Trần gian Một Khúc

Trần gian Một Khúc

( Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. )

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử ?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được.

Cây cối đâm chồi nảy lộc vào muà xuân, xanh tốt xum xuê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngưng nghỉ.
Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường..
Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời.
Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, 2 chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được..

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu:Life is too short. (cuộc đời quá ngắn) Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mải mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi gìa. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễng ngãng, mắt đã kèm nhèm.
Người VN mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi huởng thụ như người Âu Mỹ..

Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi

Bẩy mươi chống gậy ra đi

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo

Ông bếp ngồi cạnh đống tro

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm

Ðời người sống mấy gang tay

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm
Hoặc là

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn.

Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo, mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn.

Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

 

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm.

Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người gìà để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ gìà nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè.


Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Ðế.


Vậy thì hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được.
Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc SỐNG.

S.T.

. NGUYỄN ĐĂNG QUANG: ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

. NGUYỄN ĐĂNG QUANG: ĐẢNG CSVN CÓ DÁM ĐẶT LỢI ÍCH DÂN TỘC LÊN TRÊN?

“Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”. TBT Nguyễn Phú Trọng

____

Blog Tễu

Nguyễn Đăng Quang

15-12-2015

Đảng CSVN hiện có 3,6 triệu đảng viên, chiếm khoảng gần 4% dân số Việt Nam. Trong số này có 200 đảng viên cao cấp chia nhau nắm giữ toàn bộ các vị trí lãnh đạo chủ chốt từ Trung ương xuống tận 63 tỉnh thành trong cả 3 nhánh quyền lực quốc gia: Hành pháp, Lập pháp Hành pháp và Tư pháp, cũng như toàn bộ các tổ chức đoàn thể, ban ngành (hay còn gọi là hệ thống chính trị) của toàn xã hội.  Thủ lĩnh Đảng – người có trọng trách cao nhất – hiện là ông Nguyễn Phú Trọng, đương kim Tổng Bí thư, là nhân vật mà 92 triệu người dân Việt Nam không ai được cầm lá phiếu bầu lên nhưng ông vẫn nghiễm nhiên là lãnh tụ tối cao của cả nước, nắm trọn quyền lực trong tay và toàn quyền quyết định vận mệnh quốc gia.

Ông Trọng cũng như các bậc tiền nhiệm của ông chưa hề một lần tuyên thệ trước Quốc hội, chưa bao giờ thề trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Trong Đại hội ĐCSVN lần XII tới đây, nếu như ông Trọng hoặc bất cứ ai khác được chọn làm Tổng Bí thư thì mặc nhiên cũng không phải tuyên thệ trung thành với Tổ quốc và Hiến pháp. Chức vụ Tổng Bí thư ĐCSVN được đặc cách không phải tuyên thệ trung thành với bất cứ ai do bởi Điều lệ Đảng và Hiến pháp mà Đảng soạn thảo không có điều nào quy định Tổng Bí thư và các Ủy viên Bộ Chính trị phải làm như vậy.

Nếu đất nước và dân tộc Việt Nam được lãnh đạo bởi những  người thực sự vì dân vì nước, luôn đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của họ và của tổ chức chính trị mà họ đại diện thì thật là may mắn và hạnh phúc cho dân tộc và đất nước. Song thực tế lại không phải như vậy. Cương lĩnh cũng như Điều lệ hiện hành của ĐCSVN không có điều nào quy định Đảng phải coi và đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên tối thượng, cao hơn lợi ích của Đảng. Chính TBT Nguyễn Phú Trọng đã xác quyết điều này cách đây không lâu khi Quốc hội thảo luận thông qua Hiến pháp sửa đổi 2013.  Ông thẳng thắn tuyên bố: “Hiến pháp là văn kiện pháp lý quan trọng nhất sau Cương lĩnh của Đảng”.

Đó là về văn bản và lời nói. Còn về những việc làm và hành động cụ thể thì sao? Chỉ xin đề cập đến một lĩnh vực mà bạn đọc dễ phán xét và kiểm chứng, đó là về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Đã có rất nhiều đảng viên và nhân sĩ, trí thức tâm huyết trong những năm qua đã nhiều lần lên tiếng yêu cầu Lãnh đạo Đảng công bố các thỏa thuận mà Đảng đã ký với Trung Quốc ở Hội nghị Thành Đô (thủ phủ tỉnh Tứ Xuyên – Trung Quốc) ngày 4/9/1990.  Nhưng cho đến nay đã trên 25 năm rồi mà Đảng vẫn giữ “quyền im lặng”, vẫn bí mật và lặng lẽ thực hiện những gì Đảng đã ký với Trung Quốc, không công bố và chẳng cần giải thích cho nhân dân và 3,6 triệu đảng viên biết, mặc cho bộ máy tuyên truyền của Trung Quốc tung tin hỏa mù, “nửa đúng, nửa sai, thật giả lẫn lộn” với ý đồ lường gạt, phân hóa và gây chia rẽ nội bộ để họ dễ bề thao túng lãnh đạo nước ta. Nếu sự thực thỏa thuận Thành Đô không có điều khoản nào bất lợi cho dân tộc và đất nước Việt Nam thì Đảng nên công bố cho toàn Đảng, toàn dân biết để nhân dân yên tâm, và sát cánh với Đảng đối phó với nguy cơ “Bắc thuộc mới” không chỉ đang thập thò, lấp ló ở ngoài biên cương, biển đảo mà đã hiển hiện ở sâu trong đất liền và ở cao trong nội bộ chúng ta.

Xâu chuỗi một vài sự kiện sau Hội nghị Thành Đô liên quan đến cuộc  xâm lược nước của 60 vạn quân Trung Quốc ở 6 tỉnh biên giới phía Bắc hồi tháng 2/1979,  ta thấy hình như có một thế lực nào đó ở cả 2 nước muốn nhân dân ta quên hẳn cuộc chiến tranh này.  Người dân và đặc biệt là các CCB trong cuộc Chiến tranh 1979 luôn tự hỏi:

– Vì sao đã 36 năm rồi mà cuộc Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc này của quân và dân ta chưa được Bộ Quốc phòng tổng kết? Vì sao nó không được Bộ Giáo dục biên soạn, đưa vào chương trình sách giáo khoa lịch sử để giảng dạy và giáo dục lòng yêu nước cho học sinh, sinh viên ta?  Vừa qua, thế lực đen tối nào định mưu toan xóa bỏ môn học Lịch sử qua chiêu trò “tích hợp”, nhằm làm cho thế hệ trẻ và con cháu ta sau này không biết gì về truyền thống hào hùng 1000 năm chống trả xâm lược phương Bắc của tổ tiên ta? May mà Quốc Hội đã ít nhiều cảnh giác, kịp ra Nghị quyết ngăn chặn ý đồ đen tối và nham hiểm này.

– Ngay cả các hoạt động kỷ niệm của người dân trong mấy năm qua để tưởng nhớ và vinh danh những anh hùng, liệt sỹ và thương binh trong cuộc chiến chống Trung Quốc xâm lược (2/1979) và tưởng niệm 64 chiến sỹ Hải quân ta đã bị Trung Quốc sát hại khi chúng đánh chiếm đảo Gạc Ma trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam (14/3/1988) cũng bị một lực lượng đông đảo DLV có tổ chức, mặc áo đỏ in Quốc kỳ, mang cờ Đảng, dùng loa hò hét và hát vang bài “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng” để khiêu khích, ngăn cản và phá thối(?!).

– Ai đã chủ trương và làm ngơ cho Trung Quốc thuê trên 300.000 héc ta rừng đầu nguồn chiến lược ở các tỉnh biên giới phía Bắc? Tại sao lại cho Trung Quốc cắm chốt ở hàng chục địa điểm chiến lược và nhạy cảm trên khắp đất nước dưới vỏ bọc đầu tư dự án, thuê đất lâu dài (đến 70 năm như ở Vũng Áng), và đặc biệt việc Trung Quốc được mặc nhiên đóng chốt tại địa bàn chiến lược quan trọng bậc nhất nước ta (Nóc nhà Đông Dương) với bình phong dự án Bauxite Tây Nguyên đầy nguy hại và tai tiếng?

Cách đây chưa đầy một tuần, ngày 9/12/2015 vừa qua, trong “Thư gửi Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, các đại biểu dự Đại hội XII và toàn thể đảng viên ĐCSVN”, (gọi tắt là THƯ 127), một trăm hai mươi bảy(127) đảng viên tâm huyết và các nhân sỹ trí thức nặng lòng với đất nước và dân tộc ở trong và ngoài nước đã mạnh mẽ, thẳng thắn và tha thiết kêu gọi Đảng phải thay đổi: “Trong bối cảnh hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam phải đặt lợi ích quốc gia dân tộc lên trên hết và dựa hẳn vào nhân dân, tự giải thoát khỏi ý thức hệ giáo điều, tự giải phóng chính mình khỏi tình trạng tha hóa của một đảng độc quyền toàn trị, dứt khoát từ bỏ đường lối xây dựng Chủ nghĩa Xã hội theo chủ thuyết Marx-Lenine, chủ động tiến hành cải cách chính trị triệt để và toàn diện theo con đường dân tộc dân chủ…”.

Người viết bài này cho rằng chẳng cần phải khảo sát xã hội hoặc tiến hành trưng cầu ý dân cũng có thể khẳng định là không chỉ đa số Đảng viên ĐCSVN mà toàn thể 92 triệu nhân dân Việt Nam đều muốn ĐCSVN phải đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích cộng sản. Vì đây là lẽ đương nhiên, hợp với triết lý, lẽ sống và đạo đức xưa nay của dân tộc Việt Nam ta. Và đây cũng là nguyên tắc bất di bất dịch của mọi đảng phái chính trị trong tất cả các quốc gia dân chủ trên thế giới ngày nay.

Muốn làm được như vậy, trước hết Đảng phải tự thay đổi, phải dũng cảm đặt lợi ích dân tộc, lợi ích đất nước lên tối thượng, lên trên lợi ích của Đảng, lên trên lợi ích giai cấp và lý tưởng cộng sản. Đã đến lúc không thể không làm điều này.  Quốc gia và dân tộc là tối cao và vĩnh cửu, chứ không phải là Chủ nghĩa cộng sản!  Đảng phải tự thoát khỏi chính mình, phải dũng cảm lột xác để tiến lên cùng dân tộc. Trước hết và trên hết phải coi dân tộc và Tổ quốc Việt Nam là người sinh ra mình, nuôi dạy và bảo vệ mình, chứ tuyệt đối không phải là kẻ mà mình sinh ra, là kẻ mà mình nuôi dưỡng và ban ơn.

Quay đầu là bờ! Con cái có thể bỏ rơi cha mẹ chứ không bao gìơ cha mẹ lại chối từ con cái. Hãy ngước nhìn sang nước bạn láng giềng Myanmar để học tập và noi gương những bước đi quả cảm, đầy khôn ngoan, đầy trách nhiệm nhưng vô cùng sáng suốt của giới quân phiệt cầm quyền. Họ đã chấp nhận và thực hiện một cuộc chuyển đổi ngoạn mục cho đất nước Myanmar do họ biết hy sinh quyền lợi cá nhân của các tướng lãnh, họ đã sáng suốt đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên tối thượng lên trên lợi ích của tập đoàn quân phiệt và đảng cầm quyền Liên minh Đoàn kết và Phát triển Myanmar. Cuộc chuyển đổi chính trị ở Myanmar không có kẻ thua, chỉ có người thắng, và người thắng lớn nhất là dân tộc Myanmar khôn ngoan và dũng cảm.

Hà Nội, ngày 14/2/2015.

N.Đ.Q.

Về hay ở?

Về hay ở?

Cát Linh, phóng viên RFA
2015-12-14

000_Hkg10120669

Một buổi lễ tốt nghiệp đại học được tổ chức tại Văn Miếu, Hà Nội vào ngày 18 tháng 11 năm 2014.

AFP photo

Your browser does not support the audio element.

Du học là một ước mơ lớn của tất cả những học sinh Việt Nam từ xưa đến nay. Có rất nhiều người đã đỗ đạt thành danh và quay trở về. Nhưng hình như, thời gian đã chứng minh đó là những người của “muôn năm cũ’. Còn những học sinh thời nay, khi có cơ hội nhận được nền nền giáo dục nước ngoài, thì đa số họ chọn con đường ở lại. Điều này gần đây trở thành một vấn đề được đưa ra tranh luận rất nhiều, và có nhiều phản ứng khác nhau về việc “về hay ở”.

Tư duy quản lý cũ kỹ

Trong tuần vừa qua, dư luận trong nước và cả cộng đồng mạng có rất nhiều tranh luận liên quan đến việc Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, giảng viên trường ĐH Kỹ thuật-Công nghệ Cần Thơ, người mà truyền thông trong nước cho là đang bị gây khó dễ do nói xấu nhà trường trên facebook cá nhân.

Vấn đề đáng chú ý đó là Doãn Minh Đăng cũng chính là cựu thí sinh của cuộc thi nổi tiếng Đường lên đỉnh Olympia, tốt nghiệp một trường đại học danh giá ở Hà Lan bằng ngân sách của thành phố. Sau đó anh đồng ý về VN công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy.

Sau khi sự việc của Doãn Minh Đăng được nói đến trên truyền thông, rất nhiều những người từng là thủ quân, á quân của Đường lên đỉnh Olympia, lên tiếng về sự lựa chọn ở lại quốc gia mà họ đã tiếp nhận nền giáo dục. Quan điểm của họ nhận được nhiều sự ủng hộ của cộng đồng Việt Nam. Ví dụ như Nguyễn Thành Vinh, á quân của mùa Olympia đầu tiên, sang Úc du học sau khi giành được học bổng của chính phủ Úc. Hiện nay, Nguyễn Thành Vinh đang có cuộc sống và công việc ổn định ở thành phố Perth, miền Tây nước Úc. Trong cuộc trả lời phỏng vấn truyền thông trong nước về sự việc của Tiến sĩ Doãn Minh Đăng, anh nói rằng: “Câu chuyện của Doãn Minh Đăng là một trong những lý do để một số du học sinh như chúng tôi cảm thấy mình cần có những lựa chọn khác mà không nhất thiết phải về nước làm việc.”

Trong rất nhiều những lý do Nguyễn Thành Vinh cho là không nên quay về sau khi học xong, thì câu nhận định “về nước là lãng phí cho cả hai bên’ của cựu thí sinh này gây chú ý nhiều nhất cho dư luận.

Một người nữa, đó là Đỗ Thị Hồng Nhung, á quân mùa thứ hai của Đường lên đỉnh Olympia, hiện tại đang hoàn tất khoá học thạc sĩ ở Phần Lan, việc trở về nước cũng đang được cô suy tính.

Rất nhiều lý do được chính người trong cuộc và dư luận đưa ra. Trong đó, lý do lớn nhất mà theo cuộc khảo sát của viện John Von Newmann thuộc trường Đại học quốc gia VN đưa ra đó là môi trường làm việc ở VN không thích hợp cho việc nghiên cứu và làm việc của họ.

Câu chuyện của Doãn Minh Đăng nói riêng và những du học sinh khác nói riêng, được giáo sư Nguyễn Đăng Hưng, người từng là một trong ba sinh viên xuất sắc của Việt Nam nhận học bổng du học tại vương quốc Bỉ, và sau nhiều năm nghiên cứu và giảng dạy ở châu Âu, ông quay về nước và làm cố vấn cho trường Đại học Việt Đức, cho biết nhận định của ông.

“Ở Việt Nam hiện nay, tuy có một số trường tương đối là có một chút tiến bộ. Nhưng đại bộ phận các trường Việt Nam thì tư duy quản lý của họ cũng rất là cũ kỹ, và họ vẫn chưa tôn trọng cái tự do học thuật, tự do chọn lựa của nhà khoa học đã thành danh, tiến sĩ của các nước tiên tiến về nước làm việc. Do đó có những mâu thuẫn xảy ra. Các nhà khoa học trẻ khi làm việc thì gặp rất nhiều những khó khăn, đừng nói là những khó khăn về tài chánh, ngay cả môi trường làm việc cũng gặp những khó khăn rất nan giải.”

“Rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa”

Bên cạnh những người ủng hộ quan điểm của người ở lại, như Nguyễn Thành Vinh, thì cũng có những người nhìn sự việc về hay ở bằng một cái nhìn khác. anh Nguyễn Quang Thạch, người đã bỏ ra gần 20 năm để xây dựng chương trình Sách hoá nông thôn nhìn sự đóng góp của từng cá nhân ở một góc độ khác. Anh cho biết:

“Theo tôi thì để xã hội Việt Nam để tốt đẹp như những quốc gia mà các bạn đang sống ấy, thì tôi nghĩ hiện tình xã hội Việt Nam là một mảnh đất màu mỡ cho mọi người cống hiến và sáng tạo. tôi nghĩ rằng đang còn sa mạc thì cần người trồng cây, còn rừng nào cũng như rừng Amazon thì đâu cần người trồng cây nữa. Nghĩa là mỗi cá thể hãy đối diện với mình thật rõ ràng để xem mình có năng lực gì để cống hiến cho xã hội cho đất nước, đừng sợ rằng mình không được sử dụng, không được xã hội thừa nhận. Cứ hãy có sản phẩm đi đã. Chừng nào sản phẩm của ông ở mức nào thì xã hội thừa nhận mức đó.

Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam.
– Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng

Chẳng hạn như khi tôi mới đặt mục tiêu vận động cấp trường làm tủ sách phụ huynh thì cấp trường thừa nhận và áp dụng. Đến khi tốt rồi thì phòng giáo dục áp dụng và thừa nhận. Đến khi cấp sở áp dụng và có văn bản nhân rộng ra khắp tỉnh. Cái nỗ lực của tôi và người khác đã được thừa nhận và áp dụng. Bây giờ cấp Bộ đã mời chúng tôi, đối thoại với chúng tôi để tạo ra những chiến lược chủ trương hoá bằng văn bản.”

Có lẽ dư luận có sự quan tâm đến câu chuyện của Doãn Minh Đăng nhiều hơn vì cũng mới vào đầu tháng 11 vừa qua, Đại biểu Quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà, TP Hồ Chí Minh đã đưa ra câu hỏi về việc vì sao đa số sinh viên VN đi du học và chọn con đường ở lại. Ông dẫn chứng chính trường hợp của 13 học sinh nhận học bổng sang Úc du học của cuộc thi “Đường lên đỉnh Olympia” và 12 người trong số họ không quay về nước sau khi kết thúc chương trình học.

Như đã trình bày ở trên, tuy rằng Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng có đưa ra những nhận định của ông về thực trạng của môi trường giáo dục và điều kiện phát triển chuyên môn ở Việt Nam, nhưng ông vẫn có những thông cảm cho quyết định của người không quay về.

“Tôi vẫn luôn luôn cổ vũ cho việc các bạn trẻ Việt Nam khi học đã thành tài, đỗ đạt, qua thời gian tập sự thì tôi luôn cỗ vũ là quay về Việt Nam để giúp cho việc phát triển nền đại học của Việt Nam. Tôi là người luôn cổ vũ cho việc này. Tuy là tôi thông cảm cho những sự lựa chọn khác. Tôi nghĩ là có nhiều người có những chân đứng, có vị trí mà nó phù hợp để họ phát triển, cống hiến cái tài của họ mà họ ở lại. Và cũng có thể vì những lý do gia đình. Thú thật là tôi cũng thông cảm. Tôi thông cảm vì cái điều kiện ở Việt Nam có nhiều vấn đề đặt ra cho những người giáo viên trẻ này không có cái dũng khí, kiên nhẫn để mà thắng được những thách thức thì sẽ có rất nhiều khó khăn.”

Qua nhiều nhận định khác nhau của nhiều người thì có lẽ câu hỏi của ông đại biểu quốc hội Nguyễn Ngọc Hoà vẫn còn là một câu hỏi lớn chưa có lời đáp.

 

THEO GƯƠNG MẸ MARIA, SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

THEO GƯƠNG MẸ MARIA, SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

 Mùa Vọng là thời gian để chúng ta chuẩn bị tâm hồn đón mừng mầu nhiệm Ngôi Hai Thiên Chúa xuống thế làm người.  Trong thời gian này, Giáo Hội đã cho chúng ta chiêm ngưỡng những mẫu gương sống động của các nhân vật trong Kinh thánh như: Tiên tri Isaia, Gioan tẩy giả, cũng như qua cách sống và những tâm tình của các ngài trao gởi lại, thì đó cũng là những bài học rất quý giá để chúng ta sống tốt đẹp hơn trong thời gian mùa Vọng.

DUC ME

Thật thiếu sót, nếu chúng ta không kể đến Mẹ Maria trong thời gian mong đợi Con Chúa giáng trần.  Bởi vì Mẹ Maria cũng đã từng sống tâm tình mùa Vọng như bao người khác.  Thế nhưng, hơn ai hết, kinh nghiệm sống tâm tình mùa Vọng nơi Mẹ Maria vẫn luôn là tiếng gọi thúc giục lòng ta hãy thành tâm chiêm ngưỡng cách sống mùa Vọng nơi Mẹ.  Nhờ vậy chúng ta sẽ có những tâm tình xứng hợp trong khi chúng ta hướng về ngày Chúa đến trong trần gian.

1/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa Vọng bằng đời sống thánh thiện:

Vì ý thức Đấng Thiên Sai muôn dân mong đợi là Đấng thánh, nên thời gian sống tâm tình mong đợi con Thiên Chúa nơi Mẹ Maria, đã được dệt bằng những chuỗi ngày vô tận của sự thánh thiện.  Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn sẽ được đón nhận niềm vui ơn cứu độ cách tròn đầy.  Mẹ sống thánh thiện, vì Mẹ xác tín những tâm hồn thánh thiện là những tâm hồn luôn làm đẹp lòng Chúa là Đấng Thánh.  Và Ngài rất vui khi được hiện diện với những tâm hồn như thế.

Về điểm này, chúng ta hãy suy nghĩ lại những hành động của Chúa Giêsu khi Ngài tiến về Giêrusalem để thực hiện cuộc thanh tẩy Đền thờ.  Vì phía sau hành động thanh tẩy Đền thờ Giêrusalem, Chúa Giêsu muốn nhắc nhở chúng ta phải tự thanh tẩy đền thờ tâm hồn chính mình, nhờ vậy Thiên Chúa là Đấng thánh mới vui thích ngự trong những tâm hồn trong sạch như Ngài.

Hơn ai hết, cách sống tâm tình mùa Vọng của Mẹ Maria đã để lại dấu ấn không thể ngờ và không thể phai mờ.  Không thể ngờ vì qua sự chuẩn bị tích cực để mong đợi Đấng Cứu Độ nơi Đức Maria, Thiên Chúa đã đoái nhìn đến cách sống thành tâm tuyệt vời ấy.  Vì thế, một điều bất ngờ xảy ra nơi Mẹ là Thiên Chúa đã tuyển chọn Mẹ, Người Nữ Thánh Thiện được làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Thiên Chúa đã chọn cung lòng thanh khiết của Mẹ để trao gởi Người Con Yêu Dấu của Ngài là Đấng Thánh, và qua trung gian Mẹ Maria Thiên Chúa đã trao ban Đấng Cứu Độ cho loài người.  Đó là một điều bất ngờ đối với Mẹ Maria.  Thế nhưng, qua sự bất ngờ này thì Mẹ Maria đã thể hiện một dấu ấn không thể phai mờ.  Vì từ giây phút bất ngờ khi được Con Thiên Chúa nhập thể trong cung lòng mình, cũng từ giây phút ấy, Mẹ Maria đã khiêm tốn chỉ cho chúng ta con đường để chúng ta gặp Chúa, để Chúa đến với chúng ta.  Con đường Mẹ chỉ dạy chúng ta đó là hãy trở lại kinh nghiệm của chuỗi ngày vô tận sống thánh thiện nơi Mẹ.  Vì chuỗi ngày thời gian sống thánh thiện của Mẹ, đã hình thành nên bài thánh ca muôn thuở để mời gọi mọi người hãy can đảm sống tâm tình mùa vọng bằng đời sống thánh thiện như Mẹ Maria, Trinh Nữ Thánh Thiện.

2/ Mẹ Maria sống tâm tình mùa Vọng bằng đời sống khiêm nhường:

Khiêm nhường là cách sống Mẹ rất ưa thích.  Mẹ thích sống khiêm nhường, bởi vì nhờ những tâm tình ấy mà Mẹ thật sự trở nên một người con bé nhỏ của Thiên Chúa, luôn phó thác cuộc đời mình cho Thiên Chúa, luôn sống theo những gì Chúa đã dạy.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thưa hai tiếng xin vâng ý Chúa trong ngày truyền tin, để từ giây phút ấy mẹ đã trở nên Thánh mẫu của Đấng Tối Cao.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Mẹ sẵn sàng thi hành lời Chúa dạy trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống: Lúc vui, lúc buồn, lúc bối rối, lúc lo sợ, lúc an bình…… Nhờ việc hạ mình sống theo Lời Chúa mà Mẹ Maria được gọi là người có phúc.  Mẹ có phúc vì Mẹ là người luôn “lắng nghe và tuân giữ Lời Thiên Chúa” (Lc: 11, 28).

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên Thiên Chúa đã chọn Mẹ làm Mẹ Đấng Cứu Thế.  Đấng vốn dĩ là Thiên Chúa, nhưng đã khiêm nhường tự hạ mang lấy thân phận con người, và trong thân phận con người Ngài đã mang lấy thân phận nô lệ để phục vụ sự sống cho muôn người.

Vì Mẹ thích sống khiêm nhường, nên qua đời sống gương mẫu tuyệt vời ấy, Mẹ muốn nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa là Đấng khiêm nhường, Ngài rất thích những ai sống khiêm nhường.  Chỉ có những tâm hồn sống khiêm nhường như Chúa mới có thể gặp được Chúa và được Chúa đến viếng thăm cư ngụ trong tâm hồn người ấy.  Vì Thiên Chúa bản chất là khiêm nhường, nên Ngài không bao giờ đến với những ai kiêu căng, cậy dựa chức quyền, cậy dựa vào sức mạnh của trần thế để bôi nhọ hình ảnh tốt đẹp của Thiên Chúa là Đấng hiền lành và khiêm nhường.  Về điểm này chính Mẹ Maria đã nhắc nhở cũng như đã cảnh cáo những ai sống ngược lại với cách sống khiêm nhường của Chúa, khi Mẹ nói: “Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh, dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.  Chúa hạ bệ những ai quyền thế, người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường” (Lc: 1, 51-52).

Chúng ta đang sống trong Mùa Vọng.  Thiết nghĩ, chúng ta nên thay đổi cách sống để cùng với Mẹ Maria sống những tâm tình Mùa Vọng.  Vì đối với Chúa, những cố gắng quyết tâm chân thành sống phút giây hiện tại, cũng có thể biến chuyển đời sống chúng ta trong tương lai.  Hơn nữa, sống tâm tình mùa Vọng không chỉ dừng lại bởi thời gian được ấn định trong năm phụng vụ.  Nhưng tâm tình hướng về Con Thiên Chúa đến trần gian, đến trong cõi lòng chúng ta phải được thực hiện trong từng phút giây của nhịp sống.

Như vậy, khi khám phá hình ảnh sống mùa Vọng nơi Đức Maria qua đời sống thánh thiện và khiêm tốn, thì đó cũng là lúc Mẹ chỉ cho chúng ta con đường hoàn hảo nhất, đẹp lòng Chúa nhất để Chúa đến với chúng ta.

Nếu chúng ta thật lòng sống thánh thiện như Mẹ mà không bị giằng co bởi những thú vui giả tạo mau qua của thế gian, chắc chắn đó là con đường hoàn hảo nhất để Chúa là Đấng Thánh giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.  Nếu như chúng ta thật lòng sống khiêm nhường như Mẹ trong mọi hoàn cảnh, mà không lo sợ phải thiệt thòi bởi những thứ ham muốn của sức mạnh trần thế, chắc chắn đó là con đường đẹp lòng Chúa nhất để Chúa giáng sinh trong cõi lòng chúng ta.

Lạy Mẹ Maria!  Ước gì những tâm tình sống mùa Vọng nơi Mẹ sẽ là hành trang luôn đồng hành trong cách sống đức tin chúng con.  Nhờ đó chúng con cũng được đón nhận nguồn ơn cứu độ như Mẹ.  Lạy Mẹ Maria, xin cho niềm vui giáng sinh sắp đến được khơi dậy bằng ước muốn sống thánh thiện và khiêm nhường trong từng phút giây hiện tại của đời sống chúng con.  Amen.

LM Giuse Nguyễn Minh Chánh

langthangchieutim gởi

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’

‘Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản’
Nguoi-viet.com


Ngô Nhân Dụng

Nhà báo Trần Quang Thành mới đưa lên mạng Danlambao những hình ảnh người Việt Nam kỷ niệm Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, ở Canada, ở Ðức. Nhưng đặc biệt nhất là quang cảnh những cuộc biểu tình tuần hành tại Hà Nội trong ba ngày, ngày 3, 4 và 10 tháng 12 năm 2015.

Cuộc biểu tình đầu tiên diễn ra tại công viên dựng tượng đài Lý Thái Tổ nằm bên bờ hồ Hoàn Kiếm đã bị công an đàn áp. Sáng hôm sau ngày 4 tháng 12, đồng bào quay trở lại tụ tập trước cửa “trụ sở tiếp dân” của đảng Cộng Sản ở ngôi nhà số 1 phố Ngô Thì Nhậm, quận Hà Ðông, Hà Nội. Tới ngày 10 tháng 12, đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền, hàng trăm đồng bào lại mở một cuộc biểu tình bắt đầu từ trụ sở trên để biến thành một cuộc tuần hành qua các đường phố Quang Trung, Nguyễn Trãi dài hàng cây số.

Nhà báo tự do tị nạn Cộng Sản Trần Quang Thành đang sống tại nước Slovakia đã khéo trình bày các bức hình do chính các người đi biểu tình chụp cho thấy cả rừng biểu ngữ chen lẫn với những khuôn mặt các cụ già với cả các thiếu niên, phần lớn là các ông bà lớp tuổi trung niên.

Trong những đoàn hàng trăm người biểu tình, hầu như ai cũng cầm biểu ngữ, hoặc mỗi người một biểu ngữ nhỏ hoặc hai ba người mang một biểu ngữ lớn. Các biểu ngữ nhỏ dùng giấy bìa màu trắng chữ đỏ, biểu ngữ lớn dùng vải màu vàng chữ đỏ hoặc ngược lại vải đỏ chữ vàng, nét chữ viết rõ ràng có thể đọc được trong các bức hình, cho thấy các cuộc biểu tình này đã được chuẩn bị trước “rất kỹ.” Không những thế, mặc dù công an đã cướp mất nhiều biểu ngữ trong ngày 3 tháng 12 tại Bờ Hồ nhưng ngay hôm sau một số biểu ngữ cũ vẫn xuất hiện trở lại trên phố Ngô Thì Nhiệm. Ðiều này chứng tỏ những người tổ chức các cuộc biểu dương này phải được một phe cánh trong đảng cộng sản ngầm hỗ trợ. Nhưng không phải vì thế mà các cuộc tập họp quần chúng này không diễn tả đúng ý chí của người dân Việt Nam hiện nay.

Cả ba cuộc biểu tình được giới thiệu là quy tụ “Dân Oan Ba Miền” đấu tranh đòi nhà cầm quyền Cộng Sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân. Nhưng đọc trên những biểu ngữ người ta thấy mục tiêu tranh đấu rộng hơn nhiều.

Những người biểu tình đã nhân danh các “Dân Oan” đòi nhà, ruộng, đất đai bị cướp là việc làm chính đáng để được mọi người hiểu và ủng hộ. Cho nên có những biểu ngữ nêu đích danh như “Tố cáo Lê Văn Nghĩa P chủ tịch Tiền Giang…” Một biểu ngữ khác viết “tố cáo chủ tịch Tây Ninh…” Trên nhiều biểu ngữ còn thấy nêu tên các tỉnh khác như trên một biểu ngữ là “Dân Oan Ðồng Nai,” hoặc Long An, Hải Dương, Thanh Hóa. Trên một bức hình thấy được một phần, có nêu tên “…Nguyễn Văn Ðẹn, Nguyễn Tấn Phước,… năm 2008… tỉnh Tiền Giang…”

Biểu ngữ đầy đủ nhất viết trên một tấm vải rộng: “Dân oan ba miền đấu tranh đòi nhà cầm quyền cộng sản phải trả lại quyền tư hữu đất đai tài sản của người dân.” Một tấm vải viết ngắn gọn hơn: “Trả quyền tư hữu đất đai cho dân!” Và một lời kêu cứu khác còn kêu gọi “Ðảng ơi! Cứu chúng tôi dân bị phá nhà cướp tài sản!” (Các dấu than do người tường thuật viết thêm). Với những lời lẽ đó chúng ta có thể nghĩ các người biểu tình vẫn không muốn đụng tới đảng Cộng Sản. Nhưng lại xuất hiện nhiều biểu ngữ khiến người ngoài thấy dân chúng đã dám tấn công thẳng vào đảng Cộng Sản!

Một tấm biểu ngữ viết: “Phản đối cộng sản cường quyền dùng bạo lực đàn áp khủng bố người dân.” Có người diễn tả một cách giản dị hơn: “Tôi không thích ÐCSVN!” Một tấm khác cho thấy đối với dân chúng chế độ Cộng Sản và chế độ công an là một, viết rõ ràng: “Còn đảng Cộng Sản, còn công an trị, dân ta còn mất quyền làm người.” Ðây là một trên các biểu ngữ trong các bức hình nhắc đến quyền làm người, khi các cuộc biểu tình nhằm đúng Ngày Quốc Tế Nhân Quyền. Tiếp theo là những khẩu hiệu đòi, “Trả lại quyền Tự do ngôn luận, Tự do báo chí, Tự do lập hội, Tự do tín ngưỡng cho người dân.”

Biểu ngữ viết “Còn đảng cộng sản, còn công an trị,…” là một câu trả lời cho khẩu hiệu của công an cộng sản viết rằng: “Ðảng còn thì mình còn!” Dân Việt Nam đã vạch rõ cái này còn và cái kia còn đều là tai họa cho người dân! Phần lớn các khẩu hiệu nêu ra đều nhắm thẳng vào chế độ đàn áp, phi nhân của công an mà những người biểu tình chính là các nạn nhân. Nhiều người biểu tình mang biểu ngữ: “Ðả đảo công an tra tấn, đánh đập, bức cung người dân vô tội;” hay “Bắt người vô tội để cướp đất là một tội ác.” Ông Trần Văn Sang, từ xã Dương Nội đã bị công an đánh gẫy chân trong nhà tù, ông bị bắt sau khi biểu tình dân oan đòi đất. Lần này ông ngồi trên xe lăn, với chiếc nạng chống bên cạnh, tham gia đoàn tuần hành mang tấm biểu ngữ viết: “Ðả đảo công an đánh Trần Văn Sang tàn phế.” Trong ngày 10 tháng 12, có người còn hiên ngang hô to khẩu hiệu “Ðả đảo đảng cộng sản.”

Ngoài anh Trần Văn Sang, rất nhiều người đã tham dự biểu tình để lên tiếng về những tai họa cho chính họ và gia đình họ do chế độ Cộng Sản gây ra. Trong cuộc tuần hành hình ảnh một em bé gái nổi bật với tấm áo đỏ viết hàng chữ tự giới thiệu: “Cháu Ðoàn Trương Anh Thư” với câu “Tuổi thơ của con bị bọn tham nhũng cướp mất!” Ðông đảo và bền chí nhất chắc là gia đình bà người bị tuyên án tử hình sau những phiên tòa xử không đúng luật. Họ mang các biểu ngữ đòi “Trả tự do cho tử tù Nguyễn Văn Chưởng, Lê Văn Mạnh, Hồ Duy Hải.” Những vụ “án oan” này đã sôi nổi trong dư luận suốt nhiều năm nhưng chế độ tư pháp của đảng Cộng Sản vẫn chưa nhận tội! Các hình ảnh được đưa ra nhiều lần cho thấy những nét đăm chiêu nhưng cương quyết của gia đình các nạn nhân. Trước các khuôn mặt buồn rầu của những người mẹ già, những bà vợ và các đứa con là các tấm bảng viết “Trả tự do con tôi!” “Trả tự do bố tôi!” “Trả tự do em tôi! Vân vân.

Những hình ảnh cuộc biểu tình và diễn hành do các nhà nhiếp ảnh Trịnh Bá Phương, Nguyễn Huy Tuấn và cô Trương Thanh Quang ở Tiền Giang đưa lên mạng, được nhà báo Trần Quang Thành biên tập thành những bản tin, kèm theo điệu hát bài “Dậy mà đi hỡi đồng bào ơi.”

Trong cùng thời gian qua, trên mạng còn xuất hiện một đoạn video cho thấy cuộc biểu tình của giới tiểu thương Huế ở chợ Ðầu Mối Bãi Dâu vào ngày 1 tháng 12 năm 2015. Ðó là ngày hết hạn ghi danh để đổi sang khu chợ mới nhưng hàng trăm tiểu thương vẫn phản đối quyết liệt và không chịu dời chợ cũ.

Truyền thông trên mạng là một phương tiện phổ biến nhanh chóng và đầy đủ, có thể khích động các cuộc tranh đấu đòi tự do dân chủ của người dân các nước bị độc tài đàn áp. Ba cuộc biểu tình nhắm những mục tiêu khác nhau diễn ra liên tiếp tại Hà Nội khiến người ta nghi ngờ đằng sau có những cuộc tranh chấp phe phái của giới cầm quyền Cộng Sản, trước khi họ họp đại hội đảng vào năm tới. Trong số các biểu ngữ có nhắc đến một tên tuổi duy nhất, trong lời kêu gọi gửi cho Nguyễn Tấn Dũng. Chúng ta cũng không thể biết Nguyễn Tấn Dũng chủ mưu gây ra những cuộc biểu tình này, hay những phe chống Nguyễn Tấn Dũng mới đứng đằng sau xúi giục để làm hại Dũng!

Dù ai đứng đằng sau thì khi được dịp đi biểu tình phản kháng chế độ Cộng Sản đàn áp cướp tài sản dân lành, đánh, giết người vô tội, là các đồng bào của chúng ta đều sẵn sàng tham gia! Cần phải khuyến khích nhiều cuộc biểu tình như vậy, ở khắp nơi, dù do bất cứ ai trong đảng Cộng Sản muốn dùng thủ đoạn đó trong cuộc tranh giành quyền lợi lẫn nhau!  Nếu các cán bộ cấp tỉnh, cấp huyện dám thi hành thủ đoạn này thì những người “dân oan” cũng sẵn sàng tham dự để dùng gậy ông đập lưng ông! Những biểu ngữ “Ðả đảo công an – Ðả đảo đảng cộng sản” càng được trưng lên ở nhiều nơi, càng nhiều lần, thì ngày dân ta được hưởng dân chủ tự do càng đến gần hơn!

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

Trung Quốc: Ván bài lật ngửa

VOA

13.12.2015

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Hình ảnh vệ tinh chụp hồi tháng Sáu cho thấy Trung Quốc gần hoàn tất đường băng dài 3.000 mét trên bãi đá Chữ Thập.

Ở Việt Nam, nhiều người, trong đó có thể có cả một số người trong giới lãnh đạo, dường như còn mơ hồ trước các âm mưu của Trung Quốc trên Biển Đông. Thực tình, tôi hoàn toàn không hiểu về cái gọi là “mơ hồ” ấy. Bởi sự thực đã rõ rành rành: Trung Quốc không hề giấu giếm các âm mưu của họ. Có thể nói, họ đang chơi một ván bài lật ngửa.

Chính quyền Trung Quốc luôn luôn khẳng định một số “lợi ích cốt lõi” (core interests) mà họ cương quyết không nhân nhượng bất cứ ai hết: Đó là Tây Tạng, Đài Loan và Biển Đông đều thuộc về họ. Sự khẳng định chủ quyền đối với Tây Tạng và Đài Loan đã có từ lâu nên không làm ai ngạc nhiên. Sự khẳng định thứ ba, mới hơn, từ hơn một thập niên vừa qua, liên quan trực tiếp đến chủ quyền và quyền lợi của nhiều quốc gia, trong đó, có Việt Nam. Sự khẳng địnhg này bao gồm hai nội dung chính: Một, Trung Quốc cho tất cả những hòn đảo, rạn san hô và bãi đá thuộc Trường Sa mà Việt Nam và Philippines đang trấn giữ vốn thuộc về họ: Chúng bị Việt Nam và Philippines cưỡng đoạt một cách “phi pháp”. Hai, căn cứ trên quan niệm cho cả Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về họ, Trung Quốc đã vẽ nên tấm bản đồ chủ quyền gồm chín đoạn (còn được gọi là đường chữ U hoặc lưỡi bò) bao trùm lên phần lớn diện tích Biển Đông. Với hai nội dung này, Việt Nam có hai điều có thể mất: Một, 29 thực thể, từ đảo đến bãi đá và rạn san hô ở Trường Sa; và hai, toàn bộ vùng biển bao quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

Có thể nói việc Trung Quốc chiếm lĩnh toàn bộ Trường Sa và Biển Đông chỉ là vấn đề khi nào và bằng cách nào chứ không phải là chuyện có hay không. Trung Quốc đã khẳng định dứt khoát điều đó. Chả có gì để hoài nghi cả.

Để chiếm lĩnh Trường Sa và Biển Đông, Trung Quốc sử dụng ba sách lược chính.

Thứ nhất là sách lược tằm ăn dâu (salami slicing), tức chiếm từ từ, dần dần, mỗi lúc một ít. Trước, Trung Quốc chiếm Hoàng Sa: Việt Nam không phản đối. Sau, Trung Quốc công bố con đường lưỡi bò vắt ngang qua vùng biển vốn thuộc về Việt Nam: Việt Nam không phản đối. Gần đây, Trung Quốc cho giàn khoan vào thềm lục địa Việt Nam để thăm dò dầu khí: Việt Nam chỉ phản đối lấy lệ. Rồi Trung Quốc cải tạo các bãi đá ở Trường Sa thành đảo nhân tạo: Việt Nam im lặng. Hầu như tất cả các nhà quan sát quốc tế đều tiên đoán, một lúc nào đó, Trung Quốc sẽ công bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển.

Xin lưu ý là để chống lại sách lược tằm ăn dâu này, Mỹ đã điều chiến hạm đến gần các hòn đảo mới cải tạo ở Trường Sa của Trung Quốc: Trung Quốc chỉ phản đối lấy lệ. Nhưng ở đây có hai vấn đề: Một, Mỹ không thể cứ đưa chiến hạm đến Trường Sa mãi được; hai là Việt Nam không mạnh và cũng không tự tin như Mỹ nên sẽ không dám đưa tàu thuyền đến gần các hòn đảo ấy. Cái “không dám” ấy sẽ được xem như một hành động mặc nhiên thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Biển Đông. Sau này, khi Trung Quốc tuyên bố vùng nhận dạng hàng không tương ứng với con đường lưỡi bò trên biển cũng vậy. Mỹ cũng sẽ bất chấp những lời tuyên bố ấy và họ sẽ cho máy bay lượn qua lượn lại trong vùng nhận dạng ấy để chứng tỏ là nó phi pháp và vô giá trị. Nhưng Việt Nam thì khác. Sợ, mỗi lần có tàu bè đi ngang qua Biển Đông hoặc có máy bay đi ngang qua vùng nhận dạng hàng không, Việt Nam sẽ xin phép Trung Quốc: Đến lúc ấy, Trung Quốc bất chiến tự nhiên thành.

Sách lược thứ hai của Trung Quốc là ngăn chận mọi nỗ lực quốc tế hoá hoặc đa phương hoá các tranh chấp trên Biển Đông. Sách lược này bao gồm hai nội dung chính: Một là yêu cầu Mỹ không can thiệp vào các cuộc tranh chấp ấy; hai là phá vỡ tất cả các nỗ lực thống nhất quan điểm về Biển Đông của khối ASEAN. Trung Quốc chủ trương mọi tranh chấp cần được giải quyết song phương, giữa Trung Quốc và các nước liên hệ. Bằng cách này, Trung Quốc làm suy yếu mọi đối thủ. Bởi mọi quốc gia tranh chấp đều nhó, yếu và, với nhiều mức độ khác nhau, đều lệ thuộc vào Trung Quốc. Ở phương diện này, chúng ta thấy ngay là Việt Nam đã sập bẫy Trung Quốc khi chấp nhận biện pháp song phương trong các cuộc tranh chấp về chủ quyền trên Biển Đông với Trung Quốc.

Sách lược thứ ba của Trung Quốc là mua chuộc. Cho đến nay, Trung Quốc hoàn toàn thành công trong việc mua chuộc Thái Lan và, đặc biệt, Campuchia. Hầu hết các cuộc hội nghị của khối ASEAN những năm gần đây đều thất bại trong việc có một thông báo chung nhằm lên án âm mưu xâm chiếm Biển Đông của Trung Quốc. Có năm thông báo chung không ra đời. Có năm thông báo chung chỉ nhắc đến tình hình phức tạp trên Biển Đông nhưng lại hoàn toàn không nhắc đến tên Trung Quốc. Nguyên nhân gây nên những thất bại ấy đều xuất phát từ một nước: Campuchia, quốc gia vốn được xem là thân cận nhất của Việt Nam.

Không loại trừ khả năng Trung Quốc cũng đã mua chuộc được khá nhiều người trong giới lãnh đạo Việt Nam. Lâu nay, nói đến giới lãnh đạo Việt Nam, hầu như ai cũng biết là họ chia thành hai phe: phe thân Trung Quốc và phe thân Tây phương. Chúng ta hoàn toàn không biết chính xác người nào thuộc phe nào. Tuy nhiên, quan sát các động thái của nhà cầm quyền Việt Nam đối với các vấn đề liên quan đến Biển Đông, chúng ta cũng có thể thấy phe thân Trung Quốc khá nhiều và khá mạnh. Chính cái phe ấy làm cho mọi nỗ lực thoát Trung đều yếu ớt và không có hiệu quả. Cũng chính cái phe ấy làm cho mọi con đường ngả sang Tây phương, chủ yếu là Mỹ, cứ quanh co, khúc khuỷu, không có một định hướng nào rõ ràng.

Quan sát các phản ứng của chính quyền Việt Nam đối với ba sách lược kể trên, tôi cho việc mất Trường Sa và Biển Đông vào tay Trung Quốc chỉ còn là vấn đề thời gian. Sớm hay muộn, vậy thôi.

Tu Thân

Tu Thân

Thấy người hay, thì phải cố mà bắt chước.

Thấy người dở thì phải tự xét xem có dở như thế không dễ mà sửa đổi.

Chính mình có điều hay, thì phải cố mà giữ lấy;

Chính mình có điều dở, thì phải cố mà trừ đi.

Người chê ta, mà chê phải, tức là thầy ta.

Người khen ta, mà khen phải, tức là bạn ta.

Còn người nịnh hót ta lại là người cừu địch hại ta vậy.

 

     Cho nên người quân tử trọng thầy, quí bạn và rất ghét cừu địch,

thích điều phải mà không chán, nghe lời can mà biết răn…

như thế dù muốn không hay cũng không được.

 

    Kẻ tiểu nhân thì không thế.

Làm chuyện cực bậy, mà lại ghét người chê trách mình;

Rất dở, mà lại thích người khen mình;

Bụng dạ như hổ lang, ăn ở như cầm thú,  mà thấy người ta không phục, lại không bằng lòng.

Thân thiết với kẻ siểm nịnh, xa cách kẻ can ngăn,

Thấy người chính trực thì cười, thấy người trung tín thì chê…

Như thế thì dù muốn không thành người dở thì cũng không được.

Lời bàn:

Cái đạo tu thân rút lại chỉ có biết theo điều hay, biết tránh điều dở. Mà muốn tới cái mục đích ấy, thì không những là tự mình phải xét mình lại còn phải xét cái cách người ở với mình nữa.

   Đối với người, cần phải biết hai điều:

    Ai khen chê phải, khuyên răn hay, thì phục, thì bắt chước.

    Ai chiều lòng nịnh hót, thì tránh cho xa, coi như quân cừu địch.

  “Nên ưa người ta khuyên mình hơn người ta khen mình” có như thế, thì mới tu thân được.

Cổ học tinh hoa.

Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân

Anh chị Thụ & Mai gởi

Quốc tế nghi ngờ kế hoạch ngũ niên của Thủ tướng

Quốc tế nghi ngờ kế hoạch ngũ niên của Thủ tướng

Nam Nguyên, phóng viên RFA
2015-12-11

vn-VDPF2015-2-622.jpg

Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội.

Photo courtesy of World Bank

Your browser does not support the audio element.

Yêu cầu về Luật lập hội đứng đầu

Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội để lại nhiều nghi vấn về kế hoạch 5 năm tới của Chinh phủ Việt Nam. Hình ảnh bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam nổi bật trên các báo mạng, kèm theo những câu hỏi hóc búa dành cho Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Điều không ngờ là trong diễn từ bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển Việt Nam của bà Victoria Kwa Kwa, đứng hàng đầu khuyến nghị 7 điểm lại là yêu cầu về Luật lập hội. Thời báo Kinh tế Việt Nam có thể là báo điện tử chính thức duy nhất đề cập tới sự kiện này. Tờ báo có bài ‘Luật về Hội sẽ thổi luồng sinh khí mới vào xã hội.’ Theo đó, khi điểm lại một số kiến nghị cụ thể trong phiên bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển ngày 5/12/2015, nội dung đầu tiên mà Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwa Kwa nhắc đến chính là Luật về Hội. Tờ báo đã trích nguyên văn nội dung thứ nhất trong kiến nghị 7 điểm mà bà Kwa Kwa đúc kết: “ Cần thiết phải soạn thảo và thực hiện một bộ luật có hiệu lực mạnh về hội và hiệp hội. Chính điều đó sẽ giúp thực hiện chương trình nghị sự của Chính phủ.”

Theo VnEconomy, trước đó trong phiên thảo luận các tổ chức phi chính phủ cho rằng, thể chế kinh tế thị trường hiện đại không thể vắng bóng vai trò quản lý vĩ mô của chính phủ, cũng như vai trò thúc đẩy của xã hội dân sự và tinh thần hiệp hội. Vẫn theo tờ báo, các tổ chức phi chính phủ đã kiến nghị cụ thể là Luật về Hội cần đảm bảo tính tự nguyện, tự chủ và tự do trong hoạt động, không bị can thiệp tùy tiện bởi các cơ quan Nhà nước vào điều lệ, lãnh đạo cũng như lĩnh vực hoạt động của hội. Các tổ chức phi chính phủ cũng dẫn Hiến pháp khi bảo vệ quan điểm theo đó, việc thành lập hội không cần xin phép theo thủ tục rườm rà, mà chỉ cần đăng ký với cơ quan Nhà nước. Đồng thời cơ quan Nhà nước cũng không có thẩm quyền phê duyệt điều lệ cũng như lãnh đạo của hội, không giới hạn số hội hoạt động trong cùng một lĩnh vực và hội hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính.

Dĩ nhiên một quốc hội trên 95% là đảng viên, thì chắc họ cũng không dễ gì thông qua một luật hội thông thoáng, để cho những người không phải là đảng viên tụ tập với nhau thành lập một hội có sức mạnh của nó. Đó cũng là quy luật tự nhiên thôi.
-LS Trần Quốc Thuận

Người đọc báo ghi nhận, những điểm vừa nêu trong kiến nghị có quan điểm hoàn toàn khác và đi ngược lại nhiều điều khoản căn bản trong Dự thảo Luật về Hội mà Quốc hội thảo luận góp ý, trong những ngày cuối cùng của kỳ họp thứ 10 hồi tháng 11.

Theo VnEconomy Việt Nam sẽ có một Luật về hội như thế nào, hiện vẫn là câu chuyện ở thì tương lai. Dự kiến tới kỳ họp thứ nhì khoảng tháng 10/2016, Dự án Luật về Hội mới được Quốc hội nhiệm kỳ tới thông qua.

Tương lai các tổ chức xã hội dân sự độc lập sẽ ra sao, nếu như Dự thảo Luật về Hội giữ nguyên những điều khoản trái khoáy, nhằm hạn chế quyền tự do lập hội. Theo TS Phạm Chí Dũng, chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập một tổ chức tự phát, thì nội dung không cho phép thành lập hội mới, trùng lắp về lĩnh vực hoạt động chính là là cản trở quyền tự do lập hội. Từ Saigon, TS Phạm Chí Dũng tiếp lời:

“Nó còn tùy thuộc vào tính cách xin – cho nặng nề như thế nào trong Luật về Hội. Nếu quá nặng nề về điều kiện xin cho, hay các điều kiện khác như đòi hỏi phải có trụ sở, phải đăng ký tên tuổi của tất cả các thành viên, thì không cách nào các tổ chức xã hội dân sự độc lập có thể đăng ký với Nhà nước. Tại vì một số tổ chức xã hội dân sự không thể bảo đảm về trụ sở, thứ hai đòi hỏi phải minh bạch với Nhà nước về tài chính. Chuyện này quá khó theo tôi biết, chắc chắn phía công an chỉ muốn nắm rõ nguồn gốc tài chính của các hội đoàn xã hội dân sự mà thôi. Cho nên việc đăng ký hay không thì còn tùy thuộc vào thái độ thành tâm tới đâu của Nhà nước thông qua Luật về Hội.”

Theo Luật sư Trần Quốc Thuận, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội hiện sống ở TP.HCM, Việt Nam có thể có những bước chuyển tiếp trong quá trình dân chủ hóa. Riêng Luật về Hội sẽ cởi mở tới đâu hoàn toàn là câu chuyện tương lai. LS Trần Quốc Thuận nhấn mạnh:

“Dĩ nhiên một quốc hội trên 95% là đảng viên, thì chắc họ cũng không dễ gì thông qua một luật hội thông thoáng, để cho những người không phải là đảng viên tụ tập với nhau thành lập một hội có sức mạnh của nó. Đó cũng là quy luật tự nhiên thôi.”

vn-VDPF2015-1-400.jpg

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (giữa) và Bà Victoria Kwa Kwa (phải) tại Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội. Photo courtesy of World Bank.

Luật về Hội là nội dung thứ nhất trong kiến nghị 7 điểm mà bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam đúc kết khi bế mạc Diễn đàn Đối tác Phát triển cuối ngày 5/12 ở Hà Nội. Theo trang mạng chính thức của Ngân hàng Thế giới thì nội dung thứ hai liên quan tới vấn đề mà người đọc báo hiểu là tư nhân hóa nền kinh tế. Xin trích nguyên văn : “Thoái vốn hoàn toàn khỏi nhiều doanh nghiệp hơn nữa. Chính phủ đã công bố con số là 10 doanh nghiệp. Nếu thực hiện thêm 10, thậm chí 20 doanh nghiệp nữa sẽ thể hiện mạnh mẽ hơn nữa quyết tâm cải cách của Chính phủ Việt Nam trong lĩnh vực này.”

Như thế các đối tác phát triển của Việt Nam mong muốn chính phủ Việt Nam đẩy mạnh tốc độ tư nhân hóa nền kinh tế, vì mặc dầu thực hiện cổ phần hóa nhưng Nhà nước vẫn nắm giữ số lượng cổ phần chi phối, người Nhà nước nắm Hội đồng Quản trị cũng như điều hành doanh nghiệp sau cổ phần hóa. Được biết gần đây Chính phủ chỉ đạo rút toàn bộ vốn Nhà nước tại 10 Công ty cổ phần, trong đó nổi bật là Vinamilk một đại gia ngành sữa thành công trong sản xuất kinh doanh. Ước tính chính phủ có thể thu về khoảng 4 tỷ USD theo thời giá tháng 11, khi bán hết tổng số cổ phần ở Vinamilk.

Theo các chuyên gia muốn đi theo thể chế kinh tế thị trường hiện đại thì Việt Nam phải tạo sân chơi bình đẳng đối với mọi thành phần doanh nghiệp. Cách thức Nhà nước Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa vận hành nền kinh tế khó có thể đáp ứng tiêu chuẩn công khai minh bạch, chấm dứt đặc quyền đặc lợi.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội phát biểu:

“Cho đến nay Doanh nghiệp Nhà nước vẫn còn đang sử dụng khoảng 50% tổng nguồn vốn của đất nước, kể cả nguồn tín dụng cũng như vốn của khu vực công hay vốn ODA chẳng hạn, họ còn sử dụng một nguồn lực rất lớn và với cách làm ăn thua lỗ, nó có thể lỗ cho doanh nghiệp nhưng tiền có thể chảy về túi của một số ai đó có quyền lực. Rõ ràng những nhóm lợi ích này họ thích một cơ chế mù mờ như hiện nay hơn một cơ chế dứt khoát Doanh nghiệp Nhà nước phải đặt dưới sự giám sát của cả xã hội, phải chấp nhận những điều kiện như là TPP đang đưa ra đối với Doanh nghiệp Nhà nước.”

Việt Nam lấy đâu ra tiền để phát triển?

Những vấn đề lớn, mà Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội đặt ra cho Chính phủ Việt Nam, cũng được truyền thông báo chí trong nước tường thuật dưới nhiều góc cạnh khác nhau.

Theo Tuổi Trẻ Online, tại Diễn đàn Đối tác Phát triển Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cho biết, Việt nam đặt mục tiêu 5 năm tới phát triển nhanh hơn, bền vững hơn. Ông Dũng nhấn mạnh 5 năm tới phải phát triển 6,5 – 7% bình quân mỗi năm.

Khi chính phủ huy động ở trong nước nhiều như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài.
-Bà Phạm Chi Lan

Báo Điện tử Một Thế Giới giật tít lớn, sắp tới Việt Nam lấy đâu ra tiền để phát triển, đây là câu hỏi thẳng thắn của bà Victoria Kwa Kwa, Giám đốc Quốc gia Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam. Nguyên văn lời bà Kwa Kwa: “ Việt Nam sẽ lấy nguồn ở đâu để tài trợ cho chương trình phát triển đầy tham vọng trong 5 năm tới.”

Bà Victoria Kwa Kwa đưa ra một loạt thách thức đối với Việt Nam, như vốn ưu đãi thu hẹp dần, dựa vào nguồn thu trong nước là chính. Trong 5 năm qua tỷ lệ thu ngân sách Nhà nước trên GDP đã giảm dần từ 27% chỉ còn 21%. Ngoài ra năng suất lao động Việt Nam quá thấp không đảm bảo tăng trưởng nhanh và bền vững.

Hầu hết các báo điện tử chính thức, khi tường thuật về Diễn đàn Diễn đàn Đối tác Phát triển, đều có bài ghi nhận mối lo ngại sâu xa về nợ công của Việt Nam. Thời báo Kinh tế VnEconomy trích báo cáo của Ngân hàng Phát triển Châu Á, theo đó nợ công và những khoản do Nhà nước bảo lãnh đã tăng gần gấp đôi kể từ năm 2.000, hiện ở khoảng 60% GDP trong năm 2015. Tại các nền kinh tế thu nhập thấp thường có tỷ lệ nợ công giảm, nhưng nợ công tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể trong những năm qua.

Báo mạng Một Thế Giới trích nhận định của ông Jonathan Dunn, Đại diện thường trú Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, theo đó xuất khẩu dưới mong đợi, thâm hụt ngân sách cao và nợ công, nợ do Chính phủ bảo lãnh đang tăng lên.

Trước đó vào ngày 2/12 Ngân hàng Thế giới cảnh báo nợ công của Việt Nam đối diện rủi ro vì chính phủ chuyển sang vay nợ bằng phát hành trái phiếu ngắn hạn ở trong nước để bù đắp chi tiêu. Bà Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ nhận định:

“Khi chính phủ huy động ở trong nước nhiều như vậy sẽ có những rủi ro, ví dụ huy động ngắn hạn thì nhiều khi chưa kịp làm gì đã đến thời hạn phải trả nợ rồi, lãi suất vay bằng đồng VN cũng cao hơn vay ngoại tệ ở bên ngoài. Hơn nữa khi chính phủ đứng ra vay nhiều như vậy, thì số tiền vốn cho xã hội cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận được, sẽ lại càng khó khăn hơn.”

Qua Diễn đàn Đối tác Phát triển tổ chức ngày 5/12 ở Hà Nội, hầu hết các đối tác cũng như các định chế quốc tế đều chỉ ra những thách thức đầy lo ngại đối với kế hoạch ngũ niên 2016-2020 của Chính phủ Việt Nam. Tuy vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trực tiếp trấn an khi ông nói nguyên văn “xin nhấn mạnh, chúng tôi dứt khoát bảo đảm an toàn nợ công.” Người đứng đầu chính phủ Việt Nam cũng trình bày 5 giải pháp để tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.

Thủ tướng cho biết sẽ đẩy mạnh kế hoạch tái cơ cấu trong các lĩnh vực đầu tư công, doanh nghiệp nhà nước, thị trường tài chính tiền tệ, tái cơ cấu nông nghiệp. Người đọc báo ghi nhận những điều này không có gì mới, nó đã được bắt đầu từ 2012 và cho đến nay không đạt nhiều kế quả.

Bên cạnh những hứa hẹn về quốc kế dân sinh, một trong những điểm đáng chú ý mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết là thực hiện đầy đủ hơn kinh tế thị trường, để vận hành đồng bộ hiệu quả các loại thị trường, trong đó có đất đai. Ngoài ra Thủ tướng cũng hứa hẹn hoàn thiện thể chế, hoàn thiện luật pháp và đặc biệt quan trọng là bảo đảm quyền dân chủ, tự do, quyền sở hữu của người dân theo Hiến pháp 2013.

Các chuyên gia nói rằng Việt Nam đã mất cơ hội cải cách dân chủ khi Hiến pháp 2013 sửa đổi vẫn qui định Khu vực kinh tế Nhà nước là Chủ đạo nền kinh tế, đất đai sở hữu toàn dân tức thuộc Nhà Nước. Nhưng dù sao theo Hiến pháp 2013, người dân sẽ có những quyền cơ bản thí dụ như lập hội, biểu tình, tiếp cận thông tin chẳng hạn và Nhà nước sẽ phải ban hành những Luật này.

Nguyễn Viết Dũng ra tòa: Thực chất không phải là “gây rối trật tự công cộng”

Nguyễn Viết Dũng ra tòa: Thực chất không phải là “gây rối trật tự công cộng”

RFA

NGUYỄN TƯỜNG THỤY

Chính trang phục của Nguyễn Viết Dũng đã đưa anh vào vòng lao lý

Ngày mai, 14/12/2015, tòa án quận Hoàn Kiếm đưa Nguyễn Viết Dũng ra xét xử tại 51, Lò Sũ, phường Lý Thái Tổ, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, với tội danh “gây rối trật tự công cộng”.

Vụ án này được dư luận đặc biệt quan tâm. Hoàn cảnh bị bắt của Dũng so với tội danh hết sức vô lý: Nhóm 5 người của Dũng hòa vào buổi tuần hành trật tự phản đối chặt cây xanh của chính quyền Hà Nội ngày 12/4/2015. Nhóm này bị bắt khi buổi tuần hành đã kết thúc và mấy anh em đang uống nước tại một quán giải khát ở gần nhà thờ lớn. Điều đó cho thấy Dũng không hề bị bắt quả tang khi “gây rối trật tự công cộng” (nếu có). Điều kỳ lạ là, trong khoảng 150 người tuần hành hôm ấy, với hành vi như nhau, chỉ có nhóm của Dũng bị bắt và chỉ mình anh bị truy tố.

Kỳ lạ hơn, riêng từ năm 2011 đến nay, đã có khoảng hai chục cuộc biểu tình tại Hà Nội, tập trung chủ yếu ở khu vực Hồ Hoàn Kiếm. Trong đó, hơn một nửa số cuộc biểu tình không bị đàn áp, được cảnh sát giao thông dẹp đường, thậm chí các cuộc tuần hành bảo vệ cây xanh như vụ Nguyễn Viết Dũng tham gia còn được báo chí của nhà nước đưa tin, biểu thị sự ủng hộ:

Đoàn người tuần hành giơ cao biểu ngữ phản đối việc chặt hạ cây xanh. (Báo Người lao động)

 

Nguyễn Viết Dũng cùng nhóm bạn đang tuần hành phản đối chặt cây xanh trong trật tự

Vậy thì tại sao, cùng hành vi biểu tình, tuần hành mà hàng ngàn người không bị truy tố về hành vi “gây rối trật tự công cộng” mà họ chỉ nhằm vào một Nguyễn Viết Dũng?

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Hoàn Kiếm cho rằng Dũng đã lôi kéo người khác tham gia tuần hành, cuối cùng được 4 người. Vậy thì toàn bộ số người tuần hành hôm đó đông hơn vài chục lần nhóm 5 người của Dũng thì ai lôi kéo? Sao công an Hoàn Kiếm không quan tâm? Nếu kẻ nào đó quan tâm thì lại là đánh lén để dằn mặt như trường hợp đánh Trịnh Anh Tuấn (Gió lang thang) admin của nhóm Vì một Hà Nội xanh vào ngày 22/4/2015.

Lý do thực đem Nguyễn Viết Dũng ra tòa là đây: Theo bản kết luận điều tra của cơ quan cảnh sát điều tra quận Hoàn Kiếm thì “Dũng đã mua 19 áo phông tự thiết kế và đặt in logo con đại bàng trên nền 3 sọc với khẩu hiệu ‘Tổ quốc – Danh dự – Trách nhiệm’ trên ngực áo bên trái” … “đã phát hiện bắt giữ và thu giữ 19 chiếc áo phông đen có logo của chế độ Sài Gòn; 01 dải ruy băng dài khoảng 1,5 m rộng 10 cm màu vàng có 3 sọc đỏ; …01 bộ quần áo rằn di”… “05 đối tượng mặc áp phông đen có hình logo trước ngực giống biểu tượng Quân lực Việt nam Cộng Hòa”. Sợ người ta không hiểu, cơ quan này còn cẩn thận giải thích “(chế độ Ngụy quyền sài Gòn cũ”), ”nhóm đối tượng mặc quần áo có biểu tượng quân lực Việt Nam Cộng Hòa chụp ảnh, tôn sùng chế độ Ngụy quyền Sài Gòn cũ tạo sự phản cảm…”

Bản kết luận điều tra của công an quận Hoàn Kiếm chỉ vỏn vẹn 3 trang rưỡi, nhưng phần nói về “tội trạng” của Nguyễn Việt Dũng chỉ có vậy. Còn lại toàn là chuyện không có liên quan gì như ảnh hưởng đến cuộc sống của các hộ xung quanh, gây ra sự bức xúc phản ứng của dân, của khách du lịch rồi Hội cựu chiến binh lên tiếng v.v… – những điều này chẳng qua là cơ quan điều tra tưởng tượng hoặc dàn dựng ra mà thôi. Công an quận Hoàn Kiếm cần hiểu, đưa ra những điều này chẳng để làm gì vì đó không phải là căn cứ pháp luật. Để đưa một người ra truy tố là phải căn cứ vào hành vi, cứ không phải là làm cho ai đó bức xúc.

Kết luận điều tra của Công an quận Hoàn Kiếm đay đi đay lại những cụm từ “chế độ Sài Gòn”, “chế độ Ngụy quyền Sài Gòn cũ” “logo của chế độ Sài Gòn” “biểu tượng Quân lực Việt Nam Cộng Hòa”. Qua đó đủ thấy, họ cho rằng, ai dính dáng đến Việt Nam Cộng Hòa là nguy hiểm lắm, mặc dù Nhà nước này đã bị cộng sản bức tử trên lãnh thổ Việt nam đã 40 năm nay. (tôi chỉ nói trên lãnh thổ Việt nam thôi). Chẳng lẽ, họ sợ Việt Nam Cộng Hòa tới mức như vậy sao? Vậy xin hỏi, trong lịch sử việt Nam, nhiều triều đại đã thuộc về quá khứ thì sao? Chúng tôi thường xuyên thắp hương trước tượng đài Lý Thái Tổ thì sao? Lá cờ vàng từ thời Hai Bà Trưng, cờ vàng “Phá cường địch báo Hoàng ân” của Trần Quốc Toản cho đến những lá cờ vàng trong suốt các triều đại phong kiến tới tận năm 1945 thì sao?

Nên nhớ, báo chí nhà nước kể cả trang điện tử của Chính phủ đã nhìn nhận Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa là một Nhà nước có chủ quyền, là một chủ thể trong quan hệ quốc tế.

Vụ án Nguyễn Viết Dũng có một nét giống như một số vụ án khác như vụ Bùi Thị Minh Hằng, vụ dân oan Vũ Thị Hải. Công an bắt nhiều người nhưng họ chỉ truy tố bỏ tù những người họ cho là cần truy tố mặc dù không hề có biên bản quả tang phạm pháp và hành vi của họ là như nhau, với “tội danh” thật (theo họ) lại không có trong Bộ luật hình sự nên phải đá sang một tội danh khác.

Những người quan tâm, theo dõi sát sao vụ án Nguyễn Viết Dũng đều hiểu, Dũng bị truy tố không phải vì tội danh “gây rối trật tự công cộng” mà lý do thực chất là mang biểu tượng của Việt nam Cộng Hòa. Nhưng nếu truy tố theo tội danh mà họ muốn thì lại không thể căn cứ vào Bộ luật hình sự. Bộ luật hình sự không hề có tội danh “sử dụng biểu tượng của Việt nam Cộng Hòa” cũng như không có tội “yêu (hay cảm tình với) Việt nam Cộng Hòa”. Và đặc biệt là nếu truy tố bừa đi như thế thì họ không chống chế được (dù là yếu ớt) đối với công luận quốc tế.

Vì vậy, chắc chắn Nguyễn Viết Dũng sẽ không bị truy tố nếu không sử dụng trang phục có biểu tượng Việt Nam Cộng Hòa. Dù có che đậy bằng cách truy tố Dũng dưới tội danh “gây rối trật tự công cộng” thì nhà cầm quyền Việt Nam không thể che giấu nổi công luận trong nước cũng như quốc tế.

Mọi sự kết án Nguyễn Viết Dũng vào ngày mai là không có cơ sở pháp luật. Yêu cầu các cơ quan tố tụng quận Hoàn Kiếm trả tự do ngay cho anh tại tòa.

13/12/2015

NTT

Xà quần chuyện cải cách tiền lương

Xà quần chuyện cải cách tiền lương

Viet-studies

Đặng Kiên Trung

12-12-2015

Tôi nghe các đại biểu Quốc hội bàn về “cải cách tiền lương” – nói gọn là tăng lương, xà quần như kiến bò vành nia phát mệt! Ông bà nghị nào cũng thấy sự cấp bách phải tăng lương, bảo đãm cán bộ, công nhân, viên chức có thể sống được bằng tiền lương, nhưng trong lúc Nhà nước nợ công như chúa Chổm lấy đâu ra 40 ngàn tỷ đồng để tăng lương theo lộ trình như đại biểu thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Thị Quyết Tâm nói…!

Trên thế giới hiếm có nước nào như Việt Nam, người dân phải è cổ nuôi bộ máy cầm quyền “đông như quân Nguyên”, trong khi kinh tế lụn bại, nợ công chồng chất, tài nguyên cạn kiệt…! Ông bà nghị nào cũng thấy, muốn tăng lương phải tiết kiệm chi tiêutinh giản biên chế. Chuyện nầy không chỉ các ông bà nghị nhìn thấy, nhưng nói mãi có làm được đâu! Bởi lẽ bệnh tiêu xài hoang phí như con ngựa bất kham, anh cũng vậy, tôi cũng vậy, chúng ta đều vậy nên ai nói ai nghe?! Hội chứng xây tượng đài, trụ sở hoành tráng hiện nay bất chấp dân tình nghèo khó, ngân khố tróng rổng chứng minh điều đó!

Còn tinh giản biên chế ư? Chuyện này khó còn hơn hái sao trên trời! Cán bộ, viên chức nhà nước đồng lương chết đói mà ai cũng muốn nhào vô, vì trong tình hình xã hội nhiểu nhương, đời sống khó khăn đây là chốn nương thân an toàn nhất, phải bằng mọi cách nhào vô bằng được, mà đã vô được đừng hòng trở ra “vô một gà, ra ba heo” mà! Tôi lấy làm lạ cho ông Tổng nhà mình, lâu nay không biết ông ở đâu mà nghe ông trả lời cử tri quận Ba Đình – Hà Nội thắc mắc hỏi về số công chức không làm được việc, biên chế chỉ tăng chứ không giãm ông trả lời tỉnh rụi: “Bộ máy đúng là công kềnh”!

Vậy, giải pháp nào xử lý hai vấn đề trên để có thể tăng lương? Thiển nghĩ, điều tiên quyết là các ông bà nắm quyền từ trung ương đến địa phương, phải nhìn thấy đã đến lúc nếu tiếp tục kéo dài tình trạng chi tiêu vung tay quá trán và để biên chế bộ máy tiếp tục phình ra như hiện nay thì hậu quả khôn lường, phải kiên quyết chặn đứng! Tôi chỉ sợ các ông bà không đủ dũng khí vượt qua chính mình để làm điều cần phải làm và cấp trên không gương mẫu thì không đời nào khiển cấp dưới làm được. Thí dụ về tiết kiệm chi tiêu, một chuyện nhỏ như hàng ngày ông bà đi làm hay đi công tác xa bằng ô tô công nay đi xe gắn máy, xe đạp, xe buýt  vừa tiết kiệm ngân sách, vừa được tiếng ông bà bình dị, gần dân; đến chuyện lớn như xây dựng cơ bản, cần thiết lắm mới làm, khi làm phải cân nhắc chi ly bảo đãm chất lượng và hiệu quả xử dụng, không nhắm mắt làm bừa và người có thẫm quyền phê duyệt dự án phải dứt khoát không nhận “lại quả” để không bị rủt ruột công trình và giử gìn sự liêm khiết của cán bộ.

Còn về tinh giản biên chế, vật cản lớn nhất là bệnh bảo thủ, giáo điều ăn sâu vào cốt tủy các nhà lãnh đạo đất nước, cái gì đã nghĩ, đã làm ngày xưa ra sao bây giờ vẫn vậy, không muốn thay đổi cho phiền phức, không khéo vạ lây mất chì lẫn chài. Tôi nói một chuyện nhỏ như con thỏ là cái loa phường, nó ra đời từ thời khốn khó “Bảo Đại ỉa cứt su”, nay thời đại thông tin bùng nổ, cái loa phường lạc điệu vô duyên vẫn tồn tại, gây phiền hà chúng ghét. Nếu bỏ cái loa phường có thể làm ngay, sẽ giãm bao nhiêu biên chế, tiết kiệm bao nhiêu tiền ngân sách trả lương và mua sắm thiết bị; nhất là làm vui lòng dân, vậy mà cơ quan và người có trách nhiệm không ai làm, nói chi đến chuyện lớn! Phải chăng tinh giản biên chế đi vào ngõ cụt?! Theo tôi vẫn có lối thoát, chỉ có dám làm hay không thôi. Đó là làm một cuộc “đại phẩu thuật” tổ chức – bộ máy:

Thứ nhất, giải thể các đoàn thể chính trị – xã hội của Đảng, trả các đoàn thể trở về với dân, tổ chức và hoạt động dưới hình thức tổ chức xã hội dân sự.

Thứ hai, giải thể các ban chuyên môn của Đảng, thực hiện chế độ chuyên viên phục vụ sự lãnh đạo của cấp ủy Đảng, tập trung tại văn phòng cấp ủy đảng từ trung ương đến địa phương.

Thứ ba, trong bộ máy chính quyền các cấp loại bỏ 30% số viên chức dựa bệ ăn lương vô tích sự.

Với những giải pháp quyết liệt trên, sẽ cắt giãm khoảng một nửa biên chế, tiết kiệm ngân sách khoảng tiền khổng lồ tăng lương 100% cho cán bộ, viên chức nhà nước.

Tháng 12 năm 2015

                                                                                          Đ.K.T

Tác giả gửi cho viet-studies ngày 12-12-15

Con người sống không có tín ngưỡng tựa như lạc lối trong sương mù

Con người sống không có tín ngưỡng tựa như lạc lối trong sương mù

Đọc & Suy ngẫm

Chính Tâm

Con người, bất kể là ai cuối cùng rồi cũng phải đối mặt với cái chết. Có người sợ hãi tột cùng, có người lại thảnh thơi đối mặt, vậy điều gì quyết định tâm thái của sinh mệnh tại thời điểm quyết định này?

vô thần, tín ngưỡng, niềm tin, Bài chọn lọc,

“Không có tín ngưỡng, lấy gì để cứu vớt linh hồn chính mình và người khác đây”. Ảnh: Internet

Người ta sống trên đời, với một số vấn đề nhất định thì có thể nói mạnh miệng, riêng chỉ khi đối mặt với tử vong thì lại không nói được gì. Dù là nông dân hay trí thức, giàu có hay nghèo hèn, đều sẽ phải một lần đối mặt với vấn đề này. Tại mỗi nền văn hóa khác nhau lại có cách tiếp cận khác nhau.

Với tư cách bác sĩ ngoại khoa, tôi đã rất nhiều lần cùng người thân của bệnh nhân ung thư giấu kín đi bệnh tình của họ, để tránh bản thân người bệnh sau khi biết rõ mắc bệnh nan y tinh thần sẽ sụp đổ.

Đôi khi chúng tôi cũng thử cho người bệnh biết rõ tình trạng của mình, để cho người đó chuẩn bị tinh thần, nhưng kết quả đại đa số người biết được sự thật, tinh thần suy sụp, vốn dĩ có thể sống được nửa năm, lại chỉ sống được một tháng.

Rất nhiều cán bộ lãnh đạo ngày thường hô lớn chủ nghĩa vô thần, tập hợp quần chúng lại để phát biểu, ba hoa khoác lác, nhưng khi mạng sống sắp mất đi lại lo sợ cuống cuồng, chạy vạy khắp nơi mong tìm “phương thuốc” để kéo dài thọ mạng.

Thế nhưng tại phương Tây, nếu không cho người bệnh biết về tình trạng của họ, thì đó là hành vi lừa gạt, hoàn toàn trái pháp luật. Bản thân người bệnh phải biết rõ bệnh tình của chính mình, nhất là bệnh nan y, họ cần biết rõ mình còn sống được bao lâu, như vậy họ có thể làm thêm một vài việc muốn làm lúc cuối đời, tự mình sắp xếp tốt thời gian quý giá còn lại.

Người phương Tây đại đa số là tín đồ Cơ Đốc giáo, họ đối với cái chết tương đối bình tĩnh, tin tưởng sau khi chết linh hồn đi đến Thiên đường hoặc còn có kiếp sau, đối mặt với tử vong cũng không phải sợ hãi.

Họ cũng thường nói: “Bạn chưa thấy qua Thiên đường, bạn có thể cho rằng Thiên đường không tồn tại, nhưng mà bạn cũng chưa từng chết, vậy làm sao bạn dám chắc người chết sẽ không có linh hồn đi tới Thiên đường hay Địa ngục đây?”

Tuyệt đại đa số người trong nước chúng tôi (Trung Quốc) không dám đối mặt với ung thư, chớ nói chi là đối mặt với cái chết, trong cuộc sống  tại điểm cuối của sinh mệnh hầu như ở trong sợ hãi và mờ mịt trôi qua. Cho dù có lời nói dối thiện ý của bác sĩ và người thân, nhưng đối mặt với tình trạng thân thể của mình ngày càng sa sút thì sự sợ hãi của họ càng ngày càng tăng lên.

Cùng là cái chết ấy, có người trong sợ hãi, mờ mịt mà chết đi, có người lại trong ao ước đến Thiên đường cùng mong tưởng tốt đẹp của kiếp sau mà rời khỏi dương gian.

Nhìn thấy người bệnh trong nước sợ hãi trước khi chết, lại thấy nhóm tín đồ Cơ Đốc kia bình tĩnh chờ đợi thời điểm rời khỏi nhân gian, tôi hiểu rõ: “Thì ra thống khổ lớn nhất của bệnh nhân Trung Quốc không phải trên thể xác, mà là ở tâm hồn”.

Khi nghe thấy ai đó có theo tín ngưỡng, đa số nói: “Cái gì đều không tin, chỉ tin tưởng khoa học”. Còn có người nói: “Tín ngưỡng có thể làm gì? Có thể tạo ra cơm ăn sao?”

Thế nhưng mà, với tư cách bác sĩ, tôi chân thành hỏi mọi người một vấn đề: Không có tín ngưỡng, bạn có thể bình tĩnh đối mặt với tử vong hay không? Không có tín ngưỡng, bạn lấy cái gì để cứu vớt linh hồn chính mình và người khác đây?”

Sinh tử không phải nói huênh hoang, người Trung Quốc hiện nay, tôi tự đáy lòng nói rằng: “Chúng ta cần tín ngưỡng, cần tín ngưỡng cao thượng đúng đắn”.

Tác giả: Lisa

Iris, dịch từ Kannewyork

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

 Đọc & Suy ngẫm

http://tinhhoa.net/doc-truyen/

 MacArthur, vị danh tướng của Mỹ, là người chỉ huy quân đội tiến đánh Nhật Bản trong thế chiến thứ II. 

Tuy nhiên, khi ông rời khỏi đất nước này, người dân không hề căm ghét mà ngược lại đều tỏ lòng biết ơn bởi những việc làm của ông.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,

Chân dung Thống tướng Douglas MacArthur. Ảnh: Internet
Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật đều hận ông thấu xương.Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang  đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,

Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,  

Cột khói hình nấm khổng lồ bốc lên khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Ảnh: Askman.com
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.http://tinhhoa.net/
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

kính trÍng, dan chu, chi¿n tranh,  

Quang cảnh sau khi xảy ra vụ ném bom nguyên tử, hầu như mọi thứ đều bị thổi bay. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại. (Ảnh: Internet)
Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.
Theo Daikynguyenvnhttp://tinhhoa.net/chuyen-la-bon-phuong/