Tham ô gần $10 triệu ‘chơi lô đề,’ cựu kế toán trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ lãnh án tử hình

Ba’o Nguoi -Viet

September 24, 2024

HÀ NỘI, Việt Nam (NV) – Tối 23 Tháng Chín, Tòa Án Thành Phố Hà Nội đã tuyên tử hình bị cáo Nguyễn Hoàng, cựu trưởng Phòng Tài Chính-Kế Toán, cựu kế toán trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương thuộc Bộ Y Tế, về tội “tham ô tài sản.”

Liên quan đến vụ án, hai bị cáo là cựu viện trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương Nguyễn Trần Hiển và Đặng Đức Anh, cùng lãnh ba năm tù về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.”

Hai bị cáo Nguyễn Trần Hiển và Đặng Đức Anh khi còn đương nhiệm. (Hình: VNExpress)

Cùng tội danh trên, bị cáo Phạm Sơn Thủy, 65 tuổi, cựu kế toán trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương bị lãnh bốn năm tù.

Báo Người Lao Động dẫn cáo trạng cho hay Tháng Hai, 2023, phát giác bị cáo Nguyễn Hoàng, trưởng Phòng Tài Chính Kế Toán, cựu kế toán trưởng Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương, đã rút 110 tỷ đồng ($4.47 triệu) từ bốn tài khoản của viện nhưng không nhập quỹ, bị cáo Đặng Đức Anh đã gửi đơn tố cáo sự việc đến Bộ Công An.

Qua điều tra xác định, từ Tháng Ba, 2009 đến Tháng Hai, 2023, Viện Vệ Sinh Dịch Tễ đã mở sáu tài khoản tại ngân hàng Sacombank để tiếp nhận, giải ngân các dự án, tài trợ của các tổ chức phi chính phủ, ngoại quốc, các tổ chức cá nhân trong nước và lợi nhuận từ các hoạt động dịch vụ của viện.

Trong quá trình quản lý, sử dụng, ông Nguyễn Hoàng với vai trò là kế toán viên, rồi kế toán trưởng… đã viết 409 giấy rút tiền khống để rút số tiền hơn 246 tỷ đồng ($9.99 triệu).

Để rút tiền trót lọt, khi trình ký các “giấy rút tiền,” ông Hoàng đã viết khống đề nghị tạm ứng của các đơn vị, phòng ban thuộc Viện Vệ Sinh Dịch Tễ, lợi dụng những lúc hai ông Nguyễn Trần Hiển,70 tuổi, và Đặng Đức Anh, 60 tuổi, bận công việc rồi trà trộn các “giấy rút tiền” vào tập văn bản, chứng từ cần ký gấp để hai sếp ký, phê duyệt.

Sau khi rút tiền, để sáu tài khoản luôn còn tiền tránh bị phát hiện “rút ruột,” ông Hoàng nộp lại 94 tỷ đồng ($3.8 triệu). Số tiền hơn 152 tỷ đồng ($6.1 triệu) còn lại, ông ta chiếm đoạt “không chi cho bất kỳ ai.”

Khai với cơ quan điều tra, bị cáo Nguyễn Hoàng cho biết toàn bộ số tiền sau khi chiếm đoạt ông ta dùng chi tiêu cá nhân và nhờ đồng nghiệp tại Phòng Hành Chính-Vật Tư ghi các số lô đề thông qua ứng dụng Viber, việc thắng thua đều giao dịch với đồng nghiệp bằng tiền mặt tại chỗ ít người qua lại trong viện. Đồng thời, xóa nội dung tin nhắn ngay ngày hôm sau để che giấu.

Về việc hai đời viện trưởng bị “qua mặt,” báo Tuổi Trẻ dẫn lời Hội Đồng Xét Xử cáo buộc trong giai đoạn làm viện trưởng, bị cáo Đặng Đức Anh “đã không kiểm tra các chứng từ chi quyết toán, không kiểm tra quỹ tiền mặt của đơn vị, không thực hiện việc kiểm kê, đối chiếu số dư trong các tài khoản ngân hàng, tin tưởng vào chữ ký xác nhận của kế toán trưởng, nên dễ dàng ký vào 330 giấy rút tiền do Nguyễn Hoàng trình lên, gây thất thoát 129 tỷ đồng ($5.2 triệu).

Trong 14 năm, Viện Vệ Sinh Dịch Tễ Trung Ương bị kế toán “rút ruột” gần $10 triệu. (Hình: Đầu Tư)

Tương tự, bị cáo Nguyễn Trần Hiển cũng bị cáo buộc “không kiểm tra phương án chi cũng như chứng từ quyết toán chi do Nguyễn Hoàng trình lên; tin tưởng khi thấy chữ ký của Phạm Sơn Thủy nên dễ dàng ký duyệt 78 giấy rút tiền, gây thất thoát trong giai đoạn làm viện trưởng là hơn 23 tỷ đồng ($934,605).

Đến nay, bốn bị cáo đã nộp khắc phục tổng 3.85 tỷ đồng ($156,445), trong đó bị cáo Nguyễn Hoàng nộp 3.2 tỷ đồng ($130,032).

Cơ quan tố tụng xác định số tiền còn lại chưa được khắc phục là gần 149 tỷ đồng ($6 triệu).

Ngoài ra, bị cáo Hoàng đang bị kê biên một xe hơi, gần 2,500 mét vuông đất tại Quảng Bá, quận Tây Hồ, Hà Nội; huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh; và huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. (Tr.N)


 

Lời chào đầu tiên từ Trần Huỳnh Duy Thức

Ba’o Nguoi-Viet

September 24, 2024

Trần Huỳnh Duy Thức/SGN

Kính thưa quý đồng bào thân yêu,

Cuối cùng tôi đã trở về trong vòng tay yêu thương của gia đình, bạn bè, thân hữu và đồng bào thân yêu, những người đã che chở và chia sẻ với tôi những năm tháng gian truân và hào hùng của quãng thời gian dài gần 16 năm qua.

Dù cách trở tù đày, tôi vẫn luôn cảm nhận sự đồng cảm và tiếp sức của mọi người thông qua sự quảng bá rộng rãi các bài viết của tôi từ nhà tù, đặc biệt sự ủng hộ đồng lòng những cuộc tuyệt thực mang thông điệp quan trọng của tôi.

Nhân đây, tôi xin chân thành cảm ơn những tình cảm quý báu ấy của bè bạn trong và ngoài nước, nhất là các cơ quan đại diện ngoại giao Hoa Kỳ, EU, Đức, Pháp, Úc và Canada, các tổ chức quốc tế bảo vệ nhân quyền, các hãng truyền thông và báo chí hải ngoại cũng như quốc tế.

Đặc biệt, tôi bày tỏ lòng biết ơn vô hạn đến các thành viên trong gia đình tôi, những người đã dành cho tôi tình yêu thương vô bờ bến, và phải chịu đựng nỗi đau cùng sự dày vò tinh thần và thể xác, thậm chí còn lớn hơn những gì tôi đã trải qua.

Chắc hẳn quý bạn đang muốn nghe những câu chuyện về nghịch cảnh mà tôi đã đối diện trong thời gian qua. Có rất nhiều câu chuyện như vậy cần được kể ra, nhưng xin hẹn mọi người dịp sau khi thuận tiện.

Duy có một điều khá khôi hài mà tôi muốn kể ngay với quý bạn lúc này. Đó là việc tôi bị đặc xá cưỡng bức, một chuyện có thể nói là vô tiền khoáng hậu ở đất nước này.

Ngày 19/09/2024, đại diện của Trại giam số 6 thừa lệnh Bộ Công an thông báo với tôi rằng Chủ tịch nước muốn đặc xá cho tôi trước thời hạn, và yêu cầu tôi làm đơn xin đặc xá.

Tất nhiên, ngay lập tức tôi từ chối nhận đặc xá, và không ký vào đơn từ nào cả. Lý do là vì tôi phải được trả tự do theo đúng quy định mới của Bộ luật Hình sự hiện hành về hành vi mà tôi bị cáo buộc vi phạm, chứ tôi không cần ra tù nhờ sự đặc xá đó.

Vậy mà vào lúc 17 giờ 45 ngày 20/09/2024, hơn 20 người của Trại giam số 6 đã xông vào buồng giam đọc thông báo rằng Chủ tịch nước đã ký Quyết định đặc xá số 940 ngày 20/09/2024 về việc “đặc xá” cho tôi. Vì vậy tôi trở thành người tự do và không có quyền tiếp tục ở lại trại giam. Tôi phản ứng ngay rằng tôi không có tội cũng như lý do gì để nhận đặc xá và sẽ không đi đâu cả.

Thế là họ cưỡng bức, khiêng tôi ra khỏi cổng nhà tù trước sự phản đối của các anh em tù chính trị ở đó, rồi đưa tôi lên xe ra sân bay Vinh. Cuối cùng tôi bị buộc phải lên máy bay trong chuyến muộn vào Sài Gòn.

Một cách mặc nhiên, tôi đã góp phần quan trọng vào sự hỗ trợ chuyến công du Hoa Kỳ của ông Chủ tịch nước, một chuyến đi mang hy vọng về sự chuyển đổi mạnh mẽ cho đất nước trong tương lai. Các nhân viên an ninh bày tỏ sự vui mừng khi tôi bước lên máy bay và xin chụp một tấm hình kỷ niệm với tôi.

Bây giờ tôi lại muốn chia sẻ với mọi người đôi chút về tương lai. Hãy tin rằng dân tộc ta đang bước vào một cuộc chuyển mình vĩ đại không thể đảo ngược. Đó là tiến trình chuyển đổi ôn hòa được dẫn dắt bởi Trào lưu mềm với năng lượng mềm, giúp chuyển hóa mọi năng lượng giận dữ tích tụ bao đời. Điều tốt đẹp đó đang đến gần hơn bao giờ hết. Mong quý đồng bào giữ vững niềm tin!

Hẹn sớm gặp lại mọi người.


 

Để tìm thấy niềm vui – Phùng Văn Phụng

Tác giả: Phùng Văn Phụng

Chuyện kể rằng: “Trên tuyến xe lửa đi Paris, có một sinh viên trẻ ngồi cạnh một cụ già. Chỉ ít phút sau khi đoàn tàu chuyển bánh, cụ rút trong túi áo ra một cỗ tràng hạt và chìm đắm trong cầu nguyện. Người sinh viên quan sát cụ già với vẻ bực bội. Sau một hồi lâu, xem chừng không thể nào chịu nổi, anh ta mạnh dạn lên tiếng:

– Thưa Ông, Ông còn vẫn tin vào những chuyện nhảm nhí thế à?

Cụ già thản nhiên trả lời:

– Đúng vậy, tôi vẫn tin. Còn cậu, cậu không tin sao?

Người thanh niên xấc xược trả lời:

– Lúc nhỏ tôi có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin vào những

chuyện nhảm nhí ấy được, bởi vì khoa học đã mở mắt cho tôi. Ông cứ tin tôi đi và hãy học hỏi những khám phá mới của khoa học, rồi ông sẽ thấy rằng những gì ông tin từ trước đến nay đều là những chuyện nhảm nhí hết.

Cụ già nhỏ nhẹ hỏi người sinh viên:

– Cậu vừa nói về những khám phá mới của khoa học, liệu cậu có thể giúp tôi hiểu được chúng không?

Người sinh viên nhanh nhẩu trả lời:

– Ông cứ cho tôi địa chỉ, tôi sẽ gởi sách vở đến cho Ông, rồi Ông sẽ say mê đi vào thế giới phong phú của khoa học cho mà xem.

Cụ già từ từ rút trong túi ra một tấm danh thiếp và trao cho người sinh viên. Đọc qua tấm danh thiếp, người sinh viên bỗng xấu hổ đến tái mặt và lặng lẽ rời sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp ấy có ghi:

“Louis Pasteur, viện nghiên cứu khoa học Paris”.

(Louis Pasteur, nhà bác học người Pháp sống thế kỷ 19, cha đẻ của lý thuyết lên men, vi khuẩn và vaccin trừ bệnh chó dại. Khi Ông mất, chính phủ Pháp tổ chức quốc tang và trên đường linh cữu ông đi qua, từng đám người quì xuống chan hoà nước mắt. Trong lịch sử, ít có nhà bác học nào mà nhân loại tỏ lòng biết ơn sâu sắc như thế. Vậy mà nhà bác học vĩ đại này đã say mê tràng hạt mân côi.) Nguồn:

https://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/songdep/2013-2014/40BaNhaBacHoc.htm?fbclid=IwY2xjawFb_jxleHRuA2FlbQIxMQABHXCdi8h9lzStq1TnT3Pjw3yAkA0dMKDQs5FBJvER0BZkLSF5b9FnFpe-ZQ_aem_GGcuQLI2Ljqim541jm3kAg

***

 Chuyện về Khổng Tử: Khổng Tử sinh ở ấp Trâu, nước Lỗ năm -551 mất ở ước Lỗ năm -479.

Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất, Đức Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, phía Bắc thành nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông. Ba ngàn đồ đệ của Khổng Tử đều thương tiếc và than khóc, nguyện để tang Thầy 3 năm. Có hơn 100 môn đệ làm nhà chung quanh phần mộ để lo phụng tự trong 3 năm, riêng Tử Cống ở đó hết 6 năm mới thôi. Chu vi đất quanh mộ của Khổng Tử rộng chừng 100 mẫu mà không hề có cây gai và cỏ may mọc. Học trò bảo nhau đi tìm các thứ hoa thơm, cỏ lạ ở các nơi đem về trồng khắp chung quanh. Nguồn:

https://luatminhkhue.vn/mot-so-dac-diem-ve-noi-dung-tu-tuong-quan-ly-cua-khong-tu.aspx

Nguyễn Hiến Lê viết: “Nhưng tôi cũng tin rằng chỉ độ vài chục năm nữa, tinh thần đó sẽ mất hẳn, con cháu tôi sẽ không cúng giỗ nữa và tôi cho như vậy là tự nhiên, thời đại thay đổi thì phong tục phải thay đổi, (trang 239, sách “Khổng Tử và Luận Ngữ” của Nguyễn Hiến Lê – xuất bản năm 2003).

Từ khi có đại dịch covid 19 xảy ra đầu năm 2020 trên toàn thế giới, hạn chế sự gặp gỡ, tập hơp nhiều người, các đám giỗ cũng đã bớt đi nhiều rồi!

Khi người Việt Nam qua Mỹ sinh sống, rồi vì nhu cầu công ăn việc làm, đi khắp nơi, sống ở các tiểu bang khác nhau. Anh chị em khó tập hợp để làm đám giỗ như lúc còn sống ở Việt Nam, các gia đình sống gần nhau trong làng xã nên khi có đám giỗ rất dễ tập hợp, gặp gỡ với nhau.

Tuy nhiên, có nhiều gia đình đông anh chị em nhưng không thương yêu nhau, không thuận thảo với nhau, mỗi gia đình đều tổ chức đám giỗ riêng tại nhà, không tập hợp được, như vậy mất hết ý nghĩa của đám giỗ. Vì đám giỗ có mục đích giúp con cháu gặp gỡ, yêu thương, hoà thuận cùng nhau và giúp đỡ lẫn nhau khi cần.

***

Chết là hết hay có sự sống đời sau:

Vợ anh Nguyễn, mặc dầu có đi nhà thờ đều đặn, nhưng cũng đã nói với anh Nguyễn nhiều lần rằng: “Nếu tôi có chết không cần làm lễ gì cả, đem vất xuống sông, xuống biển hay bỏ vào thùng rác cũng được. CHẾT LÀ HẾT.”

Chết là HẾT có phải vậy không? Đạo Chúa dạy rằng Chết không phải là HẾT. Sau khi CHẾT có sự sống đời sau. Sự sống thay đổi mà không mất đi. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời (Thánh Phanxicô Assisi).

Cho nên con người, sau khi mất, rất cần bạn bè, người thân, con cháu cầu nguyện cho linh hồn người đã mất. Và tang quyến cũng cần sự chia sẽ nỗi đau buồn để bớt cô đơn, bằng sự hiện diện-trong ngày tang lễ-nhiều khi chỉ cần sự hiện diện đã làm vơi đi nỗi buồn rồi.

Hội Thánh cùng thông công, chúng ta cùng cầu nguyện lẫn cho nhau.

Các Thánh ở trên nước Thiên Đàng cầu nguyện cho chúng ta và thân nhân ở nơi Luyện ngục và chúng ta, Hội Thánh chiến đấu (còn đang sống trên dương thế) cũng có thể cầu nguyện cho thân nhân ở nơi Luyện ngục. Vì sao vậy? Vì trong Kinh Thánh có nói: “Vì ở đâu có hai ba người họp lại nhân danh Thầy, thì có Thầy ở đó giữa họ (Mt 18, câu 20)

Chính Chúa chọn con chứ không phải con chọn Chúa.? Vì sao vậy? Vì ân sủng của Chúa lôi kéo, tạo điều kiện gặp gỡ quen biết, để càng ngày con càng đến gần với Chúa Giê su hơn.

Để chi vậy? để con được ơn CỨU ĐỘ, để con có được đời sống VĨNH CỬU sau khi mất. Vì “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết, nhưng được sống muôn đời (Gioan 3,16). Có vậy thôi.

Đó là niềm tin. Niềm tin vào sự sống Vĩnh Cửu đời sau, niềm tin vào sự sống lại trong ngày sau hết.

Dân số Việt Nam 100 triệu hiện nay, chỉ có khoảng 7, 2 phần trăm là người công giáo, tin vào sự sống đời sau, sau khi mất.  Còn đối với thế giới, tính đến năm 2021, người công giáo chiếm 17,67 % mà thôi (Vatican news).

Thành ra, có được niềm tin, đó là ÂN SỦNG của Thiên Chúa, do đó thực sự ĐỨC TIN là một HỒNG ÂN.

Phùng Văn Phụng

Ngày 22 tháng 09 năm 2024

Ông Tô Lâm đi Mỹ: Gần 100 trí thức kêu gọi trả tự do cho nhà báo Huy Đức

Thư ngỏ kêu gọi trả tự do cho nhà báo Huy Đức dự kiến sẽ được gửi cho ông Tô Lâm khi ông tới Mỹ
Chụp lại hình ảnh,Thư kêu gọi trả tự do cho nhà báo Huy Đức dự kiến sẽ được gửi cho ông Tô Lâm khi ông tới Mỹ

Nhân chuyến công tác của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Mỹ, gần 100 trí thức trong và ngoài nước đã ký vào thư kêu gọi chính quyền Việt Nam trả tự do ngay lập tức cho nhà báo Huy Đức.

Nhà báo Huy Đức, tên thật là Trương Huy San, là tác giả bộ sách nổi tiếng Bên thắng cuộc và còn được biết đến với bút danh Osin. Ông là cây viết chính luận hàng đầu Việt Nam.

Vào chiều tối 7/6, Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an thông báo đã khởi tố ông Trương Huy San tội “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân” theo Điều 331 Bộ luật Hình sự. Đây là điều luật đã khiến nhiều nhà báo, luật sư, blogger, doanh nhân, nhà hoạt động vào tù.

Trong danh sách ký tên vào thư ngỏ ngày 20/9 kêu gọi trả tự do cho nhà báo Huy Đức, có các tên tuổi như nhà văn Phạm Thị Hoài (Đức), nhà kinh tế Vũ Quang Việt (Mỹ), Giáo sư Tường Vũ (Mỹ), dịch giả Nguyễn Nguyệt Cầm (Mỹ), nhà văn Thomas A. Bass (Mỹ), nhà báo Katrin Bennhold (New York Times, Mỹ), Giáo sư Ben Kerkvliet (Úc)…

Giáo sư sử học Peter Zinoman từ của Đại học California ở Berkeley là một trong những học giả ký tên trong thư kiến nghị.

Trả lời phỏng vấn BBC News Tiếng Việt ngày 20/9, ông nói rằng nhóm của ông sẽ cố gắng chuyển thư ngỏ tới Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm khi nhà lãnh đạo Việt Nam đến New York.

Ông Tô Lâm dự kiến sẽ có bài phát biểu quan trọng tại Hội nghị Thượng đỉnh Tương lai và Đại hội đồng Liên Hợp Quốc khóa 79 tại New York, theo thông báo chính thức từ Hà Nội.

Bên cạnh đó, có thông tin cho biết Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ dự một diễn đàn kinh doanh vào ngày 23/9, với sự tham gia của đại diện các doanh nghiệp Mỹ. Cùng ngày, ông có buổi tọa đàm tại Đại học Columbia ở New York.

Người đứng đầu Đảng và Nhà nước cũng sẽ gặp gỡ lãnh đạo chính quyền, Quốc hội, các đảng và một số người đứng đầu bộ, ngành của Mỹ.

Tuy nhiên, đây không phải là một chuyến thăm Mỹ chính thức của ông Tô Lâm.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Chuyến đi Mỹ diễn ra một tháng sau khi ông Tô Lâm thăm Trung Quốc.
Chụp lại hình ảnh,Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm sẽ dự Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York. Chuyến đi Mỹ diễn ra một tháng sau khi ông Tô Lâm thăm Trung Quốc.

‘Yêu sách của nhân dân An Nam’

Từ Mỹ, nhà nghiên cứu độc lập Thái Văn Cầu, người ký tên vào thư ngỏ, chia sẻ với BBC News Tiếng Việt vào ngày 21/9:

“Chúng tôi muốn phương Tây nhận thức được nhu cầu cấp bách thúc ép Việt Nam cải thiện hồ sơ nhân quyền và để những người bị bỏ tù chỉ vì dám nói lên chính kiến của mình không bị lãng quên.”

“Chúng tôi lên tiếng cho quyền lợi của Huy Đức và của những người Việt Nam khác, về bản chất giống với Yêu sách của nhân dân An Nam (Thỉnh nguyện thư của dân tộc An Nam) mà những người yêu nước Việt Nam, trong đó có thanh niên Nguyễn Tất Thành (sau này là ông Hồ Chí Minh), gửi đi vào năm 1919, cách đây hơn 100 năm.”

Thư ngỏ của gần 100 trí thức đa phần sống ở nước ngoài, gồm những giáo sư các trường đại học, tiến sĩ, nhà nghiên cứu độc lập và viên chức ngoại giao Mỹ cùng các nhà báo của The New York Times, The Guardian, The Atlantic.

Nhóm này bày tỏ “quan ngại sâu sắc” trước việc chính quyền Việt Nam bắt giam ông Trương Huy San. Thư ngỏ chuyển đến Tứ Trụ Việt Nam, các báo cáo viên đặc biệt của Liên Hợp Quốc và các đại sứ quán tại Việt Nam có đoạn:

“Chúng tôi kêu gọi chính quyền Việt Nam tuân thủ những điều khoản của hiến pháp Việt Nam và các hiệp định quốc tế mà Việt Nam đã ký kết, và trả tự do cho ông Huy Đức ngay lập tức.”

“Chúng tôi cũng mạnh mẽ yêu cầu chính quyền Việt Nam chấm dứt các hành động sách nhiễu, đe dọa hoặc ngược đãi dưới mọi hình thức những người phát biểu ý kiến và thể hiện quan điểm một cách ôn hòa.”…

Sức ảnh hưởng của Huy Đức

Mỹ từng có những tiếng nói mạnh mẽ chỉ trích hồ sơ nhân quyền của Việt Nam thông qua các báo cáo nhân quyền. Nhưng khi Việt Nam ngày càng trở thành một địa bàn để Mỹ tranh giành ảnh hưởng với Trung Quốc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, theo Giáo sư Peter Zinoman, vấn đề nhân quyền dần không còn được chú trọng.

Tuy nhiên, ông Zinoman tin rằng việc bắt giữ nhà báo Huy Đức có thể sẽ tạo ra sự e dè, quan ngại trong đầu các nhà hoạch định chính sách lẫn người dân Mỹ về độ tin cậy và tính ổn định của chính phủ Việt Nam.

“Một chính phủ không chấp nhận ý kiến bất đồng và phản biện ôn hòa sẽ bộc lộ các điểm yếu và sự yếm thế, điều này làm hiển lộ những khiếm khuyết khác.”

“Hơn nữa, nhà báo Huy Đức quen biết nhiều người Mỹ quan trọng, bao gồm những người có sức ảnh hưởng trong giới truyền thông, giới học thuật và trong chính phủ. Việc bắt giữ ông Huy Đức rõ ràng đã làm tổn hại đến danh tiếng của Việt Nam trong suy nghĩ của những nhân vật có sức ảnh hưởng này.”

Giáo sư sử học Zinoman kết luận rằng, thiệt hại về danh tiếng có thể tác động tiêu cực đến nỗ lực của Việt Nam trong việc đạt được bước tiến tích cực trong đàm phán với Mỹ về nhiều vấn đề, bao gồm cả mối quan hệ kinh tế.

Mỹ và Việt Nam vừa kỷ niệm một năm nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác Chiến lược Toàn diện
Chụp lại hình ảnh,Mỹ và Việt Nam vừa kỷ niệm một năm nâng cấp quan hệ lên mức Đối tác Chiến lược Toàn diện

Trước khi bị bắt, Facebook mang tên Truong Huy San với hơn 370.000 người theo dõi đã có một số bài phản biện gai góc về hệ thống chính trị Việt Nam, đặc biệt là nói đến vai trò của Đại tướng Tô Lâm (hiện là tổng bí thư, chủ tịch nước) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trước khi ông Trọng qua đời.

Trong bài viết Những suy nghĩ không rời rạc vào ngày 28/5, ông Huy Đức đã bình luận về vấn đề pháp quyền tại Việt Nam và nhận định rằng việc tái lập các ban Đảng thời ông Nguyễn Phú Trọng là “một bước lùi về chính trị”.

Bài viết có đoạn: “Tuy cảm phục mức độ liêm chính về mặt vật chất của ông Nguyễn Phú Trọng, dân chúng vẫn chưa thấy các dấu hiệu chứng tỏ sẽ có ‘Đổi mới II’ trong nhiệm kỳ cuối của ông. Nếu cho đến ngày nghỉ hưu ông không đưa ra được một lộ trình chính trị để đất nước dân chủ hơn, sự sạch sẽ của ông sẽ là vô nghĩa.”

Một bài viết khác có nhan đề Một quốc gia không thể phát triển dựa trên sự sợ hãi trên Facebook Truong Huy San nói về quyền lực của Bộ Công an trong hệ thống chính trị và điều hành nhà nước, và góp ý ông Tô Lâm nên “tư duy như một nguyên thủ chứ không phải tư duy như một người nắm chắc Bộ Công an”.

Đánh giá sức ảnh hưởng của cây bút Huy Đức, Giáo sư sử học Zinoman nhắc đến những bài báo điều tra của ông Huy Đức khi còn làm phóng viên của báo Tuổi Trẻ. Theo đó, ông Huy Đức đã vạch trần nhiều vụ bê bối tham nhũng lớn, trong đó các quan chức chính phủ, gia đình của họ và các doanh nhân.

Những bài viết, bài báo về tham nhũng của ông Huy Đức được cho là đã đưa ra lời cảnh báo hữu ích cho nhà cầm quyền tại Việt Nam rằng tính chính danh của họ có thể sẽ bị xói mòn trong mắt công chúng, thậm chí các nhà lãnh đạo có thể phải chịu hậu quả pháp lý vì lòng tham không đáy và các hành động phi pháp của mình.

“Theo tôi, những bài viết ấy đã có sức đánh động, mang lại hy vọng cho người dân rằng báo chí, truyền thông có thể được sử dụng như một công cụ đem lại sự công bằng xã hội chứ không chỉ là cơ quan ngôn luận răm rắp nghe theo chỉ đạo của một chính quyền phi dân chủ. Tôi có cảm giác chính quyền không thích những điều trung thực và đầy thú vị trong các bài viết của Huy Đức,” Giáo sư Zinoman nói với BBC.


Người Việt Tỵ Nạn Biểu Tình chống hành động của Tô Lâm trong quá khứ nhưng Họ hy vọng những thay đổi ông sẽ làm trong tương lai.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm phát biểu tại Liên Hiệp Quốc, 22/9/2024.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Việt Nam Tô Lâm phát biểu tại Liên Hiệp Quốc, 22/9/2024.

Phát biểu trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam trước Hội nghị Thượng đỉnh Tương lai của Liên Hiệp Quốc vào trưa 22/9, ông Tô Lâm nhấn mạnh “mục tiêu phát triển bền vững của thế giới và lợi ích của con người phải được đặt ở vị trí trung tâm, là mục tiêu cao nhất của chúng ta”.

Ông Tô Lâm, người cũng nắm chức Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, có thực quyền quyết sách cao nhất, phát biểu thêm rằng “Thành tựu khoa học, công nghệ phải phục vụ tiến bộ xã hội, hướng về con người, giải phóng con người, phát triển con người toàn diện…”, theo tường thuật trên trang web của Liên Hiệp Quốc (LHQ).

Hội nghị Thượng đỉnh Tương Lai diễn ra trong hai ngày 22 và 23/9 ở New York, Mỹ, với sự tham gia của nhiều nguyên thủ, nhà lãnh đạo các nước để thông qua Hiệp ước Cho Tương lai với các điều khoản về phát triển bền vững, cấp vốn cho phát triển, hòa bình và an ninh quốc tế, khoa học-kỹ thuật, đổi mới-sáng tạo, hợp tác kỹ thuật số, tuổi trẻ và thế hệ tương lai, và chuyển đổi việc quản trị toàn cầu.

Sự hiện diện của ông Tô Lâm ở New York được truyền thông nhà nước Việt Nam chủ ý nêu bật, theo quan sát của VOA. Thông tấn xã Việt Nam trích dẫn đại sứ của nước này tại LHQ Đặng Hoàng Giang nhấn mạnh rằng “Đây là lần đầu tiên Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam tham dự trực tiếp kỳ họp Đại hội đồng LHQ và cũng là hoạt động ngoại giao đa phương đầu tiên của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tại tổ chức quốc tế toàn cầu LHQ”.

Vẫn trong bài phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Tương Lai, ông Tô Lâm đưa ra quan điểm: “Thành tựu khoa học công nghệ cần thúc đẩy hợp tác, không trở thành công cụ chống lại các quốc gia, đi ngược lại khát vọng hoà bình, phát triển, công bằng và công lý của các dân tộc”.

Việt Nam “đề nghị tăng cường đẩy mạnh đầu tư nghiên cứu y học, giáo dục đào tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các giải pháp để phục vụ quảng đại quần chúng nhân dân, giảm thiểu đầu tư nghiên cứu chế tạo các loại vũ khí hủy diệt”, ông Tô Lâm nói tiếp trong bài phát biểu có tính lịch sử của một tổng bí thư đảng cộng sản Việt Nam tại LHQ.

Ông cũng kêu gọi các quốc gia “tăng cường đoàn kết, hợp tác và tôn trọng lẫn nhau, tuân thủ luật pháp quốc tế và Hiến chương LHQ và giải quyết các bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hoà bình” và “các nước lớn cần hành xử có trách nhiệm”, theo video của LHQ.

Sau khi ông Tô Lâm phát biểu, đã nổ ra một cuộc biểu tình phản đối ông ở bên ngoài trụ sở LHQ. Tham gia biểu tình là khoảng 100 người thuộc Cộng đồng người Việt quốc gia liên bang Hoa Kỳ; Cộng đồng người Việt ở Toronto, Canada; đảng Việt Tân và Hội Anh em Dân chủ, nhà hoạt động Nguyễn Văn Đài có mặt ở đó cho VOA biết.

Những lời của ông Tô Lâm đề cao “giải phóng con người” bị xem là không đáng tin, theo góc nhìn của ông Đài:

“Sau gần 10 năm dưới thời ông Tô Lâm, hầu như những tiếng nói đối lập, bất đồng chính kiến ở Việt Nam đã bị ông Tô Lâm xóa bỏ hoàn toàn. Phần lớn bị bắt cầm tù, phần thì chạy trốn ra nước ngoài tị nạn. Đấy là những ‘thành tích nhân quyền’ của ông ấy. Vi phạm nhân quyền rất là trầm trọng. Do vậy, lời nói của ông ấy trước LHQ rất là giả dối so với những gì ông ta đã làm trong khoảng 10 năm vừa qua”.

 

Khoảng 100 người biểu tình phản đối nhà lãnh đạo Việt Nam Tô Lâm ở New York, 22/9/2024.
Khoảng 100 người biểu tình phản đối nhà lãnh đạo Việt Nam Tô Lâm ở New York, 22/9/2024.

Mặc dù vậy, ông Đài, nhà tranh đấu từng bị chính quyền Việt Nam bỏ tù và về sau bị ép đi sống lưu vong ở Đức, nói với VOA rằng ông mong nhìn thấy Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm của Việt Nam sẽ có những bước đi để sửa chữa các sai lầm trong quá khứ, mang lại sự thay đổi tốt đẹp cho đất nước.

Lý giải cho suy nghĩ này, ông Đài nêu ra việc Việt Nam tha tù trước hạn cho hai nhà hoạt động nổi tiếng Trần Huỳnh Duy Thức và Hoàng Thị Minh Hồng trước khi ông Tô Lâm lên đường đi Mỹ được xem là dấu hiệu tích cực.

…Ông Đài nhấn mạnh rằng nhà lãnh đạo Việt Nam Tô Lâm cần phải có những bước đi thực chất hơn để cho thấy ông ấy có những thay đổi thực sự:

“Song song với trả tự do cho tù nhân lương tâm, tù nhân chính trị tại Việt Nam, thì ông ấy sẽ không bắt thêm bất kỳ nhà hoạt động đối lập nào ở trong nước nữa. Thứ hai, ông ấy phải có lộ trình cởi mở về truyền thông mạng xã hội, cho phép những tiếng nói phản biện, bất đồng chính kiến tiếp tục được thể hiện. Thứ ba, ông ta phải cởi mở về xã hội dân sự. Trước đây, ông ta đàn áp, xóa bỏ gần hết. Bây giờ ông ta phải cho hoạt động trở lại”.

Tiếp sau những bước đi trước mắt nêu trên, ông Đài bày tỏ kỳ vọng được thấy ông Tô Lâm tiến hành sửa đổi Hiến Pháp, ban hành các luật về biểu tình, lập hội, lập đảng phái… để Việt Nam có một tiến trình dân chủ.

VOA liên lạc với văn phòng của ông Tô Lâm và Đại sứ quán Việt Nam ở Washington, Mỹ, để tìm hiểu về phản ứng của họ đối với các quan điểm của ông Nguyễn Văn Đài, nhưng chưa có hồi đáp.

Tù Nhân Lương Tâm Trần Huỳnh Duy Thức: Cưỡng Bức Ra Tù, Tín hiệu đáng mừng cho Việt Nam

Ngày 19/9/2024, đại diện của Trại giam số 6 thừa lệnh Bộ Công an thông báo với tôi rằng Chủ tịch nước muốn đặc xá cho tôi trước thời hạn, và yêu cầu tôi làm đơn xin đặc xá.
Tất nhiên, ngay lập tức tôi từ chối nhận đặc xá, và không ký vào đơn từ nào cả. Lý do là vì tôi phải được trả tự do theo đúng quy định mới của Bộ luật Hình sự hiện hành về hành vi mà tôi bị cáo buộc vi phạm, chứ tôi không cần ra tù nhờ sự đặc xá đó.
Vậy mà vào lúc 17g45 ngày 20/9/2024, hơn 20 người của Trại giam số 6 đã xông vào buồng giam đọc thông báo rằng Chủ tịch nước đã ký Quyết định đặc xá số 940 ngày 20/9/2024 về việc “đặc xá” cho tôi. Vì vậy tôi trở thành người tự do và không có quyền tiếp tục ở lại trại giam. Tôi phản ứng ngay rằng tôi không có tội cũng như lý do gì để nhận đặc xá và sẽ không đi đâu cả.
Thế là họ cưỡng bức, khiêng tôi ra khỏi cổng nhà tù trước sự phản đối của các anh em tù chính trị ở đó, rồi đưa tôi lên xe ra sân bay Vinh. Cuối cùng tôi bị buộc phải lên máy bay trong chuyến muộn vào Sài Gòn.
Một cách mặc nhiên, tôi đã góp phần quan trọng vào sự hỗ trợ chuyến công du Hoa Kỳ của ông Chủ tịch nước, một chuyến đi mang hy vọng về sự chuyển đổi mạnh mẽ cho đất nước trong tương lai. Các nhân viên an ninh bày tỏ sự vui mừng khi tôi bước lên máy bay và xin chụp một tấm hình kỷ niệm với tôi.
Bây giờ tôi lại muốn chia sẻ với mọi người đôi chút về tương lai. Hãy tin rằng dân tộc ta đang bước vào một cuộc chuyển mình vĩ đại không thể đảo ngược. Đó là tiến trình chuyển đổi ôn hòa được dẫn dắt bởi Trào lưu mềm với năng lượng mềm, giúp chuyển hóa mọi năng lượng giận dữ tích tụ bao đời. Điều tốt đẹp đó đang đến gần hơn bao giờ hết. Mong quý đồng bào giữ vững niềm tin!
Hẹn sớm gặp lại mọi người.
 
Trần Huỳnh Duy Thức

Những ngày tháng trước khi vào tù

Sau hơn 15 năm tù đày tàn phá cơ thể tù.

TranHuynhDuyThuc11
TranHuynhDuyThuc3
nguyentientrung-bbc

BBC: Đây không phải là lần đầu tiên chính phủ Việt Nam cho trả tự do tù nhân bất đồng chính kiến trước một sự kiện ngoại giao quan trọng.

Kỹ sư tin học Nguyễn Tiến Trung, người từng bị phạt tù trong cùng một vụ án với ông Thức vào năm 2010 và hiện đang tị nạn tại Đức: “Ông Tô Lâm không thể gặp các lãnh đạo Mỹ và các nước khác trên thế giới khi họ phê phán về vấn đề nhân quyền Việt Nam. Và ông Tô Lâm cũng cần có đôi chút nhượng bộ để có tiếng là Việt Nam có cải thiện về nhân quyền.

Ông Phil Robertson – Giám đốc tổ chức Asia Human Rights, Labour Advocates :

“Chủ tịch nước Tô Lâm lo ngại về cách tiếp đón mà ông sẽ nhận được từ các nhà lãnh đạo thế giới khác, đặc biệt là từ Bắc Mỹ và châu Âu, vì vậy ông quyết định trả tự do cho hai nhà bất đồng chính kiến ​​nổi tiếng để tạo điều kiện thuận lợi cho các cuộc họp sắp tới của mình.”

“Điều này giống như ngoại giao con tin, ngoại trừ việc con tin ở đây là những nhà cải cách và nhà hoạt động ở Việt Nam, những người dám thực hiện quyền con người của mình để cố gắng biến đất nước trở thành một nơi tốt đẹp hơn.”

“Những vụ thả người sớm này là một phần trong kế hoạch tuyên truyền của chính phủ Việt Nam cho chuyến đi đầu tiên của ông Tô Lâm tới Liên Hợp Quốc với tư cách là nhà lãnh đạo tối cao.

 

 

 

HumanRightAsia1

“Tôi không lật đổ chính quyền gì cả, tôi chỉ chống cường quyền và tôi sẽ còn chống cho đến khi nào còn thấy nó.”

‘Sẽ tiếp tục đấu tranh’

Ông Trần Huỳnh Duy Thức (thứ hai từ trái) cùng một số bạn bè đón ông hôm 21/9/2024

Nguồn hình ảnh,Gia đình cung cấp

BBC, Chụp lại hình ảnh,Ông Trần Huỳnh Duy Thức (hai, trái qua) cùng một số bạn bè đón ông hôm 21/9/2024

Nếu thực sự nhân đạo thì đã thả ông Thức lâu rồi

Ba’o Tieng Dan

Đoàn Bảo Châu

22-9-2024

Bộ mặt của một chính thể, một đất nước có được coi là văn minh, nhân bản hay không chính là cách chính thể và đất nước ấy đối xử với những người bất đồng chính kiến. Chỉ còn 8 tháng nữa là tròn 16 năm tù. Với một người đầy đủ trí tuệ và ý chí kiên cường như ông Trần Huỳnh Duy Thức, mấy tháng tù ấy mùi mẽ gì! Nếu thực sự nhân đạo thì đã phải thả ra từ lâu rồi.

Cái hành động “nhân đạo” này thật là nhạt nhẽo và nực cười. Nó giống như một sự bố thí của một kẻ độc tài vô cùng ác độc và ngạo mạn. Đấy là nói về chính thể, còn người dân Việt Nam, đa phần đang say sưa kiếm tiền, làm giàu, bao nhiêu phần trăm biết đến con người xuất sắc, rất đáng được tôn vinh này?

Nhân dân nào đi với chính thể ấy!

Tóm tắt lại vài dòng chỉ để những người trẻ đọc, không phải cho những bạn Facebook vẫn đồng hành với tôi.

Trần Huỳnh Duy Thức là một kỹ sư, doanh nhân và nhà hoạt động chính trị người Việt Nam, sinh ngày 29 tháng 11 năm 1966 tại Sài Gòn. Ông là cựu Tổng Giám đốc của Công ty Dịch vụ điện thoại Internet OCI và đã đóng góp quan trọng trong lĩnh vực viễn thông và công nghệ thông tin tại Việt Nam. Năm 2009, ông bị bắt và kết án 16 năm tù với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Trong thời gian bị giam giữ, Trần Huỳnh Duy Thức nhiều lần từ chối nhận tội và tuyệt thực để phản đối.

Sau khi tốt nghiệp khoa Công nghệ thông tin tại Đại học Bách khoa Thành phố Hồ Chí Minh năm 1990, Trần Huỳnh Duy Thức khởi nghiệp bằng việc mở một cửa hàng vi tính nhỏ vào năm 1993. Chỉ trong vài tháng, ông đã tự lắp ráp những chiếc máy vi tính cá nhân đầu tiên mang thương hiệu EIS, quyết tâm xây dựng thương hiệu riêng thay vì chạy theo nhãn hiệu nước ngoài giả mạo, mặc dù thị trường lúc đó ưa chuộng hàng ngoại nhập.

Cũng năm 1993, ông cùng Lê Thăng Long thành lập Công ty máy tính Duy Việt tại Hà Nội. Khi Internet chính thức xuất hiện tại Việt Nam vào năm 1998, nhu cầu truy cập tăng vọt. Nhận thấy hạn chế của công nghệ truy cập analog qua đường điện thoại, Duy Việt giới thiệu công nghệ truy cập digital, giúp mở rộng dung lượng và tốc độ truy cập. Nhờ đó, công ty thắng thầu nhiều dự án mở rộng hạ tầng Internet, vượt qua các hãng lớn nước ngoài.

Năm 2000, công ty chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Công nghệ Thông tin EIS (EIS, Inc.) với sứ mệnh tiến công mạnh mẽ vào thị trường CNTT quốc tế, chuyển tri thức Việt Nam thành những giá trị cao trong nền kinh tế tri thức thế giới. Đến năm 2002, EIS có mặt tại San Jose (Mỹ), Thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam) và Singapore với ba công ty con: One-Connection Singapore, One-Connection USA và One-Connection Vietnam.

One-Connection nhanh chóng thu hút người dùng Việt Nam nhờ công nghệ cho phép gọi điện thoại quốc tế với giá rẻ và các chương trình khuyến mãi hấp dẫn. Tuy nhiên, công ty gặp khó khăn trong việc mở rộng kênh phân phối so với các đối thủ như FPT Telecom, dẫn đến mất thị phần.

Bên cạnh thành công kinh doanh, EIS chú trọng đào tạo và thu hút nhân sự chất lượng thông qua việc cấp học bổng và mở trung tâm đào tạo tại công ty. Trần Huỳnh Duy Thức cũng nổi tiếng với các ý kiến phê bình về rào cản từ cơ quan quản lý viễn thông, mà ông cho rằng hạn chế sự phát triển của ngành công nghệ cao tại Việt Nam.

Năm 2005, Trần Huỳnh Duy Thức cùng Lê Thăng Long và một số người khác thành lập Nhóm Nghiên cứu Chấn, tập trung vào nghiên cứu tình hình chính trị, kinh tế và xã hội của Việt Nam.

Từ tháng 11 năm 2008, ông lập hai blog trên Internet: Change We Need và Trần Đông Chấn, nơi đăng tải các bài viết và bình luận về lãnh đạo và nền chính trị Việt Nam. Những bài viết này thu hút sự chú ý và được một số hãng thông tấn quốc tế đăng lại.

Tháng 3 năm 2009, trong chuyến đi tới Phuket, Thái Lan, ông gặp gỡ một số nhân vật bất đồng chính kiến và được cho là tham gia thành lập các tổ chức chính trị. Sau khi trở về Việt Nam, ông cùng Lê Công Định và Nguyễn Sĩ Bình hợp tác viết cuốn sách “Con đường nước Việt”, đề xuất cải cách về kinh tế, tư pháp và xã hội cho Việt Nam.

Ngày 24 tháng 5 năm 2009, Trần Huỳnh Duy Thức bị bắt với cáo buộc ban đầu là “trộm cắp cước điện thoại”. Tuy nhiên, sau đó ông bị truy tố với tội danh “Hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, theo Điều 79 Bộ luật Hình sự Việt Nam.

Ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử [ông Thức] và tuyên án 16 năm tù giam, cùng 5 năm quản chế sau khi mãn hạn tù. Các đồng sự của ông, bao gồm Lê Công Định, Nguyễn Tiến Trung và Lê Thăng Long, cũng bị kết án với các mức án khác nhau.

Việc bắt giữ và kết án Trần Huỳnh Duy Thức thu hút sự quan tâm của cộng đồng quốc tế:

Chính phủ Anh bày tỏ quan ngại, cho rằng không nên cầm tù bất kỳ ai vì bày tỏ quan điểm một cách hòa bình.

Chính phủ Hoa Kỳ ra thông cáo lo ngại về việc thiếu các trình tự chuẩn mực trong phiên tòa, cho rằng các bản án đi ngược lại Tuyên ngôn Nhân quyền Liên Hợp Quốc.

Liên minh châu Âu và tổ chức nhân quyền quốc tế như Ân xá Quốc tế lên tiếng phản đối, coi việc kết án là sự nhạo báng công lý và yêu cầu trả tự do cho ông.

Trong thời gian bị giam giữ, Trần Huỳnh Duy Thức nhiều lần từ chối nhận tội và từ chối đi định cư tại Hoa Kỳ, khẳng định mình không có tội và không chấp nhận trao đổi tự do cá nhân để rời bỏ đất nước.

Tháng 5 năm 2016, ông bắt đầu tuyệt thực để phản đối việc bị ép buộc đi Mỹ định cư và yêu cầu tôn trọng pháp luật. Cuộc tuyệt thực kéo dài 15 ngày, kết thúc sau khi gia đình và người ủng hộ thuyết phục.

Tháng 8 năm 2018, ông tiếp tục tuyệt thực để phản đối yêu cầu nhận tội và những ngược đãi trong trại giam. Gia đình gửi thư đến các cơ quan thẩm quyền, đại sứ quán và tổ chức quốc tế để kêu gọi hỗ trợ. Ông ngừng tuyệt thực sau 33 ngày, sau khi nhận lời khuyên từ gia đình.

Tháng 10 năm 2020, ông tuyên bố tuyệt thực, yêu cầu Tòa án xem xét đơn miễn thời hạn tù còn lại dựa trên quy định pháp luật mới. Gia đình và tổ chức nhân quyền cập nhật thông tin, kêu gọi sự quan tâm từ cộng đồng.

Năm 2013, Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam (California, Hoa Kỳ) vinh danh Trần Huỳnh Duy Thức vì những đóng góp cho nhân quyền. 


 

HƯƠNG THIÊN ĐÀNG – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người!”.

“Khát vọng của con người không quá mạnh, nhưng thật yếu. Là những sinh vật nửa vời, nó bị lừa bởi đồ uống, tình dục và tham vọng; đang khi niềm vui vô hạn được ban thì nó chối từ. Như một đứa trẻ ngu ngốc tiếp tục nướng những chiếc bánh bùn trong khu ổ chuột – nó quá dễ dàng hài lòng – bởi nó không thể tưởng tượng được ý nghĩa lời đề nghị của cha nó về một kỳ nghỉ ở biển!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Phải, nhiều lúc chúng ta quá dễ dàng hài lòng với những khát vọng nặng mùi của những chiếc bánh bùn trong khu ổ chuột. Lời Chúa Chúa Nhật hôm nay nói đến một khát vọng đáng ao ước hoàn toàn khác, khát vọng ngát hương trời, ngát ‘hương thiên đàng’.

Tin Mừng viết, “Khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả” – đó là khát vọng bánh bùn nặng mùi đất; và đây là khát vọng ngát ‘hương thiên đàng’, “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết!”. Khát vọng là bản tính tự nhiên của con người và điều này chẳng có gì xấu; nhưng bên cạnh những khát vọng đúng đắn, luôn luôn có những khát vọng lệch lạc. Ngay sau khi Thầy Giêsu của họ nói đến đau khổ và cái chết của Ngài sắp xảy ra, họ lại cãi nhau xem ai là người lớn nhất. Thật xấu hổ! Đây là điều mà Giacôbê gọi là “Những khoái lạc đang gây chiến trong con người”; “Anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét mà chẳng được gì, nên anh em xung đột!” – bài đọc hai. Đó là những khát vọng nặng mùi đất – khát vọng bánh bùn!

Sau đó, Chúa Giêsu chỉ cho các môn đệ một khát vọng mạnh mẽ, đúng đắn, mang tính cứu độ của “Người công chính”. Đó là sự “Khôn ngoan từ trời” – bài đọc một – mà Giacôbê cũng đã nói đến; đó là thao thức của “Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính” của những ai được Thiên Chúa đỡ nâng, “Lạy Chúa, thân con đây, Chúa hằng nâng đỡ!” – Thánh Vịnh đáp ca. Như vậy, khát vọng Chúa Giêsu chỉ ra là khát vọng phục vụ, khát vọng cúi xuống, quên mình và tự huỷ. Đây quả là khát vọng ngát ‘hương thiên đàng!’.

Như tâm hồn thanh bạch của một em bé, khi tâm hồn chúng ta không tìm tư lợi, không còn ích kỷ với những kỳ vọng lệch lạc, Chúa Thánh Thần sẽ tràn ngập mọi ngóc ngách trong trái tim bạn và tôi. Ngược lại, nếu kiêu hãnh, tự phụ, tham vọng, chỉ muốn thống trị, thì chắc chắn, Chúa Thánh Thần sẽ không còn chỗ ở đó. Vậy hãy làm rỗng chính mình trước khi nó được lấp đầy! Lấp đầy thứ gì, tuỳ bạn!

Anh Chị em,

“Làm người rốt hết, và làm người phục vụ!”. Chúa Giêsu đã sống nghịch lý bí quyết “làm người đứng đầu” này, “Tôi đến để phục vụ, chứ không để được phục vụ!”; đỉnh điểm phục vụ của Ngài là cái chết trên thập giá cho nhân loại được cứu độ. Là môn đệ Giêsu, chúng ta không đi con đường nào khác ngoài con đường Ngài đi, đường tự hạ, phục vụ. Trong mọi đấng bậc, noi gương Thầy Chí Thánh, chúng ta trở nên những con người phục vụ. Và như thế, chắc chắn cuộc sống chúng ta sẽ bớt nặng mùi đất nhưng vương ‘hương thiên đàng!’.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, cho con nhìn thấy sự vĩ đại của con khi cúi xuống phục vụ anh em; và như thế, đời con mãi ngát hương!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: KimBang Nguyen

********************************

CHÚA NHẬT XXV THƯỜNG NIÊN, NĂM B

Bài trích thư của thánh Gia-cô-bê tông đồ.

3 16 Anh em thân mến, ở đâu có ghen tương và tranh chấp, ở đấy có xáo trộn và đủ mọi thứ việc xấu xa. 17 Đức khôn ngoan Chúa ban làm cho con người trở nên trước là thanh khiết, sau là hiếu hoà, khoan dung, mềm dẻo, đầy từ bi và sinh nhiều hoa thơm trái tốt, không thiên vị, cũng chẳng giả hình. 18 Người xây dựng hoà bình thu hoạch được hoa trái đã gieo trong hoà bình, là cuộc đời công chính.

4 1 Bởi đâu có chiến tranh, bởi đâu có xung đột giữa anh em? Chẳng phải là bởi chính những khoái lạc của anh em đang gây chiến trong con người anh em đó sao? 2 Thật vậy, anh em ham muốn mà không có, nên anh em chém giết; anh em ganh ghét cũng chẳng được gì, nên anh em xung đột với nhau, gây chiến với nhau. Anh em không có, là vì anh em không xin; 3 anh em xin mà không được, là vì anh em xin với tà ý, để lãng phí trong việc hưởng lạc.

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mác-cô.

30 Khi ấy, Đức Giê-su và các môn đệ đi băng qua miền Ga-li-lê. Nhưng Đức Giê-su không muốn cho ai biết, 31 vì Người đang dạy các môn đệ rằng: “Con Người sẽ bị nộp vào tay người đời, họ sẽ giết chết Người, và ba ngày sau khi bị giết chết, Người sẽ sống lại.” 32 Nhưng các ông không hiểu lời đó, và các ông sợ không dám hỏi lại Người.

33 Sau đó, Đức Giê-su và các môn đệ đến thành Ca-phác-na-um. Khi về tới nhà, Đức Giê-su hỏi các ông: “Dọc đường, anh em đã bàn tán điều gì vậy?” 34 Các ông làm thinh, vì khi đi đường, các ông đã cãi nhau xem ai là người lớn hơn cả. 35 Rồi Đức Giê-su ngồi xuống, gọi Nhóm Mười Hai lại mà nói: “Ai muốn làm người đứng đầu, thì phải làm người rốt hết, và làm người phục vụ mọi người.” 36 Kế đó, Người đem một em nhỏ đặt vào giữa các ông, rồi ôm lấy nó và nói: 37 “Ai tiếp đón một em nhỏ như em này vì danh Thầy, là tiếp đón chính Thầy; và ai tiếp đón Thầy, thì không phải là tiếp đón Thầy, nhưng là tiếp đón Đấng đã sai Thầy.”


 

TẠI SAO THÁNH MATTHÊU CÓ HAI TÊN TRONG KINH THÁNH? – Philip Kosloski

Philip Kosloski

Người thu thuế nổi tiếng, Matthêu, trở thành tông đồ có thể đã được đổi tên sau khi gặp Chúa Giêsu Kitô.

Thay đổi cái tên rất có ý nghĩa trong Kinh thánh vì chúng thường báo hiệu một sứ mạng mới từ Thiên Chúa.  Ví dụ Ápram trở thành Ápraham và Simon được đổi tên thành Phêrô.

Một nhân vật khác trong Kinh thánh mà nhiều học giả tin rằng đã được đổi tên thành tông đồ Matthêu.  Trong Phúc âm Matthêu, người thu thuế được Chúa Giêsu Kitô kêu gọi trở thành môn đệ được đặt tên là “Matthêu” (Mt 9, 9).

Tuy nhiên, trong Tin Mừng Marcô, người thu thuế đó lại có tên là “Lêvi” (Mc 2,14).

Một số học giả tin rằng người thu thuế đó có hai tên, một tên bằng tiếng Hy Lạp (Matthêu) và tên kia bằng tiếng Do Thái (Lêvi).  Điều này rất có thể xảy ra, vì các học giả chỉ rõ Simon (Phêrô) và Saul (Phaolô) như một ví dụ điển hình, nên nó không biểu thị sự thay đổi cái tên mà là hai cái tên tồn tại trong hai ngôn ngữ khác nhau.

Tuy nhiên một số học giả khác tin rằng điều này có thể ám chỉ đến sự thay đổi tên.  Từ điển Công giáo có giải thích: “Có thể Matthêu, ‘món quà của Giavê’, là tên được Chúa Giêsu Kitô đặt cho người thu thuế khi Ngài kêu gọi ông làm Tông đồ, và từ đó ông được nhận biết giữa các anh em Kitô hữu của mình, Lêvi là tên ban đầu của Matthêu.”

Trong thực tế, cả hai thuyết này đều có thể xảy ra.  Điều chắc chắn là sau khi ông rời bỏ công việc thu thuế của mình, ông mãi mãi được cộng đồng Kitô giáo đầu tiên gọi là “Matthêu.”

Dù thế nào đi nữa, cả hai cái tên đều có khả năng truyền cảm hứng cho những suy ngẫm mang tính biểu tượng, như có thể thấy trong đoạn văn sau đây từ sách Kim Sử, một văn bản phổ biến thời Trung cổ, nó cho chúng ta biết về ý nghĩa cái tên của các vị thánh.

Matthêu có hai cái tên, Matthêu và Lêvi.  Matthêu (Matthêô) được hiểu là món quà vội vàng, hoặc là người khuyên dạy.  Hoặc tên xuất phát từ magnus – vĩ đại, và theos – Chúa, gọi là vĩ đại đối với Chúa; hoặc từ mamis – bàn tay, và theos, gọi là bàn tay của Chúa.  Thánh Matthêu là một món quà vội vã nhờ sự hoán cải nhanh chóng của ngài, là người đưa ra lời khuyên qua lời rao giảng cứu rỗi của ngài, vĩ đại đối với Thiên Chúa nhờ sự hoàn hảo của cuộc đời ngài và là bàn tay của Thiên Chúa qua việc viết phúc âm của ngài.  Tên Lêvi được hiểu như là được đưa lên, gắn vào, thêm vào, đặt vào.  Vị thánh được kéo ra khỏi công việc thu thuế, được gia nhập cộng đoàn các tông đồ, được thêm vào nhóm các nhà truyền giáo, và được xếp vào danh mục các vị tử đạo.

Trước đây ngài có thể được biết đến với cái tên “Lêvi,” nhưng kể từ khi gặp Chúa Giêsu Kitô, thế giới đã biết đến ngài với cái tên “Matthêu.”

Philip Kosloski

G.Võ Tá Hoàng chuyển ngữ- Nguồn: https://aleteia.org/


CÔNG CỤ CỦA LỜI – Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

 “Ông đứng dậy đi theo Người!”.

Một thương gia rất hài lòng với chiếc phong vũ biểu vừa mới sưu tầm; nhưng về đến nhà, ông vô cùng thất vọng khi thấy chiếc kim của nó có vẻ ‘kẹt’; nó chỉ vào ‘khoản bão’. Lắc nó vài lần, chiếc kim vẫn ‘kẹt!’. Ông bực bội viết một thư phàn nàn gửi cho cửa tiệm. Tối hôm sau, từ văn phòng trở về, ông không tìm thấy chiếc phong vũ biểu; ngôi nhà cũng không! Thì ra, chiếc kim của nó chỉ đúng; rằng, đã có một trận cuồng phong!

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng lễ thánh Matthêu không nói đến một ‘phong vũ biểu’; nhưng cách nào đó, nói đến một ‘la bàn!’. Người tậu nó, không là một thương gia hoài nghi, nhưng là một quan thuế cả tin! Matthêu luôn tin vào la bàn vốn luôn chỉ về ‘khoản Giêsu’ – người gọi ông – để ông trở nên một công cụ của ân sủng, ‘công cụ của Lời!’.

Với ơn gọi của Matthêu, rõ ràng, sự thánh thiện của một người không đơn thuần là ‘rời bỏ một quá khứ xấu’, nhưng còn là ‘tham phần vào tình yêu và sự thánh thiện’ của Thiên Chúa; cũng không chỉ là ‘dứt mình ra khỏi’ một cái gì đó, nhưng ‘được biến đổi’ để trở nên một ‘ai đó’, một công cụ Thiên Chúa nhắm đến khi tạo dựng mỗi người để họ trở thành.

Cũng thế, khi gọi bạn và tôi, Thiên Chúa không trao cho chúng ta một tấm bản đồ; thay vào đó, một la bàn. Bạn không nhìn thấy toàn bộ đường đi; đơn giản, chỉ biết phương hướng, và nó luôn chỉ về ‘khoản Giêsu’. Mỗi ngày, Chúa Thánh Thần dun dủi chúng ta để mắt vào ‘khoản đó’ hầu đi về hướng Ngài. Matthêu quả không biết đời mình sẽ ra thế nào, nhưng biết chắc nó phải ‘bắt đầu từ đâu’, và nó ‘phải thay đổi’ khi dõi mắt và đi về hướng Giêsu. Matthêu tin rằng, Chúa Giêsu là người đáng để tin đến nỗi, ông sẽ phó mình hoàn toàn cho Ngài, mặc cho tương lai xem ra vô định. Matthêu đâu biết, rồi đây, ông sẽ viết Tin Mừng, sẽ là một công cụ sắc bén của Ngài, ‘công cụ của Lời!’.

Niềm vui của Matthêu phớn phở qua tiệc ‘Mừng Vĩnh Khấn’. Ở đây, lời Khải Huyền thật thâm trầm, “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ. Ai nghe Ta và mở cửa, Ta sẽ vào nhà người ấy, sẽ dùng bữa với nó!”. Matthêu có thể nói ‘không’, ‘chưa’, hoặc ‘không phải bây giờ’. Và nếu đã có một sự từ chối, hẳn đã không có một bữa tiệc tối nào và do đó, bạn bè ông đã bỏ lỡ cuộc gặp thân mật với Chúa Giêsu, một lần gặp biết đâu đã thay đổi vĩnh viễn một số cuộc đời trong họ. Bằng việc thưa “vâng” của Matthêu, Chúa Giêsu đã có thể chạm vào cuộc sống của ông, của những người khác mà ông là trung gian của Ngài ngay từ giây phút đầu.

Anh Chị em,

“Ông đứng dậy đi theo Người!”. Lời gọi đi theo Chúa Giêsu, trước hết, là một lời mời hoán cải; tiếp đến, tham phần vào tình yêu và sự thánh thiện của Ngài. Matthêu trải nghiệm tiến trình đó suốt cả đời mình; đã trở nên một phong vũ biểu, một la bàn chính xác cho hậu thế với chiếc kim luôn ‘kẹt’ ở ‘khoản Giêsu’. Không chỉ báo có một trận cuồng phong, Matthêu còn viết về Đấng có uy quyền trên cuồng phong, cuồng phong thiên nhiên, cuồng phong tâm hồn. Như Matthêu, bạn và tôi được gọi để trở nên một phong vũ biểu, một la bàn cho thế giới, với một điều kiện duy nhất, luôn chỉ đúng hướng!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

Lạy Chúa, trong mọi đấng bậc, Chúa gọi con để trở nên một ‘công cụ của Lời’. Đừng để con trở nên một dụng cụ tồi, rẻ tiền; và tệ hơn, chỉ bậy!”, Amen.

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

From: KimBang Nguyen

********************************

KÍNH THÁNH MATTHÊU TÔNG ĐỒ, TÁC GIẢ SÁCH TIN MỪNG,

Thứ Bảy Tuần XXIV Thường Niên

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu.

9 Khi ấy, Đức Giê-su đi ngang qua trạm thu thuế, thì thấy một người tên là Mát-thêu đang ngồi ở đó. Người bảo ông: “Anh hãy theo tôi!” Ông đứng dậy đi theo Người.

10 Khi Đức Giê-su đang dùng bữa tại nhà ông ấy, có nhiều người thu thuế và người tội lỗi kéo đến, cùng ăn với Người và các môn đệ. 11 Thấy vậy, những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ Người rằng: “Tại sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi?” 12 Nghe thấy thế, Đức Giê-su nói: “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. 13 Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.”


 

CHUYỆN ĐỜI VOLTAIRE-TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

CHUYỆN ĐỜI VOLTAIRE

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ)

Triết gia Voltaire tên thật là François-Marie Arouet, sinh ngày 21-11-1694 tại Pháp. Ông là người khởi xướng phong trào Khai Sáng – Enlightenment.

Voltaire nhận được một lá thư trang nghiêm và khiêm tốn từ Lm Gaultier, tu sĩ Dòng Tên, trước khi bị cấm. Một người viết tiểu sử nhận xét rằng có vẻ như luôn có một tu sĩ Dòng Tên kể về Voltaire, từ những ngày đầu đi học cho đến khi chơi cờ ở Ferney. Khi Voltaire nghe chữ “Dòng Tên,” nó đã khuấy động một chút trong ông: đứa con chưa biết mẹ thì không yêu cha mẹ, hoặc người yêu mến thầy cô thì được họ yêu mến. Người ấy nổi loạn chống lại họ, nhưng người ấy vẫn nhạy cảm và khéo léo nhất cũng như là học trò tự hào nhất của họ. Lm Gaultier đã nói rõ trong lá thư rằng ngài muốn giúp Voltaire cứu linh hồn mình.

Voltaire có chấp nhận Lm Gaultier tới phòng của mình? Voltaire có xưng tội? Voltaire thường giả danh là người Công giáo suốt đời mình. Một lần ông đã rước lễ dịp Phục Sinh tại Ferney khi một linh mục đến thăm. Linh mục này là người đầu tiên tha tội cho ông. Đức giám mục địa phương biết điều đó nên viết cho Voltaire một lá thư trang nghiêm và ôn hòa: “Việc rước lễ của ông đã được thực hiện mà không ăn năn, không có sự sửa đổi cần thiết do các bài viết và hành vi trong quá khứ của ông. Ông không nên đến gần bàn thánh mà không cam kết chân thành, và nếu không có sự phản ánh xứng đáng, sẽ không có linh mục nào cho phép ông làm như vậy.” Voltaire bảo đảm với giáo sĩ về đức tin tốt lành của mình và xin cầu nguyện. Đức giám mục viết lại rằng đức tin bao gồm hành động, không chỉ nói suông. Đức giám mục đã cấm các linh mục giải tội hoặc trao Mình Thánh cho Voltaire.

Voltaire tức giận, tìm cách dằn mặt giám mục. Một người viết tiểu sử kể lại: Ngay trước lễ Phục Sinh sắp tới, ông ta dụ một linh mục đến phòng của mình, nơi ông ta giả bộ thực hiện hành động tuyệt vời nhất trên giường bệnh: đôi mắt đờ đẫn, giọng nói giả dối, đôi tay gầy guộc sờ tấm vải trải giường. Ông ta xin giáo sĩ nghe lời thú tội của ông ta và đặt tiền vào tay. Linh mục này sững sờ và vội vã bỏ đi, không làm theo yêu cầu của ông ta. Voltaire vẫn tiếp tục hành động của mình, cố gắng thuyết phục mọi người rằng ông ta sắp chết để linh mục đến. Ông ta hứa sẽ đưa ra bất kỳ tuyên bố nào mà Giáo hội yêu cầu. Tuy nhiên, giám mục cấm linh mục giải tội cho ông ta. Sau đó, Voltaire dọa đâm đơn kiện, vì vào thời điểm đó ở Pháp, việc từ chối ban các bí tích đối với một người sắp chết là bất hợp pháp.

Cuối cùng, Đức giám mục sai hai linh mục tới. Voltaire đọc Kinh Tin Kính của các Tông Đồ và tuyên xưng đức tin bằng lời nói: “Tôi tôn thờ Chúa trong phòng riêng của tôi. Tôi không làm điều ác với ai.” Linh mục có bản tuyên xưng đức tin khác trong túi áo và nhấn mạnh rằng Voltaire phải ký vào đó. Voltaire đáp lại rằng Kinh Tin Kính của các Tông Đồ là đủ, và ranh mãnh nói rằng lời tuyên xưng đức tin khác này có thể giới thiệu những đổi mới không chính thống. Linh mục vẫn bắt Voltaire ký, ông ta đã giả vờ yếu sức và xin miễn xá, linh mục đã đồng ý. Voltaire nằm xuống và mỉm cười. Ông ta thấy mình đã thắng giám mục. Sau khi linh mục đi, Voltaire ra khỏi giường, và nói với thư ký: “Tôi đã gặp một chút rắc rối với giáo sĩ buồn tẻ đó, nhưng tất cả đều thú vị nhất và làm cho tôi có lợi. Nào, chúng ta cùng đi dạo quanh vườn.”

Một người viết tiểu sử nhận xét rằng cả Âu châu đều nói về những trò đùa báng bổ của Voltaire, hành động đùa cợt của ông ta đối với tôn giáo. Nhưng đó chỉ đơn giản là trò đùa? Có thể chắc chắn rằng không là trò đùa với Voltaire, vì những ý tưởng của ông rất tinh tế và dao động. Một người viết tiểu sử nhận xét rằng chỉ có thể chắc chắn rằng ông ta có niềm đam mê chân thành đối với công lý, sự thật – và kịch nghệ. Voltaire đóng vai trò gì? Liệu ông ta có thể thú tội thật ngay cả khi ông ta muốn? Có phải ông ta bị cuốn hút vào kịch nghệ và giả vờ là người khác, đến nỗi ông ta không thể tiếp cận với con người thật của mình? Nếu ông ta thực sự muốn thú tội thì sao?

Voltaire trả lời thư của Lm Gaultier:

“Thưa ngài, lá thư của ngài đối với tôi dường như là của một người chân thật: điều đó đủ để xác định rằng tôi sẽ vinh dự được ngài đến thăm vào ban ngày và vào giờ thuận tiện nhất cho ngài. Tôi sẽ nói với ngài chính xác những gì tôi đã nói khi tôi chúc phúc cho cháu trai của ngài Franklin thông thái và nổi tiếng, niềm vinh dự nhất của các công dân Hoa Kỳ. Tôi chỉ nói những từ này: ‘Thiên Chúa và tự do.’ Tôi đã 84 tuổi, tôi sắp xuất hiện trước Chúa, Đấng tạo dựng tất cả vũ trụ. Nếu linh mục có điều gì muốn nói với tôi, tôi sẽ có bổn phận và đặc ân được đón tiếp ngài, mặc dù đau khổ khiến tôi choáng ngợp.”

Lm Gaultier đã đến, thẳng thắn với Voltaire, và điều đó làm hài lòng người sắp chết. Linh mục nói với Voltaire rằng ngài sẽ báo cáo cuộc gặp mặt này cho bề trên. Những người tham dự của Voltaire – bà chủ nhà và thư ký của ông ta, kể cả một người bạn – đã làm gián đoạn cuộc gặp gỡ của họ. Voltaire nói: “Hãy để tôi ở lại với người bạn linh mục của tôi – ngài không nịnh tôi.” Sự hiện diện của linh mục khiến những người khác không thoải mái. Danh tiếng của người sáng lập phong trào Khai Sáng dựa vào việc ông ta không công khai từ bỏ bất cứ điều gì. Tuy nhiên, mong muốn được chôn cất tử tế của ông ta phụ thuộc vào việc hòa giải với Giáo hội, ít nhất ở mức độ nào đó.

Lm Gaultier đã trao cho Voltaire một văn bản soạn sẵn, có lẽ là bản tuyên xưng đức tin Kitô giáo và dạng công khai từ bỏ nào đó đối với các tác phẩm chống Kitô giáo của ông ta. Nhưng Voltaire gạt sang một bên và run rẩy viết lời tuyên bố của mình: “Tôi đã thú nhận [với Lm Gaultier] rằng nếu Thiên Chúa dùng tôi, tôi sẽ chết trong tôn giáo Công giáo thánh thiện mà tôi đã sinh ra, hy vọng Thiên Chúa trong lòng thương xót của Ngài sẽ đoái thương tha thứ cho tôi mọi lỗi lầm của tôi; nếu tôi đã xúc phạm đến Giáo hội, tôi cầu xin sự tha thứ của Thiên Chúa và Giáo hội.” Hai nhân chứng cùng ký tên vào đó. Lm Gaultier đã giải tội cho Voltaire, nhưng Voltaire từ chối rước lễ vì lý do sức khỏe. Sau đó Lm Gaultier ra về.

Lm Gaultier trở lại. Giáo quyền địa phương đã không coi lời công khai rút ý kiến trước đó của Voltaire là đủ và vẫn đe dọa sẽ không cho phép chôn cất theo nghi lễ Kitô giáo. Một linh mục Dòng Tên đến với một linh mục khác để xem ông ta thế nào. Ai đó đã hét vào tai Voltaire rằng người giải tội của ông ta đã đến. Trước sự ngạc nhiên của mọi người, người đàn ông đang hấp hối nói: “Người giải tội của tôi ư? Vậy thì hãy nhớ dành cho ông ấy những lời khen của tôi.” Một linh mục khác hỏi Voltaire: “Ông có nhận ra thần tính của Chúa Giêsu Kitô không?” Voltaire lấy tay đẩy giáo sĩ ra, vừa quay mặt đi vừa nói: “Hãy để tôi chết trong bình an.”

Voltaire vô cùng đau đớn nên bác sĩ cho thuốc giảm đau. Bác sĩ viết trong một bức thư: “Bây giờ Voltaire đã đến cuối đời, người ta bắt đầu nói chuyện, đánh giá tất cả những thiệt hại mà ông ta đã gây ra cho xã hội, điều mà ngay cả những người không khắt khe lắm cũng so sánh với các cuộc chiến tranh, dịch bệnh và nạn đói trong vài ngàn năm qua đã làm hoang tàn trái đất.”

Các câu chuyện về cái chết của Voltaire gây nhầm lẫn vì tin đồn lan truyền và các nhóm tranh giành nhau để kiểm soát câu chuyện về cái chết của ông ta. Sau đó, các nhà truyền giáo Công giáo đã sử dụng các lá thư của bác sĩ để tuyên bố rằng Voltaire đã bị trừng phạt bằng cách chết trong đau đớn và sợ hãi Hỏa Ngục. Được viết bởi một nhà quan sát thiếu thiện cảm, lời kể của bác sĩ phải được sử dụng một cách thận trọng. Bà Denis nói rằng mặc dù rất đau khổ nhưng Voltaire đã chết lặng lẽ.

Tuy nhiên, theo một trong những nhà viết tiểu sử người Pháp, Voltaire nằm chết trong một ngôi nhà nhỏ tối tăm, tách rời với nhà chính, nơi bà Denis – chủ nhà của Voltaire – vẫn tiếp tục tiếp khách. Bà lo rằng Voltaire có thể hủy bỏ di chúc đã biến bà thành người thừa kế của ông ấy; bà chủ nhà lo lắng về sự tranh cãi sẽ xảy ra sau cái chết của Voltaire. Bận tâm với những mối quan tâm riêng, họ tránh cảm giác khó chịu từ sự đau khổ của Voltaire, một lời nhắc nhở, như nó đã xảy ra, về cái chết của chính họ. Bà Denis không ở với ông ta; bà chọn hai người phụ nữ để trông chừng ông ta. Ông ta đau đớn quằn quại trên giường; họ trò chuyện, cười đùa và uống rượu. Ông ta xúc phạm họ và ném một cái bình vào họ khi ông ta còn sức. Có vẻ như việc chăm sóc còn nhiều điều đáng mong muốn, vì Voltaire nằm ở nơi bẩn thỉu, ghét những người xung quanh. Voltaire là người đã dựa trên những ý tưởng của mình về sự độc lập và tự túc, đã chết như ông đã sống: một con người tự trị.

Voltaire đã từng viết về “tình yêu” theo cách rút gọn nó thành quan hệ tình dục: sự hoàn hảo của tình yêu là sự sạch sẽ và chăm sóc bản thân, do đó làm cho các cơ quan khoái cảm nhạy cảm hơn. Đối với ông già, “bên ngoài không còn như cũ, những nếp nhăn kinh khủng, lông mày bạc trắng bàng hoàng, hàm răng rụng ghê tởm, sự yếu đuối kỳ lạ. Tất cả những gì người ta có thể làm là tận hưởng đức tính của y tá vui đùa, và bao dung với những gì người ta từng yêu mến. Nó đang chôn vùi một người chết.” Những lời đó trở nên ứng nghiệm khi ông ta chết dần trong cơn hấp hối. Khi được cho biết về tình trạng của ông ta, bà Denis hy vọng sớm được sở hữu khối tài sản khổng lồ của Voltaire, bà nói: “Cái gì! Ông Voltaire là người sạch sẽ nhất trong những người đàn ông, thay khăn trải giường ba lần mỗi ngày thay vì chịu đựng một dấu vết nhỏ nhất trên đó – mức độ thấp hèn của ông ta là bao nhiêu? Điều này đại diện cho sự thay đổi mang tính cách mạng nào?” Nó không đại diện cho cuộc cách mạng: chỉ có cái chết của con người và chính bà ấy bỏ rơi ông ta.

Một nhà bình luận Công giáo đã viết về cái chết đó rằng không lý lẽ nào có thể được đưa ra cho sự cứu rỗi hoặc sự nguyền rủa của linh hồn chỉ đơn giản là hình dáng của cơ thể khi qua đời, dù bình tĩnh hay bối rối. Thông thường, sự kích động của người sắp chết chỉ xuất phát từ các nguyên nhân vật lý. Cũng vậy, người tốt “theo ý muốn của Thiên Chúa, phải tuân theo những kích động đó, để thanh tẩy linh hồn, và dẫn những người xung quanh đến việc thực hành sự đền tội đích thực.”

Vào giữa buổi sáng ngày 30 tháng 5 năm 1778, Voltaire đã thốt lên một tiếng kêu dài và khủng khiếp khiến các y tá phải khiếp sợ. Và rồi ông tắt thở.

JOSEPH STUART

TRẦM THIÊN THU (chuyển ngữ từ CatholicExchange.com)


 

Logic của việc CSVN lấy tù nhân lương tâm làm mồi câu tư bản -Lê Minh Nguyên

Ba’o Tieng Dan

Lê Minh Nguyên

21-9-2024

Cộng sản Việt Nam bắt những người dân có trí tuệ của mình làm tù nhân và dùng tù nhân đó để làm mồi câu tư bản.

Một ngày trước khi lên đường đi Mỹ, Tổng Bí thư – Chủ tịch nước Tô Lâm thả nhà hoạt động Trần Huỳnh Duy Thức sớm 8 tháng (20/9), coi nó là một món quà tặng cho Mỹ để đổi chác lấy những đòi hỏi Mỹ giúp Việt Nam về kinh tế và công nghệ.

Trong một sinh hoạt gọn nhỏ vào thập niên 1990s ở Washington D.C. mà người viết có tham dự, bà cựu thủ tướng Anh Margaret Thatcher nói rằng, một quốc gia thịnh vượng không phải là một quốc gia có đất rộng, dân đông, tài nguyên phong phú, nhưng là một quốc gia mà mỗi một người dân đều có năng lực.

Nhân tài là nguyên khí của quốc gia, nếu đem nguyên khí đó đi giam cầm rồi dùng làm con tin đổi chác với quốc gia khác để lấy những món lợi nhất thời thì quốc gia đó không thể nào hùng mạnh được.

Mỹ với sức mạnh mềm vô song, với khả năng ‘hấp tinh đại pháp’ thu hút tinh hoa của thế giới đem về phục vụ nước mình, họ đang hấp thụ những tinh hoa Việt Nam vào đất nước của họ, từ sinh viên du học, nhân tài công nghệ cao, những người có tài sản lớn, những người có năng lực xây dựng đất nước v.v…

Trung Quốc chỉ có thể hiếp đáp Việt Nam được khi Việt Nam còn là một nước nghèo, nhưng nếu Việt Nam hùng mạnh như Nhật Bản, Nam Hàn thì họ chỉ muốn buôn bán làm ăn chứ không thể đe dọa chủ quyền.

Hậu quả của việc đem tinh hoa đất nước làm mồi câu tư bản sẽ là gì?

Đầu tiên, nó là một sự chảy máu chất xám. Thứ hai, nó làm cho Việt Nam có khuynh hướng xin – cho và đổi chác bất chánh. Thứ ba, nó làm cho Việt Nam càng ngày càng yếu đi và lệ thuộc nhiều hơn vào nước láng giềng Trung Quốc. Và thứ tư là, nó làm cho việc Trung Quốc đồng hóa Việt Nam dễ dàng hơn.

Nguyên khí của dân tộc từ từ chảy về quốc gia hùng mạnh và làm cạn kiệt sức sống của dân tộc Việt Nam.

Các chế độ độc tài thường muốn ngu dân để dễ cai trị. Nhưng khi làm như vậy thì đất nước sẽ biến thành một trôn ốc xoáy, cuối cùng chế độ bị tiêu diệt và một đất nước lầm than.

Điển hình của cái vòng luẩn quẩn này là Liên Xô trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Nếu Liên Xô để cho người dân có năng lực thì người dân đòi hỏi tự do, bởi vì tự do mới có sáng tạo và có sáng tạo thì năng lực mới được phát huy, cho ra được những cái hay và mới. Những cái mới đó giúp quốc gia tiến lên.

Nhưng nếu không cho người dân có năng lực thì không thể nào chạy đua với Mỹ trên nhiều phương diện, nhất là kinh tế, công nghệ cao v.v…

Cho nên cuối cùng dù Mỹ có thua trận đánh nóng – tức chiến tranh Việt Nam, thì đã thắng cuộc chiến tranh lạnh với Liên Xô.

Nếu ông Tô Lâm chỉ tiếp nối ông Nguyễn Phú Trọng thì ông chỉ là một cái bóng mờ trong lịch sử các đời tổng bí thư của đảng CSVN và khi nó sụp đổ thì nguời dân Việt Nam không còn nhớ tới ông là ai.

Ông chỉ có thể làm nên lịch sử khi ông tạo được một sự hòa giải thật sự với dân tộc Việt Nam và một sự tự chủ tối thiểu với Trung Quốc.

Việc đầu tiên mà ông nên làm là thả các tù nhân chính trị, tù nhân lương tâm, có những chính sách từ cấp cao nhất – chứ không phải tuyên truyền về đại đoàn kết – về hòa giải dân tộc.

Làm sao để biết mình bị đồng hóa? Thật ra, nó rất giản dị để nhận ra. Khi hệ thống chính trị, hệ thống kinh tế xã hội, cũng như hệ thống văn hóa giáo dục của mình giống y với nước lớn hơn ở cạnh mình thì đó là những dấu hiệu của đồng hóa vì nó được vận hành không khác gì một tỉnh của nước lớn hơn.

May mắn cho Việt Nam là có sự đa dạng về văn hóa, cho nên tuy bị nhiễm màu Hán hóa nhưng cũng còn có cơ hội để giữ sự độc lập tự chủ, nếu lãnh đạo đừng ngu dân, đừng để chảy máu chất xám, đừng đem dân mình ra đổi chác với ngoại bang mà hãy trân quý nhân tài, nguyên khí của quốc gia.