Biển Chết – Dead Sea – La Mer Morte.Mất hơn 10 giờ bay đêm từ Bangkok (Thái Lan), rạng sáng, chiếc Boeing 747 chở hơn 400 hành khách mới hạ cánh xuống sân bay Ben Gurion ở Tel Aviv (Israel) bên bờ Địa Trung Hải. Anh Chali, hướng dẫn viên du lịch thuộc công ty Sharon Tours nói: “Cả ngày hôm nay chúng ta dành cho biển Chết. Các bạn sẽ được tắm ở một nơi mặn nhất thế giới và là nơi thấp nhất trên bề mặt trái đất, âm 400m so với mặt biển. Không cần phao, mọi người vẫn nổi trên Biển Chết”.Vượt bao đồi núi khô cằn, gần trưa mới đi ngang qua thánh địa Jerusalem để bắt đầu “đổ dốc” vào lòng Biển Chết.Độ mặn của muối và khoáng chất đặc biệt nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng.Trong nước có chứa hơn 35 loại khoáng chất khác nhau cần thiết cho sức khỏe và chăm sóc da toàn thân bao gồm Magiê, Canxi, Kali, Brôm, Lưu huỳnh và Iodine. Tất cả có tác dụng giảm đau, chữa trị hiệu quả các bệnh thấp khớp, vẩy nến, nhức đầu, đau chân, nuôi dưỡng và làm mềm da.Biển Chết dài 76km, chỗ rộng nhất tới 18km và chỗ sâu nhất là 400m. Bề mặt Biển Chết nằm ở 4175m dưới mực nước biển nên là điểm thấp nhất của bề mặt trái đất.Chỉ cần dang thẳng tay chân, ngẩng cổ lên để tránh nước mặn vào mắt, thì đã như cái bong bóng nổi phình trên mặt biển.Biển Chết đúng là một nơi du lịch tuyệt vời lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên.Mỗi năm, hàng trăm du khách đổ xô đến Biển Chết để được thả nổi cơ thể mình trên mặt nước. Điểm thấp nhất trên trái đất này luôn là nơi hấp dẫn du khách nhất.Biển Chết còn được gọi là” Biển Muối”, khu vực chứa nước bị vây kín này có thể được xem là một hồ nước muối có độ mặn cao nhất trên thế giới. Biển Chết nằm giữa biên giới 3 nước Israel, Palestine và nằm sâu trong thung lũng Jordan, cách thành phố Amman khoảng 55 km về phía Đông.Biển Chết dài 76 km, chỗ rộng nhất tới 18 km và chỗ sâu nhất là 400 m.. Đây là một trong những khu nghỉ dưỡng sức khỏe đầu tiên trên thế giới, người ta sử dụng muối và khoáng chất từ Biển Chết để làm ra mỹ phẩm và các gói thảo dược tiêu thụ trên toàn thế giới. Từ xa xưa người ta đã biết khai thác nguồn muối và khoáng chất tại Biển Chết này để làm ra nhiều sản phẩm khác nhau, đặc biệt là kem để ướp xác ở Ai Cập. Như tên gọi của nó, Biển Chết không có một loài sinh vật nào có thể tồn tại được cả vì độ mặn rất cao. Độ mặn của muối và khoáng chất đặc hữu nơi đây có công dụng chữa bệnh nổi tiếng. Biển chết có nồng độ mặn là 38% trong khi đó độ mặn của nước biển ở các đại dương trên thế giới bình thường vào khoảng 2,5%. Chính vì hàm lượng muối trong biển rất cao nên sức đẩy của nước rất lớn. Lỡ có sảy chân người ta cũng không bị chết chìm mà nổi bồng bềnh trên mặt nước một cách tự nhiên, bơi lội ở đây cũng thật sự độc đáo không thể bỏ qua. Đây là nơi có một không hai trên thế giới mà bạn có thể thả mình trên mặt dưới để đọc một tờ báo.Biển Chết mang không khí khô, giàu oxy mà không có bất kỳ một sự ô nhiễm môi trường nào, nhiệt độ tương đối cao ngay cả mùa đông cũng không thuyên giảm. Thực tế là các tia cực tím có hại được lọc một cách tự nhiên. Vì vậy bạn vẫn có thể tắm nắng mà không lo sợ bị cháy nắng. Vùng nước chữa bệnh tự nhiên nằm dọc theo bờ biển kết hợp với lớp bùn đen ở bên dưới là liệu pháp điều trị sức khỏe và vẻ đẹp lý tưởng. Ngoài ra khu bảo tồn thiên nhiên và sự đa dạng của khu vực danh lam thắng cảnh mang lại một sự kết hợp độc đáo cho khung cảnh. Những ốc đảo sa mạc khô cằn bên cạnh những hồ bơi và thác nước đông đúc với hệ động thực vật. Các di tích lịch sử của khu vực là một trong những nơi nổi tiếng thế giới cụ thể như Massada, Jericho, Ein Gedi, các pháo đài La Mã và các pháo đài ở sa mạc Judea.Massada- Pháo đài của người Do Thái nằm ở hướng tây Biển ChếtDọc theo bờ biển là những tòa nhà cao tầng, quán bar, vũ trường … Sắc trắng của các tòa các pha trộn với màu vàng của cát, màu xanh nước biển tạo nên một vẻ đẹp rực rỡ.Ven bờ biển còn có các đụn muối trắng hình thành từng cụm, nhô lên như những chiếc nấm trông rất đẹp. Đây là kết quả của nước biển bốc hơi trải qua nhiều năm.Gọi là biển chết, vì trong lòng biển không có sinh vật nào sống nổi và biển không có lối nào thông ra các đại dương.Mặc dù mang tên Biển Chết, nhưng nơi đây không chết bao giờ, luôn mang một sức sống mãnh liệt. Biển Chết tiếp đón hàng triệu lượt khách mỗi năm đến viếng thăm, nghỉ dưỡng và tắm biển với màn trình diễn thả nổi mình trên mặt nước.
Tan nát cây vĩ cầm đường phố
Tan nát cây vĩ cầm đường phố
Những năm gần đây mỗi lần Hà Nội hay Sài gòn có biểu tình chống Trung Quốc thì người ta lại thấy xuất hiện một ông già tóc trắng phau thường đi trước đám đông, trên vai luôn tựa một cây vĩ cầm cũ kỹ, kéo những bản nhạc yêu nước bất kể tiếng hô của người biểu tình lấn áp tiếng đàn nhỏ bé hiền lành của ông. Người nhạc sĩ lạ lùng ấy là Tạ Trí Hải, được người biểu tình cũng như hầu hết dân oan biết mặt biết tên, đặt cho cái danh hiệu rất dễ thương “nghệ sĩ đường phố”.
Lên tiếng bằng tiếng đàn
Ông không phản đối cũng không chấp nhận danh hiệu này mà chỉ nở nụ cười hiền lành khi nghe ai nhắc tới như một cách khen ngợi. Với ông, cây đàn không phải là kế sinh nhai mà là một vật thể gắn bó và chuyên chở tâm trạng của ông tới với mọi người. Cây vĩ cầm cũ kỹ ấy không khác một người bạn thân, vì thiếu nó sẽ không có Tạ Trí Hải, sẽ không có hình ảnh bụi bặm với người nhạc sĩ có địa chỉ là Bờ hồ Hà Nội và Nhà thờ Đức Bà Sài gòn. Căn cước của ông là đường phố, là những hẻm nhỏ tồi tàn của Sài Gòn, là những chiếc ghế đẩu thấp lè tè của các hàng chè Hà Nội. Cây đàn trên lưng, vài vật dụng lỉnh kỉnh của một người du mục trong thời đại @ đã làm ông nổi bật giữa đám đông mỗi lần trình diễn.
Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.
-Blogger Phương Bích
Trên đầu là chiếc nón rộng vành, trang phục như một chàng cao bồi miền Viễn tây, nhưng ông không trình diễn như các ngôi sao mà cung cách đàn hát của ông mang thần thái của các tay chơi du ca của các bộ tộc sống đời du mục. Bạn trẻ tập trung chung quanh nghe ông đàn để thấy mình được thở thứ không khí trong lành của bầu khí quyển âm thanh chưa bị vấy bẩn bởi showbiz thương mại. Họ nghe và hát chung, đồng cảm với tiếng đàn của ông giữa trời thu Hà Nội hay nắng rát Sài gòn.
Khung cảnh một buổi đàn hát như thế thường có khoảng dăm chục người, nhưng đây là đám đông chọn lọc. Những chàng trai cô gái, thậm chí những người trung niên hay lớn tuổi tham gia với tâm thức hòa vào tiếng nhạc của ông để nhận lấy sự bình yên trong khoảnh khắc trước vây bủa của đời sống thường nhật bụi bặm đầy những băn khoăn lo lắng.
Tiếng đàn của người nghệ sĩ ấy không xuất sắc, không vượt trội nhưng nó mang tâm thế của một nghệ sĩ chân chính. Một nghệ sĩ không bị đè bẹp bởi đồng tiền hay sợ hãi. Ông đứng bên trên nỗi sợ áo cơm lẫn nỗi sợ bị áp bức. Lấy tiếng đàn lời hát làm vũ khí để chống lại thế lực kinh khủng mà người dân chung quanh ông lãng tránh: thế lực của phương Bắc, mua đứt những con người Việt Nam quên gốc gác và nhất là bị nhốt kín trong chiếc lồng hữu nghị.
Nếu cứ vô tư đàn giữa phố cho bạn trẻ chắc ông sẽ nổi tiếng hơn trên mặt báo dòng chính qua những bài viết vô thường vô phạt, nhưng ông không dừng lại ở đó mặc dù nó an toàn và có thể được nhà nước bảo vệ. Ông vượt ra bên ngoài cái vòng tròn định sẵn để nói với người đối diện với ông rằng họ đang bị bao vây, bị bức hại phải sống trong không khí Bắc thuộc nếu ngay từ bây giờ họ không dám đứng dậy và lên tiếng cùng với ông những gì mà phương Bắc đang làm.
Ông lên tiếng bằng tiếng đàn, và ông lên tiếng bằng lời nhạc đã được sửa đổi.

Người chung quanh cho rằng đó là nhạc chế. Người suy nghĩ rộng hơn lại cả quyết rằng ông đang mơ được trở lại cái ngày mà trước đây hơn 40 năm ông chưa biết tới nhưng khi đã biết thì Saigon như một người tình dễ thương, chung thủy khó thể chia xa. Người Saigon yêu bài quốc ca của họ thì bây giờ ông chọn note nhạc của bài quốc ca ấy để gắn vào tính chất thời sự đang làm cho Việt Nam nhức nhối: vụ án Đoàn văn Vươn:
“Đoàn Văn Vươn ơi, anh hùng nước Việt nơi đấy. Một lòng vùng lên liều thân chống bọn cướp nước. Lừng danh vang nước Nam, lòng dân bao sướng vui làm cho quân Bắc Kinh cùng tay sai cướp ngày. Hoàng Sa thay cho bây mưu kế. Lừa dân mưu toan bịp thế giới. Đập tan áp bức bóc lột bất công còn đám quan tham hết hồn khiếp vía diệt hết lũ bán nước loài lang sói kia! quân cướp ngày ác tham ngập máu xương người. Văn Vươn ơi vùng lên diệt cướp ngày, Văn Vươn ơi kiên cường bất khuất cùng chin mươi triệu dân kết riêng vùng lên đấu tranh giành lấy quyền sống con người…”
Lời bài hát đơn giản như người nông dân Tiên Lãng nhưng cái hồn nhạc mà người Sài Gòn từng cùng nhau hát vang mỗi sáng thứ Hai đã làm tinh thần Đoàn Văn Vươn trỗi dậy. Cũng chính những bài hát loại này đã kéo người nhạc sĩ đường phố Tạ Trí Hải ngày càng gần đám đông thanh thiếu niên vốn vô tư không một giây để ý tới những thay đổi chính trị chung quanh, nó cũng kéo người đấu tranh gần lại với nhau qua những note nhạc có lửa này.
Và nó cũng kéo theo sự chú ý ngày một thù hằn hơn từ nhà cầm quyền, nhất là khi ông công khai hát những ca khúc hải ngoại bị cho là phản động, những ca khúc từng là tác nhân đẩy những người nghệ sĩ sáng tác nó vào tù.
Ngày chờ đợi đã tới
Cái ngày mà ông chờ đợi đã tới. Cái ngày quyết định số phận cây vỹ cầm cũ kỹ từng theo ông trong nhiều năm suốt cuộc hành trình âm nhạc đã tới. Với ông là vết thương trên tay cùng những thứ giúp âm thanh của ông vang xa bị vất xuống hồ Hoàn kiếm. Với chiếc đàn, đó là ngày trở về với cát bụi và lời than van réo rắt của nó vĩnh viễn bị chôn vùi.
Kẻ gây án là một gã trai cao to thường theo đuôi ông mỗi khi ông trình diễn. Lần này hình như anh ta đã được phép làm những điều mà thú tính trong con người anh ta thúc giục hàng ngày: tiêu diệt người nghệ sĩ đường phố Tạ Trí Hải.
Ông già đầu bạc với giọng hát sang sảng ấy vẫn không hết sang sảng khi kể lại việc chiếc đàn của ông bị khai tử, ông cho biết:
“Sau khi chuyện xảy ra 4 tay công an cơ động nó đến nó nói với tôi đã bắt được nó, thế bây giờ bác đến đồn công an để khai báo đi. Thế tôi mới bảo bắt được nó thì bây giờ nó ở đâu? Chúng mới bảo nó không có ở đây. Thế tại sao lại thả chúng nó? Nó trả lời là không được quyền bắt. Cả một lũ dối trá bịp bợm thế thôi, chúng nó si-nhan nhau để cho thằng này thoát mà.
Sau đó một số anh em biết tin kéo đến và có lội xuống hồ lấy được cái âm-li cùng một số dụng cụ khác ở dưới hồ gươm, cả bao đàn này nọ nó vứt hết tất cả. Về sau một xe công an đến thì chúng nó lặng thinh, nó đến một lũ. Lúc ấy tôi đứng đó tôi chửi toáng lên chúng nó. Mọi tối thì công an dày đặc còn hôm nay không biết tại sao chúng mày lặn đâu hết cả, đây có phải là cái trò chúng mày bày trò này ra để khủng bố tao không?
Tôi vạch ra hết! Tôi bảo tất cả lũ này, cái việc làm này là hành động tay sai bán nước chứ không có gì khác, tôi hiểu chúng nó lắm. Một năm nay rồi thằng trung tá công an, Phó đồn công an Hàng Trống hai năm trước tôi đã chửi vào tận mặt cho bàn dân thiên hạ biết bây giờ nó lên chức trưởng đồn công an thì cũng là ván cờ của chúng nó thôi. Nó trả đũa mình và nó thừa cơ kỳ vừa rồi Tập Cận Bình nó sang nó có nhiều cay cú bây giờ nó xử lý mình, có thế thôi.”
Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh.
-Nguyễn Tường Thụy
Bạn vong niên của nghệ sĩ Tạ Trí Hải rất đông có đủ mọi thành phần xã hội. Một số dân oan và người biểu tình khi nghe tin ông bị côn đồ phố cổ hành hung đã tới nơi để bảo vệ cho ông mặc dù đã quá muộn. Blogger Phương Bích, người lên tiếng khá sớm nói với chúng tôi về việc này:
“Hoàn toàn bác ấy không hề viết bài cũng không hề lên tiếng chỉ kéo đàn nhưng cũng hành hung ông ấy thì thế lực này đối với âm nhạc cũng trở thành kẻ thù.
Bác ấy hay sáng tác những bài hát coi như hát chế giống như các bài đồng dao. Tức là từ những bài rất là bình thường, những bài trước đây như bài quốc ca chẳng hạn thì ông ấy chế lại cho phù hợp với hoàn cảnh bây giờ thì nó làm cho chính quyền này nó tức giận nó trả thù bằng cách đó.
Hình ảnh của bác ấy dù bên trong thế nào chăng nữa nhưng bên ngoài thì luôn luôn được nhìn như người nghệ sĩ đường phố mà trong các cuộc biểu tình thì hình ảnh này khá đẹp nó cũng là cái mà làm cho họ tức giận nên em cho đấy là một cách trả thù thôi. Nhưng mà nó lại mang một cái tinh thần mới, một hơi thở mới làm cho người dân, người đấu tranh người ta rất phấn khởi mà ngược lại thì nhà cầm quyền rất tức giận. Vì chẳng có luật nào bắt bác ấy được mà phải dùng cái biện pháp ấy.”
Biện pháp mà Phương Bích nói cũng nằm trong khái niệm mà anh Lã Việt Dũng một thành viên trong nhóm NO U đồng tình:
“Tôi nghĩ là công an Hà Nội lúc này đang trong giai đoạn chuyển giao giữa thế hệ cũ và thế hệ mới. Trong khi chuyển giao thì có thể việc tùy cơ của họ từ trên xuống dưới không được chặt chẽ lắm như người ta thường nói là thượng bất chính thì hạ tất loạn và tôi nghĩ rằng ở dưới đang rất là loạn cho nên khi cụ Tạ Trí Hải đánh đàn ở bờ hồ thì thường xuyên có những người đi theo phá quấy.
Họ chưa bao giờ ra tay và lần này có thể vì như vậy nên họ không sợ bị cấp trên đe nếu mà họ ra tay hay ra lệnh cho một người ra tay. Hoặc đây là chỉ đạo từ bên trên đề có thể làm xấu hình ảnh NO U của anh em chúng tôi. Vừa qua thì như anh biết khi Tập Cận Bình sang Việt Nam thì anh em chúng tôi đã đi biểu tình chống Tập Cận Bình rất quyết liệt. Có thể họ bị một cái gì đó từ đâu đó tôi không biết, có thể từ phía Trung Quốc hay từ bên trên mà họ phải thực hiện các biện pháp lên anh em chúng tôi, có hai khả năng như vậy.”
Cái người thanh niên to cao nhưng lại dùng sức vóc ấy tấn công một cụ già có lẽ cũng khó tìm ra bởi công an, mặc dù cụ nhạc sĩ biết rõ mặt anh ta như biết rõ lòng bàn tay của mình, anh Lã Việt Dũng kể:
“Cụ Tạ Trí Hải cụ biết rõ người đấy. Bây giờ mà nói đem ra làm chứng thì không khó nhưng cụ chỉ nói cậu ấy là người thường xuyên được công an bảo kê cho việc theo quấy rầy cụ mỗi lần cụ chơi đàn ở bờ hồ.”
Nhà báo tự do Nguyễn Tường Thụy cho rằng việc này gói gọn trong âm mưu bịt miệng người chống Trung Quốc bằng biện pháp khủng bố, ông nói:
“Tôi nghĩ rằng bác Hải là người chỉ biết kéo đàn suốt ngày thôi. Lúc nào anh em đi biểu tình chống Trung Quốc hay anh em đi đấu tranh thì bác ngồi ở bờ hồ hay chỗ công cộng nào đấy bác kéo đàn. Bác kéo những bản nhạc nói về tinh thần yêu nước, thậm chí những bản nhạc của Trúc Hồ, của anh em tù nhân sáng tác trong tù. Những bài hát chống Trung Quốc làm cho nhiều kẻ không thích, nó khó chịu và nó bố trí người đánh. Tôi nghĩ rằng hiện nay nạn côn đồ hành hung những người chống Trung cộng hiện nay có dấu hiệu rất là táo tợn trước đây đã như vậy rồi nhưng mà dộ này những vụ ấy xảy ra nhiều hơn. Có lực lượng thân Tàu nó chỉ đạo làm những việc như vậy.”
Đâu đó khắp nước người tỏ lòng thương yêu quý trọng ông không ít, trong đó có nhà báo Phạm Việt Thắng. Bài thơ “Người nghệ sĩ già và cây đàn Violon” như một cách bày tỏ cảm xúc của ông đối với nhạc sĩ:
Người nghệ sỹ già nua
Bị đánh gãy tay và ném đàn xuống nước?
Người nghệ sỹ luôn đi đầu dậy trước
Trong mọi cuộc xuống đường
Bị “côn đồ” tấn công?
Không!
Côn đồ không nỡ đánh ông
Người nghệ sỹ già lặng lẽ
Réo rắt lời núi sông!
Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!
Vọng từ thuở hồng hoang mở cõi
Vọng hào khí Đông A, tiếng hô vang từ muôn vàn bô lão
Vọng từ Trường Sơn, lộng gió Biển Đông.
Tiếng đàn ông, tiếng đàn ông!
Khúc bi ca hát ru người ngã xuống
Cho đất nước hồi sinh
Lời hùng tráng hiệu triệu người đứng dậy
Vì đất nước quang vinh.
“Côn đồ” đánh ông gãy tay ư?
Tay sẽ khỏi!
Đàn bị ném xuống hồ ư?
Đàn mới thay!
Người nghệ sỹ già và những ngón tay còn lại
Cùng dòng người vô tận, hát mãi lời núi sông…
Phạm Việt Thắng
Cây đàn dù đã nát tan, đã vĩnh viễn về với cát bụi nhưng nó đã thực hiện đúng những điều mà người đóng nó ao ước: mang âm thanh đánh thức rung cảm của người nghe. Niềm rung cảm lớn nhất có lẽ bên cạnh tình yêu đôi lứa ra còn có rung cảm của tình yêu đất nước vốn thường trực và sâu thẳm trong lòng từng người một trên quả đất này…
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”
Nhạc sĩ Anh Bằng: “Hãy nói về cuộc đời, khi Tôi không còn nữa…”
Cát Linh, phóng viên RFA
2015-11-14
“Dòng nhạc Anh Bằng”
Nền âm nhạc Việt Nam lại thêm một lần khoác chiếc khăn sô, cúi đầu tiễn biệt người nhạc sĩ mà mỗi khi nhắc về Hà Nội, người ta thầm thì ca khúc Nỗi lòng người đi; mỗi khi muốn nói về thân phận người trên con đường đi về bên kia thế giới, người ta hát lên “Khúc Thuỵ du”; mỗi khi nói về lính trận xa nhà, người ta hát lên “Nửa đêm biên giới”… Nói chung, khi nói về nhạc của ông, người ta hay gọi là “dòng nhạc Anh Bằng”.
Chương trình âm nhạc cuối tuần kỳ này, mời quí vị đến với những ca khúc bất hủ của ông, cố nhạc sĩ Anh Bằng, người vừa ra đi sau 8 năm chống chọi với bệnh tật.
“Hãy nói về cuộc đời
Khi tôi không còn nữa
Sẽ lấy được những gì
Về bên kia thế giới
Ngoài trống vắng mà thôi
Thuỵ ơi và tình ơi…” (Khúc thuỵ du)
Những lời ca, giai điệu ám ảnh của giây phút đi về cái nơi gọi là “ở chỗ nhân gian không thể hiểu” (Du Tử Lê) trong Khúc Thuỵ Du, được cố nhạc sĩ Anh Bằng phổ từ bài thơ cùng tên của nhà thơ Du Tử Lê, giờ đây vô hình trung trở thành bài ca tiễn biệt ông.
Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức
Lại thêm một người nữa ra đi…
Lại thêm một tài hoa thuộc thế hệ vàng son của nền âm nhạc nước nhà từ biệt nghiệp dĩ…
Năm 1954, trong gần một triệu bước chân của người Việt di cư từ miền Bắc vào miền Nam Việt Nam, có một chàng thanh niên 28 tuổi tên Trần Anh Bường, mang theo một chiếc vali hành trang chất đầy nỗi nhớ quê hương quay quắt. Đường xa vạn dặm. Nỗi nhớ ấy khi đối diện với Sài Gòn xa lạ, đèn hoa rực rỡ đã trở thành ca khúc “Nỗi lòng người đi” được ký tên nhạc sĩ Anh Bằng.
“Tôi xa Hà Nội năm lên mười tám khi vừa biết yêu
Bao nhiêu mộng đẹp yêu thương thành khói tan theo mây chiều
Hà Nội ơi nào biết ra sao bây giờ?
Ai đứng trông ai ven hồ
Khua nước trong như ngày xưa…” (Nỗi lòng người đi)
Nỗi lòng người đi không phải ca khúc đầu tay của cố nhạc sĩ Anh Bằng. Ca từ trau chuốt, đẹp như thơ đã nhẹ nhàng lột tả trọn vẹn tình cảm, thân phân phận của con người trong một biến cố lịch sử. Mấy mươi năm sau, ca khúc này vẫn tiếp tục đi vào lòng những thế hệ tiếp nối, nói lên nỗi niềm chung của những người xa quê. Để rồi cho đến tận bâ giờ, không cần phải là người Hà Nội, mà chỉ khi muốn nhắc về Hà Nội thì người ta sẽ hát lên bài hát này.
Nửa đêm biên giới

Nhạc của cố nhạc sĩ Anh Bằng là dòng nhạc quê hương, thân phận và tình yêu. Ông dung hoà tất cả những lĩnh vực đó trong nhạc của mình bằng một trái tim nhẹ nhàng và bao dung. Ông viết về quê hương mình như chứng nhân của thời chiến tranh loạn lạc, kêu lên tiếng kêu trăn trở của người con đi lính trận xa nhà, nhớ mẹ trong những đêm đóng quân vùng biên giới.
“Mẹ ơi… biên cương giờ đây
Trời không… mưa nhưng nhiều mây
Nửa đêm nghe chim muông hú trong rừng hoang
Nghe… gió rung cây đổ lá vàng
Sương xuống mênh mang
Khèn trong…. buôn xa còn vang
Nhịp chìm… tiêu sơ nhặt khoan
Tưởng nhớ đến những phút sống bên mẹ yêu
Con… hát ca vui lều tranh nghèo
Ôi đẹp làm sao…” (Nửa đêm biên giới)
Rồi cũng chính ông, đã nói lên cả nỗi niềm nhung nhớ của người lính trận xa gia đình, xa người vợ hiền ngoan.
“Tôi đứng bên này sông, bên kia vùng lửa khói.
Làng tôi đây, bao năm dài chinh chiến,
từng lũy tre muộn phiền.
Tôi có người vợ ngoan.
Đẹp như trăng mười sáu, cưới rồi đành xa nhau…”(Chuyện giàn thiên lý)
Ông viết về tình ca nhẹ nhàng, chân thành mang lời thú tội của kẻ si tình. Những ca từ đẹp như thơ, nhưng không ngại ngùng để toát lên cái đẹp trần tục, cái đẹp nhân danh bản ngã của con người.
“Anh còn yêu em như rừng lửa cháy
Anh còn yêu em như ngày xưa ấy
Chiều xuống mờ sương
Cửa đóng rèm buông
Gối kề bên gối
Môi kề bên môi
Anh còn yêu em đường xanh ngực nở
Anh còn yêu em lồng tim rạn vỡ
Bạch đàn thâu đêm
Bạch đàn thâu đêm
Thầm thì tóc rũ
Anh còn yêu em…” (Anh còn yêu em)
Tình yêu trong nhạc của Anh Bằng khi thì cháy bỏng, nồng nàn với “rèm buông, ngực nở”, với “gối kề gối, môi kề môi”; khi thì thanh thoát như cõi thiên đường.
“Khi áng mây cao đừng trên nếp trán.
Anh chợt nghe tình vỗ cánh baỵ
Trái tim anh hờn dỗi trên vaị
Đêm hạnh phúc như hạt sương gầy
Bỗng mùa xuân về trên năm ngón.
Trên bàn tay lộc biếc lá non.
Anh đứng nghe âu yếm gọi tên em.
Khi em đến nằm ngoan trên cỏ biếc…” (Kỳ diệu)
Anh còn nợ em
Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.
-Nhà văn Nguyễn Đông Thức
Rồi cũng có khi ông hoá thân vào cuộc tình không trọn vẹn, thốt lên lời thú tội của kẻ tình si không thể thực hiện được điều mình đã hứa, dù là điều đơn giản nhất trong cuộc sống. Cái tài hoa của Anh Bằng là đây. Từ những hình ảnh đơn sơ, mộc mạc, và cách lặp lại mỗi câu hai lần trong một đoạn nhạc, cố nhạc sĩ đã nói lên nỗi niềm trăn trở của một cuộc tình nguyên sơ, cháy bỏng.
“Anh còn nợ em
Công viên ghế đá
Công viên ghế đá
Lá đổ chiều êm
Anh còn nợ em
Dòng xưa bến cũ
Dòng xưa bến cũ
Con sông êm đềm
Anh còn nợ em
Chim về núi nhạn
Trời mờ mưa đêm
Trời mờ mưa đêm…”(Anh còn nợ em)
Có lẽ vì vậy mà bất cứ một chủ đề nào thuộc về ca khúc do ông sáng tác, người nghe cũng dễ dàng soi thấy một phần cuộc đời của mình trong ấy. Nhạc của ông gần gũi, chan hoà với tất cả thế hệ. Với hơn 600 ca khúc để lại cho đời, một khối lượng sáng tác không nhỏ. Nhà văn Nguyễn Đông Thức, từ Sài Gòn cho biết ông rất nể phục và ngạc nhiên về sức sáng tác cũng như dòng nhạc đa dạng của cố nhạc sĩ Anh Bằng:
“Ông viết từ nhạc hồi xưa, thường gọi là nhạc sến, rồi những bài nhạc lính cộng hoà. Nhưng bên cạnh đó, ông cũng có rất nhiều bài sang như ‘Khúc Thuỵ du, Nỗi lòng người đi…”
“Qua Mỹ ông vẫn phổ thơ, phổ nhạc những bài thơ của tác giả ở Việt Nam, không có gì ngại ngần hết. Những nhà thơ trong nước, ông vẫn tìm tòi phổ nhạc, một sức lao động rất mạnh và lạ. Rồi đến khi cần, ông vẫn bày tỏ thái độ với những ca khúc mạnh mẽ lên án Trung Quốc, bảo vệ Hoàng Sa, Trường Sa.”
Thật như vậy, khi qua đến Hoa Kỳ năm 1975, không những ông tiếp tục cho ra đời rất nhiều những ca khúc giá trị và đi vào lòng người đến mãi tận hôm nay, mà ông còn là người sáng lập trung tâm Asia, một trong hai trung tâm ca nhạc lớn nhất của cộng đồng người Việt hải ngoại.
Có lẽ giờ này ông đã hội ngộ với những bằng hữu của mình nơi xa xôi đó. Này là Phạm Duy, là Trầm Tử Thiêng, kia là Lê Uyên Phương, là Trịnh Công Sơn… Ông đang cùng mọi người hàn huyên về một cố đô xa vời vợi, một Sài Gòn hoa lệ, diễm tình chỉ còn là kỷ niệm.
Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)
Hành xử của Công an Hà Nội nói lên điều gì? (Phần 2)
J.B Nguyễn Hữu Vinh, viết từ Hà Nội
RFA

Nhóm côn đồ vào đánh những người đến thăm nhà em Đỗ Đăng Dư ngày 16/10/2015.
Vụ án đánh luật sư
Cái chết của em Đỗ Đăng Dư đã làm nóng dư luận bởi sự khuất tất và oan khuất. Nhưng dư luận còn chú ý hơn vì những hành động của các cơ quan công quyền, các đám xã hội đen, côn đồ – mà những năm gần đây, hiện tượng công an đóng giả côn đồ hành động như côn đồ đã trở thành phổ biến – đã tiếp tục gây sự chú ý của dư luận xã hội. Chúng tôi đã từng là nạn nhân thường xuyên của lực lượng công an đóng giả côn đồ này.
Những vụ việc ngăn chặn, sách nhiễu, đánh đập người đến thăm gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã làm dư luận chú ý. Ngay sau đám tang của em một ngày, một số người động lòng thương đến thăm gia đình em và viếng hương hồn oan khuất của em đã bị gây sự và chặn đánh vào ngày 16/10/2015. Đám người mặc thường phục đã vào tận nhà em rình rập, khủng bố những người đến thăm gia đình em mà không có bất cứ lý do nào.
Cũng theo hình thức đó, ngày 3/11, hai vị luật sư đến gia đình cũng bị một nhóm côn đồ tổ chức tấn công tạo nên nhiều thương tích, cướp lấy tài sản của họ…
Đặc biệt, những hành động đằng sau đó của hệ thống công an đã không thể không đặt ra những nghi ngờ về một sự khuất tất trong vụ việc này.
Trước hết, theo các luật sư cho biết, thì ngay sau khi các luật sư bị đánh, công an huyện Chương Mỹ đã không đến hiện trường, khi luật sư khai báo và làm biên bản, họ đã ghi không trung thực vào lời khai và biên bản như báo cáo của các nạn nhân, kết quả là các luật sư đã không ký vào biên bản. Riêng điều này, người ta có quyền đặt câu hỏi: Nguyên nhân nào mà các nạn nhân đã không được bảo vệ bởi lực lượng Công an và những động thái của Công an có ý nghĩa gì?
Ngay sau khi vụ việc xảy ra, LS Trần Đình Triển Phó chủ nhiệm, Trưởng ban Bảo vệ luật sư đến tận Công an Chương Mỹ, thì được bảo vệ cho biết các công an Huyện đã xuống hiện trường. Thế nhưng khi đến hiện trường, thì người dân cho biết không có bất cứ công an nào đến đó chiều hôm ấy. Trở lại CA Huyện Chương Mỹ, thì LS Triển được thông báo các cán bộ bận và không thể tiếp luật sư (!)
Tình trạng làm việc và cách làm của Công an Chương Mỹ là vậy trước một vụ án. Mặc dù tướng Nguyễn Đức Chung “đã cho hay sau khi vụ việc xảy ra đã chỉ đạo Công an huyện Chương Mỹ điều tra nghiêm túc”.
Trả lời báo chí, thiếu tướng Giám đốc Công an Hà Nội cho rằng: “Vấn đề ở đây là tình hình ở Chương Mỹ rất phức tạp, khi mọi người đến thì cũng nên thông báo để cho cơ quan công an có phương án bảo vệ. Đây là trách nhiệm của công an phải bảo đảm an ninh trật tự chứ đừng chủ động vào”. Điều này có nghĩa là ở đất nước Việt Nam ổn định và an ninh này, ngay tại Thủ đô vì hòa bình, mà người dân đến đây phải nhờ công an bảo vệ, nếu không thì bị đòn… đừng kêu?
Ngày 10/11/2011 Công an Hà Nội tổ chức một cuộc họp báo, nhưng các nạn nhân và đoàn LS Hà Nội không được mời. Thậm chí khi đến, họ còn không được cho vào (?). Nguyên nhân vụ việc được CAHN cho biết là vì “xe chạy gây bụi” nên các luật sư bị côn đồ đánh và chưa khởi tố vụ án hình sự. Điều này trái hẳn với điều ông Nguyễn Đức Chung, thiếu tướng, Giám đốc Công an Hà Nội đã trả lời báo chí rằng “Nhưng thông tin ban đầu thì 2 luật sư bị hành hung khi ra đường sau khi có va chạm giao thông”.
Từ chỗ nguyên nhân là va chạm giao thông đã bị các luật sư nạn nhân phản đối kịch liệt, nội dung đã được chuyển sang do “bụi”.
Nội dung cuộc họp báo đã bị các luật sư phản ứng dữ dội. Mạng xã hội được dịp nóng lên vì phát ngôn này của Công an Hà Nội, tạo những trận cười chảy nước mắt.
Tiếp đó, các nạn nhân luật sư đã nhận dạng được một gương mặt hung thủ là công an xã tên Cửu, nhưng sau đó, bằng một cuộc họp báo, Công an Hà Nội đã khẳng định viên công an này đi qua đó nhưng không tham gia đánh đập các nạn nhân. Người ta có quyền đặt câu hỏi: Tại sao là khách xa lạ từ nơi khác đến, các LS lại nhận ra một người trong hệ thống công an xã mà họ chưa từng gặp, chưa từng thù oán lại đến đánh họ? Chẳng lẽ các luật sư này đã chiêm bao thấy tên Cửu này?
Khi côn đồ được dùng như một giải pháp

Tại Việt Nam, một thời khi công nghệ thông tin chưa phát triển, người dân thấy công an như thấy cọp, thì công an muốn làm gì đều được, muốn bắt bớ, đánh đập hoặc làm gì thì cũng không ai dám hé răng nửa lời. Họ có thấy cũng coi như giả điếc, có chứng kiến cũng như không.
Thế nhưng, thời nay đã khác. Khi Internet phổ cập khắp mọi nơi, một chiếc điện thoại rẻ tiền từ một hang cùng ngõ hẻm nào đó cũng có thể cho cả thế giới thấy được sự thật đang diễn ra bằng hình ảnh, âm thanh sống động, thì mọi hành động bạo lực, vô đạo đức và nhân tâm sẽ khó khăn che giấu hơn. Nhiều hành động, việc làm càn rỡ bất chấp luật pháp và nhân tính đã được tung lên mạng, nhiều vụ việc đã được phơi bày trước công chúng và công luận, thì việc công an mang sắc phục làm những việc bất chấp luật pháp rất dễ bị phơi bày và khó chối.
Nhiều sự việc đã được đưa lên mạng, lực lượng công an chối quanh một cách ngây ngô, khiên cưỡng đã chỉ càng làm cho người dân nhận thấy bản chất của sự việc và cách nhìn của người dân đã thay đổi. Vụ viên công an đạp vào mặt người biểu tình yêu nước, Công an Hà Nội, tướng Nguyễn Đức Nhanh đã nhanh nhẩu cho rằng video đó được làm giả từ nước ngoài đã là một ví dụ điển hình cho sự chày cối và lý sự cùn bất chấp sự thật. Nhiều vụ việc khác đã buộc cơ quan công quyền phải vào cuộc chữa cháy cũng chỉ từ những chiếc điện thoại, máy quay phim nhỏ nhắn, rẻ tiền.
Giả danh côn đồ
Do vậy, lực lượng công an đã buộc phải dùng biện pháp khác: Giả danh côn đồ.

Những năm trước đây, khi muốn khủng bố nhà thờ, tu viện Thái Hà, Tòa TGM Hà Nội, từng đoàn người được huy động kêu gào cả đêm đòi giết người. Hình ảnh đó đã bị công luận trong nước và quốc tế lên án mãnh liệt. Nhà cầm quyền đã chối quanh: Đó là do “Quần chúng tự phát” – Lời Lê Dũng, phát ngôn viên Bộ ngoại giao. Tuy nhiên, người ta đã không khó để vạch trần con bài này và vạch rõ đây là cách để dẫn đất nước vào trình trạng vô chính phủ và không luật pháp. Và từ đó việc dùng cách này coi chừng không hiệu quả.
Những vụ bắt bớ người biểu tình yêu nước, khủng bố cá nhân những nhân sỹ, trí thức, người bất đồng chính kiến… nhưng không thể căn cứ trên bất cứ một cơ sở pháp luật nào, họ dùng côn đồ, những người không sắc phục xông đến bắt giữ, đánh đập không thương tiếc các nạn nhân. Điều này nhằm che đi sự vô luân và vô luật trước công luận và công chúng
Khi những hình ảnh, video được đưa lên, nhà cầm quyền ráo hoảnh: Đây là những nhóm nào, chúng tôi không biết. Thậm chí còn “sẽ điều tra’. Thế nhưng, cái gọi là điều tra, làm rõ của họ, thì dần dần người ta nghe như một bản nhạc cũ rích và nhàm chán. Chỉ có tác dụng bào mòn thêm chút còn lại nào đó gọi là niềm tin mà thôi. Bởi không ai lạ gì những “côn đồ” đó là ai.
Trong nhiều trường hợp, công an đóng vai côn đồ đánh đập, bắt giữ người dân, vào đồn hiện nguyên hình Công an với đầy đủ sắc phục. Việc đánh đập chúng tôi khi đến thăm nhà Trần Anh Kim ở Thái Bình là một minh chứng cụ thể.
Còn trong nhiều trường hợp khác, công an sắc phục đầy đủ trong đồn, ra ngoài thay áo đóng vai côn đồ để đánh đập công dân ngang nhiên. Vụ đánh đập Nguyễn Văn Phương, người biểu tình yêu nước trước trại Lộc Hà là một ví dụ điển hình.
Thực ra không ai lạ, bởi cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra, huống chi là cả một hệ thống.
Được thể của nhà cầm quyền dung túng và tổ chức, gần đây một số người tự xưng là “Dư luận viên” đã xông đến nhà công dân tổ chức gây gổ, hò hét náo loạn và đánh người vì một cái cớ hoàn toàn bất chấp pháp luật. Chúng hành động và tuyên bố “Việc gì nhà nước không làm được, thì chúng ta làm” – Nghĩa là việc gì dưới danh nghĩa chính thức nhà nước không làm được vì sợ dư luận, thì họ, những người được tổ chức và trả tiền không chính thức sẽ làm, dù đó là những việc bất chấp luật pháp và nhân tính.
Khi một lực lượng, một nhà nước mà sử dụng các biện pháp, cách làm không chính danh, tự nó đã thể hiện sự yếu, sự kém, sự hèn và sự bất chính của mình.
Công an Hà Nội đã tự bộc lộ mình?
Lẽ ra, một vụ án đơn giản như cái chết của Đỗ Đăng Dư, cơ quan Công an Hà Nội chỉ cần xác định rõ, chứng minh rõ ràng và kịp thời về cái chết của em do đâu mà có, bằng những chứng cứ và cơ sở hẳn hoi để gia đình và xã hội biết. Thế nhưng, họ đã lúng túng và hành xử khuất tất để gia đình và xã hội đặt nhiều câu hỏi nghi vấn.
Những lúng túng, bất nhất của Công an Hà Nội như đã nói ở trên và cách hành xử đối với các nạn nhân là hai luật sư bảo vệ quyền lợi cho gia đình nạn nhân Đỗ Đăng Dư đã là cơ hội cho việc những nghi ngờ ngày càng lớn lên. Nói theo ngôn ngữ dân gian, thì câu ngạn ngữ “đường đi hay tối, nói dối hay cùng” đã có cơ hội chứng minh sự đúng đắn của nó.
Trước hết, các luật sư bảo vệ miễn phí cho gia đình Đỗ Đăng Dư đã phải khiếu nại khi không được cấp giấy bào chữa cho nạn nhân dù đã quá hạn. Luật sư Trần Thu Nam, nạn nhân trong vụ bị đánh đập, là người đã vào tận phòng mổ tử thi Đỗ Đăng Dư với Công an và Pháp Y quân đội. Lẽ nào vị LS này rỗi việc đi chơi và đến đó chứ không được gia đình đồng ý? LS Hà Huy Sơn, có giấy yêu cầu của mẹ Đỗ Đăng Dư vẫn không được chấp nhận là LS bào chữa (?).
Sau đó là hàng loạt sự khuất tất trong vụ đánh hai luật sư bị dư luận phản ứng. Tất cả đã nói lên điều gì qua vụ án này?
Ở đây, điều vướng mắc lớn nhất, là việc chết của cháu Đỗ Đăng Dư lại xảy ra trong đồn Công an Chương Mỹ, Hà Nội.
Mà xưa nay, hễ đã dính vào Công an, thì mọi việc đòi hỏi công lý sẽ trở nên khó khăn, thậm chí là vô vọng, mọi cái chết đều nhẹ nhàng dù chết trong đồn hay chết bởi một tên công an khát máu đánh người ngoài đường rồi để chờ cho đến chết, đều là chuyện nhỏ.
Người ta có quyền so sánh những vụ việc như sau:
– Cô người mẫu Trang Trần bị tòa tuyên án 9 tháng tù treo chỉ vì chửi công an.
– Năm công an đánh người ngã gục rồi bắt quỳ xem nhậu, đến khi phải đi viện chỉ bị cảnh cáo.
– Tại phiên tòa sơ thẩm ngày 5-3-2013 vừa qua, TAND huyện Thanh Trì đã tuyên phạt bị cáo Huyền 12 tháng tù giam vì đã hắt xô nước mắm vào Công an.
– Nhưng viên Trung tá Công an đánh ông Trịnh Xuân Tùng gãy cổ, xong xiềng lại cho đến khi đi bệnh viện thì chết chỉ bị tuyên phạt 4 năm tù.
– Thiếu nữ tát cảnh sát giao thông bị phạt 9 tháng tù.
– Trung tá Công an đánh dã man, bầm dập một nữ công nhân vì nghi oan trộm điện thoại, chỉ bị giáng cấp.
Dường như, đã là công an, thì được xếp vào một thứ hạng cao hơn tất cả những thành phần dân chúng còn lại, họ có thể ngang nhiên vi phạm luật pháp, coi thường đạo đức, nhân cách… Nhưng họ sẽ chỉ bị xử lý kiểu gãi ghẻ mà thôi?
Ở xã hội Việt Nam, hễ những tội ác, những quan hệ với công an và dân thường trong xã hội xảy ra, thì nó rất ứng nghiệm và chứng minh rõ ràng một câu trong tác phẩm “Trại súc vật” của tiểu thuyết gia George Orwell (1903-1950). Ở trong xã hội đó, hiến pháp, mọi luật lệ đều chung quy lại như sau: “Bảy điều răn được giảm xuống còn một câu duy nhất: “Tất cả các loài vật đều bình đằng, nhưng một số loài vật bình đẳng hơn những loài vật khác.”
Và những hành xử của Công an Hà Nội qua vụ cái chết của em Đỗ Đăng Dư, đã tự nó nói lên bản chất vụ án là gì.
Hà Nội, ngày 12/11/2015
J.B Nguyễn Hữu Vinh
*Nội dung bài viết không phản ảnh quan điểm của RFA
Ai xỏ mũi ai ?
Ai xỏ mũi ai ?
14-11-2015
Câu chuyện về chủ quyền biển đảo Việt Nam là đề tài nóng trong suốt một thập kỷ gần đây. Bắt đầu từ việc quốc vụ viện Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố hành chính với các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam dưới cái tên Trung Quốc đặt là Tam Sa, Tây Sa.
Hành động này của Trung Quốc lập tức gây phẫn nộ trong nhân dân Việt Nam, ở hai đầu đất nước Việt Nam là Hà Nội và Sài Gòn lần đầu tiên đã nổ ra biểu tình nội dung phản đối hành vi ngang ngược trên của Trung Quốc. Đó là những ngày đầu tháng 12 năm 2007.
Từ đó đến nay, câu chuyện về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa sau bao năm không được nhắc tới, bỗng cháy bỏng trong lòng người Việt Nam ở bất cứ đâu trên trái đất này. Không phân biệt mầu cờ, sắc áo. Ở trong nước liên tiếp nổ ra biểu tình phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc, như năm 2011 có đến 11 cuộc biểu tình diễn ra trong suốt cả mùa hè. Ở nước ngoài cộng đồng người Việt cũng tổ chức nhiều cuộc biểu tình như vậy. Người ta chứng kiến người Việt mang cờ vàng ba vạch đỏ và người Việt xuất khẩu lao động mang cờ đỏ sao vàng, tuy tổ chức các nơi khác nhau nhưng đều chung mục đích phản đối hành vi xâm lược của Trung Quốc đối với hai quần đảo Việt Nam.
Chính phủ Việt Nam, nhà nước Việt Nam đều lên tiếng đề nghị Trung Quốc chấm dứt hành vi xây dựng trái phép trên hai quần đảo của Việt Nam, đề nghị Trung Quốc không gia tăng hành động gây sứt mẻ quan hệ hai nước.
Dường như hành động của nhà nước Cộng Sản Việt Nam có điều gì không ổn ở đây. Những lời đề nghị của họ đối với Trung Quốc như một cách đồng loã để làm giảm đi tính chất thật sự của hành động xâm lược. Có lẽ để không làm mất lòng Trung Quốc và trước sự phẫn nộ của dân chúng Việt Nam. Nhà nước Cộng Sản Việt Nam đã chọn một lối đi rất an toàn cho họ. Đó là lên án Trung Quốc vừa phải như đề nghị, mong muốn, và giảm nhẹ hình ảnh việc xâm lược thành xây dựng, chiếm giữ trái phép.
Mặt khác nhà nước Cộng Sản Việt Nam bắt bỏ tù những người biểu tình hăng hái nhất để làm giảm nhiệt các cuộc biểu tình. Một cách nham hiểm hơn, nhà nước CSVN tuyên truyền định hướng cho nhân dân nên bảo vệ chủ quyền bằng cách tìm bằng chứng xác nhận chủ quyền của Việt Nam ở hai quần đảo bị Trung Quốc chiếm đóng trên.
Không hiểu Cộng Sản Trung Quốc xỏ mũi Cộng Sản Việt Nam đi vào mê lộ tìm bằng chứng chủ quyền hay là Cộng Sản Việt Nam xỏ mũi người dân Việt Nam bằng cách khuyến khích họ đấu tranh giữ chủ quyền bằng cách đi tìm bằng chứng?
Hàng loạt phong trào tìm hiểu lịch sử biển đảo được phát động, nhiều nhà khảo cổ, nghiên cứu cũng đam mê đi tìm bản đồ, bằng chứng này nọ để khẳng định chủ quyền Việt Nam với hai quần đảo trên. Dẫn đến việc Trung Quốc đưa ra bằng chứng của họ bằng bản đồ cổ xưa, Việt Nam cũng đưa ra bản đồ cổ xưa. Cứ lằng nhằng như thế kéo dài từ năm này qua năm khác, trong khi đó Trung Quốc gia tăng xây dựng thành phố trên đảo, trường học, bệnh viện, căn cứ quân sự , đường băng cho máy bay quân sự và hải đăng ….và Trung Quốc còn tiến bước nữa là đổ cát xây đảo ngầm thành đảo cạn.
Sau khi cả dân chúng đi vào mê lộ của việc tìm bằng chứng chủ quyền từ thời tám hoánh. Để rồi Nhà nước Việt Nam ngậm ngùi than vãn không thể đưa vấn đề này ra toà án quốc tế, vì ra chưa chắc chúng ta đã thắng!!! Lý do không thắng là do bằng chứng chủ quyền cổ xưa chúng ta có, Trung Quốc cũng có.
Chẳng hiểu sao nhiều người không nhận ra ý đồ thâm độc của CSVN hay CSTQ khi chọn cách giải quyết chủ quyền bằng tìm bằng chứng lịch sử cách đây vài trăm năm như vậy. Nếu như thế thì người Lã Mã có thể khoanh vùng chủ quyền của họ khắp vùng ven biển Địa Trung Hải, hoặc nếu Trung Quốc gọi biển Nam Trung Hoa là của họ thì người Ấn Độ sẽ có chủ quyền tất cả những hòn đảo và vùng nước trên Ấn Độ Dương.
CSVN hay CSTQ đang dẫn người dân Việt Nam đi vào lối tranh đấu mơ hồ, để họ có thể dễ dàng thoả hiệp với nhau.
Nhưng chẳng mấy ai nhận ra rằng, Việt Nam có một bằng chứng cực kỳ quan trọng, xác nhận chủ quyền của Việt Nam, khẳng định được tính chất xâm lược của Trung Quốc, những bằng chứng rất có giá trị trước toà án quốc tế. Đó là sinh mạng của những chiến sĩ Việt Nam đã ngã xuống trước họng súng của quân xâm lược Trung Quốc tại hai quần đảo này cách đây không lâu. Những bằng chứng gần nhất và sinh động nhất, rõ nét nhất và đầy đủ sự thuyết phục nhất.
Thật vô lý là làm sao cứ phải trưng bản đồ cổ này nọ. Trong khi chỉ cần lấy tư liệu về hành động xâm lược vũ lực , khát máu của Trung Quốc mới đây trình cho toà án quốc tế, đập vào mặt Trung Quốc là xong phần bằng chứng. TQ nói của họ từ xưa, thế Việt Nam có dùng vũ lực để chiếm không, có bắn giết dân quân họ đang sống trên đảo để chiếm đóng và tuyên bố chủ quyền như họ làm không.? Chỉ biết rằng chúng tôi đang sở hữu hoà bình, chúng tôi khai thác, sử dụng hàng trăm năm mà không đánh giết ai. Vậy bỗng nhiên chúng tôi bị Trung Quốc mang tàu, súng đến thảm sát dân quân chúng tôi rồi xây căn cứ quân sự và bảo là của họ.
Trưng ra những bằng chứng mới nhất bằng máu, nước mắt do Trung Quốc gây ra với quân dân Việt Nam. Những tội ác tàn bạo mang tính xâm lược, thôn tính, chiếm đoạt..là những bằng chứng rõ ràng và hùng hồn, đanh thép nhất để khẳng định chủ quyền. Thế nhưng CSVN đã làm ngơ bằng chứng giá trị này, xúi dục dân chúng đi vào việc hão huyền sẽ làm đau đầu, tốn công của toà án quốc tế, dư luận quốc tế qua việc, lấy những bằng chứng từ thời ông bà, ông vải ra.
Dường như CSTQ đã đặt cho CSVN chọn lựa đường lối giành lấy chủ quyền trong khuôn khổ cái gọi là ” vừa hợp tác vừa đấu tranh ” và trong khái niệm này thì CSTQ cho CSVN đấu tranh bằng cách đi tìm bằng chứng chủ quyền qua những giấy tờ, bản đồ xưa cũ từ 100 năm đổ về trước. Còn chuyện mới đây không được nhắc đến. Thêm nữa là CSVN chỉ được lên tiếng phản đối trong khuôn khổ những từ ngữ như đề nghị, chiếm giữ trái phép…không được gọi là xâm lược vũ trang. Về hành động Trung Quốc chỉ cho phép Việt Nam dùng ngư dân ra biển để khẳng định chủ quyền.
Và tranh chấp thế nào có thế nào đi nữa, CSVN cũng phải tuân theo đường lối 3 không đã cam kết với Trung Quốc. Không được liên minh quân sự với nước khác, không được cho nước khác đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam, không được dựa vào viện trợ của nước khác để chống Trung Quốc.
CSTQ có thể xỏ mũi được CSVN. Nhưng người dân Việt Nam đừng để CSVN tiếp tay cho CSTQ xỏ mũi mình. Xin thôi ngay việc tìm bằng chứng trong lịch sử xa xưa, nhưng hội thảo bàn về chủ quyền từ thời vài trăm năm trước, đó là việc làm chả đi đến đâu trong khi chính môn lịch sử ở Việt Nam còn đang khốn nạn. Hãy tập trung tìm những bằng chứng thời bây giờ ở các vụ xâm lược vũ trang, giết người cướp đất của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ năm 1974 đến nay. Hiện nay CSVN đang cố tình làm ngơ và không nhắc nhở gì đến những bằng chứng quý giá, thiết thực đó. Củng cố những tư liệu đó trước khi chúng bị CSVN xoá sạch phi tang hộ CSTQ. Trong các hội thảo quốc tế, các cuộc nói chuyện về chủ quyền biển Đông với quốc tế, chỉ cần trưng nhưng bằng chứng đẫm máu đó ra giá trị gấp ngàn lần những tấm bản đồ, chiếu nhà vua, sắc lệnh cổ xưa nào đó.
Làm thế, để quân xâm lược CSTQ nhận được thông điệp , dù chúng xỏ mũi được chế độ CSVN ngày nay. Nhưng không bao giờ chúng xỏ mũi được người dân Việt Nam đi theo hướng ” đấu tranh” mà chúng vạch ra như người ta xỏ mũi con trâu dắt đi theo hướng nào cũng được.
HÃY BÌNH TĨNH !
HÃY BÌNH TĨNH !
Một cô sinh viên đang ngồi trên xe buýt thì một bà già mang đủ thứ lỉnh kỉnh leo lên xe, miệng lẩm bẩm xô mạnh cô ra, ngồi chen vào ghế bên cạnh. Bất bình, anh thanh niên kế bên hỏi tại sao cô không phản kháng và bảo vệ quyền lợi của mình?!
Cô mỉm cười và trả lời:…
– Đâu cần phải cãi cọ vì chuyện nhỏ như thế, có đi chung với nhau lâu đâu!
Trạm tới, tôi xuống rồi.
Đây là một câu trả lời mà chúng ta nên xem như một “hướng dẫn bằng vàng” về cách cư xử hằng ngày ở khắp mọi nơi:
“ĐÂU CẦN PHẢI CÃI CỌ VÌ CHUYỆN NHỎ NHƯ THẾ!
CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU!”
Nếu ai cũng ý thức rằng cõi đời tạm nơi trần thế thật NGẮN NGỦI, cãi cọ tầm phào vừa mất vui, vừa mất thời gian và sức lực, thì ai cũng có thể dừng lại như cô gái trên.
Có ai làm mình tổn thương?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!
Có ai phản bội, ức hiếp, sỉ nhục mình?
Bình tĩnh, có đi chung với nhau lâu đâu!
Dù người ta có gây ra cho chúng ta buồn phiền gì chăng nữa, hãy nhớ rằng:
CÓ ĐI CHUNG VỚI NHAU LÂU ĐÂU!
Chúng ta nên ăn ở hiền lành.
Hiền lành là một đức tính không bao giờ đồng nghĩa với hèn nhát, nhu nhược, không có cá tính.
Hiền lành đồng nghĩa với CAO THƯỢNG.
Chuyến đi chung của chúng ta trong cõi đời tạm này NGẮN NGỦI lắm và không đi trở ngược lại được.
Không ai biết chuyến đi của mình dài bao lâu!
Không ai biết mình có phải xuống ở trạm tới hay không!
HÃY BÌNH TĨNH, CHUYẾN ĐI NGẮN LẮM!
S.T.
Âu châu ….Tới rồi !
Âu châu ….Tới rồi !Nguyễn thị Cỏ MayNhững làn sóng xâm nhập
Âu châu không chờ đợi người hồi giáo tới nhưng ngày nay họ đã tràn ngập một cách công khai và được luật pháp bảo vệ . Chánh phủ các nước Âu châu vẫn phải nói tiếng nói chánh thức đây là những người tỵ nạn chiến tranh ! Mặc dầu có suy nghĩ họ là những người hồi giáo xâm nhập để làm đạo quân thứ năm cho tương lai hay sẽ làm khủng bố thì cũng không dám nói ra điều đó . Chẳng những không dám nói mà thật lòng chánh phủ, nhứt là chánh phủ xã hội chủ nghĩa ở Pháp, cũng không muốn nói vì áp lực lá phiếu năm 2017 . Ý hệ tả phái bây giờ không còn gì khác hơn là bày tỏ « lòng thương người » .
Thực tế ai cũng thấy Libye đang sử dụng một thứ vũ khí mới mà đối phương không cách gì đở nổi « Tạo xáo trộn các nước Âu châu vùng Địa trung hải » nhằm ngăn chận Âu châu can thiệp quân sự ở Libye .
Tổ chức Nhà nước Hồi giáo vừa gởi Chánh phủ Ý một thông điệp « Nếu mấy người gởi quân tới Libye, chúng tôi sẽ gởi tới cho mấy người 500 000 người di dân tỵ nạn » .
Tổng trưởng Ngoại giáo Ý, ông Angelino Alfano, tuyên bố « Libye là ưu tiên của cộng đồng thế giới. Chúng ta sẽ phải đối phó với làn sóng người tràn ngập chưa từng có . Không để chậm một phút » .
Ý là nước đối đầu trực diện vói làn sóng hồi giáo tràn tới vì chỉ cách Libye có 350 km . Và người hồi giáo tràn vào Âu châu đang ở phía nam La –mã . Ý đang chịu áp lực nặng nề và có thể bị tấn công bất kỳ lúc nào .
Theo tin nghe được qua điện thoại của nhựt báo ý IL Messagero thì Nhà nước hồi giáo muốn sử dụng làn sóng người hồi giáo tỵ nạn như một vũ khí chiến tranh tâm lý chống Âu châu . Tàu ghe đã sẳn sàng ở duyên hải Libye để chất lên 500 000 hay cả 700 000 người chạy thẳng tới Ý, không người lái, để bắt buộc các chánh phủ phải cho người ra cứu vớt và đem vào bờ .
Năm 2011, trước khi bị lật đổ, nhà độc tài Kadhafi đã thách thức với chánh phủ các nước Tây phương « Chọn tôi hay chọn sự xáo trộn và khủng bố ? » .
Ngoài ra, cũng Kadhafi đã đưa ra lời dạy cho người hồi giáo « Ta chiếm lấy Âu châu từ từ, không bằng vũ khí, mà bằng tăng cực nhanh dân số hồi giáo ở đó » .
Trước sau, người hồi giáo vẫn tìm mọi cách thôn tính Âu châu, biến Âu chấu thành Âu châu hồi giáo .
Nhìn lại Pháp một thời
Ngày nay hồi giáo có tràn tới Pháp và Âu châu cũng là trở lại nơi chốn cũ một thời . Thật vậy, năm 714, lần đầu tiên người hồi giáo đã xâm chiếm nước Pháp vùng Narbonne, duyên hải phía Nam nước Pháp và nơi đây trở thành căn cứ của họ suốt 40 năm sau . Từ đây, họ tàn phá hết vùng Languedoc, tiêu diệt Nîmes, hữu ngạn sông Rhône kéo lên tới Sens . Tức họ chiếm cứ phân nửa nước Pháp phía Nam, ngày nay, hảy còn để lại dấu ấn địa danh, trước khi bị vua nước Pháp đẩy lui, phải tháo chạy về Tây-ban-nha (Espagne) . Tàn quân tập họp lại thành những băng đảng cướp bóc, bắt dân pháp thiến cho làm nô lệ, bắt phụ nữ đem về Bắc phi cho sanh đẻ hồi giáo con . Cứ như vậy, người hồi giáo đánh phá nước Pháp suốt hai thế kỷ .
Ngày nay, ở những thị xã ngoại ô Paris và những thành phố lớn, hồi giáo sống riêng rẻ theo từng tập thể với nhau . Có những nơi, cha mẹ không cho trẻ con tới trường học, không cho nói tiếng pháp .
Họ đòi nhà trương phải bỏ phần ăn thịt heo, tuy trẻ con hồi giáo có món ăn khác thay thịt heo . Hồ bơi, họ đòi dành rìêng cho phụ nữ hồi giáo ít nhứt một ngày trong tuần, … Vậy mà có không ít chánh quyền thị xã tuân hành . Cũng chỉ vì áp lực lá phiếu mà thị xã là cơ sở của bầu cử Quốc hội và Tổng thống .
Pháp chưa có được những người như Bà Thủ tướng Úc trước đây, như chánh quyền Québec ở Canada, hay cả TT Poutine về mặt ứng sử với Hồi giáo . Trong lịch sử, hồi giáo chiếm nước Pháp đã qua cách nay quá lâu nên chánh giới pháp khó nhớ lại !
Yêu sách và luật hồi giáo
Trong những đợt tràn qua Âu châu, những người hồi giáo tới Áo, đã bắt đầu yêu sách . Có 20 người tuyệt thực, với biểu ngữ, đòi hỏi chánh phủ Áo phải cấp cho họ mỗi người 2000 e mỗi tháng làm tiền túi . Còn nuôi ăn, nuôi ở, là chuyện khác . Chuyện vừa xảy ra ở thành phố Saint-Kanzian, phía Nam của Thủ đô Wien .
Báo chí Áo viết “ Cuộc khủng hoảng ở các nước hồi giáo làm bùng nổ phong trào di dân chạy qua Âu châu . Những di dân tỵ nạn mang ở họ nhiều bộ mặt, ngoài bộ mặt thất thần vì chạy trốn trên biển cả sóng gió, còn có bộ mặt hóng hách như kẻ có quyền mà các quốc gia đón nhận họ phải phục vụ họ ” .
Ngoài biểu tình, tuyệt thực, đòi họ phải được chánh phủ cấp cho họ mỗi người 2000 e tiền túi, hôm thứ ba vừa qua, họ còn tổ chức họp báo để nhằm vận động dư luận Áo ủng hộ .
Nhưng điều quan trọng hơn là người hồi giáo, dựa theo luật pháp của chế độ dân chủ tự do, họ bắt đầu đòi hỏi theo luật hồi giáo .Nhơn mùa lễ hội bia truyền thống của Đức, họ yêu cầu Đức hảy hủy bỏ lễ hội bia vì người hồi giáo bị cấm uống rượu . Họ không cần nhớ lại nước Đức, trong tuần qua và trước nhứt, vừa mở rộng vòng tay đón nhận di dân hồi giáo với số lượng khá lớn . Ngày mai này, khi họ tập trung đông đảo thì Âu châu sẽ thế nào ? Sẽ uốn mình theo yêu sách từng bước của hồi giáo hay giử bản sắc văn hóa truyền thống ?
Tên hồi giáo ở Hòa-lan, Morad Almuradi, đã tổ chức một cuộc vận động trên trang Change.org yêu cầu Hội đồng thành phố Munich hủy bỏ 16 ngày Hội bia Oktoberfest truyền thống của Đức .
Thư viết :” Thưa Hội đồng thành phố Munich,
Tôi viết tâm thư này để lôi kéo sự chú ý của các người về những vấn đề mà tôi và nhiều tín đồ Hồi giáo khác cảm thấy bất công.
Tôi muốn nói rằng lễ hội bia Oktoberfest là một sự phỉ báng và bài xích đạo Hồi. Chúng tôi đã cố không để tâm tới lễ hội, nhưng đã có quá nhiều những hành động mà chúng tôi cho rằng nó phi Hồi giáo như uống quá nhiều bia rượu, khỏa thân nơi công cộng, và nó ảnh hưởng đến chúng tôi.
Chúng tôi hiểu rằng Oktoberfest là lễ hội truyền thống của nước Đức, nhưng chúng tôi không thể chịu đựng được sự kiện mang tính phi Hồi giáo này, vì nó xúc phạm đến tất cả những người đạo Hồi trên thế giới.
Chúng tôi yêu cầu các người hủy bỏ lễ hội Oktoberfest ngay lập tức .
Chúng tôi cũng tin rằng lễ hội Oktoberfest cũng có thể ảnh hưởng đến những đồng đạo Hồi giáo tị nạn đến từ Syria, Iraq, Afganishtan. Hủy bỏ lễ hội Oktoberfest sẽ giúp họ rất nhiều trong việc ghi nhớ những giá trị truyền thống của đạo Hồi. Cảm ơn sự quan tâm của các người.
Chân thành,
Morad Almuradi “Lễ Hội Bia Oktoberfest 2015 bắt đầu ngày 19 / 09 và kết thúc ngày 04/ 10 là lần thứ 182 ở Thành phố Munchen, miền Nam nước Đức . Năm nào cũng vậy, Lễ Hội qui tụ hằng triệu triệu người tới từ khắp nơi trên thế giới . Người ta phải ở lều trại vì khách sạn đều hết chổ và phải đặt trước vài năm .
Lễ Hội Bia đúng là thứ mà người hồi giáo phải căm thù vì nó bao gồm đầy những thứ mà Kinh Coran cấm đoán, nguyền rủa như rượu, thịt heo, phụ nữ ngực trần, nhạc đồi trụy, thú vui vật chất, phóng túng, …
Vậy Lễ Hội Bia quả là một hiện tượng mặc nhiên chống hồi giáo nên hồi giáo không thể tha thứ được . Hôm nay, nhìn tên hồi giáo Morad Almuradi với kháng thư chỉ đáng là một trò cười nhưng đừng quên ngày mai này sẽ là một thực tế vì phong trào hồi giáo hóa u châu đang tiến hành dưới mọi hình thức, với mọi điều kìện và không nhân nhượng .
Thái độ ứng sử và yêu sách của người di dân hồi giáo ngày nay sẽ làm cho các nước Âu châu nhớ lại trước đây bốn mươi năm họ cũng đã từng mở rộng vòng tay nhơn đạo đón nhận những người Việt nam tỵ nạn trên những chiếc thuyền ọp ẹp, bỏ lại tất cả, chạy bán sống bán chết, trốn hiểm họa cộng sản . Nhưng chắc chắn, ở khắp nơi, người tỵ nạn cộng sản Việt nam đã không có thứ thái độ vô nghì, thiếu văn hóa như người hồi giáo ngày nay .
Ai hội nhập?
Tại sao người hồi giáo có những thái độ thiếu văn hóa như vậy ? Khi nói “thiếu văn hóa” là nói theo Tây phương và qua cái nhìn Tây phương . Người hồi giáo họ chỉ ứng xử bình thường theo văn hóa tôn giáo của họ . Họ không bao giờ trở thành người tây phương . Chỉ có người tây phương muốn yên thân thì hãy ứng sử như họ, tức trở thành hồi giáo . Bởi vì về các mặt như tôn giáo, xã hội, … người hồi giáo phải sống theo đúng kinh Coran qua lời dạy của giáo sĩ của họ .
Như ở Âu châu, luật pháp cấm đa thê, tôn trọng nhơn quyền thì luật hồi giáo (Coran) cho phép lấy chánh thức 4 vợ, còn nhiều hơn nếu có khả năng, đánh đập vợ, hành hạ vợ để dạy vợ theo ý của chồng, phải biết tùng phục chồng tuyệt đối .
Bất kỳ ở trên một nước dân chủ tự do nào không phải hồi giáo, người hồi giáo không thể vừa hồi giáo, vừa hội nhập hài hòa với xã hội đó . Dân chủ tự do là không bao giờ phù hợp với hồi giáo vì mọi người đều có quyền sống theo sự chọn lựa của mình .
Ngày nay, thảm nạn hồi giáo không chỉ ở Âu châu mà cả Huê kỳ . Những xứ sở càng dân chủ thì nơi đó sẽ là môi trường tốt cho hồi giáo tranh đầu để hồi giáo hóa .
Ứng cử viên Tổng thống Huê kỳ, ông Donald Trump, trong cuộc meeting hôm 17 tháng 9, đã phải tuyên bố một cách nghiêm trọng : “Chúng ta có một vấn đề tại đất nước này, đó là những người hồi giáo” .
Tây phương sẽ không tránh khỏi nạn hồi giáo hóa nếu những nhà chánh trị vẫn thấy thương lá phiếu hơn thương nước .
Trước đây, Việt nam mất nước chỉ vì người lãnh đạo chánh trị và quân sự lo nghĩ củng cố phe cánh cầm quyền, ít ai nặng lòng với đất nước . Dân chúng, phần lớn lo lợi dụng chiến tranh làm giàu cho mau, cũng chẳng có mấy ai nghĩ tới nước sẽ mất .
Mới thấy xưa nay, nước mất chỉ vì lòng dân không muốn giữ nước, chớ không vì quân giặc mạnh .Tội nghiệp cho nhơn loại vừa kịp thoát nạn cộng sản, nay lại phải đối diện với thảm họa hồi giáo . Riêng người Việt nam tỵ nạn cộng sản đang sống rải rác khắp nơi, nếu mai này phải chạy tỵ nạn hồi giáo, không biết sẽ đi đâu đây ?
Nguyễn thị Cỏ May
Giới luật sư vào cuộc
Giới luật sư vào cuộc
RFA
Trong thời gian hai tuần trở lại đây, xã hội Việt Nam đã được chứng kiến hai sự kiện chưa từng xảy ra liên quan tới hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam với giới luật sư. Sự việc đầu tiên, hai luật sư trần Thu Nam và Lê Văn Luân khi đi tới nhà thân chủ ở huyện Chương Mỹ, Hà Nội đã bị hành hung. Sự kiện thứ hai, luật sư Trần Vũ Hải, người sẽ bảo vệ cho hai đồng nghiệp luật sư vừa bị hành hung, đã bị nhà cầm quyền Việt Nam bắt giữ trái pháp luật, gây ra một cuộc biểu tình đòi người lớn nhất từ trước tới nay tại Hà Nội. Sự việc sau là hệ quả của sự việc trước, cộng với việc giới luật sư đã đồng lòng ký một kiến nghị thư đòi hủy bỏ quy định cấp giấy chứng nhận người bào chữa trong tố tụng hình sự và dân sự. Nhưng sự việc có lẽ có nguyên nhân từ việc luật sư Trần Thu Nam và luật sư Trần Vũ Hải ra thông báo trên trang face book cá nhân về một cuộc tuần hành của giới luật sư tới địa điểm gửi kiến nghị. Ngoại trừ vấn đề dự kiến tuần hành, tất cả các việc làm của các luật sư đều được giới luật sư và các luật sư đoàn các cấp ủng hộ. Như vậy có thể nói, giới luật sư đã vào cuộc, trong một công cuộc đòi hỏi công lý cho các cá nhân, nhưng lại là đại diện tiêu biểu của người dân đang bị nhà cầm quyền Việt Nam vi phạm nghiêm trọng các quyền con người.
Trước hết, chúng ta cần nhận định rõ, việc giới luật sư vào cuộc là việc bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền con người theo các quy định pháp luật hiện hành, bằng chính các thủ tục tố tụng và các quy định luật pháp. Giới luật sư, sẽ bảo vệ công lý thông qua các vụ việc bảo vệ thân chủ, là người dân bình thường, hoặc chính các luật sư bị vi phạm, bị xâm phạm các quyền con người. Sự việc này trở thành sự kiện quan trọng chỉ bởi vì đối tượng vi phạm, xâm phạm các quyền con người lại là bộ máy hành pháp của nhà cầm quyền Việt Nam, đặc biệt hơn, lại là lực lượng công an, quyền lực bao trùm lên tất cả và đang trở thành lực lượng kiêu binh trong xã hội. Nhận thức này cũng sẽ loại trừ ngay từ đầu những luận điệu xuyên tạc, vu khống, bôi nhọ và bóp méo mục đích, mục tiêu mà những luật sư có lương tri đã và đang dấn thân. Họ không hề có ý định, hoặc thực hiện việc gây rối, hay âm mưu lật đổ chế độ, mà chỉ thực hiện quyền công dân, quyền hành nghề luật sư để bảo vệ thân chủ hoặc tự bảo vệ nhau. Sự vào cuộc của giới luật sư, và công cuộc đấu tranh sắp tới của họ sẽ rất quyết liệt và gian truân bởi nhà cầm quyền hoàn toàn ý thức được từ trước tới nay chưa có lực lượng nào phản kháng lại có tổ chức và nắm vững pháp luật như họ.
Trong công cuộc bảo vệ công lý, bảo vệ các quyền con người theo hiến pháp và pháp luật hiện hành ở Việt nam hiện nay, giới luật sư có rất nhiều sự ủng hộ cũng như các điều kiện thuận lợi.
Thứ nhất, quá trình đấu tranh của giới luật sư chính là quá trình tác nghiệp của họ, được luật pháp bảo vệ, được dư luận xã hội tôn trọng và ủng hộ. Cùng họp bàn nhau để đòi lại đồ đạc bị thu giữ bất hợp pháp, hoặc viết đơn kiện vi phạm quyền con người nếu là những người đấu tranh cho nhân quyền, dân chủ thực hiện sẽ bị theo dõi, quấy phá và ngăn chặn. Nhưng nếu là các luật sư thực hiện các việc đó, sẽ rất khó hoặc không thể ngặn chặn, quấy phá bởi lý do giản dị là họ đang tác nghiệp.
Thứ hai, giới luật sư nắm rõ luật pháp, quy trình, thủ tục tố tụng, các quy phạm pháp luật nên nhà cầm quyền không thể hành xử trái pháp luật, sai quy trình, quy định. Nếu cố tình thực hiện (như hai vụ vừa qua) thì xã hội sẽ lên án quyết liệt.
Thứ ba, công cuộc đấu tranh của các luật sư được toàn xã hội ủng hộ, cổ vũ. Sự ủng hộ nhiệt thành và tức thời là sức mạnh tinh thần động viên, nâng đỡ giới luật sư. Mạng Internet và mạng xã hội facebook đã và đang thực hiện tốt chức năng kết nối thông tin cũng như ủng hộ cho cuộc đấu tranh chính nghĩa của giới luật sư. Hơn thế nữa, phong trào dân chủ Việt Nam luôn sát cánh bên các luật sư bất kể đêm ngày hay mưa nắng. Cuộc biểu tình đòi người của người dân hôm 12/11 vừa qua đã chứng tỏ giới luật sư không hề đơn độc trong công cuộc đấu tranh hết sức ý nghĩa này.
Một xã hội mà giới luật sư bảo vệ thân chủ theo đúng pháp luật hiện hành đã gặp muôn vàn khó khăn, thách thức chỉ chứng tỏ xã hội đó không hề tôn trọng pháp luật. Tuy vậy, thói quen chà đạp lên pháp luật, vi phạm nghiêm trọng quyền con người của nhà cầm quyền Việt Nam đang gặp thách thức thật sự khi giới luật sư vào cuộc. Cuộc tranh đấu mới chỉ bắt đầu, nhưng giới luật sư sẽ có sự ủng hộ của toàn xã hội, của chính nghĩa chắc chắn sẽ cùng nhân dân giành được thắng lợi cuối cùng./.
Hà Nội, ngày 13/11/2015
N.V.B
CHẾT LÀ KẾT CỦA SỐNG
Tác giả: Lm. JB Nguyễn Minh Hùng
CHÚA NHẬT XXXIII THƯỜNG NIÊN NĂM B
Cách đây chừng hơn một tháng, tại giáo xứ mà trước đây, tôi đã từng hiện diện và phục vụ, người phụ nữ vừa tròn 62 tuổi, là một tín hữu trung thành với đức tin, đột ngột tử nạn.
Nhà bà gần sát bên tường nhà thờ. Buổi chiều đã chập choạng tối, bà có ý định sang bên kia đường. Bỗng dưng hai thanh niên chở nhau trên chiếc xe máy với tốc độ cao, đã tông vào bà, lôi bà đi thêm một khoảng về phía nhà thờ. Bà qua đời ngay trước cổng chính nhà thờ, ngay giữa con đường lớn.
Cái chết bất ngờ ập đến trên người phụ nữ, đã làm nỗi đau của gia đình và mọi người thân trở thành nỗi đau nát lòng, nỗi đau đầy nghẹn ứ. Với bản thân, vì sự quý mến, khiến tôi không khỏi bàng hoàng lặng người đi, khi được báo tin.
Dẫu biết sống là để chết. Và chết là kết của sống. Chết là tất yếu của một kiếp làm người. Ai cũng có thể chết, bất luận là người yếu đau hay khỏe mạnh, người giàu sang hay bần cùng.
Nhưng đứng trước một cái chết quá nhanh, một cái chết giữa lúc con người còn mọi khả năng hoạt động, mọi khả năng thực hiện những ước muốn của mình, lòng chúng ta không sao tránh khỏi những thổn thức…
Chúng ta hay nói tương lai của tôi sẽ là…, tương lai con tôi sẽ như thế này…, tương lai vợ tôi, chồng tôi sẽ đạt thế kia… Ít ai nói cái chết là tương lai đời mình. Nhưng thật phủ phàn: Chính cái chết mới thật là tương lai! Dù chết cách nào, mọi người đều chung một tương lai: chết. Chết là kết của sống. Chết là chung kết của một thời làm người.
Chúa nhật hôm nay, Chúa nhật áp cuối của năm phụng vụ. Qua phụng vụ Lời Chúa, Hội Thánh dạy chúng ta hướng về sự chết. Thời gian cuối năm là thời gian cần để chúng ta nhìn ra phía trước hướng về ngày cuối cùng của vũ trụ. Nó cũng là thời gian thích hợp để nghĩ đến giây phút cùng tận của đời mình, mà chuẩn bị cho một chuyến đi không bao giờ trở lại cách tươm tất, đàng hoàng.
Bài đọc I, sách tiên tri Đaniel cho biết tình hình của ngày phán xét chung. Đó là ngày mà những người đã chết sẽ trỗi dậy, “người thì để hưởng phúc trường sinh, kẻ thì để chịu ô nhục và bị ghê tởm muôn đời”.
Trong Tin Mừng, Chúa Giêsu cũng nhấn mạnh đến ngày mà Chúa sẽ ngự đến đầy vinh quang, uy hùng, hiển hách. Đó là ngày mà “Con Người đầy quyền năng và vinh quang ngự trong đám mây mà đến”, ngày mà “Người sẽ sai các thiên thần đi, và Người sẽ tập họp những kẻ Người tuyển chọn từ bốn phương trời về, từ đầu mặt đất cho đến cuối chân trời”.
Thánh Phaolô cũng từng diễn tả sự khải hoàn của Chúa Kitô trong “ngày của Người”. Đó là ngày Thiên Chúa “đưa thời gian tới hồi viên mãn là quy tụ muôn loài trong trời đất dưới quyền một thủ lãnh là Đức Kitô…Thiên Chúa đặt mọi sự dưới chân Đức Kitô” (Ep 1, 10.22),
Phần chúng ta, để tránh “chịu ô nhục” và “bị ghê tởm”, nhưng được “hưởng phúc trường sinh”, ta cần chọn lựa một lối sống theo Tin Mừng của Chúa. Đó là trọn một đời, ta nỗ lực sống đẹp lòng Chúa, sống phù hợp luật pháp của Chúa, phù hợp thánh ý Chúa.
Trước mọi quyết định, mọi hành vi, mọi tư tưởng, mọi lời nói…, ta cần tự hỏi, điều này có được phép không? Có phù hợp thánh ý Chúa không? Nếu không phù hợp, dù có phải trả bất cứ giá nào, ta cũng không bao giờ chạm đến. Nhưng nếu đó là điều đúng, mang lại giá trị cứu độ, thì dù phải chết, ta vẫn không được bỏ qua.
Hãy nhớ, cái chết không trừ ai. Bởi nó là kết của sống, cho nên sống là chạy về phía chết. Ngay trong sự sống đã chất chứa, đã tìm ẩn sự chết. Chết có trong sống, vì thế sự sống mới trở nên mong manh, yếu ớt. Cũng vì thế, bất cứ lúc nào, sự sống cũng đều có thể bị cắt đứt, bị sự chết cướp mất.
Quá khứ đi qua là cái chết đang gần đến. Bề dày thời gian và tuổi tác của một con người, là phần chết đã dày thêm lên, đã càng lúc càng xâm chiếm sự sống trong con người ấy. Bởi thế, được sống thêm ngày nào là ngày ấy đưa con người đến gần cái chết hơn. Được sống thêm một ngày, đồng nghĩa với việc chúng ta đánh rơi thêm một ngày trong quỹ thời gian của mình. Thời gian cứ thế sẽ vơi. Cho đến một ngày, không còn gì để vơi… Lúc đó chính là lúc chúng ta chấp nhận bỏ lại tất cả…
Dù chết là kết của sống, ta không bi quan, không sợ hãi. Ngược lại, sự sống càng mong manh, con người càng phải can đảm nhìn trực diện nó để mang về chiến thắng cho mình. Chuẩn bị đón cái chết trong từng giây phút sống là sự khôn ngoan của những ai biết mình phải chết.
Chúa Giêsu dạy chúng ta thái độ khôn ngoan ấy: “Anh em hãy canh thức, vì anh em không biết ngày nào Chúa của anh em đến” (Mt 24, 42). Và: “Anh em phải đề phòng, chớ để lòng mình ra nặng nề vì chè chén say sưa, lo lắng sự đời… Anh em hãy tỉnh thức và cầu nguyện luôn, hầu đủ sức thoát khỏi mọi điều sắp xảy đến và đứng vững trước mặt Con Người” (Lc 21, 34-36).
Thánh Phaolô đưa ra những hướng dẫn để ta sống một đời công chính, nhờ đó, niềm hy vọng đạt tới ơn cứu độ luôn luôn có cơ sở, có nền tảng: “Thưa anh em, vì Thiên Chúa thương xót chúng ta, tôi khuyên nhủ anh em hãy hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là cách thức xứng hợp để anh em thờ phượng Người. Anh em đừng có rập theo đời này, nhưng hãy cải biến con người anh em bằng cách đổi mới tâm thần, hầu có thể nhận ra đâu là ý Thiên Chúa: cái gì là tốt, cái gì đẹp lòng Chúa, cái gì hoàn hảo” (Rm 12, 1-2).
Những cái chết của anh chị em ra đi trước chính là lời nhắc nhở thâm thúy nhất, sâu lắng nhất, nhưng cũng hiện thực nhất, cụ thể nhất, để chúng ta chuẩn bị cho giờ chết của mình.
Người nữ giáo dân vừa chết trong tai nạn giao thông mà chúng ta nhắc đến bên trên, chỉ là một trường hợp trong vô vàn trường hợp đã từng xảy ra trong cuộc đời. Chúng ta cầu nguyện cho bà, cầu nguyện cho tất cả những người đã qua đời, xin Chúa, vì lòng xót thương, hãy trao ban hạnh phúc muôn đời cho tất cả những ai trung thành sống lề luật Chúa.
Nhưng trong khi cầu nguyện cho người đã khuất, chúng ta cũng nhớ đến phận mình. Rồi đây không ai sẽ mãi mãi hiện diện trên cõi đời này. Chúng ta xin Chúa cũng tha thứ những lỗi lầm của chúng ta. Xin Chúa đừng chấp tội, nhưng hãy nhìn vào thiện chí muốn sống đẹp lòng Chúa của chúng ta mà khoan hồng cho những gì chúng ta trót lỗi phạm.
Hãy luôn luôn nhớ: Chết là kết của sống!
Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG
LÀM VIỆC NHỎ VỚI MỘT TÌNH YÊU LỚN
LÀM VIỆC NHỎ VỚI MỘT TÌNH YÊU LỚN
(Suy niệm Tin Mừng Mác-cô (12, 41-44) trích đọc vào Chúa Nhật 32 thường niên)
Chúa Giê-su quan sát những người bỏ tiền dâng cúng cho đền thờ. Người thấy có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo bỏ vào hòm tiền hai đồng xu nhỏ, nhưng đó là tất cả những gì bà có để nuôi thân. Lễ vật của bà tuy bé mọn nhưng gói ghém rất nhiều tình yêu. Chính vì thế, Chúa Giê-su cho rằng bà goá nầy đã dâng cho Thiên Chúa nhiều hơn tất cả những người khác, vì tuy họ bỏ nhiều tiền nhưng không nhiều tình yêu.
Giá trị của một món quà
Đối với Chúa Giê-su, giá trị của món quà không tuỳ vào giá mua của món quà đó nhưng tuỳ vào mức độ yêu thương mà người cho đặt vào trong món quà.
Nếu có ai đó nài xin ta một số tiền mà ta chẳng muốn cho. Nhưng vì người ấy cứ nài nỉ mãi khiến ta bực mình nên cuối cùng, để tống cổ người đó đi, ta đem cả cọc tiền lớn, bực bội ném cho người ấy và nói: “Tiền đây! Lải nhải hoài!” Chắc chắn người kia, dù nghèo thiếu đến mức nào đi nữa, sẽ quay mặt bỏ đi, mang theo một mối căm hờn.
Trái lại, khi đứa con nhỏ trong nhà muốn mừng kỷ niệm hôn phối ba mẹ mà chẳng có gì để dâng, em lặn lội vào rừng ngắt một bông hoa dại nhỏ bé, đem về dâng lên ba mẹ với tất cả tình yêu thương. Chắc chắn ba mẹ em rất cảm động vì cảm nhận được nhiều yêu thương chứa đựng trong món quà bé nhỏ nầy.
Điều làm đẹp lòng Thiên Chúa không phải là dâng cho Ngài nhiều món quà lớn nhưng là dâng tình yêu lớn. Dâng cho Thiên Chúa những món quà lớn hay những thành quả to lớn mà thiếu vắng tình yêu, thì lễ vật đó sẽ trở thành rỗng không và chẳng có giá trị gì.
Thánh Phao-lô tông đồ, trong thư gửi tín hữu Cô-rinh-tô, từng khẳng định cách mạnh mẽ điều nầy: “Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì. Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.” (I Cr 13, 1-3)
Làm việc nhỏ với một tình yêu lớn
Mẹ Tê-rê-xa Calcutta cảm nhận sâu sắc bài học trên đây của Thánh Phao-lô nên Mẹ không chủ trương làm những công việc to lớn, nhưng thường xuyên làm những việc nhỏ với tình yêu lớn. Trong bức thư gửi cho Đức Cố Hồng Y Fx. Nguyễn Văn Thuận, Mẹ Tê-rê-xa viết: “Điều đáng kể không phải là số lượng công việc ta làm, nhưng là mức độ tình yêu mà ta đặt vào trong mỗi công việc.” Thế nên, khi tiếp xúc với bất cứ ai, Mẹ Tê-rê-xa đem hết lòng yêu thương người ấy như thể đó là người duy nhất trên đời trong giây phút đó.
Cảm hứng từ bức thư trên đây của Mẹ Tê-rê-xa Calcutta, Đức Cố Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận viết: “Kinh nghiệm đó đã củng cố trong tôi ý niệm là phải sống mỗi ngày, mỗi phút giây của cuộc đời ta như là phút giây cuối cùng…”
Và ngài quyết tâm thực hiện từng công việc nhỏ bé hằng ngày, từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với tình yêu lớn và biến những phút sống hiện tại thành những giây phút đẹp nhất cuộc đời, như ngài viết: “Mỗi chữ, mỗi cử chỉ, mỗi cú điện thoại, mỗi quyết định… phải là những phút giây đẹp nhất đời ta. Chúng ta phải thương yêu mọi người, chúng ta phải tươi cười với mọi người mà đừng đánh mất một giây phút nào.” (Đức Cố Hồng Y Fx Nguyễn Văn Thuận)
Lạy Chúa Giê-su,
Xin cho chúng con cố gắng thực hiện từng công việc bé nhỏ và từng cuộc tiếp xúc hằng ngày với một tình yêu lớn.
Hy vọng khi những hy lễ bé nhỏ nầy được dâng lên cho Chúa mỗi ngày, Chúa cũng sẽ rất hài lòng với lễ vật của chúng con như Ngài đã đánh giá cao lễ mọn của bà góa nghèo năm xưa trong Đền Thờ Giê-ru-sa-lem.
Linh Mục Inhaxiô Trần Ngà
TIN MỪNG Mác-cô 12, 41-44
Đức Giê-su ngồi đối diện với thùng tiền dâng cúng cho Đền Thờ. Người quan sát xem đám đông bỏ tiền vào đó ra sao. Có lắm người giàu bỏ thật nhiều tiền. Cũng có một bà goá nghèo đến bỏ vào đó hai đồng tiền kẽm, trị giá một phần tư đồng xu Rô-ma. Đức Giê-su liền gọi các môn đệ lại và nói: “Thầy bảo thật anh em: bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết. Quả vậy, mọi người đều rút từ tiền dư bạc thừa của họ mà đem bỏ vào đó; còn bà này, thì rút từ cái túng thiếu của mình mà bỏ vào đó tất cả tài sản, tất cả những gì bà có để nuôi sống mình.”
Tác giả: Lm. Inhaxio Trần Ngà
Hai Bà Trưng đánh giặc nào?
Hai Bà Trưng đánh giặc nào?
Trước ngày nhập học, cháu gái tôi hầu như không rời mấy cuốn SGK còn thơm mùi giấy mới. Đang đọc say sưa bỗng nó chạy đến bên tôi, chỉ vào bài tập đọc Hai Bà Trưng (Tiếng Việt 3, tập 2, trang 4, 5) nói ông ơi, cháu đọc hoài mà vẫn không hiểu Hai Bà Trưng đánh giặc nào.
Biết ngay “mặt mày” kẻ xâm lược nhưng nghĩ con bé đọc lớt phớt nên không nắm được nội dung, tôi chưa vội chia sẻ mà tranh thủ dạy cho cháu cách đọc sách. Rằng phải đọc từ từ cho thấm, kết hợp đọc với suy nghĩ, đừng đọc theo kiểu lấy được, lướt con mắt cho xong… Giờ cháu đọc lại đi. Làm gì có chuyện viết về khởi nghĩa Hai Bà Trưng mà không nêu đích danh giặc ngoại xâm.
Con bé nhăn mặt nói cháu đọc kỹ lắm rồi, vẫn không biết hai Bà đánh bọn xâm lược nào. Tôi nhổm dậy, cầm quyển sách, giương mục kỉnh lên. Và chợt ngớ ra: Lời con trẻ đúng quá. Bài học tuyệt không một chữ nào vạch mặt chỉ tên kẻ cướp mà toàn những danh từ nhợt nhạt, mập mờ, chung chung: tướng giặc, quân thù, giặc ngoại xâm, kẻ thù, quân xâm lược.
Viết về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc (năm 40 – 43) gắn với tên tuổi Hai Bà Trưng lừng lẫy nhưng SGK không hề dám nửa lời chỉ đích danh bọn xâm lược. Thậm chí cụm từ có tính hàm ngôn “phương Bắc” sách cũng không dám đặt sau cụm từ “kẻ thù”.
Vì sao SGK không cho các cháu biết quân giặc nào đã bắt tổ tiên của chúng lên non tìm ngà voi, xuống biển mò ngọc trai, để phải làm mồi cho hùm beo, thuồng luồng, cá sấu?
Vì sao SGK không cho các cháu biết giặc ngoại xâm nào đã khiến “lòng dân oán hận ngút trời”?
Và vì sao SGK không nói rõ cho các cháu biết Hai Bà Trưng đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi quân xâm lược nào, chúng từ đâu đến?
Cốt lõi của lịch sử là sự thật. Mỗi dòng lịch sử nước ta đều được viết bằng mồ hôi và máu của nhiều thế hệ. Nên có thể nói mỗi trang sử là một mảnh hồn thiêng sông núi. Không thể chấp nhận bài học lịch sử… nửa vời với cách trình bày ngắc ngứ, lấp lửng, loanh quanh, thiếu minh bạch, nếu không muốn nói là né tránh, bưng bít như thế.
Ở Lạng Sơn từng xảy ra chuyện tấm bia kỷ niệm chiến thắng của bộ đội ta bị đục bỏ những chữ điểm tên chỉ mặt quân thù. Người ta đã đổ thừa cho mưa nắng, cho sức tàn phá của thời gian. Còn với SGK Tiếng Việt 3, người làm sách đổ thừa như thế nào? Người lớn sao lại làm khuất lấp tên tuổi kẻ thù của Hai Bà Trưng để trẻ con phải băn khoăn? Thật khó giáo dục HS niềm tự hào, lòng yêu nước khi SGK đã thiếu công bằng, thiếu trung thực đối với lịch sử.
Trong lúc hy vọng bài học này sẽ được các nhà làm sách trả lại sự phân minh trắng đen sòng phẳng, tôi phải nói ngay trước đôi mắt mở to của cháu tôi rằng bọn giặc xâm lăng nước ta bị Hai Bà Trưng đánh không còn manh giáp chính là giặc Hán (Trung Quốc).
Theo Trần Cao Duyên(Thanh Niên)
Một Bông Hồng Cho H.O. 25 Năm Họp Mặt.
Một Bông Hồng Cho H.O. 25 Năm Họp Mặt.
Ghi Nhanh: Phạm Gia Đại
Lần đầu tiên một chương trình mang tính cách quy mô về những người cựu tù nhân chính trị đã được tổ chức tại Quận Cam trong vùng Little Saigon, nam California: đó là H.O 25 Năm Họp Mặt. Theo như Ban Tổ Chức (BTC) đã phổ biến từ nhiều tháng qua, đây là cơ hội họp mặt của các cựu tù nhân chính trị sau 25 năm định cư tại Mỹ, nhưng thực tế chương trình này xứng đáng được mệnh danh là Đại Hội H.O. Toàn Cầu vì rất nhiều H.O và gia đình không những đã đến từ những tiểu bang khác mà còn đến từ những quốc gia khác, và xa nhất là Úc Châu. Sự kiện này được phổ biến sâu rộng trên toàn quốc Hoa Kỳ và các quốc gia khác, chính nhờ vào mạng lưới truyền thông mà SBTN đóng một vai trò trọng yếu.
Chương trình bao gồm ba ngày liên tiếp: Thứ Bẩy, 7-11-2015: Tri Ân các Quân Dân Cán Chính VNCH đã bỏ mình vì Chính Nghĩa Quốc Gia trong cuộc chiến Quốc-Cộng vừa qua tại Đài Chiến Sỹ Việt-Mỹ tại thành phố Westminster, Nam California. Ngày Họp Mặt chính là Chủ Nhật 8-11 tại Sea Food Palace II Restaurant; và ngày Thứ Hai 9-11 là chương trình thăm viếng cố TT Ronald Reagan.
Mới sáng sớm Chủ Nhật 8-11-2015 lúc 10 giờ tại nhà hàng Sea Food Palace II tại thành phố Westminster đã có tới 500 người tề tựu trong và ngoài nhà hàng. Con số quan khách tham dự theo BTC cho biết đã khóa sổ trước ngày tổ chức một tháng là 600 người. Tuy nhiên một sự kiện không ngờ và ngoài dự trù là số lượng các gia đình H.O và quan khách vẫn tiếp tục đến và đưa con số lên trên 700 người. BTC đã rất vất vả trong suốt một tiếng đồng hồ, nhưng nhờ có sự hợp tác của nhà hàng, và cũng nhờ nhà hàng có một hệ thống freezer dự trữ trước, nên cuối cùng khi chương trình được khai mạc, con số chính thức tham dự đã lên đến 770 người mà thành phần chính là gia đình H.O và các hậu duệ cùng quan khách và một số thân hữu, tất cả ngồi kín nhà hàng không còn một chỗ. Con số 770 là một con số đáng tự hào cho BTC nhưng đó cũng chỉ là một số lượng nhỏ bé đại diện cho gần ba trăm nghìn gia đình H.O đã tìm được tự do, và con cháu của họ đã tìm thấy tương lai nhờ vào chương trình nhân đạo Humanitarian Operation (H.O) này của chính phủ Hoa Kỳ. Hầu như tất cả các cơ quan truyền thông báo chí tại Quận Cam đều có mặt làm phóng sự về một tổ chức có ý nghĩa để kỷ niệm một phần tư thế kỷ những người cựu tù nhân chính trị và gia đình họ đã rời bỏ quê hương VN qua định cư tại Mỹ.
Chương trình khai mạc với phần nghi lễ Chào Cờ trang trọng với đoàn rước Quốc Kỳ Mỹ-VNCH với các H.O trong quân phục Biệt Động Quân, TQLC, Không Quân, Thủ Đức. Ngay sau đoàn quân và sát sân khấu là tấm biểu ngữ H.O 25 Năm trên nền hai lá cờ Vàng Ba Sọc Đỏ và lá Cờ Sao & Sọc. Tấm biểu ngữ H.O 25 Năm lung linh nằm giữa hai lá Cờ trong suốt buổi lễ như tượng trưng cho tinh thần bất khuất của những Quân Dân Cán Chính VNCH – những người đã nằm xuống, và niềm kiêu hãnh của những người đã sống sót sau bao nhiêu năm bị tra tấn, biệt giam, và lưu đầy, sau ngày Miền Nam sụp đổ 30-4-1975, trong hàng trăm trại giam giết người mọc lên như nấm khắp nước, mà Cộng Sản VN đánh lừa thế giới bằng danh xưng các trại “Tập Trung Cải Tạo”. Những con người H.O đang hiện diện trong nhà hàng bao gồm những người ít nhất trên ba năm trong trại lao tù, cho đến 10 năm và những người tù cuối cùng ra khỏi trại giam CSVN là 17 năm. Theo anh Phan Tấn Ngưu, khi chương trình H.O khởi động tháng 1-1990, những người tù cuối cùng này vẫn còn đang bị giam giữ vì Hà Nội còn muốn áp lực Hoa Kỳ phải chi thêm tiền thì mới thả nốt 20 người cuối cùng – và họ đã ra đi theo một chương trình đặc biệt gọi là Z-05, nằm trong chương trình H.O.
Một số trong BTC là những anh chị H.O quen thuộc trong cộng đồng tại Quận Cam như chị Hạnh Nhơn, chị Thanh Thủy (Thiên Nga), anh Nguyễn Phán, chị Bích Huyền, các hậu duệ như Đỗ Tân Khoa, Uyển Diễm, v.v.. Hai MC Đỗ Tân Khoa và Uyển Diễm đã thành công trong vai trò khó khăn điều hợp một chương trình súc tích. Theo Trưởng BTC Nguyễn Phán, một cựu tù 13 năm, cho biết thì mục đích của H.O 25 Năm Họp Mặt lần này là để cho các bạn cựu tù năm xưa từ khắp các miền đất nước tụ hội về đây gặp nhau sau phần tư thế kỷ. Cũng nhân dịp này vinh danh các ân nhân của chương trình H.O như cố TT Ronald Reagan, cha đẻ của chương trình này; cựu Đại Tướng John Vessey và cố Thứ Trưởng Robert Funseth – những người đã nhiều năm thương thuyết với Hà Nội để CVVN chấp thuận hết các điều khoản; bà Khúc Minh Thơ, Hội Cựu Tù Nhân Chính Trị, và nhiều ân nhân khác đã không thể đến tham dự được. Bà Khúc Minh Thơ được mời lên sân khấu, bà nói lên niềm vui mừng của bà ngày trước khi chương trình H.O được thành hình, và niềm xúc động và vinh dự của bà hôm nay được đón tiếp ân cần và chu đáo. Bà kể lại những giây phút cuối bà ở bên cạnh ông Funseth, một con người mà khi lâm chung vẫn còn mang trong lòng một tình cảm to lớn bao la dành cho các cựu tù nhân chính trị của chương trình H.O, những người mà ông Funseth xem như anh hùng. Điểm đau buồn là ân nhân Reobert Funseth đã ra đi đúng 44 ngày trước chương trình tổ chức Họp Mặt H.O 25 năm hôm nay, nhưng có người cháu gái của ông và chồng là bà Sarah Funseth và Todd đã có mặt. Bà Sarah cho biết bà rất xúc động khi nhận được vinh dự này vì chú của bà cũng chính là người thầy từng hướng dẫn cho bà; và bà tin rằng hôm nay ông Funseth cũng nhận thấy điều đó và ông cũng đã đến và có mặt tại đây với chúng ta.

Đại hội họp mặt H.O sau 25 năm đã thành công ngoài sự mong ước. Trước hết là số lượng người tham dự 770, một số đáng kể mà BTC đã đạt được. Thứ hai là chương trình đã vinh danh được những Quân Dân Cán Chính đã vị quốc vong thân; và vinh danh cả những ân nhân Việt-Mỹ đã quá vãng hay còn đang sống, kể cả các thân nhân của các cựu tù nhân chính trị: Các mẹ, anh em, con cháu, và nhất là các bà vợ tù đã lặn lội qua rừng sâu núi thẳm, gom hết cả tàn lực và số tiền ít ỏi kiếm được để đến tận các trại giam từ Ải Nam Quan cho đến Mũi Cà Mau để thăm và cứu những người tù – nhờ đó mà họ còn sống và có mặt ngày hôm nay. Những bông hoa Hồng thắm đã được các anh H.O thân thương trao tặng cho chính vợ mình và cũng là ân nhân của mình. Nhiều chị đã không cầm được giọt nước mắt; bởi vì các anh ra khỏi được trại giam sắt máu của Cộng Sản đã là một điều kỳ diệu, nhưng lại đem được vợ con qua miền đất Tự Do theo chương trình H.O để làm lại cuộc đời, trên cả điều kỳ diệu thì phải là phép lạ. Điểm thứ ba là chương trình văn nghệ chọn lọc với các bài hát nói lên tình yêu quê hương, tình chiến hữu, và quê hương tan tác sau ngày CSVN chiếm Miền Nam, các họat cảnh về VC khủng bố phá hoại và các chiến sỹ QLVNCH che chở dân lành đã được tán thưởng với nhiều tràng pháo tay. Ngoài ra, các ca sỹ đã thành danh như Huỳnh Phi Tiễn, Diễm Liên, là hậu duệ của H.O. đã trình bầy các bài hát tặng cho các bác cô chú H.O. Còn một số đông các ca sỹ hậu duệ khác phải đi luân diễn xa tại Châu Âu hay Miền Đông Hoa Kỳ đã không về kịp như Như Quỳnh, Thế Sơn; hoặc thân hữu như Phương Hồng Quế đã tỏ ý rất tiếc không tham dự được dịp hội ngộ H.O này.
Sau phần tư thế kỷ, các gia đình H.O đã bước vào thời kỳ ổn định với các anh chị H.O đã vào tuổi hưu trí và các con cháu của họ đã trưởng thành, đã thành công và thành danh trên khắp thế giới. Sau bao biển dâu, biển đổi sao dời, các sỹ quan dân quân cán chính VNCH năm nào còn chiến đấu chống Cộng, năm nào nước mất nhà tan bản thân họ vụt sa vào tù đầy trong những nhà giam khủng khiếp nhất của Cộng Sản trên hành tinh này; hàng ngàn người đã nằm xuống, nhưng hàng ngàn người vẫn đứng vững và con cháu họ, nhưng H.O đang là những nhân tài cho xã hội Hoa Kỳ. Điều này chứng minh âm mưu thâm độc của Cộng Sản tại VN muốn tàn sát hết các người trong chế độ cũ VNCH và gia đình họ đã hoàn toàn thất bại. Giờ đây những cựu tù nhân chính trị, các anh chị H.O. có thể tự hào mình đã sống sót ra khỏi những trại giam tầng đầu địa ngục, đã đem được gia đình mình qua miền đất hứa nhờ vào tấm lòng nhân đạo của người Mỹ, và con cháu anh chị là những niềm vui và hãnh diện của chính anh chị ngày hôm nay.






























