6 THỜI ĐIỂM BẠN HIỂU THẤU QUY LUẬT CUỘC ĐỜI!
6 THỜI ĐIỂM BẠN HIỂU THẤU QUY LUẬT CUỘC ĐỜI!
Hàng ngày, chúng ta đều bận rộn với học hành, công việc mà quên mất rằng cuộc sống vẫn đang trôi qua ngoài kia, với những quy luật khắc nghiệt của nó.
Sáu thời điểm sau là lúc bạn hiểu thấu những quy luật này!
- Khi gặp hoạn nạn
Ngày thường, xung quanh ta là biết bao nhiêu anh em, bạn bè, ai cũng cười cười nói nói, thân thiết như chung một nhà. Đến khi ta gặp chuyện không may, có người nhiệt tình giúp đỡ, có người khoanh tay đứng nhìn, nhưng cũng không thiếu kẻ mượn gió bẻ măng.
Bởi vậy, chỉ trong hoạn nạn, ta mới phân biệt được lòng người ngay giả, biết được ai là người quân tử, ai là kẻ tiểu nhân. Có như vậy, ta mới hiểu thế nào là “chọn bạn mà chơi”.
- Khi lâm bệnh nặng
Chỉ khi nào ốm đau liệt giường, ta mới thấm thía hết tầm quan trọng của sức khỏe. Sức khỏe là tài sản quý giá nhất của con người, những thứ khác đều chỉ đáng xếp sau. Nếu không có sức khỏe thì giàu sang, phú quý cũng đều là vô nghĩa.
Chính vì thế, chỉ khi thoát cơn bạo bệnh, con người mới học được cách trân trọng sức khỏe, cũng như coi nhẹ của cải vật chất – những thứ mà ngày thường ta vẫn điên cuồng theo đuổi.
3. Khi bị mất chức quyền
Khi ta ở đỉnh cao danh vọng, chức trọng quyền cao thì luôn được săn đón bởi biết bao nhiêu người. Nhưng một khi quyền lực đã không còn trong tay thì cục diện hoàn toàn thay đổi. Những kẻ xu nịnh trước kia, nay nhìn thấy ta cũng coi như không quen biết. Những người tưởng chừng như anh em thân thiết bỗng cũng hóa xa lạ, lạnh lùng.
Vì thế, dù có được công danh, bạn cũng đừng nên vội đắc ý trước những lời ngợi ca, tâng bốc. Hãy học cách sống khiêm nhường để không bị sự tự cao che mờ mắt, khiến ta trở nên ích kỷ và thiển cận.
4. Khi đã về hưu
Nhiều người sau khi về hưu mới có thời gian ngồi ngẫm nghĩ lại cuộc đời mình. Tham gia công tác nhiều năm, vì ham chức ham quyền mà cấp trên chèn ép cấp dưới, vì muốn thăng quan tiến chức mà đồng nghiệp đấu đá lẫn nhau.
Thế nhưng, những thứ đạt được cũng chỉ là vật ngoài thân, người mất đi rồi cũng chẳng mang theo được.
Dù là lãnh đạo hay nhân viên, cấp trên hay cấp dưới, đến cuối cùng chẳng phải cũng đều về hưu sao? Sớm biết chẳng có gì khác nhau thì trước đây hà tất phải tranh đấu? Hãy làm tốt việc của mình, đối xử chân thành với người khác, đó mới là việc nên làm.
5. Khi rơi vào cảnh ngục tù
Con người có thể ngộ ra điều gì khi bị giam giữ trong bốn bức tường nhà ngục?
Đó chính là “ác giả ác báo”. Luật pháp không phải trò đùa, người làm việc xấu sẽ phải đền tội, chỉ là quả báo đến sớm hay muộn mà thôi.
Nếu một người không chịu tu thân dưỡng tính, chỉ chuyên hãm hại người khác để tư lợi cá nhân thì sẽ có ngày chịu sự trừng phạt. Giam giữ – hình phạt tưởng chừng như nhẹ nhàng nhất cũng chính là cách tước đoạt đi thứ quý giá nhất của con người, đó là sự tự do.
6. Khi sắp trút hơi thở cuối cùng
Trớ trêu thay, lâm chung là lúc con người trở nên thông suốt nhất.
Cuộc đời này quá ngắn mà cũng quá dài. Mọi ân oán tình thù đều chỉ như mây khói, ta hà tất phải cố chấp với chúng mà không học cách buông bỏ?
Khi đã hiểu được đạo lý ấy cũng là lúc con người có thể nhắm mắt xuôi tay, ra đi thanh thản.
S.T.
Dừng chân tại Baltimore Maryland
Dừng chân tại Baltimore Maryland
Bút ký
Đoàn Thanh Liêm
* * Ngày 20 tháng Tư năm 2010, tôi đã từ Dallas Texas bay đến phi trường quốc tế Baltimore Washington (BWI) vào lúc 5.00 chiều và được cháu Hoà là ông xã cuả cháu Vui đón đưa về nhà tại thành phố Owings Mills ở phiá tây bắc cuả Baltimore, gần với biên giới tiểu bang Pennsylvania. Muà hè năm 2009, tôi cũng đã ở đây và được các cháu chăm sóc mọi chuyện thật là tươm tất chu đáo, trong bàu không khí thật là thân thương ấm cúng cuả gia đình. Đó là lý do tại sao tôi lại lấy nhan đề là “Dừng chân” cho bài viết này.
Sau mấy tuần lễ bận rộn ở Houston, New Orleans và Dallas, tôi cần phải nghỉ ngơi lấy lại sức, và giải quyết một số công việc còn tồn đọng cuả mình. Nhất là còn phải khai triển tiếp theo (follow-up) những điều tiếp thu được trong các kỳ đại hội tại Texas và Louisiana, cũng như là gửi thư và hình ảnh liên hệ đến các vụ việc đó cho các bạn hữu khắp nơi.
Cũng như năm ngoái, các cháu Hoà Vui đã dành cho tôi cả một căn phòng rộng rãi dưới tầng hầm (basement), với đủ tiện nghi về phòng ngủ, nhà vệ sinh và nhất là bàn máy computer – để tôi có thể làm việc và trao đổi thông tin cho gọn gàng thoải mái. Rõ ràng đây là thứ “căn cứ hậu cần” cho tôi trên bước “đường hành quân” tại khu vực miền Đông nước Mỹ, cách xa với bản doanh chính là California đến trên 4,000 cây số.
Trong dịp này, vào ngày Thứ Sáu 23 tháng Tư, các cháu còn chở tôi đến thăm anh hoạ sĩ Vũ Hối ở thành phố Laurel cũng gần với Baltimore. Nhà anh chị ở chung với con cháu rất đông, nhân số lên đến tất cả 16 người, ai nấy đều có công ăn việc làm, nên cuộc sống cũng thoải mái. Anh vẫn cặm cụi làm việc như ngày nào, mà lại hay được bạn hữu khắp nơi mời đến tham gia các buổi triển lãm với những tác phẩm độc đáo cuả anh về cả bốn thể loại : Thi, Thư, Ảnh, Hoạ, tức là có Thơ, có Thư hoạ, có Nhiếp ảnh vá có Tranh do chính anh sáng tác, thực hiện. Anh nhắc lại hai câu thơ tôi nhờ anh viết để tặng Trung Tướng Nguyễn Bảo Trị hồi cuối năm ngoái 2009, và bảo tôi ghi ra một số câu thơ khác nưã cho anh trình bày qua lối Thư hoạ độc đáo (calligraphy) để gửi tặng bạn bè. Và tôi đã ghi ra một số câu thơ tôi làm hồi còn ở trại tù Z30D tại khu Rừng Lá Hàm Tân hồi năm 1994-95, để tặng các bạn tù chính trị như Bác Sĩ Nguyễn Đan Quế, Giáo Sư Đoàn Viết Hoạt, Trung Tá Phạm Đức Khâm. Tôi cũng viết vài câu thơ tặng Chị Jackie Bông và Nghệ sĩ Kiều Chinh, tất cả đều là các bạn thân thiết cuả cả hai chúng tôi. Rồi chỉ trong vòng hơn một giờ đồng hồ là anh Vũ Hối đã hoàn thành được tất cả 5 bức thư hoạ để gửi tặng các người bạn nói trên cuả tôi. (Chi tiết cuả mấy câu thơ này, tôi xin ghi trong Phần Phụ Lục kèm theo bài viết này). Anh còn yêu cầu tôi cứ việc gửi thêm các câu thơ tặng bạn hữu khác nưã, để anh thực hiện trình bày và gửi làm kỷ niệm cuả chung hai chúng tôi đến các người bạn đó. Thật rõ ràng là tôi có cái duyên hợp tác gắn bó rất là thân tình với anh bạn hoạ sĩ thật dễ mến này vậy đó.
Chiều Thứ Bảy 24, các cháu còn chở tôi cùng gia đình đi tham dự thánh lễ tại nhà thờ Sacred Heart cũng gần nhà. Sau buổi lễ, lại còn chở đi vòng quanh khu vực nông thôn trong vùng. Muà Xuân cây cỏ thật xanh tươi nơi các nông trại được chăm sóc khá lớp lang gọn ghẽ, với nhiều đàn ngưạ đua nhau gặm cỏ ven đường. Dọc theo đường làng quê, có nhiều chỗ dân chúng tụ họp rất đông đảo để cắm trại và xem biểu diễn đua ngựa (horse show), tạo thêm vẻ sinh động cho cảnh thiên nhiên vốn thật tĩnh lặng thanh bình, bao quanh khu vực đô thị thường náo nhiệt ồn ào như Baltimore, Philadelphia ở hai đầu phiá nam và phiá bắc. Vẫn còn muà Xuân, nên khí hậu thật mát diụ, ban ngày chỉ vào khoảng trên dưới 10 độ bách phân, với những cơn mưa rào nho nhỏ kéo dài có khi cả một vài ngày, khiến cho cây cối càng thêm tươi tốt, với vòm lá lung linh sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời ban mai.
Cái cảnh thanh bình tĩnh lặng ở miền nông thôn này thật trái ngược hẳn với tình trạng xô bồ, phức tạp trong khu nội ô thành phố Baltimore, nơi có tỷ lệ cao nhất so với các thành phố lớn khác về loại tội phạm giết người, mà phần lớn do nạn nghiện ngập và buôn bán ma tuý phát sinh ra. Đó là vấn đề gây cho chánh quyền, cũng như dân chúng điạ phương nhiều nỗi bế tắc lo âu, nhức nhối mà từ nhiều năm nay vẫn chưa làm sao tìm được lối thoát khả dĩ vậy.
Nói về sức khoẻ cuả tôi, thì nhờ Trời và cũng nhờ đông đảo bà con chăm sóc cái ăn cái uống, cũng như nơi ở tĩnh mịch tiện nghi, nên ai gặp lại tôi cũng phải khen là hồi này coi bộ sắc diện có vẻ tươi vui, dáng đi vững chãi. Cô Uyên ở New Orleans, thì nói : “Trông anh mạnh khoẻ hơn cái hồi mấy năm trước, mà nhất là anh vẫn giữ được cái tạng thon thon với cái bụng thật là flat…” Bạn Phan Đình Minh ở Dallas, thì nói : “Anh Liêm coi thật là healthy…” Cháu Vui ở Baltimore, thì nói : “Coi bộ bác khoẻ mạnh rắn chắc hơn năm ngoái đấy…” Tôi thật mừng vì ai cũng vui lây vì thấy tôi khoẻ mạnh, lạc quan, yêu đời và say mê với công việc này nọ.
Sau chừng một tuần lễ dừng chân nơi đây, tôi lại sắp sưả đến vùng thủ đô Washington DC, để tiếp tục làm công việc nghiên cứu tại Thư Viện Quốc Hội Mỹ như vẫn thường làm mỗi năm vào các muà hè.
Xin hẹn sẽ trình bày tiếp trong các bài viết sau vậy nhé
Baltimore, 26 Tháng Tư 2010
Đoàn Thanh Liêm
Phụ Lục : Mấy câu thơ tặng bạn với thư hoạ cuả hoạ sĩ Vũ Hối
1/ Tặng Chị Jackie Bông :
“ Trời thu nắng nhẹ hiền hoà
Mây thu lãng đãng ngàn hoa phiêu bồng.”
2/ Tặng Chị Kiều Chinh :
“Let’s live fully
By loving totally
And enjoying peace & ecstasy
Deep in our inner-selves.”
3/ Tặng Anh Phạm Đức Khâm :
“Mưa nắng dãi dầu, thân sức kiệt
Vẫn lòng son sắt, dạ kiên trung”
4/ Tặng Anh Đoàn Viết Hoạt :
“ Tường đá rào cao kiên cố đó
Hồ dễ làm ta bỏ cuộc chơi?”
5/Tặng Anh Nguyễn Đan Quế :
“Tù mấy phen rồi, ai thắng ai?
Bạo quyền muôn thuở sợ công khai
Bịt mồm khoá miệng người công chính
Ta vẫn kiên cường, há thua ai?”
6/ Tặng Anh Nguyễn Bảo Trị :
“Đường xa vạn lý mỏi mòn
Vẫn nòi quân tử sắt son với Đời.”/
Lịch sử Dinh Độc Lập
Lịch sử Dinh Độc Lập
1. Vài nét về lịch sử dinh Gouverneur de la Cochinchine:
Năm 1858, Pháp đã phát động một cuộc tấn công vào Đà Nẵng, bắt đầu cuộc xâm lược của Việt Nam. Năm 1867, Pháp đã hoàn thành cuộc chinh phục của miền Nam Việt Nam (Đàng Trong), bao gồm các tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Để củng cố thuộc địa mới được thành lập, vào ngày 23 tháng 2 năm 1868, Lagrandière, Thống đốc Nam Kỳ có những động thái đầu tiên là xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ mới và chọn một vị trí đắc địa nhất. Đó là một vùng đất cao nhất Sài Gòn, rộng 15 ha, có nơi làm công viên, vườn cây và những bãi cỏ xanh mướt, nhìn ra một không gian rộng thoáng.

Ngày 5.2.1865, tờ Courrier de Saigon (Thư tín Sài Gòn) đăng một thông báo của chính quyền thuộc địa dành một khoản tiền thưởng trị giá 4.000 franc cho các kiến trúc sư hay nghệ sĩ nào giới thiệu một đề án tốt nhất được chọn làm cơ sở xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ.
Khoản tiền thưởng không phải là nhỏ, song đến ngày 20.4.1865, vượt quá thời hạn chót 25.3.1865, chỉ mới có một đề án được gửi tới ban tổ chức. Sau đó không lâu, một đề án do một nhóm kiến trúc sư ở Singapore soạn thảo được chuyển đến Sài Gòn, song sau khi xem xét kỹ cả hai đề án, ban tổ chức không chấp thuận một cái nào.
Cuối cùng, cơ hội bắt tay xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã xuất phát từ một sự tình cờ. Trong một dịp ghé Hong Kong, hai đô đốc Pháp Ohier và Roze (cũng từng làm Thống đốc Nam kỳ) được giới thiệu với một kiến trúc sư người Pháp trẻ tên Hermitte, nguyên là học viên trường Mỹ thuật Paris.

Tại Hong Kong, Hermitte đã đoạt giải thưởng trong việc thiết kế đồ án Tòa Thị chính, vượt qua nhiều kiến trúc sư khác. Nắm bắt được những thông tin này, Roze và Ohier trở về Sài Gòn, thuyết phục đương kim Thống đốc Nam kỳ De La Grandìere chính thức nhờ Hermitte thiết kế và xây dựng dinh Thống đốc.
Một trong những biện pháp được sử dụng để lôi kéo nhân tài trẻ này là khoản thu nhập 36.000 franc/năm, cao hơn rất nhiều so với các viên chức Pháp đứng đầu các cơ quan tọa lạc tại Sài Gòn. Và những gì De La Grandìere làm đã có một hiệu ứng tốt: chỉ mấy ngày sau khi đến Sài Gòn, Hermitte trình một đồ án được viên Thống đốc chấp thuận ngay.
Chủ nhật ngày 23 tháng 2 năm 1868, trước đông đảo người tham dự, lễ đặt viên đá đầu tiên xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ đã diễn ra dưới sự chủ trì của Đô đốc De La Grandìere, với sự tháp tùng của nhiều sĩ quan và viên chức cao cấp của Pháp.

Người làm phép cho công trình là Giám mục Miche với một diễn từ gây xúc động cho cử tọa. Với sự phụ giúp của kiến trúc sư Hermitte, Thống đốc De La Grandìere làm lễ đặt viên đá đầu tiên được chôn sâu 2,6m bên dưới mặt đất, trên một tầng đất rất cứng chắc.
Đó là một viên đá hoa cương vuông vắn, mỗi cạnh 50cm, được mang từ Biên Hòa về. Trong thời gian xây dựng, Hermitte đã cho đào một hố móng sâu 3,5 mét, lấy đi 2.436 m3 đất đá và sử dụng khoảng 2 triệu viên gạch.

Đường Norodom nhìn từ dinh thống đốc Nam kỳ
Năm 1870, công trình đang thực hiện theo tiến độ đã định thì cuộc chiến tranh Pháp-Phổ nổ ra, hoàng đế Pháp Napoléon III bị bắt làm tù binh, nước Pháp thất trận. Sự kiện này ảnh hưởng không nhỏ đến việc xây dựng dinh Thống đốc Nam kỳ, do nhiều vật liệu phải được chuyển từ chính quốc sang. Công trình này được xây cất trên một diện tích rộng 12 ha, bao gồm một dinh thự lớn với mặt tiền rộng 80 m, bên trong có phòng khách chứa 800 người, và một khuôn viên rộng với nhiều cây xanh và thảm cỏ. Phấn lớn vật tư xây dựng dinh được chở từ Pháp sang. Tất cả đều được xây theo phong cách tân Baroque giống với kiểu của hoàng đế Napoleon III.

Cũng vì thế mà mãi đến năm 1875, kiến trúc đồ sộ này mới hoàn chỉnh phần trang trí. Sốt ruột về sự chậm trễ trong tiến độ xây dựng và hoàn thành cơ sở, ngay từ năm 1873, Thống đốc Nam kỳ Dupré đã dọn về đây để ở và làm việc trong lúc việc trang trí còn tiếp diễn. Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” còn được lưu giữ, mãi đến năm 1877 mới bị phá hủy hoàn toàn.
Sau khi xây dựng xong, dinh được đặt tên là dinh Norodom và đại lộ trước dinh cũng được gọi là đại lộ Norodom, lấy theo tên của Quốc vương Campuchia lúc bấy giờ là Norodom (1834-1904). Từ 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ (Gouverneur de la Cochinchine) nên gọi là dinh Thống đốc.
Trước khi có dinh Thống đốc Nam kỳ là Dinh gỗ “Thủy sư Đề đốc” được xây dựng bằng gỗ đặt trên một khu đất rộng được giới hạn bởi các con đường Nguyễn Du-Tự Do-Gia Long-Hai Bà Trưng về sau (khu vực sau này là trường Taberd). (nguồn historicvietnam.com do Tim Doling viết)

Trong sảnh dinh thống đốc Nam kỳ
Ngày 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp, Dinh Norodom trở thành nơi làm việc của chính quyền Nhật ở Việt Nam. Nhưng đến tháng 9 năm 1945, Nhật thất bại trong Thế chiến II, Pháp trở lại chiếm Nam bộ, Dinh Norodom trở lại thành trụ sở làm việc của Pháp ở Việt Nam. Sau năm 1954, người Pháp rút khỏi Việt Nam. Việt Nam bị chia cắt thành 2 quốc gia, miền Bắc là nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, còn miền Nam là nước Quốc Gia Việt Nam (sau thành Việt Nam Cộng Hòa). Ngày 7 tháng 9 năm 1954 Dinh Norodom được bàn giao giữa đại diện Pháp, tướng 5 sao Paul Ely, và đại diện Quốc gia Việt Nam, Thủ tướng Ngô Đình Diệm.

2. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa:
Năm 1955, sau một cuộc trưng cầu dân ý, Thủ tướng Ngô Đình Diệm phế truất Quốc trưởng Bảo Đại và lên làm Tổng thống. Ông quyết định đổi tên dinh này thành Dinh Độc Lập. Từ đó Dinh Độc Lập trở thành nơi đại diện cho chính quyền cũng như nơi ở của tổng thống và là nơi chứng kiến nhiều biến cố chính trị. Thời kỳ này, Dinh Độc Lập còn được gọi là Dinh Tổng Thống. Theo thuật phong thủy của Dinh được đặt ở vị trí đầu rồng, nên Dinh cũng còn được gọi là Phủ đầu rồng.

Dinh Độc Lập thời đệ I Cộng Hòa
Đến năm 1960 vào ngày 11 tháng 11 xảy ra cuộc đảo chính quân sự đầu tiên tại Việt Nam Cộng hòa, do đại tá Nguyễn Chánh Thi và trung tá Vương Văn Đông cầm đầu. Mục đích cuộc đảo chính nhằm lật đổ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa bấy giờ là Ngô Đình Diệm. Ban đầu, quân đảo chính kiểm soát được một số vị trí quan trọng tại Sài Gòn do yếu tố bất ngờ, tuy nhiên nhanh chóng thất bại khi các thủ lĩnh quân sự không kiên quyết cũng như không có được sự ủng hộ quân chúng. Ngày 12 tháng 11, đại tá Huỳnh Văn Cao chỉ huy bộ binh và thiết giáp thuộc Sư đoàn 7 đóng ở Mỹ Tho cùng đại tá Trần Thiện Khiêm và trung tá Bùi Dzinh chỉ huy bộ binh và Pháo binh thuộc Sư đoàn 21 đóng ở Sa Đéc đã tiến vào Sài Gòn. Cuộc giao tranh sau đó chớp nhoáng nhưng khốc liệt với khoảng 400 người chết, trong đó có nhiều thường dân tò mò xuống phố để xem cuộc giao tranh. Lực lượng trung thành đã tiêu diệt gọn quân đảo chính.Sau khi cuộc đảo chính bị dập tắt, một số sĩ quân quân đội và chính khách đối lập liên quan đến cuộc đảo chính bị chính quyền Ngô Đình Diệm thanh trừng và đưa ra xét xử, tiêu biểu như vụ án nhà văn Nguyễn Tường Tam.

Tem hình dinh Độc Lập
Tôi còn nhớ sau cuộc đảo chính, quân dù của đại tá Nguyễn Chánh Thi rút đi ngược đường Công Lý hướng lên Tân Sơn Nhất, dân chúng sài Gòn đã mua bánh mì bỏ trong những giỏ cần xé lớn để dọc hai bên đường cho quân đảo chính.


Cảnh dân chúng tán loạn khi đi xem đảo chính

Đến năm 1962 lại xảy ra vụ ném bom dinh Độc Lập vào ngày 27 tháng 2 do hai phi công tên là Nguyễn Văn Cử và Phạm Phú Quốc thuộc Quân lực Việt Nam Cộng hòa thực hiện. Mục đích của cuộc tấn công là nhằm ám sát Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm và gia đình ông, những người tham gia triều chính, trong đó có cố vấn Ngô Đình Nhu.

Vào lúc 7 giờ sáng, bầu trời Sài Gòn bị khuấy động bởi tiếng bom và tiếng súng máy nổ. Dinh Độc Lập chìm trong biển khói của cuộc tấn công từ hai chiếc máy bay ném bom A-1 Skyraider được Hoa Kỳ cung cấp.
Hai chiếc máy bay này đã ném bom và napalm. Nhiều quả rocket và nhiều loạt đạn súng máy cũng được bắn vào tòa nhà. Ngày hôm đó nhiều mây, hai viên phi công này đã bay với độ cao khoảng 150 m, đã hoàn thành một vòng tấn công tứ phía trước khi bay lên mây. Họ đã tấn công trong 30 phút trước khi lực lượng phòng không trung thành với Ngô Đình Diệm có thể đến và phản công.


Cuộc tấn công đã làm cho lực lượng bảo vệ Sài Gòn bất ngờ, bởi vì họ đã không biết là các chiếc máy bay này độc lập tác chiến hay có sự phối hợp với lực lượng dưới đất. Xe tăng và xe chở lính vội vàng đến tham chiến và pháo đất đối không khai mào trước, một chút nữa thì bắn trúng máy bay trung thành đang truy đuổi hai chiếc phản loạn.


Cuộc tấn công đã kết thúc trong một tiếng đồng hồ nhưng hai viên phi công đã không trút hết bom, nếu không đã có thể san phẳng Dinh Độc Lập. Máy bay của Quốc đã bị hư hỏng bởi tảo lôi hạm ở trên sông Sài Gòn và đã hạ cánh ở Nhà Bè. Cử thì đã đến Campuchia an toàn, tin rằng cuộc tấn công đã thành công.
Quả bom nặng 500 lb đầu tiên đã xuyên vào một căn phòng mà trong đó Diệm, một người hay thức dậy sớm đang đọc sách. Quả bom này không nổ và Diệm đã chạy xuống tầng hầm của Dinh Độc Lập cùng với Tổng giám mục Ngô Đình Thục, em trai Ngô Đình Nhu và vợ Nhu là Trần Lệ Xuân và con của họ. Trần Lệ Xuân bị gãy tay khi đang chạy xuống tầng hầm. Ba người phục vụ và lính gác chết, 30 người khác bị thương. Một nhà thầu người Mỹ leo lên nóc nhà để xem vụ tấn công đã bị rơi xuống và chết.

Tôi vẫn nhớ sáng hôm đó khi chuẩn bị đi học (lúc đó tôi học tư ở trường Michelet góc ngả tư Trương Minh Giảng – Hiền Vương) thì tiếng máy bay gầm rú trên bầu trời và một tiếng nổ lớn vang lên. Pháo cao xạ từ dinh bắn lên xối xả, đạn bay hết tầm rơi vào khu biệt thự kế bên tôi ở (230 Công Lý); mọi người chạy hết vào trong nhà tránh đạn.

Bà Trần Lệ Xuân đang xem bản thiết kế dinh Độc Lập mới
Do không thể khôi phục lại, ông Ngô Đình Diệm đã cho san bằng và xây một dinh thự mới ngay trên nền đất cũ theo đồ án thiết kế của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, người Việt Nam đầu tiên đạt giải Khôi nguyên La Mã.
Dinh Độc Lập mới được khởi công xây dựng ngày 1 tháng 7 năm 1962. Trong thời gian xây dựng, gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm tạm thời chuyển sang sống tại Dinh Gia Long. Công trình đang xây dựng dở dang thì ông Ngô Đình Diệm bị phe đảo chính ám sát ngày 2 tháng 11 năm 1963.
3. Vài nét về dinh Độc Lập thời đệ II Cộng Hòa:
Ngày 31 tháng 10 năm 1966, người chủ tọa buổi lễ là ông Nguyễn Văn Thiệu lúc đó là Chủ tịch Ủy ban Lãnh đạo Quốc gia. Từ ngày này, Dinh Độc Lập mới xây trở thành nơi ở và làm việc của tổng thống Việt Nam Cộng Hòa. Tổng thống Việt Nam Cộng Hòa Nguyễn Văn Thiệu sống ở dinh này từ tháng 10 năm 1967 đến ngày 21 tháng 4 năm 1975.

Phí tổn xây dựng Dinh Độc Lập tốn khoảng 150.000 lượng vàng và mỗi quân nhân, nhân viên chính quyền thời ấy phải đóng góp mỗi người một ngày lương. Một vài số liệu về vật liệu đã sử dụng: bê-tông cốt sắt độ 12.000m3, gỗ quí 200m3, kính làm các cửa 2.000m2, đá rửa và đá mài 20.000m2…

Theo đồ án, tòa nhà có diện tích xây dựng 45.000 m2 (rộng 21 gian 85m, sâu 19 gian 80m). Diện tích mặt sàn sử dụng khoảng 20.000m2, gồm ba tầng chính, hai gác lửng, một sân thượng (có sân bay trực thăng) và một tầng nền. Tổng số các phòng trong toàn dinh là 95 phòng, không kể các khu vực vệ sinh, hành lang và khách sảnh. Các phòng lớn bố trí cho các công việc đối nội, đối ngoại nằm ở các tầng trệt và lầu 1, lầu 2. Trang trí trong dinh có nhiều bức họa của những danh họa có tiếng đương thời. Bức “Giang sơn cẩm tú” của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, bức “Khuê văn các”, “Vua Trần Nhân Tông” của họa sĩ Thái Văn Ngôn.

Đặc biệt ở phòng trình quốc thư có bức “Bình Ngô đại cáo” (của Nguyễn Trãi viết trong thời giúp Lê Lợi chống giặc Minh), một bức tranh sơn mài lớn gồm 40 bức tranh sơn mài nhỏ ghép lại, tả cảnh sinh hoạt của nhân dân Việt Nam dưới thời Lê của họa sĩ Nguyễn Văn Minh. Ngoài ra còn bức tranh “Giang Sơn Cẩm Tú” của KTS Ngô Viết Thụ; bức “Khuê Văn Các” (Vua Trần Nhân Tông) của họa sĩ Thái Văn Ngôn.
Khi thiết kế Dinh Ðộc lập, Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ muốn tìm một ý nghĩa văn hóa cho công trình, nên mọi sự xếp đặt từ bên trong nội thất cho đến tiền diện bên ngoài, tất cả đều tượng trưng cho triết lý cổ truyền, nghi lễ Phương đông và cá tính của dân tộc. Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ đã kết hợp hài hoà giữa nghệ thuật kiến trúc hiện đại với kiến trúc truyền thống Phương Ðông. Toàn thể bình diện của Dinh làm thành hình chữ CÁT, có nghĩa là tốt lành, may mắn; Tâm của Dinh là vị trí phòng Trình quốc thư; Lầu thượng là Tứ phương vô sự lầu hình chữ KHẨU để đề cao giáo dục và tự do ngôn luận. Hình chữ KHẨU có cột cờ chính giữa sổ dọc tạo thành hình chữ TRUNG như nhắc nhở muốn có dân chủ thì phải trung kiên. Nét gạch ngang được tạo bởi mái hiên lầu tứ phương, bao lơn danh dự và mái hiên lối vào tiền sảnh tạo thành hình chữ TAM. Theo quan niệm dân chủ hữu tam Viết nhân, viết minh, viết võ, ý mong muốn một đất nước hưng thịnh thì phải có những con ngườ i hội đủ 3 yếu tố Nhân, Minh, Võ. Ba nét gạch ngang này được nối liền nét sổ dọc tạo thành hình chữ VƯƠNG, trên có kỳ đài làm thành nét chấm tạo thành hình chữ CHỦ tượng trưng cho chủ quyền đất nước. Mặt trước của dinh thự toàn bộ bao lơn lầu 2 và lầu 3 kết hợp với mái hiên lối vào chính cùng 2 cột bọc gỗ phía dưới mái hiên tạo thành hình chữ HƯNG ý cầu chúc cho nước nhà được hưng thịnh mãi.

Vẻ đẹp kiến trúc của Dinh còn được thể hiện bởi bức rèm hoa đá mang hình dáng những đốt trúc thanh tao bao xung quanh lầu 2. Rèm hoa đá được biến cách từ bức cửa bàn khoa của các cung điện Cố đô Huế không chỉ làm tăng vẻ đẹp của Dinh mà còn có tác dụng lấy ánh sáng mặt trời.
Ði vào bên trong Dinh, tất cả các đuờng nét kiến trúc đều dùng đường ngay sổ thẳng, các hành lang, đại sảnh, các phòng ốc đều lấy câu chính đại quang minh làm gốc.
Sân trước của Dinh là một thảm cỏ hình oval có đường kính 102m. Màu xanh rì của thảm cỏ tạo ra một cảm giác êm dịu, sảng khoái cho khách ngay khi bước qua cổng.
Chạy dài theo suốt chiều ngang của đại sảnh là hồ nước hình bán nguyệt. Trong hồ thả hoa sen và hoa súng gợi nên hình ảnh những hồ nước yên ả ở các ngôi đình, ngôi chùa cổ kính của Việt Nam.

Dinh có diện tích 120.000m2 (300m x 400m), được giới hạn bởi 4 trục đường chính đó là:
• Ðường Công Lý ở phía Ðông Bắc (mặt chính của Dinh)
• Ðường Huyền Trân Công Chúa ở phía Tây Nam (mặt sau của Dinh)
• Ðường Hồng Thập Tự ở phía Tây Bắc (phía bên trái Dinh)
• Ðường Nguyễn Du ở phía Ðông Nam (phía bên phải Dinh)
Dinh có 04 khu nhà:
• Khu nhà chính hình chữ T diện tích mặt bằng là 4.500m2, cao 26m, nằm ở vị trí trung tâm của khu đất. Ðây từng là nơi ở và làm việc Tổng thống ngụy quyền Sài Gòn. Khu này có 03 tầng lầu, 2 gác lửng, 1 sân thượng, 1 tầng nền và 1 tầng hầm. Tổng diện tích sử dụng là 20.000m2 chia làm 95 phòng. Mỗi phòng có 1 chức năng riêng, kiến trúc và các trang trí phù hợp với mục đích sử dụng của mỗi phòng.
• Khu nhà 2 tầng diện tích 8m x 20m phía đường Nguyễn Du trước 1975 là trụ sở làm việc của Ðảng Dân chủ.
• Khu 04 nhà 2 tầng phía góc đường Nguyễn Du – Huyền Trân Công Chúa trước 1975 là khu nhà ở của tiểu đoàn bảo vệ Dinh Ðộc lập.
• Khu nhà trệt phía góc đường Huyền Trân Công Chúa – Hồng Thập Tự, trước 1975 là khu sinh hoạt của đội cận vệ phi hành đoàn lái máy bay cho Nguyễn Văn Thiệu, của bộ phận chăm sóc vườn cây.
Ngoài các khu nhà trên, ở góc trái Dinh phía đường Hồng Thập Tự còn có một nhà bát giác đuờng kính 4m, xây trên một gò đất cao, chung quanh không xây tường, mái ngói cong cổ kính làm nơi hóng mát, thư giãn.
Các bạn nhìn thấy những cây cao bên trong dinh, đó là những cây nhãn rừng. Trong dinh có rất nhiều sóc, chúng thường ăn trái này. Đó là hồi trước năm 1975 chứ không biết giờ này còn không.
Tôi còn nhớ vào năm 1970 vào dịp tất Trung thu, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có tổ chức lễ trước thềm của dinh. Lúc đó trường mình có dự, thầy Linh dẫn một ban hợp ca hát bài Trung thu gặp mưa do thầy sáng tác. Trùng hợp thay đêm đó trời mưa, học sinh các trường tràn vào sảnh chính của dinh dẫm lên sàn và thảm làm dơ hết.


Xen giữa 04 khu nhà trên là những bãi cỏ xanh mướt, vườn cây cổ thụ, những chậu cây kiểng quí và 04 sân tenis phía sau khu nhà chính.
Dinh Độc Lập lúc đầu chưa có bao bọc bởi hàng dây kẽm gai, chỉ có từ năm 1968 mới được rào thêm để bảo vệ an ninh cho dinh để tránh bị tấn công như trong vụ tết Mậu Thân và đường Huyền Trân Công Chúa cũng bị ngăn lại không cho xe qua lại.

Về sau có thêm những rào sắt đặt dài theo hàng rào dinh

Đường Huyền Trân Công Chúa bị chắn ngang bởi hàng rào bảo vệ
Dinh độc Lập được bao bọc bởi hàng rào kẽm gai bảo vệ dưới mặt đất nhưng trớ trêu thay nó bị tấn công từ trên không. Ngày 8 tháng 4 năm 1975, chiếc máy bay F-5E do Nguyễn Thành Trung lái, xuất phát từ Biên Hòa, đã ném bom Dinh, gây hư hại không đáng kể. Một trái bom rơi cạnh sân trực thăng trên nóc Dinh nhưng chỉ nổ phần đầu cắm xuống làm lún sạt một khoảng nhỏ. Lúc đó tại trường Lê Quý Đôn các lớp khối 10 trở xuống đang thi đệ nhị bán niên riêng lớp tôi thì bắt đầu vô lớp học toán với thầy Quãng Lan, thì chúng tôi bỗng nghe một tiếng rú của máy bay trên đầu và một tiếng nổ sau là tiếng pháo cao xạ. Chúng tôi chạy ra ngoài lớp thì thấy mấy thầy cô và các học sinh chạy tán loạn, tôi với anh Hồ Tuấn Ngọc lấy máy chụp hình chạy ra cổng trước băng qua đường và chụp một số hình. Rất tiếc giờ anh Ngọc không còn và các hình đó cũng thất lạc. Đây là lần thứ hai trong lịch sử dinh Độc Lập bị đánh bom.
Rồi lịch sử cái gì đến phải đến tổng thống Nguyễn Văn Thiệu từ chức nhường quyền lãnh đạo cho ông Trần Văn Hương nhưng ông này không ở trong dinh. Đến ngày 28 tháng 4 năm 1975, Dương Văn Minh lên làm tổng thống chỉ ở vỏn vẹn hai ngày trong dinh.
Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, chiếc xe tăng T 54 của Bùi Quang Thận húc sập cổng dinh chấm dứt chế độ Việt Nam Cộng Hòa.
Nguồn: ThaoLQĐ
LẬN ĐẬN
LẬN ĐẬN
LM Giuse Hoàng Kim Toàn
Nhìn những dòng người tấp nập đến và đi trên con đường, tôi nghĩ về những cuộc đời lận đận, lao đao. Bao giờ mới thực sự hết lận đận lao đao và tôi nghĩ về cuộc đời.
Tôi nhớ về lời của bài hát “tiến thoái lưỡng nan” của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn: “Tiến thoái lưỡng nan đi về lận đận. Ngày xưa lận đận không biết về đâu.” Có những cuộc đời đến lúc ra đi vẫn còn lận đận, vẫn hoài lao đao. Tôi nghĩ đến những phận người khốn khổ, không phải khốn khổ vì người khác mang đến mà tự thân mình mang vào những khốn khổ. Khốn khổ lao đao khi không biết rằng mỗi người đều có một thời, không đón nhận thay đổi của thời gian. Cái lận đận của một tuổi già, sức kém mà vẫn hoài mong một thời chiến tích lập lại, cái lận đận của những mưu tính ôm giữ địa vị, vị thế dù biết mình không thể. Lận đận vì những lo sợ hão huyền, không còn người biết đến, không còn gì để nắm giữ… Tôi nghĩ đến những lận đận, cái lận đận của những con người chỉ thích tiếng khen, lời dịu ngọt tâng bốc, những lời giả dối mà không sẵn sàng đón nhận thực tế, những lời chân thành. Không biết về đâu nên đâu cũng là con đường giống nhau, không dẫn tới đích. Con người lận đận, loanh quanh không lối thoát trong khổ đau của hành trình. Những lận đận của những con người quên mất mình có một thời: “Về thu xếp lại, ngày trong nếp ngày” (lời “Chiếc lá thu phai” của Trịnh Công Sơn). Một thời của tuổi già tìm về yên tĩnh, rũ bỏ những âu lo, tìm về tháng ngày bình yên, đó chẳng là con đường tìm về, thu xếp lại những ngổn ngang cuộc đời trước khi về bên kia thế giới.
Tôi nghĩ đến bao tâm hồn hạnh phúc trước khi ra đi.
“Tôi đã được phép giã từ. Chúc tôi ra đi may mắn nhé, anh em! Tôi cúi đầu chào tất cả trước khi lên đường. Này đây chìa khoá tôi gài lên cửa, và cả căn nhà cũng trao trọn anh em. Chỉ xin anh em lời tạ từ lần cuối thắm đượm tình thân. Từ lâu rồi, sống bên nhau, chúng mình là láng giềng lối xóm; nhưng anh em đã cho tôi nhiều hơn tôi cho lại anh em. Bây giờ ngày đã rạng, đèn trong xó tối nhà tôi đã tắt. Lệnh triệu ban rồi, tôi đi đây” (93, Lời dâng, R. Tagore).
“Này đây chìa khoá tôi gài lên cửa.” Hay quá, con người cao thượng quá, trao lại cho người sau tất cả những gì cuộc đời mình đã gầy dựng được, chỉ xin giữ tình thân. Cuộc đời không giữ gì cho mình lại là cuộc đời đầy tràn tất cả. Cuộc đời nhìn nhận mình đón nhận tất cả hơn những gì mình kiến tạo, sao hạnh phúc quá. Tôi ước mơ tôi cũng hành động như thế trong mọi lúc trước khi ra đi, tôi ước mơ cái hạnh phúc thật đơn giản, thật sự quên mình trong thế giới bao la của tình người.
Con người rồi sẽ ra đi, rồi sẽ để lại tất cả những gì mình có, để lại ngôi nhà, của cải, vật chất mình đang nắm giữ… Lận đận khi mình cố níu giữ, bám chặt dù không còn sức, lận đận khi vẫn còn tham vọng, đầy mưu tính. Tôi ước mơ những cuộc đời lận đận, đừng làm khổ đời mình nữa, tôi ước mơ, con người sống đừng giả dối nhau, đưa nhau lên đài danh vọng rồi chôn vùi đời nhau trong lao đao. Lận đận chạy chọt, tạo liên minh, gây chia rẽ, tìm chỗ bám víu, làm chi vậy, chỉ thêm khổ, mất thêm nhiều tình nghĩa, và lẻ loi trong hoạt động của phe nhóm. Hãy nói cho nhau về sự thật cuộc đời, hãy để cho Lời Chúa được thực hiện trong cuộc sống: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Mt 8, 20). Tại sao lại bám víu để rồi lận đận.
Thanh thản, an nhiên ra đi như một người vừa làm xong công việc của mình, khiêm nhường đón nhận: “Tôi chỉ là đầy tớ vô duyên, tôi chỉ làm việc bổn phận của tôi” (Lc 17,10). Diễm phúc cho mỗi cuộc đời khi nhận ra mình là tôi bộc cho hạnh phúc nhân loại, và sẵn sàng như một người đã hoàn thành sứ mạng của mình: “Tôi đã đấu trong cuộc thi đấu cao đẹp, đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin” (2 Tm 4,7)
Rũ bỏ lận đận để khỏi lao đao. Tôi ước mong như bao tâm hồn mong ước: Ra đi trong niềm hân hoan vì cuộc đời này tôi đã sống qua bao hạnh phúc, qua bao đau thương vẫn thấy hạnh phúc. Hạnh phúc của một con người vì thấy mình được yêu thương, hạnh phúc vì thấy mình đã nỗ lực dâng hiến cho con người được hạnh phúc.
LM Giuse Hoàng Kim Toàn
Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.
Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.Mất hơn 10 giờ bay đêm từ Bangkok (Thái Lan), rạng sáng, chiếc Boeing 747 chở hơn 400 hành khách mới hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv (Israel) bên bờ Địa Trung Hải. Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch thuộc công ty Sharon Tours nói: “Cả ngày hôm nay chúng ta dành cho biển Chết. Các bạn sẽ được tắm ở một nơi mặn nhất thế giới và là nơi thấp nhất trên bề mặt trái đất, âm 400m so với mặt biển. Không cần phao, mọi người vẫn nổi trên Biển Chết”.Vượt bao đồi núi khô cằn, gần trưa mới đi ngang qua thánh địa Jerusalem để bắt đầu “đổ dốc” vào lòng Biển Chết.Độ mặn của muối và khoáng chất đặc biệt nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng.Trong nước có chứa hơn 35 loại khoáng chất khác nhau cần thiết cho sức khỏe và chăm sóc da toàn thân bao gồm Magiê, Canxi, Kali, Brôm, Lưu huỳnh và Iodine. Tất cả có tác dụng giảm đau, chữa trị hiệu quả các bệnh thấp khớp, vẩy nến, nhức đầu, đau chân, nuôi dưỡng và làm mềm da.Biển Chết dài 76km, chỗ rộng nhất tới 18km và chỗ sâu nhất là 400m. Bề mặt Biển Chết nằm ở 4175m dưới mực nước biển nên là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.Chỉ cần dang thẳng tay chân, ngẩng cổ lên để tránh nước mặn vào mắt, thì đã như cái bong bóng nổi phình trên mặt biển.Biển Chết đúng là một nơi du lịch tuyệt vời lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên.Mỗi năm, hàng trăm du khách đổ xô đến Biển Chết để được thả nổi cơ thể mình trên mặt nước. Điểm thấp nhất trên trái đất này luôn là nơi hấp dẫn du khách nhất.Biển Chết còn được gọi là” Biển Muối”, khu vực chứa nước bị vây kín này có thể được xem là một hồ nước muối có độ mặn cao nhất trên thế giới. Biển Chết nằm giữa biên giới 3 nước Israel, Palestine và nằm sâu trong thung lũng Jordan, cách thành phố Amman khoảng 55 km về phía Đông.Biển Chết dài 76 km, chỗ rộng nhất tới 18 km và chỗ sâu nhất là 400 m.. Đây là một trong những khu nghỉ dưỡng sức khỏe đầu tiên trên thế giới, người ta sử dụng muối và khoáng chất từ Biển Chết để làm ra mỹ phẩm và các gói thảo dược tiêu thụ trên toàn thế giới. Từ xa xưa người ta đã biết khai thác nguồn muối và khoáng chất tại Biển Chết này để làm ra nhiều sản phẩm khác nhau, đặc biệt là kem để ướp xác ở Ai Cập. Như tên gọi của nó, Biển Chết không có một loài sinh vật nào có thể tồn tại được cả vì độ mặn rất cao. Độ mặn của muối và khoáng chất đặc hữu nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng. Biển chết có nồng độ mặn là 38% trong khi đó độ mặn của nước biển ở các đại dương trên thế giới bình thường vào khoảng 2,5%. Chính vì hàm lượng muối trong biển rất cao nên sức đẩy của nước rất lớn. Lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên, bơi lội ở đây cũng thật sự độc đáo không thể bỏ qua. Đây là nơi có một không hai trên thế giới mà bạn có thể thả mình trên mặt dưới để đọc một tờ báo.Biển Chết mang không khí khô, giàu oxy mà không có bất kỳ một sự ô nhiễm môi trường nào, nhiệt độ tương đối cao ngay cả mùa đông cũng không thuyên giảm. Thực tế là các tia cực tím có hại được lọc một cách tự nhiên. Vì vậy bạn vẫn có thể tắm nắng mà không lo sợ bị cháy nắng. Vùng nước chữa bệnh tự nhiên nằm dọc theo bờ biển kết hợp với lớp bùn đen ở bên dưới là liệu pháp điều trị sức khỏe và vẻ đẹp lý tưởng. Ngoài ra khu bảo tồn thiên nhiên và sự đa dạng của khu vực danh lam thắng cảnh mang lại một sự kết hợp độc đáo cho khung cảnh. Những ốc đảo sa mạc khô cằn bên cạnh những hồ bơi và thác nước đông đúc với hệ động thực vật. Các di tích lịch sử của khu vực là một trong những nơi nổi tiếng thế giới cụ thể như Massada, Jericho, Ein Gedi, các pháo đài La Mã và các pháo đài ở sa mạc Judea.Massada- Pháo đài của người Do Thái nằm ở hướng tây Biển ChếtDọc theo bờ biển là những tòa nhà cao tầng, quán bar, vũ trường … Sắc trắng của các tòa các pha trộn với màu vàng của cát, màu xanh nước biển tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ.Ven bờ biển còn có các đụn muối trắng hình thành từng cụm, nhô lên như những chiếc nấm trông rất đẹp. Đây là kết quả của nước biển bốc hơi trải qua nhiều năm.Gọi là biển chết, vì trong lòng biển không có sinh vật nào sống nổi và biển không có lối nào thông ra các đại dương.Mặc dù mang tên Biển Chết, nhưng nơi đây không chết bao giờ, luôn mang một sức sống mãnh liệt. Biển Chết tiếp đón hàng triệu lượt khách mỗi năm đến viếng thăm, nghỉ dưỡng và tắm biển với màn trình diễn thả nổi mình trên mặt nước.
Tan nát cây vĩ cầm đường phố
Tan nát cây vĩ cầm đường phố
Những năm gần đây mỗi lần Hà Nội hay Sài gòn có biểu tình chống Trung Quốc thì người ta lại thấy xuất hiện một ông già tóc trắng phau thường đi trước đám đông, trên vai luôn tựa một cây vĩ cầm cũ kỹ, kéo những bản nhạc yêu nước bất kể tiếng hô của người biểu tình lấn áp tiếng đàn nhỏ bé hiền lành của ông. Người nhạc sĩ lạ lùng ấy là Tạ Trí Hải, được người biểu tình cũng như hầu hết dân oan biết mặt biết tên, đặt cho cái danh hiệu rất dễ thương “nghệ sĩ đường phố”.
Lên tiếng bằng tiếng đàn
Ông không phản đối cũng không chấp nhận danh hiệu này mà chỉ nở nụ cười hiền lành khi nghe ai nhắc tới như một cách khen ngợi. Với ông, cây đàn không phải là kế sinh nhai mà là một vật thể gắn bó và chuyên chở tâm trạng của ông tới với mọi người. Cây vĩ cầm cũ kỹ ấy không khác một người bạn thân, vì thiếu nó sẽ không có Tạ Trí Hải, sẽ không có hình ảnh bụi bặm với người nhạc sĩ có địa chỉ là Bờ hồ Hà Nội và Nhà thờ Đức Bà Sài gòn. Căn cước của ông là đường phố, là những hẻm nhỏ tồi tàn của Sài Gòn, là những chiếc ghế đẩu thấp lè tè của các hàng chè Hà Nội. Cây đàn trên lưng, vài vật dụng lỉnh kỉnh của một người du mục trong thời đại @ đã làm ông nổi bật giữa đám đông mỗi lần trình diễn.
Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.
-Blogger Phương Bích
Trên đầu là chiếc nón rộng vành, trang phục như một chàng cao bồi miền Viễn tây, nhưng ông không trình diễn như các ngôi sao mà cung cách đàn hát của ông mang thần thái của các tay chơi du ca của các bộ tộc sống đời du mục. Bạn trẻ tập trung chung quanh nghe ông đàn để thấy mình được thở thứ không khí trong lành của bầu khí quyển âm thanh chưa bị vấy bẩn bởi showbiz thương mại. Họ nghe và hát chung, đồng cảm với tiếng đàn của ông giữa trời thu Hà Nội hay nắng rát Sài gòn.
Khung cảnh một buổi đàn hát như thế thường có khoảng dăm chục người, nhưng đây là đám đông chọn lọc. Những chàng trai cô gái, thậm chí những người trung niên hay lớn tuổi tham gia với tâm thức hòa vào tiếng nhạc của ông để nhận lấy sự bình yên trong khoảnh khắc trước vây bủa của đời sống thường nhật bụi bặm đầy những băn khoăn lo lắng.
Tiếng đàn của người nghệ sĩ ấy không xuất sắc, không vượt trội nhưng nó mang tâm thế của một nghệ sĩ chân chính. Một nghệ sĩ không bị đè bẹp bởi đồng tiền hay sợ hãi. Ông đứng bên trên nỗi sợ áo cơm lẫn nỗi sợ bị áp bức. Lấy tiếng đàn lời hát làm vũ khí để chống lại thế lực kinh khủng mà người dân chung quanh ông lãng tránh: thế lực của phương Bắc, mua đứt những con người Việt Nam quên gốc gác và nhất là bị nhốt kín trong chiếc lồng hữu nghị.
Nếu cứ vô tư đàn giữa phố cho bạn trẻ chắc ông sẽ nổi tiếng hơn trên mặt báo dòng chính qua những bài viết vô thường vô phạt, nhưng ông không dừng lại ở đó mặc dù nó an toàn và có thể được nhà nước bảo vệ. Ông vượt ra bên ngoài cái vòng tròn định sẵn để nói với người đối diện với ông rằng họ đang bị bao vây, bị bức hại phải sống trong không khí Bắc thuộc nếu ngay từ bây giờ họ không dám đứng dậy và lên tiếng cùng với ông những gì mà phương Bắc đang làm.
Ông lên tiếng bằng tiếng đàn, và ông lên tiếng bằng lời nhạc đã được sửa đổi.

Người chung quanh cho rằng đó là nhạc chế. Người suy nghĩ rộng hơn lại cả quyết rằng ông đang mơ được trở lại cái ngày mà trước đây hơn 40 năm ông chưa biết tới nhưng khi đã biết thì Saigon như một người tình dễ thương, chung thủy khó thể chia xa. Người Saigon yêu bài quốc ca của họ thì bây giờ ông chọn note nhạc của bài quốc ca ấy để gắn vào tính chất thời sự đang làm cho Việt Nam nhức nhối: vụ án Đoàn văn Vươn:
“Đoàn Văn Vươn ơi, anh hùng nước Việt nơi đấy. Một lòng vùng lên liều thân chống bọn cướp nước. Lừng danh vang nước Nam, lòng dân bao sướng vui làm cho quân Bắc Kinh cùng tay sai cướp ngày. Hoàng Sa thay cho bây mưu kế. Lừa dân mưu toan bịp thế giới. Đập tan áp bức bóc lột bất công còn đám quan tham hết hồn khiếp vía diệt hết lũ bán nước loài lang sói kia! quân cướp ngày ác tham ngập máu xương người. Văn Vươn ơi vùng lên diệt cướp ngày, Văn Vươn ơi kiên cường bất khuất cùng chin mươi triệu dân kết riêng vùng lên đấu tranh giành lấy quyền sống con người…”
Lời bài hát đơn giản như người nông dân Tiên Lãng nhưng cái hồn nhạc mà người Sài Gòn từng cùng nhau hát vang mỗi sáng thứ Hai đã làm tinh thần Đoàn Văn Vươn trỗi dậy. Cũng chính những bài hát loại này đã kéo người nhạc sĩ đường phố Tạ Trí Hải ngày càng gần đám đông thanh thiếu niên vốn vô tư không một giây để ý tới những thay đổi chính trị chung quanh, nó cũng kéo người đấu tranh gần lại với nhau qua những note nhạc có lửa này.
Và nó cũng kéo theo sự chú ý ngày một thù hằn hơn từ nhà cầm quyền, nhất là khi ông công khai hát những ca khúc hải ngoại bị cho là phản động, những ca khúc từng là tác nhân đẩy những người nghệ sĩ sáng tác nó vào tù.
Ngày chờ đợi đã tới
Cái ngày mà ông chờ đợi đã tới. Cái ngày quyết định số phận cây vỹ cầm cũ kỹ từng theo ông trong nhiều năm suốt cuộc hành trình âm nhạc đã tới. Với ông là vết thương trên tay cùng những thứ giúp âm thanh của ông vang xa bị vất xuống hồ Hoàn kiếm. Với chiếc đàn, đó là ngày trở về với cát bụi và lời than van réo rắt của nó vĩnh viễn bị chôn vùi.
Kẻ gây án là một gã trai cao to thường theo đuôi ông mỗi khi ông trình diễn. Lần này hình như anh ta đã được phép làm những điều mà thú tính trong con người anh ta thúc giục hàng ngày: tiêu diệt người nghệ sĩ đường phố Tạ Trí Hải.
Ông già đầu bạc với giọng hát sang sảng ấy vẫn không hết sang sảng khi kể lại việc chiếc đàn của ông bị khai tử, ông cho biết:
“Sau khi chuyện xảy ra 4 tay công an cơ động nó đến nó nói với tôi đã bắt được nó, thế bây giờ bác đến đồn công an để khai báo đi. Thế tôi mới bảo bắt được nó thì bây giờ nó ở đâu? Chúng mới bảo nó không có ở đây. Thế tại sao lại thả chúng nó? Nó trả lời là không được quyền bắt. Cả một lũ dối trá bịp bợm thế thôi, chúng nó si-nhan nhau để cho thằng này thoát mà.
Sau đó một số anh em biết tin kéo đến và có lội xuống hồ lấy được cái âm-li cùng một số dụng cụ khác ở dưới hồ gươm, cả bao đàn này nọ nó vứt hết tất cả. Về sau một xe công an đến thì chúng nó lặng thinh, nó đến một lũ. Lúc ấy tôi đứng đó tôi chửi toáng lên chúng nó. Mọi tối thì công an dày đặc còn hôm nay không biết tại sao chúng mày lặn đâu hết cả, đây có phải là cái trò chúng mày bày trò này ra để khủng bố tao không?
Tôi vạch ra hết! Tôi bảo tất cả lũ này, cái việc làm này là hành động tay sai bán nước chứ không có gì khác, tôi hiểu chúng nó lắm. Một năm nay rồi thằng trung tá công an, Phó đồn công an Hàng Trống hai năm trước tôi đã chửi vào tận mặt cho bàn dân thiên hạ biết bây giờ nó lên chức trưởng đồn công an thì cũng là ván cờ của chúng nó thôi. Nó trả đũa mình và nó thừa cơ kỳ vừa rồi Tập Cận Bình nó sang nó có nhiều cay cú bây giờ nó xử lý mình, có thế thôi.”
Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh.
-Nguyễn Tường Thụy
Bạn vong niên của nghệ sĩ Tạ Trí Hải rất đông có đủ mọi thành phần xã hội. Một số dân oan và người biểu tình khi nghe tin ông bị côn đồ phố cổ hành hung đã tới nơi để bảo vệ cho ông mặc dù đã quá muộn. Blogger Phương Bích, người lên tiếng khá sớm nói với chúng tôi về việc này:
“Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.
Bác ấy hay sáng tác những bài hát coi như hát chế giống như các bài đồng dao. Tức là từ những bài rất là bình thường, những bài trước đây như bài quốc ca chẳng hạn thì ông ấy chế lại cho phù hợp với hoàn cảnh bây giờ thì nó làm cho chính quyền này nó tức giận nó trả thù bằng cách đó.
Hình ảnh của bác ấy dù bên trong thế nào chăng nữa nhưng bên ngoài thì luôn luôn được nhìn như người nghệ sĩ đường phố mà trong các cuộc biểu tình thì hình ảnh này khá đẹp nó cũng là cái mà làm cho họ tức giận nên em cho đấy là một cách trả thù thôi. Nhưng mà nó lại mang một cái tinh thần mới, một hơi thở mới làm cho người dân, người đấu tranh người ta rất phấn khởi mà ngược lại thì nhà cầm quyền rất tức giận. Vì chẳng có luật nào bắt bác ấy được mà phải dùng cái biện pháp ấy.”
Biện pháp mà Phương Bích nói cũng nằm trong khái niệm mà anh Lã Việt Dũng một thành viên trong nhóm NO U đồng tình:
“Tôi nghĩ là công an Hà Nội lúc này đang trong giai đoạn chuyển giao giữa thế hệ cũ và thế hệ mới. Trong khi chuyển giao thì có thể việc tùy cơ của họ từ trên xuống dưới không được chặt chẽ lắm như người ta thường nói là thượng bất chính thì hạ tất loạn và tôi nghĩ rằng ở dưới đang rất là loạn cho nên khi cụ Tạ Trí Hải đánh đàn ở bờ hồ thì thường xuyên có những người đi theo phá quấy.
Họ chưa bao giờ ra tay và lần này có thể vì như vậy nên họ không sợ bị cấp trên đe nếu mà họ ra tay hay ra lệnh cho một người ra tay. Hoặc đây là chỉ đạo từ bên trên đề có thể làm xấu hình ảnh NO U của anh em chúng tôi. Vừa qua thì như anh biết khi Tập Cận Bình sang Việt Nam thì anh em chúng tôi đã đi biểu tình chống Tập Cận Bình rất quyết liệt. Có thể họ bị một cái gì đó từ đâu đó tôi không biết, có thể từ phía Trung Quốc hay từ bên trên mà họ phải thực hiện các biện pháp lên anh em chúng tôi, có hai khả năng như vậy.”
Cái người thanh niên to cao nhưng lại dùng sức vóc ấy tấn công một cụ già có lẽ cũng khó tìm ra bởi công an, mặc dù cụ nhạc sĩ biết rõ mặt anh ta như biết rõ lòng bàn tay của mình, anh Lã Việt Dũng kể:
“Cụ Tạ Trí Hải cụ biết rõ người đấy. Bây giờ mà nói đem ra làm chứng thì không khó nhưng cụ chỉ nói cậu ấy là người thường xuyên được công an bảo kê cho việc theo quấy rầy cụ mỗi lần cụ chơi đàn ở bờ hồ.”
Nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy cho rằng việc này gói gọn trong âm mưu bịt miệng người chống Trung Quốc bằng biện pháp khủng bố, ông nói:
“Tôi nghĩ rằng bác Hải là người chỉ biết kéo đàn suốt ngày thôi. Lúc nào anh em đi biểu tình chống Trung Quốc hay anh em đi đấu tranh thì bác ngồi ở bờ hồ hay chỗ công cộng nào đấy bác kéo đàn. Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh. Tôi nghĩ rằng hiện nay nạn côn đồ hành hung những người chống Trung cộng hiện nay có dấu hiệu rất là táo tợn trước đây đã như vậy rồi nhưng mà dộ này những vụ ấy xảy ra nhiều hơn. Có lực lượng thân Tàu nó chỉ đạo làm những việc như vậy.”
Đâu đó khắp nước người tỏ lòng thương yêu quý trọng ông không ít, trong đó có nhà báo Phạm Việt Thắng. Bài thơ “Người nghệ sĩ già và cây đàn Violon” như một cách bày tỏ cảm xúc của ông đối với nhạc sĩ:
Người nghệ sỹ già nua
Bị đánh gãy tay và ném đàn xuống nước?
Người nghệ sỹ luôn đi đầu dậy trước
Trong mọi cuộc xuống đường
Bị “côn đồ” tấn công?
Không!
Côn đồ không nỡ đánh ông
Người nghệ sỹ già lặng lẽ
Réo rắt lời núi sông!
Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!
Vọng từ thuở hồng hoang mở cõi
Vọng hào khí Đông A, tiếng hô vang từ muôn vàn bô lão
Vọng từ Trường Sơn, lộng gió Biển Đông.
Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!
Khúc bi ca hát ru người ngã xuống
Cho đất nước hồi sinh
Lời hùng tráng hiệu triệu người đứng dậy
Vì đất nước quang vinh.
“Côn đồ” đánh ông gãy tay ư?
Tay sẽ khỏi!
Đàn bị ném xuống hồ ư?
Đàn mới thay!
Người nghệ sỹ già và những ngón tay còn lại
Cùng dòng người vô tận, hát mãi lời núi sông…
Phạm Việt Thắng
Cây đàn dù đã nát tan, đã vĩnh viễn về với cát bụi nhưng nó đã thực hiện đúng những điều mà người đóng nó ao ước: mang âm thanh đánh thức rung cảm của người nghe. Niềm rung cảm lớn nhất có lẽ bên cạnh tình yêu đôi lứa ra còn có rung cảm của tình yêu đất nước vốn thường trực và sâu thẳm trong lòng từng người một trên quả đất này…
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”
Cát Linh, phóng viên RFA
2015-11-14
“Dòng nhạc Anh Bằng”
Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thuỵ du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”… Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.
Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.
“Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thuỵ ơi và tình ơi…” (Khúc thuỵ du)
Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thuỵ Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.
Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức
Lại thêm một người nữa ra đi…
Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…
Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.
“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?
Ai đứng trông ai ven hồ
Khua nước trong như ngày xưa…” (Nỗi lòng người đi)
Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bâ giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.
Nửa đêm biên giới

Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hoà tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.
“Mẹ ơi… biên cương giờ đây
Trời không… mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe… gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang
Khèn trong…. buôn xa còn vang
Nhịp chìm… tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con… hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao…” (Nửa đêm biên giới)
Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.
“Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…”(Chuyện giàn thiên lý)
Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.
“Anh còn yêu em như rừng lửa cháy
Anh còn yêu em như ngày xưa ấy
Chiều xuống mờ sương
Cửa đóng rèm buông
Gối kề bên gối
Môi kề bên môi
Anh còn yêu em đường xanh ngực nở
Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ
Bạch đàn thâu đêm
Bạch đàn thâu đêm
Thầm thì tóc rũ
Anh còn yêu em…” (Anh còn yêu em)
Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.
“Khi áng mây cao đừng trên nếp trán.
Anh chợt nghe tình vỗ cánh baỵ
Trái tim anh hờn dỗi trên vaị
Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy
Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.
Trên bàn tay lộc biếc lá non.
Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.
Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…” (Kỳ diệu)
Anh còn nợ em
Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức
Rồi cũng có khi ông hoá thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.
“Anh còn nợ em
Công viên ghế đá
Công viên ghế đá
Lá đổ chiều êm
Anh còn nợ em
Dòng xưa bến cũ
Dòng xưa bến cũ
Con sông êm đềm
Anh còn nợ em
Chim về núi nhạn
Trời mờ mưa đêm
Trời mờ mưa đêm…”(Anh còn nợ em)
Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hoà với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:
“Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…”
“Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.”
Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.
Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)
Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)
J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội
RFA

Nhóm côn đồ vào đánh những người đến thăm nhà em Đỗ Đăng Dư ngày 16/10/2015.
Vụ án đánh luật sư
Cái chết của em Đỗ Đăng Dư đã làm nóng dư luận bởi sự khuất tất và oan khuất. Nhưng dư luận còn chú ý hơn vì những hành động của các cơ quan công quyền, các đám xã hội đen, côn đồ – mà những năm gần đây, hiện tượng công an đóng giả côn đồ hành động như côn đồ đã trở thành phổ biến – đã tiếp tục gây sự chú ý của dư luận xã hội. Chúng tôi đã từng là nạn nhân thường xuyên của lực lượng công an đóng giả côn đồ này.
Những vụ việc ngăn chặn, sách nhiễu, đánh đập người đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã làm dư luận chú ý. Ngay sau đám tang của em một ngày, một số người động lòng thương đến thăm gia đình em và viếng hương hồn oan khuất của em đã bị gây sự và chặn đánh vào ngày 16/10/2015. Đám người mặc thường phục đã vào tận nhà em rình rập, khủng bố những người đến thăm gia đình em mà không có bất cứ lý do nào.
Cũng theo hình thức đó, ngày 3/11, hai vị luật sư đến gia đình cũng bị một nhóm côn đồ tổ chức tấn công tạo nên nhiều thương tích, cướp lấy tài sản của họ…
Đặc biệt, những hành động đằng sau đó của hệ thống công an đã không thể không đặt ra những nghi ngờ về một sự khuất tất trong vụ việc này.
Trước hết, theo các luật sư cho biết, thì ngay sau khi các luật sư bị đánh, công an huyện Chương Mỹ đã không đến hiện trường, khi luật sư khai báo và làm biên bản, họ đã ghi không trung thực vào lời khai và biên bản như báo cáo của các nạn nhân, kết quả là các luật sư đã không ký vào biên bản. Riêng điều này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Nguyên nhân nào mà các nạn nhân đã không được bảo vệ bởi lực lượng Công an và những động thái của Công an có ý nghĩa gì?
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, LS Trần Đình Triển Phó chủ nhiệm, Trưởng ban Bảo vệ luật sư đến tận Công an Chương Mỹ, thì được bảo vệ cho biết các công an Huyện đã xuống hiện trường. Thế nhưng khi đến hiện trường, thì người dân cho biết không có bất cứ công an nào đến đó chiều hôm ấy. Trở lại CA Huyện Chương Mỹ, thì LS Triển được thông báo các cán bộ bận và không thể tiếp luật sư (!)
Tình trạng làm việc và cách làm của Công an Chương Mỹ là vậy trước một vụ án. Mặc dù tướng Nguyễn Đức Chung “đã cho hay sau khi vụ việc xảy ra đã chỉ đạo Công an huyện Chương Mỹ điều tra nghiêm túc”.
Trả lời báo chí, thiếu tướng Giám đốc Công an Hà Nội cho rằng: “Vấn đề ở đây là tình hình ở Chương Mỹ rất phức tạp, khi mọi người đến thì cũng nên thông báo để cho cơ quan công an có phương án bảo vệ. Đây là trách nhiệm của công an phải bảo đảm an ninh trật tự chứ đừng chủ động vào”. Điều này có nghĩa là ở đất nước Việt Nam ổn định và an ninh này, ngay tại Thủ đô vì hòa bình, mà người dân đến đây phải nhờ công an bảo vệ, nếu không thì bị đòn… đừng kêu?
Ngày 10/11/2011 Công an Hà Nội tổ chức một cuộc họp báo, nhưng các nạn nhân và đoàn LS Hà Nội không được mời. Thậm chí khi đến, họ còn không được cho vào (?). Nguyên nhân vụ việc được CAHN cho biết là vì “xe chạy gây bụi” nên các luật sư bị côn đồ đánh và chưa khởi tố vụ án hình sự. Điều này trái hẳn với điều ông Nguyễn Đức Chung, thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội đã trả lời báo chí rằng “Nhưng thông tin ban đầu thì 2 luật sư bị hành hung khi ra đường sau khi có va chạm giao thông”.
Từ chỗ nguyên nhân là va chạm giao thông đã bị các luật sư nạn nhân phản đối kịch liệt, nội dung đã được chuyển sang do “bụi”.
Nội dung cuộc họp báo đã bị các luật sư phản ứng dữ dội. Mạng xã hội được dịp nóng lên vì phát ngôn này của Công an Hà Nội, tạo những trận cười chảy nước mắt.
Tiếp đó, các nạn nhân luật sư đã nhận dạng được một gương mặt hung thủ là công an xã tên Cửu, nhưng sau đó, bằng một cuộc họp báo, Công an Hà Nội đã khẳng định viên công an này đi qua đó nhưng không tham gia đánh đập các nạn nhân. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Tại sao là khách xa lạ từ nơi khác đến, các LS lại nhận ra một người trong hệ thống công an xã mà họ chưa từng gặp, chưa từng thù oán lại đến đánh họ? Chẳng lẽ các luật sư này đã chiêm bao thấy tên Cửu này?
Khi côn đồ được dùng như một giải pháp

Tại Việt Nam, một thời khi công nghệ thông tin chưa phát triển, người dân thấy công an như thấy cọp, thì công an muốn làm gì đều được, muốn bắt bớ, đánh đập hoặc làm gì thì cũng không ai dám hé răng nửa lời. Họ có thấy cũng coi như giả điếc, có chứng kiến cũng như không.
Thế nhưng, thời nay đã khác. Khi Internet phổ cập khắp mọi nơi, một chiếc điện thoại rẻ tiền từ một hang cùng ngõ hẻm nào đó cũng có thể cho cả thế giới thấy được sự thật đang diễn ra bằng hình ảnh, âm thanh sống động, thì mọi hành động bạo lực, vô đạo đức và nhân tâm sẽ khó khăn che giấu hơn. Nhiều hành động, việc làm càn rỡ bất chấp luật pháp và nhân tính đã được tung lên mạng, nhiều vụ việc đã được phơi bày trước công chúng và công luận, thì việc công an mang sắc phục làm những việc bất chấp luật pháp rất dễ bị phơi bày và khó chối.
Nhiều sự việc đã được đưa lên mạng, lực lượng công an chối quanh một cách ngây ngô, khiên cưỡng đã chỉ càng làm cho người dân nhận thấy bản chất của sự việc và cách nhìn của người dân đã thay đổi. Vụ viên công an đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, Công an Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Nhanh đã nhanh nhẩu cho rằng video đó được làm giả từ nước ngoài đã là một ví dụ điển hình cho sự chày cối và lý sự cùn bất chấp sự thật. Nhiều vụ việc khác đã buộc cơ quan công quyền phải vào cuộc chữa cháy cũng chỉ từ những chiếc điện thoại, máy quay phim nhỏ nhắn, rẻ tiền.
Giả danh côn đồ
Do vậy, lực lượng công an đã buộc phải dùng biện pháp khác: Giả danh côn đồ.

Những năm trước đây, khi muốn khủng bố nhà thờ, tu viện Thái Hà, Tòa TGM Hà Nội, từng đoàn người được huy động kêu gào cả đêm đòi giết người. Hình ảnh đó đã bị công luận trong nước và quốc tế lên án mãnh liệt. Nhà cầm quyền đã chối quanh: Đó là do “Quần chúng tự phát” – Lời Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Tuy nhiên, người ta đã không khó để vạch trần con bài này và vạch rõ đây là cách để dẫn đất nước vào trình trạng vô chính phủ và không luật pháp. Và từ đó việc dùng cách này coi chừng không hiệu quả.
Những vụ bắt bớ người biểu tình yêu nước, khủng bố cá nhân những nhân sỹ, trí thức, người bất đồng chính kiến… nhưng không thể căn cứ trên bất cứ một cơ sở pháp luật nào, họ dùng côn đồ, những người không sắc phục xông đến bắt giữ, đánh đập không thương tiếc các nạn nhân. Điều này nhằm che đi sự vô luân và vô luật trước công luận và công chúng
Khi những hình ảnh, video được đưa lên, nhà cầm quyền ráo hoảnh: Đây là những nhóm nào, chúng tôi không biết. Thậm chí còn “sẽ điều tra’. Thế nhưng, cái gọi là điều tra, làm rõ của họ, thì dần dần người ta nghe như một bản nhạc cũ rích và nhàm chán. Chỉ có tác dụng bào mòn thêm chút còn lại nào đó gọi là niềm tin mà thôi. Bởi không ai lạ gì những “côn đồ” đó là ai.
Trong nhiều trường hợp, công an đóng vai côn đồ đánh đập, bắt giữ người dân, vào đồn hiện nguyên hình Công an với đầy đủ sắc phục. Việc đánh đập chúng tôi khi đến thăm nhà Trần Anh Kim ở Thái Bình là một minh chứng cụ thể.
Còn trong nhiều trường hợp khác, công an sắc phục đầy đủ trong đồn, ra ngoài thay áo đóng vai côn đồ để đánh đập công dân ngang nhiên. Vụ đánh đập Nguyễn Văn Phương, người biểu tình yêu nước trước trại Lộc Hà là một ví dụ điển hình.
Thực ra không ai lạ, bởi cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, huống chi là cả một hệ thống.
Được thể của nhà cầm quyền dung túng và tổ chức, gần đây một số người tự xưng là “Dư luận viên” đã xông đến nhà công dân tổ chức gây gổ, hò hét náo loạn và đánh người vì một cái cớ hoàn toàn bất chấp pháp luật. Chúng hành động và tuyên bố “Việc gì nhà nước không làm được, thì chúng ta làm” – Nghĩa là việc gì dưới danh nghĩa chính thức nhà nước không làm được vì sợ dư luận, thì họ, những người được tổ chức và trả tiền không chính thức sẽ làm, dù đó là những việc bất chấp luật pháp và nhân tính.
Khi một lực lượng, một nhà nước mà sử dụng các biện pháp, cách làm không chính danh, tự nó đã thể hiện sự yếu, sự kém, sự hèn và sự bất chính của mình.
Công an Hà Nội đã tự bộc lộ mình?
Lẽ ra, một vụ án đơn giản như cái chết của Đỗ Đăng Dư, cơ quan Công an Hà Nội chỉ cần xác định rõ, chứng minh rõ ràng và kịp thời về cái chết của em do đâu mà có, bằng những chứng cứ và cơ sở hẳn hoi để gia đình và xã hội biết. Thế nhưng, họ đã lúng túng và hành xử khuất tất để gia đình và xã hội đặt nhiều câu hỏi nghi vấn.
Những lúng túng, bất nhất của Công an Hà Nội như đã nói ở trên và cách hành xử đối với các nạn nhân là hai luật sư bảo vệ quyền lợi cho gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã là cơ hội cho việc những nghi ngờ ngày càng lớn lên. Nói theo ngôn ngữ dân gian, thì câu ngạn ngữ “đường đi hay tối, nói dối hay cùng” đã có cơ hội chứng minh sự đúng đắn của nó.
Trước hết, các luật sư bảo vệ miễn phí cho gia đình Đỗ Đăng Dư đã phải khiếu nại khi không được cấp giấy bào chữa cho nạn nhân dù đã quá hạn. Luật sư Trần Thu Nam, nạn nhân trong vụ bị đánh đập, là người đã vào tận phòng mổ tử thi Đỗ Đăng Dư với Công an và Pháp Y quân đội. Lẽ nào vị LS này rỗi việc đi chơi và đến đó chứ không được gia đình đồng ý? LS Hà Huy Sơn, có giấy yêu cầu của mẹ Đỗ Đăng Dư vẫn không được chấp nhận là LS bào chữa (?).
Sau đó là hàng loạt sự khuất tất trong vụ đánh hai luật sư bị dư luận phản ứng. Tất cả đã nói lên điều gì qua vụ án này?
Ở đây, điều vướng mắc lớn nhất, là việc chết của cháu Đỗ Đăng Dư lại xảy ra trong đồn Công an Chương Mỹ, Hà Nội.
Mà xưa nay, hễ đã dính vào Công an, thì mọi việc đòi hỏi công lý sẽ trở nên khó khăn, thậm chí là vô vọng, mọi cái chết đều nhẹ nhàng dù chết trong đồn hay chết bởi một tên công an khát máu đánh người ngoài đường rồi để chờ cho đến chết, đều là chuyện nhỏ.
Người ta có quyền so sánh những vụ việc như sau:
– Cô người mẫu Trang Trần bị tòa tuyên án 9 tháng tù treo chỉ vì chửi công an.
– Năm công an đánh người ngã gục rồi bắt quỳ xem nhậu, đến khi phải đi viện chỉ bị cảnh cáo.
– Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 5-3-2013 vừa qua, TAND huyện Thanh Trì đã tuyên phạt bị cáo Huyền 12 tháng tù giam vì đã hắt xô nước mắm vào Công an.
– Nhưng viên Trung tá Công an đánh ông Trịnh Xuân Tùng gãy cổ, xong xiềng lại cho đến khi đi bệnh viện thì chết chỉ bị tuyên phạt 4 năm tù.
– Thiếu nữ tát cảnh sát giao thông bị phạt 9 tháng tù.
– Trung tá Công an đánh dã man, bầm dập một nữ công nhân vì nghi oan trộm điện thoại, chỉ bị giáng cấp.
Dường như, đã là công an, thì được xếp vào một thứ hạng cao hơn tất cả những thành phần dân chúng còn lại, họ có thể ngang nhiên vi phạm luật pháp, coi thường đạo đức, nhân cách… Nhưng họ sẽ chỉ bị xử lý kiểu gãi ghẻ mà thôi?
Ở xã hội Việt Nam, hễ những tội ác, những quan hệ với công an và dân thường trong xã hội xảy ra, thì nó rất ứng nghiệm và chứng minh rõ ràng một câu trong tác phẩm “Trại súc vật” của tiểu thuyết gia George Orwell (1903-1950). Ở trong xã hội đó, hiến pháp, mọi luật lệ đều chung quy lại như sau: “Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: “Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác.”
Và những hành xử của Công an Hà Nội qua vụ cái chết của em Đỗ Đăng Dư, đã tự nó nói lên bản chất vụ án là gì.
Hà Nội, ngày 12/11/2015
J.B Nguyễn Hữu Vinh
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA
Ai xỏ mũi ai ?
Ai xỏ mũi ai ?
14-11-2015
Câu chuyện về chủ quyền biển đảo Việt Nam là đề tài nóng trong suốt một thập kỷ gần đây. Bắt đầu từ việc quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố hành chính với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam dưới cái tên Trung Quốc đặt là Tam Sa, Tây Sa.
Hành động này của Trung Quốc lập tức gây phẫn nộ trong nhân dân Việt Nam, ở hai đầu đất nước Việt Nam là Hà Nội và Sài Gòn lần đầu tiên đã nổ ra biểu tình nội dung phản đối hành vi ngang ngược trên của Trung Quốc. Đó là những ngày đầu tháng 12 năm 2007.
Từ đó đến nay, câu chuyện về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau bao năm không được nhắc tới, bỗng cháy bỏng trong lòng người Việt Nam ở bất cứ đâu trên trái đất này. Không phân biệt mầu cờ, sắc áo. Ở trong nước liên tiếp nổ ra biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc, như năm 2011 có đến 11 cuộc biểu tình diễn ra trong suốt cả mùa hè. Ở nước ngoài cộng đồng người Việt cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình như vậy. Người ta chứng kiến người Việt mang cờ vàng ba vạch đỏ và người Việt xuất khẩu lao động mang cờ đỏ sao vàng, tuy tổ chức các nơi khác nhau nhưng đều chung mục đích phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc đối với hai quần đảo Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam, nhà nước Việt Nam đều lên tiếng đề nghị Trung Quốc chấm dứt hành vi xây dựng trái phép trên hai quần đảo của Việt Nam, đề nghị Trung Quốc không gia tăng hành động gây sứt mẻ quan hệ hai nước.
Dường như hành động của nhà nước Cộng Sản Việt Nam có điều gì không ổn ở đây. Những lời đề nghị của họ đối với Trung Quốc như một cách đồng loã để làm giảm đi tính chất thật sự của hành động xâm lược. Có lẽ để không làm mất lòng Trung Quốc và trước sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam. Nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã chọn một lối đi rất an toàn cho họ. Đó là lên án Trung Quốc vừa phải như đề nghị, mong muốn, và giảm nhẹ hình ảnh việc xâm lược thành xây dựng, chiếm giữ trái phép.
Mặt khác nhà nước Cộng Sản Việt Nam bắt bỏ tù những người biểu tình hăng hái nhất để làm giảm nhiệt các cuộc biểu tình. Một cách nham hiểm hơn, nhà nước CSVN tuyên truyền định hướng cho nhân dân nên bảo vệ chủ quyền bằng cách tìm bằng chứng xác nhận chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo bị Trung Quốc chiếm đóng trên.
Không hiểu Cộng Sản Trung Quốc xỏ mũi Cộng Sản Việt Nam đi vào mê lộ tìm bằng chứng chủ quyền hay là Cộng Sản Việt Nam xỏ mũi người dân Việt Nam bằng cách khuyến khích họ đấu tranh giữ chủ quyền bằng cách đi tìm bằng chứng?
Hàng loạt phong trào tìm hiểu lịch sử biển đảo được phát động, nhiều nhà khảo cổ, nghiên cứu cũng đam mê đi tìm bản đồ, bằng chứng này nọ để khẳng định chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo trên. Dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra bằng chứng của họ bằng bản đồ cổ xưa, Việt Nam cũng đưa ra bản đồ cổ xưa. Cứ lằng nhằng như thế kéo dài từ năm này qua năm khác, trong khi đó Trung Quốc gia tăng xây dựng thành phố trên đảo, trường học, bệnh viện, căn cứ quân sự , đường băng cho máy bay quân sự và hải đăng ….và Trung Quốc còn tiến bước nữa là đổ cát xây đảo ngầm thành đảo cạn.
Sau khi cả dân chúng đi vào mê lộ của việc tìm bằng chứng chủ quyền từ thời tám hoánh. Để rồi Nhà nước Việt Nam ngậm ngùi than vãn không thể đưa vấn đề này ra toà án quốc tế, vì ra chưa chắc chúng ta đã thắng!!! Lý do không thắng là do bằng chứng chủ quyền cổ xưa chúng ta có, Trung Quốc cũng có.
Chẳng hiểu sao nhiều người không nhận ra ý đồ thâm độc của CSVN hay CSTQ khi chọn cách giải quyết chủ quyền bằng tìm bằng chứng lịch sử cách đây vài trăm năm như vậy. Nếu như thế thì người Lã Mã có thể khoanh vùng chủ quyền của họ khắp vùng ven biển Địa Trung Hải, hoặc nếu Trung Quốc gọi biển Nam Trung Hoa là của họ thì người Ấn Độ sẽ có chủ quyền tất cả những hòn đảo và vùng nước trên Ấn Độ Dương.
CSVN hay CSTQ đang dẫn người dân Việt Nam đi vào lối tranh đấu mơ hồ, để họ có thể dễ dàng thoả hiệp với nhau.
Nhưng chẳng mấy ai nhận ra rằng, Việt Nam có một bằng chứng cực kỳ quan trọng, xác nhận chủ quyền của Việt Nam, khẳng định được tính chất xâm lược của Trung Quốc, những bằng chứng rất có giá trị trước toà án quốc tế. Đó là sinh mạng của những chiến sĩ Việt Nam đã ngã xuống trước họng súng của quân xâm lược Trung Quốc tại hai quần đảo này cách đây không lâu. Những bằng chứng gần nhất và sinh động nhất, rõ nét nhất và đầy đủ sự thuyết phục nhất.
Thật vô lý là làm sao cứ phải trưng bản đồ cổ này nọ. Trong khi chỉ cần lấy tư liệu về hành động xâm lược vũ lực , khát máu của Trung Quốc mới đây trình cho toà án quốc tế, đập vào mặt Trung Quốc là xong phần bằng chứng. TQ nói của họ từ xưa, thế Việt Nam có dùng vũ lực để chiếm không, có bắn giết dân quân họ đang sống trên đảo để chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền như họ làm không.? Chỉ biết rằng chúng tôi đang sở hữu hoà bình, chúng tôi khai thác, sử dụng hàng trăm năm mà không đánh giết ai. Vậy bỗng nhiên chúng tôi bị Trung Quốc mang tàu, súng đến thảm sát dân quân chúng tôi rồi xây căn cứ quân sự và bảo là của họ.
Trưng ra những bằng chứng mới nhất bằng máu, nước mắt do Trung Quốc gây ra với quân dân Việt Nam. Những tội ác tàn bạo mang tính xâm lược, thôn tính, chiếm đoạt..là những bằng chứng rõ ràng và hùng hồn, đanh thép nhất để khẳng định chủ quyền. Thế nhưng CSVN đã làm ngơ bằng chứng giá trị này, xúi dục dân chúng đi vào việc hão huyền sẽ làm đau đầu, tốn công của toà án quốc tế, dư luận quốc tế qua việc, lấy những bằng chứng từ thời ông bà, ông vải ra.
Dường như CSTQ đã đặt cho CSVN chọn lựa đường lối giành lấy chủ quyền trong khuôn khổ cái gọi là ” vừa hợp tác vừa đấu tranh ” và trong khái niệm này thì CSTQ cho CSVN đấu tranh bằng cách đi tìm bằng chứng chủ quyền qua những giấy tờ, bản đồ xưa cũ từ 100 năm đổ về trước. Còn chuyện mới đây không được nhắc đến. Thêm nữa là CSVN chỉ được lên tiếng phản đối trong khuôn khổ những từ ngữ như đề nghị, chiếm giữ trái phép…không được gọi là xâm lược vũ trang. Về hành động Trung Quốc chỉ cho phép Việt Nam dùng ngư dân ra biển để khẳng định chủ quyền.
Và tranh chấp thế nào có thế nào đi nữa, CSVN cũng phải tuân theo đường lối 3 không đã cam kết với Trung Quốc. Không được liên minh quân sự với nước khác, không được cho nước khác đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không được dựa vào viện trợ của nước khác để chống Trung Quốc.
CSTQ có thể xỏ mũi được CSVN. Nhưng người dân Việt Nam đừng để CSVN tiếp tay cho CSTQ xỏ mũi mình. Xin thôi ngay việc tìm bằng chứng trong lịch sử xa xưa, nhưng hội thảo bàn về chủ quyền từ thời vài trăm năm trước, đó là việc làm chả đi đến đâu trong khi chính môn lịch sử ở Việt Nam còn đang khốn nạn. Hãy tập trung tìm những bằng chứng thời bây giờ ở các vụ xâm lược vũ trang, giết người cướp đất của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974 đến nay. Hiện nay CSVN đang cố tình làm ngơ và không nhắc nhở gì đến những bằng chứng quý giá, thiết thực đó. Củng cố những tư liệu đó trước khi chúng bị CSVN xoá sạch phi tang hộ CSTQ. Trong các hội thảo quốc tế, các cuộc nói chuyện về chủ quyền biển Đông với quốc tế, chỉ cần trưng nhưng bằng chứng đẫm máu đó ra giá trị gấp ngàn lần những tấm bản đồ, chiếu nhà vua, sắc lệnh cổ xưa nào đó.
Làm thế, để quân xâm lược CSTQ nhận được thông điệp , dù chúng xỏ mũi được chế độ CSVN ngày nay. Nhưng không bao giờ chúng xỏ mũi được người dân Việt Nam đi theo hướng ” đấu tranh” mà chúng vạch ra như người ta xỏ mũi con trâu dắt đi theo hướng nào cũng được.
HÃY BÌNH TĨNH !
HÃY BÌNH TĨNH !
Một cô sinh viên đang ngồi trên xe buýt thì một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh leo lên xe, miệng lẩm bẩm xô mạnh cô ra, ngồi chen vào ghế bên cạnh. Bất bình, anh thanh niên kế bên hỏi tại sao cô không phản kháng và bảo vệ quyền lợi của mình?!
Cô mỉm cười và trả lời:…
– Đâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!
Trạm tới, tôi xuống rồi.
Đây là một câu trả lời mà chúng ta nên xem như một “hướng dẫn bằng vàng” về cách cư xử hằng ngày ở khắp mọi nơi:
“ĐÂU CẦN PHẢI CÃI CỌ VÌ CHUYỆN NHỎ NHƯ THẾ!
CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU!”
Nếu ai cũng ý thức rằng cõi đời tạm nơi trần thế thật NGẮN NGỦI, cãi cọ tầm phào vừa mất vui, vừa mất thời gian và sức lực, thì ai cũng có thể dừng lại như cô gái trên.
Có ai làm mình tổn thương?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!
Có ai phản bội, ức hiếp, sỉ nhục mình?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!
Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng:
CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU!
Chúng ta nên ăn ở hiền lành.
Hiền lành là một đức tính không bao giờ đồng nghĩa với hèn nhát, nhu nhược, không có cá tính.
Hiền lành đồng nghĩa với CAO THƯỢNG.
Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời tạm này NGẮN NGỦI lắm và không đi trở ngược lại được.
Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!
Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!
HÃY BÌNH TĨNH, CHUYẾN ĐI NGẮN LẮM!
S.T.
Âu châu ….Tới rồi !
Âu châu ….Tới rồi !Nguyễn thị Cỏ MayNhững làn sóng xâm nhập
Âu châu không chờ đợi người hồi giáo tới nhưng ngày nay họ đã tràn ngập một cách công khai và được luật pháp bảo vệ . Chánh phủ các nước Âu châu vẫn phải nói tiếng nói chánh thức đây là những người tỵ nạn chiến tranh ! Mặc dầu có suy nghĩ họ là những người hồi giáo xâm nhập để làm đạo quân thứ năm cho tương lai hay sẽ làm khủng bố thì cũng không dám nói ra điều đó . Chẳng những không dám nói mà thật lòng chánh phủ, nhứt là chánh phủ xã hội chủ nghĩa ở Pháp, cũng không muốn nói vì áp lực lá phiếu năm 2017 . Ý hệ tả phái bây giờ không còn gì khác hơn là bày tỏ « lòng thương người » .
Thực tế ai cũng thấy Libye đang sử dụng một thứ vũ khí mới mà đối phương không cách gì đở nổi « Tạo xáo trộn các nước Âu châu vùng Địa trung hải » nhằm ngăn chận Âu châu can thiệp quân sự ở Libye .
Tổ chức Nhà nước Hồi giáo vừa gởi Chánh phủ Ý một thông điệp « Nếu mấy người gởi quân tới Libye, chúng tôi sẽ gởi tới cho mấy người 500 000 người di dân tỵ nạn » .
Tổng trưởng Ngoại giáo Ý, ông Angelino Alfano, tuyên bố « Libye là ưu tiên của cộng đồng thế giới. Chúng ta sẽ phải đối phó với làn sóng người tràn ngập chưa từng có . Không để chậm một phút » .
Ý là nước đối đầu trực diện vói làn sóng hồi giáo tràn tới vì chỉ cách Libye có 350 km . Và người hồi giáo tràn vào Âu châu đang ở phía nam La –mã . Ý đang chịu áp lực nặng nề và có thể bị tấn công bất kỳ lúc nào .
Theo tin nghe được qua điện thoại của nhựt báo ý IL Messagero thì Nhà nước hồi giáo muốn sử dụng làn sóng người hồi giáo tỵ nạn như một vũ khí chiến tranh tâm lý chống Âu châu . Tàu ghe đã sẳn sàng ở duyên hải Libye để chất lên 500 000 hay cả 700 000 người chạy thẳng tới Ý, không người lái, để bắt buộc các chánh phủ phải cho người ra cứu vớt và đem vào bờ .
Năm 2011, trước khi bị lật đổ, nhà độc tài Kadhafi đã thách thức với chánh phủ các nước Tây phương « Chọn tôi hay chọn sự xáo trộn và khủng bố ? » .
Ngoài ra, cũng Kadhafi đã đưa ra lời dạy cho người hồi giáo « Ta chiếm lấy Âu châu từ từ, không bằng vũ khí, mà bằng tăng cực nhanh dân số hồi giáo ở đó » .
Trước sau, người hồi giáo vẫn tìm mọi cách thôn tính Âu châu, biến Âu chấu thành Âu châu hồi giáo .
Nhìn lại Pháp một thời
Ngày nay hồi giáo có tràn tới Pháp và Âu châu cũng là trở lại nơi chốn cũ một thời . Thật vậy, năm 714, lần đầu tiên người hồi giáo đã xâm chiếm nước Pháp vùng Narbonne, duyên hải phía Nam nước Pháp và nơi đây trở thành căn cứ của họ suốt 40 năm sau . Từ đây, họ tàn phá hết vùng Languedoc, tiêu diệt Nîmes, hữu ngạn sông Rhône kéo lên tới Sens . Tức họ chiếm cứ phân nửa nước Pháp phía Nam, ngày nay, hảy còn để lại dấu ấn địa danh, trước khi bị vua nước Pháp đẩy lui, phải tháo chạy về Tây-ban-nha (Espagne) . Tàn quân tập họp lại thành những băng đảng cướp bóc, bắt dân pháp thiến cho làm nô lệ, bắt phụ nữ đem về Bắc phi cho sanh đẻ hồi giáo con . Cứ như vậy, người hồi giáo đánh phá nước Pháp suốt hai thế kỷ .
Ngày nay, ở những thị xã ngoại ô Paris và những thành phố lớn, hồi giáo sống riêng rẻ theo từng tập thể với nhau . Có những nơi, cha mẹ không cho trẻ con tới trường học, không cho nói tiếng pháp .
Họ đòi nhà trương phải bỏ phần ăn thịt heo, tuy trẻ con hồi giáo có món ăn khác thay thịt heo . Hồ bơi, họ đòi dành rìêng cho phụ nữ hồi giáo ít nhứt một ngày trong tuần, … Vậy mà có không ít chánh quyền thị xã tuân hành . Cũng chỉ vì áp lực lá phiếu mà thị xã là cơ sở của bầu cử Quốc hội và Tổng thống .
Pháp chưa có được những người như Bà Thủ tướng Úc trước đây, như chánh quyền Québec ở Canada, hay cả TT Poutine về mặt ứng sử với Hồi giáo . Trong lịch sử, hồi giáo chiếm nước Pháp đã qua cách nay quá lâu nên chánh giới pháp khó nhớ lại !
Yêu sách và luật hồi giáo
Trong những đợt tràn qua Âu châu, những người hồi giáo tới Áo, đã bắt đầu yêu sách . Có 20 người tuyệt thực, với biểu ngữ, đòi hỏi chánh phủ Áo phải cấp cho họ mỗi người 2000 e mỗi tháng làm tiền túi . Còn nuôi ăn, nuôi ở, là chuyện khác . Chuyện vừa xảy ra ở thành phố Saint-Kanzian, phía Nam của Thủ đô Wien .
Báo chí Áo viết “ Cuộc khủng hoảng ở các nước hồi giáo làm bùng nổ phong trào di dân chạy qua Âu châu . Những di dân tỵ nạn mang ở họ nhiều bộ mặt, ngoài bộ mặt thất thần vì chạy trốn trên biển cả sóng gió, còn có bộ mặt hóng hách như kẻ có quyền mà các quốc gia đón nhận họ phải phục vụ họ ” .
Ngoài biểu tình, tuyệt thực, đòi họ phải được chánh phủ cấp cho họ mỗi người 2000 e tiền túi, hôm thứ ba vừa qua, họ còn tổ chức họp báo để nhằm vận động dư luận Áo ủng hộ .
Nhưng điều quan trọng hơn là người hồi giáo, dựa theo luật pháp của chế độ dân chủ tự do, họ bắt đầu đòi hỏi theo luật hồi giáo .Nhơn mùa lễ hội bia truyền thống của Đức, họ yêu cầu Đức hảy hủy bỏ lễ hội bia vì người hồi giáo bị cấm uống rượu . Họ không cần nhớ lại nước Đức, trong tuần qua và trước nhứt, vừa mở rộng vòng tay đón nhận di dân hồi giáo với số lượng khá lớn . Ngày mai này, khi họ tập trung đông đảo thì Âu châu sẽ thế nào ? Sẽ uốn mình theo yêu sách từng bước của hồi giáo hay giử bản sắc văn hóa truyền thống ?
Tên hồi giáo ở Hòa-lan, Morad Almuradi, đã tổ chức một cuộc vận động trên trang Change.org yêu cầu Hội đồng thành phố Munich hủy bỏ 16 ngày Hội bia Oktoberfest truyền thống của Đức .
Thư viết :” Thưa Hội đồng thành phố Munich,
Tôi viết tâm thư này để lôi kéo sự chú ý của các người về những vấn đề mà tôi và nhiều tín đồ Hồi giáo khác cảm thấy bất công.
Tôi muốn nói rằng lễ hội bia Oktoberfest là một sự phỉ báng và bài xích đạo Hồi. Chúng tôi đã cố không để tâm tới lễ hội, nhưng đã có quá nhiều những hành động mà chúng tôi cho rằng nó phi Hồi giáo như uống quá nhiều bia rượu, khỏa thân nơi công cộng, và nó ảnh hưởng đến chúng tôi.
Chúng tôi hiểu rằng Oktoberfest là lễ hội truyền thống của nước Đức, nhưng chúng tôi không thể chịu đựng được sự kiện mang tính phi Hồi giáo này, vì nó xúc phạm đến tất cả những người đạo Hồi trên thế giới.
Chúng tôi yêu cầu các người hủy bỏ lễ hội Oktoberfest ngay lập tức .
Chúng tôi cũng tin rằng lễ hội Oktoberfest cũng có thể ảnh hưởng đến những đồng đạo Hồi giáo tị nạn đến từ Syria, Iraq, Afganishtan. Hủy bỏ lễ hội Oktoberfest sẽ giúp họ rất nhiều trong việc ghi nhớ những giá trị truyền thống của đạo Hồi. Cảm ơn sự quan tâm của các người.
Chân thành,
Morad Almuradi “Lễ Hội Bia Oktoberfest 2015 bắt đầu ngày 19 / 09 và kết thúc ngày 04/ 10 là lần thứ 182 ở Thành phố Munchen, miền Nam nước Đức . Năm nào cũng vậy, Lễ Hội qui tụ hằng triệu triệu người tới từ khắp nơi trên thế giới . Người ta phải ở lều trại vì khách sạn đều hết chổ và phải đặt trước vài năm .
Lễ Hội Bia đúng là thứ mà người hồi giáo phải căm thù vì nó bao gồm đầy những thứ mà Kinh Coran cấm đoán, nguyền rủa như rượu, thịt heo, phụ nữ ngực trần, nhạc đồi trụy, thú vui vật chất, phóng túng, …
Vậy Lễ Hội Bia quả là một hiện tượng mặc nhiên chống hồi giáo nên hồi giáo không thể tha thứ được . Hôm nay, nhìn tên hồi giáo Morad Almuradi với kháng thư chỉ đáng là một trò cười nhưng đừng quên ngày mai này sẽ là một thực tế vì phong trào hồi giáo hóa u châu đang tiến hành dưới mọi hình thức, với mọi điều kìện và không nhân nhượng .
Thái độ ứng sử và yêu sách của người di dân hồi giáo ngày nay sẽ làm cho các nước Âu châu nhớ lại trước đây bốn mươi năm họ cũng đã từng mở rộng vòng tay nhơn đạo đón nhận những người Việt nam tỵ nạn trên những chiếc thuyền ọp ẹp, bỏ lại tất cả, chạy bán sống bán chết, trốn hiểm họa cộng sản . Nhưng chắc chắn, ở khắp nơi, người tỵ nạn cộng sản Việt nam đã không có thứ thái độ vô nghì, thiếu văn hóa như người hồi giáo ngày nay .
Ai hội nhập?
Tại sao người hồi giáo có những thái độ thiếu văn hóa như vậy ? Khi nói “thiếu văn hóa” là nói theo Tây phương và qua cái nhìn Tây phương . Người hồi giáo họ chỉ ứng xử bình thường theo văn hóa tôn giáo của họ . Họ không bao giờ trở thành người tây phương . Chỉ có người tây phương muốn yên thân thì hãy ứng sử như họ, tức trở thành hồi giáo . Bởi vì về các mặt như tôn giáo, xã hội, … người hồi giáo phải sống theo đúng kinh Coran qua lời dạy của giáo sĩ của họ .
Như ở Âu châu, luật pháp cấm đa thê, tôn trọng nhơn quyền thì luật hồi giáo (Coran) cho phép lấy chánh thức 4 vợ, còn nhiều hơn nếu có khả năng, đánh đập vợ, hành hạ vợ để dạy vợ theo ý của chồng, phải biết tùng phục chồng tuyệt đối .
Bất kỳ ở trên một nước dân chủ tự do nào không phải hồi giáo, người hồi giáo không thể vừa hồi giáo, vừa hội nhập hài hòa với xã hội đó . Dân chủ tự do là không bao giờ phù hợp với hồi giáo vì mọi người đều có quyền sống theo sự chọn lựa của mình .
Ngày nay, thảm nạn hồi giáo không chỉ ở Âu châu mà cả Huê kỳ . Những xứ sở càng dân chủ thì nơi đó sẽ là môi trường tốt cho hồi giáo tranh đầu để hồi giáo hóa .
Ứng cử viên Tổng thống Huê kỳ, ông Donald Trump, trong cuộc meeting hôm 17 tháng 9, đã phải tuyên bố một cách nghiêm trọng : “Chúng ta có một vấn đề tại đất nước này, đó là những người hồi giáo” .
Tây phương sẽ không tránh khỏi nạn hồi giáo hóa nếu những nhà chánh trị vẫn thấy thương lá phiếu hơn thương nước .
Trước đây, Việt nam mất nước chỉ vì người lãnh đạo chánh trị và quân sự lo nghĩ củng cố phe cánh cầm quyền, ít ai nặng lòng với đất nước . Dân chúng, phần lớn lo lợi dụng chiến tranh làm giàu cho mau, cũng chẳng có mấy ai nghĩ tới nước sẽ mất .
Mới thấy xưa nay, nước mất chỉ vì lòng dân không muốn giữ nước, chớ không vì quân giặc mạnh .Tội nghiệp cho nhơn loại vừa kịp thoát nạn cộng sản, nay lại phải đối diện với thảm họa hồi giáo . Riêng người Việt nam tỵ nạn cộng sản đang sống rải rác khắp nơi, nếu mai này phải chạy tỵ nạn hồi giáo, không biết sẽ đi đâu đây ?
Nguyễn thị Cỏ May





























