Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

Phản ứng của người dân trước chuyến thăm của ông Tập Cận Bình

RFA

Gia Minh, PGĐ Ban Việt ngữ

Phản đối chuyến thăm sắp tới của Chủ Tịch Trung Quốc Tập Tận Bình. Photo: FB Nguyen Lan Thang

Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình sẽ thăm chính thức Việt Nam vào hai ngày 5 và 6 tháng 11 tới đây. Một số nhân sĩ, trí thức và người dân quan tâm, trong cũng như ngoài nước, lên tiếng phản đối chuyến công du này. Lý do vì sao và tình thế nào đối với mối quan hệ Việt- Trung lúc này?

Tuyên bố để bày tỏ thái độ

Sau khi tin về chuyến công du Việt Nam của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình được chính thức xác nhận, vào ngày 15 tháng 10 có hơn 120 người trong nước công khai Bản Lên Tiếng về việc không hoan nghênh ông Tập Cận Bình đến Việt Nam vào thời điểm này.

Sang ngày 2 tháng 11, tám tổ chức xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam cùng hơn 130 người cả trong và ngoài nước công khai Tuyên bố về Chuyến Thăm Việt Nam của ông Tập Cận Bình.

Tuyên bố gồm 5 điểm nêu rõ lập trường của những tổ chức và cá nhân ký tên về mối quan hệ Việt- Trung, những hành động xâm chiếm lãnh thổ- lãnh hải của Việt Nam do Bắc Kinh tiến hành lâu nay, việc hành xử bạo lực đối với ngư dân Việt đánh bắt hải sản tại khu vực ngư trường Hoàng Sa, Trường Sa …

Nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng, một trong những người ký tên vào bản Tuyên bố cho biết lý do ông tham gia cùng bảy tỏ chính kiến với nhiều người quan tâm khác:

“Tuyên bố đó để nói rõ thái độ của nhân dân Việt Nam. Lãnh đạo có thể lấy lòng, khúm núm, cầu cạnh như thế nào; đó là một nhóm lãnh đạo chứ còn tiếng nói của chúng tôi là tiếng nói của người dân nhằm bộc lộ thái độ, ý chí của chúng tôi đối với Trung Quốc.

Chúng tôi nghĩ rằng trong (lúc) bị đàn áp, o ép thì chỉ có thể lên tiếng thế thôi; chứ còn biểu tình chắc không làm được, khó. Đáng lẽ một nước có dân chủ thì vào dịp này người ra rất cần có biểu hiện thái độ, ý chí bằng tập hợp lực lượng. Nhưng việc tập hợp lực lượng như thế chắc không được, không làm được nên chúng tôi phải làm là ra tuyên bố đó thôi.”

Giáo sư- tiến sĩ Nguyễn Thế Hùng thuộc nhóm chủ trương trang Bauxite Việt Nam cũng là một trong những người ký tên cho biết quan điểm của ông khi tham gia hoạt động này:

“Cũng nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình, nhưng trí thức, những người dân yêu nước Việt Nam cần bày tỏ cho ông chủ tịch Tập Cận Bình thấy những việc làm sai trái của họ đối với Việt Nam, những nguyện vọng, ước muốn của nhân dân Việt Nam cụ thể về vấn đề Biển Đông.”

Đường lối của Hà Nội

Thông tin cho biết chuyến thăm của chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đến Việt Nam trong tuần đầu tháng 11 này là do lời mời của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng và chủ tịch nước Trương Tấn Sang.

H1Ông Nguyễn Thiện Chí, giảng viên cao cấp Đại học Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh, cho rằng hoạt động ngoại giao như thế là đường lối lâu nay của Hà Nội:

“Châm ngôn của Bộ Ngoại giao, của đảng chúng tôi là đa phương hóa, đa dạng hóa. Tiếp đến là muốn gần gũi, trao đổi, tiếp cận. Hoan nghênh cả thôi. Nhà nước tiếp cận làm sao có lợi, cho tốt thôi. Dẫu sao họ nghe tiếng nói của bên này, của nhân dân Việt Nam thì họ sẽ có một thái độ nào đó đúng mực. Còn hõ khôn nghe thì nhân dân thế giới phê phán thôi!

Chúng tôi muốn thân thiện, hết sức thân thiện, muốn hòa bình, muốn hữu nghị. Nhưng hữu nghị thì phải cả hai bên, chứ một bên không được. Tối thiểu phải lịch sự, văn minh; bên kia quay lưng làm sao được?!”

Theo nhà văn quân đội Phạm Đình Trọng thì phía Trung Quốc sang Việt Nam lần này cũng tương tự như vào những dịp đảng cộng sản Việt Nam tiến hành đại hội 5 năm đưa ra đường lối, chính sách và đội ngũ nhân sự lãnh đạo đảng và nhà nước. Ông nói:

“Dịp này là dịp mà Trung Quốc rất cần, họ muốn có mặt, có ảnh hưởng tại Việt Nam. Lý do vì sắp tới đại hội đảng sắp đặt ‘ghế ngồi’, nhân sự cho lãnh đạo Việt Nam trong thời gian tới. Trung Quốc họ rất cần có mặt lúc này để làm áp lực, sắp đặt theo ý muốn của họ về nhân sự. Chuyến đi của ông Tập Cận Bình sang Việt Nam lúc này là như thế và cũng để hỗ trợ cho những người, những tư tưởng ngóng vọng sang Trung Quốc và muốn tồn tại thế lực của Trung Quốc. Tập Cận Bình sang cũng để làm hậu thuẫn cho những con người đó, những tư tưởng ấy.”

Chính sách của Trung Quốc

Ông Nguyễn Thiện Chí còn là thành viên thuộc Ủy ban Thường Vụ Hội Hữu nghị Việt- Trung và trưởng ban liên lạc cựu lưu học sinh, thực tập sinh Trung Quốc, thừa nhận lâu nay Trung Quốc nói và làm không đi đôi với nhau. Nay toàn thế giới đã nhận thấy điều đó. Ông Nguyễn Thiện Chí nói rõ:

“Giữa lời nói và việc làm của Trung Quốc không đi đôi với nhau. Điều này thế giới thấy cả rồi. Như Trường Sa, Hoàng Sa là của Việt Nam được thế giới công nhận và họ nói nhiều lắm. Có những nước không nói ra nhưng trong bụng vẫn cho đó là của Việt Nam.

Trong phạm vi vi mô của bản thân, một người dân trong nước và là sĩ phu, chỉ mong muốn thế này thôi: Trung Quốc bình tĩnh, thật cầu thị lắng nghe tiếng nói của nhân dân thế giới để hành xử cho đúng. Vì họ là nước lớn, nước lớn mạnh lắm; còn chúng tôi nước nhỏ đấu tranh thì còn chờ các nước láng giềng, chờ các nước trong Liên Hiệp Quốc, chờ những người dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới họ quan tâm theo dõi, họ giúp đỡ chúng tôi trong vấn đề này. Nước nhỏ chống lại nước lớn khó lắm, phải có thời gian. Nếu nước lớn biết cầu thị, muốn sống trong hòa bình, đừng xâm lược, đừng tham lam (tham lam không được) thì phước quá. Nhưng thời gian sẽ ủng hộ chúng tôi.”

Nhà văn Phạm Đình Trọng đánh giá thực tế diễn tiến như hiện nay là một cơ hội mà chính quyền Hà Nội cần phải nắm bắt chứ không thể bỏ qua như nhiều lần khác:

“Tình trạng rất có lợi cho Việt Nam và cũng mở mắt cho Việt Nam về dã tâm của Trung Quốc ‘hai năm rõ mười’ rồi, không còn nghi ngờ gì nữa. Và xu thế của thế giới đối với Trung Quốc cũng đã rất rõ: Philippines như thế, rồi Mỹ như thế; nhưng mà thái độ của Việt Nam vẫn lập lờ.

Lực lượng Mỹ vào Biển Đông để hạn chế sự bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông đều được từ úc, Châu Âu ủng hộ nhưng Việt Nam vẫn có thái độ im lặng, lập lờ, không rõ ràng. Điều đó thể hiện là áp lực của Trung Quốc đối với những người lãnh đạo Việt Nam rất lớn. Áp lực đó, sức ép đó đang còn duy trì và ảnh hưởng rất nặng nề đếnViệt Nam, cho nên một cơ hội, thời cơ thuận lợi sẽ lại qua đi thôi!”

Đại sứ Trung Quốc tại Hà Nội trong trả lời phỏng vấn Tân Hoa Xã nhân chuyến thăm của ông Tập Cận Bình đến Việt Nam lần này nói rõ mục đích nhằm vạch ra đường hướng cho mối quan hệ Việt- Trung trong thời gian tới.

Những người quan tâm tại Việt Nam bày tỏ hy vọng lãnh đạo Hà Nội sẽ sáng suốt nghe theo tiếng nói của người dân và thế giới tiến bộ; không còn răm rắp tuân thủ chính sách do tầng lớp lãnh đạo Trung Quốc vạch ra.

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

ĐỜI NGƯỜI CHIẾC LÁ

  LM Giuse Nguyễn Hữu An

Những ngày cuối tháng 10, Đất Thánh các Giáo xứ đông người đi tảo mộ.  Bên người thân yêu đang an nghỉ, con cháu, thân nhân thành kính đốt nến thắp nhang, hiệp thông cầu nguyện.

Mỗi chiều, tôi ra Đất Thánh của Giáo xứ cùng mọi người dọn dẹp cỏ rác, phát quang bụi rậm, sữa sang lễ đài, chuẩn bị cho ngày lễ các đẳng linh hồn.

Nhìn những chiếc lá vàng rơi rụng khắp Nghĩa Trang, tôi nghĩ về mùa thu, nghĩ về đời người và chiếc lá.

Nhớ bài thơ của thi sĩ Lưu Trọng Lư:

Em nghe không mùa thu.

Lá thu rơi xào xạc.

Con nai vàng ngơ ngác.

Đạp trên lá vàng khô.

(Tiếng thu)

Màu vàng của lá, màu úa của cỏ, nắng nhạt gió chiều là hình ảnh đặc trưng của mùa thu.  Mùa “chịu tang” của những chiếc lá vàng.  Ngồi nhìn lá rơi, mỗi chiếc lá chọn cho mình một cách “chia tay.”  Có những chiếc lá ra đi trong sự quằn quại khổ đau, dùng dằng bịn rịn như thể không muốn lìa cành; có những chiếc lá “hấp hối” loạng choạng buông mình cách nặng nề nghiêng ngả trên mặt đất.  Lại có những chiếc lá ra đi cách nhẹ nhàng trong dáng điệu thướt tha buông mình theo gió.  Những chiếc lá khác không bàng hoàng hối hả mà chậm rãi, thanh thản, an nhiên rơi mình trên thảm cỏ xanh như thể một bông hoa say trong giấc ngủ yên lành.  Một đời lá mong manh, chóng tàn phai rụng xuống.  Mới đó, lá còn xanh tươi, mà nay đã úa vàng lìa cành.

Đời người có khác chi một chiếc lá cuối thu.  Có những người ra đi trong bấn loạn, hối tiếc, khổ đau, nặng nhọc.  Lại có người ra đi về với cội nguồn một cách thanh thản nhẹ nhàng thanh thản.  “Lá rụng về cội.”  Lá rơi bên gốc cây.  Lá chờ đợi một quá trình sinh học để trở thành dinh dưỡng nuôi cây.  Lá góp thân xác tàn úa để trả ơn cho cây.  Đời lá ngắn ngủi mà đầy ý nghĩa nhân sinh.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Kinh: “Có thời sinh ra, có thời chết đi” (Gv 3,2).  Mỗi loài thụ tạo đều có thời hạn của nó.  Đời người như chiếc lá mỏng manh, ngắn ngủi.  Chỗ dựa trần gian chẳng an toàn vững chắc. Tiền bạc vật chất, bằng cấp, kiến thức, chức quyền đều chóng tàn phai.  Sức khoẻ, sắc đẹp hao mòn rồi rệu rã theo tuổi đời năm tháng.

Nhìn lá vàng rơi, ta nhận ra sự thật cay đắng nhất của đời người là sự chết.  Nó chẳng từ ai, chẳng thương tiếc ai.  Nó đến bất ngờ làm ta bang hoàng.  Phải bỏ lại tất cả mọi thứ ta gắn bó và gom góp suốt đời để ra đi với hai bàn tay trắng.  Cái chết của mỗi người là một chuyến đi cuối cùng.  Một chuyến đi quyết định và quan trọng.  Một chuyến đi vĩnh viễn không bao giờ trở lại.  Một chuyến đi một vài tuần về thăm quê nhà, một chuyến đi nghỉ hè đôi ba ngày… tôi đã phải sắp xếp chuẩn bị nhiều ngày, có khi nhiều tuần ….  Nhưng tôi đã chuẩn bị được những gì cho chuyến đi cuối cùng và thật quan trọng của cuộc đời tôi?  Tôi có nỗ lực để xắp xếp chuẩn bị cho chuyến đi vĩnh viễn và không bao giờ trở lại này không?

Nhìn lá vàng rơi, ta nhớ lời Thánh Vịnh: “Đời sống con người giống như cây cỏ, như bông hoa nở trên cánh đồng, một cơn gió thoảng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc không còn mang vết tích” (Tv 102,15-16).  Dù văn minh đến dâu, con người vẫn không thắng nổi cái chết bằng sức mạnh của khoa học kỹ thuật.  Giàu nghèo sang hèn, trí thức hay bình dân, văn minh hay lạc hậu… ai ai rồi cũng phải chết.  Đứng trước cái chết, mọi người đều bình đẳng.  Sống là chuẩn bị cho con người đi về với cái chết.  Suy tư về cái chết là suy tư về sự sống.  Chết là một phần của sự sống bởi lẽ trong sự sống đã có sự chết.  Nó là cánh cửa nối liền hai thế giới như cửa sông đưa giòng nước vào nguồn biển rộng.  Cứ theo định luật tự nhiên, con người được sinh ra, lớn lên, già đi và chết.  Đó là định luật chung của con người.  Không ai có thể sống mãi mà không chết.  Các vua chúa ngày xưa đã cố công đi tìm thuốc trường sinh bất tử nhưng họ cũng chết.  Để sống cách trọn vẹn, phải can đảm chấp nhận sự sống lẫn sự chết.  Đời người ngắn ngủi như chiếc lá như lời Thánh Vịnh:

Đời con là một kiếp phù du,

Loài người Chúa dựng nên thật mỏng manh quá đỗi.

Sống làm người ai không phải chết,

Ai cứu nổi mình thoát quyền lực âm ty?

(Tv 88,48-49)

Con người không có quyền gì trên sự chết và sự sống.  Sống và chết là kỳ công và đều bởi Thiên Chúa.  Sự sống là mong manh, thế mà Thiên Chúa lại phải đánh đổi bằng máu của các tiên tri, bằng mạng sống của Con yêu dấu là Chúa Giêsu.

Nhìn lá vàng rơi ta nghĩ về cuộc đời lữ thứ.  Xin đừng mưu mô tính toán mà làm gì.  Xin đừng chia rẽ và thù ghét làm chi.  Cuộc đời này thật ngắn, tiền bạc trên thế gian này nhiều lắm, bàn tay ta có tham mấy cũng chẳng vơ vét hết được.  Rồi đến lúc bàn tay xuôi xuống, lạnh cóng, cô đơn, chẳng nắm giữ được gì.

Để có được sự ra đi trong thảnh thơi nhẹ nhàng và đong đầy niềm tin hy vọng ngày mai tươi sáng, ta hãy định nghĩa cuộc đời mình bằng sự “hiện hữu”, đừng bao giờ là sự “sở hữu”.  Ta hãy chọn phương châm “sống với” chứ đừng “sống vì”.  Thấu cảm được ý nghĩa về cuộc đời thì ta mới nhẹ nhàng, thanh thản ra đi mà không vướng bận, không ưu phiền.  Như ai đó đã từng nói: “Ngày ta sinh ra đời, mọi người cười ta khóc.  Hãy sống như thế nào để khi ra đi mọi người khóc ta cười”.

 LM Giuse Nguyễn Hữu An

Chuyện Tình Lá Thu.

Chuyện Tình Lá Thu.
LA THU
Chiếc lá xanh kia đã bạc màu,
Rừng thu vàng đỏ lá chen nhau,
Phải chăng thu tới trên màu lá,
Lao xao tàn úa rụng về đâu.
*
Hôm nao mơn mởn lộc cành cao,
Đón xuân tươi thắm dưới nắng đào,
Hoa ngát hương lá xanh biêng biếc,
Trên cành kìa lũ bướm xôn xao.
*
Mùa hè sang nắng ấm hanh vàng,
Mơ say lá tắm nắng vườn hoang,
Hoa rực rỡnhương thơm tỏa ngát,
An nhiên tình mộng dưới trăng ngàn.
*
Bất chợt cơn mưa đến lạnh lùng,
Vô tình nhàu nát cánh hoa nhung,
Lá xót xa âm thầm chết lặng,
Giữ làm sao được – Đóa mong manh.
*
Trong đêm hoa héo tàn sương lạnh,
Lá u sầu úa sắc phai xanh,
Còn đâu tình mộng dưới trăng thanh,
Heo may về lá bỗng lìa cành.
*
Tình mình có buồn như lá thu,
Thời thơ mộng ấy tít xa mù,
Anh hỡi thu về anh có nhớ,
Tìm trong lá úa dấu tình xưa…
 
Phạm Thị Minh Hưng.

Hành động của một người mẹ ở tiệm ăn nhanh đã khiến mọi người đều sững sờ

Hành động của một người mẹ ở tiệm ăn nhanh đã khiến mọi người đều sững sờ

bua_sang_mcdonald
Tôi là một bà mẹ ba con (14, 12 và 3 tuổi), vừa hoàn tất chương trình đại học và bộ môn cuối cùng là xã hội học.

Giảng viên bộ môn này đã hoàn toàn truyền cảm hứng cho sinh viên với những phẩm chất mà tôi ước gì người nào cũng được như thế.

Đề tài cuối cùng cô đặt ra cho chúng tôi mang tên “nụ cười”. Cả lớp được yêu cầu ra ngoài và cười với ba người đồng thời ghi lại phản ứng của họ.

Tôi thuộc tuýp người thận thiện, luôn mỉm cười và chào hỏi mọi người xung quanh. Vì vậy, đề tài này đối với tôi mà nói thật dễ như ăn bánh.

Ngay sau khi được giao đề tài, một buổi sáng đẹp trời tháng Ba, tôi cùng chồng và con trai nhỏ đến tiệm thức ăn nhanh McDonald’s. Đó cũng là cách vợ chồng tôi dành thời gian chơi đùa cùng con mình.

Khi chúng tôi đang xếp hàng đợi đến lượt mình gọi thức ăn thì đột nhiên tất cả mọi người đều lùi lại, ngay cả chồng tôi cũng làm thế.

Tôi đứng yên không nhúc nhích dẫu chỉ một chút. Một cảm giác hoang mang tràn ngập khi tôi quay đầu nhìn xem vì sao mọi người lùi lại.

Khi quay đầu lại, tôi ngửi thấy một mùi hôi cơ thể kinh khủng và đứng sau tôi là hai người đàn ông vô gia cư nghèo khổ.

Khi tôi nhìn xuống một người đàn ông thấp bé đứng gần mình, ông ta mỉm cười. Đôi mắt xanh tuyệt đẹp của ông ngập tràn ánh sáng thiên thần và ông đang tìm kiếm sự chấp nhận.

Ông nói “Một ngày tốt lành nhé!” khi đếm những đồng xu lẻ đang nắm chặt trong tay.

Người đàn ông thứ hai đang mò mẫm tay mình khi đứng sau lưng bạn. Tôi nhận ra rằng người đàn ông này có vấn đề về thần kinh và người mắt xanh ‘lịch sự’ kia là người giúp đỡ ông ấy.

Tôi cố cầm nước mắt khi đứng đó cùng họ.

Cô gái trẻ tại quầy hỏi họ muốn mua gì.

Ông mắt xanh nói “Cô cho chúng tôi cà phê cả nhé.” (Nếu họ muốn ngồi trong cửa hàng và sưởi ấm, họ phải mua gì đó. Họ chỉ muốn được ấm áp một chút, và cà phê là những gì họ có đủ khả năng chi trả.)

Lúc đó một động lực thôi thúc mãnh liệt khiến tôi dang tay ra và ôm lấy người đàn ông mắt xanh ấy.

Cũng trong khoảnh khắc đó, tôi nhận thấy mọi cặp mắt đang đổ dồn về phía mình và dò xét từng cử chỉ của tôi.

Tôi mỉm cười và gọi thêm hai phần ăn sáng đặt trên một khay riêng.

Sau đó, tôi đi vòng qua góc bàn mà hai người đàn ông chọn ngồi, để khay thức ăn lên bàn và đặt tay mình lên bàn tay đang lạnh cóng của người đàn ông mắt xanh.

Ông ngước nhìn tôi mắt ngấn nước và nói “Cám ơn cô.”

Tôi cúi xuống, vỗ vào tay ông ấy và nói “Tôi làm việc này không phải vì ông. Chúa thông qua tôi để ban tặng ông niềm hy vọng.”

Tôi bắt đầu khóc khi quay lại bàn với chồng và con trai mình. Khi ngồi xuống, chồng tôi mỉm cười và nói “Đó là lý do vì sao Chúa ban em cho anh, là để mang hy vọng đến cho anh, em yêu!”

Chúng tôi nắm lấy tay nhau một lúc lâu và biết rằng, bởi vì được nhận phước lành mà chúng tôi có thể lại cho đi những gì được nhận.

Vợ chồng tôi không phải là những ‘con chiên’, nhưng chúng tôi có niềm tin. Ngày hôm đó, ánh sáng thuần khiết của tình yêu Chúa trời đã soi rọi tôi.

Tôi quay lại trường vào buổi tối cuối cùng của lớp học với câu chuyện của mình trong tay. Tôi nộp bài và người hướng dẫn bộ môn đã đọc nó.

Sau đó cô ấy ngước lên nhìn tôi và nói “Tôi có thể chia sẻ câu chuyện này được chứ?”

Tôi nhẹ nhàng gật đầu khi cô yêu cầu cả lớp chú ý.

Và khi cô ấy bắt đầu đọc, tôi chợt nhận ra rằng, chúng ta là những sinh mệnh riêng lẻ và là một phần trong chỉnh thể vũ trụ, chia sẻ là điều cần thiết để hàn gắn và để được hàn gắn.

Bằng cách của mình, tôi đã làm những người tại cửa hàng McDonald’s, chồng tôi, con trai tôi, giáo viên bộ môn và tất cả mọi người tham dự ngày cuối cùng ở lớp học tối hôm đó xúc động.

Tôi tốt nghiệp với một bài học lớn nhất trong đời, đó là: Chấp nhận người khác một cách vô điều kiện.

Nguồn: inspire21
Biên dịch: Hướng Dương

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Thăm cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm

Nhóm phóng viên tường trình từ VN

RFA

000_ARP2823700

Ông Ngô Đình Nhu cùng phu nhân, bà Trần Lệ Xuân cùng các con.

AFP photo

Ngày 1 tháng 11 năm 1963, Tổng Thống nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam Cộng Hòa Ngô Đình Diệm cùng với bào đệ là Cố Vấn Tổng Thống Ngô Đình Nhu bị giết tại Sài Gòn trong một cuộc đảo chính. Đây cũng là khoảnh khắc khép lại thời vàng son của dòng họ Ngô Đình. Và đây cũng là thời điểm mà cố hương của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm gặp nhiều nguy biến nhất. Có thể nói rằng số phận lênh đênh của dòng họ xuất chúng này vẫn chưa bao giờ ngừng.

Cố hương vời vợi…
Một người tên Hàm, sống ở Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Ông đầu tiên học trường thuộc địa, gọi là trường Hậu Bổ, sau đó ra làm quan Tuần Vũ, cũng như tỉnh trưởng vậy đó. Sau đó nhờ tài năng ông được rút về trung ương, tức triều đình Huế. Sau đó đụng chạm với Phạm Quỳnh, đụng phải sự cố chấp, không chịu canh tân, ông từ quan. Sau đó nữa ông âm thầm hoạt động cách mạng độc lập, để có nền Việt nam Cộng Hòa sau này là nhờ ông biết hoạt động độc lập…”.

Theo cụ Hàm, quê gốc của cố Tổng thống Ngô Đình Diệm không phải ở làng Đại Phong, xã Phong Thủy, Lệ Thủy, mà là ở phủ Xuân Dục, Quảng Bình. Cụ Ngô Đình Dinh, ông nội của Tổng Thống Diệm là một con chiên mộ đạo. Do tránh nạn tiêu diệt Ki-Tô giáo của triều đình Huế, cụ đã trốn vào làng Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình để sống.

Ban đầu cụ làm nghề chèo đò, nấu nước trà cho làng mỗi khi có lễ lạc. Bởi quan niệm dân gốc và dân trú thời đó nên cụ gặp rất nhiều khó khăn, sống trong nghèo khổ, bần hàn. Cụ sinh được một người con là Ngô Đình Khả, chính là thân sinh của Tổng Thống Ngô Đình Diệm sau này. Cụ Dinh mất sớm do bệnh tật, lúc đó, Ngô Đình Khả là đứa bé sáu tuổi. Một vị linh mục người Pháp mang Ngô Đình Khả về nuôi và cho học hành tử tế. Vốn có tư chất thông minh, Ngô Đình Khả nhanh chóng thăng tiến sau này nhờ vào học hành.

Với đời vợ cả, cụ Ngô Đình Khả sinh ra được hai người con trai là Ngô Đình Khôi, Ngô Đình Thục. Sau khi vợ cả qua đời, cụ Khả tái hôn với bà Phạm Thị Thân, sinh ra sáu người con là Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện, Ngô Đình Thị Giáo và Ngô Đình Thị Hiệp.

Với gia thế làm quan kể từ sau giai đoạn khó khăn của ông nội Ngô Đình Dinh, có thể nói rằng đến thời cụ Ngô Đình Diệm là thời phát tiết của tộc Ngô. Cụ nổi tiếng là người học giỏi, cụ được Pháp đưa sang mẫu quốc để du học nhưng cụ không chịu đi để giữ khí tiết chống thực dân đô hộ, cụ ra Hà Nội để học Hành chính quốc gia, còn gọi là trường Hậu Bổ. Năm 1921, cụ tốt nghiệp trường Hậu Bổ và về làm quan tại Huế. Thời kì làm quan của cụ là thời kì mà nhân dân địa phương được sống sung túc nhất dưới sự dẫn dắt của cụ.

Cụ tổ chức đào kênh, đắp đường lộ, làm nhiều việc có lợi cho dân. Sau nhiều biến thiên lịch sử, cụ phải trốn sang nhiều nơi, thậm chí nhiều nước. Và đến năm 1954, cụ làm Thủ tướng dưới quyền của Quốc trưởng Bảo Đại. Mười năm sau, năm 1955, nền Cộng Hòa đầu tiên của Việt Nam ra đời dưới sự dẫn dắt của Thủ Tướng Ngô Đình Diệm.

Cuối năm 1955, cụ Diệm làm Quốc Trưởng và sau này đổi thành danh xưng Tổng Thống cho đến tháng 11 năm 1963.

Ông Hàm cho rằng cái chết và sự lưu vong của gia đình họ Ngô là do một thủ đoạn tính toán về phong thủy. Bởi lúc đó, Quảng Bình nằm phía Bắc vĩ tuyến 17, thuộc lãnh địa của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa. Nghiệt nỗi, mộ cụ nội của Tổng Thống Ngô Đình Diệm vẫn nằm trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Quảng Bình. Mà theo lời của một nhà chiêm tinh có uy tín lúc bấy giờ thì đất Lệ Thủy sinh ra bậc kỳ tài, ứng vào tộc Ngô và tộc Võ.

400
Sông Kiến Giang, đoạn ngang qua ngôi mộ cụ Dinh. RFA photo

Nếu giữ bậc hiền tài tộc Ngô thì khí vận của nhân tài tộc Võ không đủ để lay chuyển thời vận. Và người ta đã nhắm đến mộ của cụ Ngô Đình Dinh, ông nội cụ Ngô Đình Diệm để phá phách, trấn yểm. Việc trấn yểm, phá phách này kéo dài gần chục năm, cho đến khi ngôi mộ của cụ Dinh bị phá tan hoang cũng là lúc Tổng thống Ngô Đình Diệm và bào đệ Ngô Đình Nhu bị ám sát.

Hiện tại, không còn dấu vết nào của dòng họ nhà Ngô Đình trên đất Đại Phong, Phong Thủy, Lệ Thủy, Quảng Bình. Mặc dù trong quá trình di cư, vẫn còn nhiều người họ hàng của tộc Ngô Đình sống lại làng Đại Phong nhưng đã đổi thành một họ khác như Trần, Lê. Sau biến cố ngày 1 tháng 11 năm 1963, những người họ hàng này lại một lần nữa rời bỏ quê hương, sống lưu vong.

Dấu xưa không còn và ngôi mộ thiên táng

Cụ Hải, sống ở Đại Phong, Lệ Thủy, Quảng Bình, chia sẻ: “Nhà ông Giáp và ông Diệm gần nhau. Rõ ràng ông Diệm phải giỏi ngang ngửa với ông Giáp mới đấu nổi với nhau chứ. Nhưng do người ta giết hại ông Diệm nên đành vậy thôi.”.

Theo cụ Hải, lúc cụ Ngô Đình Dinh, tức ông nội của Tổng thống Ngô đình Diệm qua đời, vì gia cảnh nghèo khó, vợ chết sớm, chỉ có một con trai nhỏ là Ngô Đình Khả mới sáu tuổi. Hai cha con sống lây lất qua ngày bằng việc chèo đó thuê ban ngày và ngủ nhờ đình làng ban đêm. Khi cụ Dinh mất, dân làng thương tình mua áo quan khâm liệm và chèo thuyền đưa thi hài ông dọc theo sông Kiến Giang, đến núi Bến Đẻ để an táng.

Nhưng đi nửa đường thì trời đổ mưa, nghe tiếng cọp gầm, dân làng sợ quá đào qua loa một huyệt bên đường lên núi để chôn tạm rồi sáng mai tiếp tục an táng. Đang đào thì cọp gầm gần quá, người dân hoảng hốt lấp vội đất và bỏ chạy. Sáng mai, bà con lại bơi ghe lên chỗ huyệt mộ để lấp đất cho tử tế. Nhưng khi đến nơi thì thấy một gò đất tròn, cao đã phủ trên ngôi mộ. Gò đất này do mối đụn lên mà tạo thành. Người làng kháo nhau ngôi mộ được thiên táng, tức trời chôn, đời sau sẽ phát tích. Và chuyện này đã thành sự thật.

Cùng lúc đó, bên khu nhà thờ làng tộc Võ, một cây dừa bị bão đánh đã lâu, từ thân khô của nó mọc ra hai nhánh và phát triển rất nhanh. Tin đồn về khí vận ở Lệ Thủy đang phát tiết lan rộng. Trong đó, ngôi mộ thiên táng của tộc Ngô được cho là tụ khí hơn khu nhà thờ làng có cây dừa mọc đôi của tộc Võ.

Đến những năm 1950, công cuộc đào phá long mạch mộ tộc Ngô bắt đầu nhưng không có tác dụng. Đến năm 1961, một đường hầm đào xuyên qua trước ngôi mộ, gọi là công sự để chế tạo vũ khí nhưng thực chất chưa bao giờ có vũ khí nào chế tạo ở đây.

Sau đó một thời gian, các đường công sự đào ngang đào dọc và ngôi mộ cũng tự dưng biến mất. Cuối cùng là cái chết thương tâm của gia đình Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời tứ tán của dòng họ Ngô. Dấu vết xưa của dòng họ Ngô trên đất Lệ Thủy, Quảng Bình cũng không còn.

Theo như chia sẻ của cụ Hải thì khi mà khí vận của đất Lệ Thủy bị tuyệt, từ đó đến giờ, đời sống khó khăn, người đỗ đạt cao một cách nghiêm túc rất hiếm và niềm tự hào của người dân về gia tộc họ Ngô cũng bị triệt tiêu một cách đáng sợ. Nhưng cụ Hải cũng khẳng định rằng nếu chọn một điều gì đó để nói về quê hương mình, ông sẽ chọn gia tộc họ Ngô bởi đây là một gia tộc đi từ nghèo khổ đến đỗ đạt và cống hiến cho dân tộc này rất nhiều.

“Hôm qua tiễn em đi,”

“Hôm qua tiễn em đi,”

Buồn biết nói năng gì.

Đường chiều mưa tiễn bước,

Hồn khóc theo người đi.”

(Đăng Khánh/thơ Du Tử Lê – Tiễn Em Chiều Mưa)

 ( 1Cor 14: 26-29)

 Trần Ngọc Mười Hai

             Vâng. “Tiễn Em chiều mưa”, hôm qua hay hôm nay đi nữa, cũng đều buồn để rồi lại những thưa và thốt “biết nói năng gì?”, “hồn khóc người đi”.

            Hồn còn khóc, nhiều hơn nữa, khi người đưa tiễn lại có ý-nghĩ cùng hành-xử khá lạ-kỳ như truyện kể sau đây:

“Vợ hỏi chồng:

            -Anh cắt bài gì trong báo Buổi Chiều, vậy? Báo này có gì hay ho đâu mà cắt?

-Cũng chỉ là bài báo kể về chuyện: có anh chàng nọ được toà án gia đình cho phép ly-dị vợ vì cô ta cứ liên tục lúc túi áo của anh cả khi treo lên mắc cũng như trước khi đem giặt, ấy mà!

-Đành là thế. Nhưng, anh định dùng mẩu báo ấy làm gì mà cứ lúi húi giấu mẩu giấy ấy thế?

-Ấy, anh địng bụng bỏ vào túi áo mình, ngộ nhỡ sau này…”

             Nói chữ “ngộ nhỡ sau này”, thật sự cũng khó biết. Chí ít là khi anh bạn cứ áp-dụng vào các trường-hợp sẽ xảy ra trong đời, với nhà Đạo. Trong đời người, có rất nhiều truyện để kể, làm sao nói hết, cho bớt buồn? Về chuyện nhà Đạo hay nhà Chúa, cũng hệt thế.

Duy mỗi chuyện cứ đến rồi đi ở chốn chóp bu nhà Chúa ở Vaticăng, vốn Đạo-hạnh không kém. Như, chuyện được ngành truyền-thông báo chí, cứ kể đi kể lại mãi một chuyện. Chuyện Đức Giáo Tông nhà mình vừa kết-đọan buổi Họp Thượng Đỉnh của Đạo mình hôm 29/10/2015 ở Rôma 2015, bằng một tựa đề, rất “đánh đấm”, như sau:

“Thượng Hội đồng kết thúc với chiến thắng lớn của Đức Phanxicô

Sau ba tuần thảo luận, Đức Giáo hoàng có được khả năng cho người ly dị tái hôn rước lễ xét theo từng trường hợp một.

Từ ba tuần nay, các giám mục họp Thượng Hội đồng ở Rôma về các vấn đề hôn nhân và gia đình, họ đã bỏ hai phần ba số phiếu quy định cho tất cả các điều khoản của hồ sơ cuối cùng và, nếu Đức Giáo hoàng chấp nhận thì sẽ có thể cho những người ly dị tái hôn rước lễ, xét theo từng trường hợp một.

 Cuộc bỏ hiếu này đánh dấu một bước chiến thắng quan trọng của vị giáo hoàng cải cách, sau lần họp đầu tiên năm ngoái bị một phần các giám mục từ chối.

 Điều khoản số 85 của tài liệu nói về việc cho người ly dị tái hôn được rước lễ theo một vài điều kiện. Trên 94 điều khoản thì điều khoản này nhận được ít số phiếu bầu nhất, với 178 phiếu thuận và 80 phiếu chống – nhưng vẫn đạt được đa số hai phần ba ấn định là 177 phiếu thuận trên tổng số 265 phiếu bầu…” (Nguyễn Tùng Lâm dịch tin-tức do Jean-Marie Guénois viết trên lefigaro.fr).

Chuyện “đánh đấm” hoặc đấu tranh/xung-khắc giữa các đấng bậc ở chốn chóp bu của Giáo-triều nhà Chúa sẽ thiếu-sót nếu ta quên không trích-dẫn một số sự-việc được ghi trên sách hoặc tự-điển Bách-Khoa Công-giáo như tác-giả Ralph Wroodrow từng ghi như sau:

 “Sự việc ‘phân-rã/cách-biệt’ lớn-lao trong Giáo-hội xảy đến vào năm 1378 và kéo dài đến 50 năm. Chức-sắc người Ý, khi ấy, đã bầu chọn Đức Urbanô 6 làm Giáo-Hoàng; trong khi đó, các vị hồng-y người Pháp lại chọn Đức Clêmentê 7.

 Khi ấy, các Giáo-hoàng lại cãi-vã/rủa sả lẫn nhau năm này qua năm khác, cho đến khi Công đồng quyết-định hạ bệ cả hai vị trên, để bầu lên một Giáo-chủ mới!

 Đức Sixtô 5 khi ấy có trong tay ấn-bản kinh thánh đã được soạn mà ngài tuyên-bố là ấn-bản xác-thực. Hai năm sau, Đức Clêmentê 8 tuyên-bố bản ấy đầy dẫy những sai-sót và truyền lệnh thiết-lập ấn-bản khác để sử-dụng…

 Khi cứu xét cả trăm sự-kiện và cung-cách các Đức Giáo-chủ đối-nghịch nhau hàng thế-kỷ, ta cũng hiểu rằng ý-niệm về quyền-uy cùng tính-chất rất “vô ngộ” của Đức Giáo Tông cũng rất khó cho nhiều người cảm-thông, chấp-nhận…

 Khi xem xét những sự việc như thế, nhiều người trong chúng ta vẫn tin rằng việc gọi các Đức Giáo Hoàng là “ Hiện-thân của Đức Kitô” không có cơ-sở vững-chãi. Càng không vững hơn, nếu ta lại cứ gọi các ngài là “Đức Thánh Cha” của Giáo-hội Công giáo, nữa… (X. Ralphn Woodrow, Are Popes Infallible? Babylon Mystery Religion, Ralph Woodrow 1981 tr. 100-104)

             Trích-dẫn như trên, người trích và dẫn chỉ muốn nói rằng: ở giai-tầng/địa-hạt nào cũng thế, vẫn có nhiều thứ nhiều chuyện để bạn và tôi, ta coi đó như một đấu tranh hoặc chiến tranh giành phần thắng lợi hoặc chiến thắng đem về cho bản thân mình hoặc cho phe/nhóm của mình.

Về thành-quả do cuộc họp thượng-đỉnh của Hội thánh được gọi là Thượng Hộ-đồng Giám mục đem lại, cũng có những điều để tôi và bạn ta học-hỏi, cho riêng mình. Học và hỏi, hôm nay, có đôi điều đưa ra không chỉ để tôi và bạn, ta nghiên-cứu/khảo-sát mà thôi. Nhưng, còn để giúp ta ghi nhớ mà giữ lại cho đời mình, làm kinh-nghiệm.

Nghĩ thế rồi, bần đạo bầy tôi đây lại tiếp tục luận phiếm thêm cho vui đời, bằng những chuyện đời trong/ngoài Đạo. Nhưng trước khi đi vào truyện kể hoặc tìm về lời vàng ngọc ở Kinh Sách, tưởng cũng nên ca lại lời ca ở trên, hơi buồn, rằng:

Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Hát thế rồi, nay mời bạn và tôi, ta đi vào truyện kể, rất bên dưới:

             “Truyện rằng:

Có một lần, Đức Phật đi giáo hóa vùng Bà La Môn, các tu sĩ Bà La Môn thấy đệ tử của mình đi theo Phật nhiều quá, nên ra đón đường Phật chửi. Phật vẫn đi thong thả, họ đi theo sau chửi. Thấy Phật thản nhiên làm thinh, họ tức giận, chặn Phật lại và hỏi
– Ngài có điếc không?

–Ta không điếc.

–Ngài không điếc sao không nghe tôi chửi?

– Này Bà La Môn, nếu nhà ông có đám tiệc, thân nhân tới dự, mãn tiệc họ ra về, ông lấy quà tặng họ, họ không nhận thì quà đấy về tay ai?

–Quà ấy về tôi chứ ai.

– Cũng vậy, ông chửi ta, ta không nhận thì thôi.

 Người kêu tên Phật ra chửi mà Ngài không nhận. Còn chúng ta, những lời nói bóng, nói gió ở đâu, nơi nào cũng đều lắng tai nghe, để buồn/để giận. Như vậy mới thấy những lời cuồng dại của con người. Ngài không chấp không buồn, còn chúng ta do si mê, chỉ một lời nói nặng nói hơn, ôm ấp mãi trong lòng, vì vậy mà khổ đau cứ triền miên, tiếp-diễn.

 Trong kinh sách nhà Phật, Đức Phật đã dùng ví dụ người ác lại cứ mắng chửi người thiện, mà người thiện không nhận lời mắng chửi đó thì người ác giống như người ngửa mặt lên trời phun nước bọt, nước bọt không tới trời mà rơi xuống ngay mặt người phun. Thế nên có tiếp-nhận mới dính mắc đau khổ, không tiếp-nhận thì an vui hạnh-phúc. Từ đây về sau mọi người có nghe ai nói gì về mình, dù tốt xấu, chớ nên tiếp-nhận thì sẽ được an vui.

 Và, lời bàn của người kể, rất như sau:

Hãy cẩn trọng với lời nói của mình, đừng gây chuyện thị phi vì vô ý thức, cũng đừng vì một ai mà gây ra lầm lỗi trong quá khứ hoặc dùng lời lẽ nặng nề để hành hạ họ, như Oscar Wilde đã từng nói: “Vị thánh nào cũng có một quá khứ, và tội đồ nào cũng có một tương lai”.

 Hậu quả của khẩu nghiệp thật vô cùng kinh khiếp. Không dương thì âm, sớm muộn gì cũng đều có báo ứng. Vết thương bạn gây ra trên thân thể người khác còn có ngày lành-lặn, nhưng vết thương gây ra do lời nói thì chẳng biết khi nào mới lành lặn được.

 Chửi bới và nói xấu hay đi rêu rao về người khác mà người đó không có phản-ứng, hay không biết thì cũng giống như kẻ tự ngửa cổ lên trời phun nước bọt rồi chỉ rơi trúng mặt mình. Vậy, tốt nhất không nên nói xấu ai ở đâu/nơi nào, dù họ có làm điều không tốt nhưng có thể không gây hại đến bản thân và cộng đồng mình. Bởi ngậm máu phun người thì chỉ tanh mồm mình trước. (Sưu tầm)

            Kể truyện rồi, nay ta tìm về vườn hoa Lời Vàng của bậc thánh-hiền có những lời dịu dàng, nhưng thấm-thía để suy-tư/nghĩ-tưởng về những lời dặn-dò như sau:

             “Vậy, thưa anh em, ta phải kết luận thế nào đây?

Khi anh em hội họp,

người thì hát thánh ca, người thì giảng dạy,

người thì nói lời mặc khải, người thì nói tiếng lạ,

người thì giải nghĩa:

tất cả những điều ấy đều phải nhằm xây dựng Hội Thánh.

Nếu có nói tiếng lạ,

thì chỉ hai hoặc tối đa ba người nói thôi,

mỗi người cứ theo phiên mà nói,

và phải có một người giải thích.

Nếu không có người giải thích,

thì phải giữ thinh lặng trong cộng đoàn,

mỗi người chỉ nói với mình và với Thiên Chúa thôi.

Về các ngôn sứ,

chỉ nên có hai hoặc ba người lên tiếng thôi,

còn những người khác thì phân định”.

(1 Cor 14: 26-19)

             Nói như bậc thánh-nhân hiền-lành, thì có nói trong buổi họp hay ở đâu nữa, cũng vẫn nên cẩn-trọng về lời mình nói. Chí ít, là lời nói đó hoặc phán bảo nọ xuất tự đấng bậc vị vọng trong Đạo. Cũng thế, có lần bần đạo được bảo rằng: các lời phát-biểu trên bục nhà thờ cũng nên cẩn-trọng vì lời ấy một cách nào đó vẫn là khuôn-mẫu cho người nghe ngồi bên dưới, tựa hồ lời thày giáo nói với học trò, vậy.

Không chỉ mỗi thế. Phán-quyết của đấng-bậc ở nhà Đạo vẫn là lời phán/bảo dù có mang tính-chất quyết-định hay không, cũng vẫn được coi như hành-xử quan-trọng cho cả người phán lẫn người nghe.

Trường-hợp đấng bậc trưởng-thượng Hội-thánh Công-giáo, tình-hình Giáo-hội nay rối rắm đã hiển-hiện cả vào lúc trước khi bắt đầu cuộc họp bàn cấp cao kéo dài nhiều tuần-lễ. Khi Thượng Hội-Đồng Giám mục 2015 đi vào giai-đoạn cuối, báo-giới truyền-thông Hoa Kỳ đã có những nhận-xét như sau:

“Toà thánh Vatican xem ra đang có những bí-mật, lộn xộn của toà án thời Trung Cổ, gồm những sự việc xảy ra theo cách nào đó, vẫn như xưa. Hành-xử khiêm-tốn đầy phô-trương của Đức Phanxicô, sự việc ngài quở trách các Giám-mục cao cấp không thay-đổi trạng-huống “như xưa” này, chút nào hết. Nếu có, thì cũng chỉ là tham-vọng của một giáo-chủ từng khuyến-khích các vị hay bày mưu-kế hãy cộng-tác mà làm việc chung với các vị khác từng chống cưỡng những chủ-trương như thế, mà thôi.

  Nhưng hiện nay, vị chủ mưu bày kế lại chính là đức Giáo-chủ, nhà mình. Quả là, mục-tiêu/mục-đích do Đức Phanxicô đưa ra, cũng đơn-giản là: ngài hỗ-trợ cho các đề-nghị nên đốc-thúc các vị có tinh-thần thông-thoáng khả dĩ cho phép bổn-đạo nào từng ly-thân/ly-dị nay tái-giá được phép hiệp-thông rước lễ mà không cần phải tiêu-hủy hôn-nhân đầu.

 Nhờ Đức Giáo-chủ âm-thầm hỗ-trợ, đề-nghị này trở-thành mối giây gây tranh-cãi trong lần họp thượng-đỉnh năm 2014 về gia-đình và lần thứ hai năm 2015 này…

 Giả như đề-nghị ở trên thật rõ ràng, thì con đường ngài đang đi cũng thật tăm-tối. Theo thủ-tục, thì quyền-bính của Đức Giáo-tông gần như tuyệt-đối: tức có nghĩa, nếu Đức Phanxicô quyết-định rằng ngày mai đây sẽ tán-thành cho phép những người tái-giá được lên rước Mình Chúa đi nữa, thì cũng chẳng có Toà án Tối cao nào của Công-giáo lại có thể phản kích quyết-định của ngài, được.

 Dù có thế, cùng một lúc, Đức Giáo Tông lại vẫn được coi là người không có quyền thay-đổi tín-lý/giáo-điều của Đạo, chút nào hết. Điều luật này, không có tính-cách công-khai trợ-lực cho ngài, nhưng cứ theo tục-lệ, có sự khiêm-tốn và tính kính-sợ Thiên-Chúa, thì nỗi lo-sợ sẽ có phân-rã trong hàng-ngũ lãnh-đạo đã kềm-chế các Đức Giáo-chủ có ý-đồ viết lại các tín-lý trong Đạo. Và, việc viết lại tín-lý/giáo-điều là những gì mà người Công-giáo bảo-thủ tin tưởng một cách hữu-lý rằng đề-nghị cho những vị từng tái-giá được phép rước Mình Thánh Chúa đã được sự hỗ-trợ của Đức Phanxicô….

 Với các nhà báo Công giáo, cũng như bất kỳ ký-giả nào khác, đây là câu truyện đầy tính hấp-dẫn; thế nên, nói theo kiểu nhà báo rất nghiêm-ngặt, tôi đây không có ý-kiến là Thượng Hội-Đồng kỳ này sẽ kết thúc ra sao. Nhưng, nói theo tư-cách của người Công-giáo, tôi trông đợi rằng cuối cùng thì mưu-đồ viết lại tín-lý/giáo-điều cũng sẽ thất-bại thôi. Mỗi khi có sự căng-thẳng giữa niềm tin lịch-sử và vị Giáo-chủ trong đạo, thì tôi luôn chọn phía niềm tin để đánh cá-cược. Thế nhưng, đối với một cơ-chế vốn đo-lường tuổi thọ của mình hằng thiên-niên kỷ, thì “cuối cùng” cũng phải mất một thời-gian khá dài ngày mới có thể đạt đích-điểm.” (Xem Ross Douthat, The Plot to change Catholicism, The New York Times SundayReview 17/10/2015

Nhà báo nhận-định ra sao, thì cứ nhận và cứ định. Sự việc xảy ra ở nhà Đạo vẫn là chuyện dậm chân tại chỗ, bàn mãi cũng không hết. Việc cuối, có lẽ sẽ không là ngồi đó mà bàn và luận nhưng là đi vào hiện-thực. Thực-hiện ra sao để mọi thành-viên trong Đạo, sẽ lại trở về với thực-tại diễn-tiến mãi, hệt như trước.

Nhận-định sao thì cứ định và cứ nhận. Định rồi nhận hoặc nhận rồi mới định, thật cũng tuỳ. Tuỳ người, tuỳ mình. Tuy nhiên, có tuỳ ai đi nữa, thì hỡi bạn và tôi, ta cứ hiên-ngang vững chí hướng về trước mà ngâm nga ba câu hát ở trên mà lập lại những lời buồn, rằng:

Tim như vỡ trong mưa,

Còn vẳng tiếng ai thề.

Một mình trên ngõ vắng,

Buồn nhìn theo lối xưa.

 Dù mãi mãi xa nhau,

Cố quên mối duyên đầu.

Tình này ai sẽ quên được sao,

Tình đã chết trong nhau.

 Vẫn mơ phút ban đầu,

Một lần yêu dấu mãi cho nhau.

Sao em nỡ quay đi,

Tình đang lúc xuân thì.

 Một đời sao bỗng vắng

Cuộc tình không lối đi”.

(Đăng Khánh/Du Tử Lê – bđd)

Đúng thế đấy, bạn ạ. Những mong “Tình như vỡ trong mưa” sau bao lần bàn cãi lưa-thưa hay mạnh bạo, ta cũng đừng “buồn nhìn theo lối xưa”, mà hành-xử. Bởi, có hành và có xử theo lối cũ/xưa đi nữa, thì bánh xe lịch-sử cũng sẽ nghiền-nát tâm-can con người để rồi sẽ “vỡ trong mưa”, cũng rất buồn. Buồn về tình đời. Buồn, một đời người.

 Trần Ngọc Mười Hai

Đôi lúc cũng có buồn

Nhưng không buồn

về đời hoặc về người.

Bởi, mọi người vẫn cứ vui

ở trong đời.

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

. “Hy vọng muôn trùng, lời kinh trong gió bay bay,”

Mai Tá lược dịch

Khi xưa, thiên hạ nguyện cầu bằng lời kinh trong gió như: “Lạy Trời mưa xuống, Lấy nước tôi uống, Lấy ruộng tôi cầy, Đong đầy bát cơm…” (Tục ngữ – Phong dao) Lúc này, chúng dân lại mong mưa triền miên nên mãi lắng đọng: “Xin mưa triền miên mãi luôn lắng đọng, Cho đôi tình nhân đắm trong giấc mộng”. ( Đức Huy – Đường xa ướt mưa )

Thuở trước, giấc mộng con người vẫn gắn liền với hiện thực cuộc đời. Bao giờ cũng đủ ăn đủ uống, đủ ruộng để cày, rất đầy bát cơm đong. Ngày nay, mộng vàng người thương không chỉ có thế, nhưng thực tiễn. Thực tiễn như chính sự sống. Một cuộc sống đong đầy những thương yêu. Yêu như tình yêu trai gái, đắm đuối như giấc mộng ban đầu. Thương như tình thương yêu nhân hiền, vẫn thấy nơi các bà góa hồi đầu thế kỷ. Như truyện kể hôm nay.

Trình thuật hôm nay, kể lại câu truyện rất “đong đầy” về hai người đàn bà nghèo, góa bụa. Các bà vốn rất nghèo. Nghèo tiền nghèo của, nghèo cả chức phận lẫn công danh. Ở xã hội Do Thái thuở trước, mồ côi, góa bụa, nghèo nàn, cả ba đều bị liệt vào giai cấp cùng đinh mạt rệp. Vị thế của họ vẫn cứ hèn và mạt đến độ không ngóc đầu thoát khỏi kiếp vong mạng nơi bùn đen. Kiếp người đốn mạt trái ngang, luôn gặp cảnh chê bai, miệt thị. Lối hành xử đầy khinh chê mà các bà gặp phải, hiện diện cả trong giới linh thiêng nhà Đạo nữa!

Trình thuật kể rằng: Đức Kitô xếp loại các thủ lĩnh Kinh Sư thời Ngài vào cùng một hạng với những người ta cần dè chừng. Dè chừng không chỉ vì họ luôn tìm ra phương cách khai thác bóc lột giai cấp cùng đinh mạt rệp mà thôi. Dè chừng, còn vì các thái độ khinh chê miệt thị và bóc lột ấy vẫn hủy hoại tình người. Thứ tình cần đến cơn mưa triền miên, ơn lắng đọng.

Với Đức Kitô, thái độ “xúng xính”, “bóc lột” là lối hành xử giả hình, không chấp nhận được. Cần đổi thay. Với Tin Mừng Nhất Lãm, cả ba thánh sử thỉnh thoảng vẫn kể lại hành vi kiêu căng, ngạo mạn của các đấng Kinh Sư nhà Đạo, lúc bấy giờ. Nghĩa là, hành vi của những người này trái ngược khác hẳn lối xử sự của đám nghèo hèn cùng đinh như các bà góa. Hành vi yêu thương luôn giùm giúp những ai đang cần.

Kinh nghiệm chính bản thân mình, Đức Giêsu đã triền miên chịu đựng mọi khổ đau vì người đời. Ngài vẫn không thể chấp nhận nổi phong cách “làm bộ đọc kinh nhiều giờ” của đám Kinh Sư, Biệt Phái. Là môn đồ Đức Chúa, dù ở cương vị nào, chắc hẳn ta cũng không chấp nhận nổi thái độ trịch thượng dễ gây xa cách ấy.

Thật ra, tạo cho mình có được của cải, quyền bính này khác, tự nó đâu có gì xấu. Vấn đề đặt ra là: khi tiếp nhận quà tặng từ Trên, dù quà đó có là quyền thế hay của cải tiền bạc, ta vẫn có thể sống đúng tư cách của người công chính được như thường. Hệt như phương châm: hãy nói tôi nghe bạn sử dụng quà tặng như thế nào, tôi sẽ cho biết bạn là ai. Ở đây nữa, quyền bính và của cải tiền bạc vẫn là “bát cơm đong đầy”, ta phải luôn cầu Trời mới mong có.

Trớ trêu thay, mọi quyền uy con người tạo được, dù ở chính trường, nơi nhà Đạo hoặc tại gia đình và xã hội, cộng thêm sự giàu sang từ đó có được, vẫn là những thứ hấp dẫn khó chối từ. Càng có nhiều uy quyền, người ta càng cố tạo nhiều của cải. Càng có nhiều của cải, người ta lại những tưởng mọi sự đều thuộc về mình. Không ai có quyền gỡ bỏ hoặc rút đi. Và, một khi có nhiều quyền hành và tiền của, người ta sẽ dễ trở nên kiêu căng, thích bóc lột người khác, những nghèo và hèn hơn mình.

Lúc ấy, họ sẽ quên đi lời nhắc nhở dặn dò rằng: tất cả đều là quà tặng từ Trên. Và, khi đã quên lời nhắc nhở từ Trên, người ta có khuynh hướng quên luôn cả Đấng đã nhắc nhở mình. Đã cho mình mọi uy quyền và của cải ấy.

Trình thuật hôm nay, thánh Máccô ghi lại lời nhắc nhở ngợi khen phong thái của người cùng đinh nghèo hèn, như bà góa. Đức Chúa khen ngợi các bà thuộc giai cấp thấp hèn không phải vì các bà vốn người đốn mạt, nghèo hèn. Chẳng có gì là cao-sang, ca ngợi nơi sự nghèo hèn. Điều mà Đức Ki-tô ngợi khen, chính là phong cách độ lượng, thương yêu giùm giúp của các bà, những người chị, người em đang sống cuộc đời nghèo hèn tận tuyệt.

Nghèo/hèn tận-tuyệt, là biết mình cũng chẳng là gì, chẳng hơn ai, thế nhưng lại vẫn biết người biết mình, luôn khiêm tốn, vẫn thân thương. Thân thương trong thái độ nhớ đến người khác. Nhớ đến những người còn nghèo hèn tận tuyệt, hơn mình. Biết người biết mình là lâu nay tuy bị bóc lột đến cùng cực, rất túng thiếu, nhưng vẫn lẳng lặng yêu thương đùm bọc. Không hợm hĩnh khoe khoang.

Có biết mình và biết người như thế, mới nói được rằng: kẻ cao sang, quyền quý dù biết nhiều học rộng, vẫn cần học và hỏi nhiều nơi người nghèo hèn. Học và hỏi, không phải kiến thức khoa bảng nở rộ. Học và hỏi về phong cách nhè nhẹ khi thương yêu đùm bọc, lúc quyên góp.

Nơi cuộc sống Đạo – Đời, vẫn là chuyện thường nếu lâu nay các đấng bậc cao sang quyền quý vẫn cứ dạy và dỗ đám dân nghèo, thấp hèn. Điều khác lạ nơi Tìn Mừng hôm nay, chính là bài học này: hãy để cho lớp người cùng đinh thấp hèn có cơ hội minh chứng dỗ dạy các đấng bậc quyền quý, rất cao sang. Các đấng đang ngự trị nơi: chính trường, nhà Đạo, hoặc tại khắp các nơi chốn như xã hội, gia đình. Và đó là điểm sáng Tin Vui rất an bình mà trình thuật Thánh Mác-cô muốn gửi đến người đọc.

Nơi dân gian trần thế có vài truyện kể cũng mang dáng dấp an vui Tin Mừng. Như truyện kể về đối chất thần học giữa vị Hồng Y nhà Đạo và tín đồ nghèo Do Thái Giáo.

Nhiều năm về trước, giới nhà Đạo ở Rôma có quyết định: người Do Thái phải rời bỏ thủ đô này, không được sống gần người nhà Đạo. Cộng đồng bạn tỏ ra bất bình trước quyết định gay gắt ấy. Thấy thế, Đấng bậc nhà Đạo bèn giải hòa bằng đề nghị: nếu cộng đồng bạn toàn thắng cuộc thi đấu kiến thức thần học, họ được ở lại. Phía nhà Đạo, vị được cử lên thi đấu lại là Hồng Y chủ quản. Còn phía Giáo Hội bạn lại chỉ đề cử một tín đồ nghèo hèn tên là Mô-sê. Sợ mình không thể đối nhanh đáp lẹ, kẻ hèn Mô-sê liền đề nghị cuộc thi diễn ra trong im lặng. Chỉ giơ tay ra dấu. Hai bên đồng ý nhập cuộc.

Bắt đầu, vị Hồng Y đưa tay lên cao giơ 3 ngón. Tín đồ Mô-sê chỉ giơ một ngón rất gọn. Hồng Y nhà ta dùng tay vẽ một vòng cầu trên đỉnh đầu. Còn Mô-sê lấy tay chỉ xuống đất chỗ mình ngồi. Hồng Y bèn đem bánh miến rượu nho, một lượng nhỏ thôi, hết sức cung kính lãnh nhận. Trong khi đó tín đồ Mô-sê lại mang trái táo xanh ra… xơi gọn !

Cuối cùng, vị Hồng Y đứng bật dậy nói: “Tôi xin thua! Người này quá tốt lành, anh ta đã thắng”. Thế là, cộng đồng người Do Thái được quyền ở lại. Vài giờ sau, các đồng nhiệm đến hỏi vị Hồng Y: “Sao lại như thế?” Vị Hồng Y đáp: “Trước hết, tôi giơ tay ba ngón ý nói Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, thì anh ta chỉ giơ ra có một, ý muốn nhắc nhở tôi: Đạo của chúng ta chỉ tin một Chúa.

Thế rồi, tôi ra dấu đánh vòng trên đỉnh đầu, ý muốn bảo: Đức Chúa đang hiện diện quanh ta, thì anh chàng lại chỉ tay xuống đất, ý rằng: đúng đấy thưa ngài, Đức Chúa đang có mặt ở đây, ngay lúc này. Cuối cùng, tôi đem rượu cùng bánh có ý nhắc: sùng kính Thánh Thể Chúa là việc rất phải. Phần anh ta, anh ta lại lấy trái táo xanh đem ra nhắc tôi: về tội nguyên tổ, ta cần phải chú ý đề cao. Tóm lại, anh ấy có giải đáp rất nhanh về mọi vấn đề”.

Cùng lúc, bạn bè trong cộng đồng Do Thái rất thân, bèn quây quần bên người thấp hèn Mô-sê, mà hỏi: này anh bạn già thấp kém như thế mà sao anh thắng được đấng bậc đạo mạo bên ấy. Anh thưa: “Có gì đâu. Lúc đầu, ông ấy bảo tôi: cộng đồng mình có ba ngày để dời đi nơi khác. Tôi thưa ngay: không người nào trong bọn tôi sẽ phải ra đi cả ! Rồi ông ta lại bảo: Toàn bộ ngôi thành này sẽ sạch bóng người Do Thái, là ý nói các anh phải biến đi ấy. Tôi bèn cho biết: Không đâu, bọn tôi quyết đóng trụ trên mảnh đất này, chẳng bao giờ đi đâu !”

Cuối cùng, có người hỏi: “Mô-sê, thế rồi sao ?” Mô-sê nói: “Tôi cũng chẳng biết nữa. Tự nhiên thấy ông lấy đồ ăn bữa trưa ra ăn, tôi cũng bèn lấy trái táo xanh của mình ra ăn cho đỡ đói, thế thôi !”

Qua truyện kể, phong cách hành xử giải quyết vấn đề giữa vị chóp bu nhà Đạo và đạo hữu thấp hèn Môsê, rất khác biệt. Khác biệt, không có nghĩa loại bỏ, tru diệt lẫn nhau. Khác biệt là cần thắc mắc, cần học hỏi do đâu. Khác biệt không phải để so sánh phân tranh ngôi vị. Vì so sánh phân tranh không là giải đáp tốt ở nhiều trường hợp.

Thông thường và thích đáng hơn, vẫn là thái độ biết học và hỏi. Biết áp dụng lối xử sự, phương cách sống của người khác. Chí ít, của người nghèo hèn tận tuyệt, phương cách sống và lối xử sự ấy, không nhất thiết phải như đấng bậc phú quý ở trên cao. Cách hành động và đối xử thích hợp, vẫn có thể và vẫn nên như là cách thế của kẻ nghèo hèn tận tuyệt.

Tham dự Tiệc Thánh hôm nay, ta cầu và mong cho cộng đoàn thân thương của ta có được phong cách hành xử, rất thư thái xứng hợp. Thư thái, như dân thường ở huyện, chốn dân gian. Những kẻ thấp hèn luôn mong chờ mưa xuống. Mưa hồng ân. Mưa cứu độ vẫn đi kèm theo mỗi quà tặng thông thường, ta nhận lĩnh. Một khi có được phong cách nhẹ nhàng thoải mái như kẻ nghèo hèn, cùng đinh, ta sẽ thư thái hát lên lời ca, đầy khen ngợi, như ý nhạc của nghệ sĩ Quốc Dũng, mà rằng:

            “Ngày dài anh yêu hỡi

            Em mong chờ từ bao đêm tối

            Một vòng tay thiết tha ấm nồng.” (Quốc Dũng – Cho nhau mùa đông )

Vòng tay thiết tha, đầy những ấm nồng giùm giúp. Thế đó, là sự thiết tha nồng ấm từ những bàn tay giúp giùm nhẹ nhàng của bà góa, những kẻ đơn côi, rất nghèo hèn. Nghèo, nhưng vẫn giúp, vẫn giùm, vẫn thương. Đó chính là thực chất của nền thần học. Học về thần yêu thương, thần giùm giúp.

Không chỉ riêng cho người Công Giáo, hay Do Thái, mà là: lòng yêu thương giùm giúp của chung nhà Đạo. Đạo của Chúa. Đạo tình thương yêu.

Lm Richard Leonard sj biên soạn

Mai Tá lược dịch

Tin Mừng (Mc 12: 38-44)

Trong lúc giảng dạy, Đức Giêsu nói rằng: “Anh em phải coi chừng những ông kinh sư ưa dạo quanh, xúng xính trong bộ áo thụng, thích được người ta chào hỏi ở những nơi công cộng. Họ ưa chiếm ghế danh dự trong hội đường, thích ngồi cỗ nhất trong đám tiệc. Họ nuốt hết tài sản của các bà goá, lại còn làm bộ đọc kinh cầu nguyện lâu giờ. Những người ấy sẽ bị kết án nghiêm khắc hơn.” Đức Giêsu ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rôma.

Đức Giêsu liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

Chú chó dũng cảm xông vào biển lửa cứu mèo con.

DAM CHAY

Một vụ nổ xảy ra tại Donetsk, Ukraine, ngày 20/10/2014

Căn nhà bốc cháy, người chủ trước lúc chạy thoát thân đã nhớ và tháo bỏ dây xích của chú chó trong nhà, hy vọng nó cũng mau theo chủ bỏ chạy ra ngoài. Nhưng không …. con chó này đã không làm như thế mà quay đầu xông vào căn nhđ đang cháy.

Đây là điều người chủ không ngờ tới, nhưng lửa mỗi lúc một lớn, họ không tài nào quay trở lại để cứu con chó của mình. Khi người chủ còn đang lo âu nôn nóng, thì con chó từ trong biển lửa xông ra, miệng đang ngậm một chú mèo con.

Con mèo này cũng là thú nuôi của gia đình, cả hai vẫn đùa giỡn với nhau, vậy nên khi ngọn lửa bùng cháy, phản ứng đầu tiên của chú chó chính là đi cứu bạn.

Hành động dũng cảm của chú chó này đã khiến người chung quanh cảm động. Con mèo con thân thể gầy yếu, bị mắc kẹt trong biển lửa, không biết lối nao mà chạy; nếu chú chó không quay lại cứu, mèo con chắc hẳn sẽ chết trong biển lửa.

CHU CHO CUU MEO

Trong lúc nguy cấp đó, chú chó không một chút do dự, lao vào biển lửa để cứu người bạn thân. Tình bạn có hậu của nó rất đáng cho chúng ta thán phục.

Chính chúng ta đây, ngay tại thời khắc giữa sự sống và sự chết, sẽ có người chỉ lo cho mạng sống của riêng mình, nhưng chú chó này hoàn toàn ngược lại. Chú không ngại tình huống sống hay chết.

Câu chuyện cho chúng ta thấy rằng hãy trân quý cuộc sống, ngay cả của những con vật, và tất cả mọi thứ xung quanh bạn, bởi chúng đều có linh tính và tình cảm.

Xin chuyển cho mọi người để càng nhiều người hơn nữa biết được câu chuyện cảm động này.

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước (2/11/1963 – 2/11/2015)

TƯ TƯỞNG ĐỘC LẬP CỦA HAI VỊ TIÊN SINH HỌ NGÔ

Ngày 2/11/1963, trước khi một người sĩ quan bị mua chuộc và hèn nhát ra tay hạ sát cả hai anh em mình, ông Ngô Đình Diệm đã đến nhà thờ Cha Tam, Quận 5 để cầu nguyện.

Ít ai biết được lúc đó ông Diệm và em mình, ông Ngô Đình Nhu, đã im lặng cầu nguyện điều gì.

Không lâu sau đó, hai anh em lãnh đạo nền Đệ nhất Cộng hoà tại miền Nam Việt Nam bị hạ sát. Dân tộc Việt mất đi những nhà chính trị kiệt xuất mà có thể nhiều thế kỷ sau vẫn không thể có người sánh bằng.

Sự xuất sắc của anh em ông Ngô Đình Diệm và Ngô Đình Nhu được thấy, qua việc hai ông nhận ra rất sớm, âm mưu thôn tính Việt Nam của Bắc Kinh, thông qua ngõ Hà Nội. Các tài liệu nghiên cứu ghi lại từ 1952, cho thấy ông Ngô Đình Nhu đã lập nên một mạng lưới thu thập thông tin về việc can thiệp của Trung Cộng ở miền Bắc. Sự kiện cải cách ruộng đất đẫm máu mà ông Hồ Chí Minh thực hiện theo yêu cầu của cố vấn Trung Cộng vào năm 1953-1954 đã khiến cho hai vị lãnh đạo miền Nam càng quyết tâm hơn nữa trong việc ngăn không cho chủ nghĩa cộng sản tràn vào miền Nam.

Sau khi ông Ngô Đình Nhu mất, năm 1964, nhà xuất bản Đồng Nai, Saigon, cho ra mắt tập Chính đề Việt Nam của ông với bút danh Tùng Phong. Tất cả những gì viết trong đó, là máu và nước mắt, là tương lai đầy uẩn khúc của dân tộc Việt được dự đoán – xác đáng trong từng con chữ.

“Trong hoàn cảnh hiện tại, sự tồn tại của miền Nam vừa là một bảo đảm cho dân tộc thoát khỏi ách thống trị của Trung Cộng, vừa là một bảo đảm một lối thoát cho các nhà lãnh đạo Cộng Sản Bắc Việt, khi họ ý thức nguy cơ họ đang tạo cho dân tộc. Nhưng ngày nào họ vẫn tiếp tục thực hiện ý định xâm chiếm miền Nam thì họ vẫn còn chịu sự chi phối của chính sách chiến tranh xâm lăng của Trung Cộng, thay vì chính sách sống chung hòa bình của Nga Sô”. (trích)

Sự kiên quyết với tự do và độc lập, sự thành kính và quyết liệt với di sản của tổ tiên người Việt trao lại của hai ông vị lãnh đạo ấy, đã khiến cho hai ông vẫn được nhắc nhở, kính trọng sau khi qua đời. Đặc biệt, với những xung đột xã hội trước khi bị lật đổ – như với phía Phật Giáo – người Việt ngày càng nhận ra bên trong có sự dàn dựng và can thiệp từ phía Bắc.

Rất nhiều thông tin tuyên truyền cho rằng hai anh em Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu là căn cơ Công giáo nên ghét bỏ Phật giáo. Nhưng cũng ít ai biết rằng năm 1959, khi ông Ngô Đình Diệm được giải thưởng Leadership Magsaysay (dành cho các nhà lãnh đạo xuất sắc) với ngân phiếu 15,000 USD, ông đã gởi sang cho ông Đỗ Vạn Lý, Tổng Lãnh Sự VN tại New Delhi, Ấn Độ, để biếu Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, lúc đó đang rất khó khăn vì bị Mao Trạch Đông cho quân đội truy đuổi. Chính Ngài Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận điều này trong một bài nói chuyện trước cộng đồng Việt Nam – Mỹ, tại California.

Ý nguyện về một Việt Nam độc lập của hai vị Ngô tiên sinh cũng rất rõ. Năm 1961, khi đi kinh lý tỉnh Kiến Tường. Phía đón tiếp chuẩn bị rất nhiều cờ hai màu vàng trắng của Vatican. Thấy thiếu cờ quốc gia, Ngô tổng thống đã gọi viên thiếu tá tỉnh trưởng đến để chất vấn ”Đây không phải là xứ Vatican, đây là xứ Việt Nam, vậy cờ Việt Nam đâu?”.

Thật khó mà biết được hai vị đã cầu nguyện điều gì với Đức Jesus trong những giây ngặt nghèo ấy của đời mình. Nhưng có thể không phải là sự sợ hãi cho bản thân, mà sự sợ hãi cho một nền độc lập, một nền tự do non trẻ của nhân dân Việt Nam sẽ mai một.

Sinh thời,  câu nói nổi tiếng của Ngô tổng thống vẫn hay được nhắc đến:

“Tôi tiến. Hãy tiến

Tôi lui. Hãy giết tôi

Tôi chết. Hãy nối chí tôi!”

Nhân ngày mất của hai con người yêu nước ấy. Xin được nhắc lại vài lời của họ với sự kính trọng. Người Việt đã từng có người dẫn đầu cho cuộc trường chinh vào tự do, thoát khỏi bóng ma xâm lược của Trung Cộng. Người Việt cũng đã có người chết, có người tù đày vì hào khí anh linh của giống nòi. Người Việt cũng đang kêu gọi, chờ đợi một thế hệ sẽ nối chí để đưa đất nước này ra khỏi gọng kìm phương Bắc.

Sĩ khí của hai con người yêu nước, đã nhắc chúng ta rất nhiều điều vào lúc này.

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

Lại Thêm Một Bát Xáo Voi

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

Trăm voi không được bát nước xáo.

Thành ngữ Việt Nam

Bằng giờ này hai năm trước, báo Pháp Luật nghiêm nghị loan tin:

Tối qua (8/11), Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã long trọng công bố ngày 9/11 là Ngày Pháp luật nước CHXHCN Việt Nam Phát biểu tại buổi Lễ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khẳng định: “Hiến pháp là đạo luật cơ bản, là hình thức pháp lý cao nhất thể hiện tư tưởng, đường lối, cương lĩnh của Đảng, ý chí, nguyện vọng và những lợi ích cơ bản của nhân dân. Vì vậy, các cơ quan nhà nước, các tổ chức kinh tế, xã hội, các đơn vị vũ trang và mọi công dân phải nghiêm chỉnh chấp hành Hiến pháp, pháp luật. 

Sau lời “khẳng định” này, cả nước đã nô nức thi đua học tập về ý nghĩa của Ngày Pháp Luật. Khắp nơi đều tràn ngập bích chương hay tranh cổ động toàn dân sống & làm việc theo luật pháp.

Cũng trong ngày này, khi trao đổi với phóng viên báo Quân Đội Nhân Dân bên hành lang Quốc Hội, đại biểu Lê Thanh Vân nhấn mạnh: “Điều quan trọng là phải làm sao để mỗi người dân thấm đẫm tinh thần thượng tôn pháp luật.” Trung tướng Trần Văn Độ, Phó Chánh Án Tòa Án Nhân Dân, cũng nói thêm: “Phải thường xuyên giáo dục, tuyên truyền pháp luật cho người dân.”

Một trong những địa phương có thể được nêu ra làm gương cho tinh thần “thấm đẫm thượng tôn pháp luật” là tỉnh Bến Tre, nơi mà năm thanh niên đã bị kết án 20 năm tù vê tội … trộm gà – như tin của báo Thanh Niên:

“Ngày 31.7, TAND huyện Ba Tri (Bến Tre) xử lưu động, tuyên phạt các bị cáo Đoàn Văn Tích 4 năm 6 tháng tù, Nguyễn Thanh Sơn 5 năm 6 tháng tù, Hồ Văn Nhi 7 năm tù; Phan Văn Lượn và Lê Văn Lộc 5 năm 3 tháng tù cùng về tội cướp tài sản. Khoảng 2 giờ sáng ngày 30.1, sau khi uống rượu, Tích rủ Sơn, Nhi, Lượn và Lộc cầm dao đến quán Ngọc Trâm để uy hiếp chủ quán là ông Lê Văn Tươi ở ấp An Lợi, xã An Thủy, Ba Tri; sau đó, bắt gà bán lấy tiền tiêu xài.”

Thanh Hoá cũng là một nơi rất đáng được biểu dương vì  cách “xử lý nghiêm” của chính quyền địa phương – theo VnExpress:

“Ngày 5/7, ông Hoàng Sỹ Quang, Đội trưởng Quản lý thị trường số 2 (Chi cục Quản lý thị trường tỉnh Thanh Hóa) cho biết, chính quyền thị xã Sầm Sơn vừa ra quyết định xử phạt nhà hàng Duy Anh (ở đường Hồ Xuân Hương, phường Bắc Sơn, thị xã Sầm Sơn) số tiền 20 triệu đồng về hành vi gian lận trong kinh doanh dịch vụ ăn uống.

Khi tính tiền bữa ăn của đoàn khách du lịch, một nhà hàng ở Sầm Sơn (Thanh Hóa) đã ghi khống 2 tô cơm để lấy thêm 60.000 đồng.”

Ảnh S.S: VnExpress

Không riêng gì VnExress, vụ việc “ghi khống 2 tô cơm bị xử phạt 20 triệu đồng ”đã được tất cả các cơ quan truyền thông nhà nước (kể cả T.V.) đồng loạt thông tin, cứ y như là  một “tin vui” để cổ vũ cho Ngày Pháp Luật Việt Nam vậy.

Chính quyền tỉnh Thanh Hoá, rõ ràng, đã thực thi luật pháp một cách hết sức nghiêm minh và nhanh chóng. Tỉnh Quảng Trị, tiếc thay, “chưa thấm đẫm tinh thần pháp luật” gì cho lắm nên dù cũng có chuyện “ghi khống” xẩy ra mà chả có ai bị xử lý ráo trọi. Báo Lao Động số ra ngày 06 tháng 7 năm 2015 cho hay:

Kết quả xác minh của Bộ Tư lệnh Biên phòng tại BĐBP tỉnh Quảng Trị mới đây đã xác nhận trong năm 2013 – 2014 đã có 11 kế hoạch tuần tra giám sát nghề cá trên biển được lập khống với tổng số tiền đã được quyết toán gần 1,9 tỉ đồng, trong đó riêng nhiên liệu gần 1,750 tỉ đồng và tiền ăn thêm đi biển + phụ cấp đặc biệt là 91,4 triệu đồng. Tuy nhiên, một cán bộ công tác trên các tàu được quyết toán khống này khẳng định rằng trên thực tế số lượng tàu tuần tra được quyết toán khống còn lớn hơn nhiều.

Nguyên văn bài báo thượng dẫn (“Quảng Trị: Tuần Tra Biển Khống, ‘Rút Ruột’ Nhà Nước Hàng Tỉ Đồng”) gồm 1.000 từ. Không một chữ nào nói đến chuyện kỷ luật hay xử phạt ai cả. Những hạn từ thường thấy như “kiểm điểm,” “rút kinh nghiệm,” hay “khắc phục” cũng khỏi có luôn.

Vài tháng sau, ông ông Lê Hữu Thọ – Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Uy Quảng Trị – cho phóng viên báo Lao Động biết thêm rằng “Vụ tuần tra biển khống rút ruột Nhà nước hàng tỉ đồng chưa xử lý vì… quá nhiều việc, không có thời gian.”

Thời gian (buồn thay) không chịu đứng về phía công lý nên trên trang Anh Ba Sàm lại có thêm tin rằng bài báo (“Bỏ Mặc Ngư Dân Là Vô Trách Nhiệm, Vô Cảm và Không Thể Tha Thứ”) đề cập đến việc tuần tra giả và khống tiền nhà nước của lực lượng Biên Phòng tỉnh Quảng Trị – trên trang GDVN – đã “được”… gỡ bỏ rồi!

Bỏ cũng … đúng thôi. Ghi khống vài tỉ đồng tiền Việt, nói nào ngay, chỉ là chuyện nhỏ. Số tiền này chả đáng kể gì nếu nếu  so với hàng triệu (hay hàng tỉ Mỹ Kim) bị “khống” trong vụ Vinashin – theo như lời than phiền của nhà báo Bùi Hoàng Tám, đọc được vào hôm 27 tháng 07 năm 2015:

Cứ nghĩ tham nhũng nó chỉ như kiểu bà đi chợ, mua 10 đồng nói 11 hay 12 đồng. Nhưng không. Bọn chúng mua một đồng nhưng khai lên 3 – 4 đồng thậm chí 5-6 đồng. Ví dụ như cái ụ nổi của Dương Chí Dũng, giá mua chỉ có 2triệu USD nhưng được khai khống lên đến 9 triệu USD (cao hơn khoảng 150 tỉ VND). Một trạm biến áp tại Quy Nhơn nhà thầu trúng thầu với giá 30 tỉ đồng, khi đấu giá lại, số tiền cuối cùng chỉ là 7 tỉ, chênh lệch tới 23 tỉ đồng.

Và một chuyện cũng không mới, đó là hơn 1.000 tỉ đồng trong vụ Vinashin gần như chắc chắn mất tiêu.

Còn “gần như” gì nữa, cha nội. Mất trắng rồi, và mất từ mấy bữa trước lận – theo tường thuật của nhà báo Lê Chân Nhân (Dân Trí) vào hôm 22 tháng 7 năm 2015:

Cơ quan thi hành án dân sự vừa ra quyết định trả lại đơn yêu cầu thi hành án số tiền hơn 1.000 tỉ đồng vì xác nhận người phải thi hành án trong vụ án xảy ra tại Tập đoàn tàu thủy Việt Nam Vinashin không còn điều kiện thi hành án.

Minh họa: Ngọc Diệp

Trong hơn 1.000 tỉ đồng đó, cựu Chủ tịch Vinashin có 500 tỉ đồng nhưng chưa thi hành án được đồng nào. Xác minh tài sản thì coi như tay trắng, muốn thu hồi cũng không biết lấy gì để thu hồi...

Bắt được tham nhũng mà không thu được tiền tham nhũng về cho nhà nước thì coi như thất bại. Tuyên án, bắt bồi thường hàng trăm tỉ đồng, nhưng bị án không đền một xu. Người ta nghĩ rằng, đã vào tù rồi coi như bỏ, dại gì ôm tiền đem nộp, thà để cho vợ con hưởng. Hy sinh đời bố, củng cố đời con là vậy...

Cơ quan thi hành án dân sự đưa ra biện pháp thu hồi bằng cách động viên người thân các lãnh đạo Tập đoàn Vinashin và chính những người này thực hiện nghĩa vụ thi hành án, nộp tiền hoặc cung cấp thông tin về tiền, tài sản đang ở đâu. Cách này xem ra phiêu lưu, bởi vì nếu như gia đình họ có ý định nộp tiền thi hành án thì họ đã thực hiện, một biện pháp không chắc ăn thành công. Đã là động viên thi làm cũng được không làm cũng chẳng sao.

Từ chuyện này mới thấy kẻ hở của việc kê khai tài sản cán bộ. Mới đây, cả triệu người kê khai tài sản, chỉ có vài trường hợp không trung thực. Đến khi trong số những người kê khai trung thực bị phát hiện tham nhũng tương tự như những cán bộ của Vinashin, thì cơ quan thi hành án bó tay. Tài sản đứng tên của họ chỉ có căn hộ trị giá vài tỉ đồng, lấy gì để thi hành án?

Nói vắn tắt là ở Việt Nam cơ quan chức năng chỉ “thi hành án” (và xử lý nghiêm) khi đám dân đen bắt trộm mấy con gà, hay ghi khống vài tô cơm trắng thôi, chớ còn mấy vụ lùm xùm khác thì khỏi vì “quá nhiều việc, không có thời gian” – theo như nguyên văn lời của ông Lê Hữu Thọ,  Phó Chủ Nhiệm Ủy Ban Kiểm Tra Tỉnh Ủy Quảng Trị.

Đồng chí T.B.T cũng đã nói trước rồi mà: “Hiến pháp là văn kiện chính trị pháp lý quan trọng vào bậc nhất sau Cương lĩnh của Đảng.” Nhà Nước mới “đẻ” ra cái Ngày Pháp Luật cho nó (thêm) vui thôi. Có thể, nó cũng sẽ vui y như ngày Thương Binh Liệt Sĩ vậy:

… tôi được đi dự rất nhiều ngày lễ “trọng đại “này, gọi là ngàythương binh, liệt sỹ”nhưng tôi chẳng thấy thương binh, gia đình liệt sỹ đâu, chỉ thấy nhẵn mặt đại diện các ban ngành mà bất cứ hội nghị nào cũng có mặt, có chăng lúc nhiều nhất tôi đếm được 4 người thương binh và 3gia đình liệt sỹ trên tổng số hơn 6 chục người đại biểu và khi sếp mâm thì đến trên 8 chục người.

Điều đáng nói là nhiều thôn, xã cấp ủy, chính quyền, mặt trận tổ chức huy động quyên góp quỹ “đền ơn, đáp nghĩa”chỉ đủ hoặc không đủ chi bữa cơm để tổ chức tọa đàm kỷ niệm ngày lễ thiêng liêng này. những đối tượng thương binh, gia đình liệt sỹ chỉ nhận được món qùa của nhà nước gửi đến, ngoài ra họ chẳng nhận được gì thêm.

Hình ảnh một người có quyền chức khá cao, trong không khí vui mừng, thể hiện tinh thần “uống nước nhớ nguồn”ông nói với giọng điệu giễu cợt, ông nói: theo tôi nên đề nghị đảng, nhà nước tách ra ngày thương binh riêng, ngày liệt sỹ riêng để anh em mình có dịp bù khú hơn, rồi ông cười khà khà chẳng cần giữ ý tứ gì với mọi người xung quanh. Mọi người đồng thanh tán thưởng, cùng nhau nâng chén hô to rô. . . rô. (Hồi Ký Vi Đức Hồi – Đối Mặt).

Tôi chưa hình dung ra những “dịp bù khú” nhân Ngày Pháp Luật sẽ rôm rả ra sao nhưng chắc chắn qúi vị cán bộ nhà nước (thuộc những cơ quan chức năng liên hệ) đã tìm tìm được cách rồi.

LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN

LỄ CÁC ĐẲNG LINH HỒN

Biến cố ngày 11.9 tại Hoa Kỳ đã làm chúng ta bàng hoàng.  Mỗi lần nhắc lại hoặc thấy những hình ảnh đó, chúng ta không khỏi buồn sầu, lo lắng, tức giận.  Có thể mỗi người nhìn biến cố đó với một góc độ khác nhau.  Nhưng có một góc độ có lẽ ít người nghĩ đến, và đó là vấn đề mà chúng ta sẽ cùng nhau chia sẻ.

LE CAC DANG LINH HONTrên thế giới từ xưa tới nay, không phải chỉ có biến cố ngày 11.9, mà còn vô vàn biến cố khác, chẳng hạn sự kiện hai quả bom nguyên tử ở Nhật Bản năm 1945.  Có một câu hỏi được đặt ra: Thế thì số phận của những người đã chết trong các biến cố đó ra sao?

Ngày nay người ta chỉ nói đến sự trả thù, phải trả thù cho những người chết oan, trả thù cho những người đau khổ.  Công lý thế gian, công lý của con người thực hiện ra sao chúng ta không biết, nhưng về mặt đức tin, chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào?  Phải dựa vào Lời Chúa, vì chính Chúa muốn chúng ta hãy dùng Lời của Ngài để an ủi nhau, cách riêng trong những biến cố thảm thương như vậy.

Bài đọc I của ngày lễ hôm nay, cách nào đó, khiến chúng ta phải suy nghĩ.  Nhiều người chết rất bi thương, cái chết không xứng hợp chút nào với đời sống của họ, người ta chỉ còn biết thương tiếc và nghĩ rằng như thế là chấm dứt một cuộc đời, chấm dứt cách buồn thảm, tràn đầy thất vọng.  Thế nhưng Lời chúa lại nói với chúng ta: Những người công chính khi chết đi, họ sẽ được đưa vào trong vinh quang của Thiên Chúa, nếu cái chết của họ hay sự đau khổ của họ xảy đến cũng giống như vàng phải được trui luyện trong lửa, để chắt ra chất vàng tinh ròng và loại bỏ những thứ cặn bã.

Con người mà Thiên Chúa đã tạo dựng, yêu thương và cứu chuộc, chính là vàng.  (Nếu chúng ta có thì giờ để hiểu rằng, trên Thiên Quốc có biết bao nhiêu người công chính, bao nhiêu con người đã được Thiên Chúa rước và cho vào trong vinh quang của Ngài.  Đó chỉ mới nói về những con người được tạo dựng ở trần thế.  Còn thế giới của thiên thần, thế giới thần linh, tất cả đều ở trong vinh quang đó).  Có thể nào chúng ta vào Nước Trời với một tấm áo đầy bụi bặm, nhơ bẩn.  Phải được tinh luyện, sự tinh luyện đó không phải bởi sức lực của chúng ta, nếu bởi chúng ta chắc chúng ta sẽ thất vọng vì thấy rõ sự yếu đuối của mình, thì đây, thánh Luca nói trong bài Phúc Âm của ngài: Khi suy niệm về sự chết, khi cầu nguyện cho những người đã chết, bao giờ chúng ta cũng phải đặt trên nền tảng Đức Kitô Tử Nạn-Phục Sinh, không đặt trên nền tảng và không đi từ chân lý đó thì không có một thắc mắc hay một vấn nạn nào được giải quyết, được soi sáng.

Mầu Nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh, cao điểm được thể hiện trên núi Canvariô (dù rằng chưa Phục Sinh), Chúa đã biểu lộ vinh quang của Ngài như lời thánh Gioan: Chính khi Ngài được treo dựng lên nơi cao, vinh quang chói ngời của Ngài sẽ tỏa ra.  Vậy thánh Luca cho chúng ta thấy: một thế giới sa đọa tội lỗi, (và thế giới đó) đã nhạo cười, đã đóng đinh Chúa Giêsu và đưa Ngài đến cái chết thảm thê trên thập giá.  Trong thế giới đó, còn có những con người thiện tâm, có những con người sẵn sàng hoán cải, dù rằng trước mắt thế gian con người đó xứng đáng với cái chết (vì cũng đã bị treo trên thập giá). Nhưng Chúa Giêsu nói: Quả thật, ngày hôm nay ngươi sẽ được vào trong Nước Thiên Đàng.

Nhưng nếu chỉ thấy Ngài chịu chết thì làm sao chúng ta được sống lại?  Cái chết của Ngài đem đến những gì cho chúng ta?  Vì nếu Ngài chết mà Ngài không sống lại thì cái chết của Ngài cũng vô ích, tình thương của Ngài cũng vô ích!

Chúa Giêsu chết và Ngài đã Phục Sinh.  Chính Ngài là đầu mối của tất cả mọi việc, chính nơi Ngài mà chúng ta (những người cách này hay cách khác đã tin vào Ngài) tìm được niềm tin và hy vọng.  Nhưng không chỉ những người được Rửa Tội mới gọi là tin vào Ngài.  Có những người rất thành tâm, thiện chí, nhưng vì một hoàn cảnh nào đó, họ vẫn cố gắng sống theo lương tâm, Ngài vẫn đón nhận trong tình yêu và trong Ơn Cứu Chuộc của Ngài.

Chúng ta cám ơn người trộm “lành”, vì nhờ có anh, như một dấu chứng nếu chúng ta tin vào Ngài “Lạy Thầy, khi vào Nước Thiên Đàng xin nhớ đến con.”  Anh ấy biết gì về Chúa Giêsu?  Biết gì về Mầu Nhiệm Nhập Thể?  Biết gì về Mầu Nhiệm Cứu Chuộc?  Biết gì về Mầu Nhiệm sống lại?  Nhưng anh đại diện cho một số đông trên trần thế này, một cách nào đó vẫn hướng về một sự linh thiêng, hướng về một Đấng Tối Cao, muốn làm những việc tốt lành.  Những người đó sẽ được Máu của Chúa đổ ra để thanh tẩy tội lỗi và cho vào Nước Trời.   6000 người chết trong một khoảnh khắc, chắc chắn có một số đông được tình yêu và Máu Chúa đổ ra để xóa tội lỗi và cứu chuộc họ.  Tại sao chúng ta cứ muốn ấn định cho Thiên Chúa những người được vào Nước Trời, mà không đặt niềm tin của chúng ta nơi lượng khoan hồng từ bi và nơi công lao của Ngài?  Vì Ngài đã hạ mình chịu chết trên thập giá, nên Thiên Chúa Cha đã tôn vinh Ngài và đặt mọi loài dưới quyền của Ngài, trong cái chết và sự Phục Sinh của Ngài, Ngài xin với Chúa Cha là hãy tha thứ, hãy cứu độ, hãy chuộc lại hết những tâm hồn (lúc này hay lúc khác), đã có sự tin tưởng vào Ngài.  Từ đó chúng ta thấy rằng sẽ không bao giờ tìm được sự công bằng nơi trần thế này, sự công bằng và yêu thương chỉ tìm thấy nơi một mình Chúa mà thôi.

Nếu có được niềm tin đó, cuộc đời trở nên sáng tỏ hơn.  Đứng trước các biến cố, chúng ta đỡ buồn phiền thất vọng, chúng ta thấy cuộc đời vẫn đáng sống và những đau khổ xảy đến triền miên vẫn có ý nghĩa, vẫn có giá trị, vì chúng ta được tham dự vào Mầu Nhiệm Tử Nạn của Đức Kitô để được sống lại với Ngài.

Vậy trong tháng các linh hồn, với niềm tin đó chúng ta sẽ thấy được những điều gì?

  1. Những linh hồn trong lửa luyện ngục là những vị thánh, tuy không được tuyên phong trên bàn thờ, cũng chưa được hưởng vinh quang, nhưng phần rỗi thì đã chắc chắn.  Không phải vì họ ít tội, nhưng vì tình yêu của Thiên Chúa và công nghiệp của Con Một Ngài.  Giờ đây họ chịu thanh luyện để trở nên tinh ròng, để mang một chiếc áo cưới thật mới mẻ vào dự tiệc cưới, vào Nước Trời.  Không ai có thể chia cắt, không gì làm họ mất niềm hy vọng vào đời sống vinh phúc đó.
  2. Đàng khác, các linh hồn giờ đây không làm được gì cho họ nữa, vì thời gian để lập công nghiệp đã qua (không phải họ không biết, nhưng cũng giống chúng ta biết rằng giây phút đang sống là thời gian tích lũy công phúc, là thời gian chuẩn bị để được vào Nước Chúa.  Chúng ta còn có thì giờ, chúng ta hãy làm).  Các vị ấy chỉ còn trông cậy vào lòng nhân thứ của Chúa, Ngài kêu gọi và ban cho chúng ta được tham dự và tiếp tục sứ mạng cứu độ qua lời cầu nguyện, qua sự hy sinh hãm mình, chúng ta sẽ giúp được các linh hồn đó.

Lẽ dĩ nhiên đừng nghĩ rằng Chúa phải chờ đời những lời cầu nguyện của chúng ta để Chúa cứu vớt, Ngài đã cứu vớt rồi.  Nhưng Chúa muốn chúng ta sống trong sự thông hiệp, muốn cho chúng ta có sự liên đới hữu hiệu, Ngài tạo điều kiện để chúng ta thấy rằng: thì ra chúng ta còn có thể làm được rất nhiều cho những người thân yêu của chúng ta.  Biết đâu khi họ còn sống, chúng ta chưa có một tâm tình, chúng ta chưa đối xử tốt, thì giờ đây chúng ta có một cơ hội rất tốt.

Phát xuất từ những tâm tình trên, cách đây hơn 1000 năm, ngày lễ cầu cho các linh hồn 02.11 được thiết lập, đó là niềm an ủi rất lớn cho những người còn sống, cho chúng ta có một phương tiện tuyệt hảo để yêu thương và biểu lộ tình yêu, cứu giúp những người mình yêu thương.  Ngày hôm nay, trong tháng này và suốt cả cuộc đời, chúng ta hãy tập nhân đức yêu thương, nhớ đến các linh hồn.

(Cách đây 100 năm, cũng có một nhà dòng được thiết lập chỉ nhằm mục đích để cầu nguyện, ăn chay, hãm mình cho các linh hồn trong lửa luyện ngục, mà điều đó tất cả chúng ta đều làm được).

  1. Anh chị em nghĩ sao nếu những người nhờ lời cầu nguyện chúng ta, đã được về Thiên Đàng, được hưởng vinh quang Chúa mà các ngài lại quên chúng ta?  Chắc chắn trong vinh quang (và sự khôn ngoan) của Thiên Chúa, các ngài biết dưới trần thế này, đã có những con người yêu thương, cầu nguyện, hy sinh cho các ngài.  Chắc chắn lời cầu nguyện của các ngài cho chúng ta sẽ có uy tín và hiệu quả (lời cầu nguyện của chúng ta lúc thì chia trí, lúc thì không xứng đáng, đủ hết mọi lý do).  Trong lịch sử Giáo Hội, nhiều biến cố cho thấy rằng: các thánh thông công là sự sống rất sinh động, không phải là một chân lý chết ngắc, nhưng là sự sống được diễn tả mỗi ngày.  Khi chúng ta ngồi đây, chúng ta vẫn liên kết với các thánh trên trời và các linh hồn trong lửa luyện ngục để cầu nguyện và nâng đỡ nhau.  Sống trong một sự liên đới như vậy, anh chị em có thấy chúng ta là những con người diễm phúc, là những con người rất giàu tình yêu thương, là những con người được nâng đỡ?

Khi tôi nói những điều này, các bạn trẻ lại càng phải suy nghĩ nhiều hơn, để thấy rằng trong từng giây phút, chúng ta phải sống cho có ý nghĩa, vì từng giây phút của cuộc sống, có thể xây dựng hạnh phúc và phần rỗi cho rất nhiều người và cho chính bản thân chúng ta.  Nhờ lời chuyển cầu của các thánh và các linh hồn trong lửa luyện tội (chúng ta tin rằng) chúng ta vẫn tiếp tục đón nhận hồng ân Chúa, đón nhận cách đặc biệt mỗi lần chúng ta cử hành thánh lễ, là lễ tế tạ ơn đồng thời là lễ tế đền tội cho chúng ta.

ĐTGM Phêrô Nguyễn Văn Nhơn