Nhà báo Việt Nam và khủng bố Tự do báo chí

Nhà báo Việt Nam và khủng bố Tự do báo chí

Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-01-14

01142015-vn-journ-n-press-freed.mp3

Tự do báo chí, tự do ngôn luận

Tự do báo chí, tự do ngôn luận

RFA

Your browser does not support the audio element.

Câu chuyện của tờ báo Charlie Hebdo cùng hàng triệu người Pháp xuống đường biểu tình chống lại hành động dã man của bọn khủng bố đã làm những người quan tâm tới tự do báo chí một lần nữa đặt ra nhiều dấu hỏi cho cái quyền được xem là sức mạnh thứ tư này. Mặc Lâm tìm hiếu thêm về cái chết của những nhà báo Việt Nam điển hình là Từ Chung của tờ Chính Luận và Tú Rua của tờ Văn Nghệ Tiền Phong.

Tự do báo chí căn bản của thể chế dân chủ

Khi nhắc đến Charlie Hebdo là nhắc tới những bức tranh biếm họa trên tờ tạp chí của họ. Những biếm họa ấy làm khó chịu hàng triệu người mặc dù nó chỉ có chức năng giải tỏa phiền muộn của vài chục ngàn người đọc trong một khoảnh khắc nào đó. Tại sao Charlie Hebdo theo đuổi cái ít ỏi ấy mà bất cần sự tức giận, chống đối của hàng triệu người khác? Câu hỏi này vẫn là đề tài từ cả trăm năm qua khi báo chí thế giới xuất hiện những bức tranh biếm họa đầu tiên để từ đó tới nay những tác giả phiếm ấy vẫn được sự bảo vệ của những nước dân chủ trong cái quyền được hiến pháp quy định: Tự do báo chí.

Nhà báo khắp thế giới luôn là nạn nhân của các chế độ độc tài, quân phiệt, cộng sản ngay cả các tồ chức khủng bố. Trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam cũng từng có nhiều nhà báo nạn nhân bởi các thế lực, cá nhân tấn công, ám sát nhằm bịt tiếng nói của họ. Người bị giết đầu tiên trong lịch sử báo chí Việt Nam là nhà báo Từ Chung, Tổng thư ký nhật báo Chính Luận, tờ báo chống cộng nổi tiếng thời bấy giờ. Trưa ngày 30 tháng 12 năm 1965 hai đặc công cộng sản đã ám sát Từ Chung và hành động này đã được công khai tuyên dương trên mặt báo sau năm 1975.

Nhà báo khắp thế giới luôn là nạn nhân của các chế độ độc tài, quân phiệt, cộng sản ngay cả các tồ chức khủng bố

Nói về việc này nhà báo, nhà văn Uyên Thao, người thành lập tờ báo Sóng Thần rất nổi tiếng của Sài Gòn cho biết:

-Lúc đó tôi nghĩ tờ Chính Luận nó đề cập nhiều vấn đế liên hệ đến những đường lối chính trị phía cộng sản ở miền Bắc vì vậy nó mới xảy ra chuyện liệng lựu đạn nó tấn công tòa soạn Chính Luận rối sau đó là vụ ám sát anh Từ Chung. Đây là vụ coi như xảy ra với báo chí Việt Nam lần đầu tiên lúc đó.

Phản ứng của những người cầm bút chắc chắn không ai chấp nhận được chuyện đó hết còn mình bày tỏ ra sao thì phải nói không khí lúc đó nó không có điều kiện cho mình bày tỏ. Đất nước đang có những biến cố lớn, dồn dập thành ra chuyện một người bị khủng bố sát hại thì cũng giống như chuyện bom đạn giết bao nhiêu người khắp nơi cho nên ít có sự lưu tâm tới ,nói chung là của dư luận chứ còn đối với anh em cầm bút tất nhiên họ đều bất bình đối với chuyện đó.

Khủng bố giết hại nhà báo là tiêu diệt nền tự do ngôn luận

Mục tiêu ám sát nhà báo Từ Chung là mục tiêu chính trị và hành động khủng bố này trong một thời gian dài được xem là yêu nước, anh hùng. Tuy nhiên đối với nhà báo, họ là người mang tin tức đến cho người đọc do đó ám sát nhà báo đồng nghĩa với với bịt nguồn thông tin và tiêu diệt tự do báo chí.

Khủng bố đối với tin tức bất lợi cho cuộc chiến không loại trừ cả những cây bút viết phiếm luận mà mục tiêu của đa số người giữ mục này không giới hạn đối với cá nhân hay tổ chức nào. Trong hoàn cảnh nền chính trị xô bồ gần như mất kiểm soát của Sài Gòn lúc ấy xuất hiện một mục phiếm nổi tiếng của nhà văn Chu Tử trên báo Sống với cái tên Ao thả vịt. Trong cái ao đặc biệt ấy, những con vịt mà Chu Tử nhắm tới không thiếu một ai, kể cả người cộng sản. Giống như Từ Chung trước đó, 5 tháng sau Chu Tử cũng bị ám sát nhưng may mắn là ông thoát chết. Nhà báo Uyên Thao nhớ lại:

Đối với nhà báo, họ là người mang tin tức đến cho người đọc do đó ám sát nhà báo đồng nghĩa với với bịt nguồn thông tin và tiêu diệt tự do báo chí

-Toàn bộ hoàn cảnh miến Nam lúc đó mình có thể hình dung ra. Xã hội của mình là xã hội đang bị chiến tranh tàn phá. Coi như là nó không bình thường trong khi đó những người có trách nhiệm lo cho đất nước cũng có người lợi dụng tình thế hỗn loạn lo cho chuyện riêng của mình.

Chính vì vậy giới cầm bút chứ chẳng riêng gì ông Chu Tử khó chịu đối với việc người trách nhiệm lơ là đối với việc nước mà chỉ lo chuyện cá nhân, thành ra người ta cần phải bày tỏ thái độ đối với một số những cơ cấu, những viên chức của chính quyền miền Nam. Còn đối với cộng sản thì đương nhiên đối với những người có ý thức thì làm sao mà chấp nhận được cộng sản cho nên chuyện chống cộng sản là chuyện đương nhiên phải chống. Trường hợp anh Chu Tử lúc đó sau này chính người cộng sản họ nói rõ chính họ đã làm việc ấy.

Sau năm 1975, báo chí miền nam Việt Nam di tản sang Mỹ cùng hàng chục nước Tây phương khác. Trong thời gian đầu sự xuất hiện trở lại của các tờ báo trong cộng đồng người Việt là một món ăn tinh thần không thể thiếu. Vậy mà hàng loạt cuộc tàn sát nhà báo đã diễn ra do nhiều thế lực, cá nhân thực hiện khiến báo chí trở thành nạn nhân ngay trên mảnh đất được xem là tự do báo chí nhất hành tinh.

Mở đầu là nhà báo Đạm Phong, chủ nhiệm tuần báo Tự do tại Houston Texas. Ông bị bắn chết tại nhà riêng vào ngày 24 tháng 8 năm 1982. Nhà báo Hoài Điệp Tử, một cây viết nổi tiếng trước năm 1975 cũng bị hỏa thiêu đến chết tại nơi làm việc là tuần báo Mai tại Wesminster, California.

Nhưng vụ ám sát hai vợ chồng nhà báo Tú Rua của tờ Văn Nghệ Tiền Phong đã làm người Việt sững sờ. Văn Nghệ Tiền Phong là tờ báo có rất nhiều độc giả và mục được thường xuyên chú ý một cách thích thú là “Ngày lại ngày” của ký giả Lê Triết tức Tú Rua, ngòi bút trào phúng có giọng văn châm biếm khó kiếm.

Tối 22 tháng 9 năm 1990 Tú Rua cùng với vợ là bà Đặng Thị Trần Tuyết bị bắn chết tại bãi đậu xe trước nhà tại tiểu bang Virginia, nơi có tờ Văn Nghệ Tiền Phong mà ông cộng tác.

Nhà văn Sơn Tùng, người cùng làm việc với Tú Rua lúc ấy kể lại:

-Thời gian tôi cộng tác với Văn Nghệ Tiền Phong thì tôi thấy ngòi bút ông Triết viết trong mục “Ngày lại ngày” rất là sắc bén nhưng có thể nói đôi khi nó cay độc nữa thành ra bị va chạm khá nhiều. Lúc đó độc giả rất thích cái mục của ổng vì ổng chỉ trích rất thẳng thắn. Đôi khi tôi cũng có nói với ổng nhưng mà văn phong của ông Tú Rua như vậy mà nói ổng sửa lại thì nó cũng rất khó. Ông ấy viết thì đúng chứ không phải là không nhưng có cái là quá nặng.

Tự do báo chí là căn bản của thể chế dân chủ do đó nhà báo khắp nơi trên thế giới vẫn đang nổ lực xây dựng và gìn giữ nó. Khủng bố giết hại nhà báo là trực tiếp giết hại nền tự do không thể thiếu ấy của loài người

Tôi có thể nói ngay là hoàn toàn không có một thế lực nào mua chuộc ngòi bút của ông ấy được đâu. Có thể nói là ổng rất say mê, say mê cái mục của ổng vì được viết như vậy, vì cái đam mê của ông ấy thì đúng hơn. Cứ mỗi hai tuần một lần ổng đem bài tới lúc tôi làm việc ở tòa soạn. Ông đem bài tới đưa bài cho tôi thì ông ấy ngồi đọc cho tôi nghe rồi ổng bình luận này kia có vẻ thích thú lắm. Ông ấy đam mê cái công việc của ông ấy thì đúng hơn, ổng viết coi như rất nguy hiểm chứ không phải là không.

Lúc trước khi ông ấy chết ông viết một loạt bài đụng chạm rất nhiều và ông biết là nguy hiểm nhưng mà ổng không bỏ được.Ổng viết như quá đam mê thành ra đi đến hậu quả như vậy.

Nhà báo kỳ cựu Uyên Thao của tờ Sóng Thần chia sẻ về vấn đề tự do báo chí của Việt Nam trong thời gian chiến tranh, ông nói:

-Nếu mà nói vấn đề tự do báo chí thì có lẽ lúc nào cũng cần thiết cho đời sống bởi vì nó là điều kiện để bảo đảm cho tất cả mọi công việc tiến hành được tốt. Riêng vào lúc đó mình bị hạn chế do điều kiện của cuộc chiến nên có thể giới hạn trong một mức độ nào. Lúc đó mình vừa có tự do báo chí nhưng cũng có những giới hạn trật chìa. Giới hạn đó không nhằm cản trở những liên hệ đến yêu cầu của cuộc chiến mà nó chỉ là yêu cầu của một số cá nhân.

Nhìn lại hai biến cố đối với nhà báo Việt Nam lúc trước và các nhà báo Charlie Hebdo hiện nay, nhà văn Sơn Tùng cho biết:

-Cái giống nhau là sự bạo động chống lại người cầm bút. Vụ bên Pháp thì chức năng của họ là người cầm bút thì họ viết gì họ muốn. Tự do của người cầm bút bị giết vì bạo lực. Bên này cũng vậy ông Tú Rua ổng chỉ viết những gì ông ấy nghĩ là đúng. Ông ấy bênh vực những gì mà ông cho là đúng nên gây ra sự thù oán với những người bị ổng chỉ trích mặc dù ổng chỉ dùng ngòi bút thôi. Những người đó thay vì lên tiếng lại đi giết ổng, cái đó là cái tuyệt đối tôi thấy phải chống lại.

Tự do báo chí là căn bản của thể chế dân chủ do đó nhà báo khắp nơi trên thế giới vẫn đang nổ lực xây dựng và gìn giữ nó. Khủng bố giết hại nhà báo là trực tiếp giết hại nền tự do không thể thiếu ấy của loài người.

Một năm sau khi VN vào Hội đồng Nhân quyền: Tăng bắt bớ những người vô tội

Một năm sau khi VN vào Hội đồng Nhân quyền: Tăng bắt bớ những người vô tội

RFA

Nhà văn Võ Thị Hảo, viết từ Hà Nội

  • Quà Giáng sinh: bắt bớ người viết trung thực

“Cho đến thời điểm này, những  ngày cuối năm 2014, phải nói rằng còn rất nhiều tù nhân lương tâm đang phải chịu hành hạ, đày đọa, tra tấn đủ mọi kiểu. ..Và còn hằng lọat tù nhân khác mặc dù cho đến thời điểm này, nhà nứơc Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã ký kết Công ứơc Chống Tra tấn với quốc tế rồi mà tình hình không có gì cải thiện hết. Đó là điều mà ai cũng thấy”.

Blogger Nguyễn Ngọc Già(được xác định là Nguyễn Đình Ngọc) đã xót xa về các tù nhân lương tâm cho đến những ngày cuối năm vẫn đang  bị giam cầm như vậy, trong bài trả lời phỏng vấn rfa.org ngày 22/12/2014. Về nhà văn Nguyễn Quang Lập mới bị bắt,  Nguyễn Ngọc Già cũng phản đối mạnh mẽ : “Điều gây xúc động lớn nhất đối với tôi, nguời theo dõi sát tình hình Việt Nam từ trước  đến nay, là chưa có một tù nhân lương tâm nào bị bắt vào lúc mà chính bản thân nguời đó đang bị ‘bán thân bất tọai’ như thế”.

Và rồi chỉ vài ngày sau, Nguyễn Ngọc Già đã bị bắt. Chính anh cũng phải nhập dòng nạn nhân vô tội bị chế độ độc tài VN  đày đọa trong tù.

Tỏ rõ sự bất chấp trước Hiến pháp quy định về quyền công dân, những cam kết quốc tế mà VN đã ký  và dư luận phản đối, bắt  Nguyễn Ngọc Già vào  ngày 27/12/2014, nhà chức trách đã chứng tỏ thêm thái độ “sắt máu” với những người bày tỏ chính kiến.

Một điều khiến người ta khâm phục và biết ơn  Nguyễn Ngọc Già là dù đã hình dung rất rõ ràng những hiểm nguy khi viết và nói lên sự thật, khi đứng về phía quyền lợi của đất nước và người dân VN nhưng anh vẫn tiếp tục con đường của mình và không hề nao núng trước đe dọa:

Hãy bỏ mặc những lời dèm xiểm và chọc ngoáy, nếu bạn viết từ óc và từ tim của chính bạn – viết cho dân oan, tù oan. Viết cho thế hệ trẻ và viết cho ngay chính người CS dưới mọi lớp áo hiểu rằng: Việt Nam này không của riêng ai. Chính vì thế người CS hãy dừng tay cướp đoạt của chúng tôi, của chúng ta và của tất cả người Việt Nam trên toàn cầu.

Người CS hãy dừng tay cướp đoạt tất cả mọi loại tài sản của người Việt Nam trước khi quá muộn! Ngược lại, họ sẽ phải trả giá. Không lâu nữa đâu – một niềm tin có căn cứ khoa học.”

Chính kiến rất rõ ràng nhưng Nguyễn Ngọc Già không vi phạm pháp luật. Trước sau, blogger này vẫn chủ trương cải thiện xã hội, thể chế bằng biện pháp ôn hòa, bất bạo động”:

“Hiện nay có khỏang 20 tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam, nhưng tôi chưa nghĩ đến ‘đòan kết’ vì đòan kết là một chương trình khoa học, chứ không phải gọi lên ‘khơi khơi’, ai cũng gọi được vì sẽ trở nên ‘coi thường’ và hạ thấp chữ ‘đòan kết’. Mà trứơc tiên tôi cho rằng phải ‘liên kết’ 20 hội đòan đó. Có liên kết được một cách chặt chẽ thì tạo dần niềm tin lẫn nhau. Đó là điều mà 20 tổ chức xã hội dân sự đó nên nghĩ tới. Đứng kêu gọi đòan kết trong lúc này mà hãy liên kết chặt chẽ trong khoa học bằng những chương trình, mục tiêu công khai, ôn hòa, bất bạo động’…

Nhưng sự vô tội của công dân VN đã tỏ ra chẳng có giá trị gì trước bộ máy đàn áp nhân quyền và tự do ngôn luận của người dân VN.

  • Sự đổi giọng  và âm hưởng Cách mạng Văn hóa

Ngược với cam kết cải cách thể chế của nhà cầm quyền VN đưa ra vào tháng 1/2014, Giáng sinh 2014 và Năm mới 2015 đến trong tiếng gọi xé lòng của dân oan, trong những cuộc bắt bớ, khủng bố tăng cường những tù nhân lương tâm.

Có thể nói những ngày cuối năm 2014 đã in dấu những vết đen trong lịch sử  của nhà cầm quyền VN khi họ đã bất chấp thể diện của một chính thể khổng lồ lại đi  “bắt quả tang một nhà văn đang viết văn…”, giam cầm nhà văn  ôn hòa – blogger Nguyễn Quang Lập đã bị liệt nửa người, bị bệnh hiểm nghèo trong tù ngục.

Và nơi nơi tại VN ngày càng thêm nhiều cái chết tức tưởi của người dân mới bị bắt vào đồn công an mà theo chứng cứ hiển hiện và sự tố cáo của gia đình nạn nhân cùng nhiều luật sư thì đó là những cái chết do tra tấn, bức cung và nhục hình chứ không phải là tự sát. Chưa kể có rất nhiều án tử đã được tuyên một cách tàn nhẫn và oan trái do không đủ chứng cứ, do bức cung và nhục hình bởi quyền lợi của một ai đó trong bộ máy quyền lực hoặc do thành tích, hoặc do “nén bạc đâm toạc tờ giấy”…

Bên cạnh việc tăng cường bắt bớ các blogger, điều khiến người đọc ngỡ ngàng là trên  trang web mang  tên một số  vị  lãnh đạo cao nhất xưa nay vẫn giương cao khẩu hiệu “lắng nghe tiếng nói phản biện”, “chống tham nhũng”, “cải cách thể chế….”.. thì nay lại đăng những loạt bài mang tính đe dọa và lăng mạ những công dân trung thực,  vô tội, xưa nay có phát biểu hoặc viết ra những ý kiến phản biện cũng chỉ vì lợi ích của đất nước.

Những trang web này đã  nêu đích danh những blogger và trí thức bất đồng chính kiến  như Phạm Chí Dũng; Đinh Kim Phúc; Nguyễn Thị Từ Huy; Nguyễn Tường Thụy; Nguyễn Xuân Diện; Nguyễn Hồ Nhật Thành; Hà Sĩ Phu; Nguyên Ngọc; Nguyễn Quang A; Bùi Chát; Bùi Minh Quốc; Chu Hảo; Huỳnh Kim Báu; Phạm Đình Trọng; Phan Thị Hoàng Oanh…và một số người khác là  “có tư tưởng chống đối ngông cuồng”và  đe dọa sẽ bắt giam họ. Một loạt bài với những tiêu đề gây sốc: “Những kẻ phá hoại đội lốt nhà dân chủ sẽ sa lưới pháp luật”, “Hồi chuông cảnh tỉnh cho những kẻ mang tư tưởng phá hoại”, “Kẻ nối gót sẽ bị pháp luật trừng trị”…”Đập tan âm mưu đen tối chống phá Đảng và Nhà nước của các đối tượng chống đối”…

Và họ kết luận : “Đây là âm mưu hoạt động của các đối tượng và tổ chức chính trị phản động rất nguy hiểm đi từ bất bạo động đến công khai chống đối chính quyền và cuối cùng là thay đổi chế độ”.

Công dân chỉ phát biểu chính kiến của mình một cách ôn hòa, chống tham nhũng, bảo vệ chủ quyền đất nước, bênh vực dân oan, đề nghị cải cách thể chế theo kêu gọi của nhà cầm quyền, mà bị quy chụp, khủng bố đến mức ấy sao?!

Một điều khiến cho người ta không thể không sốc là giọng điệu nói trên bỗng mang hơi hướng quy chụp của thời Cải cách ruộng đất ở VN, giọng điệu Hồng vệ binh của thời Cách mạng văn hóa và Đại nhẩy vọt của Trung quốc những năm trước đây.

Tưởng đã xa lắm rồi, thời người ta thực hành những tội ác chống lại nhân loại. Thời điểm mù lòa của những người nhân danh quyền lợi của nhân dân để quy tội cho bất kỳ ai đó là địa chủ, là phản động …để khiến cho con phải đi đổ tội cho cha, vợ đấu tố chồng hòng sống sót. Cái thời những người đã từng nhịn ăn giúp cách mạng và thành lập những chi bộ cộng sản đầu tiên cũng bị đồng chí búa liểm của mình đổ tội và mang ra đập đầu phọt óc chết giữa ruộng mạ,  bất kể tòa án và công lý.

Tưởng như nghe trong không trung tiếng rên xiết chói óc của mấy chục triệu người chết dưới bàn tay của Mao và “bè lũ bốn tên”. Những cách chụp mũ, đổ tội cho bất kỳ ai đã là công cụ để hãm hại, tàn sát người trí thức, nhà văn và người dân Trung quốc. Những người này bị giết chết  bởi chính tay đồng bào đồng chí của mình và chết đói dưới thời Cách mạng Văn hóa và Đại nhẩy vọt…

Các nhà cầm quyền Việt Nam! Hãy tỉnh ngộ! Bởi vì nếu tiếp tục giọng điệu này trên những cách chỉ đạo và tuyên truyền của các vị, thì rất nguy hiểm. Không có gì để đảm bảo rằng cung cách này nếu đi tiếp thì sẽ không đẩy VN đến ngày tái diễn thảm họa huynh đệ tương tàn, một cuộc khủng bố và giết chóc giữa người VN với nhau như trong lịch sử đã từng diễn ra và kéo lùi lịch sử VN trở về thời Cải cách ruộng đất, Nhân văn giai phẩm tàn bạo và mông muội.

Vì ai cũng biết rằng, quyền lực và tài sản vốn rất mong manh, lại càng mong manh hơn trong  không khí mông muội và huynh đệ tương tàn. Vệt chết của Cách mạng Văn hóa, Cải cách ruộng đất, Đại nhẩy vọt cho tới Khơ me Đỏ là những thí dụ còn tươi rói. Đó là một vệt đỏ khiến loài người ghê sợ và dùng đủ mọi cách để ngăn chặn. Các đồng chí trong vệt đỏ đó đã làm những gì với nhau và người dân của họ, là một thí dụ được tạc bởi núi xương sông máu.

Thời thế đã khác xưa rồi. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, loài người đã khôn ngoan hơn, biết vì nhau hơn và có những công cụ tốt hơn để tự vệ trước sự đàn áp dân chủ và nhân quyền./.

VTH

Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

Ăn Mày, Ăn Bẩn & Ăn Cướp

RFA

S.T.T.D. Tưởng Năng Tiến

“Mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Nguyễn Văn Xê – Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH

Ngày 22 tháng 12 năm 2014, báo Tuổi Trẻ hân hoan đăng lời “kêu gọi người dân không cho tiền người ăn xin,” cùng với một kế hoạch rất hoành tráng và (xem chừng) quyết liệt của UBND TP.HCM:

“Kể từ ngày 28-12, TP.HCM sẽ bắt đầu đưa những người ăn xin, người sống nơi công cộng không có nơi cư trú nhất định vào các cơ sở xã hội…

Trung tâm hỗ trợ xã hội được giao nhiệm vụ tăng cường khảo sát, phối hợp với các lực lượng công an, thanh niên xung phong, các đoàn thể… tập trung người lang thang về các cơ sở xã hội.

Đường dây nóng của trung tâm sẽ trực 24/24g để tiếp nhận thông tin về người lang thang trên địa bàn TP…

Người nào bị đưa vào Trung tâm hỗ trợ xã hội từ lần thứ hai trở lên thì trung tâm tiếp nhận nuôi dưỡng. Tại đây, các đối tượng được học văn hóa, học nghề và giới thiệu việc làm. Người nước ngoài lang thang xin ăn sẽ được đưa về nước theo quy định…

Việc giải quyết tình trạng người xin ăn lang thang phải được giải quyết theo hướng căn bản, thiết thực và bền vững.”

Mấy bữa sau, cũng báo Tuổi Trẻ buồn rầu cho biết: “Người ăn xin vẫn đầy đường Sài Gòn ngày đầu năm.”

Hình chụp tại góc đường 3-2 và đường Lý Thường Kiệt lúc 10g trưa 1-1-2015, bà cụ ngồi ngay giữa trời nắng nóng – Ảnh và chú thích: T.T.N.Đ

Đây không phải là lần đầu tiên “đám ăn mày” hay “tụi ăn xin” đã “làm phiền” công luận. Nhiều năm trước, chính xác là vào ngày 7 tháng 7 năm 2009, báo Pháp Luật cũng đã có lời kêu gọi (thiết tha) tương tự, cùng với nhiều kế hoạch quyết liệt không kém:

“Dự kiến từ tháng 7-2009, các quận, huyện phải đưa nội dung phát động không cho tiền người ăn xin sống lang thang nơi công cộng vào buổi họp tổ dân phố, khu phố.

Ông Nguyễn Văn Xê, Phó Giám đốc Sở LĐ-TB&XH, cho rằng để giải quyết tình trạng lang thang xin ăn cần rà soát khu vực, tuyến đường trọng điểm, phân rõ trách nhiệm của quận, huyện, không để trách nhiệm chung chung như hiện nay. Có như thế mới mong thực hiện được mục tiêu đến năm 2010 giải quyết cơ bản không còn người lang thang xin ăn ở TP.”

Về  “mục tiêu cơ bản” này (hồi đó) ở trong nước, đã có vị độc giả nhận xét như sau:

“Thôi nói thẳng ra là thế này. Mới đây, UBND TPHCM đã chỉ đạo tăng cường vận động nhân dân không cho tiền trực tiếp các ‘đối tượng’ lang thang, ăn xin trên đường phố. Mà cái chỉ đạo này thì thật ra có từ năm 2003 rồi. Nay thì quyết liệt làm lại…”

Không phải từ năm 2003 đâu mà trước nữa lâu lắm lận, theo lời của nhà báo Văn Lang:

40 năm qua, biết bao nhiêu lần họ mở chiến dịch “thu gom” mà đâu vẫn hoàn đấy, là vì nước nghèo thì ăn mày – ăn xin vẫn cứ tiếp tục sản sinh ra, đem “giấu” đi đâu cho hết?”

Những người vô gia cư ngủ ở trạm xe buýt ở Sài Gòn. Ảnh: Văn Lang/Người Việt

Sở dĩ cứ phải mở “chiến dịch thu gom” rồi “quyết liệt làm lại” hoài hoài chỉ vì cách “làm sạch” đường phố, theo kiểu “quét” hết ăn xin, của UBND TPHCM đã đi ngược … qui trình: đó là cách quét rác cầu thang bắt đầu từ bậc thấp nhất.

Tại sao cứ chăm chăm lo hốt đám ăn mày mà lại dung túng và bao che cho bọn ăn bẩn. Bọn này ăn tất tần tật. “Ăn của dân không từ một cái gì” nên mới đẩy không ít nạn nhân của chúng vào cảnh phải ăn mày.

Xin đan cử một thí dụ (ngay) trong địa bàn thành phố:

Ngày 8 tháng 8 năm 2010, luật sư Cù Huy Hà Vũ đã nộp  đơn “tố cáo và yêu cầu truy cứu trách nhiệm hình sự và đưa ra vành móng ngựa tên Lê Thanh Hải, ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy, nguyên Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và đồng bọn do đã đập nhà, cướp đất ở của bà Dương Thị Kính, thân nhân của Ba Liệt sĩ, tại 255/6/27 Ngô Tất Tố, phường 22 quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh.”

Đây là một lời tố cáo vô cùng nghiêm trọng nhưng người bị đưa ra trước vành móng ngựa lại không phải là ông UVBCT Lê Thanh Hải (và đồng bọn) mà lại là chính L.S. Cù Huy Hà Vũ với “tội tuyên truyền chống nhà nước,” cùng bản án bảy năm tù giam và ba năm quản chế.

Vụ Án Hai Bao Cao Xu Đã Qua Sử Dụng (theo như cách gọi của dân gian) chung cuộc đã trở thành một màn hài kịch vô duyên và lố bịch. Nó đã không cứu vãn được “thanh danh” cho ông Lê Thanh Hải (đã đành) mà còn khiến cho đương sự trông càng bẩn thỉu hơn.

Câu hỏi đặt ra là đã có bao nhiêu vụ cướp đất tương tự đã xẩy ra ở Sài Gòn, và có bao nhiêu người dân đã trở nên trắng tay rồi buộc phải ngửa tay ăn xin (hay ăn mày) sau những chuyện ăn bẩn như vậy của đám quan chức ở thành phố này?

Trên phạm vi toàn quốc thì có vô số những quan chức cũng đã ăn bẩn hay ăn cướp (giữa ban ngày) y như thế. Chỉ xin nhắc đến hai vị đang được công luận quan tâm (ông Trần Văn Truyền và ông Nguyễn Xuân Phúc) theo như thông tin đọc được trên trang Dân Luận:

“Ông Trần Văn Truyền sở hữu căn biệt thự cùng 4 căn nhà gỗ đặc biệt ở xứ tỉnh Bến Tre, rộng trên 16.000m2 ước tính 24 tỷ riêng tiền đất; 1 căn nhà 300m2 được cấp hồi làm bí thư tỉnh ủy; 1 nhà 200m2 trước cổng chùa Bạch Vân; 3 cơ ngơi ở khu đô thị 5 sao Phú Mỹ Hưng, TP Hồ Chí Minh, do người thân quản lí.

Nhà đất có liên quan đến ông Trần Văn Truyền ước tính trị giá chưa tới 100 tỷ… Còn khối bất động sản của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì lại ở đẳng cấp quốc tế ước tính nhiều nghìn tỷ mà ông Truyền khó có thể so sánh:

Tài sản (tính theo bất động sản) của ông Trần Văn Truyền xem ra vẫn còn khiêm tốn lắm lắm so với khối bất động sản nhiều nghìn tỷ của Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc.

Dù sao thì ông Trần Văn Truyền cũng đã nghỉ hưu, mối họa ông để lại cho nhân dân cũng không lớn lắm nhưng còn ông Phó Thủ tướng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo TW về phòng, chống tham nhũng Nguyễn Xuân Phúc thì vẫn còn đang đương chức và có khả năng tiến xa hơn nữa … Đây mới là thực sự là nhân tố hút cạn máu Nhân dân …”

Cán bộ Đảng thi nhau “hút cạn máu” thiên hạ thì nhân dân, những kẻ sống trong “thiên đàng của bọn tham nhũng,” tránh sao được cảnh ăn mày?

Đó mới là chuyện ở bình diện cá nhân của một “bộ phận không nhỏ những cán bộ biến chất,” hay còn gọi (theo ngôn ngữ đương đại) là những “bầy sâu,” đang ngày đêm (ngoem ngoém) đục khoét tài sản quốc gia.

Ở bình diện thể chế thì những đường lối và chính sách cướp ngày của Đảng và Nhà Nước (CCRĐ, Hợp Tác Hoá Nông Nghiệp, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Kiểm Kê Tài Sản, Đổi Tiền, Thu Hồi Đất Đai …) đã “sản xuất” ra vô số ăn xin. Đó là chưa kể không ít những chủ trương lớn (Kinh Tế Quốc Doanh Chủ Đạo, Vinashin, Bauxite…) không ngừng đưa cả đất nước và dân tộc đến mức bần cùng.

Hãy đọc qua vài tiêu đề trên cùng một tờ báo, báo Pháp Luật:

Gia cảnh cơ cực của hai cụ già 10 năm xích chân con

Đắng lòng gia cảnh thanh niên nhặt rác chết cóng

Rơi nước mắt cảnh mẹ già nuôi 3 con bị tâm thần

Cha già bươn chải nuôi 2 con tâm thần

Bên dưới những bài viết thương tâm này thường có đôi dòng viết phụ:

Mọi sự giúp đỡ của những tấm lòng hảo tâm xin gửi về địa chỉ:

– Cụ Nguyễn Văn Thân

Xóm 2, xã Thạch Bàn, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.

Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung

Số 03, Đại lộ Lê Nin, TP Vinh – Nghệ An; ĐT/Fax: 038.8601010;

Số tài khoản: 0191012468008, Ngân hàng Bảo Việt Nghệ An, chủ tài khoản: Báo Đời sống & Pháp luật tại Miền Trung.

Mỗi tuần tôi nhận được qua bưu điện bốn tờ tuần báo: Sống (phát hành từ Westminster, California) Thời Báo (Cheektowaga, New York) Trẻ (Dallas, Texas) và Việt Tribune (San Jose, California). Trừ tờ cuối cùng, ba tờ còn lại đều có mục “Những Tấm Lòng Vàng” hay “Trang Tương Trợ” với tên tuổi, địa chỉ, và hình ảnh những đồng bào đang lâm trọng bệnh hay rơi vào hoàn cảnh cực kỳ bi đát – ở quê nhà – cùng với lời kêu gọi xin độc giả hảo tâm giúp đỡ.

Sống trong một đất nước không có mạng lưới an sinh xã hội để nâng đỡ những người neo đơn, thất thế, già yếu, bệnh tật .. thì người dân còn biết trông chờ và đâu – ngoài lòng hảo tâm của tha nhân. Chớ không ngửa tay xin thì biết làm sao khác.

Sự giúp đỡ không chỉ giới hạn ở mức độ cá nhân.  Thử “google” vài cụm từ, như  “giúp đỡ xây cầu” (chả hạn) trong vòng năm mươi giây sẽ thấy hơn chục ngàn “kết quả” – đại loại như:

Nhóm Việt kiều xây hơn 100 chiếc cầu cho quê hương

Bạn đọc Dân trí ủng hộ xây cầu Dân trí ở Quảng Bình gần 1,3 tỷ đồng

Độc giả VnExpress quyên góp xây cầu vượt sông Pôkô

Cầu treo ở Khánh Hòa. Ảnh Nguyễn Thành Chung. Nguồn: Dân Trí

Một cá nhân, một gia đình, hoặc ngay cả một tập thể người (đôi lúc) cũng cần đến sự trợ giúp khi hoạn nạn nhưng một quốc gia thì không thể theo đuổi chính sách sống nhờ vào lòng từ thiện, vào kiều hối, hay vay vốn ODA nước ngoài – mãi mãi – như vậy được.

Vậy mà đây lại là một trong những chủ trương và chính sách (lớn) của Đảng và Nhà Nước, theo như nhận định của giáo sư Nguyễn Văn Tuấn:

“VN cũng là nước chuyên xin xỏ: suốt năm này sang năm khác, quan chức VN ngửa tay xin viện trợ từ rất nhiều nước trên thế giới. Xin nhiều đến nỗi có quan chức nước ngoài phàn nàn nói ‘Sao chúng mày nói là chúng mày rất thông minh và cần cù mà cứ đi xin hoài vậy. Dân xứ tao phải làm lụng vất vã mới có tiền cho chúng mày’. Thật là nhục. Xin người ta thì nhiều mà khi người ta gặp nạn thì VN chẳng đóng góp bao nhiêu.

Nếu không xin thì cũng đi vay. VN bây giờ là một con nợ quốc tế. Nợ ngân hàng thế giới, nợ ngân hàng ADP, nợ đủ thứ ngân hàng và nợ đủ các nước. Chính phủ thì nói nợ công của VN là 54%, nhưng các chuyên gia độc lập thì nói con số cao hơn nhiều và ở mức báo động đỏ (tức là sắp vỡ nợ?). Con số có lẽ quá lớn để cảm nhận, các nhà kinh tế học ước tính dùm cho chúng ta: mỗi một đứa trẻ mới ra đời ở VN hiện nay phải gánh một món nợ công 1000 USD.”

Vừa mở mắt chào đời đã mang một đống nợ nần, rồi lớn lên trong một xứ sở “chuyên xin xỏ” thì thế hệ tương lai e (lại) cũng sẽ lâm vào cảnh ăn mày thôi – nếu chế độ hiện hành vẫn còn tồn tại.

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM

NHỮNG CÂU NÓI ĐÁNG SUY NGẪM

1. Cầu nguyện không phải là “bánh xe dự phòng” để lấy ra khi gặp khó khăn, nhưng là “tay lái” để lái đi đúng đường suốt cuộc tạm hành trên trái đất nầy.

2. Tại sao xe hơi có KIẾNG TRƯỚC lớn hơn nhiều so với KIẾNG CHIẾU HẬU? Vì QUÁ KHỨ của chúng ta không quan trọng so với TƯƠNG LAI. Vậy, hãy nhìn thẳng phía trước và đi tới.

3. Tình bạn như một QUYỂN SÁCH. Chỉ cần vài phút để đốt đi, nhưng cần vài năm để viết.

4. Tất cả những điều mình có trong đời sống nầy đều tạm bợ. Nếu được hạnh thông, hãy vui hưởng, vì nó sẽ chóng qua. Nếu không thuận lợi, cũng đừng lo lắng, vì nó cũng sẽ không kéo dài.

5. Thường khi ta mất hy vọng và nghĩ đây là đoạn cuối đường, THƯỢNG ĐẾ ở trên cao cười và nói: “Hãy thư giãn, con yêu của ta, đó chỉ là khúc quanh, chứ không phải là đường cùng.”

6. Khi Thượng Đế giải quyết những vấn đề của ta, ta đặt niềm tin nơi Ngài. Khi Thượng Đế không giải quyết những vấn đề của ta, Ngài đặt niềm tin vào khả năng của ta.

7. Một người mù hỏi thánh Anthony: “Có thể còn điều nào khổ hơn là bị mù không?” Thánh trả lời: “Có, lúc ngươi mất định hướng!”

8. Khi chúng ta cầu nguyện cho người khác, Thượng Đế lắng nghe và ban phước cho người đó, và đôi khi chúng ta bình an, hạnh phúc, hãy nhớ rằng một người nào đó đã cầu nguyện cho ta.

9. Sự LO LẮNG không dẹp bỏ được sự KHÓ KHĂN ngày mai. Nhưng nó lấy đi sự BÌNH AN của hiện tại.

(Sưu tầm)

Photo: ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN    Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.     Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ, tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

ĐÔI TAI CỦA TÂM HỒN

Một cô bé vừa gầy vừa thấp bị thầy giáo loại ra khỏi dàn đồng ca. Cũng chỉ tại cô bé ấy lúc nào cũng chỉ mặc mỗi một bộ quần áo vừa bẩn, vừa cũ lại vừa rộng nữa.

Cô bé buồn tủi ngồi khóc một mình trong công viên. Cô bé nghĩ, tại sao mình lại không được hát? Chẳng lẽ mình hát tồi đến thế sao? Cô bé nghĩ mãi rồi cô cất giọng hát khe khẽ. Cô bé cứ hát hết bài này đến bài khác cho đến khi mệt lả mới thôi.

“Cháu hát hay quá!’.
Một giọng nói vang lên: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ, cháu đã cho ta cả một buổi chiều thật vui vẻ”. Cô bé ngẩn người. Người vừa khen cô bé là một ông cụ tóc bạc trắng. Ông cụ nói xong liền đứng dậy và chậm rãi bước đi.

Hôm sau, khi cô bé tới công viên đã thấy ông già ngồi ở chiếc ghế đá hôm trước, khuôn mặt hiền từ mỉm cười chào cô bé. Cô bé lại hát, cụ già vẫn chăm chú lắng nghe. Ông vỗ tay nói lớn: “Cảm ơn cháu, cháu gái bé nhỏ của ta, cháu hát hay quá!” Nói xong cụ già lại chậm rãi một mình bước đi.

Cứ như vậy nhiều năm trôi qua, cô bé giờ đây đã trở thành một ca sĩ nổi tiếng. Cô gái vẫn không quên cụ già ngồi tựa lưng vào thành ghế đá trong công viên nghe cô hát. Một buổi chiều mùa đông, cô đến công viên tìm cụ nhưng ở đó chỉ còn lại chiếc ghế đá trống không.

Hỏi một người làm trong công viên, cô nghe được câu trả lời:
“Cụ già ấy đã qua đời rồi. Cụ ấy điếc đã hơn 20 năm nay.”

(Sưu tầm)

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”,

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về”,

Gọi hồn liễu rủ lê thê, gọi bờ cát trắng đêm khuya.

(Trịnh Công Sơn – Biển Nhớ)

(Thư Do thái 4: 7-13)

Trần Ngọc Mười Hai

Ngày em đi, phải chăng là đi ra biển để đến nỗi biển vẫn nhớ? Nhớ đến độ, người viết nhạc họ Trịnh, lại cứ đong đưa những điệu nhạc phải nghe tiếp kẻo quên sót, như sau:

“Ngày mai em đi, đồi núi nghiêng nghiêng đợi chờ
Sỏi đá trông em từng giờ, nghe buồn nhịp chân bơ vơ
Ngày mai em đi, biển nhớ em quay về nguồn
Gọi trùng dương gió ngập hồn, bàn tay chắn gió mưa sang
Ngày mai em đi, thành phố mắt đêm đêm mờ
Hồn lẽ nghiêng vai gọi buồn, nghe ngoài biển động buồn hơn.

Hôm nào em về, bàn tay buông lối ngõ
Đàn lên cung phím chờ sầu lên dây hoang vu”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

Người viết nhạc đầy hồn thơ, thì viết thế. Chứ, người làm thơ đầy hồn nhạc, lại sẽ diễn-tả như sau:

“Mai tôi đi… chẳng có gì quan trọng,
Lẽ thường tình, như lá rụng công viên,
Như hoa rơi trước gió ở bên thềm,
Chuyện bé nhỏ giữa giòng đời động loạn…
Trên giường bệnh, Tử Thần về thấp thoáng,
Xin miễn bàn, thăm hỏi hoặc cầu an,
Khi xác thân thoi thóp trút hơi tàn,
Nằm hấp hối đợi chờ giờ vĩnh biệt.
Khoảnh khắc cuối… Đâu còn gì tha thiết…
Những tháng ngày hàn nhiệt ở trần gian.
Dù giàu sang hay danh vọng đầy tràn,
Cũng buông bỏ trở về cùng cát bụi…
Sẽ dứt điểm đời phù du ngắn ngủi,
Để đi vào ranh giới của âm dương,
Không bàng hoàng trước ngưỡng cửa biên cương,
Bên trần tục, bên vô hình cõi lạ…
Chỉ ước nguyện tâm hồn luôn thư thả,
Với hành trang thanh nhẹ bước qua nhanh,
Quên đàng sau những níu kéo giựt dành,
Kết thúc cuộc lữ hành trên dương thế…
Mắt nhắm rồi… Xin đừng thương rơi lệ,
Đừng vòng hoa, phúng điếu hoặc phân ưu,
Đừng quay phim, chụp ảnh để dành lưu.
Gây phiền toái, nợ thêm người còn sống…
Ngoảnh nhìn lại, đời người như giấc mộng,
Đến trần truồng và đi vẫn tay không.
Bao trầm thăng, vui khổ đã chất chồng,
Nay rũ sạch… lên bờ, thuyền đến bến…
Nếu tưởng nhớ..Xin âm thầm cầu nguyện,
Nên xem như giải thoát một kiếp người,
Cứ bình tâm, thoải mái với vui tươi,
Kẻ đi trước, người sau rồi sẽ gặp…

Thơ và nhạc, mà lại nói về “cõi hết” cũng rất buồn. Dù bạn dù người “ra đi” có khyên bảo “xin đừng khóc”. Có khóc hay không, đời mình vẫn thế. Cũng vì vẫn như thế, nên có người viết lại đã vội vang đề nghị những lời như sau:

“Đời người thật ngắn ngủi. Nhớ lại vào lứa tuổi đôi mươi, chúng ta lang thang trong sân trường khuôn viên trường đại học, vui cười vô tư và bây giờ đã hơn 40 năm trôi qua rồi. Đời người thoáng chốc đã già !

Bây giờ, những năm còn lại trong cuộc đời của một người, chúng ta cần sống thanh thản, sống thoải mái, sống hạnh phúc vì qua một ngày, chúng ta đã mất một ngày. Vì vậy, một ngày đến, chúng ta vui một ngày. Vui một ngày…rồi không biết được bao nhiêu ngày nữa. Hạnh phúc là do chính mình tạo ra, vui sướng cũng do chính mình tìm lấy vì những niềm vui ấy đã ẩn chứa trong những sự việc nhỏ nhặt xảy ra trong đời sống.

Hạnh phúc là những gì hiện đang ở chung quanh chúng ta, trong tầm tay chúng ta. Nhà nho Nguyễn Công Trứ quan niệm “ Tri túc, đãi túc, tiện túc, hà thời túc. Tri nhàn, đãi nhàn, tiện nhàn, hà thời nhàn”…

Tiền rất quan trọng trong đời sống của con người nhưng tiền không phải là tất cả. Đừng quá coi trọng đồng tiền và cũng đừng lệ thuộc vào đồng tiền, mặc dù biết rằng nếu không có tiền thi làm sao chúng ta sống, làm sao để được thoải mái.

Ta vẫn biết khi ta ra đời ,ta đâu có mang nó đến và khi ra đi, chúng ta cũng không mang nó theo. Đồng tiền có thể mua một lâu đài to lớn nhưng đồng tiền không mua được mái ấm gia đình. Đồng tiền giúp chúng ta mua được nhiều thứ tiện nghi trong cuộc sống nhưng đồng tiền không mua được sức khỏe cũng như hạnh phúc trong đời sống.

Quảng đời còn lại thì quá ngắn ngủi, ta phải sống những ngày tháng cho đáng sống, ta phải làm cho cuộc đời thêm phong phú .

Những gì cần ăn thì cứ ăn, cần mặc thì cứ mua sắm, muốn đi du lịch thì cứ đi. Tập cho mình có nhiều đam mê, tự tìm niềm vui cho chính mình.

Vào trong internet để gửi thư cho bạn bè, để chia sẻ một tin hay, một chuyện vui, một bản nhạc, đọc những bài viết có giá trị, hay “chat” với người quen biết. Chúng ta cần trao dồi bộ óc để trí nhớ vẫn còn sáng suốt. Nếu có người bạn cần giúp, ta cứ mở lòng nhân ái, tốt bụng với mọi người. Rảnh rỗi đi làm những việc từ thiện xã hội, giúp một tay tại những nơi tôn kính như nhà Chùa, nhà Thờ,… lấy việc giúp người làm niềm vui, đó là những thú vui trong tuổi già

Hơn nửa đời, chúng ta dành khá nhiều cho sự nghiệp, cho gia đình, cho con cái, bây giờ thời gian còn lại chẳng bao nhiêu nên dành cho chính mình, quan tâm bản thân, sống thế nào cho thanh thản, vui vẻ. Việc gì muốn thì làm, ai nói sao thì mặc kệ vì mình đâu phải sống để người khác thích hay không thích, nên sống thật với mình. Sống phải năng hoạt động nhưng đừng quá mức, ăn uống quá kiêng cử thì không đủ chất bổ dưởng, quá nhàn rỗi thì buồn tẻ, quá ồn ào thì khó chịu…

Cuộc sống tuổi già thật đa dạng, nhiều màu sắc nên ta cần có nhiều bạn bè, nhiều nhóm bạn bè hoặc tham dự vào những sinh hoạt trong các Hội đoàn ái hữu lành mạnh. Gặp bạn, nói ra những điều phiền muộn cho nhau nghe. Hãy tìm cách gặp gỡ bạn bè và người thân vì không còn nhiều thời gian nữa.

Một người lớn tuổi, sống cô đơn, biệt lập, không đi ra ngoài, không giao thiệp với bạn hữu, thế nào cũng đi đến chổ tự than thân trách phận, bất an, lo âu, ủ dột và tuyệt vọng. Từ đó bắt nguồn của bao nhiêu căn bệnh. Đừng bao giờ nói, hay nghĩ là: “ Tôi già rồi, tôi không giúp ích được cho ai nữa”. Đừng nói những lời hay những tư tưởng có ý tuyệt vọng.

Người già chỉ sảng khoái khi được có bạn tâm giao, đó là một liều thuốc bổ mà không Bác sĩ nào có thể biên toa cho ta mua được.

Ở tuổi hiện tại, chúng ta đừng nghĩ đến đồng tiền, đừng nghĩ đến giàu hay nghèo nữa và cũng đừng than trách hay hối hận vì những lầm lỗi trong quá khứ và cũng đừng tự hỏi là tại sao bây giờ ta không có nhiều tiền. Đừng nói ta không có tiền. Có những thứ hiện đang chung quanh ta rất quí giá mà có nhiều tiền cũng không mua được, đó là người phối ngẩu của chúng ta.

Nếu có chút ít đồng tiền thì cứ tiêu xài những gì ta cần vì sẽ có lúc chúng ta để lại cho người khác xài. Nếu hôm nay ta còn khoẻ mạnh, còn ăn được những món ăn ta thích và ăn biết ngon là ta đã có một khối tài sản to lớn trong tuổi già.

Rồi ta tìm đến những người bạn cùng nhau uống tách trà nóng, ly cà phê buổi sáng, kể chuyện năm xưa hay trao đổi những kinh nghiệm trong cuộc sống hiện tại.

Cuối tuần, hẹn nhau với người bạn đi câu cá, hưởng không khí trong lành của thiên nhiên và cũng để cho tâm tư lắng đọng, tinh thần thanh thản. Đó là những niềm vui trong cuộc sống cuả tuổi già. (Dodom ST sư tầm và chuyển cho mọi người đọc trên mạng)

Đọc trên mạng, hay đọc trong cuộc đời, vẫn có những điều mình chưa được biết trọn gói hay trọn vẹn. Đọc trên mạng hoặc đọc trên thư từ bạn bè gửi, lại cũng có những điều chỉ nói một nhưng hiểu nhiều. Cũng tựa hồ như chuyện nhà Đạo có những Tin vui mừng lâu nay tưởng chừng như đã quen quen, dù được “chia sẻ” mỗi Chúa nhật, suốt một đời, thế mà cứ tưởng như rất mới. Mới như câu chuyện được đề cập ở bên dưới:

“Cô bé và cậu bé là hàng xóm từ thuở nhỏ. Trò chơi thuở bé của hai đứa trẻ là chạy ra bờ sông nghịch, lấy đất nặn thành hình búp bê. Khi khuôn mặt cậu bé nhem nhuốc đầy buồn đất, cô bé sẽ khẽ dùng tay áo quẹt đi những vết bẩn trên mặt cậu. Và cậu bé sẽ nhoẻn miệng cười cảm ơn cô bé. Lúc đó, khuôn mặt của hai đứa trẻ trông còn đáng yêu hơn cả những con búp bê mà chúng nặn ra.

Cô bé vốn hay khóc nhè. Một con sâu nhỏ cũng có thể làm cô bé khóc thét vì sợ hãi. Những lúc đó, cậu bé sẽ dẫm chết con sâu, rồi làm ra vẻ người lớn dỗ dành cô bạn nhỏ.

Cô bé vẫn thút thít không ngừng. Cậu bé không biết nên làm thế nào, rút từ trong túi quần ra một đồng xu nhỏ mà khi đứng đợi cô bé đã nhặt được trên đường. Cậu bé đặt đồng xu nằm trong lòng bàn tay để trước mặt cô bé.

“Em xem này, đây là đồng xu anh nhặt được trên đường lúc nãy. Hai mặt của nó không giống nhau đâu. Bây giờ anh tung nó lên, nếu lúc rơi xuống nó vẫn là mặt này, thì em không được khóc nữa. Còn nếu là mặt kia thì anh sẽ khóc cùng với em có được không?”.

Cô bé dụi mắt, nhìn đồng bạc sáng loáng trước mặt lạ lẫm hiếu kỳ, rồi ngước lên nhìn cậu bé gật đầu mếu máo. Cậu bé khẽ tung đồng xu vào không trung. Đồng xu lật mấy lần, rồi trở lại lòng bàn tay cậu bé. Cô bé tò mò vội gỡ những ngón tay bụ bẫm của cậu bé. Vẫn là mặt lúc nãy của đồng xu. Hai đứa trẻ nhoẻn miệng cười thật to. Cô bé không khóc nữa. Chúng chạy ra bờ sông nặn búp bê bằng đất.

Tuổi thơ của hai đứa trẻ trôi qua trên những cánh đồng bát ngát, những buổi đi bắt chuồn chuồn bên bờ ao và thả thuyền giấy trên con kênh nhỏ. Cả hai cùng bước vào tiểu học. Những lúc không có người bạn thời thơ ấu bên cạnh, cô bé vẫn thường bị những đứa bé trai cùng lớp trêu đùa bắt nạt. Cô bé khóc nhè cả quãng đường về nhà. Đợi đến khi cậu bé về, đồng tiền xu ngày trước lại xoay vòng trên không trung để quyết định tất cả. Hai đứa trẻ lại nhoẻn miệng cười rồi đi tìm trò chơi thuở bé.

Thời gian lại trôi nhanh qua những bài hát đồng dao thuở học trò. Hai đứa trẻ học lên trung học. Cậu bé cho dù ham chơi đến đâu cũng vẫn có thể tính ra những đáp số chính xác nhờ công thức được học. Thầy giáo luôn khen cậu là một học sinh thông minh.

Còn cô bé, cho dù có cố gắng đến đâu cũng không thể hiểu được rằng, khi X và Y có quan hệ, Y và Z có quan hệ, thì X và Z nhất thiết phải có mối quan hệ nào đó. Sau mỗi lần trả bài kiểm tra, cô bé lại nằm bò ra bàn và khóc, nước mắt rơi ướt nhòe cả khung điểm kém. Cậu bé lại rút đồng xu từ trong túi ra và tung vào không trung. Vẫn quy định cũ. Cô bé không khóc nữa, ngoan ngoãn ngồi nghe cậu bé giảng giải những chỗ không hiểu, những công thức toán học, những định luật vật lý mà cô không nắm vững. Điểm số của cô không còn thấp dưới 5.

Thời gian lại trôi theo những tháng ngày bận rộn, những kỳ thi cuối cấp. Khoảng trời đại học mở ra trước mắt hai người bạn. Cuộc sống thời đại học an nhàn tự tại. Tuổi thanh xuân với những tình cảm lứa đôi ngây thơ trong sáng in dấu từng góc sân trường. Chàng trai và cô gái kết thành một đôi kim đồng ngọc nữ trong sự ngưỡng mộ của biết bao nhiêu người. Tình yêu chân thành và bình lặng trong từng khoảnh khắc. Cô gái vẫn hay mau nước mắt. Và chàng trai vẫn luôn giữ đồng xu thuở bé bên mình.

Trong một trận đấu bóng chuyền của trường, chàng trai tham gia cùng vài người bạn. Cô gái đứng trên hàng ghế khán giả, cầm áo khoác cho anh và không quên reo hò cổ vũ. Cuối trận đấu, chàng trai cảm thấy khá mệt, mồ hôi vã ra trên trán. Anh lảo đảo bước về phía khán đài. Mọi thứ trước mắt bất chợt trở nên mơ hồ như qua một làn khói ảo.

Khi còn chưa bước được tới trước mặt người yêu dấu, anh cảm thấy một luồng khí nóng trào qua lồng ngực. Rồi máu từ mũi chảy xuống. Chàng trai ngã xuống trước ánh mắt hốt hoảng của cô gái cùng sự ngạc nhiên của bao người đứng đó.

Bác sĩ cho biết chàng trai bị ung thư máu. Trái tim cô gái vốn nhỏ bé mềm yếu lại như vỡ ra từng mảnh. Khi lần đầu tiên đến thăm anh trong bệnh viện, khi lần đầu tiên nhìn khuôn mặt thân thương của anh nhợt nhạt mệt mỏi, cô không nén nổi xúc động, ôm lấy anh và òa khóc. Những giọt nước mắt rớt vội trên bờ môi anh, ấm áp và mặn chát.

Anh cố gắng với tay lấy từ dưới gối đồng xu mà năn nỉ mãi bác sĩ mới cho giữ lại.

-Em nhìn này, đây là cái gì?”.

Cô gái lấy tay quệt nước mắt, nhìn đồng xu thân thương. “Vẫn quy tắc cũ nhé. Nếu là mặt này, em không được khóc nữa. Còn nếu là mặt kia, anh sẽ khóc cùng em có được không?”

Cô nhìn người con trai thân yêu đang nằm đó. Anh đang cố gắng dỗ dành cô. Bao năm rồi vẫn vậy, anh chưa từng dửng dưng trước giọt nước mắt của cô. Và cô cũng chưa từng lắc đầu mỗi khi anh lấy đồng xu nhỏ ra.

Chàng trai run rẩy tung đồng xu lên không trung. Đồng xu lại xoay vòng lóe sáng rồi rơi xuống lòng bàn tay anh. Vẫn là mặt “không được khóc nữa”. Chàng trai cố gắng mỉm cười kéo cô gái vào lòng dỗ dành như thời thơ ấu. Nước mắt anh chảy xuôi theo nụ cười.

Đám tang anh, mọi người đến dự trong bao đau buồn và tiếc nuối. Cô tiễn anh không một giọt nước mắt. Mọi người nghĩ cô thật cứng rắn. Nhưng họ không biết, trái tim cô đang vỡ vụn. Và nước mắt cô không thể rơi cho anh được nữa.

Ba mẹ anh gửi cho cô một chiếc hộp nhỏ nói là món quà cuối cùng của anh muốn dành tặng cô. Cô run rẩy mở chiếc hộp của anh. Bên trong là một tờ giấy nhỏ với dòng chữ: “Đừng khóc nữa người mà anh yêu suốt đời”, và một đồng tiền xu sáng bóng.

Đồng tiền xu quen thuộc đã theo hai người từ thời thơ ấu. Cô cầm đồng tiền lên, lần đầu tiên mới nhìn kỹ nó. Nước mắt cô chợt trào ra. Đồng tiền xu rơi xuống đất xoay vòng lóe sáng. Hai mặt của nó vốn dĩ không hề khác nhau…” (Lính thủy sưu tầm)

Sưu tầm chuyện ngắn, đâu cứ chỉ mỗi anh lính thủy còn làm việc ấy. Sưu tầm chuyện nhà Đạo, hẳn bạn và tôi, ta vẫn cứ sưu và cứ tầm, rồi ra sẽ nhận được quà tặng như lời dặn sau đây:

“Ngày hôm nay, nếu các ngươi nghe tiếng Chúa, thì chớ cứng lòng.

Thật vậy, nếu ông Giôsuê đã cho họ được yên nghỉ,

thì sau đó, Thiên Chúa đã chẳng nói đến một ngày khác nữa.

Như thế, Dân Thiên Chúa còn có thể được nghỉ

như Thiên Chúa nghỉ ngày thứ bảy,

vì ai đã vào chốn yên nghỉ của Thiên Chúa,

thì cũng đã nghỉ sau khi làm xong công việc của mình,

như Thiên Chúa đã nghỉ sau khi làm xong công việc của Người.

Vậy, chúng ta hãy cố gắng vào chốn yên nghỉ này,

kẻo có ai cũng theo gương bất tuân đó mà sa ngã.

Lời Thiên Chúa là lời sống động,

hữu hiệu và sắc bén hơn cả gươm hai lưỡi:

xuyên thấu chỗ phân cách tâm với linh, cốt với tuỷ;

lời đó phê phán tâm tình cũng như tư tưởng của lòng người.

Vì không có loài thọ tạo nào mà không hiện rõ trước Lời Chúa,

nhưng tất cả đều trần trụi và phơi bày trước mặt Đấng có quyền đòi chúng ta trả lẽ.”

(Thư Do thái 4: 7-13)

Hiểu thế rồi, bạn và tôi, ta cứ hiên ngang hát lời buồn nhưng không bực, có ca-từ như sau:

“Ngày mai em đi, biển nhớ tên em gọi về,
Chiều sương ướt đẫm cơn mê,
Trời cao níu bước sơn khê.
Ngày mai em đi, cồn đá rêu phong rũ buồn,
Đèn phố nghe mưa tủi hồn, nghe ngoài trời giăng mây luôn.
Ngày mai em đi, biển có bâng khuâng gọi thầm,
Ngày mưa tháng nắng còn buồn, bàn tay nghe ngóng tin sang.
Ngày mai em đi, thành phố mắt đêm đèn vang,
Nửa bóng xuân qua ngập ngừng, nghe trời gió lộng mà thương”.

(Trịnh Công Sơn – bđd)

“Nghe trời lộng gió mà thương”. Vâng. Đúng thế. Hôm nay và mai ngày dù trời có lộng gió hay không, ta cứ thương. Thương, như lời người kể truyện ở bên dưới làm đoạn kết cho buổi phiếm luận, rất hôm nay.

“Truyện rằng:

Ngày lễ hội hôm ấy, hai người bạn thân gặp nhau sau một thời-gian xa cách, ít có dịp tâm sự đôi điều về nhân-sinh cuộc đời, vui buồn lẫn lộn. Trò chuyện một hồi lâu, chợ ngu72i này hỏi:

-À này, mối tình của cậu với “con nai vang ngơ ngác” khi xưa bây giờ ra sao?

-Hết rồi cậu ạ! Lâu lắm rồi, chẳng thấy “nai vang” nào còn ngơ ngác hết, mà chỉ là…

-Chỉ là làm sao?

-Chỉ là “muông thú quen gầm, ở Hà Đông thôi!

-Ấy chết! Sao lại là sư tử Hà Đông được?

-Chữ đó là do cậu nói đấy, chứ không phải của tớ đâu nhé. Liều mồm mà ăn nói, kẻo chết không kịp ngáp cho mà coi.

-Tớ chết từ lâu rồi, cậu ạ. Nưng, chỉ là chết trong lòng một chút ít, thôi…”

Chết trong lòng một ít hay rất nhiều, vẫn là sống như đang chết. Là, thứ chết rồi nhưng vẫn còn ngáp. Ngá ngáp, chứ chẳng chơi. Đó là cuộc đời, của bạn và của tôi, rất hôm nay.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn luôn chết trong lòng một ít

Suốt nhiều ngày

Trong đời.

” Cho thêm ý, nguồn hương thêm đầy dẫy.”

” Cho thêm ý, nguồn hương thêm đầy dẫy.”

“Màu như ru, sóng âm thanh xô đẩy .
Bao hương thơm trong lời nguyện chiều nay,
Lên bốc lên và ân huệ dường bay .
Ôi! khí hậu lọc bao nguồn ánh sáng.

(Dẫn từ thơ Hàn Mặc Tử)

Yn 1: 35-42

Mai Tá lược dịch.

Sóng âm thanh – nguồn hương thơm, như màu ru xô đẩy, nơi lời nguyện. Lời nguyện hôm nay, là nguyện và cầu theo ý Chúa, có lời mời. Ngài mời dân con nhà Đạo mỗi người mỗi cách, như đã ghi giữ trong trình thuật.

Trình thuật hôm nay, thánh Gio-an ghi giữ lời gọi mời Chúa gửi đến, với mọi người. Chúa gọi mời mọi người làm dân con đồ đệ, nay uỷ thác. Ngài uỷ thác, lối sống thân thương giùm giúp, bằng quà tặng rất trân quý.

Bài đọc 1, Chúa đã gọi mời người trẻ, tên Samuel, những ba lần. Còn quá trẻ và thiếu kinh nghiệm về gọi mời, nên Samuel cứ ngỡ tiếng Ngài gọi là tiếng từ thày mình, rất Êlya. Thế nên, Chúa gọi hai lần đầu Samuel đều đi ngủ. Cả hai lần đến với Elya, cứ hỏi han. Mãi lần ba, người thanh niên trẻ Samuel mới dám nghe lời thày mách bảo: “lần sau, hễ có ai gọi thì con nhớ thưa: “Lạy Đức Chúa, xin Ngài phán, vì tôi tớ Ngài đang lắng nghe.”

Rồi từ đó, “Samuel đã lớn lên. Và, Đức Chúa ở với ông. Người không để rơi xuống đất một lời nào Người đã phán với ông” (1S 3: 19). Như thế là, anh vẫn tiếp tục lắng tai nghe rất cẩn trọng. Nghe những gì Đức Chúa nói với ông. Lắng nghe tiếng Người gọi mời. Và đổi lại, ông đã chuyển đến với mọi người, những gì mình đã nghe. Bởi, Lời Chúa không là Lời để ta giữ lại, cho riêng mình. Cũng giống như người tôi tớ lĩnh nhận đồng tiền vàng, rồi đem chôn.

Và vì thế, mỗi lần Lời Chúa nói, mọi người cần lắng nghe. Lắng nghe, là: để tai ra mà nghe. Là, thông hiểu. Là, chấp nhận và đồng hoá như của mình. Để rồi, san sẻ với người khác bằng lời lẽ và hành vi. Thành thử, ví thử Chúa gọi ta hôm nay, Ngài sẽ nói gì? Ta có sẵn sàng để lắng tai, không?

Trình thuật nay cũng nói về một gọi mời. Gọi mời, là lời gọi đến hai lần. Lời gọi hôm nay, là về hai người đã trở thành đồ đệ của Gio-an Tẩy Giả. Thánh nhân chỉ cho họ thấy Đức Giê-su rồi bảo: “Này, là Chiên Thiên Chúa!” Thánh Gio-an biết: vai trò thủ lĩnh của ông chỉ ngắn hạn, và tạm thời. Và, ông tập trung nhấn mạnh đến vai trò chỉ đạo của Đức Chúa. ”Chiên Thiên Chúa”, là danh xưng mà thánh Gio-an thánh sử tặng cho Đức Giê-su, ngay chương đầu. Chương này, thánh nhân nối kết Chúa vào với lịch sử cứu độ, dân Do Thái. Và thánh nhân nói: Chúa hy sinh cả cuộc sống vì Ngài thương yêu chúng ta.

Đồ đệ Chúa, thoạt nghe lời gọi mời, chẳng tỏ bày một ngạc nhiên, nhưng đã bước theo Chúa. Thấy thế, Chúa quay lại hỏi: “Các anh tìm gì thế?” Câu hỏi này, Chúa cũng đang gửi đến mỗi người, ngày hôm nay. Thông thường, ta cứ nghĩ mình là người hỏi Chúa:“Ngài tìm ai thế?” Không phải vậy. Ở đây, Chúa chỉ muốn hỏi: ta muốn điều gì? Trả lời câu Chúa hỏi, không phải để trả lời Ngài, mà cốt ý làm lợi cho ta. Câu trả lời, sẽ cho ta biết: đâu là ưu tiên một, ta có thực sự dành cho Chúa. Cho mọi người chung quanh?

Hỏi, là để biết xem ta thực sự muốn cho cuộc sống mình ra như thế nào? Muốn Chúa làm gì cho ta? Và đây chính là câu hỏi không dễ gì có câu trả lời, ngay tức khắc. Trả lời Ngài, có thể cũng chỉ lớt phớt, rất thoáng qua. Nhưng câu trả lời sẽ cho thấy, ta ra như thế nào. Và, đây là câu hỏi buộc ta phải phản hồi, theo từng giai đoạn, trong cuộc sống. Tuỳ hoàn cảnh.

Và, trả lời của đồ đệ cho câu hỏi “anh tìm gì?” là thế nào? Chưa có trả lời, nhưng đồ đệ Chúa, lại cứ hỏi: Thưa Thầy, Thầy ở đâu?” Hỏi như thế, có nghĩa: “Thưa Thầy, Thầy ở nơi nào để con tìm đến? Chúng con đi đâu mới tìm ra được Thầy? Trong cuộc sống, chúng con làm thế nào để giáp mặt cùng Thầy?” Thật phúc thay, nếu ngày nay mọi người chúng ta cũng có câu trả lời như thế,.

Và câu đáp trả của Chúa, vẫn là: “Hãy đến mà xem.” Đến mà xem, trước tiên không phải là một hiểu biết về Đức Kitô và biết được nơi Ngài lưu lại. Cũng không là vấn đề truyền thông tin tức. Cũng chẳng phải là chuyện có liên quan đến mọi ý nghĩa thần học, tín lý hoặc tu đức. Cũng chẳng phải là vấn đề phải có chuyên môn về giáo huấn và luật lệ của Hội thánh: nhóm Pharisêu thuộc mọi thời đại đều rất giỏi chuyện này.

Hiểu biết Chúa, là vấn đề của kinh nghiệm. Người người đều có thể hiểu và biết Giáo lý mới của Hội thánh, dầy những 700 trang. Và, có khi còn thuộc lòng nhiều đoạn. Nhưng vẫn chưa biết Chúa. Biết Chúa, theo nghĩa của trình thuật hôm nay, là biết đi tìm, gặp gỡ và đáp trả sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài, trong cuộc sống.

Biết đến Chúa, là dám lao mình tìm hiểu giáo huấn của Ngài. Tìm và hiểu, cả vào khi xem ra mình cứ phải đối đầu với những người khác nghĩ. Là, yêu thương không điều kiện. Là, thứ tha, đưa má kia cho người tát. Là, vác thập giá nặng theo sau Đức Chúa. Là, chịu đựng mọi sỉ vả, chê bai và hành hình. Hãy đến mà xem, chính là theo chân bước vào con đường Chúa đã đi. Không có cách nào khác.

Hai đồ đệ được nói đến trong trình thuật, đều đã chấp nhận lời gọi mời. Các ngài đã thực sự ra đi và lưu lại nơi Chúa từng, dừng chân vào cuối ngày. Và, kết quả của quyết tâm lưu lại với Chúa, sẽ ra sao? Một trong hai đồ đệ ấy, là thánh Anrê, không chỉ quyết tâm theo Chúa mà thôi, nhưng còn là người rao giảng Tin Mừng, không xa Chúa. Chính thánh nhân là người đã đến kể với anh em mình : “Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia!” Cũng từ đó, Simôn đã trở thành Phêrô, một đồ đệ rất gần gủi. Một lĩnh tụ của cộng đoàn mới.

Cũng nên nhớ, thánh Phêrô, dù đảm trách vai trò quan trọng trong tương lai, lúc đầu vẫn không là người được Chúa đích danh, trực tiếp gọi mời. Mà, qua người em của thánh nhân. Và, chuyện như thế vẫn xảy đến rất nhiều lần ngày hôm nay. Mọi người chúng ta, kể cả các thánh, đều do người khác, những người yếu kém hơn mình, dẫn đưa đến Chúa. Như ta, hôm nay, cũng đều do người nào khác đem đến với Chúa.

 

Bởi thế nên, cũng hãy hỏi:

*Chúa đang gọi ta hôm nay, bây giờ để làm gì? Và, ta có thực sự để tai mà lắng nghe những điều Ngài muốn nói với tôi, không?

*Có ai đang chờ người như ta để nhờ dẫn dắt, đến cùng Chúa, không?

Và, ai là người đang đợi chờ lời gọi mời rất vang vọng: “Hãy đến mà xem”?

Hỏi, tức đã trả lời. Và, câu trả lời của ta, có là câu đáp trả rất tích cực?

Trong tự vấn, ta cứ hiên ngang cất tiếng hát lên để khẳng định một quyết tâm, hát rằng:

“Tôi sẽ hát to hơn những kẻ khơi ngọn lửa thù

Lời tôi ca, lời tôi ca như suối rừng thu

Lửa âm u ai đốt từ lâu

Miền quê tôi khan tiếng kêu gào

Lời tôi ca như nước nhiệm mầu

Thành mưa rơi cho dứt niềm đau”

(Phạm Duy – Tiếng hát to)

Cứ hát to. Hát, cho thêm ý. “Thêm nguồn hương thơm”của cuộc đời. Cuộc đời, nay đã thấy “Lên bốc lên và ân huệ dường bay.” Thấy “khí hậu lọc bao nguồn ánh sáng” . Ánh sáng nhiệm mầu, nơi gọi mời, của Đức Chúa.

Lm Frank Doyle sj

Mai Tá lược dịch.

Chân dung Quyền lực

Chân dung Quyền lực

Nguyễn Hưng Quốc

13.01.2015

Trong mấy tuần vừa qua, sự kiện thu hút sự chú ý của các cư dân mạng và những người quan tâm đến sinh hoạt chính  trị Việt Nam nói chung nhiều nhất có lẽ là sự xuất hiện của trang blog mang tên “Chân Dung Quyền Lực”. Trên mạng lưới internet, từ facebook đến blog, ở đâu người ta cũng xôn xao bàn tán về Chân Dung Quyền Lực (CDQL). Ảnh hưởng của CDQL lớn đến độ nhà cầm quyền Việt Nam, hết người này đến người khác, phải lên tiếng cảnh cáo mọi người không được nói xấu giới lãnh đạo, gây chia rẽ trong nội bộ đảng và làm suy yếu chế độ.

Giống trang Quan Làm Báo trước đây, nội dung chính của trang CDQL là nhằm vạch trần tệ nạn tham nhũng của giới lãnh đạo Việt Nam. Tuy nhiên, trang CDQL khác trang Quan Làm Báo ở nhiều điểm.

Thứ nhất, nó chuyên nghiệp hơn. Trang Quan Làm Báo được trình bày một cách khá nhếch nhác, cách hành văn cũng khá luộm thuộm. CDQL, ngược lại, có hình thức khá đẹp và đặc biệt, được viết với một văn phong rõ ràng mạch lạc, không khác một cán bộ tuyên huấn có tay nghề cao.

Thứ hai, về nội dung, Quan Làm Báo tập trung vào mâu thuẫn giữa chính quyền và nhóm “tài phiệt” tại Việt Nam; CDQL tập trung vào nạn tham nhũng của các thành viên trong Bộ chính trị, tức những người có quyền lực cao nhất nước.

Thứ ba, về sức thuyết phục, Quan Làm Báo rất ít có bằng chứng để hỗ trợ sự lên án của mình, CDQL, ngược lại, nói đến đâu trưng bằng chứng ra đến đó. Các bằng chứng ấy bao gồm: giấy kê khai tài sản, nhà cửa với địa chỉ và hình ảnh rõ ràng, hình ảnh chụp với thân nhân hoặc bạn bè. Khó biết những bằng chứng ấy chính xác đến độ nào. Nhưng nó gợi lên ấn tượng là chúng có thật.

Thứ tư, về nguồn tin, cả Quan Làm Báo lẫn CDQL đều gợi ấn tượng là nó đến từ bên trong: Quan Làm Báo biết trước Bầu Kiên bị bắt; CDQL loan báo chính xác ngày giờ ông Nguyễn Bá Thanh được chở về Việt Nam, trong khi hầu hết giới chức tại Việt Nam, kể cả những người trong uỷ ban bảo vệ sức khoẻ của Trung ương cũng như giới lãnh đạo tại Đà Nẵng đều mù tịt. Sự chính xác này khiến dư luận nói chung càng tin những gì được viết trên CDQL là những lời tố cáo từ trong nội bộ giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Hơn nữa, phần lớn các bài viết trên CDQL đều có hình ảnh cụ thể và rõ ràng của những người được đề cập. Ngoài gia đình hoặc những giới chức có thẩm quyền lớn, ai có thể có những bức ảnh ấy?

Tất cả những đặc điểm vừa nêu đều dẫn đến một kết luận: Trang CDQL là nơi giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay dùng để tố giác và hạ uy tín của nhau trong cuộc chạy đua vào Bộ chính trị cũng như các chức vụ cáo nhất trong hệ thống đảng (Tổng bí thư) và nhà nước (Chủ tịch nước và Thủ tướng).

Nhưng kết luận ấy lại dẫn đến một nghi vấn khác: Ai là người đứng sau trang CDQL?

Để trả lời câu hỏi ấy, có thể phân tích nội dung trên trang CDQL.

Về đối tượng được đề cập, tính đến Chủ nhật 11 tháng 1 năm 2015, trên trang CDQL có khá nhiều người được mang ra mổ xẻ. Nhiều nhất là Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc 27 bài; Chủ tịch nước Trương Tấn Sang 20 bài, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng 18 bài, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng 8 bài, Trưởng ban Nội chính Trung ương Nguyễn Bá Thanh 7 bài (tất cả đều liên hệ đến tình trạng bệnh hoạn của ông), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 5 bài,  Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị 4 bài, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phùng Quang Thanh và Bộ trưởng Bộ Công an Trần Đại Quang, mỗi người  2 bài , Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Đinh La Thăng, Thường trực Bí thư Trung ương đảng Lê Hồng Anh và Trưởng ban Tổ chức Trung ương đảng Tô Huy Rứa mỗi người một bài.

Về sự đánh giá, có thể chia thành hai nhóm. Một, nhóm bị đả kích kịch liệt, chủ yếu vì tội tham nhũng hoặc bất tài, vô đức; và hai, nhóm được khen ngợi. Thật ra, cái gọi là được khen ngợi ấy không thể gọi được là nhóm bởi ở đó chỉ có một người duy nhất: Nguyễn Tấn Dũng. Nguyễn Tấn Dũng được khen là một “hình ảnh độc tôn” trên sân khấu chính trị Việt Nam, người đầy tài năng và quyền lực, hơn nữa, có triển vọng trở thành vị tổng thống đầu tiên của Việt Nam thời hậu cộng sản.

Nhìn vào nội dung như trên, người ta dễ có ấn tượng chính Nguyễn Tấn Dũng hoặc đàn em của Nguyễn Tấn Dũng đứng đằng sau trang CDQL. Thú thực, tôi không tin lắm. Thứ nhất, Nguyễn Tấn Dũng không vụng về đến độ ra tay một cách lộ liễu để ai cũng có thể thấy được như vậy. Ở cương vị của ông, ai cũng thấy, đó là điều cực kỳ nguy hiểm. Thứ hai, nếu là Nguyễn Tấn Dũng, đối tượng bị ông đả kích kịch liệt nhất sẽ là ba đối thủ nặng ký nhất trong guồng máy đảng và nhà nước: Nguyễn Phú Trọng, Trương Tấn Sang và Nguyễn Sinh Hùng, những người ngang tầm và có khả năng giành giựt chiếc ghế Tổng bí thư mà dư luận đồn đoán là ông sẽ nhắm tới sau khi làm Thủ tướng hết hai nhiệm kỳ. Trên trang CDQL, cả ba người này đều bị phê phán gay gắt, nhưng đối tượng bị kết án nặng nề nhất lại là một người khác, hiện đang giữ chức phó Thủ tướng: Nguyễn Xuân Phúc. Cho dù Nguyễn Tấn Dũng đang có tham vọng gì trong kỳ đại hội đảng sang năm, Nguyễn Xuân Phúc cũng không phải là đối thủ của ông. Ông không cần phải ra tay như vậy. Cái giá phải trả quá lớn trong khi kết quả lại không được gì. Thứ ba, vấn đề được phanh phui nhiều nhất trong các bài viết đả kích từ Trương Tấn Sang đến Nguyễn Sinh Hùng, Phùng Quang Thanh và Nguyễn Xuân Phúc đều là vấn đề kinh tế với những khối tài sản kếch xù của họ cũng như của anh chị em hay con cháu họ. Tôi nghĩ đây là một đề tài mà Nguyễn Tấn Dũng không dại gì xới lên bởi nó sẽ gây tác dụng ngược: về phương diện này, có lẽ không ai trong guồng máy chính quyền Việt Nam có mức giàu có như ông và con cái của ông cả.

Vậy thì là ai?

Tôi lóe ra ý nghĩ: Nguyễn Bá Thanh (hoặc đàn em của ông) chăng? Chỉ có Nguyễn Bá Thanh hoặc người của Nguyễn Bá Thanh mới biết rõ tình trạng bệnh hoạn của ông đến vậy. Chỉ có Nguyễn Bá Thanh hoặc người của Nguyễn Bá Thanh mới biết rõ các chi tiết liên quan đến lịch trình chuyến về Việt Nam từ bệnh viện Mỹ của ông đến vậy. Chỉ có Nguyễn Bá Thanh hoặc người của Nguyễn Bá Thanh, Trưởng ban Nội chính Trung ương với chức năng tìm kiếm dấu vết tham nhũng, mới nắm rõ hồ sơ về gia sản của các cán bộ đến như vậy. Chỉ có Nguyễn Bá Thanh hoặc người của Nguyễn Bá Thanh mới căm ghét Nguyễn Xuân Phúc, hai người vốn là đồng hương nhưng lại là đối thủ với nhau trong một thời gian dài, đến như vậy. Và chỉ có Nguyễn Bá Thanh mới ra tay một cách khốc liệt như vậy vì, thật ra, ông không có gì để mất cả: Với tình trạng bệnh hoạn như vậy, nếu còn sống sót, sự nghiệp chính trị của ông coi như đã kết thúc, ông không hy vọng gì giữ được chiếc ghế trong Trung ương đảng, đừng nói gì là Bộ chính trị.

Dĩ nhiên, xin nhấn mạnh, đây là phỏng đoán. Chỉ là phỏng đoán.

Điều quan trọng hơn, bất kể người nào đứng sau trang CDQL và họ nhắm đến bất cứ một mục tiêu gì, những sự phanh phui về tệ nạn tham nhũng của những cán bộ lãnh đạo cao nhất trong hệ thống đảng và nhà nước như vậy cũng là những tài liệu cực quý, lần đầu tiên dân chúng mới được biết một cách cụ thể. Trong trận đấu đá này, có người thắng kẻ bại, nhưng kẻ bại cuối cùng chắc chắn vẫn là đảng Cộng sản: Dưới mắt dân chúng, họ hiện nguyên hình là những tên tham nhũng vơ vét tài sản của đất nước để làm giàu cho bản thân và họ hàng.

Đó mới là điều đáng để chúng ta quan tâm.

 

Người Việt nghĩ nhỏ, khó làm việc lớn?

Người Việt nghĩ nhỏ, khó làm việc lớn?

Nguyễn Lễ

bbcvietnamese.com

Cầu Nhật Tân là niềm tư hào của người dân Hà Nội

Hà Nội có cây cầu mới. Phải nói là đẹp và hoành tráng nhất từ trước đến nay. Năm trụ cầu vươn lên sừng sững giữa trời tượng trưng cho năm cửa ô hay năm cánh hoa đào của làng đào Nhật Tân ngay dưới chân cầu.

Đừng nói chi người dân gốc Hà thành, nếu tôi có mặt ở Hà Nội lúc này tôi cũng muốn đứng giữa cầu để ghi lại khoảnh khắc mình được chứng kiến một lần thủ đô thay da đổi thịt.

Thế nhưng, cầu đã thông, xe đã chạy, đi bộ thì cấm thì chụp làm sao đây? Chỉ có nước chạy xe lên cầu rồi dừng lại mà chụp.

Y như rằng, chỉ một hai ngày sau báo chí đã la ầm lên về ‘những hình ảnh xấu trên cây cầu đẹp’.

Họ tường thuật những chiếc xe dựng chình ình giữa cầu, nam thanh nữ tú làm dáng giữa dòng xe đang chạy hay dải lan can phân cách cheo leo là thế cũng bị trèo lên để lấy góc ảnh ‘độc’.

Trước đó mấy ngày, báo chí còn đưa tin cầu Phú Mỹ trên sông Sài Gòn người dân dàn hàng xem pháo hoa mừng năm mới mặc kệ dòng xe bị chặn ngang giữa đường.

Cũng may chưa có chuyện gì đáng tiếc xảy ra. Có lẽ cánh tài xế ở Việt Nam đã không còn lạ gì tập quán của dân mình.

Người Việt ‘tùy tiện’

Những câu chuyện người Việt ‘tùy tiện’, ‘vô kỷ luật’ hay ‘thiếu ý thức’ như thế nhan nhản trên báo chí mà chúng ta chắc cũng không còn lạ gì.

Ở Việt Nam kẹt xe rất thường xảy ra

Ở Việt Nam kẹt xe thì ai mà không chen? Ai cũng chen mình có muốn không chen cũng không được.

Dĩ nhiên đã kẹt thì càng chen lại càng kẹt. Nguyên tắc phải nhường mới đi được. Nhưng người Việt chỉ muốn đi chứ không muốn nhường. Ai cũng tìm khoảng trống mà lách thì không những không thoát được mà còn làm cho mình và mọi người chùm nhum cả nút.

Nhiều người đi bộ cầu vượt trước mắt đó nhưng không leo sợ cực chẳng thà phang ngang bất chấp tính mạng.

Chợ búa hàng rong thì phải ra lòng đường mới được. Người đi làm về tiện là tấp vào mua giữa đường giữa sá có kẹt xe tắc đường gì cũng kệ.

Rác rến ngoài đường tiện đâu vứt đó. Cực thân đi tìm thùng rác. Chẳng thà để nhếch nhác và mất công người khác quét dọn.

Nhà trên kênh rạch thì cứ thẳng tay ném hết xuống sông cho khỏe để rồi chính môi trường sống của mình bị hủy hoại.

Xem phim nghe nhạc thì mua băng chép đĩa lậu. Đỡ tiền thiệt nhưng giết chết luôn người vắt tim óc sáng tạo để rồi lần sau không còn cái mà coi.

Trộm chó hoành hoành gây náo loạn từ thôn quê đến thành thị thậm chí mất mạng người chỉ vì có nhiều người thích ăn thịt thú cưng của người khác nhưng không muốn mất người bạn trung thành của mình.

Người Việt rất tùy tiện trên đường phố?

Đánh bắt thì tận diệt từ tôm cá, chim chóc thậm chí cho đến côn trùng rắn rít cũng không tha. Ngay miền Tây ‘chim trời cá nước’ mà giờ đây trong tự nhiên nhiều thứ đã cạn kiệt. Ăn một lúc rồi treo miệng cả đời.

Làm ăn buôn bán thì chụp giựt. Hám một chút lợi không đáng mà mất chữ Tín với khách hàng. Đã không giữ khách lâu dài thì chớ mà còn đuổi khách một đi không trở lại. Rốt cuộc tự mình đoản hậu giống như các nhà hàng chặt chém ở Vũng Tàu phải ‘canh me’ chộp từng ‘con mồi’.

Còn những người bỏ hóa chất vào hàng hóa thực phẩm ăn được đồng một đồng hai mà không biết là mình đã làm thiệt hại không biết bao nhiêu đồng cho người khác và xã hội khiến người ta mang bệnh mang tật cả đời.

Tâm lý đố kị

Những trường hợp kể trên người ta đã ham nhỏ bỏ lớn, được một mà mất hai, thấy cái trước mắt mà không nghĩ đến cái lâu dài. Nói cách khác họ có cái nhìn hạn hẹp.

‘Nghĩ nhỏ’ như thế không những gây hại cho mình, cho người, cho đời mà còn dễ bị kẻ khác lợi dụng. Mọi thua thiệt mình lãnh đủ.

Cho nên thương lái Trung Quốc đi thu mua đỉa, móng trâu hay lá trà các thứ có trách họ thì cũng buồn cho dân Việt quá dễ dụ.

Nguyễn Hà Đông có bị người khác ghen ghét với thành công ‘Flappy Bird’?

Và cũng chính vì nghĩ nhỏ nên nhiều người Việt thấy cái tôi quá lớn lấn át cái lớn thành ra nhỏ.

Người Việt rất thấm thía thói ‘dìm hàng’ nhau của dân mình. Thậm chí, có người còn ví xã hội Việt Nam như một rổ cua đồng – con nào leo lên sẽ bị con khác kéo xuống.

Cái tôi thì ai mà không có? Mỗi con người từ khi sinh ra đã là một thế giới và ai cũng muốn mình là trung tâm hơn tất cả mọi người. Lẽ thường ai cũng bị tổn thương khi thấy người khác hơn mình và sẽ có cảm giác dễ chịu khi chỉ trích để dìm người khác xuống và nâng mình lên.

Thế nhưng, người dân ở các nước phát triển biết quý trọng nhân tài thì ngoài cái tôi của bản thân người ta còn nghĩ đến lợi ích chung của xã hội mà người tài đem lại. Cho nên, sự ganh tỵ, đố kỵ nếu có cũng không thành cố tật như người Việt.

Nghĩ nhỏ thì nước nào cũng có nhưng để trở thành vết hằn trong tính cách dân tộc thì ắt hẳn nó bắt nguồn từ nếp sống và văn hóa của dân tộc đó.

Trong khi các người Hoa ở hải ngoại tạo thành một khối kết dính bền chặt bên trong không bung ra bên ngoài không phá vào được thì người Việt lại có tiếng là rời rạc, bất hợp tác, phân rã và triệt hạ lẫn nhau.

Đồng ý ganh tỵ là một cảm giác rất con người nhưng nếu nghĩ lớn hơn thì sẽ thấy ai thành tựu đều là nhờ khả năng và công sức của họ. Ghen ghét với họ tức là đã cho là mình không bằng họ và năng lượng để ghen ghét đó nên dành để phấn đấu được như họ. Suy cho cùng họ làm được cũng là đóng góp cho xã hội mà mình cũng có lợi ích trong đó.

Nghĩ nhỏ thì nước nào cũng có nhưng để trở thành vết hằn trong tính cách dân tộc thì ắt hẳn nó bắt nguồn từ nếp sống và văn hóa của dân tộc đó.

Người Việt gốc là nông nghiệp. Cuộc sống gắn chặt với ruộng vườn, thôn xóm, bờ đê, lũy tre không như phương Tây xuất thân du mục hoặc gắn bó với sóng biển, theo vó ngựa đi khắp nơi, hay theo cánh buồm vươn ra đại dương khám phá thế giới.

Không gian sinh tồn cố định đã đóng đinh tư duy người Việt. Họ có khuynh hướng ổn định, yên bình, không xáo trộn và tư duy lợi ích chỉ cần vụ mùa bội thu dư cơm đủ gạo. Người Hoa có truyền thống thương buôn nên tư duy lợi ích của họ không giới hạn – có một muốn được hai còn lòng tham không đáy.

Họ muốn có lớn, được nhiều thì cái lợi nhỏ không thể che khuất tầm nhìn của họ. Lã Bất Vi từ 2.300 năm trước đã biết buôn vua bán chúa đoạt thiên hạ. Nói đâu xa, người Hoa trong Chợ Lớn làm ăn rất coi trọng chữ tín nên nắm trong tay kinh tế thương mại cả một vùng.

Vai trò lãnh đạo

Cá nhân nghĩ nhỏ thì gây hại cho bản thân và người xung quanh còn lãnh đạo nghĩ nhỏ thì tác hại khôn lường đến tương lai đất nước, vận mệnh dân tộc.

Chủ tịch Sang nói ‘lợi ích đất nước, dân tộc là trên hết’

Người Việt nghĩ nhỏ nên tư duy cục bộ, địa phương, bè phái – lo vun vén cho bản thân, gia đình, dòng họ và quê hương mình. Vấn đề là ở chế độ một đảng cầm quyền thì Đảng có vì mình trước hết hay không?

Trong nền chính trị mà một điều cũng Đảng, hai điều cũng Đảng thì bài viết đầu năm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nghe lạ tai với câu ‘lợi ích đất nước, dân tộc trên hết’.

Không biết khi nói như thế ông Sang có đại diện cho Đảng không chứ người đại diện Đảng là Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thì nói rất khác.

Tổng bí thư nói phải ‘bảo vệ chủ quyền nhưng cũng phải giữ bằng được cho Đảng lãnh đạo’. Tuy nhiên ông không nói rõ giữa hai cái đó thì cái nào quan trọng hơn và nếu không thể đảm bảo hai cái cùng một lúc thì giữ cái nào? Trước đó ông cũng có nói là Đảng quyết ‘không chia sẻ quân đội với bất cứ ai’ cho nên không rõ Đảng quyết nắm quân đội như vậy là để bảo vệ chủ quyền đất nước hay bảo vệ Đảng?

Mới đây, Tổng bí thư cũng nói tại Đại hội Thanh niên rằng con đường chủ nghĩa xã hội mà Đảng đang dẫn dắt đất nước là ‘con đường chưa có tiền lệ’ nên còn nhiều thách thức.

Ở đây tôi không hiểu tại sao đa phần các nước đã có con đường phát triển mà thực tế đã chứng minh làm cho dân giàu nước mạnh thì tại sao Việt Nam không đi mà đâm đầu vào con đường chông gai, tương lai mờ mịt mà trăm năm nữa cũng chưa tới?

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng lên tiếng phải bảo vệ quyền lãnh đạo của Đảng

Nói đó là ý nguyện của người dân thì cũng không đúng vì bản thân Đảng còn chưa hình dung được chủ nghĩa xã hội hình hài thế nào thì người dân biết gì mà lựa với chọn?

Cần xác định giữa chủ nghĩa xã hội và lợi ích quốc gia cái nào lớn cái nào nhỏ. Nếu đi lên chủ nghĩa xã hội mà dân tộc thịnh vượng, đất nước hùng cường thì không nói làm gì. Còn nếu con đường đó gây chia rẽ dân tộc và kìm hãm đất nước thì tại sao nhất quyết phải đi theo?

Đơn cử thì mô hình kinh tế quốc doanh tàn phá bao nhiêu nguồn lực của đất nước nếu là nước khác thì người ta đã bỏ từ đời nào rồi chứ không như Việt Nam không bỏ được vì nếu bỏ thì còn gì là kinh tế xã hội chủ nghĩa.

Cũng vậy, trong quá khứ nếu Đảng không đặt nặng đấu tranh giai cấp thì đã không bị che mờ mắt không còn thấy lợi ích của đất nước đâu nữa.

Chẳng hạn Đảng sẽ cân nhắc hơn khi quyết định đẩy dân tộc vào lò lửa chiến tranh, hy sinh xương máu hàng triệu đồng bào cả hai miền, làm hao tổn bao nhiêu nguyên khí, làm đất nước thụt lùi bao nhiêu năm để chiến đấu cho hai phe ý thức hệ còn người ta đứng sau cấp vũ khí tiền bạc cho dân mình đánh nhau.

Chẳng hạn Đảng sẽ tỉnh táo thấy chủ quyền lãnh thổ quan trọng hơn là ý thức hệ, không vì ‘tình hữu nghị’ mà sập bẫy Trung Quốc trong vụ công thư năm 1958 để bây giờ phải xử lý hết sức khó khăn.

Chẳng hạn sau chiến thắng năm 1975 Đảng sẽ nghĩ đến tương lai dân tộc không vì cái kiêu hãnh giai cấp mà đẩy hàng triệu người dân miền Nam vào các trại cải tạo, các khu kinh tế mới thậm chí mất mạng trên biển khơi để hận thù hằn sâu trong lòng dân tộc đến tận bây giờ.

Ông Đặng Tiểu Bình có đường lối ngoại giao thực dụng

Rõ ràng cùng là Đảng Cộng sản nhưng người Trung Quốc họ nghĩ lớn hơn. Họ đặt lợi ích quốc gia là tối thượng còn ý thức hệ chỉ là con bài để lợi dụng Việt Nam mà thôi.

Chính vì vậy họ mới gài bẫy Việt Nam hồi năm 1958 để hỗ trợ cho tham vọng Biển Đông của họ về sau. Và kể từ chủ trương ‘mèo trắng mèo đen’ thì họ đã từ bỏ con đường kinh tế xã hội chủ nghĩa. Giờ đây với ‘Trung Hoa mộng’ họ đang mơ trở lại thời kỳ mà Trung Quốc đúng nghĩa là quốc gia trung tâm thế giới. ‘Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc’ chỉ còn là cái vỏ cho Đảng của họ cầm quyền mà thôi.

Trong hoàn cảnh như vậy nếu Đảng ở Việt Nam vẫn đặt lợi ích của Đảng lên trên lợi ích dân tộc, vẫn còn mơ hồ con đường chủ nghĩa xã hội, tức là vẫn chỉ thấy cái nhỏ mà không nghĩ được cái lớn, thì Việt Nam sẽ mãi là một dân tộc nhược tiểu, đất nước không bứt phá được và sẽ luôn bị người ta hiếp đáp.

Tấm gương lịch sử

Tấm gương người xưa vẫn còn chói rạng. Thái hậu Dương Vân Nga hy sinh ngai vàng của con trao quyền lực cho người có tài cứu nước. Đức Vua Trần Nhân Tông sau khi thắng giặc Nguyên-Mông bỏ qua chuyện cũ lấy lượng bao dung mà hòa giải dân tộc.

Và tổ tiên người Việt cũng không ít những người nghĩ lớn. Đức Vua Lý Thái Tổ dời đô về Thăng Long là nghĩ ‘đến muôn đời’. Danh thần Nguyễn Trãi đã dạy ‘trồng cây Đức để con ăn’.

Quan chức thời nay chỉ thấy tiền tài vật chất. Nhiều người chỉ vơ vét thật nhiều chứ biết đâu ‘trồng cây Đức’ mới là đại kế cho con cháu về sau.

Của cải tích trữ như núi ngồi ăn cũng lở, tiền tài gom góp chết có mang theo được không? Quan trọng là có khả năng thì phấn đấu làm lợi cho dân cho nước để lập công đức cho đời. Chứ còn vì lòng tham của bản thân mà đục khoét phá hoại thì hưởng thụ được bao nhiêu để bị muôn người chửi rủa.

Vấn đề là nếu con người ta thấy hại thì ai mà làm. Nhưng vì họ không nhìn ra hại để tránh mà chỉ thấy lợi nên ham.

Và nếu nghĩ nhỏ đã thấm vào máu của người Việt rồi thì khó sửa lắm. Có điều nếu dân trí người dân nâng cao thì tầm nhìn của họ cũng mở rộng hơn. Cho nên mong chờ các thế hệ sau trong điều kiện giáo dục tốt hơn sẽ nghĩ lớn hơn người đi trước.

Điều tối quan trọng là người lãnh đạo phải nghĩ lớn hơn, phải thoát ra khỏi sự ràng buộc về tư tưởng để lấy lợi ích của dân của nước làm trọng. Từ đó mới thấy được cái gì có lợi cho dân thì làm và cái gì có hại thì quyết phải tránh.

Thế kỷ kết liễu độc tài (RFA)

Thế kỷ kết liễu độc tài  (RFA)

tuankhanh

Những ngày của đầu năm 2015, tin tức về cái chết của Fidel Castro, nhà lãnh đạo cộng sản khét tiếng của Châu Mỹ Latin đang được lan truyền khắp nơi. Có thể đó chỉ là tin đồn. Có thể ông ta đã chết nhưng đảng cộng sản Cuba đang chọn tìm một thời điểm thích hợp để công bố, như số phận của nhiều nhà lãnh đạo cộng sản khác. Cũng có thể tin đồn đó chỉ là cách phản ánh một tâm thức chán ghét của của đám đông về nhân vật này. Nhưng điều quan trọng hơn, với những gì đang diễn ra ở Cuba, thì ý nghĩa tồn tại thể chất của nhà độc tài cộng sản 88 tuổi không còn quan trọng: Trong mắt loài người văn minh, Fidel Castro kể như đã chết.

Cũng giống như nhiều lãnh tụ cộng sản háo danh khác, Fidel Castro cũng thích nhảy múa cùng những huyền thoại của mình, để ông được “sống mãi trong sự nghiệp của chúng ta”. Một trong những huyền thoại hay được sách vở Cuba tuyên truyền rầm rộ là ông đã phá vỡ được đến 638 vụ ám sát của CIA Mỹ tổ chức nhằm vào ông. Những vụ ám sát được công bố qua các phương thức như bỏ thuốc độc, nổ xì-gà… rất ư là 007. Với theo nhiều tài liệu phân tích của các sử gia, thì đa số là do các tổ chức Cuba phản kháng lưu vong tìm cách thực hiện. Nhưng điều đáng nói nhất, thì người dân Cuba ít được phép nhắc đến, đó là Fidel Castro đã cai trị dân tộc mình bằng máu và nước mắt hơn nửa thế kỷ.

Không chỉ riêng ở Cuba, mà ngay ở Việt Nam, các giáo viên dạy sử cũng được nhận lệnh gia công cho các huyền thoại này. Trong một giờ dạy về lịch sử quốc tế, tôi còn nhớ mình phải học thuộc lòng rằng Cuba như chỉ sinh ra từ Fidel Castro và chủ nghĩa cộng sản. Người thầy dạy sử, mà tôi tin chắc rằng ông ta chưa bao giờ được một lần đặt chân đến Cuba, đã say mê thuyết phục những đứa học trò trung học chúng tôi rằng nơi đó là thiên đường, và Fidel là một kỳ nhân của thế gian khi cải tạo đất nước này sang hình thái xã hội chủ nghĩa.

Ở thiên đường đó, mà tôi cũng từng mơ màng trong suốt nhiều năm, có những điều thật trớ trêu. Hơn một triệu người dân Cuba không chấp nhận cộng sản, chọn cách ra đi đã hàng năm gửi về cho thân nhân của họ hơn 1 tỷ USD kiều hối, tương đương với 35% ngoại tệ thu về hàng năm của cả nước, giúp nền kinh tế này thoi thóp sống. Nơi quốc gia này, nhân viên nhà nước làm việc cho chính phủ, chỉ có được mức lương trung bình khoảng 15 USD/tháng nhưng phí điện thoại di động là 40 USD/ tháng. Tôi không có dịp gặp lại người thầy của mình để hỏi lại cảm giác của ông về những tin tức như năm 2014, người dân Cuba mới bắt đầu được đi du lịch nước ngoài mà không còn cần phải làm bản trả lời thẩm vấn nộp cho công an địa phương. Hoặc chỉ để nhìn lại ông, khi chìa cho ông bản tin chính báo chí Việt Nam đăng tải, rằng các phát minh của thế kỷ 20 như tivi màu, internet… người dân Cuba chỉ được chạm đến trong thế kỷ 21.

Năm 1961, sau một thời gian làm cách mạng lật đổ chế độ thân Mỹ của tổng thống Fulgencio Batista, Fidel Castro tuyên bố mình đi theo chủ nghĩa cộng sản, đưa đất nước này vào bóng đêm tăm tối của chế độ độc tài toàn trị. Dù được ca ngợi là thành tựu ở một vài lãnh vực như y khoa, kiểm soát tội phạm… nhưng đất nước Cuba cũng được nhắc đến về cuộc sống rên siết trong vòng vây của chế độ cộng sản. Một chế độ mà chính chủ tịch mới, ông Raul Castro đã phải thú nhận trước quốc hội vào tháng 4/2011, rằng « Hoặc là chúng ta sửa đổi, hoặc như thế là hết. Chúng ta không còn có thể đi men theo bờ vực thẳm, chúng ta sẽ chìm đắm, và cùng chìm theo ta là nỗ lực của bao nhiêu thế hệ ».

Triều đại bàn tay sắt của Fidel Castro vẫn còn được được mô tả trong bản báo cáo về nhân quyền năm 2009, qua lời của Rodolfo Bartelemí Coba, một nhà tranh đấu cho quyền con người, rằng “Chúng ta sống 24 giờ một ngày, mà vốn đã được chuẩn bị sẵn sàng để bị giam giữ”. 10 ngày sau lời phát biểu này, ông Rodolfo cũng đã bị bắt đi mất tích.

Sự tàn bạo của chính quyền cộng sản Cuba, thông qua Lực Lượng Vũ Trang Cách Mạng (FAR) là đề tài kinh hoàng của những người vượt thoát khỏi Cuba. Theo hồ sơ của Hiệp hội Đồng hương Mỹ-Cuba (Cuban American National Foundation) thì từ sau khi Fidel Castro cầm quyền, đã có khoảng 12.000 đối lập chính trị bị bắn, chôn sống hoặc tra tấn đến chết. Nhưng các tài liệu ngoài tiếng Tây Ban Nha thì cho biết số lượng những nạn nhân này có thể lên đến 17.000 người, chỉ tính riêng từ năm 1959 đến 1990.

Một bản tin về chuyện ngay sau khi Mỹ bỏ cấm vận với Cuba vào 17/12/2014 vừa rồi, cũng như tin tức chủ tịch Raul Castro ký trả tự do cho 35 nhà đối lập trong danh sách 100 người được quốc tế đề nghị (8/1/2015), số người đào thoát khỏi Cuba vẫn tăng đến 117%. Dù tự do và thay đổi đang ở ngay trước mặt nhưng người dân Cuba đã không còn kiên nhẫn để chờ đợi nữa. Họ làm mọi cách để chạm vào tự do ngay khi hàng rào kẽm gai vừa lỏng lẻo chứ không còn kiên nhẫn và cam chịu để chờ đến khi hàng rào đó sụp đổ. Không thể đợi Fidel chết và chế độ cộng sản Cuba sụp đổ trên bản đồ chính trị, người dân muốn tiễn đưa ngay cơn ác mộng của đời mình bằng hành động cụ thể nhất.

Khác với các nhân vật như đại tá Gaddafi hay tổng thống Mubarak, các nhà lãnh đạo cộng sản vẫn hay lên tiếng tố cáo sự tư hữu xa hoa của chế độ phương Tây, bày tỏ cuộc sống khiêm tốn của mình. Nhưng khi mọi thứ được phơi bày, người dân mới té ngửa khi biết rằng mọi thứ đều là dối trá. Chính các nhà lãnh đạo cộng sản là kẻ tham nhũng ghê sợ nhất, xa hoa nhất trên tấm lưng còng của tổ quốc mình. Theo tiết lộ từ cuốn La Vie Cachée de Fidel Castro (tạm dịch: Cuộc đời bí ẩn của Fidel), một nhân viên cận vệ của Fidel Castro kể rằng nhà lãnh tụ này chưa bao giờ từ bỏ lối sống tiện nghi tư bản mà ông ta vẫn hay lên truyền hình nguyền rủa nó. Juan Reinaldo Sánchez, người đã làm cận vệ riêng cho Fidel trong suốt 17 năm, sau đó đào thoát qua Mỹ, tiết lộ rằng dân cả nước Cuba không thể nào hình dung nổi cuộc sống sang trọng phung phí của Fidel. Thậm chí Fidel Castro còn quy hoạch một hòn đảo nhỏ thành của riêng cho mình, đảo Cato Piedra, nằm ở phía nam của Vịnh con Heo. Juan nói rằng nơi đó được Fidel Castro xây dựng như một vườn địa đàng, đầy những trại nuôi rùa biển và cá heo.

Thế kỷ 20 và 21 đã chứng kiến nhiều cuộc kết liễu độc tài. Từ Stalin đến Mao Trạch Đông… rồi Kim Chính Nhật đến Gaddafi… giờ thì đã rất gần với Fidel Castro, nhân vật bạo chúa được khoác áo người hùng trong vai diễn của lịch sử cộng sản thế giới. Như một quy luật không thể thay đổi: bất cứ chế độc tài nào rồi cũng phải ra đi, dù đi nhanh hay đi chậm. Thế kỷ như đang kết liễu những nhà độc tài, những nhà nước độc tài núp bóng vì nhân dân, vì tổ quốc. Những người như tôi cũng có dịp để kết liễu những bài học lịch sử nhồi sọ của mình, để ghi vào đó, một trang sử mới bằng tên của những người yêu nước Cuba đã chết cho quê hương của họ được tự do.

Lời Hay Ý Đẹp

Only friends and family will be present in sickness. Stay in touch.
(Chỉ có gia đình và bạn bè bên cạnh khi đau ốm. Nhớ gần gũi họ.)

Life is too short. Don’t waste time hating anyone.

(Cuộc đời quá ngắn ngủi. Đừng phí thì giờ ghét bỏ ai làm gì.)

Make peace with your past so it won’t screw up the present.
(Hãy chôn quá khứ để hiện tại không bị xáo trộn.)

Don’t compare your life to others. They have different journeys.

(Đừng đem đời mình so với ai đó; đời mỗi người mỗi khác)

Everything can change in the blink of an eye.
(Mọi chuyện ở đời có thể thay đổi trong chớp mắt)

You don’t need to win every argument. Agree to disagree.
(Không cần thắng trong mọi cuộc tranh luận. Hãy chấp nhận bất đồng.)

Crying is good, but it’s more healing crying with friends.
(Khóc cũng tốt, nhất là khi khóc với bạn bè.)

Take a deep breath. It calms the mind.
(Hít thở sâu giúp tinh thần ổn định)

Get rid of anything that is neither useful, beautiful, nor joyful.
(Hãy gạt bỏ những gì vô ích, xấu xa, buồn bã)

What doesn’t kill you really makes you stronger.
(Điều gì không giết ta được sẽ giúp ta mạnh hơn)

Today is special. Enjoy it.
(Ngày hôm nay là ngày đặc biệt. Phải tận hưởng nó)

Your belief of your being right doesn’t count. Keep an open mind.
(Đừng tin rằng mình luôn luôn đúng. Phải có đầu óc cỏ̉i mỏ̉)

Forgive everyone everything.
(Hãy tha thứ tất cả cho mọi người)

What other people think of you is none of your business.
(Đừng bận tâm về nhận xét của ai đó về mình)

It’s OK to yield.
(Nhường nhịn một chút cũng không sao)

However good or bad a situation is, it will change.
(Tình thế dù tốt hay xấu, rồi cũng thay đổi)

Don’t take yourself so seriously. No one else does.
(Đừng quá nghiêm khắc với bản thân. Không ai làm như vậy)

Release your children when they become adults, its their life now.
(Hãy buông con cái ra khi chúng trưởng thành. Chúng đã có cuộc sống riêng.)

Time heals almost everything. Give time time.
(Thời gian hàn gắn gần như mọi sự. Hãy để cho thời gian có thì giờ)

MƯỜI BÍ MẬT HẠNH PHÚC

MƯỜI BÍ MẬT HẠNH PHÚC

 

Trong 5 năm qua, người ta ngày càng chú tâm nghiên cứu về hạnh phúc con người.  Vô số sách xuất bản nói về chủ đề này, và trong số đó không kém nổi bật là quyển Thần Thoại Hạnh Phúc của Sonja Lyubomirsky, vốn đã trở nên một kinh thánh thế tục về hạnh phúc và ý nghĩa cuộc đời cho nhiều người.  Trong quyển sách mới đây, Tiếng Gọi Hạnh phúc, Sidney Callahan đã định lượng phê phán nhiều nghiên cứu trên.  Cho dù các nghiên cứu này có đáng giá đến đâu, thì tất cả chúng ta đều nuôi dưỡng ước mơ thầm kín của riêng mình về những điều mang đến hạnh phúc cho mình, và thường ảo tượng này khác rất xa với những gì chúng ta biết là thật.  Vậy điều gì sẽ cho chúng ta hạnh phúc?

Trong một bài phỏng vấn mới đây (ngày 29 tháng 7 năm 2014) với tuần báo Viva của Argentina, giáo hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh về chủ đề này, và đưa ra “10 lời khuyên” của riêng ngài về hạnh phúc.  Vậy lời khuyên của giáo hoàng Phanxicô về hạnh phúc, theo cách nói của ngài là “để đem lại niềm vui lớn hơn cho cuộc sống”, là gì?

Khi trình bày ở đây, tôi sẽ trung thành với lời của ngài, nhưng do ngài diễn giải khá dài cho mỗi điểm, nên tôi sẽ mạo muội tổng hợp điểm trọng tâm của ngài bằng lời của tôi.

1.  Sống và hãy sống

Tất cả chúng ta sẽ sống lâu hơn và hạnh phúc hơn nếu thôi đừng cố gắng sắp đặt cho cuộc sống người khác.  Chúa Giêsu đòi buộc chúng ta không được phán xét nhưng hãy sống với áp lực căng thẳng đó và để Thiên Chúa và lịch sử đưa ra phán quyết.  Vậy để sống, chúng ta cần sống bằng nhận thức riêng của mình và hãy để người khác cũng được như vậy.

2.  Trao ban bản thân cho tha nhân

Hạnh phúc hệ tại ở việc cho đi chính mình.  Chúng ta cần cởi mở và quảng đại, vì nếu rút vào bản thân, chúng ta sẽ mắc phải mối nguy quy ngã và sẽ chẳng tìm thấy hạnh phúc vì “nước đọng là nước độc.”

3. Hướng đến điềm đạm

Hãy làm việc với lòng tốt, khiêm nhượng, và điềm đạm.  Đây là những điều đối chọi với lo lắng và sầu lụy.  Điềm đạm không bao giờ gây cao huyết áp.  Chúng ta cần phải nỗ lực, phải ý thức để đừng bao giờ để hiện tại gây hoang mang và vội vã quá đáng.  Thà trễ còn hơn là căng thăng quá độ.

4. Nghỉ ngơi lành mạnh

Đừng bao giờ bỏ phí thú vui của nghệ thuật, văn học, và chơi đùa với trẻ con.  Hãy nhớ rằng Chúa Giêsu đã làm cho người khác chướng mắt vì Ngài có thể tận hưởng cuộc sống với mọi vui thú của nó. Chúng ta không chỉ sống bằng làm việc, cho dù đó có là công việc quan trọng và ý nghĩa đến đâu đi nữa.  Ở trên thiên đàng, không có công việc, chỉ có thư thái, chúng ta phải học lấy nghệ thuật và niềm vui của an nhàn, không phải chỉ để chuẩn bị cho thiên đàng mà còn để tận hưởng một phần thiên đàng ngay hiện tại.

5. Ngày chúa nhật phải là ngày nghỉ

Các công nhân phải được nghỉ ngày chúa nhật, vì ngày chúa nhật là dành cho gia đình.  Thành tựu, năng suất, và tiến độ không nên là những thứ mà chúng ta xem  trọng nhất, nếu không chúng ta sẽ bắt đầu đem mọi thứ ra mà bán buôn, đời chúng ta, sức khỏe, gia đình, bạn bè, những người xung quanh chúng ta, và những sự tốt đẹp trong đời nữa.  Đó là lý do vì sao Thiên Chúa cho chúng ta giới răn giữ ngày Chúa Nhật.  Đây không phải là lời khuyên về lối sống, nhưng là một giới răn, cũng hệt như cấm giết người vậy.  Hơn nữa, nếu chúng ta là người chủ, thì giới răn này đòi hỏi chúng ta cũng phải cho nhân công của mình có một ngày chúa nhật đúng nghĩa.

6. Tìm những cách mới để tạo việc làm phẩm giá cho người trẻ

Nếu bạn muốn chúc phúc cho một người trẻ, đừng chỉ nói với họ rằng anh ấy, cô ấy thật tuyệt.  Đừng chỉ ngưỡng mộ vẻ đẹp và sinh lực của tuổi trẻ.  Hãy cho người trẻ công việc của bạn!  Hay, ít nhất, hãy tích cực hành động để giúp người đó tìm được một công việc ý nghĩa.  Điều này sẽ vừa ban phúc cho người trẻ đó và vừa đem lại niềm hạnh phúc đặc biệt cho đời bạn.

7. Tôn trọng và chăm lo cho tự nhiên

Không khí chúng ta thở ra là không khí chúng ta hít vào.  Đây là chân lý đúng cho cả đường thiêng liêng, tâm lý, và sinh thái.  Chúng ta không thể nguyên vẹn và hạnh phúc khi Mẹ trái đất đang bị tước đoạt đi sự nguyên vẹn của mình.  Chúa Kitô đến để cứu thế giới, chứ không phải chỉ cứu con người trong thế giới.  Ơn cứu độ, cũng như hạnh phúc của chúng ta, gắn chặt với cách chúng ta đối xử với trái đất.  Thật là vô luân khi tát vào mặt ai đó, và cũng vô luân khi ném những thứ rác thải của chúng ta vào mặt của Mẹ trái đất.

8. Đừng tiêu cực

Nhu cầu cần phải nói xấu ai đó cho thấy một sự thiếu tôn trọng bản thân.  Những suy nghĩ tiêu cực nuôi dưỡng bất hạnh và cái nhìn xấu về bản thân mình.  Còn suy nghĩ tích cực nuôi dưỡng hạnh phúc và sự tự tôn lành mạnh.

9. Đừng chiêu mộ, hãy tôn trọng niềm tin của người khác

Những gì chúng ta trân trọng, và là sự thăng tiến đức tin của mình, chính là “nhờ sự lôi cuốn chứ không phải chiêu mộ.”  Vẻ đẹp là điều không ai có thể bàn cãi.  Hãy trân quý các giá trị của bạn, nhưng luôn luôn hướng đến người khác với lòng nhân từ, tử tế và tôn trọng.

10. Làm việc vì hòa bình

Hòa bình không chỉ là vắng bóng chiến tranh, và làm việc vì hòa bình không chỉ là đừng gây bất hòa.  Hòa bình, cũng như chiến tranh, phải được tiến hành một cách tích cực, bằng cách làm việc vì công lý, bình đẳng, và quy tụ với tất cả mọi người là gia đình mình.  Tiến hành hòa bình là một cuộc đấu tranh không dứt để mở rộng tâm hồn, của mình và của người khác, để nhìn nhận rằng trong nhà Chúa có nhiều chỗ ở và rằng tất cả mọi đức tin, chứ không chỉ đức tin của chúng ta, đều là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc.

Và tôi xin mọi người thứ lỗi nếu có ý tưởng nào của tôi thay thế ý tưởng của Đức Phanxicô.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

Anh chị Thụ Mai gởi

Bốn mươi năm và bao nhiêu năm nữa?

Bốn mươi năm và bao nhiêu năm nữa?

VietTuSaiGon

RFA

Bốn mươi năm, những vong linh mồ xiêu nấm lạc, không người nhang khói, bị bêu riếu bằng cái tên “mả ngụy” và người ta đã dày xéo không thương tiếc! Nghĩa trang Quân lực Việt Nam Cộng Hòa ở nhiều nơi đã thành khách sạn, công ty, dấu xưa chẳng còn gì.

Bốn mươi năm, những vong linh lang bạc kì hồ, không chốn nương náu bởi lòng người lạnh nhạt và người ta mãi say sưa trong cái gọi là chiến thắng, đạp lên tất cả mọi giá trị của đối phương, kể cả giá trị làm người và giá trị làm ma!

Bốn mươi năm, tượng đài bị đập phá, công trình, di tích bị đập phá, sách bị đốt, người bị nhốt, những bộ não thi đậu thủ khoa đại học lại bị vất ra đường để bán cà rem, bán bánh mì, những bộ não đỏ tuy không có chữ nào, học lớp ba lớp bốn trường làng lại được dán lên đó cái bằng tiến sĩ, bằng cao học… để lãnh đạo đất nước!

Bốn mươi năm, khoảng thời gian đủ để vài thế hệ sinh ra, lớn lên, nhận lãnh một nền giáo dục mà đến khi trường thành, sự sợ hãi, tính dối trá, giảo hoạt, lòng ích kỉ và thù hận đã chi phối toàn bộ hành vi hằng ngày, chuyển hóa thành bản chất đeo đẳng bởi giáo dục nhà trường và tương tác xã hội.

Bốn mươi năm, dường như lòng thù hận chưa bao giờ được xóa bỏ bởi chính sách phân biệt lý lịch trong các cơ quan nhà nước cũng như tính ưu tiên cho những con cháu của đảng viên Cộng sản, dẫn đến hàng loạt bất công, phi lý và những người có ý thức xậy dựng tương lai cá nhân, xã hội phải rơi vào chỗ cô thế, bị khủng bố tinh thần bằng mọi giá.

Bốn mươi năm, mỗi dịp lễ hội, Tết, nhà cầm quyền Cộng sản vẫn không bao giờ quên mở những bài hát mà nội dung của nó ca ngợi đảng Cộng sản, đẩy Việt Nam Cộng Hòa vào chỗ giặc bán nước, “ngụy quân”, “ngụy quyền”.

Bốn mươi năm, đất nước không có chiến tranh Nam – Bắc nhưng số người chết bởi chiến tranh Campuchia, chiến tranh biên giới Việt – Trung nhiều gấp ba lần số người chết trong hai mươi năm chiến tranh Nam – Bắc, không có bắn nhau trong nội địa Việt Nam nhưng người Trung Quốc ngang nhiên bắn giết bộ đội Việt Nam trên biển, mặc dù vậy, đảng Cộng sản Việt Nam và đảng Cộng sản Trung Quốc vẫn giao hảo với nhau, vẫn anh em “bốn tốt mười sáu vàng”.

Bốn mươi năm không có Tây, Mỹ nào xâm lược nhưng lãnh thổ, lãnh hải Việt Nam vẫn tiếp tục nhỏ lại, các cột mốc biên giới Việt – Trung vẫn tiếp tục dời lệch về phía Việt Nam, biển đảo tiếp tục mất dưới bàn tay Trung Cộng.

Bốn mươi năm “sống và làm việc noi gương bác Hồ vĩ đại”, người cán bộ Cộng sản đã tàn phá thiên nhiên, mọi nguồn tài nguyên cạn kiệt, đất đai hẹp dần, quyền sở hữu đất của người dân vẫn chưa có và tiếng kêu oan từ nhân dân mất đất vẫn kêu thấu trời xanh, chỉ có nhà cầm quyền là không nghe thấy.

Bốn mươi năm, những trí thức, văn nghệ sĩ, thanh niên yêu nước đã xuống đường biểu tình chống Trung Cộng và bị lực lượng công an Việt Cộng đàn áp, đánh đập, bắt bớ và dập tắt bằng mọi giá. Thậm chí có cán bộ công an đã hù dọa sẽ biến những cuộc biểu tình thành một “Thiên An Môn tại Việt Nam” hoặc chửi thề “tự do lài cái con c.!” với những người biểu tình.

Bốn mươi năm, hệ thống nhà nước trở thành bộ máy tham nhũng khổng lồ và chạy rất nhịp nhàng trong cơ chế quyền lực phe nhóm của nó. Người dân trở thành thứ nô lệ gián tiếp nộp thuế để nuôi cái bộ máy tham nhũng, cái hệ thống quyền lực này.

Bốn mươi năm, người dân quen sống trong sợ hãi, kìm kẹp và vô hình trung trở thành một thứ đảng viên Cộng sản không chính thức, lấy sự bợ đỡ quyền lực đảng, quyền lực nhà cầm quyền địa phương, quyền lực công an làm chỗ dựa mà tồn tại. Một ông hàng phở, một bà hàng xén sẵn sàng bỏ ra những đồng bạc ki cóp của mình để đút lót cho quan lại địa phương để được ưu tiên một việc gì đó, kể cả ưu tiên cứu trợ lũ lụt, phục hồi nhà cửa hư hỏng sau thiên tai.

Điều đáng sợ nhất của thế giới tiến bộ và điều mà người Cộng sản mong mỏi nhất cũng đã đến, đó là sự tê liệt trong các tế bào xã hội, sự khiếp nhược cũng như sự dốt nát trong văn hóa ứng xử của người dân. Điều này vốn là một thứ gì đó quá đáng sợ với thế giới tiến bộ nhưng lại là thành tựu của kẻ độc tài, chỉ có một mặt bằng dân trí ngu đần, sợ sệt và tê liệt mới đảm bảo ngôi vị lâu dài của kẻ độc tài.

Và một khi mà phần đông, nói khác là đại đa số nhân dân thỏa hiệp, sợ sệt, đội trên đạp dưới để tồn tại, liệu đảng Cộng sản đã thành công thực sự? Không, điều đó hoàn toàn không phải là một sự thành công của đảng Cộng sản mặc dù họ muốn thế!

Tham vọng của đảng Cộng sản là tham vọng độc tài, độc tôn lãnh đạo đất nước. Nhưng với một đất nước què quặt, kém tiến bộ, thiếu văn hóa, liệu họ sẽ nói dối và đứng trên đôi nạn thế giá đến bao giờ trước công luận quốc tế, trước những yêu cầu của thế giới tiến bộ?

Chắc chắn, người Cộng sản phải trả giá về việc này bất luận như thế nào. Bởi lẽ, sau bốn mươi năm, người ta có mù cũng dễ dàng nhận ra tuy về mặt địa lý không phân biệt Nam – Bắc, không có đường ranh giới vĩ tuyến 17 nhưng về mặt tâm thức, sự phân biệt Nam – Bắc bởi do phân chia quyền lực, những đặc quyền đặc lợi cũng như sự khác biệt giữa văn hóa Cộng sản nằm lòng miền Bắc với văn hóa Tư Bản trứng nước miền Nam đã đẩy hai lối sống về hai phía.

Điều này không nằm trong mong muốn của nhân dân nhưng đó là sự tiếp nhận thụ động cũng như cơ chế phản kháng rất tự động của con người trong tiến trình trưởng thành của mỗi người. Sự sai lầm lớn nhất của đảng Cộng sản sau bốn mươi năm chiếm cả hai miền Việt Nam chính là sự phân biệt đối xử, phân chia đặc quyền đặc lợi cho phe nhóm trong nội bộ đảng và nói láo quá lâu, xem thường sự hiểu biết của nhân dân.

Chắc chắn, người Cộng sản cũng như chính thể Cộng sản phải trả giá cho điều này, khó mà trốn vào đâu được. Bởi bốn mươi năm, con số đủ trưởng thành cho một đứa trẻ từ lúc lọt lòng mẹ cho đến nay cũng như đủ trưởng thành cho một xã hội mặc dù tính cách của xã hội đó có lệch lạc cỡ nào thì sự thật vẫn đập vào mắt thiên hạ. Chính sự thật sẽ cất lên tiếng nói của nó! Đó là tài sản có được sau bốn mươi năm! Và bao nhiêu năm nữa?