên ngoài thì bị mọi người xa lánh, không ai đến, không ai dám hỏi thăm. Bản thân anh thì hoàn toàn là biệt lập vì cái tội như thế nên cũng nhiều nỗi đau khổ lắm.”

Những người vợ

Là vợ của một người thân cận với Chủ tịch Hồ Chí Minh bà Phạm Thị Tề không thể chịu đựng nỗi sự im lặng của người từng được gia đình mình phục vụ. Nhà văn Vũ Thư Hiên kể lại thái độ gan góc của mẹ mình khi không chịu vào Phủ Chủ tịch đề nhờ sự can thiệp của ông Hồ Chí Minh:

IMG-2447-250.jpg

Nhà văn Vũ Thư Hiên và Blogger Người Buôn Gió tại Paris, ảnh chụp năm 2010. Courtesy Blog Người Buôn Gió.

“Không! Mặc dù bà cụ tôi là người gần gũi ông Hồ Chí Minh ngày xưa. Lúc ông ấy mới về Hà Nội thì ông ấy rất ốm. Ông ấy lúc bấy giờ bị lao phổi, ngoài thuốc chữa thì bà cụ tôi phải nấu thức ăn bổ dưỡng để cận vệ mang vào cho ông ấy. Thế nhưng khi đã bắt ông cụ tôi thì bà bảo cái người đó không còn tin được nữa thế nên bà cụ tôi không liên hệ. Sau này tôi gặp ông Hoàng Quốc Thịnh, lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại thương ông ấy nói có một lần ông ấy vào báo cáo với ông Hồ Chí Minh vào giai đoạn ông cụ tôi bị bắt, ông hỏi là tai sao lại bắt những người như anh Huỳnh, cả cuộc đời theo cách mạng như thế? Thì ông ấy (HCM) tỏ vẻ ngạc nhiên hay đóng kịch như là: Tại sao bắt anh Huỳnh? Sao lại bắt?… đại khái như thế? Đấy là lời ông Hoàng Quốc Thịnh nói với tôi.”

Những người đàn bà không bị bắt còn khổ sở hơn chồng của họ. Bà Lê Hồng Ngọc kể lại chuyện ba người đàn bà vợ của các ông Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh và Đặng Kim Giang:

“Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy. Thăm nuôi tiếp tế thì rất lâu mới được đi một lần. Trong tình cảnh ấy tôi nghĩ là rất nhiều chị em như tôi như bà Vũ Đình Huỳnh, bà Đặng Kim Giang. Ba chị em hay đi với nhau lắm. Chúng tôi lên tận trên trại Bất Bạt, trên ấy xa xôi lắm. Họ đánh kẻng mới được đi vào, vào thăm mấy tiếng thì phải đi về.”

Theo thư gửi cho nhiều cơ quan chính quyền vào năm 1994, bà Phạm Thị Tề nhắc lại sau Đại hội VI của Đảng, chồng bà là ông Vũ Đình Huỳnh lúc ấy đã được thả ra, có thư gửi tới nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Nguyễn Văn Linh, một lần nữa yêu cầu ông Linh đưa vụ này ra ánh sáng. Thế nhưng không riêng gì ông Huỳnh mà tất cả những người bị bắt hay đã chết, yêu cầu chính đáng ấy không bao giờ được giải quyết.

Sự im lặng đồng lõa

“Gia đình rất là gian nan khổ sở. Về mặt kinh tế thì không nói cũng biết rồi, vật chất có gì ngoài củ sắn đâu cho nên tất cả những tem phiếu có được đều giữ lại bù đắp cho anh ấy.
-Bà Lê Hồng Ngọc”

Ông Lê Hồng Hà một trong những nạn nhân của vụ án cho biết:

“Những năm sau này, từ năm 90-91 trở đi họ bắt đầu thấy một số các vấn đề không thỏa đáng. Thế thì họ có giải quyết theo kiểu những người bị tù nhiều năm thì tha rồi. Một số các người bị thiệt hại quyền lợi thì được cho khôi phục lại quyền lợi. Ví dụ một số những ông như Lê Trọng Nghĩa, Hoàng Minh Chính thì người ta khôi phục lại mức lương khá khá hơn thôi. Tuy nhiên họ cũng không tuyên bố là sửa sai. Họ sửa nhưng không tuyên bố.”

Ông Hoàng Minh Chính, người trực tiếp mang tinh thần xét lại từ Liên Xô về Việt Nam xứng đáng là người tiên phong vì đã đề nghị đảng cộng sản Việt Nam thay đổi phương hướng trong chính sách của mình nhưng ông đã phải trả một giá rất đắt cho ý tưởng này. Theo lời thuật lại của vợ ông là bà Lê Hồng Ngọc, tên thật Nguyễn Thị Thanh Yến cho biết chồng bà gia nhập đảng cộng sản rất sớm, vào năm 19 tuổi. Người ký giấy giới thiệu cho ông vào đảng là Lê Đức Thọ và cũng chính ông này ký lệnh bắt giam Hoàng Minh Chính vào năm 1967.

Ông bị tù cả thảy 11 năm và 9 năm quản chế, khởi đầu từ 1967 kéo dài đến năm 1990.

Hoàng Minh Chính mất ngày 7 tháng 2 năm 2008. Nói về vụ yêu cầu xét xử những bản án oan sai, trước đó trong một lần trả lời Đài Á Châu Tự Do ông nói:

“Từ trước tới nay tất cả những cái đơn kiện của công dân thực ra họ có trả lời đâu? Mà ở trong nước người ta thường dọi là ‘kiện củ khoai’. Vấn đề này khi kiện thì đối với phương diện pháp lý nói lên rằng có những vu khống như thế và tôi yêu cầu tòa án Việt Nam phải đưa vụ án này ra xét xử. Đấy là nguyên tắc về pháp lý nhưng tin tưởng thì tôi không hề tin tưởng bởi vì từ trước tới nay họ đều im lặng hết.”

Vụ án xét lại chống đảng có thể là vụ án chính trị cuối cùng và lớn nhất của đảng Cộng sản Việt Nam tuy nhiên nó sẽ chẳng bao giờ biến mất hay lãng quên bởi sự lẫn trốn trách nhiệm của những nhân vật cao cấp nhất trong đảng qua nhiều đời Tổng bí thư. Minh oan và trả lại sự thật cho các nạn nhân của vụ án là việc làm hoàn toàn có lợi cho đảng.

Mặc dù nếu công khai những sự kiện này ra thì rất nhiều khuôn mặt đang đứng phía sau hậu trường chính trị khó thoát khỏi sự truy cứu trách nhiệm trước lịch sử dân tộc, tuy nhiên việc làm này sẽ giúp Đảng cộng sản được tiếng là dũng cảm, dám nhận trách nhiệm trước dân chúng để bắt đầu một giai đoạn mới hòa nhập vào dòng chảy dân chủ thật sự với  thế giới.

“Lương y như từ mẫu” ở VN giờ ra sao?

“Lương y như từ mẫu” ở VN giờ ra sao?

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-10-25

thanhquang10252013.mp3

benh-vien-bach-mai-305.jpg

Bệnh Viện Bạch Mai, Hà Nội, ảnh minh họa chụp trước đây.

Courtesy yduoc365

Trong mấy ngày nay, vụ một bác sĩ thuộc Bệnh Viện Bạch Mai, Hà Nội, làm chết bệnh nhân tại thẩm mỹ viện tư của ông ta rồi vứt xác nạn nhân xuống sông khiến chấn động dư luận. Vấn đề cần được nêu lên là y đức, và cả đạo đức toàn xã hội Việt Nam, hiện ra sao?

Kiểu“độc nhất vô nhị”

Hôm 19 tháng 10 vừa rồi, BS Nguyễn Mạnh Tường, chủ nhân thẩm mỹ viện Cát Tường ở Hà Nội, giải phẩu thẩm mỹ làm chết bệnh nhân Lê Thị Thanh Huyền rồi vứt xác nạn nhân xuống sông Hồng để phi tang.

Giữa lúc công luận phản ứng mạnh mẽ, có ý kiến tin rằng vụ này chỉ là trường hợp ngoại lệ, kiểu“độc nhất vô nhị” mà thôi.

“Tại Việt Nam bây giờ, ngay ngành y – ngành được ví như “Người Mẹ Hiền” – giờ cũng đã trở nên tàn nhẫn và độc ác với ngay đồng loại của mình.
-MS Nguyễn Trung Tôn”

Nhưng vấn đề là trong thời gian gần đây, người dân trong nước ngày càng báo động về nhiều sai phạm, tiêu cực trong ngành y – diễn ra trong chiều hướng vô cảm, tắc trách, kỳ thị, thậm chí xem thường nhân mạng. Nhiều bệnh nhân than phiền y đức trong nước hiện giờ xuống cấp trầm trọng, y giới, ngoài “sai sót về chuyên môn”, thường không thể hiện tinh thần “lương y như từ mẫu”, đó là chưa kể “văn hóa phong bì” nhan nhản trong các bệnh viện vì nếu thân nhân nuôi bệnh thiếu sự “bôi trơn” đó, bệnh nhân gặp nhiều khó khăn, nhất là họ lo cho tính mạng người thân đang trong tình trạng “chỉ mành treo chuông”.

Từ Hà Nội, cụ Lê Hiền Đức, từng được thế giới trao giải thưởng “Liêm chính” và vinh danh chống tham nhũng, báo động:

bac_si_vut_xac_benh_nhan_250.jpg

BS Nguyễn Mạnh Tường, chủ nhân thẩm mỹ viện Cát Tường ở Hà Nội bị công an bắt hôm 22 tháng 10. Courtesy 24h.

“Tôi vô cùng bức xúc. Bây giờ đạo đức, y đức  xuống cấp quá rồi. Tinh thần trách nhiệm, đạo đức của ngành y nó thế nào rồi? Cái ngành y đang xuống cấp một cách kinh khủng. Và phải nói lỗi một phần lớn là ở Bộ trưởng Bộ Y tế, chẳng có trình độ, không có giáo dục y đức gì cả.”

Từ Thanh Hóa, MS Nguyễn Trung Tôn lưu ý rằng lâu nay, câu “Lương y như từ mẫu” gắn liền với ngành y. Nhưng trên thực tế tại Việt Nam, trong những năm gần đây, nhiều sự kiện liên quan đến vấn đề y đức gần như liên tục xảy ra:

“Đặc biệt chỉ trong vòng tháng 10 này thôi, cả sản phụ chết ở Thanh Hóa. Rồi tới chuyện ông BS Nguyễn Mạnh Tường dù không có giấy phép hành nghề thẩm mỹ nhưng vẫn hành nghề lén lút – mà thực ra là giữa thanh thiên bạch nhật. Nhưng nếu không có sự kiện bệnh nhân của ông ta chết và bị vứt xác xuống sông và sự kiện này không được khui ra thì phòng thẩm mỹ của ông ta vẫn còn tồn tại. Và vụ này là dấu hiệu cho thấy y đức ở Việt Nam ngày nay đã xuống cấp đến mức báo động – chẳng còn có thể gọi là y đức được nữa! Tại Việt Nam bây giờ, ngay ngành y – ngành được ví như “Người Mẹ Hiền” – giờ cũng đã trở nên tàn nhẫn và độc ác với ngay đồng loại của mình.

Tất cả được tính bằng tiền

Cụ Lê Hiền Đức nhân tiện đi vào chi tiết hơn, nhắc đến trường hợp 3 cháu nhỏ ở Quảng Trị tim vaccine, nhưng “rút mũi kim ra chết luôn”; còn ở bệnh viện Hoài Đức thì “nhân bản”: khi bệnh viện lấy máu để xét nghiệm cho bệnh nhân thì không làm xét nghiệm mà lại dùng kết quả xét nghiệm của bệnh nhân khác – “hàng mấy nghìn ca nhân bản như thế”; rồi cũng trong hàng mấy nghìn ca,Viện Mắt Hà Nội đã tráo đổi thủy tinh thể có giá rẻ hơn.

“Khi vào phòng cấp cứu, anh bác sĩ nhìn thấy tôi, nói một câu rất lạnh lùng, “Bác ơi, bác đi về đi, thứ Hai đến nhé”.
– Cụ Lê Hiền Đức”

Vẫn theo cụ Lê Hiền Đức, dịch nhầy dùng để thay thủy tinh thể, đáng lẽ ra của Mỹ và một người được dùng 2 ống dịch nhầy, thì lại sử dụng một ống dịch nhầy của Ấn Độ cho 4 bệnh nhân cùng chung một lọ và chung kim tiêm, không thử HIV, không thử viêm gan B. Rồi mẹ con sản phủ ở Thanh Hóa như vừa nói đã tới ngày sinh nở, cần thiết mổ, nhưng bệnh nhân kêu cứu thì không được đáp ứng, không được mổ kịp thời. Hậu quả là hai mẹ con này chết vì bác sĩ, y tá không có tinh thần trách nhiệm. Và cách đây mấy ngày xảy ra vụ bác sĩ Nguyễn Mạnh Tường ném xác bệnh nhân xuống dòng sông như vừa nói. Cụ Lê Hiền Đức nhân tiện kể lại chính trường hợp của cụ:

“Tôi đã 82 tuổi rồi. Hôm ấy đang đêm thứ Bảy, tôi bị đau khắp người, không cựa nỗi nữa. Con tôi bế lên ô tô rồi bế xuống đặt tôi vào xe lăn và đưa vào phòng cấp cứu. Mà trước khi đến bệnh viện tôi đã nhờ gọi điện cho giám đốc bệnh viện, hỏi rồi. Nhưng khi vào phòng cấp cứu, anh bác sĩ nhìn thấy tôi, nói một câu rất lạnh lùng, “Bác ơi, bác đi về đi, thứ Hai đến nhé”!

Theo MS Nguyễn Trung Tôn, dù dưới khẩu hiệu “Lương y như từ mẫu”, nhưng ở Việt Nam hiện giờ, thực chất, tất cả phải được tính bằng tiền; đồng tiền đang hạ thấp lương tâm con người Việt Nam, đặc biệt trong ngành y. Mà không phải đạo đức trong ngành y đang là vấn đề, mà đạo đức nói chung trong toàn xã hội cũng trên đà sa sút đáng ngại. MS Nguyễn Trung Tôn nhận xét:

“Tình trạng đạo đức ở Việt Nam hiện nay không riêng gì ở ngành y, mà trong toàn xã hội, hiện ở mức đáng báo động! Có hai nguyên nhân có thể khiến tình trạng đạo đức trong xã hội Việt Nam xuống cấp như vậy, đó là nó bị ảnh hưởng trực tiếp bởi nền giáo dục Việt Nam, và bởi nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nửa vời khiến người ta bước đi những “bước chân khập khiễng”. Nó đẩy con người ta đến tham vọng và đánh mất đi lương tâm đạo đức, đặc biệt là dưới sự lãnh đạo của đảng CS, các cuộc phát động “học tập và làm theo tấm gương của Hồ Chí Minh”. Dưới sự cai trị của đảng CS, người ta có thể làm bất cứ điều gì chỉ vì tiền, vì quyền, vì địa vị, hầu kiếm thật nhiều tiền để cùng một mục đích là xây dựng “thiên đàng XHCN” cho chính đảng của họ mà thôi.”

Nếu ngày xưa, tiên sinh Trần Tế Xương than cho đạo đức xã hội suy đồi, rằng “Nhà kia lỗi đạo, con khinh bố, mụ nọ chanh chua, vợ chửi chồng”, thì xã hội Việt Nam ngày nay, theo nhận xét của TS Nguyễn Xuân Diện, “Những vụ giết người, cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc ác, quyết liệt hơn”.

Đạo hiếu

Đo hiếu


Trầm Thiên Thu

10/23/2013

Tháng Mười Một được Giáo Hội Công Giáo dành riêng để cầu nguyện cho các linh hồn, đồng thời nhắc nhở mọi người nhớ tới tiền nhân, nhất là cha mẹ mình. Điều đó chứng tỏ Giáo Hội Công Giáo quan tâm chữ Hiếu chứ không như những người ngoài Công Giáo hiểu lầm!

Tột cùng Thiện không gì bằng Có Hiếu, tột cùng Ác không gì bằng Bất Hiếu. Đó là đạo làm người. Dù là ai trong tôn giáo hay cuộc sống đời thường, từ kẻ cùng đinh trong xã hội tới người có quyền lực cao nhất, trước tiên người ta phải LÀM NGƯỜI, tức là có Đạo Làm Người. Không giữ Đạo Làm Người thì kẻ đó phải bị nguyền rủa.

Kinh thánh dạy: “Mỗi người phải kính sợ cha mẹ” (Lv 19:3), “Bất cứ người nào nguyền rủa cha mẹ, thì phải bị xử tử. Nó đã nguyền rủa cha mẹ, thì máu nó đổ xuống đầu nó” (Lv 20:9), và “Đáng nguyền rủa thay kẻ khinh dể cha mẹ!” (Đn 27:16). Với người Công Giáo, nhà có người qua đời được gọi là “Nhà Hiếu”. Chắc hẳn không phải ngẫu nhiên mà tiền nhân đã dùng hai chữ đó! Và Hiếu cũng là một đạo: Đạo Hiếu. Đạo là đường ngay nẻo chính mà ai cũng phải bước theo suốt đời!

Trong một buổi phát sóng của chương trình “Bạn Hãy Nói Với Chúng Tôi” lúc 22 giờ 30 (hằng ngày phát trên kênh VOV, hệ 2) có một câu chuyện thật thương tâm về tình mẫu tử. Nghe xong chắc hẳn ai cũng phải “nóng máu” mà thương cho bà cụ và căm phẫn đứa con “xác người, dạ thú” kia!

Bà cụ năm nay đã 81 tuổi, ở Hà Nội (rất tiếc là nhà đài không cho biết tên tuổi và nơi ở cụ thể, vì lý do “tế nhị”). Chồng bà đã mất lâu. Bà một mình nuôi 3 đứa con: Đứa con trai lớn là con nuôi, 53 tuổi; đứa con thứ hai 45 tuổi; và đứa con gái thứ ba 42 tuổi. Các con bà đã có gia đình riêng. Cha mẹ luôn yêu thương con cái. Với người Bắc và người Trung, cha mẹ yêu con đến nỗi quên mình và không mong con các sẽ đền đáp (người Nam thì nuôi con và hy vọng chúng sẽ đền đáp). Với bà cụ đau khổ kia cũng coi con trai là “của để dành” – vì dân Việt thường ảnh hưởng sâu nặng quan niệm “nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (1 con trai

coi là “có”, 10 con gái coi như “không”).

Đứa con nuôi và cô con gái út không có vấn đề gì. Đứa con trai 45 tuổi do bà rứt ruột đẻ ra lại có vấn đề nghiêm trọng. 19 năm anh ta lấy vợ thì bà ăn riêng 18 năm, dù ở chung nhà. Vì tuổi cao sức yếu, nay ốm mai đau, bà mới ăn chung và “lệ thuộc” vào vợ chồng anh ta khoảng 1 năm nay. Khi bà nằm bệnh viện, anh ta thường xuyên vào thăm và “rỉ tai” khiến bà ký giấy cho xong, vì bà quá mệt mỏi cả tinh thần lẫn thể lý. Thế là anh ta tráo trở, làm sổ đỏ và tách hộ khẩu, đất đai do anh ta đứng tên. Anh ta đã lừa chính mẹ ruột mình!

Chuyện không chỉ vậy. Hàng ngày, anh ta luôn “kiếm chuyện” la hét bà, mọi thứ đều đổ lỗi cho bà, thậm chí là đánh đập bà như cơm bữa mà không hề thương tiếc. Cô con dâu là giáo viên cấp I (sic!), đã không can ngăn chồng làm ác mà còn “đổ dầu vào lửa”. Cô ta cũng kiếm chuyện “đá thúng đụng nia, đá mèo khoèo rế”, vào hùa với chồng để hành hạ mẹ. Cứ đến bữa cơm thì cô ta lại la rầy đứa con: “Già rồi còn ngu”. Mới đây, không biết cô con dâu giáo viên “to nhỏ” với chồng thế nào mà anh ta tức tốc về nhà tát bà cụ mấy cái, rồi đuổi bà cụ ra khỏi nhà.

Cô con gái út nhiều lần khuyên can anh nhưng vô ích. Anh ta còn dõng dạc tuyên bố: “Quyền ở tay ông, lôi thôi ông đuổi khỏi nhà. Có tiền không chịu bỏ ra, chết ông bỏ thối”. Nghe những lời anh ta nói mà “nổi da gà” và “rởn tóc gáy”. Vì tham lam mà anh ta bất chấp đạo lý làm người, đạo là con với mẹ mình! Thật vậy, lòng tham không có đáy, “dù đá có biến thành vàng thì lòng người vẫn không thỏa mãn” (Ngạn ngữ Trung Hoa).

Balze nói: “Lòng Mẹ là vực sâu mà dưới đáy luôn có sự bao dung”. Nhưng bà cụ kia đã chịu đựng quá nhiều, bà đã kiệt sức, cuối đời mà bà không được thanh thản. Và nay bà làm đơn kiện đứa con “trời đánh” đó, nhưng lòng người mẹ còn băn khoăn không biết bà làm vậy có quá đáng không.

Ước mong sao những người con hãy tỉnh thức mà báo hiếu phần nào với song thân phụ mẫu – dù không bao giờ có thể đền ơn đáp nghĩa đủ, nếu không sẽ không còn cơ hội, vì Petit Sein đã xác định: “Cái chết của người mẹ là nỗi đau buồn thứ nhất khi người ta khóc mà không có mẹ bên cạnh dỗ dành”.

Người ta có thể chọn nhiều thứ nhưng không thể chọn cha mẹ, dù cha mẹ có thế nào thì vẫn là người sinh thành và dưỡng dục, dù con có lớn mấy (thành cha mẹ, thành ông bà) thì cũng vẫn là con của cha mẹ mình. Công lao sinh dưỡng lớn lao lắm:

Công cha nặng lắm, ai ơi!
Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cưu mang


Người ta có thể tìm lại được nhiều thứ đã mất, nhưng không bao giờ tìm lại được cha mẹ đã mất. Khi các ngài qua đi, không còn trên cõi đời này, chúng ta sẽ cảm thấy hụt hẫng, trống vắng, để rồi…

Chiều chiều ngó ngược ngó xuôi
Ngó không thấy mẹ, bùi ngùi nhớ thương!


Chữ Hiếu lớn lao và quan trọng lắm. Chẳng ai trả công sinh dưỡng đúng mức cho cha mẹ, mà chính các ngài cũng chẳng mong con cái đáp đền, nhưng làm người phải biết đạo làm người, và làm con phải biết đạo làm con – dù người đó là ai:

Lo đêm rồi lại lo ngày
Ở sao hiếu thảo cho tày phận con.

RA CHỖ NƯỚC SÂU

RA CHỖ NƯỚC SÂU

Tác giả: Lm. Vĩnh Sang, DCCT

Hôm nay ngày khánh nhật truyền giáo, mọi nhà thờ, mọi sinh hoạt, mọi bài báo rầm rộ theo chủ đề : Loan báo Tin Mừng. Lời Chúa sai đi đươc nhấn mạnh, được quảng bá, được lập đi lập lại. Những bài hát với những lời “có cánh’ được hát vang, được trình bày, được “làm cho Thánh lễ thêm phần sốt sắng”.Tôi tự hỏi ngày mai thì sao ? Hoa sẽ trên bàn thờ sẽ tàn, chủ đề Thánh lễ sẽ đổi, bài hát sẽ thay, mọi người sẽ quên ? và đâu lại vào đấy.

Tôi có bi quan lắm không ? Bao nhiêu người đang ngày đêm miệt mài với công cuôc loan báo Tin Mừng, bao người trẻ tiếp nối bước chân hăng hái lên đường, bao nhiêu hy sinh âm thầm, bao nhiêu lời nguyện cầu, bao nhiêu những đóng góp cho việc truyền giáo, tôi có bi quan lắm không ?

Nhưng sao còn bao nhiêu người, mênh mông là người chưa biết Chúa, bao nhiêu vùng, bao la là vùng chưa biết Chúa, quá nhiều gía trị, quá nhiều lãnh vực chưa có dấu ấn Tin Mừng. Xã hội của tôi đang sống còn bạo lực, còn vô cảm, còn gian ác, còn mưu mẹo điêu ngoa lọc lừa, còn dối trá, còn bất công, còn chà đạp nhau.

Trong bài nói chuyện về Tân phúc âm hóa, Đức Thanh Cha Phanxico đưa ra một hình ảnh : “bước ra tiền đình đức tin”, tiền đình nhà thờ dành cho những người chưa có đức tin, những người dự tòng dừng ở đây, nghe xong lời Chúa thì ra về, họ chưa được vào trong ngôi nhà đức tin của Hội Thánh. Bước ra tiền đình Đức Tin nghĩa là ra khỏi nhà mình, đến với những người chưa tin, chưa biết Chúa. “Lễ xong, chúc anh chị em đi bình an”, nghĩa là đi trong bình an để loan báo Tin Mừng. Hội Thánh không giữ chúng ta ở lại mãi trong ngôi nhà đức tin, nhưng bảo chúng ta ra đi.

Ở lại và lo chăm chút cho ngôi nhà của mình là đi ngược lại những gì Chúa Giêsu và Hội Thánh mong muốn. Narcis là tên của một vị thần trong thần thoại Hy Lạp, anh ta hãnh diện về vẻ đẹp của mình, anh ta chiêm ngắm vẻ đẹp của mình trên mặt nước, anh ta đã lộn cổ xuống giếng khi đang chiêm ngắm và thỏa mãn về mình. Đức Thánh Cha Phanxico cảnh báo chúng ta về tình trạng Narcisism. Nhiều cộng đoàn tín hữu đang bị rơi vào tình trạng này, cái nguy hiểm là hãnh diện về thành tích của mình, sự giàu có sang trọng của mình, truyền thống của mình. Nhiều cộng đoàn đang rầm rộ tổ chức các lễ mừng to lớn của mình, diễn văn ca tụng, hoa nến tưng bừng.

Muốn thay một bộ bàn ghế tiếp khách ở nhà xứ đáng giá hàng trăm triệu, hãy nhớ đến những ngôi nhà nguyện rách nát ở vùng sâu. Muốn đổi gạch trong nhà thờ cho hợp thời trang, dự toán lên đến hàng trăm triệu, có khi là 1 tỷ, hãy nhớ đến những trẻ thơ thiếu sách thiếu vở đến trường, … Thời buổi thông tin không thể không thấy, cả nhân loại trở nên một ngôi làng, chỉ môt cái click chuột, không thiếu những hình ảnh vùng sâu vùng xa hiện ra, anh Lazaro không còn nằm nơi vệ cửa, nhưng anh đang rất cụ thể ngay trên màn hình của chúng ta, cách gương mặt của ta vài tấc.

Hãy bước ra tiền đình đức tin, Hãy ra chỗ nước sâu, nước sâu chứ không phải chỗ nước nông !

Lm. Vĩnh Sang, dcct.

Khánh nhật Truyền giáo tháng 10/2013