Tại sao du học sinh không về nước?

Tại sao du học sinh không về nước?
Nguoi-viet.com

 

Ngô Nhân Dụng

Nếu chỉ nhìn vào con số tiền bạc tự động chảy vào Việt Nam mà không cần bán gì hết thì ai cũng mừng. Tổng số tiền ngoại quốc đổ vào trong nước trong năm 2015 sẽ lên đến 13, 14 tỷ Mỹ kim. Tính trung bình mỗi người Việt Nam ở nước ngoài gửi về nước gần 3000 đô la; mỗi người dân trong nước được hơn 150 đô la!

Trong mấy chục năm nay tiền từ người Việt ở nước ngoài chảy vào trong nước, nhưng trong cùng thời gian đó, nước Việt Nam đã mất một thứ còn quý hơn nữa, là con người, đặc biệt là những người có khả năng. Ngay sau khi chế độ Cộng Sản được đem vào miền Nam, những đợt vượt biển, ra đi tìm tự do đã là một cuộc “xuất não” lớn. Nhưng đáng lo cho đất nước hơn nữa là đến nay những du học sinh Việt Nam ra nước ngoài phần lớn đã chọn không trở về. Mỗi người chọn “ở lại” là nước Việt mất một người.

Báo mạng trong nước đang nói rất nhiều về trường hợp anh Ðỗ Lâm Hoàng, một sinh viên du học tại Úc đã chọn ở lại sau khi tốt nghiệp. Tâm sự của anh Hoàng có thể coi là tiêu biểu cho hầu hết các du sinh Việt Nam đang học ở Mỹ, ở Châu Âu, CANADa hay ở Úc, vân vân, đã hoặc đang phân vân muốn “chọn ở lại.”

Ðỗ Lâm Hoàng được chú ý vì anh đã chiếm giải nhất trong cuộc thi tài Olympia. Anh được thưởng 35 ngàn Mỹ kim, rồi sau 10 tháng được học bổng của một đại học Australia, nước Úc, trị giá trăm ngàn Mỹ kim nữa. Những năm sống trong môi trường đại học nước Úc, anh dần dần học được nhiều điều mới trong cách sống: “…tôi được dạy rằng, trong công việc muốn gì thì nói thẳng ra và đối xử bình đẳng với nhau trong công việc. Chúng tôi được đào tạo để đối diện và chịu trách nhiệm,…”

Sau khi tốt nghiệp Ðỗ Lâm Hoàng về Việt Nam 3 tháng. Anh cho biết bạn bè đã mách cho anh các cơ hội làm việc tốt, nhưng thiếu nhất là tính “minh bạch.” Ai cũng dặn dò anh một câu: “Em về Việt Nam làm, có nhiều cái khác biệt so với nước ngoài. Khác biệt lớn nhất là: trong giao tiếp, có những cái em biết đôi khi em cũng không nên nói, nếu có biết cũng lập lờ làm như mình không biết… không nên thể hiện sự hiểu biết của mình.” Làm việc ở Việt Nam phải “che giấu con người thật và hy sinh một số tự do cá nhân, một thứ rất quan trọng trong yếu tố con người.” Còn làm việc ở Úc “môi trường làm việc minh bạch, không đòi hỏi bôi trơn này nọ nên chúng tôi luôn được là chính mình.”

Trong thời gian làm việc tập sự tại Sở Giáo Dục của bang Victoria, người chỉ huy anh trao cho trách nhiệm làm một “chuyên viên mạng không dây, wireless.” Ông ta dặn dò, “có cần gì cần hỗ trợ thì cứ nói thẳng ra.” Không khí làm việc thẳng thắn, minh bạch. Có lần anh hỏi người chỉ huy tại sao ông ấy có thể giao công việc quan trọng cho một sinh viên thực tập như mình? Ông ta nói: “Tôi thấy anh hiểu biết rất sâu vấn đề này. Tôi tin tưởng anh có trách nhiệm nên tôi rất tự tin khi giao công việc này cho anh.”

Hoàng hỏi tiếp: “Như ở nước tôi, sếp quyết định hết mọi thứ. Vậy tại sao ở đây ông không quyết định mọi thứ mà ông để cho tôi quyết định?” Ông ấy trả lời: “Nếu có chuyện đó cũng lạ thật. Tôi muốn nói cho anh biết người quản lý không phải là người biết tất cả mọi thứ. Mà người quản lý phải là người biết trong tay họ có những nhân viên như thế nào và họ phải biết sử dụng nhân viên của họ.” Hoàng công nhận: “Sau buổi đối thoại đó, tôi nghĩ rằng, chọn con đường ở lại có thể sẽ tốt hơn cho tôi.”

Các du học sinh ở lại có thể vì lý do kinh tế. Nhưng Ðỗ Lâm Hoàng đã nêu ra những lý do sâu xa hơn: “Nếu về mà trái ngành nghề, làm việc không có lợi cho cộng đồng, về để mà vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng thì thà đừng về còn hơn.”

Nói “Làm việc không đúng nghề của mình” Hoàng đã nhắc nhớ đến trường hợp một giáo sư Ðại Học Kỹ Thuật-Công Nghệ ở Cần Thơ gần đây. Ông Doãn Minh Ðăng đã đưa lên Facebook những điều bất công ông phải chịu trong nhà trường, và sau đó ông bị “xử lý kỷ luật.” Thay vì tiếp tục giảng dạy và nghiên cứu, nhà khoa học này được đưa qua làm một công việc hành chánh không cần một hiểu biết khoa học, kỹ thuật nào cả!

Ðỗ Lâm Hoàng cũng nói rõ các trở ngại khác nếu về làm việc trong nước, mà vụ Giáo Sư Doãn Minh Ðăng là tiêu biểu: Không được tự do suy nghĩ. Mất tự do phát biểu. Không được sống con người thật của mình. Phải chịu luồn cúi những kẻ không hiểu biết, thiếu đạo đức, chỉ thăng tiến trong xã hội nhờ bè đảng, cái bè đảng lớn nhất chính là đảng Cộng Sản!

Phải sống trong một môi trường bất minh và không bình đẳng như vậy, người sinh viên tính trở về sẽ suy nghĩ: “Chúng tôi về là để cống hiến, để làm việc chứ không phải về nắm bắt cơ hội, để trở thành kẻ cơ hội.” Chắc phần lớn các du học sinh Việt Nam cũng đang nghĩ như thế. Họ chọn “ở lại” đóng góp cho quốc gia nơi họ du học, vì biết rằng nếu trở về cũng không có cơ hội đóng góp gì cho đất nước, vì phải sống trong một xã hội vẫn còn di sản của chế độ “hồng hơn chuyên.”

Cho nên, nước Việt Nam đang bị mất rất nhiều tài năng. Những tài năng đó, đời xưa ông Thân Nhân Trung (1419-1499), sống vào đời Lê Thánh Tông đã gọi là “nguyên khí của quốc gia.” Thân Nhân Trung viết một câu nổi tiếng: “Hiền tài là nguyên khí quốc gia.” Sau khi khẳng định điều đó, ông nói tiếp: “Bởi thế các đức Thánh Ðế, Minh Vương chẳng ai không lấy việc bồi dưỡng nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí làm việc đầu tiên.”
Thân Nhân Trung là một nhà Nho, môn đồ Khổng Giáo, cho nên đã quen biết với quy tắc “cử hiền tài.” Chữ “Hiền” trong văn chương đời xưa cũng có nghĩa là người có khả năng, chứ không phải chỉ nói đến tính hạnh tốt. Trong Lễ Ký, Khổng Tử mô tả một xã hội “đại đồng,” khi “đạo lớn được thi hành,” ông viết: “Ðạo lớn được thi hành, thiên hạ đều là chung, tuyển chọn người hiền có tài năng, nói điều tín nghĩa hòa mục, cho nên người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình,…” (Ðại đạo chi hành dã, thiên hạ vi công, tuyển hiền dữ năng, giảng tín tu mục, cố nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử,…)

“Cử hiền dữ năng,” nói theo lối Tây phương bây giờ, gọi là “meritocracy,” có thể tạm dịch là “chế độ cử hiền tài.” Chế độ này có thể được áp dụng trong việc quản trị một quốc gia cũng như trong các công ty kinh doanh, các tổ chức bất vụ lợi, khi cả xã hội dùng quy tắc “cử hiền tài” để chọn người nắm quyền hành trên những người khác. Theo quy tắc “cử hiền tài” thì phải chọn những người có khả năng thay vì chọn những người thân thuộc, cùng bè đảng, cùng thuộc một “giai cấp ưu đãi,” là các đảng viên đảng cầm quyền. Cử hiền tài thì trong công việc chung, dù là việc nước hay việc của xí nghiệp, của cơ quan, “người ta không chỉ thương yêu cha mẹ mình, không chỉ lo cho con cái mình” (nhân bất độc thân kỳ thân, bất độc tử kỳ tử). Chắc chắc chắn không ai chỉ “lo cho các đồng đảng của mình!” Chế độ “cử hiền tài” là căn bản cho một xã hội sống với “cơ hội đồng đều,” khi mọi công dân được “bình đẳng trong cơ hội.”

Lý do chính khiến các du học sinh Việt Nam không trở về nước là vì sẽ không được sống xứng đáng với nhân phẩm của mình, mà một phần quan trọng trong nhân phẩm là quyền sống, suy nghĩ và phát biểu tự do, luôn luôn được “là chính mình” như Ðỗ Lâm Hoàng xác nhận. Lý do quan trọng khác khiến nhiều người không muốn về nước là vì họ biết khi trở về sẽ lại phải sống trong một xã hội không có “bình đẳng trong cơ hội.”

Nhiều sinh viên có thể chọn trở về vì biết họ “có gốc lớn,” nhờ xã hội bất bình đẳng mà họ sẽ được ưu đãi. Nếu những sinh viên đó chỉ cần sống “vinh thân phì gia mặc kệ cộng đồng,” thì con đường trở về là hợp lý. Nhưng với tuổi trẻ người ta còn giữ được nhiều lý tưởng, nhiều người “có gốc lớn” cũng không muốn sử dụng uy thế, tiền bạc của cha mẹ mình để tiến lên trong xã hội, họ cũng nghĩ rằng chỉ khi nào mình thăng tiến nhờ tài năng thì mới xứng đáng.

Trong một chế độ độc đảng, độc quyền, xã hội không thể có “bình đẳng trong cơ hội.” Chế độ độc tài đảng trị đang gây ra cơn “xuất não” làm hao mòn nguyên khí dân tộc Việt Nam. Ðảng Cộng Sản có thể đang vỗ bụng tự khen là họ đã thu vào được 14 tỷ Mỹ kim kiều hối. Nhưng nước Việt Nam vẫn tiếp tục mất, dòng nguyên khí của quốc gia vẫn tiếp tục chảy ra nước ngoài!

Chỉ khi nào dân Việt được sống tự do dân chủ thì mới chấm dứt được tai họa mất nguyên khí này.

HẠNH PHÚC ?

HẠNH PHÚC ?

 Trích EPHATA 671

 Kho tàng ngụ ngôn Ấn Độ kể rằng:

Cụ già kia có cô cháu ngoại 12 tuổi với khuôn mặt thật xinh xắn, đôn hậu; nhưng rủi thay, cô bé bị mù từ thuở mới sinh. Bởi thế, ngày ngày cô thầm khóc vì tủi thân và nét mặt bao giờ cũng trầm buồn. Cho đến một hôm, cụ già gọi cô lại và bảo:

“Cháu ơi, trên đời này người ta khổ vì mê, người ta bất hạnh vì lầm. Vì mê, nên người ta

so; vì lầm, nên người ta sánh. Phần cháu, cháu không mê, cũng không lầm; cháu không so, cũng không sánh nên thật hạnh phúc.”

Cô bé xem ra không hiểu, nên ngoại em nói tiếp:

“Người ta so sánh cái này với cái kia, người này với người nọ. Chính cái hơn thua làm

cho người ta đau khổ, chính cái đua đòi làm cho người ta u mê, để rồi họ miên man chạy theo danh, hụt hơi tìm theo lợi, rong ruổi theo cái phù hoa, bất chấp phải xâu xé, không ngại phải dẫm đạp… Thế mà đang khi đó, mấy ai nhớ rằng, tất cả mọi sự đang qua đi, tất cả mọi sự đang tan chảy; có cái tan nhanh như bọt nước, có cái tan chậm như địa cầu. Mỗi người quên rằng, chính thân xác họ đang tan, cuộc đời họ cũng đang chảy. Sống thêm một ngày là một ngày bước tới gần bên huyệt mộ của mình”.

Nghe xong lời giải thích, cô cháu lặng người, những giọt lệ từ đôi mắt mù loà lăn dài trên đôi má; nhưng cũng từ đó, khuôn mặt cô bắt đầu rạng rỡ. Cô cảm nhận mình đang thật hạnh phúc…

KHUYẾT DANH

MƯỜI BỐN MỐI

MƯỜI BỐN MỐI

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

Trích EPHATA 671

Với Tông Sắc “Dung mạo lòng thương xót” ( Misericordiae Vultus ), Đức Thánh Cha Phanxicô đã tuyên bố mở Năm Thánh ngoại thường về Lòng Thương Xót của Chúa. Vẫn với phong cách bình dị, đơn giản và đầy nhiệt huyết, Tông Sắc của vị Giáo Hoàng cho người nghèo chuyển tải đến chúng ta những gợi ý đầy cảm xúc về Lòng Thương Xót của Thiên Chúa xuyên qua các câu chuyện trong Tin Mừng, đặc biệt là các dụ ngôn.

Như kết cấu chúng ta thường thấy trong các văn kiện, phần đầu mang tính Thần Học Tín Lý như

để minh định nền tảng của văn kiện, nhưng với Tông Sắc này, Đức Thánh Cha nhanh chóng đi qua phần đầu để trực tiếp dẫn chúng ta vào một không gian tràn ngập tình yêu thương của Thiên Chúa. Từ Dung Mạo Lòng Thương Xót của Thiên Chúa, hình ảnh Đức Giêsu được trưng dẫn là một lời ngỏ độc đáo của Thiên Chúa dành cho nhân loại, Lời thành xác phàm và sống cụ thể Lòng Thương Xót vô bờ bến bằng chính thân phận con người, giữa loài người và cho loài người chúng ta.

Nắm bắt được nền tảng Lòng Thương Xót của Thiên Chúa thể hiện cụ thể nơi Đức Giêsu, Đức

Thánh Cha nhanh chóng dẫn chúng ta vào sứ vụ sống Lòng Thương Xót của Chúa giữa nhân loại hôm nay. Thật sự bất ngờ khi Đức Thánh Cha đề nghị chúng ta sống theo kính Mười Bốn Mối.

 Thương người có mười bốn mối:

Thương xác bẩy mối:

  1. Thứ nhất: cho kẻ đói ăn.
  2. Thứ hai: cho kẻ khát uống.
  3. Thứ ba: cho kẻ rách rưới ăn mặc.
  4. Thứ bốn: viếng kẻ liệt cùng kẻ tù rạc.
  5. Thứ năm: cho khách đỗ nhà.
  6. Thứ sáu: chuộc kẻ làm tôi.
  7. Thứ bảy: chôn xác kẻ chết.

 Thương linh hồn bẩy mối:

  1. Thứ nhất: lấy lời lành mà khuyên người.
  2. Thứ hai: mở dạy kẻ mê muội.
  3. Thứ ba: yên ủi kẻ âu lo.
  4. Thứ bốn: răn bảo kẻ có tội.
  5. Thứ năm: tha kẻ dể ta.
  6. Thứ sáu: nhịn kẻ mất lòng ta.
  7. Thứ bảy: cầu cho kẻ sống và kẻ chết.

Cảm giác đầu tiên là cứ ngỡ câu kinh tiếng kệ này đã lùi vào quá khứ, cái thủơ các bà các ông

và đám trẻ con nhôi nhai cắp nách chiếc chiếu rách đến Nhà Thờ phủi đất cát tìm một chỗ để trải chiếu, cái quá khứ không còn tìm đâu ra những tiếng kinh vần điệu nhịp nhàng trên môi miệng các bà các cô không cần biết chữ, nhắm mắt mà vẫn đọc được kinh. Thậm chí bài kinh này gần như đã trôi theo năm tháng và được xếp xó ở một góc khuất nào đó trong nền văn minh của nhân loại mà bụi thời gian đã gần như phủ lấp đi. Bây giờ người ta chạy theo những tư tưởng thần học, những khám phá thần học mới, những suy tư và tìm kiếm những quy chuẩn luân lý mới. Đức Thánh Cha đơn sơ nhắc chúng ta sống cụ thể lời kinh cũ mèm của Hội Thánh nhưng đã từng làm nến tảng cho Luân Lý Kitô Giáo.

Đức Thánh Cha khuyên chúng ta đọc, nhắc chúng ta sống và bảo chúng ta phổ biến tinh thần

này. Chắc chắn chúng ta phải thực hiện, và khi thực hiện chúng ta sẽ phải đối đầu với một đại dịch vô cảm và nhẫn tâm của thời đại hôm nay, đối đầu ngay trong chính tâm hồn chúng ta.

Kẻ đói, kẻ khát, kẻ rách rưới ngay trước mắt chúng ta, lâu nay chúng ta không nhìn thấy, bây giờ phải thấy. Kẻ liệt, kẻ tù rạc, kẻ lỡ đường, kẻ chết vùi dập đang réo gọi chúng ta, lâu nay chúng ta bưng tai bịt mắt. Rồi có ngượng miệng không, khi chúng ta không dám đứng bên cạnh người nghèo, người bị áp bức, người đau khổ, người chịu nhiều thiệt thòi giữa xã hội hôm nay ? Có dám ngửng cao đầu hay không khi chúng ta phản bội lại những ai đã từng hy sinh cho chúng ta được an bình nay họ phải sống trong tàn tạ thiếu thốn ? Có còn được phép trốn tránh nữa không ? Có còn có thể đổ thừa là đi với người nghèo là làm chính trị theo nghĩa xấu nữa hay không ? Có thấy không cái mình đang hưởng thụ dư thừa là cái ăn cắp của người nghèo ? Có thấy rằng được hưởng Lòng Thương Xót vô biên của Thiên Chúa là một ân huệ lớn lao mà chúng ta không thể trả lễ chỉ bằng những giờ kinh nghêu ngao giữa trưa mà coi đó là đủ.

Đức Thánh Cha bảo chúng ta phải sống cụ thể !

 Lm. VĨNH SANG, DCCT,

12.12.2015

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ

Hãy sống trong hạnh phúc dù cuộc đời không như mơ 

Nữ nhà văn Mỹ Hellen Keller đã từng nói: “Tôi đã khóc vì không có giày để đi cho đến khi tôi nhìn thấy một người không có chân để mang giày”.

Nếu bạn hỏng xe dọc đường, phải cuốc bộ vài dặm mới tìm ra được người giúp đỡ – Hãy nghĩ tới những ai liệt cả đôi chân, luôn khao khát được bước đi như bạn.

Đó là lúc khó khăn của bạn, đôi chân của bạn có thể đưa bạn đến bất cứ nơi đâu, đó là hạnh phúc và may mắn khi bạn sinh ra trên đời được có quyền đứng trên đôi chân của mình để đi. Khi không may đôi chân phải nặng nề hơn trên con đường đang bước thì hãy chớ vội nản lòng, khó chịu bởi đằng kia có rất rất nhiều người đang khao khát được bước và được đi như bạn dù chỉ một bước chân.        

Nếu bạn cảm thấy đời mình bị mất mát và băn khoăn về ý nghĩa kiếp người – Xin bạn hãy biết ơn cuộc sống vì có nhiều người đã không được sống hết tuổi trẻ của mình để có những trải nghiệm như bạn. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình kém may mắn trong cuộc đời này, hãy biết trân trọng từng phút giây khi được sinh ra trên cuộc đời này.         

Nếu bạn cảm thấy mình là nạn nhân của những ai hay cay nghiệt, dốt nát, nhỏ nhen, nghi kỵ – Hãy nhớ rằng việc đời có khi còn tệ hại hơn thế rất nhiều. Sống là động nhưng lòng không dao động.

Mỗi sớm mai thức dậy việc đầu tiên mà ta phải làm là hãy nở một nụ cười thật tươi để trả lại cho cuộc sống đã cho ta được sinh ra trên cuộc đời này, có được một đôi chân vững chãi để bước đi, có được một đôi tay lành lặn để ôm ấp những người mà ta yêu thương, có được một đôi mắt sáng để nhìn ngắm thế giới xung quanh, có được niềm tin và nghị lực trong mỗi chặng đường đời để cảm thấy mình hạnh phúc dù ở trong hoàn cảnh nào.

Hãy biết nâng niu và trân trọng từng phút giây mà bạn đang có để biết yêu thương được đong đầy như thế nào trong cuộc đời mình.

Anh chị Thụ & Mai gởi

CHÚA VỊ CỨU TINH SẼ ĐẾN CỨU ĐỘ CHÚNG TA

CHÚA VỊ CỨU TINH SẼ ĐẾN CỨU ĐỘ CHÚNG TA

(CN III Mùa Vọng)

  Tuyết Mai

Thật phải khi Thiên Chúa vị Cứu Tinh của chúng ta đến trần gian, tất cả mọi chỗ mọi nơi trên địa cầu phải nhảy mừng, hân hoan và ca hát không ngừng. Để chào đón một Thiên Chúa vô cùng toàn năng, thống trị toàn cõi địa cầu, sẽ giáng trần mặc xác loài người như chúng ta và để cứu độ chúng ta. Thưa Ngài sẽ cứu độ chúng ta như thế nào?.

Ngài sẽ làm cho Israel được vinh quang của xứ Liban, huy hoàng của Carmel và Saron. Ngài sẽ mở mắt cho người mù được nhìn thấy; mở tai cho người điếc được nghe; người què được nhảy nhót; người được Chúa cứu chuộc, sẽ trở về và đến Sion với lời khen ngợi; và trên đầu họ mang hoan hỉ triền miên, họ sẽ được vui mừng khoái trá, họ sẽ không còn đau buồn rên siết nữa.

Thế thì còn gì bằng mà toàn cõi địa cầu không phủ phục dưới bàn thờ Thiên Chúa mà cảm tạ Người. Vì Thiên Chúa đã dõi mắt trông chừng chúng ta.  Vì Thiên Chúa Người có đang lắng nghe tiếng chúng ta khẩn cầu với lòng thành khẩn, thông cảm cho sự yếu đuối mỏng dòn của con người chúng ta.  Thiên Chúa Người thương yêu chúng ta, muốn được hiểu chúng ta tường tận hơn nên không gì bằng đã cho người Con duy nhất của mình xuống trần, mặc xác phàm để cảm thông và hiểu thế nào để trở thành một con người thật sự như chúng ta, chỉ trừ tội lỗi.

Vâng, một Hài Nhi phải xuống trần học cách làm con người.  Ngài phải được sinh ra thật bình thường như một con trẻ, có hình hài, có đầy đủ đầu mình và tứ chi. Cũng phải có cha mẹ là người trần gian nhưng cả hai rất khiết trinh vì đã dâng hiến trọn cuộc đời cho Thiên Chúa. Thế cho nên hai người đã được Thiên Chúa Cha tuyển chọn trong vô số những người thanh niên và thanh nữ để xứng đáng làm dưỡng phụ và dưỡng mẫu của Chúa Con Giêsu trên thế gian này.

Quả Ngài là một Thiên Chúa thật siêu phàm vì Ngài đã hy sinh chính mình cho nhân loại. Hy sinh đến nỗi Chúa đã chọn chỗ sinh ra đời của mình ở một nơi tận cùng nhất, bần hèn nhất, hôi hám nhất của trần gian. Một hang bò lừa ư?. Nằm trong máng cỏ trên được lót rơm ư?. Quần áo của một một thiên tử con Vua Trên Trời lại chỉ là tấm vải quấn người thôi ư!?. Sao Chúa lại làm thế?.

Chúa đã có ý dạy chúng con điều gì?. Có phải Chúa dạy chúng ta một bài học rất đơn giản là con người khi sinh ra trên trần gian này cũng không khác nào khi nằm xuống?. Là một sự tuần hoàn của nguyên thủy được trở về với nguyên thủy?. Con người khi được sinh ra trong trần truồng thì khi Chúa gọi ra đi cũng thật trần truồng.

Vâng, một thiên tử con Vua Trời lại phải học cách để làm người. Để được như vậy Ngài phải được sinh ra là một hài nhi chứ. Ngài cũng phải được bú mớm từ dòng sữa tươi mát và rất lành thánh của người Mẹ là Đức Maria khiết trinh của chúng ta.

Ngài phải được lớn lên trong sự giáo dục của cha mẹ thánh. Ngài cũng phải tập cách suy nghĩ của con người. Ngài học cảm nhận được cái nóng, lạnh, đói, đau, khổ và cái cảnh nghèo thiếu thốn ra sao. Ngài cũng phải sống chung với tất cả con người nghèo mà Ngài cho là bạn rất thân thiết của Ngài, ngày qua ngày như chúng ta đây vậy. Rất phải khi Thiên Chúa Cha đã nghĩ ra cách hoàn hảo nhất để dạy dỗ con người, sửa phạt con người là đem chính thân xác của con mình làm gương sáng cho nhân loại tội lỗi noi theo.

Khi nói đến gương sáng chúng ta tất cả không thể phủ nhận rằng gương sáng ngời của gia đình Thánh Gia. Một người cha trần thế rất thánh thiện, công thẳng, hiền hòa, bác ái và rất nhân hậu. Ngài là người ít nói nhưng làm nhiều. Hòa khí trong gia đình Ngài đã sống thật hòa thuận. Đúng lắm với thứ bậc làm cha và làm chồng của mình.

Luôn thương yêu, nhường nhịn người bạn đời của mình và biết thông cảm. Còn nói về Đức Mẹ thánh thiện của chúng ta thì không khỏi cảm phục và yêu kính Mẹ. Mẹ can đảm để Xin Vâng với thiên chức được làm Mẹ Chúa Trời trong tương lai vì lợi ích của nhân loại tuy dù Mẹ hiểu rằng những cái khổ trước mặt mà Mẹ phải chịu đựng.

Thiên Chúa Cha Người thương Mẹ đến độ Người đã chọn Mẹ và tác tạo Mẹ cách riêng để Mẹ không vướng tội tổ tông truyền vì Mẹ là Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội cơ mà. Mẹ rất xứng đáng làm Mẹ Chúa Trời. Mẹ xứng đáng làm Mẹ của Hội Thánh và Mẹ rất tuyệt vời để làm Mẹ của nhân loại.

Trong mùa đông lạnh giá này phúc thay cho toàn thể nhân loại chúng ta được Con Chúa Giáng Trần. Ngài giáng Ân Phúc cho chúng ta để trẻ con không cha không mẹ bị bỏ rơi có nơi trú ngụ và được no ấm.   Để các em lạc loài sống đầu đường xó chợ khắp nơi tìm nguồn an ủi nơi hang Bêlem.   Để những người cô đơn chưa đôi chưa cặp biết chờ đợi ý Chúa.   Để gia đình những ai đang xào xáo bất hòa biết nhịn nhục, chịu đựng, và yêu thương nhau hơn.  Để người bệnh tật được giảm đau và biết sống trông cậy vào Chúa.   Để người già cả biết sống trong chờ đợi trong an bình và để toàn cõi địa cầu biết Đấng Toàn Năng Con Thiên Chúa đang dần đến với chúng ta.

Lạy Chúa, Ngài xuống trần mà chẳng có ý định đem theo mình một thứ gì từ trời cả.  Ngôi báu cũng không, danh vọng tiền tài cũng không, tất cả mọi thứ Ngài để lại ở trên Trời.   Ngài chỉ đem theo duy nhất trái tim tràn đầy yêu thương là món quà trân quý nhất của Ngài ban tặng cho nhân loại chúng con mà thôi. Do đó chúng con xin được học nơi Ngài từ cách sống đơn sơ chân chất và thật thà. Đem chính thân xác mình và tình yêu Thiên Chúa đến cùng khắp anh chị em nơi bốn phương trời và hoan hỉ loan báo cho cùng khắp thiên hạ là Con một Thiên Chúa sắp Giáng Sinh. Amen.

 Tuyết Mai

Y Tá của Chúa

11 tháng 12, 2015

Đừng trách móc bất kỳ ai

 Đừng trách móc bất kỳ ai

 Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…

Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…

Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…

Và… người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.

Đừng hứa khi đang… vui !

Đừng trả lời khi đang… nóng giận

Đừng quyết đinh khi đang… buồn !

Đừng cười khi người khác… không vui !

Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.

Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe

Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng 1 bước đi.

Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta

Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức (trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t …ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !)

Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu

Đừng lo lăng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn

Các con vô tình thì có thể sẽ tranh dành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.

Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ

 Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.

Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.

Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thừơng xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn BẠN BÈ .nữa.. họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!

Xin chúc bạn mọi điều tốt đẹp nhất.

 Anh chị Thụ Mai gởi

Đạo vào Đời

Đạo vào Đời

 Cha Gioan Tauler, một vị linh mục đạo đức vẫn luôn cầu xin để được gặp một người chỉ dẫn cho ngài thiên đàng ở đâu. Một ngày kia, có tiếng lương tâm giục ngài ra trước cửa nhà thờ để gặp vị quân sư đó. Nhìn trước nhìn sau, cha chẳng thấy ai, ngoại trừ một người ăn mày, quần áo rách rưới, mặt mũi bẩn thỉu, hôi thối. Cha đến gần chào người hành khất:

– Chào ông, chúc ông may mắn.
Người ăn mày thản nhiên trả lời:
– Chào cha, tôi có bị rủi ro bao giờ đâu.
– Vậy thì xin Thiên Chúa ban cho ông mọi điều sung sướng.
– Ồ, thưa cha, đời tôi chưa bao giờ thấy khổ cả.
Cha Tauler rất ngạc nhiên về cách nói năng của người này. Cha hỏi tiếp:
– Nếu Chúa bắt ông xuống hỏa ngục, ông có buồn khổ không?
Người hành khất trả lời không cần suy nghĩ:
– Nếu Chúa làm như vậy thì tôi sẽ ôm ghì lấy Chúa và đưa Chúa xuống hỏa ngục luôn. Tôi thà ở hỏa ngục với Chúa còn hơn ở Thiên Đàng mà không có Ngài.
Vị linh mục càng ngạc nhiên hơn nữa. Cha hạch hỏi:
– Này ông, ông có thể cho tôi biết ông từ đâu tới đây?
– Thưa Cha, tôi từ Thiên Chúa mà đến.
– Nhưng ông tìm thấy Thiên Chúa ở đâu?
– Ở ngay khúc quẹo, chỗ mà tôi từ bỏ mọi của cải vật chất trên đời này.
Tới đây, Cha Tauler không thể chờ đợi thêm được nữa. Ngài hỏi nhanh:
– Thế thì, ông là ai?
Người ăn mày nói một cách trịnh trọng:
– Tôi là Vua.
Cha Tauler quỳ xuống trước mặt người ăn mày:
– Tâu Đức Vua, Ngài có thể cho con biết vương quốc ngài ở đâu không?
– Vương quốc của Ta ở ngay trong tâm hồn Ta. 

Bạn thân mến, 
Nhiều lúc trên đời, chúng ta đã mất thời giờ viển vông đi tìm bình an, hạnh phúc ở những nơi không bao giờ có.
Hàng ngày chúng ta lái xe đi làm trên cùng một con đường, vào cùng một giờ khắc trong ngày, vậy mà sao có hôm một chiếc xe chớp đèn xin đi trước thì ta mỉm cười, giảm tốc độ lại và còn đưa tay lên mời họ qua. Trái lại, có ngày gặp trường hợp tương tự, ta lại cáu kỉnh chửi thề mà không cho xe nào qua mặt? Tại sao con cái ta nô đùa trong nhà mà có lúc chúng ta cảm thấy êm đềm, hạnh phúc; nhưng có lúc ta lại cảm thấy ồn ào, khó chịu, nên la rầy và bắt chúng phải ở yên?
Bình an, hạnh phúc khi mà con người biết quên mình hy sinh cho hạnh phúc người khác, chia sẻ với người khác”. Thì ra sự bình an, vui vẻ, hạnh phúc không phải do ngoại cảnh tạo ra, mà lại ở ngay trong chính TÂM ta. Khi lòng ta an vui thì ngoại cảnh cũng đẹp đẽ. Khi lòng ta bất ổn thì ngoại cảnh chỉ tạo nên sầu muộn.
Cảnh giới Thiên Đàng hay Địa ngục từ trong TÂM ta vậy !

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

NGUYỄN TẤN DŨNG LẠI TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỘT “GIẢI THƯỞNG”!

NGUYỄN TẤN DŨNG LẠI TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỘT “GIẢI THƯỞNG”!

RFA

(bài viết của Hoàng Ngọc-Tuấn)

Hôm nay báo Vietnamnet loan tin: “Vinh danh Thủ tướng, vinh danh Việt Nam” – “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển do Diễn đàn Toàn cầu Boston trao cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được xem là ghi nhận xứng đáng cho những nỗ lực nhiều năm qua của ông vì hoà bình và an ninh trong khu vực…”

http://vietnamnet.vn/vn/tuanvietnam/278356/vinh-danh-thu-tuong–vinh-dan…

Nhưng cái “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” là gì? Và “Diễn đàn Toàn cầu Boston” là ai?

H1

Nguyễn Tấn Dũng, vừa được “Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” của Nguyễn Anh Tuấn. Nguồn ảnh: internet

“Giải thưởng Nhà lãnh đạo thế giới vì Hoà bình, An ninh và phát triển” là một giải thưởng dỏm do Nguyễn Anh Tuấn (kẻ sáng lập và làm Tổng Biên Tập của Vietnamnet) lập ra, và cái “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum) thì cũng do Nguyễn Anh Tuấn lập ra và làm Giám Đốc Điều Hành (Founder and CEO):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/board-of-directors/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Tư Tưởng (Board of Thinkers) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/board-of-thinkers-new/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Biên Tập (Editorial Board) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/editorial-board/

Nguyễn Anh Tuấn kiêm nhiệm cả Ban Điều Hành (Executive Board) của “Diễn đàn Toàn cầu Boston” (Boston Global Forum):

http://bostonglobalforum.org/blog/category/about-us/excutive-board/

Nên nhớ rằng năm 2012, Nguyễn Anh Tuấn đã lập ra giải thưởng dỏm “Quốc Tế Trần Nhân Tông”, và báo Vietnamnet đã rầm rộ đăng tin rằng “Giải Thưởng Quốc Tế Trần Nhân Tông” sẽ trao cho Tổng thống Myanmar, ông U Thein Sein và Chủ tịch Đảng đối lập NLD – bà Aung San Suu Ky. Nhưng rốt cuộc cả 2 người này không hề đến nhận giải thường, và cái giải thưởng đó chết tiệt luôn, không kèn không trống:

http://vietnamnet.vn/vn/giai-tri/89762/ngay-hoi-lon-cua-giai-thuong-quoc…

NGUYỄN TẤN DŨNG KHÔNG NGỪNG TỰ ĐÁNH BÓNG BẰNG MỌI THỦ ĐOẠN RẺ TIỀN NHẤT.

Năm 2011, tôi đã vạch ra sự thật về việc Nguyễn Tấn Dũng tự đánh bóng, qua bài viết: “‘Báo chí nước ngoài’ ca ngợi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng? Thật ra chỉ là một trò lừa bịp!”
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork…

Và bài “Thông Tấn Xã Việt Nam biến rác thành vàng để lừa bịp nhân dân”:
http://www.tienve.org/home/activities/viewThaoLuan.do?action=viewArtwork…

Cộng Sản Việt Nam sẽ không bao giờ ngừng lừa bịp nhân dân Việt Nam. Tuy nhiên, tôi tin rằng càng ngày càng ít người dân Việt Nam tin vào những trò lừa bịp ấy. Chúng ta cần phải liên tục vạch ra tất cả cả những trò lừa bịp của Cộng Sản Việt Nam để càng ngày càng nhiều người dân Việt Nam biết rõ sự thật.

Lời kinh đêm cùng nhã nhạc dâng lên

Lời kinh đêm cùng nhã nhạc dâng lên
Đêm huyền diệu và lòng người trinh trắng
Có ai đó hái từ trời thanh vắng
Vô vàn sao rụng xuống – bản tình ca

Đêm nhòa sương như hai nghìn năm xưa
Vang vọng tiếng tôn vinh từ cao thẳm
Những ánh mắt nhòa tan vào mê đắm
Những lời ca bay vút tới vô biên

Là tâm hồn nhân loại rất mọn hèn
Hòa với cả đất trời đang thổn thức
Cả vũ trụ bao lâu rồi rạo rực
Bao lâu rồi thương nhớ một Ngôi Hai
Bao lâu rồi khao khát một đêm nay

Máu Chí Thánh chảy trong tim trần thế
Ôi khôn xiết linh thiêng giờ Nhập Thể
Khắp càn khôn quỳ gối xuống nguyện cầu
Từng hạt kinh là bảo ngọc trân châu

Rải trên lối Đấng Muôn Trùng kính ái
Hát, hát nữa, hỡi trần gian điên dại!
Dâng, dâng lên ngàn triệu nỗi mê say
Dâng, dâng lên làm Lễ Vật Đêm Nay…

(Vâng, đã có một mùa đông như thế
Bây giờ và mai sau tôi vẫn kể
Mỗi khi trời lành lạnh tiết Noel
Rằng đã từng mầu nhiệm bàn tay em…)

Thế Luân
http://dongten.net/noidung/56154

Peter F Drucker : Một con người chính trực

Peter F Drucker : Một con người chính trực

(1909 – 2005)

 Bài của : Đoàn Thanh Liêm

Peter Ferdinand Drucker sinh năm 1909, tại thành phố Vienna, thủ

đô nước Áo. Ông mới qua đời tại thành phố Claremont, thuộc miền

Nam California vào năm 2005, ở tuổi thọ 96. Trong suốt trên 60

năm ông chuyên dậy học tại nhiều trường đại học ở Mỹ, viết rất

nhiều sách chuyên về vấn đề quản lý, và đồng thời còn làm cố vấn

cho rất nhiều đại công ty kinh doanh tư nhân, cho các cơ quan

chánh phủ tại ba quốc gia Mỹ, Nhật và Canada, và đặc biệt ông đã

tận tình hỗ trợ cho các tổ chức thiện nguyện bất vụ lợi.

Có thể nói Peter Drucker là một mẫu người ngoại hạng, với sự

nghiệp chuyên môn hết sức lớn lao, và nhất là một nhân cách sáng

ngời của sự ngay thẳng chính trực.

Bài viết này xin được giới thiệu chi tiết với quý bạn đọc người Việt

về con người sĩ phu trí thức rất mực cao quý này của thế kỷ XX.

 

A – Học tập ở Âu châu, thành danh ở Mỹ châu.

Sinh trưởng trong một gia đình trí thức tên tuổi, với người cha là

một vị luật sư và giáo sư đại học, Peter Drucker ngay từ buổi thiếu

thời đã được tiếp xúc với những vị thức giả có tên tuổi lớn tại Âu

châu, điển hình như Sigmund Freud là người đã khai sinh ra ngành

Phân tâm học (Psychanalysis).

Sau khi tốt nghiệp trung học tại quê nhà vào năm 1927, thì Peter

qua học về luật tại đại học Frankfurt bên nước Đức. Tại đây, ông

đậu văn bằng tiến sĩ về luật quốc tế và công pháp. Ông chịu ảnh

hưởng của bậc đại sư, mà cũng là một người bạn của thân phụ ông,

đó là giáo sư Joseph Schumpeter về sự quan trọng của tinh thần

sáng tạo và tài năng tháo vát trong lãnh vực kinh doanh. Rồi sau

này khi rời bỏ nước Đức lúc Hitler lên cầm quyền vào năm 1933,

để qua sống tại Anh quốc, thì ông được thụ giáo với cả vị kinh tế

gia lừng danh thời trước chiến tranh là John Maynard Keynes

Ở tuổi đôi mươi ông đã hăng say tham gia viết báo, làm việc trong

ngành bảo hiểm, rồi ngành xuất nhập cảng và ngân hàng tại nước

Đức và nước Anh.

Vào năm 1937, với tư cách là đặc phái viên cho một nhóm báo chí

Anh quốc, ông qua Hoa Kỳ cùng với người vợ mới cưới là Doris

Schmitz. Vào tuổi ba mươi, với tài năng chín mùi, Peter Drucker

đã có nhiều cơ hội phát huy sở học và kinh nghiệm thâm hậu của

mình. Ông được mời giảng dậy tại nhiều trường đại học tại phía

miền đông nước Mỹ như trường New York University trong gần 30

năm. Đồng thời, ông vẫn tiếp tục cộng tác với các tờ báo nổi danh

về kinh tế tài chánh như Wall Street Journal, The Economist,

Harvard Business Review, và với cả các tờ báo có uy tín hàng đầu

như The Saturday Evening Post, The Atlantic Monthly v.v…

Kể từ năm 1945, ông được nhiều đại công ty như General Motors

mời làm cố vấn. Tính ra ông đã nhận làm cố vấn cho trên 50 công

ty tầm cỡ rất lớn như General Electric, Coca Cola, IBM, Citycorp,

Intel… Ông cũng được giới doanh nhân ở Nhật rất tín nhiệm và

mời ông vào chức vụ cố vấn cho các vị giám đốc của Toyota Motor

Corp., Ito-Yokado Group v.v… nữa. Đó là chưa kể đến việc làm cố

vấn miễn phí cho các tổ chức bất vụ lợi như Hội Nữ Hướng đạo

Mỹ, Salvation Army, Hội Hồng Thập Tự, tổ chức CARE v.v…

Sau đó vào thập niên 1970, thì ông qua California, tiếp tục việc

dậy học và làm cố vấn cho nhiều cơ sở kinh doanh tại phía bờ biển

miền tây nước Mỹ. Ông giữ chức vụ Giáo sư về Khoa học Xã hội

và Quản trị tại trường Cao học về Quản trị Claremont, mà sau này

được đổi tên là “Peter F. Drucker School of Management” để vinh

danh ông vào năm 1987. Lớp học cuối cùng ông dậy tại trường này

là vào năm 2002, lúc ông đã bước vào tuổi 92.

Về sự nghiệp biên soạn sáng tác, ông đã cho xuất bản 39 cuốn

sách, phần lớn bàn về vấn đề quản trị, mà điển hình là cuốn “The

Practice of Management” xuất bản năm 1954 và cuốn

“Management : Tasks, Responsabilities, Practices” xuất bản năm

  1. Riêng về lãnh vực các tổ chức bất vụ lợi, thì có cuốn viết

năm 1990 với nhan đề : “Managing the Non-Profit Organisation:

Principles and Practices”. Phần lớn các sách của ông đã được dịch

ra trên 30 ngôn ngữ khác nhau trên thế giới.

 

B – Các giai thọai về nhân vật xuất chúng Peter Drucker.

Ít có nhân vật nào mà lại xông xáo họat động năng nổ tích cực

trong cả ba khu vực cấu thành “không gian xã hội” như là Peter

Drucker (the social space bao gồm khu vực Nhà nước, khu vực Thị

trường kinh tế và khu vực Xã hội dân sự). Ông giúp cho các nhà

lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như giám đốc công ty xí nghiệp

tư nhân trong việc họach định được một chính sách tối ưu. Mà đặc

biệt ông còn hỗ trợ hết mình cho các tổ chức phi chánh phủ, bất vụ

lợi thực hiện được những thành tựu tốt đẹp cao nhất trong công

cuộc phục vụ nhân quần xã hội.

Những khám phá của ông trong lãnh vực quản lý xí nghiệp đã trở

thành một huyền thọai, được truyền tụng trong giới doanh nhân

cũng như trong giới hàn lâm đại học. Nhiều người đã gọi ông là

nhà tư tưởng táo bạo, một triết gia của xã hội kỹ nghệ đang ở vào

giai đọan phát triển cao độ. Lớp học do ông giảng dậy thu hút quá

đông sinh viên theo học, đến nỗi nhà trường phải sử dụng cả khu

tập thể dục mới có đủ chỗ rộng rãi cho thầy trò sinh họat, trao đổi

thảo luận với nhau cho thoải mái được

Một cựu sinh viên kể lại câu chuyện như sau : Dù lớp học đày ắp

sinh viên, mà giáo sư Drucker vẫn tìm cách nêu các câu hỏi gợi ra

sự tranh luận sôi nổi giữa cử tọa. Có lần ông hỏi cả lớp như thế này

đây : “ Các bạn cho tôi biết sự kiện nào nổi bật, gây ảnh hưởng

nhất trong thời gian 100 năm gần đây trong xã hội nước Mỹ? Các

sinh viên lần lượt kê ra, nào là sự phổ biến điện thọai, điện lực, hai

cuộc thế chiến, cuộc khủng hỏang kinh tế …Tất cả các câu trả lời

đều bị giáo sư lắc đầu, từ chối. Cuối cùng thì ông cho chúng tôi

biết : Đó là việc sản xuất xe hơi hàng lọat (the mass production of

automobile), vì nó tạo cho giới nông dân phương tiện để chở vợ

con ra thành phố vào cuối tuần – nhờ đó mà họ mới tránh được lọai

bệnh tâm thần do sự cô lập quạnh hiu ở nông thôn gây ra… Đây

quả thật là một lối suy luận độc đáo, bất ngờ khiến cả lớp chúng tôi

cứ nhớ hòai!”

So với các bậc tiền bối, thì quả thật Peter Drucker là thứ “hậu sinh

khả úy”, là môn đệ mà đã vượt qua cả bậc sư phụ của mình. Cụ thể

như đối với Frederik Taylor (1866 – 1915) là người khai sáng ra

môn tổ chức công việc sản xuất theo khoa học nhằm nâng cao

năng xuất trong kỹ nghệ, thì Drucker đã bổ túc môn này bằng cách

mở rộng sự nghiên cứu trong lãnh vực văn hóa, quan hệ nhân bản,

và nhất là viễn tượng tương lai đối với những thách đố và khả năng

trong xã hội kỹ nghệ. Và đối với John Maynard Keynes (1883-

1946) thì cũng vậy, Drucker đưa thêm vào lý thuyết định lương vĩ

mô (macro-economics) của vị đại sư này cái phương pháp nghiên

cứu về động thái con người (behavior of people); như vậy là làm

tăng thêm khía cạnh nhân bản trong lãnh vực kinh tế vi mô (micro-

economics).

Các giám đốc công ty đã không tiếc lời ca ngợi vị đại sư Peter

Drucker. Điển hình như Andy S. Grove của công ty Intel Corp., thì

đã viết : “Lời khuyến cáo của ông đã ảnh hưởng đến không biết

bao nhiêu hành động hàng ngày tại các xí nghiệp. Và riêng đối với

tôi, thì cái ảnh hưởng đó đã kéo dài liên tục trong nhiều thập niên”.

Tom Peters thì gọi Drucker là người đã sáng lập ra môn khoa học

quản lý hiện đại; ông là người đầu tiên đã cung cấp cho chúng ta

thứ dụng cụ để quản lý những tổ chức kinh doanh mỗi ngày càng

trở thành phức tạp hiện nay.

 

C – Con người ngay thẳng chính trực.

Nhưng Peter Drucker còn làm cho bao nhiêu người mến phục bởi

sự ngay thẳng chính trực lạ thường của ông. Ngay từ thời còn ở

bên nước Đức, lúc mới có 23-24 tuổi, ông đã viết một cuốn sách về

nhà triết học Friedrich Julius Stahl, mà đã bị chính quyền Đức

quốc xã tịch thu và cho đốt hết đi. Mấy năm sau, thì cuốn sách thứ

hai nhan đề “Vấn đề Người Do Thái tại nước Đức” cũng lại chịu

chung số phận đó. Đến nỗi mà hiện nay chỉ còn sót lại một cuốn

duy nhất trong văn khố nước Áo với dấu hiệu chữ vạn đóng trên

bìa sách.

Được nuôi dưỡng theo truyền thống nghiêm túc của đạo Tin lành,

Peter Drucker đã sống và hành động theo những nguyên tắc chặt

chẽ về luân lý và đạo hạnh. Mặc dầu được các đại công ty trả

lương rất hậu cho dịch vụ cố vấn của ông, Drucker cũng không

ngần ngại phê phán những thiếu sót bất cập của giới doanh nghiệp

tại Mỹ. Khi được biết giới đứng đầu doanh nghiệp dành cho mình

những bổng lộc quá lớn, lên đến cả trăm lần lương của người công

nhân bình thường, ông đã không cầm được sự giận dữ và lên tiếng

phê phán gắt gao chuyện này. Ông nói : “Đó là điều không thể tha

thứ được, xét về mặt luân lý cũng như về mặt xã hội; và chúng ta

sẽ phải một cái giá nặng nề cho tình trạng này.” (This is morally

and socially unforgivable, and we will pay a heavy price for it).

Ông còn ghi rõ là : “ Thâu nhập của người giám đốc không được

gấp quá 20 lần mức lợi tức của người công nhân”.

Thất vọng trước sự sa sút về phương diện giá trị đạo đức của giới

doanh nghiệp Mỹ, ông đã phải thốt lên : “Đó là sự thất bại cuối

cùng của chủ nghĩa tư bản doanh nghiệp” (the final failure of

corporate capitalism).

Và kết cục là ông đã dành hầu hết thời giờ và năng lực vào việc

yểm trợ cho các tổ chức bất vụ lợi. Đó là lãnh vực xã hội dân sự,

mà ông tin tưởng sẽ góp phần quan trọng vào việc phục hồi lại hệ

thống giá trị tốt đẹp truyền thống của nước Mỹ. Ông đặc biệt dành

sự ưu ái cho mục sư và cũng là một tác giả nổi danh với cuốn sách

bestseller “The Purpose-driven Life” Rick Warren của Nhà thờ

Saddleback tại thành phố Lake Forest trong Quận Cam miền Nam

California. Vị mục sư này thuật lại rằng : Ông Peter Drucker căn

dặn tôi : “Chức năng quản lý trong một nhà thờ là làm cho nhà thờ

đó mỗi ngày đích thực là nhà thờ hơn, chứ không phải là một loại

tổ chức kinh doanh (to make the church more churchlike, not more

businesslike). Như vậy thì nhà thờ mới có thể thực hiện đúng sứ

mệnh riêng biệt của mình.”

** Tóm tắt lại, ta có thể ghi nhận rằng Peter Drucker là một mẫu

người ngoại hạng của thế kỷ XX. Sự đóng góp chuyên môn trong

việc giáo dục đào tạo nhiều thế hệ sinh viên trong ngành quản trị

doanh nghiệp, trong sự nghiệp trước tác, cũng như trong việc cố

vấn hướng dẫn cho giới lãnh đạo cơ sở công quyền, cũng như xí

nghiệp tư nhân, và nhất là trong sự yểm trợ cho các tổ chức bất vụ

lợi thuộc khu vực Xã hội Dân sự, thì thật là lớn lao vĩ đại ít người

nào có thể sánh kịp được.

Mà còn hơn thế nữa, cái nhân cách trong sáng và tính ngay thẳng

chính trực của ông mãi mãi là một tấm gương cao quý cho giới sĩ

phu trí thức cùng khắp thế giới hiện nay noi theo vậy./

California, Tiết Trung Thu Canh Dần 2010

Đoàn Thanh Liêm

Khi chế độ sợ sử

Khi chế độ sợ sử

Tạp ghi Huy Phương

 Nguoi-viet.com

Theo báo chí trong nước, môn lịch sử dự định sẽ bị xóa bỏ khỏi chương trình giáo dục phổ thông, và sẽ được “tích hợp” với môn giáo dục công dân và giáo dục quốc phòng! Dư luận trong và ngoài nước đã lên án gắt gao dự định này, và việc bỏ môn sử trong chương trình giáo dục của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa không phải là không có cơ sở, vì nó đã bắt nguồn từ cuộc Cách Mạng Tháng Tám, đảng Cộng Sản muốn viết lại lịch sử theo chiều hướng có lợi cho đường lối của đảng.

Nghĩa Trang Liệt Sĩ Người Trung Quốc ở Cao Bằng. (Hình minh họa: Tienve.org)

Hiện nay, trong giai đoạn Việt Nam đang trở thành con cái (một loại nghịch tử) của Trung Cộng, lịch sử Việt Nam đã là một trở ngại cho mối giao hảo của Việt-Trung, thì khi đất nước chúng ta trở thành một thành phần không thể cắt lìa của Trung Cộng, là ngôi sao nhỏ thứ năm trên lá cờ của bọn bành trướng. Lý do lịch sử Việt Nam là một chuỗi trường kỳ kháng chiến với giặc phương Bắc, và nước Tàu trở thành một “kẻ thù truyền kiếp” của dân tộc Việt Nam.

Sách “Việt Nam – Những Sự Kiện Lịch Sử 1945-1975” của Viện Sử Học-Viện Khoa Học Xã Hội (cơ quan chính thức của đảng và chính phủ) không hề nói đến chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa và sự hy sinh của những anh hùng tử sĩ VNCH trong trận chiến với Trung Cộng vào Tháng Giêng, 1974. Ngay cuộc tấn công của quân Trung Cộng chiếm các bãi đá Gạc Ma ở quần đảo Trường Sa diễn ra ngày 14 Tháng Ba, 1988, phía Việt Nam mất ba tàu vận tải của hải quân, 64 thủy binh đã thiệt mạng cũng bị bỏ quên. Đương nhiên chuyện bán nước tày trời, Thủ Tướng Phạm Văn Đồng, vào năm 1958 đã gửi công hàm cho Thủ Tướng Trung Cộng Chu Ân Lai nhìn nhận chủ quyền lãnh hải của Trung Cộng trên Hoàng Sa và Trường Sa lại phải giấu kín, không được ghi vào sử.

Vì sao đảng Cộng Sản Việt Nam lại giấu sử và viết lại sử, ngăn cấm không cho các thế hệ con em biết những sự thật đẫm máu về Trường Sa- Hoàng Sa, phải chăng là sợ mất lòng đàn anh “láng giềng khốn nạn!”

Cũng trong thời gian xảy ra những biến cố đau thương ở Gạc Ma, những việc nhảm nhí lại được đảng Cộng Sản tôn vinh thành sử sách như việc “Khai mạc Đại Hội Đại Biểu Toàn Quốc Hội Chữ Thập Đỏ lần thứ năm” hay “Ngành Nội Thương tổ chức hội nghị đánh giá kết quả bước đầu chuyển hoạt động thương nghiệp sang hoạch toán kinh doanh XHCN.”

Ngay cả tội ác của lính Trung Cộng, trong cuộc thảm sát ngày 9 Tháng Ba, 1979 tại huyện Hòa An, Cao Bằng, khi quân Trung Cộng đã “dùng búa và dao giết 43 người, gồm 21 phụ nữ và 20 trẻ em, trong đó có bảy phụ nữ đang mang thai, rồi ném xác xuống giếng hoặc chặt ra nhiều khúc rồi vứt hai bên bờ suối. Trong thời gian chuẩn bị rút quân, Trung Quốc còn phá hủy một cách có hệ thống toàn bộ các công trình,” (*) mà ghê tởm thay, cũng được các nhà viết sử Cộng Sản lơ đi kẻo sợ mất lòng ông chủ Trung Cộng!

Những anh hùng do đảng nặn, phịa ra thì lại được ghi vào sử cho con em học ra rả. Đó là những anh hùng tưởng tượng Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu… hay những dũng sĩ “không tưởng” như Bế Văn Đàn lấy thân làm giá súng, Bùi Minh Kiểm tay không ghì máy bay trực thăng thì được nhồi nặn vào đầu óc trẻ thơ. Thế hệ thanh niên bây giờ có thể biết về Lenin, Karl Marx là ai, trong khi một học sinh lớp 8 không biết ông Quang Trung “bà con” ra sao với ông Nguyễn Huệ, phải chăng vì “hai ông” này đều chống Tàu?

Khốn nạn hơn nữa, kẻ thù giết đồng bào lại được ghi công, nhà nước Việt Nam đã xây dựng đài tưởng niệm Liệt Sĩ Trung Quốc với hàng chữ “Việt Nam Nhân Dân Ký Công,” tức là “Nhân Dân Việt Nam Ghi Công” và hàng năm, đảng và nhà nước lại còn cúi đầu dâng vòng hoa tưởng niệm “Đời đời nhớ ơn các Liệt Sĩ Trung Quốc!”

Sao mà có một bọn cầm quyền hèn mạt đến thế.

Những việc tàn độc sau khi Cộng Sản miền Bắc đánh chiếm miền Nam, gọi là “giải phóng,” “thống nhất đất nước,” như tập trung quân cán chính, nhân viên đảng phái miền Nam vào nhà tù lao động khổ sai, đánh tư sản, lùa dân đi kinh tế mới, đổi tiền, các phong trào vượt biển đi tìm tự do… làm chết hàng triệu người Việt Nam, nó chính là tội ác, phải ghi vào sử, nhưng Cộng Sản sợ phải ghi những hình ảnh này vào sử, nó sẽ cho đồng bào biết Cộng Sản có bàn tay vấy máu như thế nào! Trong sử sách Cộng Sản, đảng ta luôn luôn “đánh thắng” dù là bằng cách trói tay và đập đầu chôn sống hơn 5,000 dân Huế trong Tết Mậu Thân!

Hãy nhìn đây sự khiếp nhược của đảng Cộng Sản Việt Nam trước bọn Tàu Cộng: Không có một con đường, một bến sông, một chiếc tàu hải quân nào dám mang tên có “hơi hám” đến cuộc chống Tàu xâm lăng trong lịch sử của cha ông, đó là những địa danh lẫy lừng trong lịch sử như Chương Dương, Hàm Tử, Bạch Đằng, Đống Đa, Hà Hồi hay các nhân vật lịch sử như Bà Trưng, Bà Triệu. Tất cả những con tàu thuộc Hải Quân VNCH đều hãnh diện mang những cái tên anh hùng chống Tàu như Ngô Quyền, Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Toản, Trần Nhật Duật, Yết Kiêu…

Truyền thống của hải quân bất kỳ nước nào trên thế giới cũng là phòng thủ biên giới quốc gia, chống ngoại xâm, nhưng hải quân Cộng Sản Việt Nam chỉ bày ra để bảo vệ đảng, cũng như binh lính công an, bộ đội. Những con tàu của hải quân Cộng Sản Việt Nam hiện nay chỉ dám “rón rén” đặt những cái tên vô tội, ngây thơ không sợ “nhạy cảm” làm mất lòng đàn anh, như tàu HQ.182 tên là Hà Nội, HQ.183 là TP Hồ Chí Minh, HQ.184 là Hải Phòng, HQ.185 là Đà Nẵng, HQ.186 là Khánh Hòa, HQ.187 là Bà Rịa Vũng Tàu, HQ.011 là Đinh Tiên Hoàng, HQ.12 là Lý Thái Tổ. Nghĩ ông Đinh Tiên Hoàng hay ông Lý Thái Tổ thì có đụng gì đến bọn Tàu xâm lược.

Như vậy là quay mặt làm ngơ với lịch sử!

Là học sinh trung học thời VNCH, chúng tôi không những được học sử của Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh… mà trong sách Giáo Khoa Thư thuở tiểu học chúng tôi đã biết đến Ngô Quyền đóng cọc nhọn đánh quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, ông Trần Hưng Đạo tâu với vua, “hãy chém đầu thần đi trước khi hàng giặc,” Trần Quốc Toản, tuổi thiếu niên, bóp nát quả cam trong tay, dựng cờ “phá cường dịch báo hoàng ân!” Thời bây giờ, chúng tôi không biết những Huỳnh Văn Bánh, Lê Thị Riêng, Ngô Văn Năm, Nguyễn Văn Đậu, Phan Thị Ràng… là ai, mà nghĩ thương cho “ông Quang Trung là anh em với ông Nguyễn Huệ!”

Một chế độ sợ sử và viết sử láo, chẳng qua vì hèn ngu, khiếp nhược.

Vì những lý do sợ Tàu, câu chuyện bỏ môn sử nghĩ cũng có nguyên nhân.

Dân tộc không sử là thứ con không cha, nhà không nóc.

Thôi thế thì thôi!

(*)Ghi theo tài liệu của Phạm Trần.
Nếu có thời giờ xin mời bạn đọc vào xem DVD “Thảm Họa Mất Nước”
https://www.youtube.com/watch?v=fpYuc2gs2bk

 

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

‘Ẩm thực’ thời ‘cách mạng’

Tạp ghi Huy Phương

Nguoi-viet.com

Sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, sau khi người Nam “nhận họ,” người Bắc “nhận hàng,” bao nhiêu kho đạn, lương thực, thuốc men, máy móc… được chở về Bắc để vỗ béo cho cán bộ cao cấp, kể cả 16 tấn vàng, tài sản quốc gia, bị bọn cán bộ cao cấp, mỗi người “cấu véo” một tí, thì miền Nam trở thành một bãi rác hoang tàn. Sau khi đưa vào tù quân cán chính miền Nam, đánh tư sản, đổi tiền, lùa dân đi vùng kinh tế mới, thì dân đen, loại không biên chế, không còn cái ăn cái mặc, đau ốm không thuốc men.

Lá cây khoai mì. (Hình minh họa: Issouf Sanogo/AFP/Getty Images)

Cái ăn đã không có, trừ gạo mục từ các mật khu mang về, bo bo, bột mì, khoai sắn nộp nghĩa vụ lẫn đất cát còn không đủ no, thì chuyện đau ốm khó khăn – khắc phục. Xuyên tâm liên là vị thuốc độc nhất toàn năng phổ biến trong quần chúng dành cho những “ông chủ” của đất nước, như Tạ Phong Tần đã viết: “… sau ngày 30 Tháng Tư, 1975, ai bị bệnh gì vô bệnh viện Bạc Liêu cũng đều được bác sĩ kê toa hai thứ thuốc không bao giờ thay đổi là xuyên tâm liên (viên nén) và chai xi-rô Lạc Tiên, đem về uống đến phù cả mặt mũi mà vẫn không hết ho…” Không phải chỉ có Bạc Liêu mà cả toàn quốc! Phổ biến thì súc muối hay nhỏ nước tỏi vào lỗ mũi. Trong nhà tù “cải tạo” ngoài Bắc, thì phái đoàn y sĩ từ Hà Nội về nhổ răng cho tù bằng kềm, búa, đục thợ rèn, 10 anh thì sưng mặt hết bảy.

Xuyên tâm liên là thứ cây thuốc có ở phía Nam Trung Quốc. Theo tính vị ghi trong tài liệu y học dân gian Quảng Châu, thì cây “xuyên tâm liên” này có vị đắng, tính hàn, có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu thủng, giảm đau. Được dùng chữa vết thương, tẩm gạc đắp vết thương hoặc làm dịch nhỏ giọt rửa vết thương; chữa viêm họng, viêm phế quản, lị cấp (nước sắc xuyên tâm liên cùng với bồ công anh, sài đất…).

Vào khoảng thời gian “mở cửa” khi mà Việt Cộng đã cho dân chúng nhận những thùng quà từ ngoại quốc gửi về, đặc biệt là những người vượt biên đến được Mỹ, thì hải quan tại phi trường Tân Sơn Nhứt bắt đầu ra lệnh tịch thu thuốc Tylenol trong những thùng quà với lý do là có chất độc, cần phải kiểm nghiệm. Mặc dầu Tylenol đã vài lần bị thu hồi (recall) tại Mỹ, nhưng đó là một thứ thuốc bán rất chạy trên thị trường Bắc Mỹ, đứng hàng thứ ba trong các loại thuốc đau nhức. Nếu hải quan tịch thu Tylenol và thiêu hủy tại chỗ thì không nói, đằng này trong lúc thuốc men khan hiếm, thuốc này dành cho cán bộ dùng, và được tuồn ra ngoài chợ trời để bán với giá cao.

Về cái ăn thì thịt là món hiếm, chỉ có trong các cửa hàng nhà nước, hay được chuyển lậu, bằng cách bó vào đùi, vào mông để qua mắt các trạm kiểm soát. Nhưng nhân dân đã có một thứ “thịt” dễ kiếm khác, đó là ngọn “lá sắn” bỏ đi, sau khi “thu hoạch” củ sắn (khoai mì) nông dân ủ thành phân xanh.

Báo Nhân Dân, “Cơ Quan Trung Ương của Đảng Cộng Sản Việt Nam, Tiếng Nói của Đảng, Nhà Nước và Nhân Dân Việt Nam,” vào khoảng thời gian 1978-79 đã có những bài báo nghiên cứu để đưa đến kết luận: “Ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò,” vì lá sắn chứa rất nhiều chất protein. Sở dĩ tôi còn nhớ rõ, là vì trong trại tù ở Bắc Thái, bọn tù chúng tôi đã phải tập họp ngồi nghe bọn “trật tự-thi đua” đọc đi đọc lại bài nghiên cứu khốn nạn “ba kí lô lá sắn bằng hai kí lô thịt bò.” Trong khi dân nếu tin chuyện đảng hướng dẫn, ăn lá sắn đến vàng da, mờ người, thì Bộ Chính Trị và các quan chức dùng sữa, thịt bò Jersy từ trại Ba Vì và sâm nhung hảo hạng. Cái này thì không phải chờ đến sau Tháng Tư, 1975, mà trước kia, Nguyễn Chí Thiện đã nói lên giữa hai màu da mặt tương phản giữa lãnh tụ phè phỡn và quần chúng tí hon, tương lai của đất nước:

“Nước da hai bác mầu hồng

nước da các cháu nhi đồng mầu xanh

giữa hai cái mặt bành bành

chiếc khăn quàng đỏ quấn quanh cổ cò!”

Về sau mới biết vì sao có chuyện lá sắn có protein: Nguyên ngành chăn nuôi Bắc Việt nghiên cứu ngọn lá sắn nếu đem ủ chua vào khẩu phần vỗ béo bò thịt sẽ làm tăng lượng hấp thụ thức ăn. Trọng lượng bò được vỗ béo tăng dần theo mức bổ sung ngọn lá sắn ủ chua trong thức ăn của bò hằng ngày. Việc ủ chua lá sắn cho bò đã tiết kiệm được thức ăn. Nhân dân không được đảng xem là người mà xem như trâu bò, được dùng lá sắn thay cho cá thịt. Dân ngu thì cứ tin đảng và nhà nước tận cùng, đảng và nhà nước thì dối trá, ai chết mặc ai. Cuộc nghiên cứu của những “đỉnh cao trí tuệ” đã được đăng tải trên báo Nhân Dân, cơ quan của đảng Cộng Sản thì ai mà không dám không tin. Con bò ăn lá sắn lên cân, thì con người XHCN cũng có thể ăn lá sắn để tăng sức, con gà toi nhỏ mũi bằng nước tỏi được, thì con người XHCN có thể nhỏ mũi bằng nước tỏi để khỏi toi.

Câu chuyện này làm chúng ta nhớ lại một anh hoạn lợn (thiến heo) bên Tàu, có bà vợ cứ sòn sòn đẻ năm một, cứ nghĩ là cơ phận con người cũng giống heo, cắt tử cung đi là hết đẻ. Một ngày “đẹp trời” nọ, anh trói vợ ra giữa sân, dùng đồ nghề quyết tâm làm cho vợ cai đẻ, bằng cách tìm cách cắt bỏ tử cung của vợ. Lẽ cố nhiên, bà vợ không sao tránh khỏi cái chết do tri thức của anh chồng hoạn lợn ngu dốt. Dân Việt Nam thời “cách mạng” không thiếu người chết, vì các bậc lãnh đạo quốc gia, có đầu óc và tư duy của những anh chàng “thiến heo” loại này.

Thời “cách mạng” đổi đời, dân được khuyến khích đói thì ăn lá sắn, ốm đau thì đã có nước đái, nhân dân tự sản xuất, không cần phải bào chế hay “nhập khẩu!”

Đó là câu chuyện “niệu liệu pháp” từ cuốn sách của Bác Sĩ F.O. Quinn (Mỹ) do nhà nước xuất bản năm 1989, trong đó đã đề cập đến “phương pháp tự chữa bệnh bằng nước tiểu đơn giản, dễ kiếm, dễ dùng nhưng hiệu quả trị bệnh lại rất cao.”

Thời điểm này, cuốn sách xuất bản nhằm mục đích dạy cho dân chúng biết “khắc phục” chứ không phải là một chuyện tình cờ. Sau này giới y học trong nước công nhận nội dung “niệu liệu pháp” thiếu khoa học và gây hậu quả nặng nề, một số người bệnh vì uống nước đái! Cuốn sách sau đó bị cấm lưu hành và trôi vào quên lãng.

Ngày còn nhỏ, ở nhà quê, tôi cũng có nghe nước tiểu trẻ em cho đàn bà mới sinh dậy và có công dụng chữa các chứng bệnh như sốt nóng, ho ra máu, thổ huyết, hoa mắt chóng mặt, tay chân lạnh do huyết dồn lên đầu, sản hậu ứ huyết, tổn thương, huyết ứ… Nhưng không phải nước tiểu được đồn đãi “trị được bá bệnh” như “xuyên tâm liên” mà người dân khốn cùng phải làm liều.

“Trong nước tiểu có hàng loạt chất độc hại như: Amoniac dùng để tẩy rửa, Creatinine làm co bắp thịt, gây chuột rút, đau đớn, Amylase gây hạ đường máu, Ure gây hôn mê, Bilirubine và chì là chất cực độc, lân dùng để bón cây, ngoài ra còn hàng ngàn loại vi trùng, nấm, virus từ nước tiểu, rồi từ hậu môn xâm nhập qua nước tiểu khi chảy xuống… Do đó, có thể nói, nước tiểu người lớn là… thuốc độc.” (VT News)

Nhà văn Quang Lập (Hội Văn Nghệ Bình Thị Thiên) viết trong Blog năm 1985-86: “Vài ngày sau thằng Thịnh đưa tờ báo có bài: ‘Niệu liệu pháp phản khoa học, một trò lừa đảo!’” Cả hội mới ngớ người ra.

Anh Nguyễn Khoa Điềm nói hội mình anh em dại quá toàn nghe người ta xúi bậy. Anh Vĩ nói rất hay sự tuyên truyền rỉ tai nguy hiểm thế nào, tôi đã nói rồi tiếc thay anh em trí thức cả lại không ai cảnh giác.

Anh Nguyễn Quang Hà cười ha ha ha nói, tôi lừa các ông thế mà các ông cũng tin. Anh Văn Lợi nói Lập ơi tao thử trí thông minh mày, chứ đời nào tao uống. Mình cũng nói với Ngô Minh em trêu anh chứ có họa ngu mới đi uống nước đái. Ngô Minh cũng cười khe khe nói tao cũng lừa mày chứ sức mấy tao ngu!”

“Vì bởi người dân ngu quá lợn…” nên mới dễ bị chúng bịp.

Dân trí thức lại còn giở trò bịp nhau.

Thời “giải phóng” đảng nói với dân: “Đừng ăn những gì chúng ông ăn (có đâu mà ăn) mà hãy ăn những gì chúng ông nói!”