Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein

Việt Nam không thể có Than Shwe, Thein Sein
Nguoi-viet.com

Ngô Nhân Dụng

Than Shwe là vị tướng đã dám thí nghiệm dân chủ hóa nhằm thay thế chế độ độc tài quân phiệt ở Myanmar với một “lộ trình dân chủ.” Dân chúng được bỏ phiếu bầu Quốc Hội, Quốc Hội bầu tổng thống, vân vân, ít nhất là dân chủ trên hình thức. Tướng Thein Sein đắc cử tổng thống đã tiến thêm một bước thứ hai, thêm một nội dung: Trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến Ðiện, cho phép đảng đối lập hoạt động và tranh cử. Sau cuộc bầu cử tự do và trong sạch ở Myanmar trong Tháng Mười Một năm 2015, mà đảng đối lập chiếm đa số cao, nhiều người Việt tự hỏi liệu có một Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta hay không?

Xin trả lời ngay rằng: Rất khó. Chuyện gì cũng có thể xảy ra, nhưng xác suất để một nhân vật như Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện trong đời sống chính trị Việt Nam rất thấp, dưới 10%, có thể dưới 3%.

Một chế độ độc tài chuyển sang dân chủ hóa thường xảy ra do ba động cơ. Có khi chế độ cũ sụp đổ do nguyên nhân từ bên ngoài. Dân Bồ Ðào Nha nổi lên đòi dân chủ sau khi thất trận ở Angola, các sĩ quan cấp tá đảo chính để tiến đến dân chủ hóa. Các cuộc Cách Mạng Mầu Cam và Mùa Xuân Á Rập do ảnh hưởng từ các nước láng giềng. Nhiều chế độ độc tài tan vỡ sau khi nhân dân nổi lên, như ở Phi Luật Tân, ở Ðài Loan và Nam Hàn. Và có những cuộc chuyển hóa diễn ra nhờ sự thỏa hiệp giữa chính quyền độc tài và các thế lực đối nghịch. Ba Lan, Tiệp Khắc, Chile, Brazil, Argentina đã đi theo con đường đó. Ba hình thái chuyển đổi này có thể trộn lẫn với nhau.

Myanmar là một trường hợp đặc biệt. Có một chút áp lực từ bên ngoài, là hành động cấm vận của các nước Tây phương và âm mưu thao túng của Trung Cộng làm dân Miến nổi giận. Dân bất mãn biểu tình năm này sang năm khác tạo thêm chút áp lực từ bên trong. Chính quyền quân phiệt đã trả tự do cho dân và thương thuyết với bà Aung San Suu Kyi để Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ (NLD) tham gia tranh cử, khởi động quá trình dân chủ hóa. Nhưng những áp lực bên trong cũng như bên ngoài thực ra chưa đủ mạnh khiến các tướng lãnh chịu thay đổi. Cuộc thỏa hiệp cũng diễn ra một chiều, vì khi Thein Sein gặp Suu Kyi thì phía đối lập trong thực tế không có gì để trao đổi cả.

Bà Suu Kyi đã khôn ngoan chấp nhận những nhượng bộ nhỏ nhất, Liên Minh NLD đưa người ra tranh cử trong một cuộc bỏ phiếu bổ túc chỉ chọn một số nhỏ, 40 người trong số các đại biểu Quốc Hội. Tiến trình dân chủ hóa được thực hiện nhờ Thein Sein và Than Shwe đã thuyết phục Suu Kyi tin rằng họ thực tâm muốn thay đổi. Niềm tin này có được là nhờ yếu tố văn hóa: Người Miến Ðiện tin nhau, tin rằng họ đều yêu nước, tin không người Miến nào chịu làm tay sai cho ngoại bang. Người Miến nào cũng nhớ lịch sử, vua Càn Long nhà Thanh đã từng xâm lăng Miến Ðiện hai lần chỉ để độc chiếm quyền khai thác các mỏ đá quý và ngọc, và ông ta đã thất bại. Giới lãnh đạo quân phiệt Miến Ðiện không bị ràng buộc với Trung Cộng vì một chủ nghĩa, một lý thuyết nào. Những người Miến Ðiện này có thể tin nhau được; vì sau khi quan sát các hành động, cách ứng xử của nhau, họ biết rằng tất cả vẫn cùng chia sẻ một niềm tin vào luật nhân quả; tất cả vẫn sống theo các quy tắc đạo lý chung: Tự giải thoát khỏi ba chất độc Tham, Sân và Si; đặt công ích lên trên tư lợi.

Có thể nói ngay rằng yếu tố văn hóa “Niềm Tin” này chưa thấy hy vọng được thể hiện ở nước ta trong hoàn cảnh hiện nay. Không phải vì người Việt Nam vốn không tin nhau, dân mình không đến nỗi tệ như vậy. Nhưng vì môi trường chính trị nước ta đã bị nhiễm độc sau hơn nửa thế kỷ mọi người phải sống trong không khí dối trá, với một chính quyền dùng bạo lực và dối trá như hai phương tiện cai trị quan trọng nhất. Và tới giờ họ vẫn tiếp tục như vậy.

Nhưng liệu ở nước ta có thể xuất hiện những người như Than Shwe, Thein Sein hay không?

Như đã trình bày trong bài trước, giới lãnh đạo quân phiệt ở Myanmar đã chấp nhận thay đổi khi Tướng Than Shwe còn nắm quyền, năm 2003 ông ta phát khởi bảy bước dân chủ hóa trên hình thức. Thein Sein là người được chọn để thi hành bước kế tiếp, trả lại các quyền tự do căn bản cho dân Miến. Quá trình này không phải chỉ nhờ vào hai vị tướng lãnh đó muốn mà chắc chắn phải được các tướng lãnh khác đồng ý. Một điều chúng ta phải chú ý là trong 12 năm qua không có một tướng lãnh nào tỏ ý phản đối lộ trình của Than Shwe. Nhất là trong ba năm qua Thein Sein và Suu Kyi có thể cùng tiến từng bước một mà “thái thượng hoàng” Than Shwe cũng như các tướng lãnh khác không một người nào can thiệp để ngăn cản. Sau cuộc bỏ phiếu ngày 8 Tháng Mười Một vừa qua, tất cả những người đang nắm thực quyền, từ tổng thống đến chủ tịch Quốc Hội và vị tướng tổng chỉ huy quân đội, đều công khai chấp nhận kết quả là đảng NLD đã toàn thắng. Ông Than Shwe còn gặp bà Suu Kyi để sau đó nói rõ ràng là bà xứng đáng lãnh đạo đất nước.

Liệu đảng Cộng Sản Việt Nam có thể hành động như nhóm tướng lãnh quân phiệt ở Myanmar hay không?

Ðiều này rất khó, vì hai nhóm người này khác nhau nhiều quá.

Các tướng lãnh Miến Ðiện cướp chính quyền năm 1962 vì họ không tin vào chế độ dân chủ, vì muốn giúp nước chứ không phải vì muốn thực hiện một thứ chủ nghĩa nào cả. Tướng Newin công bố theo “chủ nghĩa xã hội” vì ông tin đó là một phương tiện tốt nhất để phát triển. Ông ta chỉ theo thời thế, lúc đó tầng lớp lãnh đạo ở các nước nghèo đều mơ mộng như vậy, Ấn Ðộ, Ai Cập, Indoneisia, Cuba, vân vân. Mục đích của họ vẫn là giúp nước, khi thấy phương tiện không hữu ích thì sẵn sàng bỏ đi. Các chế độ quân phiệt dễ được chuyển hóa vì họ đặt quyền lợi tổ quốc và nhân dân trên cao hơn tất cả các phương tiện, trong đó có thể chế chính trị và phương pháp tổ chức kinh tế.

Ðảng Cộng Sản thì khác. Họ tin chủ nghĩa Marx-Lenin như tin một tôn giáo; Stalin đã biến phong trào Cộng Sản thành một thứ “giáo hội” để dễ thao túng. Ðối với một người sùng tín thì niềm tin của họ quan trọng hơn các giá trị thế tục, trong đó có cả những khái niệm như quốc gia và “Tổ quốc.” Biết người Việt nào cũng yêu nước, đảng Cộng Sản đã hô hào bắt dân phải yêu “Tổ quốc xã hội chủ nghĩa” chứ không phải yêu Tổ quốc nào cũng được. Chủ nghĩa Xã Hội là cứu cánh. Ngay từ căn bản đó, người Cộng Sản không thể hành động giống như các tướng lãnh quân phiệt.

Ngày nay, các đảng viên Cộng Sản cũng không còn tin vào chủ nghĩa của họ nữa. Nhưng họ vẫn cố bám lấy nhãn hiệu đó để biện minh tại sao họ phải duy trì chế độ độc tài chuyên chế. Bỏ độc quyền chuyên chế tức là bỏ chủ nghĩa Lenin, một phương cách thực hiện chủ nghĩa Marx. Ðường lối này lại rất ích lợi cho họ trong thực tế, vì những người cầm đầu đảng đã trở thành một khối quyền lợi riêng vĩ đại, cần cấu kết với nhau để bảo vệ các quyền lợi đó. Ðề cao chủ nghĩa Marx-Lenin là thủ đoạn cần thiết để duy trì guồng máy thống trị, tiếp tục hưởng các đặc quyền đặc lợi.

Các tướng lãnh ở Myanmar tự bản chất đã có địa vị trong xã hội. Dù theo thể chế chính trị nào thì nước họ vẫn cần có quân đội, nhất là ở một quốc gia luôn luôn bị đe dọa có nội chiến, với những nhóm chủng tộc khác nhau, đã từng chống lại chính quyền trung ương trong nhiều thế kỷ. Quyền của các tướng lãnh là do cấp bậc mà có, không ai phủ nhận được. Những lãnh tụ quân phiệt biết rằng dù quyền lợi của họ có giảm đi nhưng vẫn còn đó, thay đổi thể chế là một hy sinh có thể chấp nhận được.

Ngược lại, các lãnh tụ Cộng Sản, và ngay cả các cán bộ, đảng viên trung cấp, biết rằng chính họ không có một địa vị xã hội nào ở bên ngoài cái guồng máy đã áp đặt trên cả xã hội cho phép họ thao túng. Ðịa vị và tài sản của họ đều nhờ guồng máy đó mà đạt được. Trong các chế độ Cộng Sản, nghỉ hưu nghĩa là mất địa vị, mất quyền lợi. Các lãnh tụ còn giữ được chút quyền và hưởng chút lợi chỉ nhờ đã giỏi gài đặt đàn em cùng phe cánh thừa kế, sẵn sàng chia sẻ cho. Nhưng muốn vậy, điều kiện quan trọng nhất là chế độ vẫn tồn tại, nếu không sẽ mất hết.

Hơn nữa, tại Myanmar các nhân vật như Than Shwe và Thein Sein vẫn được các tướng lãnh khác kính trọng, họ sẵn sàng đi theo các thủ lãnh trên đường dân chủ hóa. Họ bảo được nhau, hòa thuận với nhau. Ở Myanmar nền luân lý cổ truyền vẫn còn mạnh, con người ăn ở với nhau bằng những quy tắc luân lý ai cũng tin theo. Ðảng Cộng Sản Việt Nam hoàn toàn khác. Họ đã xóa bỏ các quy tắc luân lý cũ trong suốt 80 năm qua; quy tắc luân lý cao nhất được Hồ Chí Minh đề ra là “tuân theo lệnh đảng.” Giờ đây các lãnh tụ đang “chửi bới” nhau như hàng tôm hàng cá, cạn tàu ráo máng. Nếu không vì quyền lợi liên kết, dứt nhau ra là nguy, chắc họ có thể giết nhau rồi. Bất cứ ai muốn trở thành Than Shwe hay Thein Sein ở Việt Nam cũng sẽ bị cả khối người đang hưởng các các đặc quyền đặc lợi chống đến cùng. Vì vậy, xác suất để cho Than Shwe hay Thein Sein xuất hiện có thể chỉ dưới 2%, 3%.

Nhưng dù có người muốn đóng vai Than Shwe hay Thein Sein ở nước ta thì con đường dân chủ hóa vẫn còn khó. Bởi vì cho tới nay cả nước không có một Aung San Suu Kyi và một Liên Minh Dân Tộc Dân Chủ.

Cuộc vận động dân chủ hóa không thể từ trên ban xuống mà thành, cần phải được thúc đẩy bởi những động lực từ dưới dâng lên. Muốn vậy, người Việt Nam cần một cuộc vận động đòi tự do dân chủ khắp nơi, trong tất cả các tầng lớp xã hội, để kết tụ thành một phong trào có thế mạnh và có thực chất. Nhiều nhóm người yêu nước và tỉnh thức đã bắt đầu trong hai chục năm qua. Tấm gương Myanmar có thể giúp dân Việt Nam thêm hăng hái tiến hành cuộc vận động này nhanh hơn.

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

KITÔ GIÁO TẠI HÀN QUỐC

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Năm 2016, chủ đề mục vụ của Giáo hội Việt Nam là “Tân phúc âm hóa đời sống xã hội”. Để có một cái nhìn cụ thể về việc này, xin giới thiệu mục từ “Kitô giáo tại Hàn Quốc” của từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, bản Anh ngữ, do Phan Vĩnh Tâm lược dịch. (Xin xem toàn bài bằng tiếng Anh và các chú thích tại https://en.wikipedia.org/wiki/Christianity_in_Korea )
Kitô giáo hiện diện tại Hàn Quốc xoay quanh hai chi nhánh lớn nhất là Tin lành và Công giáo, Tin lành chiếm 8,6 triệu [1] [2] và Công giáo 5,3 triệu [3]. Công giáo La Mã du nhập cuối thời triều đại Joseon. Vào năm 1603, Yi Gwang-jeong, nhà ngoại giao Hàn Quốc, từ Bắc Kinh trở về mang nhiều sách thần học của Matteo Ricci, một nhà truyền giáo dòng Tên đến Trung Quốc. [4] Ông phổ biến các thông tin trong sách và gieo những hạt giống đầu tiên của Kitô giáo trên đất Hàn. Năm 1758 vua Yeongjo của Joseon chính thức cấm đạo Công giáo, nhưng rồi một lần nữa, năm 1785, lại  được Yi Seung-hun cổ xúy.

Các Kitô hữu Hàn Quốc là đối tượng để đàn áp và gian khổ. [5] Nhiều người đã chịu tử đạo, đặc biệt là trong cuộc bách hại năm 1801 và sau đó. Giới quý tộc Joseon xem tôn giáo mới như một ảnh hưởng đưa tới lật đổ cho nên đã sớm bắt bớ những người theo đạo này, mà đỉnh cao là cuộc bách hại năm 1866, trong đó 8.000 người Công giáo trên khắp đất nước đã bị thiệt mạng, kể cả chín nhà truyền giáo Pháp. Việc Hàn Quốc mở cửa với thế giới bên ngoài trong những năm tiếp theo đem lại sự khoan dung tôn giáo cho những người Công giáo còn lại và đưa đạo Tin lành vào. Các nhà thờ Tin lành đầu tiên ở Hàn Quốc được Suh Sang-ryun thành lập và nhà truyền giáo Tin Lành đầu tiên vào Hàn Quốc là Horace Newton Allen, năm 1884. Horace Allen là một nhà truyền giáo hệ phái Presbyterian và là nhà ngoại giao Bắc Mỹ. Ông ở Hàn Quốc cho đến năm 1890, được nhiều người hỗ trợ. [6]

Vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin Lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: năm 1991, 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo [7] Giáo Hội Công Giáo đã gia tăng thêm 70% trong vòng mười năm qua. [8] Anh Giáo ở Hàn Quốc cũng đã tăng trưởng đáng kể trong những thập kỷ gần đây…

Các Kitô hữu đã có ảnh hưởng quyết định trên nền giáo dục với 293 trường học và 40 trường đại học do họ điều hành, kể cả 3 trong số 5 tổ chức học thuật thế giá nhất. [9] Tin lành được coi là tôn giáo của tầng lớp trung lưu, thanh niên, trí thức và dân thành thị, và là nội lực giúp Hàn Quốc theo đuổi việc hiện đại hóa và chạy đua với Hoa Kỳ. [10] [11] Tuy nhiên, trong những năm gần đây, sự phát triển của đạo Tin lành đã chậm lại, có lẽ do những vụ bê bối liên quan đến lãnh đạo giáo hội và vì xung đột giữa các giáo phái do quá hăng say trong việc truyền giáo. [12]

Tính đến năm 2014, khoảng 30% dân số Hàn Quốc khai rõ mình là Kitô hữu. [13]

Ý NGHĨA VĂN HÓA

Nhà nghiên cứu Grayson cho rằng đạo Tin lành đã là một lực lượng năng động trong cuộc sống của Hàn Quốc, và đã có một tác động tích cực đối với các tôn giáo khác. Nó đã tạo nên một cuộc chạy đua năng động khiến người Công giáo và Phật giáo phải cạnh tranh, cũng như tạo cảm hứng cho rất nhiều hệ phái nhỏ hơn. Các hệ phái này đã tiếp nhận nhiều phương thức mà những người Tin Lành đã đi tiên phong.

Trước chiến tranh Triều Tiên (1950-1953), hai phần ba Tin Lành Hàn Quốc sống ở miền Bắc, nhưng sau đó hầu hết chạy trốn vào Nam. Người ta không biết chính xác có bao nhiêu Kitô hữu hiện còn ở Bắc Triều Tiên. Được biết, vào cuối những năm 1960 đã có khoảng một triệu người Tin Lành ở Hàn Quốc, nhưng trong quá trình giai đoạn bùng nổ kết thúc vào năm 1980, số người Tin Lành tăng nhanh hơn so với bất kỳ quốc gia nào khác. Năm 2005 điều tra dân số của Hàn Quốc cho thấy 29,2 phần trăm dân số là Ki tô hữu, tăng từ 26,3 phần trăm của mười năm trước đó. [14] Các Hội thánh Presbyterian là những hệ phái Tin Lành lớn nhất tại Hàn Quốc, với gần 20.000 nhà thờ liên kết thành hai hệ phái Presbyterian lớn nhất trong đất nước. [15]

Hàn Quốc hiện đang cung cấp số lượng nhà truyền giáo Kitô lớn thứ hai trên thế giới, qua mặt cả Hoa Kỳ. [16] GMS, lực lượng truyền giáo chính của Giáo hội Presbyterian Hàn Quốc, là tổ chức truyền giáo lớn nhất Hàn Quốc. [17] [18] Các nhà truyền giáo Hàn Quốc đặc biệt nổi bật ở các quốc gia vùng “Cửa số 10/40” (Bắc vĩ tuyến 10/ Đông kinh tuyến 40) vốn ít thiện cảm với người phương Tây. Trong năm 2000, đã có 10.646 nhà truyền giáo Tin Lành Hàn Quốc ở 156 quốc gia, cùng với một số các nhà truyền giáo Công giáo tương ứng. Một bài báo năm 2004 cho biết “Theo các tổ chức truyền giáo ở Hàn Quốc và phương Tây, Hàn Quốc đã cử hơn 12.000 người truyền giáo đến hơn 160 quốc gia so với khoảng 46.000 nhà truyền giáo người Mỹ và 6.000 nhà truyền giáo người Anh”. [19] Theo một bài báo năm 2007 “Hàn Quốc có 16.000 nhà truyền giáo đang làm việc ở nước ngoài, chỉ đứng sau Mỹ”. [20] Năm 1980, Hàn Quốc gửi đi chỉ mới 93 nhà truyền giáo nhưng vào năm 2009 đã lên đến khoảng 20.000 người. [16] [21] [22] [23]

Seoul có 11 trong số 12 Cộng đồng Kitô giáo (Tin lành) lớn nhất trên thế giới.  Một số Kitô hữu Hàn Quốc, trong đó có David Yonggi Cho, mục sư cấp cao của Giáo Hội Yoido Full Gospel, đã nổi danh trên toàn thế giới. Aaron Tân, giám đốc của công ty kiến ​​trúc Hồng Kông mang tên “Nghiên cứu Thiết kế kiến ​​trúc”, mô tả rằng về đêm Seoul rực sáng “tràn ngập những thập giá Kitô giáo “. [24]

GIÁO DÂN ĐỨNG HÀNG ĐẦU

… Kitô giáo tại Hàn Quốc đã bắt đầu như một phong trào giáo dân bản địa chứ không do một nhà truyền giáo nước ngoài đưa tới. Nhà nguyện Công giáo đầu tiên tại Seoul được Yi Seung-hun, một nhà ngoại giao đã lãnh bí tích rửa tội tại Bắc Kinh, thành lập năm 1784. [29] Năm 1786, ông Yi xúc tiến thành lập một hệ thống giáo phẩm giáo dân [30], nhưng năm 1789 Vatican phán quyết rằng việc bổ nhiệm tư tế giáo dân như thế không hợp Giáo luật. Kitô giáo đã khởi đầu rộng khắp tại Hàn Quốc do nỗ lực của thường dân, cho nên nó lây lan trong dân chúng nhanh hơn là nếu nó bắt nguồn từ người ngoài mà không được sự hỗ trợ của dân chúng từ đầu.

MẪU TỰ HÀN, XÓA MÙ CHỮ VÀ GIÁO DỤC

Hangul là hệ thống chữ quốc ngữ của người Hàn, với một bảng chữ cái để ký âm tiếng Hàn, được phát minh khoảng năm 1.446 do các học giả của triều đình Sejong Đại đế, [31] [32]. Do ảnh hưởng áp đảo của học thuật cổ điển Trung Quốc (chiếm một vị trí tương tự như tiếng Latin ở châu Âu ) suốt nhiều thế kỷ thứ chữ quốc ngữ này rất ít được dùng đến. Giáo Hội Công Giáo là tổ chức Hàn Quốc đầu tiên chính thức lấy chữ quốc ngữ của Hàn làm công cụ ưu tiên. Đức Giám mục Siméon-François Berneux buộc phải dạy cho tất cả trẻ em Công giáo biết đọc nó. [31] [33] Sách vở Kitô giáo in để dùng tại Hàn Quốc, kể cả những sách vở được dùng trong các trường do các giáo sĩ Kitô giáo thành lập, chủ yếu đều dùng Hàn ngữ với bảng chữ cái dễ học của quốc ngữ Hàn. Các nhân tố ấy kết hợp với nhau khiến tỷ lệ số người biết chữ tăng nhanh, và khiến giáo lý Kitô giáo lan rộng vượt khỏi tầng lớp trí thức vốn chuyên dùng chữ Hán. Đầu thập niên 1780, các phần của sách Tin Mừng đã được xuất bản bằng quốc ngữ Hàn; sách giáo lý “Jugyo Yoji” (Giáo huấn căn bản của Chúa) được xuất bản vào những năm 1790 và một quyển thánh ca Công Giáo đã được in vào khoảng năm 1800.

John Ross, một nhà truyền giáo Presbyterian người Scotland có trụ sở tại Thẩm Dương, đã hoàn thành việc dịch Kinh Thánh sang sang tiếng Hàn vào năm 1887 [34] và các vị lãnh đạo Tin lành đã phát hành một khối lượng lớn bản dịch này. Họ cũng đã thành lập những cơ sở giáo dục hiện đại đầu tiên tại Hàn Quốc. [35] Trường Paichai của hệ phái Methodist dành cho nam sinh được thành lập năm 1885, rồi trường Ewha Methodist dành cho nữ sinh (sau này trở thành Đại học nữ giới Ewha) vào năm 1886. Những trường ấy, và những trường tương tự được thành lập tiếp sau đó, đã giúp đạo Tin Lành lan rộng trong tầng lớp dân thường, và người Tin lành đã qua mặt người Công giáo, trở thành nhóm Kitô giáo lớn nhất tại Hàn Quốc. Trước kia phụ nữ không được đến trường nhưng giờ đây số phụ nữ biết chữ đã tăng vọt. [36]

KITÔ GIÁO DƯỚI THỜI HÀN QUỐC BỊ NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG, 1910-1945

Nhật đã xâm chiếm Hàn quốc năm 1910. Với chế độ cảnh sát trị, họ đã tìm cách giảm thiểu ảnh hưởng của các nhà truyền giáo, đưa tới một hệ quả đáng buồn trong những năm 1911-1919. Những tuyên bố lý tưởng của Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã góp phần làm cho tinh thần quốc gia của người Hàn tăng mạnh trong những năm 1920, nhưng rồi họ vỡ mộng khi phong trào bị thất bại không đạt được một cải cách có ý nghĩa. Năm 1924, người Tin Lành thành lập Hội đồng Kitô  giáo Toàn quốc Hàn để điều phối hoạt động bằng cách chia thành các khu vực được phân công cụ thể cho các hệ phái Tin Lành khác nhau. Tin Lành Hàn Quốc cũng thành lập những nhóm truyền giáo cho người Hàn hải ngoại, cách riêng là ở Trung Quốc.

Kitô giáo tăng trưởng đều đặn, vào giữa những năm 1930, dân số Công giáo đạt tới 147.000, và Tin Lành 168.000. Những căn cứ lớn cho cả hai nhóm đều ở phía Bắc. Vào năm 1937, Giáo Hội Presbyterian của Hàn Quốc đã khá độc lập với sự hỗ trợ tài chính từ Hoa Kỳ; năm 1934 Giáo Hội Methodist đã trở thành tự trị và chọn một giám mục Hàn Quốc. Các nhà truyền giáo tích cực nhất bên phía Công giáo là các tu sĩ dòng Maryknoll, đã mở trường y khoa Maryknoll tại Pusan ​​năm 1964; nay là Đại học Công giáo Pusan. [37]

TINH THẦN DÂN TỘC CỦA NGƯỜI HÀN

Một trong những yếu tố quan trọng nhất dẫn đến sự chấp nhận Kitô giáo rộng rãi tại Hàn Quốc là nhiều Kitô hữu đã kiên quyết đứng về phía chính nghĩa của Hàn Quốc suốt thời kỳ Nhật chiếm đóng (1910-1945). Trong thời gian này, Nhật Bản đã tiến hành một chiến dịch áp đặt văn hóa Nhật lên người Hàn cách có hệ thống, đặc biệt là đòi người Hàn phải tôn thờ Nhật hoàng. Thậm chí năm 1938, việc dùng tiếng Hàn đã bị cấm. [38] Tuy nhiên, tính chất đặc biệt Triều tiên của Giáo hội Hàn quốc đã nổi rõ và được lớn mạnh thêm trong những năm ấy do biết  bao Kitô hữu đã tỏ rõ sự trung thành với quốc gia. Trong khi hiến pháp sau này của Nam Hàn đảm bảo cả tự do tôn giáo lẫn sự tách biệt giữa Giáo hội và Nhà nước, chính phủ Hàn Quốc đã ủng hộ Kitô giáo, coi đây như là một giáo lý có sức ngăn ngừa ảnh hưởng ý thức hệ của quốc gia anh em láng giềng.

Ngày 01 tháng 3 năm 1919, một hội đồng gồm 33 nhà lãnh đạo tôn giáo và các chuyên gia được gọi là ” Phong trào 01 Tháng Ba” thông qua một Tuyên ngôn độc lập. Mặc dù phong trào do các lãnh tụ của Thiên Đạo giáo (một tôn giáo dựa trên học thuyết Khổng Tử) đứng ra tổ chức, 15 trong số 33 người ký tên là người Tin Lành, [39] và nhiều người trong số họ đã bị bắt giam. Cũng trong năm 1919, còn xuất hiện phong trào hô hào độc lập do người Công giáo chủ xướng, mang tên “Ulmindan” [40], và một chính phủ lưu vong do một chính khách hệ phái Methodist là Syngman Rhee cầm đầu cũng đã ra đời và tồn tại được một thời. [41]

Kitô giáo còn gắn liền với phong trào yêu nước hơn nữa khi một số Kitô hữu từ chối không dự các nghi thức tôn thờ Nhật hoàng mà luật pháp năm 1930 đòi buộc. [38] [42] Mặc dù việc từ chối ấy là do niềm tin tôn giáo thúc đẩy hơn là do xác tín chính trị, nó đã khiến nhiều Kitô hữu bị bắt giam, và trong con mắt của nhiều người Hàn Quốc, điều ấy vẫn đồng nghĩa với tinh thần dân tộc chống lại sự chiếm đóng của Nhật. [43]

THẦN HỌC VỀ DÂN CHÚNG

Các khái niệm Kitô giáo về giá trị cá nhân đã được đề cao trong cuộc đấu tranh lâu dài cho nhân quyền và dân chủ ở Hàn Quốc. Trong những năm gần đây, cuộc đấu tranh này còn mang hình thức Thần học về Dân chúng.  Thần học về Dân chúng tại Hàn là một dạng thần học giải phóng, dựa trên khái niệm “hình ảnh Thiên Chúa” trong Sáng thế ký 1: 26-27, kết hợp với tâm thức “Hàn” trong truyền thống Hàn Quốc, thuật ngữ này không có từ tương  đương chính xác bằng tiếng Anh, và có nghĩa là một cảm giác đau đớn vô vọng không sao an ủi. Thần học về Dân chúng mô tả tầng lớp dân thường trong lịch sử Hàn Quốc như những người chủ chân chính của vận mệnh của mình. Hai trong số các nhà lãnh đạo chính trị nổi tiếng nhất của đất nước đã hưởng ứng Thần học về Dân chúng, là Kim Young-sam, tín hữu Presbyterian, và Kim Dae-jung, người Công giáo,. [44] Cả hai đã đấu tranh chống lại chính phủ quân sự chuyên chế ở Hàn Quốc suốt nhiều thập kỷ và đã thường xuyên bị bỏ tù nhưng rồi sau khi được phóng thích vào năm 1988, cả hai đã lần lượt trở thành Tổng thống của nước Cộng hòa dân chủ này.

Thần học về Dân chúng đã nổi bật vào những năm cuối của chế độ Park Chung-hee (1961-1979) với sự ra đời của một số phong trào xã hội Kitô giáo, như Phong trào Nông dân Công Giáo và Phong trào công nghiệp đô thị Tin Lành, vận động tăng lương và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động. Chính phủ quân sự coi những phong trào này như một mối đe dọa cho sự ổn định xã hội, cho nên đã cầm tù nhiều lãnh tụ của họ; trong thực tế, những cuộc đấu tranh này trùng với một thời kỳ bất ổn dẫn đến đỉnh điểm là vụ ám sát Tổng thống Park Chung-hee vào ngày 26 tháng 10 năm 1979. [45]

BIẾN ĐỔI XÃ HỘI

Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc tin rằng giá trị Kitô giáo đã tác động tích cực đến các mối quan hệ khác nhau trong xã hội. Xã hội truyền thống của Hàn Quốc đã được tổ chức tôn ti trật tự theo nguyên tắc Khổng giáo dưới quyền một vị vua được xem như con Trời. Phụ nữ không có quyền lợi xã hội, [46] con cái hoàn toàn lệ thuộc vào cha mẹ, [47], cá nhân không có quyền nào khác ngoài những gì được quy định trong hệ thống xã hội. Cấu trúc ấy đã bị các giáo huấn Kitô giáo thách thức. Theo giáo huấn Kitô giáo, mọi người đều được tạo dựng theo hình ảnh Thiên Chúa và vì thế ai cũng bình đẳng và có phẩm giá cốt yếu như nhau. [48] Theo Kim Han-sik, khái niệm ấy cũng hỗ trợ cho quan niệm quyền sở hữu tài sản là của cá nhân chứ không phải của gia đình (hay người đứng đầu gia đình).

Các Kitô hữu coi hoàng đế cũng chỉ là người và cũng ở dưới quyền của Thiên Chúa như các thần dân của ông, [49]. Các giá trị Kitô giáo ủng hộ cho việc giải phóng phụ nữ và trẻ em về mặt xã hội. [46] [47] Giáo hội cho phép các quả phụ được tái hôn (theo lời dạy của tông đồ Phaolô, ngược với truyền thống của các xã hội Đông Á vốn không cho phép),  cấm chế độ hầu thiếp và chế độ đa thê, và cấm ngược đãi vợ, cấm bỏ vợ. Bậc cha mẹ Kitô giáo được dạy phải coi con cái là quà tặng của Thiên Chúa, và phải chu toàn việc giáo dục con cái. [50] Cấm tảo hôn và cấm bỏ bê con gái (trong văn hóa Á đông, con gái thường ít được cha mẹ mong ước hơn so với con trai).

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

Sự tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Hàn Quốc trong những năm 1960 và 1970 thường được cho là do chủ trương của Park Chung-hee nhắm công nghiệp hóa hướng đến xuất khẩu, nhờ các giá trị văn hóa bản địa và tinh thần làm việc nghiêm túc, nhờ liên minh vững chắc với Hoa Kỳ, và nhờ nguồn vốn đầu tư của nước ngoài. Nhiều Kitô hữu Hàn Quốc vẫn xem tôn giáo của họ đóng một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ của đất nước trong hơn ba thập kỷ qua, họ tin rằng sự thành công và thịnh vượng kinh tế là dấu hiệu sự chúc lành của Thiên Chúa. [51]

Năm 2003 hai kinh tế gia Robert J. Barro và Rachel McCleary đưa ra một Một nghiên cứu cho thấy những xã hội càng có niềm tin cao vào trời và có mức độ đi nhà thờ nhiều càng có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh. [52] Luận điểm của Barro và McCleary có ảnh hưởng lớn trong giới học thức sau đó, và theo một số nhà quan sát, nó hỗ trợ cho sự tin tưởng rằng Kitô giáo đã đóng một vai trò quan trọng trong sự thành công kinh tế của Hàn Quốc. [53] [54] Tuy nhiên nghiên cứu ấy đã bị các học giả như Durlauf, Kortellos và Tân chỉ trích (2006). [55] Từ năm 2000 có một xu hướng xây dựng những giáo đường vĩ mô khiến một số nhà thờ phải nợ tài chính. [56]

PHÚC ÂM HÓA

“Trong những năm 1960, Giáo hội đã đến với những người bị đàn áp, như gái mại dâm và lớp người lao động công nghiệp mới. Khi nền kinh tế Hàn Quốc phát triển, việc tìm lối thoát cho giới công nhân lao động nổi bật lên như một trong những lĩnh vực quan trọng nhất của công tác truyền giáo . Giáo Hội thành lập ngành tuyên úy cho công nhân trong các nhà máy. Ngoài ra, nghĩa vụ quân sự là chuyện bắt buộc đối với nam giới ở Hàn Quốc, sự hiện diện của các tuyên úy quân đội cũng trở thành quan trọng không kém. Nhiều quân nhân cải sang Kitô giáo trong thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự.” [57 ]

NIỀM TIN VỀ SÁNG TẠO

Ở Hàn Quốc, nhiều nhóm Kitô giáo đã tham gia vận động nghiên cứu về sáng tạo, đặc biệt là Hiệp hội Hàn Quốc nghiên cứu về sáng tạo (KACR) đòi phải hiểu sự sáng tạo theo sách Sáng Thế, và Hiệp hội Duyệt lại sách Giáo khoa (STR), một ủy ban thay thế cho chương trình Duyệt lại vấn đề Tiến hóa trong sách Giáo khoa (CREIT). [64] Đó là một nhánh độc lập của KACR, và đã tự tách khỏi học thuyết của KACR. [65] Đầu năm 2008, tại Seoul Land, một công viên giải trí hàng đầu, KACR đã tổ chức một triển lãm “khoa học về sáng tạo”, có hơn 116.000 lượt khách ghé thăm trong ba tháng, và đến năm 2012, họ thương lượng với công viên để tổ chức một cuộc triển lãm khác kéo dài suốt năm. [65]

Năm 2012, do áp lực từ STR, Bộ Giáo dục đã công bố duyệt lại nhiều sách giáo khoa trung học để loại bỏ một số ví dụ về tiến hóa, chẳng hạn như của ngựa và khủng long. [64] [65] [66] Người ta đã giới hạn vào việc loại bỏ hoặc sửa đổi một số ví dụ [67] hoặc do không còn được chấp nhận hoặc hiện đang tranh cãi; [64] sự thay đổi này không kéo theo việc loại bỏ sự tiến hóa hoặc đưa sự sáng tạo vào sách giáo khoa [67] Tuy nhiên, STR có kế hoạch tiếp tục đệ trình kiến nghị để loại bỏ quá trình tiến hóa của con người và sự thích ứng của mỏ chim, với mục tiêu cuối cùng là giảm thiểu vai trò của quá trình tiến hóa Darwin trong việc giảng dạy. [65]

XUNG ĐỘT TÔN GIÁO

Sự đối kháng giữa những người Tin Lành từ chương (tin rằng Kinh thánh đúng từng chữ) với Phật giáo là một vấn đề lớn cho việc hợp tác tôn giáo ở Hàn Quốc, đặc biệt là trong những năm 1990 đến cuối những năm 2000. [60] [71]

Ngược lại, người Công giáo Hàn Quốc với Phật giáo và các tôn giáo khác vẫn giữ được quan hệ hợp tác chủ yếu, một phần nhờ nhiều phong tục và triết lý Phật giáo và Nho giáo được hội nhập vào Công giáo Hàn Quốc, nổi bật nhất là việc tôn kính tổ tiên. [72]

Tác giả:  Phan Vĩnh Tâm (lược dịch)

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Việt Nam: Càng ngán Trung Quốc, càng thân Hoa Kỳ

Nguoi-viet.com

Thanh Phương (RFI)

Trong loạt bài nói về những nỗ lực của Trung Quốc nhằm chiêu dụ thêm bạn bè và khách hàng ở Châu Á, cũng như nhằm khẳng định vị thế ngày càng áp đảo ở châu lục này, nhật báo Mỹ The Washington Post ngày 28 Tháng Mười Hai, 2015 đã nói về quan hệ Việt-Trung. Theo tờ báo này, chính thái độ ngày càng hung hăng của Trung Quốc nhằm xác quyết chủ quyền trên Biển Ðông đã khiến Việt Nam ngả nhiều hơn về phía cựu thù Hoa Kỳ.


Tổng Thống Barack Obama (phải) tiếp ông Nguyễn Phú Trọng, tổng bí thư đảng CSVN tại Tòa Bạch Ốc ngày 7 Tháng Bảy, 2015. (Hình: Martin H. Simon/Getty Images)

Theo ghi nhận của The Washington Post, khi đến thăm Việt Nam vào tháng trước, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã được đón tiếp rất trọng thể với nghi thức bắn 21 phát đại bác. Vinh dự hiếm thấy là nguyên thủ Trung Quốc được phát biểu trước Quốc Hội Việt Nam. Nhưng bài phát biểu của ông Tập Cận Bình cổ vũ tình hữu nghị Việt-Trung thắm thiết đã được đón nhận bằng một sự im lặng nặng nề và với vài tiếng vỗ tay lác đác khi ông chấm dứt bài phát biểu. Trên gương mặt cử tọa hội trường Quốc Hội hôm ấy lộ rõ vẻ chán chường, thờ ơ, thậm chí thù nghịch.

The Washington Post trích lời một quan chức Việt Nam, xin được miễn nêu tên vì đây là vấn đề “nhạy cảm,” cho biết là bầu không khí hôm ấy “rất căng thẳng.”

Tờ báo nhắc lại rằng Trung Quốc tỏ ý muốn giúp các nước láng giềng Châu Á xây những công trình cơ sở hạ tầng mà những quốc gia này đang rất cần, dưới danh nghĩa khôi phục Con đường tơ lụa xưa kia. Việt Nam cũng cần tiền, nhưng lại sợ mưu đồ ẩn giấu đằng sau.

The Washington Post trích lời ông Trần Trường Thủy, một chuyên gia ở Học Viện Ngoại Giao Việt Nam, nói rằng: “Chúng tôi rất nghi ngờ, bởi vì chúng tôi không biết mục tiêu thật sự của họ là gì. Ðằng sau dự án Con đường tơ lụa trên biển, Trung Quốc có thể đẩy mạnh tuyên truyền cho chủ quyền của họ.”

Tờ báo cũng ghi nhận sự tương phản giữa chuyến viếng thăm của ông Tập Cận Bình với chuyến công du Việt Nam của cựu Tổng Thống Bill Clinton vào năm 2000. Vào năm đó, hàng chục ngàn bạn trẻ đã đứng đợi tới khuya để đón vị tổng thống đầu tiên của Mỹ đến thăm kể từ sau chiến tranh Việt Nam, còn khi chủ tịch Trung Quốc đến thăm vào tháng trước, chẳng có đám đông nào hân hoan chào đón.

Một ví dụ cho thấy Việt Nam khó có thể tin tưởng Trung Quốc, đó là dự án đường sắt đô thị do Trung Quốc xây dựng ở Hà Nội đã bị trễ đến 3 năm so với dự kiến và tốn kém thêm 57% với với ngân sách dự trù. Chính Bộ Trưởng Giao Thông Ðinh La Thăng đã nói rằng, nhiều lần, ông muốn thay nhà thầu Trung Quốc, nhưng không thể làm được do các quy định của những khoản vay.

Ấy là chưa kể Trung Quốc thường chuyển giao những công nghệ lỗi thường cho Việt Nam, bất chấp các tiêu chuẩn về môi trường, đưa lao động của họ sang, thay vì tuyển mộ nhân công địa phương. Các công ty Trung Quốc cũng thường trúng thầu nhờ đưa giá thấp một cách vô lý, để rồi sau đó tính chi phí cao hơn.

Nhưng yếu tố khiến cho quan hệ Việt -Trung gần như gặp khủng hoảng, đó là vụ hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 gần quần đảo Hoàng Sa vào Tháng Năm, 2014, dẫn đến nhiều cuộc biểu tình bạo động chống Bắc Kinh, với nhiều nhà máy Trung Quốc và Ðài Loan bị đốt phá. Theo Giáo Sư Carl Thayer, chuyên gia về Việt Nam thuộc Học Viện Quốc Phòng Úc, vào lúc đó đã có lời kêu gọi Ban Chấp Hành Trung Ương họp khẩn cấp để thảo luận về việc thiết lập một liên minh với Hoa Kỳ. Nhưng đến Tháng Bảy, 2014, Bắc Kinh đã rút giàn khoan đi và cuộc họp khẩn cấp của Ban Chấp Hành đã không diễn ra. Tuy nhiên, việc cải thiện quan hệ Việt Nam-Hoa Kỳ đã được thúc đẩy thêm.

The Washington Post thống kê là trong 12 tháng qua, đã có đến 8 trong số 16 ủy viên Bộ Chính Trị thăm Washington, và khoảng 6 quan chức cấp chính phủ Mỹ đã đến Việt Nam. Tổng Thống Obama lần đầu tiên cũng đã tiếp một lãnh đạo Ðảng Cộng Sản Việt Nam tại Nhà trắng vào Tháng Bảy, 2015 và dự kiến đi thăm Việt Nam vào năm tới.

Vào Tháng Mười, 2014, Hoa Kỳ đã dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí Việt Nam và đang giúp Hà Nội nâng cao khả năng của lực lượng tuần duyên để đối phó với Trung Quốc ở Biển Ðông.

Nhưng dấu hiệu rõ rệt của việc Hà Nội thắt chặt quan hệ với Washington, đó là việc Việt Nam gia nhập Hiệp Ðịnh Tự Do Mậu Dịch Ðối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, do Mỹ khởi xướng. Hà Nội hy vọng là hiệp định TPP sẽ giúp họ bớt phụ thuộc vào Trung Quốc về kinh tế.

Theo The Washington Post, mặc dù trong đảng có một phe bảo thủ thân Bắc Kinh còn rất mạnh, việc có nhiều ủy viên Bộ Chính Trị đi thăm Washington trước khi thay đổi ban lãnh đạo vào năm tới đã là điểm đáng quan tâm. Tờ báo trích lời ông Trần Trường Thủy: “Ðảng cũng phải chú ý đến công luận. Không ai muốn tỏ ra mềm yếu trong việc bảo vệ quyền lợi quốc gia hoặc không muốn tỏ ra quá nhân nhượng Trung Quốc.”

Nhưng theo tờ báo này, Việt Nam biết mình rất cần đến quan hệ tốt với Trung Quốc. Lịch sử và vị trí địa lý không cho phép Hà Nội biến Bắc Kinh thành kẻ thù. Việt Nam sẽ không bác bỏ những đầu tư của Trung Quốc, nhưng sẽ chọn lựa kỹ càng hơn và chắc chắn là sẽ không còn tin vào thiện tâm của Bắc Kinh.

Báo trong nước ‘mấp mé’ về đa đảng

Báo trong nước ‘mấp mé’ về đa đảng

Người dân trông đợi Đại hội Đảng sẽ đem lại những chuyển biến kinh tế – xã hội trong năm 2016

Vài tuần trước ngày diễn ra Đại hội Đảng 12, mạng xã hội đang chia sẻ link bài trên một tờ báo kinh tế trong nước nhấn mạnh các khía cạnh ưu việt của nền chính trị đa đảng.

Hôm 1/1, Thời báo Kinh tế Sài Gòn đã đăng bài “Thương hiệu chính trị – Khắc tinh của hoàng hôn nhiệm kỳ” mượn chuyện bầu cử ở Hoa Kỳ để gợi suy nghĩ về thời sự tại Việt Nam.

Trong bài báo, ông Võ Trí Hảo, Giám đốc Chương trình Tư vấn doanh nghiệp, Công ty Khoa & Associate, giảng viên khoa Luật, Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, nhấn mạnh: “Mỗi một lựa chọn thể chế chính thức sẽ có một hệ quả thể chế phi chính thức tương ứng; pháp luật tạo độc quyền cho cô bán hàng mậu dịch, thì cái mặt “vênh” không xuất hiện mới là điều phi logic.

Thì cũng vậy với thương hiệu chính trị, xói mòn là điều xót xa không thể tránh khỏi, cho những thế hệ nào đã hy sinh xương máu, dày công tạo dựng”.

“Trong chế độ độc quyền thì bè phái sẽ làm tổn hại quyền lực của nhà vua, bởi vậy bị nhà vua khép tội chết hay chí ít là bị truất quyền bởi hành vi gây mất đoàn kết nội bộ.

Nhưng từ khi loài người bước sang thời đại dân chủ, cùng với quyền tự do lập hội, bè phái không còn bị cấm đoán; mà ngược lại được thể chế hóa, pháp luật ghi nhận, tạo điều kiện công khai hóa và kiểm soát, tránh những hậu quả xấu của nó, đồng thời khai thác ưu điểm”, tác giả bình luận.

Ông Hảo giải thích: “Việc pháp luật Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do đảng phái không chỉ là hiện thực hóa quyền tự do chính trị, tự do bầu cử trong Hiến pháp, mà nó còn tạo ra tám hệ quả cho một nền chính trị lành mạnh”.

Một trong số các hệ quả là: “Mỗi một sai lầm, thất hứa, tham nhũng của một đảng sẽ là cơ hội vô giá của đảng đối lập; bởi vậy, mỗi đảng phải hết sức giữ mình, và ngay lập tức yêu cầu đảng viên của mình từ chức, kể cả khi họ không vi phạm pháp luật, nhưng không làm cử tri hài lòng.

Hay nói cách khác, từ chức không phải là văn hóa tự thân, mà nó là hệ quả của việc giữ gìn thương hiệu chính trị tập thể”.

Image copyright Chinhphu Image caption Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đề nghị cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thủ đô cần ‘nhận thức đầy đủ’ về tình hình

‘Không để bị động bất ngờ’

Ngoài ra, bài báo còn có ý nói TP Hồ Chí Minh được cho là văn minh hơn Hà Nội là vì “Cơ chế mậu dịch quốc doanh, mà rộng hơn là cơ chế bao cấp, chỉ áp đặt lên Sài Gòn trong tròm trèm 10 năm (1975-1986), chưa kịp nhuốm phong cách bán hàng phục vụ của người Sài Gòn.

Thay vào đó, phong cách bán hàng, phục vụ của người Sài Gòn đã được định hình bởi cơ chế thị trường gần 100 năm (80 năm Nam kỳ thuộc địa trực trị áp dụng pháp luật thị trường của Pháp, 20 năm Việt Nam Cộng hòa cũng là thể chế kinh tế thị trường)”.

Hôm 31/12, trả lời phỏng vấn BBC từ Canada, Luật sư Vũ Đức Khanh nhận định 2016 là năm mang tính ‘quyết định thời cuộc Việt Nam giống như năm 1986 mở đường cho ‘đổi mới’.

“Có thể thấy, sự kiện quan trọng nhất năm 2016 của Việt Nam là kỳ Đại hội Đảng 12. Những người lạc quan thì mong đợi kỳ Đại hội này sẽ thiết lập chính phủ mới, quốc hội mới đáp ứng được những kỳ vọng của người dân trong bối cảnh hội nhập quốc tế”, luật sư nói.

Tuy vậy, ông cũng thừa nhận: “Rủi ro lớn nhất là phe cấp tiến thân phương Tây trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng không giành thắng lợi trong Đại hội do lực cản từ phía Trung Quốc. Điều này dẫn đến hệ lụy là sẽ làm chậm tiến trình TPP, khiến Việt Nam đánh mất nhiều cơ hội cải cách xã hội và đạt mức tăng trưởng kinh tế mới”.

Ông dự báo mọi chuyển biến của Việt Nam chỉ thật sự rõ ràng khi Đại hội Đảng 12 kết thúc và đem lại kết quả ‘khiến người dân cảm thấy an lòng là Đảng Cộng sản và nhà nước quyết định chọn con đường mới để đi thay vì tiếp tục núp bóng Trung Quốc’.

Trong một diễn biến khác, Thông tấn xã Việt Nam hôm 2/1 đưa tin về buổi họp của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng – Bí thư Quân ủy Trung ương – và Bộ tư lệnh thủ đô Hà Nội.

“Tổng bí thư đề nghị cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang thủ đô cần nhận thức đầy đủ, sâu sắc về ý nghĩa, tầm quan trọng của nhiệm vụ bảo vệ an ninh Tổ quốc trong tình hình mới, đặc biệt sắp diễn ra Đại hội Đảng 12…

Cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang phải nắm chắc tình hình thực tế, có biện pháp phù hợp, kịp thời, khôn khéo, 
không để bị động bất ngờ”.

Tại sao người khoan dung rộng lượng thường thành công?

Tại sao người khoan dung rộng lượng thường thành công?

Có lẽ chúng ta ai cũng đã từng tiếp xúc với người khoan dung và rộng lượng. Họ đơn thuần không toan tính cho bản thân mà luôn nghĩ và lo lắng cho người khác. Ai cần họ, họ sẵn sàng dành thời gian để giúp đỡ và chia sẻ với người đó. Những lời họ nói rất chân thật và thiện tâm, khiến người nghe cảm nhận lòng tốt và sự khoan dung toát ra từ họ.

Chính vì thế mà họ đã truyền cảm hứng đến nhiều người, khiến người khác thay đổi suy nghĩ và trở nên quan tâm hơn đến mọi người xung quanh.

Người rộng lượng được đánh giá là người thành công trong cuộc sống, không những trong các hoạt động cộng đồng, trong công việc mà còn trong cuộc sống cá nhân.

Điểm đặc biệt chúng ta có thể nhận thấy chính là: bất cứ ai cũng có thể trở thành người rộng lượng cho dù họ kiếm được bao nhiêu tiền, giàu có đến đâu… chỉ cần họ thành tâm với người khác. Bạn cũng có thể là một trong những số ấy bằng cách trau dồi và rèn luyện tâm tính của mình.

7 lý do dưới đây sẽ cho bạn thấy lý do tại sao người sống rộng lượng lại thường dễ thành công.

  1. Họ là người hạnh phúc

Người khoan dung rộng lượng sẵn lòng dành thời gian, tài sản và khả năng của mình để đóng góp cho gia đình và xã hội. Trái tim họ còn mở rộng hơn với những người xa lạ ở phương trời khác chứ không chỉ ở nơi họ đang sinh sống. Khi họ có dịp đặt chân trên vùng đất nào đó, họ đều tìm hiểu về người và cuộc sống người dân ở đó. Mục đích chủ yếu chỉ là giúp đỡ nhiều người. Đối với họ hạnh phúc chính là “cho đi” hơn “nhận lại”. Đây chính là ý nghĩa nhân sinh xuất phát từ đáy lòng họ với người khác trong cuộc sống này.

khoan dung

  1. Họ có cuộc sống thư thái

“Nghèo và giàu” luôn làm cho con người bận tâm và lo lắng. Cuộc sống chật vật và thiếu thốn hay đầy đủ và sung túc cũng đều khiến người ta phải bận tâm. Vấn đề giàu và nghèo thường gây cho một số người mất phương hướng và chọn lựa sai lầm con đường đi của mình.

Kết quả thực tế cho thấy, có nhiều người đi theo lối sống lệch lạc, không chân chính, đi ngược lại với lương tâm và đạo đức…v.v…. Người khoan dung rộng lượng dựa vào cái tâm chân chính của mình để sống, không của cải hay bạc tiền nào có thể ảnh hưởng hay mua chuộc được họ. Họ có thể kiếm được rất ít, nhưng họ không sống “nô lệ” cho đồng tiền. Họ có cuộc sống bình an và thoải mái vì họ không bị ràng buộc về vật chất, họ có thể cho đi bất cứ thứ gì họ đang có.

  1. Họ làm việc chăm chỉ

Đặc điểm chung của người rộng lượng là “chịu thương chịu khó” đối với bất kỳ công việc nào được giao. Họ cũng đặt mục tiêu trên bước đường đi của họ, nhưng với họ không tranh giành để thành công, không đi “đường tắt”, không trái với lương tâm.

Họ quan niệm rằng mọi thành công không chỉ riêng cho họ mà với tất cả mọi người, đồng đội họ, nhân viên họ, và toàn thể doanh nghiệp. Chính vì thế họ cấp trên được đánh giá cao, giao phó những việc lớn hơn. Vì sự tận tâm, tận lực với công việc, họ dễ nắm bắt được thành công.

  1. Họ là người tử tế

Bạn hiếm khi tìm được những người rộng lượng mà không tử tế. Họ giúp người khác khi cần cũng như tạo điều kiện cơ sở cho người đó được thành công. Thật lòng mà nói khi bạn tử tế với ai thì người đó cũng sẽ đối đáp với bạn như thế. Chìa khóa thành công của người rộng lượng là cho đi hơn nhận lại. Tuy nhiên, những điều họ nhận được còn lớn hơn rất nhiều những thứ họ cho đi.

Nhà văn người Mỹ – Zig Ziglar từng nói: “Bạn có thể có mọi thứ bạn muốn trong cuộc sống nếu bạn giúp người khác có cái họ muốn”.

2

  1. Họ là người tự do

Nhà tù mạnh nhất trên thế giới này được xây dựng bằng sự tham lam, ham muốn và ích kỷ của con người. Những thứ không tốt đó như một sợi dây xích đang trói bạn lại, hạn chế tất cả niềm hy vọng và thành công của bạn. Điều duy nhất để phá vỡ những mắt xích này là tấm lòng bao dung và rộng lượng.

Người rộng lượng tự do làm bất cứ thứ gì họ muốn, bởi vì hạnh phúc và thành công của họ không phụ thuộc vào những gì họ có, mà đó là những thứ họ cho đi. Bạn có nhận ra rằng những người rộng lượng thường có nhiều hơn những thứ họ cần trong cuộc sống không?

  1. Họ có các mối quan hệ tốt đẹp

Điều rõ ràng trong các mối quan hệ của người khoan dung rộng lượng là sự bền vững và lâu dài. Phẩm chất và nhân cách của họ, sự thật lòng thật dạ, không tính đếm thiệt hơn khiến các mối quan hệ của họ ngày càng trở nên khăng khít.

Ngoài ra, họ có tầm ảnh hưởng lớn đến những người trong các mối quan hệ của họ. Họ có thể thay đổi được những suy nghĩ và hành động không tốt của người khác.

  1. Họ là người tin vào luật nhân quả

Nếu bạn không tự xem mình là “trung tâm của vũ trụ, đặt mình lên trên người khác”, bạn sẽ thấy cuộc sống này thật tuyệt, không những cho bản thân mà cho tất cả mọi người.

Người khoan dung rộng lượng không xem trọng những thứ họ cho đi, ngoại trừ sự tự do không gò ép. Họ tự tin vào bản thân, họ tin rằng cuộc sống này “không mất thì không được”. Chính vì vậy, họ cho đi mà không hề toan tính.

Điều đặc biệt, người khoan dung rộng lượng rất tin vào luật nhân quả, họ tin rằng thiện hay ác – tất cả đều có báo ứng. Vì vậy, tham lam, ham muốn và ích kỷ không có trong “từ điển” của họ. Không có những lợi ích cá nhân nào làm ngăn trở họ. Họ làm tất cả vì mọi người bằng cả con tim và khối óc.

Hahna Nguyễn

Nghĩ về cuộc chiến Bắc – Nam

Nghĩ về cuộc chiến Bắc – Nam

FB Vinh Le

1-1-2016

Tôi là người lính của phía bên này, bên mà Huy Đức gọi là bên thắng cuộc, đã đi một quãng đường dài từ Quảng Trị tới Sài Gòn từ 1972 tới 1975, giai đoạn cuối của cuộc chiến thống nhất đất nước. Bàn về cái đúng cái sai của cuộc chiến này nên để cho các nhà làm sử và hậu thế phán xét. Là người lính của phía bên này nhưng tôi không nghĩ những người lính Việt phía bên kia là kẻ thù, nhất là sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 bởi chúng ta, những người lính phía bên này hay phía bên kia cùng là người Việt máu đỏ, da vàng.

Suy nghĩ của tôi thời chiến tranh, sau chiến tranh và hiện nay rất đơn giản, là công dân của thể chế nào khi đi lính thì phục vụ thể chế đó, đúng phận sự của người lính, điều này là một thực tế, muốn thay đổi cũng không được.

Có lẽ sai lầm trong cách xử lý của thời hậu chiến của các nhà lãnh đạo thời bấy giờ đã để lại vết thương lòng quá lớn cho những người lính kể cả những người đã mất phía bên kia và gia đình họ. Sau chiến tranh, mất mát nhiều nhất là những người lính cả hai phía, kể cả gia đình họ. Tôi không phải là người lính phía bên kia nên bàn về sự mất mát của họ và gia đình họ có thể thiếu chính xác. Là người trong cuộc tôi muốn giải bày những gì tôi và đồng đội tôi, những người lính của bên thắng cuộc để các bạn thấy chúng tôi được hay mất.

Khoảng giữa tháng 12 năm 1975, cánh lính sinh viên chúng tôi được giải ngũ về học tiếp. Mỗi người được cấp 93 đồng tiền giải phóng (đồng tiền được sử dụng tại miền Nam từ tháng 9 năm 1975). Tôi không biết 93 đồng giải phóng lúc bấy giờ tương đương với bao nhiêu đồng thời nay chỉ biết số tiền đó đủ để mua một con búp bê, một võng dù cho cháu, một áo phao cho em gái, tiền xe đò đi từ Bến Cát về Sài Gòn và ngược lại, còn dư 10 đồng để tiêu vặt từ Bến Cát tới Quảng Trị.

Nếu coi đây là tiền “xương máu” mà chúng tôi được trả trong bốn năm rưỡi đi lính cũng được. Khi nhập ngũ, chúng tôi được trống giọng cờ mở đưa tiễn, lúc trở về lại âm thầm lặng lẽ. Chúng tôi ở xa về muộn nên không chịu cảnh mắc võng đấu tranh ở bộ quốc phòng và bộ đại học đòi được nhập học tiếp, nhiều bạn sinh viên đồng ngũ ra quân vào tháng 7 tháng 8 năm 1975 đã làm giúp chúng tôi điều này.

Có lẽ ưu đãi lớn nhất của cánh lính sinh viên trở về học tiếp là được hưởng sinh hoạt phí 30 đồng một tháng, hơn 8 đồng so với sinh viên ngành sư phạm ngày đó. Ưu đãi thứ hai và cũng là ưu đãi cuối cùng mà nhà nước dành cho tôi và những người cùng cảnh ngộ với tôi, những người lính của bên thắng cuộc là không phải hai năm tập sự sau khi ra trường.

Tôi, một người lính có chút ít chữ nghĩa, kiếm được việc làm ổn định, ở cái thời khốn khó về kinh tế từ 1976 đến 1988. về vật chất chắc chẳng hơn gì gia cảnh của những người lính phía bên kia. Nhiều đồng ngũ của tôi, những người bỏ áo lính trở về làm xã viên hợp tác xã nông nghiệp, quản lý theo kiểu công xã còn khốn khó hơn nhiều. Những đồng ngũ thương bình với trợ cấp 20 đồng hàng tháng, đủ mua được 20 kg gạo theo giá thị trường, nếu không tự bươn chải, tự vươn lên để sống, liệu có vượt qua cái thời khốn khó đó không?

Tôi có một người bạn đồng học đồng ngũ mang trong mình 25% máu Hoa, nhà bạn tôi có ba anh em tham gia cuộc chiến thống nhất đất nước, thế mà sau cuộc chiến chống xâm lược Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, gia đình bạn tôi đã bị trục xuất ra khỏi Việt Nam mặc dù gia đình anh không muốn đi và sẵn sàng vào định cư tai Lâm Đồng để tránh xa Trung Quốc, nhưng không được chấp nhận.

Nếu các thương phế binh ở phía bên kia là nạn nhân của một cuộc chiến thì bạn tôi, một người lính của bên thắng cuộc liệu có phải là nạn nhân của hai cuộc chiến hay không? Là người Việt trực tiếp cầm súng ở phía bên này hay phía bên kia, sau chiến tranh chúng ta không thắng cũng không bại, chỉ có đất nước này, dân tộc này là chiến thắng vì đã kết thúc một cuộc chiến tranh lâu dài, nồi da xáo thịt. Nếu thật sự yêu nước, yêu dân tộc Việt, dù đang sống trong nước hay ngoài nước, dù chấp nhận ý thức hệ kiểu này hay kiểu kia lẽ nào chúng ta lại muốn khoét sâu vào vết đau của chiến tranh.

Quá khứ không phải là cái chết, nhưng đôi khi phải quên nó để mà sống để mà đi lên. Các bạn, những người lính phía bên kia nếu có mặc cảm đau lòng vì mình thuộc bên chiến bại, thì chúng tôi, những người lính thuộc bên thắng cuộc còn đau lòng hơn vì những lý tưởng tốt đẹp mà chúng tôi đã phụng thờ một thời chỉ là ảo tưởng. Còn gì đau lòng hơn khi lòng tin bị đổ vỡ, chúng tôi cảm thấy mình đã bị phản bội. Một lớp người cơ hội, phần đông đã tránh không phải tham gia chiến tranh, bằng cách này hay cách khác, leo vào bộ máy công quyền, phụng sự đất nước, phụng sự dân tộc thì ít, mưu cầu lợi ích cá nhân thì nhiều. Họ và gia đình họ, có lẽ là lớp người hưởng lợi nhiều nhất sau chiến tranh.

Đáng lên án là những kẻ dựa vào thể chế để trục lợi, vì trục lợi cho bản thân nên họ đã xem nhẹ lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc, làm kìm hãm sự phát triển của đất nước. Dù tôn thờ và theo đuổi thể chế chính trị nào cũng nên đặt đất nước và dân tộc lên trên tất cả, đấy mới là người Việt Nam chân chính.

Ngày đầu năm muốn chia sẻ cùng các bạn một vài cảm nghĩ của tôi về hậu quả của cuộc chiến trong quá khứ, mặc dầu cuộc chiến thống nhất đất nước đã qua hơn 40 năm, nhưng dư âm của nó vẫn còn nặng nề trong lớp người thuộc thế hệ chúng tôi, những người thuộc phía bên này hay phía bên kia.

Mong rằng các thế hệ người Việt chúng ta hãy đồng lòng vì đất nước, đấu tranh quét sạch lũ sâu mọt hại dân, hại nước. Chỉ vậy mới hy vọng người dân Việt có thể ngẩng cao đầu và không xấu hổ với bè bạn bốn phương.

Chóp bu CSVN dùng mạng ảo để đấu đá tranh ghế

Chóp bu CSVN dùng mạng ảo để đấu đá tranh ghế
Nguoi-viet.com

Tư Ngộ/Người Việt

HÀ NỘI (NV)Không “đấu đá” trực tiếp với nhau được, các phe phái trong đảng CSVN dùng mạng ảo để bôi bẩn đối thủ. Ðây là điều người ta thấy đang diễn ra trước ngày bầu bán nhóm chóp bu quyền lực chế độ CSVN trong đại hội đảng lần thứ 12 diễn ra vào tháng 1, 2016.


Trang mạng có tên “Ý kiến đảng viên về Ðại Hội XII” đập phe cánh Nguyễn Phú Trọng, bênh Nguyễn Tấn Dũng. (Hình: Người Việt)

Cho đến nay, chỉ còn 20 ngày nữa là đến Ðại Hội Ðảng CSVN và khoảng một tuần nữa sẽ diễn ra phiên họp kỳ thứ 14, tức kỳ họp chót của Ban Chấp Hành Trung Ương đảng CSVN khóa XI. Thời giờ chẳng còn bao nhiêu nữa để người ta thấy tên tuổi, diện mạo nhóm cho bu đảng CSVN khóa XII trình diện vào cuối tháng 1, 2016.

Cũng giống như những kỳ đại hội đảng bầu bán nhóm chóp bu trước đây, nhiều lời đồn đoán về những gương mặt nào sẽ nằm ở vị trí nào trong số 4 ghế của “tứ trụ triều đình đỏ.” Năm nay, sự rò rỉ được giữ rất kỹ lưỡng nên hiện không ai biết những cái tên nào sẽ ở lại, kẻ nào phải về vườn trong số 15 ủy viên Bộ Chính Trị đương nhiệm.

Trong những kẻ ở lại, thì ai sẽ được đôn lên ghế nào trong tứ trụ tổng bí thư đảng, chủ tịch nước, thủ tướng và chủ tịch Quốc Hội.

Sự việc trở nên phức tạp hơn khi có những biệt lệ được đề ra trong kỳ đấu đá chia ghế này là những ông hay bà nào quá tuổi nghỉ hưu theo quy định vẫn được ngồi lại, dẫn đến những đồn đoán và ngay cả những đấu đá, phe cánh chỉ trích lẫn nhau một cách hung hãn trên mạng ảo.

Một số người trả lời các cuộc phỏng vấn trên báo đài ngoại quốc như nhà báo độc lập Phạm Chí Dũng bày tỏ lo ngại rất có thể Tướng Bộ Trưởng Công An Trần Ðại Quang được đôn lên ghế tổng bí thư mà ông tin là sẽ là thảm họa cho dân chủ, nhân quyền.

Blogger Phạm Thành trên blog Bà Ðầm Xòe có những lời ai điếu sớm khi ông nhìn thấy “Quan tài cho Ba Dũng, phe phái Ba Dũng và dòng họ Nguyễn Tấn.”

Một số người khi thấy Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng chạy sang Bắc Kinh khấu đầu trước lăng Mao Trạch Ðông ngay trước đại hội đảng thì nghi rằng, rất có thể ông “Hùng hói” được Trung Nam Hải “phê chuẩn” làm tổng bí thư. Nhưng ông này đã được cắt cử làm trưởng ban bầu cử của Quốc Hội cho kỳ họp chia ghế Quốc Hội sắp tới thì chẳng lẽ ông ta “vừa đánh trống vừa thổi còi”?

Bên cạnh các lời dồn đoán, phân tích của những người “ngồi bên lề lịch sử,” người ta thấy những ngày gần đây xuất hiện một số trang mạng với những bài viết có nội dung bênh ai, chống ai rất rõ ràng trong cuộc chạy đua chiếm ghế tổng bí thư, tức cái ngai vàng của triều đình đỏ.

Cuối năm 2014 sang đầu năm 2015, trang mạng “Chân Dung Quyền Lực” mà một số người đồn đoán là của phe Nguyễn Tấn Dũng tấn công một số người thuộc phe đối thủ trong Trung Ương Ðảng và Bộ Chính Trị.

Mới đây, người ta thấy xuất hiện một trang mạng có tên “Phúc Phản Phúc” lấy lại các bài trên Chân Dung Quyền Lực tố cáo ông Phó Thủ Tướng Nguyễn Xuân Phúc đùn tiền bạc tài sản nhờ tham nhũng hối lộ sang cho con gái và con rể nắm giữ để tránh tiếng. Ông Phúc có thể là một trong những người được phe cánh cài cắm vào ghế thủ tướng.

Trên Internet xuất hiện một số đơn thư tố cáo ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng và con gái Nguyễn Thanh Phượng nhiều tội gồm cả tội chống thiên triều ở Bắc Kinh và các thư “giải trình” của hai người này chống lại các cáo buộc. Không ai có khả năng kiểm chứng sự thật giả của các tài liệu.

Gần đây nhất người ta thấy xuất hiện trang mạng “Ý kiến đảng viên về Ðại Hội XII” đánh Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng và phe cánh trong khi chống đỡ cho ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Bên cạnh đó, người ta cũng thấy xuất hiện trang mạng có tên Nguyễn Công Khế (nguyencongkhe.com) không phải do ông này (nguyên tổng biên tập báo Thanh Niên) lập ra mà chỉ lấy tên ông ta và đăng tải các bài viết cáo buộc Nguyễn Công Khế từ “Mưu hèn kế bẩn của Nguyễn Công Khế hiến cho minh chủ,” đến “Tên gián điệp Nguyễn Công Khế nợ máu như thế nào với cách mạng và nhân dân Việt Nam?,” “Nguyễn Công Khế đã chiếm tập đoàn Thanh Niên như thế nào?” v.v…

Vì ông Nguyễn Công Khế được dư luận đồn đoán là tay chân của ông Chủ Tịch Nước Trương Tấn Sang nên có người cho rằng đây chỉ là chiêu thức “cách sơn đả ngưu,” tức đòn gián tiếp đánh vào ông Tư Sang.

Tổng Bí Thư Ðảng CSVN Nguyễn Phú Trọng ngồi lại hay về vườn dù đang sắp sửa tới tuổi 72? Chủ Tịch Trương Tấn Sang, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đều ở tuổi 66, cũng đã quá tuổi hưu một tuổi, trong khi ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Sinh Hùng cũng đã 67 tuổi.

Tuy đã có danh sách “ứng cử viên” cho các chức danh chủ chốt của đảng CSVN nhưng nó chỉ kết thúc vào kỳ họp thứ 14 của Trung ương đảng khoảng một tuần lễ nữa nhưng chính thức phải đợi đến cuối Ðại Hội đảng XII. Rất có thể người ta sẽ còn được thấy thêm những chiêu đấm đá ngoạn mục nữa không chừng. (TN)

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Kiểm soát quyền lực bằng cơ chế dân chủ và tự do ngôn luận

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Kiểm soát quyền lực bằng cơ chế dân chủ và tự do ngôn luận

Posted by adminbasam on 01/01/2016

“Khẩn trương nghiên cứu để sớm có các bước đi phù hợp, cụ thể, tích cực nhằm  đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…”

___

TuanVietNam

1-1-2016

Ông Vũ Ngọc Hoàng. Nguồn: TVN

LTS: Tuần Việt Nam/báo VietnamNet trân trọng giới thiệu tới quí vị bài viết đầu năm của ông Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương có tựa đề: Ba mươi năm đổi mới: Nhìn lại và suy ngẫm.

Cần sớm đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…

Công cuộc đổi mới do Đảng CSVN lãnh đạo đã giành được những thành tựu đáng kể, cải thiện tình hình nhiều mặt của đời sống xã hội; đưa đất nước vượt qua thời kỳ hết sức khó khăn và nghèo đói, trở thành một nước có thu nhập trung bình, thế và lực đã tăng nhiều.

Mặt khác, so sánh với thế giới và khu vực, đến nay, nước ta vẫn còn nhiều mặt tụt hậu, có mặt đã tụt hậu xa hơn so với một số nước. Cần khách quan và cầu thị, nhìn lại và suy ngẫm, để sắp tới tiếp tục công cuộc đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ và căn bản hơn, nhằm tạo sự phát triển vượt bậc, hiệu quả cao và bền vững hơn.

Đã có các tổng kết, các con số, khá đầy đủ về 30 năm đổi mới, kể cả thành tựu, yếu kém và nguyên nhân, bài học. Tôi không nhắc lại mà chỉ xin nêu mấy suy nghĩ chắt lọc từ thực tiễn đổi mới để bạn đọc tham khảo.

Suy ngẫm cho thấu đáo, chắt lọc kỹ, nhiều người cùng thảo luận, dân chủ và công khai, thì cũng có nghĩa là, đổi mới còn cho ta một kết quả nữa, đó là kết quả trong sự phát triển tư duy của con người, nhất là những người lãnh đạo, quản lý và tầng lớp tri thức, để từ đó mà tiếp tục đi tới, xa hơn, bền hơn.

Nhìn thẳng sự thật

Để chuẩn bị tư tưởng cho cuộc đổi mới, lãnh đạo đất nước ngày ấy đã chủ trương phải nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật. Đây là chủ trương rất quan trọng, không né tránh thực tế, đối diện với nó để tìm cách giải quyết, đáp ứng yêu cầu của thực tiễn, không che dấu khuyết điểm mà công khai nó để mọi người cùng thấy, cùng khắc phục. Việc đó không làm Đảng mất uy tín như cách nghĩ cũ, mà ngược lại nhân dân và đảng viên thấy tăng niềm tin vì nghĩ rằng như vậy là bản lĩnh, là một Đảng mạnh và chắc chắn.

Đổi mới tiếp theo cũng vậy, trước tiên phải nhìn thẳng sự thật, để thấy cái sai, cái yếu kém và tụt hậu của nước ta. Không nhìn thấy những yếu kém và tụt hậu thì không thể khắc phục chúng. Muốn khắc phục tụt hậu thì trước tiên phải nhìn thấy mình tụt hậu. Sự thật là năng suất lao động xã hội, thu nhập đầu người, hiệu quả đầu tư, đào tạo nguồn nhân lực và ứng dụng khoa học công nghệ… của nước ta còn nhiều yếu kém và tụt hậu. Đổi mới không thể không tập trung giải quyết các vấn đề nêu trên.

Tư duy về giữ nước

Bước vào đổi mới, Đảng chủ trương trước tiên phải đổi mới tư duy. Đây là bước đi rất đúng. Không đổi mới tư duy sẽ không thể đổi mới trong công việc, trong hành động, hoặc nếu có chỉ là ngẫu hứng, bất chợt, cảm tính, không đủ cơ sở khoa học, có kết quả cũng không chắc chắn, hoặc kết quả mặt này lại trở ngại cho mặt kia.

Hoạt động đổi mới là hoạt động có mục đích, có tư duy, không thể tự  phát, phản ứng tức thì từng việc một, mà cần có cái nhìn tổng quát, có chiều rộng và tầm xa, chủ động trong nhiều bước đi nối tiếp nhau, tiến về phía trước, vượt lên phía trước, vượt lên chính mình.

Tất nhiên tư duy của con người không phải cùng lúc nghĩ hết được mọi việc, mà phải quan sát thực tiễn và nhìn ra thế giới, để tư duy được điều chỉnh và bổ sung liên tục. Tuy nhiên, đổi mới tư duy phải đi trước, có hệ thống, có cơ sở khoa học để bảo đảm thắng lợi, chứ không phải là để làm khác. Lúc đầu quả thật chúng ta có quan tâm việc dổi mới tư duy, rất tiếc là một thời gian sau đó tư duy bị chựng lại không tiếp tục đổi mới, cứ sợ “chệch hướng”, không dám đổi mới tiếp.

Người Việt Nam, từ cha ông để lại, tư duy về giữ nước  rất giỏi, không như thế thì làm sao ta có thể thắng được các đội quân lược từ phương Bắc và phương Tây mạnh hơn ta rất nhiều lần. Nói như vậy để tự hào, để thấy mặt mạnh của ta, và tất nhiên không được chủ quan, ngày nay sự phát triển về kỹ thuật công nghệ của thế giới đã có bước tiến rất xa, dẫn đến nhiều thay đổi về phương thức hoạt động của con người.Mặt khác, tư duy của người Việt Nam về sự phát triển thì không giỏi, chưa giỏi, còn nhiều mặt yếu kém. Nếu không phải thế thì tại sao cho đến nay, sau mấy ngàn năm lịch sử, thời kỳ hòa bình nhiều hơn chiến tranh, đất nước ta vẫn chưa phải là nước phát triển, thậm chí còn không ít mặt tụt hậu xa so với nhiều nước trên thế giới và khu vực.

Từ nay, trong đánh giá tình hình nên thường xuyên so sánh với các nước, và trên nền tảng của văn hóa dân tộc, văn hóa giữ nước mà chủ động và tích cực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, văn hóa phát triển.

“Lắng nghe” thực tiễn

Công cuộc đổi mới của chúng ta lúc đầu xuất phát từ thực tế, sau đó khái quát lên, bổ sung vào hoặc biến thành lý luận mới. Thực tế ấy cho phép nghĩ rằng, đổi mới phải bám sát vào thực tiễn, “đọc” kỹ thực tiễn, “lắng nghe” thực tiễn, từ trong đó mà nhìn cho rõ yêu cầu bức thiết của cuộc sống.

Cuộc sống luôn đặt ra cho chúng ta những vấn đề phải phúc đáp, đồng thời trong cuộc sống cũng luôn manh nha những câu trả lời, dù chưa đầy đủ, chưa toàn diện, nhưng có sức sống, bám rễ từ thực tiễn. Thực tiễn cũng là thước đo của chân lý.

Thực tiễn là người phản biện những lý thuyết, những chủ trương, từ đó mà vượt qua giáo điều, để điều chỉnh, bổ sung, hoàn thiện và phát triển lý thuyết. Đó là người thầy giúp ta giàu có vốn kiến thức và còn giúp ta phương pháp tiếp cận để đi xa, vượt qua thời gian, vượt qua chính mình, vươn về phía trước.

Đem lại lợi ích cho dân

Cuộc sống và hoạt động của đại đa số nhân dân, đó chính là thực tiễn. Công cuộc đổi mới phải xuất phát từ những mong muốn thiết thực và chính đáng của nhân dân, đáp ứng những mong muốn ấy, từ đó mà tập họp rộng rãi mọi người, thành những phong trào tự nguyện. Trong đấu tranh giành lại đất nước, chiến tranh vệ quốc, với ngọn cờ dân tộc và dân chủ, Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở thành người lãnh đạo nhân dân.

Ngày nay, trong công cuộc đổi mới, cũng phải phát huy truyền thống ấy, với ngọn cờ dân tộc và dân chủ để tiếp tục tiến lên. Vai trò lãnh đạo vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn đường hướng. Nhưng đổi mới phải là sự nghiệp của “trăm họ”, muôn dân. Nhân dân là mục tiêu và lực lượng của đổi mới. Đổi mới phải phục vụ nhân dân, đem lợi ích về cho nhân dân, từ đó mà có lực lượng lớn lao ở nhân dân.

Khi có lực lượng lớn lao thì mới có thể đạt kết quả to lớn, từ đó mà đáp ứng nhiều hơn cho mục tiêu phục vụ nhân dân. Những việc chẳng có lợi cho dân mà vẫn làm, gây phiền hà và tốn phí tiền thuế của dân thì đó không phải đổi mới, thậm chí là cản trở đổi mới.

Kiểm soát quyền lực

Xã hội và cuộc sống là một tổng thể gồm nhiều mặt có quan hệ hữu cơ với nhau. Không thể đổi mới lĩnh vực này mà không đổi mới lĩnh vực khác, gây gập gềnh và cản trở lẫn nhau. Nước ta chủ yếu mới đổi mới về kinh tế, mà cũng mới đi nửa đường, còn văn hóa và chính trị thì cơ bản chưa đổi mới, sắp tới cần đồng bộ và toàn diện trong công cuộc này.

Trung ương đã có Nghị quyết về đổi mới căn bản nền giáo dục, chuyển từ giáo dục truyền thụ kiến thức sang xây dựng nhân cách, phát triển năng lực và xây dựng một nền giáo dục mở, thực học. Đó là việc đúng, nhưng triển khai chậm và chưa chắc, có việc nửa chừng, có việc phải điều chỉnh nhiều mới có thể đi đến thành công. Các cơ quan có trách nhiệm cần tập hợp các chuyên gia để thực hiện cuộc đổi mới căn bản nền giáo dục này, gắn với xây dựng nền văn hóa giàu tính nhân văn và phát triển khoa học – công nghệ.

Khẩn trương nghiên cứu để sớm có các bước đi phù hợp, cụ thể, tích cực nhằm đổi mới về chính trị, như việc kiểm soát quyền lực bằng quyền lực nhà nước, bằng cơ chế dân chủ, thông tin đại chúng và tự do ngôn luận, đổi mới quản lý nhà nước và phương thức lãnh đạo của Đảng,…

Những ý kiến trên đây chắc chắn là chưa đủ, và cần phải thảo luận để điều chỉnh và bổ sung…

Vũ Ngọc Hoàng, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó ban thường trực Ban Tuyên giáo Trung Ương.  

(*) Tựa đề cho trang Ba Sàm đặt

Ông Dũng có thể đã chết, nhưng ông Trọng ơi, rồi ai sẽ thay ông?

Ông Dũng có thể đã chết, nhưng ông Trọng ơi, rồi ai sẽ thay ông?

Đôi lời: Bài này, tác giả đã giúp gỡ những chiếc đinh trên nắp quan tài anh Ba Dũng. Bài phân tích dựa trên thuyết âm mưu và có phần cảm tính của tác giả. Xin giới thiệu để độc giả biết thêm một góc nhìn khác.

____

Bùi Quang Vơm

31-15-2015

Gửi ông Trọng và 200 uỷ viên TW.

Chỉ còn vài tuần lễ để kết thúc việc chuẩn bị cho Đại hội XII, từ ngày 20 đến 28/1/2016. Thời gian còn quá ít. Khác với mọi kỳ Đại hội trước, lần này, tuyệt không một tin tức nào từ nội bộ bị rò rỉ.

Đã có một quy định đặc biệt được đưa ra từ hội nghị 12: “mọi nội dung về nhân sự là tuyệt mật, là sống còn của đảng, tiết lộ sẽ bị qui vào tội phản đảng, ngang với tội phản quốc, khai trừ và cách chức tuốt tuột ngay lập tức. Trong suốt thời gian hội nghị, mọi ủy viên tham dự sẽ ăn ngủ tại chỗ, không về nhà, không giao tiếp với bất kỳ ai và chịu sự giám sát 24/24”.

Chuyện “bí mật” thì xưa nay vẫn vậy. Việc của đảng chưa bao giờ là việc của dân. Nhưng bây giờ, nhìn vào đâu, đảng cũng thấy có kẻ thù, ở chỗ nào, cũng có âm mưu lật đổ. Đảng đang hoạt động trong lòng địch. Dân đã thành địch rồi. Lộ ra cho dân biết là chết. Phải áp dụng quy tắc thời chiến, như hoạt động bí mật, nghĩa là ngoài vòng pháp luật, nghĩa là hoạt động phi pháp.

Nhưng cái chuyện bí mật lần này thực đã không giống bất cứ lúc nào, bởi vì nó đã quá khó ngửi, nghĩa là chuyện nội bộ đã quá thối. Cái bẩn đã vung vãi lung tung mà đóng kín, thì.. có bao nhiêu, đảng ngửi hết.

Mặc dù vậy, khi bế mạc hội nghị 13, nghe ông Trọng tuyên bố “Hội nghị của chúng ta đã thành công tốt đẹp” và “nhìn chung đạt kế hoạch đề ra, mặc dù còn không ít khó khăn”, thì có thể đoán rằng cuộc chiến có thể đã ngã ngũ. Cũng có nghĩa là có thể ông “Dũng đang thoi thóp, thậm chí đã chết”. Bởi vì rõ ràng, “kế hoạch được đề ra” là loại bỏ bằng được ông Dũng, để “bảo vệ bằng được chế độ”.

Xưa nay, thiên hạ cứ đồn đoán hai phe, thậm chí ba phe, nhưng nhìn kỹ một chút, sẽ thấy chẳng có phe phái nào cả. Chỉ có chuyện Đảng và ông Dũng. Đảng về danh nghĩa có quyền tuyệt đối, nhưng lại chẳng có công cụ kiếm tiền, trong khi với hai nhiệm kỳ Thủ tướng, ở trung tâm thực quyền, ông Dũng lại kiếm được quá nhiều. Nếu có thể nói là ông Trọng, ông Sang hay nhiều ông chuyên trách đảng, không thuộc chính phủ, là trong sạch, là liêm khiết thì sợ “bé cái nhầm”, bất đắc dĩ phải “sạch” đấy thôi. Cứ nhìn ông Nông Đức Mạnh thì biết, hai nhiệm kỳ hò hét trong sạch, mà kiếm đủ tiền để dát vàng như cung vua, rồi để cưới một bà vợ ngang tuổi con mình. Cũng là mơ ước, thèm khát âm thầm của biết bao lãnh tụ. Ở Hội ngḥi 6, không biết ông Trọng thực khóc cho dân cho nước, hay khóc vì cay cú và uất ức? Và những kẻ “sạch” bất đắc dĩ này là đồng minh tự nhiên của ông. Chẳng phải vì ông có thừa tâm đức để quy tụ họ, mà chỉ vì họ cùng ghét ông Dũng.

Còn ông Dũng thì chưa bao giờ đủ tài đức để có thể tạo dựng được phe cánh. Nhưng mà có đồng minh, đồng minh cuả ông là lòng tham. Mà lòng tham thì ở đâu trong Đảng lại không có? Lực lượng của ông có lúc là 75% Trung ương kia mà! Nhưng tham thì tráo trở, lật lọng. Những kẻ bỏ phiếu tín nhíệm ông không phải vì ông đáng được, mà vì chính họ, bởi vì sau ông, sẽ tới họ. Nhưng khi ông “bốc mùi” thì những đồng minh này sẽ là những kẻ bỏ chạy đầu tiên.

Ông Đại Biểu Lê Nam nói trong phiên họp Quốc Hội: “nhiệm kỳ này chúng ta đã chứng kiến nước mắt của đồng chí Tổng bí thư rơi vào lịch sử”. Đúng vậy. Chưa bao giờ trong lịch sử Đảng CS Việt Nam, một TBT lại uất hận Thủ Tướng đến phải khóc. Chính vì thế, ngay từ sau Hội nghị 6, một kế hoạch “Đánh Chuột” hình thành.

Theo lẽ thường, thanh trừng bắt đầu bằng việc chặt tay chân đối thủ, nghĩa là cắt bỏ vây cánh. Chương trình “Luân chuyển cán bộ” – một kế hoạch cài người thân tín một cách công khai dưới danh nghĩa bồi dưỡng cán bộ quy hoạch ra đời ngày 21/03/2014. Đó là chước “Dụ rắn ra khỏi hang”.

Trong danh sách 25 cán bộ được giao trách nhiệm phó bí thư đảng bộ địa phương, có hai người bị loại ở Đại hội cơ sở là Nguyễn Văn Thanh, phó Tổng thanh tra Chính Phủ, được ông Dũng cài làm phó bí thư Lạng Sơn, nếu trúng bí thư, thì Chính Phủ sẽ là người kiểm soát cửa vào Trung Quốc, căn cứ hậu cần chiến lược của Đảng, và để tiện đi đêm, khi cần. Nguyễn Khắc Định, Phó Chủ Nhiệm Văn phòng Chính Phủ, người chuyên chấp bút diễn văn cho Thủ Tướng, được cài làm phó bí thư Thành Phố Hồ Chí Minh với ý đồ tiếp quản thường vụ thay Nguyễn Văn Đua về hưu, rồi lót chân Lê Thanh Hải, nắm quyền quyết định ở thành phố quan trọng nhất của Việt Nam. Nhưng ngày 15/04/2014, Tô Huy Rứa áp vào trao quyết định phân công Võ Văn Thưởng. Nguyễn Khắc Định không có tên trong Ban chấp hành mới của đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh.

Còn ở Lạng Sơn, Trần Sĩ Thanh, cháu Nguyễn Sinh Hùng, được Bộ Chính Tṛi chỉ định làm Bí thư, không qua bầu cử, Nguyễn Văn Thanh chưng hửng. Lê Thanh Hà, con trai nguyên Chủ tịch Lê Đức Anh, được ông Dũng cài vào Sài Gòn từ 2001, nhưng bị Lê Thanh Hải bắt bài, nên cô lập và vô hiệu hoá. Cả ba vị này ông Dũng phải cay đắng rút về Văn Phòng Chính Phủ.

19 vị khác được đưa xuống địa phương, chủ yếu do giới thiệu của Thủ tướng, cài vào vị trí Phó Chủ Tịch tỉnh – không một vị nào trúng Phó bí thư, nghĩa là không vị nào có được ghế Chủ tịch tỉnh.

Không chỉ tay chân của ông Dũng lộ hết nguyên hình, bị chặt cụt, sự nghiệp chính trị coi như hết, mà đám ăn theo, từng bỏ phiếu cho ông, bây giờ dúm vó, tim đập chân run, mặt cắt không ra máu. Những kẻ này sớm muộn cũng là những xác chết rồi. Vì thế, kỳ viết phiếu lần này ở Hội nghị 13, có khó gì mà không đoán ra được. Ai là kẻ dám to gan đề cử ông Dũng? Ai là Lê Lai cứu chúa. “Đi với ma mặc áo giấy”, những kẻ, nếu có lúc đi cùng đường với ông, chỉ là lòng tham, những kẻ mặc áo giấy, kiếm đâu ra Lê Lai.

Nhưng độc hơn, hiệu nghiệm hơn có lẽ là bài “lịch sử chính trị”. Đây là công cụ mà bậc thầy của các bậc thầy đểu giả là Lê Đức Thọ đã biến nó thành một nghệ thuật man rợ, vô nhân cách nhất của sự Đểu Giả của nền Chính Trị cộng sản. Nếu có vấn đề về lịch sử chính trị thì bắt buộc phải gạt ra ngoài danh sách đề cử và ứng cử, đợi điều tra xác minh. Đây là điều bất khả kháng duy nhất đối với mọi loại bầu bán của đảng. Chưa có kết luận thì còn treo. Nếu vẫn chưa có kết luận thì vẫn còn treo. Và nếu cứ mãi còn đang xác minh thì nghĩa là vận mệnh chính trị của con mồi đã hết. Chính vì vậy mà trước bầu cử , bao giờ cũng bất ngờ xuất hiện những tài liệu từ trên trời rơi xuống. Thật thì đối thủ chết ngay lập tức, mà giả thì phải điều tra, xác minh, nghĩa là không chết cũng ngắc ngoải.

Ông Dũng có quá nhiều điều cần phải xác minh. Con gái ông Dũng là đảng viên nhưng lấy chồng người Mỹ và có quốc tịch Mỹ. Vi phạm điều lệ đảng. Ông Dũng thông gia với quan chức cao cấp ngụy quyền Sài Gòn, đại tá tình báo Mỹ. Ông Dũng có hai tài khoản nước ngoài với hàng trăm triệu đô. Ông Dũng có bất động sản ở gần như tất cả các tỉnh. Ông Dũng tuồn tiền tham ô cho con gái, con gái tuồn tiền cho chồng rửa dưới danh nghĩa đầu tư ở nước ngoài, mua sắm bất động sản ở nước ngoài dưới vỏ bọc đầu tư. Ông Dũng chính là nhân vật bí ẩn đứng sau Phạm Qúy Ngọ trong lời khai cuả Dương Chí Dũng. Phủ thờ từ đường dòng họ của ông Dũng xây bằng tiền hối lộ…

Tất cả đều cần phải được xác minh. Để chính danh việc xác minh cần có người thật tố cáo. Ba vị Giáo sư-Tiến sỹ đầu ngành và cao niên nhất của Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh đã phải hy sinh danh dự và uy tín của mình để tố cáo con gái Thủ tướng có quốc tịch Mỹ mà không đủ bằng chứng. Cần tới 3 Giáo sư-Tiến sỹ đầu ngành và không cần bằng chứng, vì mục đích chính là gây náo động, càng tranh cãi ồn ào càng tốt. Có thiếu căn cứ thì mới có tranh cãi và mới có thanh minh, mà có gì hơn sự nhận tội bằng chính lời thanh minh?

Nhưng để cho tiện, những vấn đề của ông Dũng, mặc dù chưa phải là tất cả, được gom lại trong một lá đơn tố cáo gửi ông Trọng, Bộ Chính trị và BCH Trung ương của người có tên là Trịnh Văn Lâu (Tư Cẩn), nguyên uỷ viên TW khoá VI, VII, nguyên phó Chủ nhiệm Thanh tra TW. Trong bản cáo trạng này, ngoài những tội đã nêu trên mà ai cũng rõ, còn có tội phá hoại quan hệ môi răng Trung Việt và tội âm mưu Tổng thống, âm mưu tách Quân Đội và Công An ra khỏi đảng, âm mưu dùng cựu Thủ tướng Anh Tony Blair làm cố vấn chuẩn bị Cách Mạng Màu…

Cùng với lời giãi bày công khai cuả Nguyễn Thanh Phượng là việc công khai qua mạng xã hội thư của người có tên là Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng Chính phủ gửi Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng, ba ngày trước Hội nghị TW 13, thanh minh với ông Trọng những điều mà Ban Thanh Tra TW báo cáo Bộ Chính trị liên quan đến ông Dũng.

Đây cũng lại là thủ đoạn“thanh minh là thú tội”. Nếu chính ông Dũng chịu thanh minh, thì trước hết, các tố cáo kia là có thật. Còn việc thanh minh đúng sai thì cần phải điều tra xác minh, tức là đã đạt được mục đích! Đọc cái thư thanh minh này, người ta chỉ thấy những tố cáo thì hóc hiểm, trong khi thanh minh thì hời hợt, yếu ớt, chả có mấy thuyết phục. Ông Dũng “lùn” thật với văn hoá chỉ đủ làm y tá, nhưng chắc chắn không ngu tới mức tự cắt… của mình. Với lại, việc nhận tội và cầu xin ông Trọng là việc chấp nhận đầu hàng, tự buông vũ khí, hy sinh, bỏ rơi vây cánh và tệ hơn là vô tình tâng ông Trọng lên tột đỉnh. Thử hình dung xem điều gì xảy ra khi lá thư này tới tay 200 uỷ viên TW đang bị nhốt kín trong phòng họp Hội nghị 13.

Không biết của ai, nhưng chắc chắn thư này không thể là của ông Dũng.

Vụ án Nguyễn Viết Dũng mặc quần áo ngụy quân là một tuyên chiến với những gì dính líu Chế độ Cộng Hoà, với bất kỳ ai liên quan tới Ngụy quân, Ngụy quyền. Mặc áo còn bị tù, thì thông gia với Ngụy quyền, với gián điệp Mỹ vẫn có thể làm Tổng Bí Thư ?!

Tất cả mọi tố cáo phải được làm rõ trước Đại Hội 12. Đó là lý do để chính danh hoá việc Ban Thanh Tra TW đảng được giao nhiệm vụ cấp bách với quyền hạn tối thượng, nghĩa là có quyền làm bất cứ điều gì, dùng bất cứ công cụ phương tiện nào, thọc vào bất cứ đâu, huy động bất cứ ai, trảm bất cứ trở lực nào, với danh nghiã bảo vệ sự trong sáng cho cán bộ cao cấp cuả đảng, nhằm mục đích bảo vệ Đảng, bảo vệ Chế độ. Nghĩa là mọi bí mật sẽ bị khui ra. Không một cái gì có thể che giấu. Cũng có nghĩa là ông Dũng bị lột “trần truồng”.

Nhưng có thể do khối lượng công việc qúa lớn, nội dung công việc quá phức tạp, trong khi thời hạn lại quá ngắn, sẽ phải tiếp tục điều tra sau Đại hội. Hội nghị 13 được triệu tập chậm hơn hai tháng, để thời gian điều tra không còn nữa, là vì lý do này. Nghĩa là mọi chuyên đã được tính trước. Hồ sơ ông Dũng sẽ phải tạm để lại. Và như vậy là số phận của ông Dũng đã được định đoạt. Không có ông Dũng trong danh sách đề cử. Lại thêm chính ông Dũng cũng đã “TỰ XIN RÚT không ứng cử”. Vì vậy, sẽ không có ông DũngTổng Bí Thư và cũng vì vậy, sẽ chẳng có ông Dũng Tổng Thống.

Và cái mà người ta điều tra ra sẽ là bản án treo trên đầu ông Dũng, có thể dùng bất cứ lúc nào để uy hiếp, trấn áp, mặc cả, thậm chí để cho những kẻ đê tiện, nhiều như ròi trong Đảng, làm tiền cha con ông Dũng.

Mưu ma này là của ai, của chính ông Trọng hay cuả cả bốn ông Trọng Dụ Rứa Huynh? Có Trần Đại Quang ở đây không? Mưu ma chước quỷ loại này cũng thường khiến người ta nghĩ đến Trung Nam Hải. Không có căn cứ nào để biết rõ.

Điều có thể khẳng định được duy nhất là ông Dũng phải thua và chắc là đã thua.

Ông Dũng vốn dĩ có thể thắng, vì ông có tiền, những kẻ ăn theo xúm quanh ông có tiền, rất nhiều tiền. Ai cũng cần tiền và vì tiền, kể cả thánh. Những kẻ ghen ghét ông, qúa một nửa trong số đó là vì tiền, dù chỉ là tiền ông cướp được của dân. Trong khi, “cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền”. Chỉ tiếc, khi ông tuyên bố “không hy sinh chủ quyền để đổi lấy hữu nghị viển vông”, “đã đến lúc phải thay đổi cơ chế”, ông lại không đi tới cùng như chờ đợi của lòng người. Người ta không tin ông đem lại điều gì khả dĩ tốt đẹp, nhưng người ta sẽ dồn hết sức, thậm chí hy sinh cho ông để thay đổi chế độ. Tiếc là sự ngạo mạn ngu xuẩn và có thể lòng tham đã làm ông mù mắt. Bây giờ thì mọi chuyện đã thành quá muộn. Không ai cứu được ông nữa.

Ông ít học và chỉ quen nghề võ, mà xưa nay, Võ chỉ thắng trong thời loạn mà không thể thắng trong thời bình. Vì vậy ông cần phải làm ra loạn, tạo ra loạn. Sáng 28-12, khi chủ trì hội nghị trực tuyến của Chính phủ với các địa phương ông đã chỉ thị phải “ngăn chặn âm mưu can thiệp của nước ngoài vào vấn đề nội bộ”.

Nguyễn Sinh Hùng đi Bắc Kinh ngày 21/12 vừa để trình duyệt dự thảo nhân sự Đại Hội 12, vừa để nhận chỉ thị cuả Tập. Đây chính là âm mưu can thiệp của nước ngoài ? Vấn đề nội bộ là gì, nội bộ Đảng, hay việc riêng của Dũng và Nhóm lợi ích thân Dũng?

Từ việc này có thể tiết lộ một sự thật: Nguyễn Tấn Dũng chính là mục tiêu tiêu diệt cuả họ Tập. Khi sang Việt Nam hồi tháng 11, cái mà Tập sợ nhất là phát ngôn kiểu “Hữu nghị viển vông” cuả Dũng. Nếu điều này xảy ra, nghĩa là Dũng vu vơ gì đấy giữa Quốc Hội, hay đài báo quốc tế, thì chuyến đi cuả Tập sẽ thất bại hoàn toàn, và “Thiên Tử” sẽ phải ôm nhục. Chính vì vậy mà trước khi sang VN, Tập đã úp mở phao tin sẽ mời riêng Dũng. Đó là chiêu “ảo ảnh sa mạc”, nhằm khoá miệng Dũng bằng ảo ảnh hào quang trên 9 tầng mây. Dũng là người duy nhất ôm hôn Tập 3 lần, Tập ngỏ lời mời và thế là Dũng ngây ngất, ngoan ngoãn im tiếng suốt chuyến đi của Tập.

Nhưng khi gặp Nguyễn Sinh Hùng, Tập lại chỉ chuyển lời hỏi thăm Trọng, Sang, không một lời đếm xỉa tới Dũng. Tập chúc mừng Trọng Sang và cười vào mũi Dũng.

Người ta đã lừa Dũng dễ dàng như lừa một chú chó con.

Vì vậy phải có loạn. Có loạn mới dùng được vũ lực. Kẻ nào không sợ chết? Phạm Quý Ngọ đã chết trước khi có thể nói ra cấp trên trực tiếp. Nguyễn Bá Thanh phải chết khi dám công khai tuyên chiến “hốt liền, không nói nhiều”. Phùng Quang Thanh lẽ ra đã bị bắn… còn những kẻ như họ Cù thì lập tức “biến” chỉ bằng hai bao cao su.

“Trạng chết chúa cũng băng hà, dưa gang đỏ đít thì cà đỏ trôn”. Dũng sẽ không chịu. Sẽ có máu đổ. Đầu tiên là Trọng Lú, sau đó là Sang Móm, tiếp đến là Hải Sài Gòn.

Lời kêu gọi ngăn chặn âm mưu can thiệp của nước ngoài vào vấn đề nội bộ có phải được hiểu là lời tuyên chiến?

Nhưng Dũng làm gì có lực lượng. Đỗ Bá Tỵ lên Đại tướng, nhưng bị tước hết quyền lực. Cũng giống trường hợp Hà Văn Thắm, Chủ tịch Oceanbank, đã có quyết định khởi tố vẫn để cho tháp tùng ông Trọng đi Mỹ. Đỗ Bá Tỵ lên Đại tướng chỉ vì cần phong Đại tướng cho Ngô Xuân Lịch, bí thư TW, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, là người của đảng, sẽ vào Bộ Chính Trị trong Đại Hội 12 và sẽ là Bộ trưởng Quốc phòng, chứ không phải Tỵ.

Trần Đại Quang chưa bao giờ là người cuả Dũng. Dù rất nhiều cố gắng, nhiều công sức, nhưng thực ra Dũng chưa bao giờ kiểm soát được cái Bộ khốn nạn chỉ biết “còn Đảng còn mình” này, thậm chí cả khi còn Nguyễn Văn Hưởng. Dũng muốn nó thành Bộ Kiên giang, nhưng Lê Hồng Anh là một con lợn, ai cho ăn cũng khụt khịt, ngoáy đuôi. Bùi Quang Bền chỉ là một chú vịt bầu, lọt thỏm giữa đám vịt cái Nam Định, Ninh Bình. Bây giờ thì Trần Đaị Quang đã biến nó thành Bộ Ninh Bình rồi, và Quang khinh Dũng, chỉ đơn giản là vì chính Quang là người biết rõ nhất Dũng giầu như thế nào và từ đâu mà giầu. Đám lau nhau ăn theo Dũng, đông như kiến, nhưng là đám âm binh, vô hình, chỉ giỏi trò ma cô và sẵn sàng tháo chạy.

Vì vậy mà cùng trong một hội ngḥi trực tuyến với 63 tỉnh ngày 29/12, ngay sau khi Dũng kêu gọi “ngăn chặn âm mưu can thiệp của nước ngoài vào vấn đề nội bộ”, thì Quang cảnh cáo ngay “tình trạng nghiêm trọng tiết lộ bí mật quốc gia trên mạng” và tuyên bố “không để hình thành các tổ chức phản động, đối lập cũng như không để xảy ra các tình trạng bị động bất ngờ trong nội địa”?! Sau đó 1 ngày, 30/12, Đinh Thế Huynh cũng nhắc lại cảnh cáo “cư dân mạng nói (ông Hùng) sang là để TQ can thiệp vào ĐH 12 của Đảng, tác động vào nhân sự của ĐH là sai trái”. Ý ám chỉ là đe ông Dũng đã xúc phạm Thiên triều.

Dũng có thể làm gì được? Thủ tiêu cả Trọng, Sang cũng không giúp ông có được ghế TBT. Mà đụng tới Thiên Triều thì ngay cả mạng sống cũng khó mà giữ .

Không leo lên được thì chỉ còn đường về. Mà về thì ông thực khó mà sống. Ông có quá nhiều ân oán. Liệu người ta có để ông yên với đống tài sản khổng lồ mà ông chiếm được, dù thực ra không hoàn toàn do ông cố ý. Ông không cấm được người ta ăn cắp, trong khi theo luật cuả giới trộm cắp, thì “người để mình ăn cắp là người cùng ăn cắp và được chia phần như nhau”. Bệnh ăn cắp tài sản quốc gia là bệnh cuả chế độ, ông chỉ là người được ăn “của ăn cắp”. Ai ngồi cái chỗ phải ăn ấy cũng sẽ như ông thôi. Ông thừa biết, chỉ có thay đổi cái chế độ ngồi trên pháp luật này mới diệt được bệnh dùng pháp luật để ăn cắp. Nhưng ông đã không kiên định để dân và người Mỹ tin ông.

Tuy nhiên, gạt được Dũng ra khỏi cuộc chơi, mới chỉ đi được một nửa,“từ nay đến hội nghị 14 còn quá nhiều việc phải làm và không ít khó khăn”. Bởi vì còn chuyện của 4 cái ghế “tứ trụ”.

Quốc Hội thì có lẽ vào tay Nguyễn Thị Kim Ngân, vì TòngThị Phóng quá “đụt”, ngồi ghế tập sự tới hai nhiệm kỳ mà vẫn cứ như người ngọng.

Ở cái ghế thứ hai, Nguyễn Xuân Phúc có vẻ dương oai ồn ào nhưng tham không thua gì Dũng, trong khi gian hùng lại vượt xa Dũng và có tiếng là phản thầy, bán chúa. Hoàng Trung Hải có tài, nhưng có máu Tàu trong người, gọi tục là Trọng Thủy, leo lên Tể tướng thì nỏ thần Việt có cơ mất lần nữa. Vũ Đức Đam thì tuy sạch nhưng quá đơn giản, chưa hợp với chiến địa đang ngập đầy máu và thương tích. Chỉ còn Nguyễn Thiện Nhân, tuy có hơi hướng từ đào tạo Mỹ, nhưng cũng không chống Trung Quốc, nhất là thuộc loại trung dung, dễ bảo. Và nếu ông này trúng Thủ Tướng, thì VN còn chút may mắn.

Nguyễn Sinh Hùng, sau chuyến đi Trung Quốc vừa rồi, rộ lên tin đồn được Trung Quốc chấm vào ghế TBT. Nhưng chắc không phải. Có lẽ chỉ là chuyện Tập thưởng công cho việc tiếp đón tại Quốc Hội. Nhân việc cần Khâm sai sang trình nhân sự Đại Hội 12, nên Tập gọi đích danh, nhân thể nhận quà ban thưởng. Đích thân sang cầu nhận phong vương, thì dân Việt người ta đào mả cả ba đời nhà ông chứ tha à?! Vả lại, Hùng đã chịu phân công làm Chủ tịch Hội Đồng Bầu Cử QH năm 2016. Chả lẽ vừa làm TBT vừa làm Chủ tịch HĐ Bầu Cử? Vả lại, cái ông xứ Nghệ này, vốn ăn nói như dùi đục chấm mắm cáy, nếu lên ngôi Tổng, chắc dân Việt phải nhiều lần đỏ mặt với bàn dân quốc tế.

Trương Tấn Sang gần đây kín tiếng, ít ồn ào, không biết bên trong ẩn chứa gì. Vừa rồi, Ông hứa “sẽ tận dụng thời gian còn lại, dành tối đa thời gian để giải quyết những bức xúc, trăn trở của nhân dân, ngày mai nghỉ, chiều nay vẫn phải làm”. Không biết đây là tín hiệu rút lui hay là trò tung hoả mù để tránh đòn thù của Dũng. Ông này tuy thèm muốn chiếc ghế Tổng Bí Thư, nhưng lại không đủ gan đứng mũi chịu sào, muốn diệt Dũng, nhưng lại sợ Dũng, chỉ đánh võ mồm và nấp sau lưng Trọng. Nếu có trúng TBT thì cũng chẳng làm nên trò trống gì.

Đinh Thế Huynh là Chủ tịch Hội Đồng lý luận TW, mỗi năm một lần dẫn đoàn Hội Thảo lý luận với một Uỷ viên Bộ Chính Trị TQ, tất nhiên mỗi năm một lần nhận quà cuả TW đảng CS Trung Quốc, hai năm một lần ăn ngủ tại khách sạn hảo hạng cuả nước Trung Hoa, nếm đủ cuả ngon vật lạ cuả Thiên Triều, chắc chắn sẽ cũng như Tô Huy Rứa, và trước nữa là Nguyễn Phú Trọng, đã dầy công vun đắp cho tình hữu nghị keo sơn Trung Việt và làm giàu thêm kho tàng lý luận Mác-xít và Chủ Nghĩa Xã Hội. Ông này có thể được lòng Thiên Triều, nhưng chưa đủ bề dày để quy phục nhân tâm. Có thể được “quy hoạch” TBT, nhưng cho nhiệm kỳ tới. Kỳ này có thể thay Tô làm Trưởng Ban Tổ Chức, hoặc thay Lê vào chân Thường Vụ. Thậm chí có thể “hạ phóng” làm Bí Thư Hà Nội để tích lũy thực tiễn, rồi rút về, hoặc bầu bổ sung giữa nhiệm kỳ.

Trần Đại Quang nếu chịu rời chức Bộ Trưởng Công An đầy quyền thế, có thể chịu nhận chiếc ghế nào? Chủ tịch nước vốn có tiếng mà không có miếng. Cái ghế ấy chỉ hợp với đàn bà, quanh quẩn với các việc hiếu hỉ lễ nghi, nâng cốc và chúc tụng. Người ta chỉ nhận nó khi đã nguội lạnh mọi khát vọng. Quang chưa phải loại người này, chẳng lẽ vun vén biến Bộ Công An thành Bộ đồng hương Ninh Bình là để cho ai? Nếu cái chủ trương kéo thêm 10 năm cho tướng CA có bằng Giáo Sư Tiến Sĩ là để ghế Bộ Trưởng Công An cho Bùi Văn Nam, thì Quang sẽ đi đâu, Trưởng Ban Tổ Chức hay Trưởng Ban Thanh Tra? Còn nếu ông trúng TBT thì ra chế độ này là chế độ Cảnh Sát, Đảng này thành Đảng phát xít, gần 4 triệu đảng viên thành mật vụ hết à? Có thể làm Tổng thống kiểu Putin, nhưng làm sao thay được Hiến Pháp?

Như thế này thì ra Tổng Trọng âm mưu dọn chỗ cho chính mình? Già và lẩm cẩm như ông mà vẫn còn tham vọng, ảo tưởng thế sao? Hay ông cũng có giấc mơ cuả ông Nông, vợ trẻ, tiền nhiều? Taị sao ông cứ phải liên tục hò hét “bảo vệ cho được chế độ”? “ bảo vệ cho được chủ nghiã Mác Lênin và bảo vệ cho được XHCN”. “Phải kiên quyết chống cho được đa nguyên, đa đảng”. Đúng. Để bảo vệ cho được những thứ đó phải có những người như ông và chỉ những người như ông. Còn phải chọn ai nưã. Nhưng cũng chính vì giữ cho được những thứ từ lâu đã thành rác rưởi này mà ông, những người lú lẫn như ông và tiền bối mông muội của ông đã cướp đi của dân tộc bao nhiêu thế hệ. Lịch sử dân tộc đã bị các ông kéo lùi bao nhiêu năm?

Không còn mấy người như vậy đâu. Hãy nhìn quanh ông xem, đừng ảo tưởng nữa. Người ta gạt ông Dũng ra không phải vì ông sáng suốt mà vì ông Dũng bất tài, đã không đáp ứng được ngưỡng vọng của họ. Người ta bỏ ông Dũng, không phải để bầu cho ông, mà vì ông Dũng đã không lật được ông, không cứu được dân, không bảo vệ được đất nước.

Ông kêu “còn không ít khó khăn”, hãy nhìn kỹ lại xem, liệu có Đại Hội được không? Nếu cứ cố ép, rồi cũng sẽ có danh sách đề cử, nhưng rồi có bầu được không? Và rồi cái bầu ra sẽ có hình thù cuả cái gì? Hãy suy nghĩ lại xem. Tại sao như vậy? Đây là hiện tượng gì? triệu chứng gì? Khủng hoảng này do đâu? Lần Đại Hội này đã khó thế, liệu còn có lần sau không? Các nhân tố ngày tận thế cuả đảng đã xuất hiện từ chính sự chém giết mà ông là tác giả. Bởi vì không ai có thể giết được xu thế. Mọi cái mới xuất hiện, nếu nó tự lớn lên, không một sức mạnh nào cản nổi thì đó là yếu tố quy luật, đó là xu thế. Cái thuận quy luật thì tồn tại, cái cản lại nó không tránh được bị tiêu diệt.

Còn nếu để bảo vệ chế độ cộng sản, ông chủ trương dựa vào Tàu, trông nhờ vào ý thức hệ để bảo vệ độc đảng, thì ông sẽ là kẻ phản bội nhân dân cuả ông, ông sẽ có tên trong những kẻ bán nước, rước voi về dầy mả tổ. Hãy để cho dân cuả ông được sống như những người dân xung quanh vùng và trên thế giới. 200 con người, 200 cái đầu TW uỷ viên không ngu như ông tưởng đâu. Chỉ còn 4 nước CS độc đảng trong một thế giới gần 200 quốc gia. Điều đó đủ để chỉ cho 200 cái đầu TW biết rằng ông là người bị bệnh, bệnh lú lẫn. Và họ sẽ không bầu cho ông.

Ông đã biến chuyến đi Mỹ cuả ông thành một thứ trò chơi. Ông đã xúc phạm danh dự và sự nghiêm túc cuả Tổng thống Mỹ. Ông một lần nữa lại tiêu huỷ cơ hội lịch sử cuả Dân tộc. Ông không thể tránh được sự trừng phạt. Sự lú lẫn trong cái đầu của ông đã không còn là của riêng ông nữa. Nó đang kìm hãm, kéo lùi bước đi của cả một dân tộc. Hãy nhìn kỹ xem, ngoài ông ra, trong đảng cuả ông, có người thứ hai nào cố thủ ngu muội đến như ông không? Nếu không có thì hãy tin rằng mạng sống của ông đang bị đe dọa. Bởi vì sẽ có một suy diễn rằng chỉ cần loại được ông là hoá giải được tất cả. Và bởi vì cái điên cuả ông có thể làm nhiều cái đầu khác phát điên. Sự kiên nhẫn có thể đã tới hạn. Với hơn 90 triệu người thì khó mà lường trước được điều xảy ra.

Sẽ chẳng có ai thay ông cả. Ngay cả khi họ ngồi vào ghế của ông, họ cũng sẽ không lặp lại sự ngu xuẩn của ông. Nghiã là họ có thể ngồi đấy, nhưng họ sẽ không phải là người điên.

Và có thể tin được rằng, lần này sẽ là lần cuối cùng các ông làm Đại Hội.

31/12/2015

Hạnh Phúc

Hạnh phúc không thể  do ai đem tới, do chiếm hữu, do giành được,  bị hao mòn hay tiêu dùng mà hết.

Hạnh phúc là trải nghiệm tinh thần khi sống từng phút với yêu thương, đức hạnh và lòng tri ơn. ~ Denis Waitley

Happiness often sneaks in through a door you didn't know you left open. - John Barrymore
Hạnh phúc thường lẻn vào qua một cánh cửa bạn để  mở mà không biết~ John Barrymore.

Thu & Mai, TX. gởi

 

ĐỂ THẤY CHÚA HIỂN LINH TA CẦN CÚI XUỐNG THẬT THẤP

ĐỂ THẤY CHÚA HIỂN LINH TA CẦN CÚI XUỐNG THẬT THẤP

(CN Lễ Hiển Linh)

Tuyết Mai

Con người đời thường của chúng ta thích đứng ngẩng đầu cho thật cao để tương xứng với nghề nghiệp và chức vụ của mình nên vô tình hay cố ý đã làm cho xương cốt chúng ta nó cứng đơ ở vị trí như thế.   Bởi đứng thật cao thì chẳng bao giờ nhìn thấy được ai cả, trừ hai con mắt của anh chị em mình.   Chúng ta thời nay càng ngày càng có nhiều người thống khổ và hoạn nạn.   Họ thường ở dưới chân của mình chứ có đâu được ở ngang tầm mắt của mình mà thấy, thưa có phải?.

Thật dễ hiểu thay khi Chúa Hài Đồng Giêsu của chúng ta, sinh ra và được đặt nằm trong máng cỏ, cơ hàn và lạnh lẽo.   Chúa của chúng ta Ngài là hình ảnh của biết bao nhiêu anh chị em nghèo khổ từ trẻ sơ sinh cho đến già nua bệnh tật, sống chung quanh chúng ta.   Ra đường có mấy ai chịu nhìn xuống để thấy cuộc đời cần rất nhiều sự chia sẻ của chúng ta đâu!?.   Ngay trong gia đình là người thân cận nhất của chúng ta mà chúng ta cũng chỉ nhìn ngang bằng chứ không chịu nhìn thấp xuống để có sự cảm thông, hay biết khi nào người thân rất cần sự chăm sóc của mình.

Nếu như cuộc đời chúng ta cứ nhìn thẳng trước mặt để tìm sự tiến thân hay tiến chức thì thú thật chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy Chúa Hiển Linh được đâu.   Hiển danh, hiển lộc, hiển tiền, hiển gian dối, hiển hiện sự khinh khi đối với người, hiển hiện cho nhau sự ghen ghét và thù hằn thì chẳng bao lâu con người sẽ đi theo cái bóng hiển hiện của sự dữ là ma quỷ và mất linh hồn đời đời của chúng ta.

Chúa Giêsu sinh ra đời làm người thiết tưởng Ngài không kỳ thị một ai nhưng là để Cứu Chuộc nhân loại.   Bằng chứng là ba nhà chiêm tinh gia thuộc thành phần giầu có quý phái cũng đã được Chúa soi sáng, báo tin cho họ biết là có một Đấng Tối Cao từ Trời mà xuống thế, sẽ sinh hạ đâu đó nơi thành Bê-lem.   Rồi mục đồng nghèo khổ làm nghề chăn thú vật cho người giầu có, cũng được Chúa báo để đến xem Chúa Hiển Linh.

Chúa Hiển Linh là để chiếu sáng những đức tính thần thiêng, thánh thiện và rất con người của Ngài, là Yêu Thương nhân loại.   Qua sự ra đời (theo Thánh Ý Thiên Chúa muốn) trong khốn khó, trong nghèo nàn của Ngài.   Bởi vì chương trình của Thiên Chúa là muốn Chúa Giêsu được cùng chia sẻ sự nghèo khổ ấy cho con người bần hèn nhất trong xã hội nhân loại.   Vì có phải Thiên Chúa dạy cho con người biết sự giầu sang của thế gian, không đem lại cho con người hạnh phúc đích thực, nên Ngài không muốn dạy cho con cái của Ngài đi sai đường như thế.

Quả chương trình của Chúa Giêsu đã được Thiên Chúa Cha sắp xếp cho từ đầu đến cuối là sự thể phải theo thứ tự như thế!.   Cả cuộc đời của Chúa Giêsu là tấm gương soi sáng cho toàn thể nhân loại.   Tấm gương ấy sáng ngời và chiếu soi cho những ai muốn sống theo Ngài.   Tấm gương ấy sẽ rọi chiếu những điều tốt lành, thánh thiện và yêu thương.   Càng soi vào tấm kiếng trong vắt ấy, Chúa sẽ cho chúng ta thấy hình ảnh của Chúa và biến chúng ta ngày một giống Chúa hơn.

Quả nếu tâm hồn chúng ta có Chúa, chúng ta sẽ hiểu biết mà nhận ra Thiên Chúa của chúng ta, đang nằm thật thấp trong máng cỏ hôi hám, không giống Thiên Chúa của loài người trông đợi!.   Vâng, xin toàn thể nhân loại con người là những thành phần bất xứng hãy đến với Chúa với tấm lòng giản dị và rất chân tình.   Hãy có cuộc sống thật khiêm nhường.   Hãy yêu thương nhau như Chúa luôn yêu thương chúng ta.

Hãy mở tấm lòng để Chúa có thể ngự trị trong con người của chúng ta!.   Hãy xa tránh những cạm bẫy của thế gian và sống cuộc đời thánh thiện để Chúa sẽ mở mắt cho chúng ta thấy sự Chúa Hiển Linh và hình ảnh trung thực nhất của Chúa là những anh chị em khốn cùng đang sống chung quanh chúng ta đây.

Khi chúng ta chịu cong người xuống thật thấp, để thấy được những anh chị em đang sống thống khổ và đói khát nằm đầy dẫy bên vệ đường.   Họ ghẻ lở, bệnh tật và tật nguyền, đang rất cần chúng ta giúp đỡ.   Bắt chước Chúa Giêsu sống trong khiêm nhường và trong yêu thương.   Đối xử tốt với hết thảy mọi người chỉ cách ấy chúng ta mới nhận biết Chúa Hiển Linh và ngài luôn ở cạnh bên chúng ta mọi ngày cho đến khi Chúa gọi chúng ta ra khỏi đời này để về với Chúa.   Hưởng mọi phúc vinh trên Quê Trời Nơi có Thiên Chúa Cha, Chúa Con, và Chúa Thánh Thần.   Amen.

** Xin bấm vào mã số dưới đây để hát theo:

http://www.youtube.com/watch?v=lxTduer6YyM

(Chúa Là Ai Con Không Thấy Quen)

Y Tá Của Chúa,

Tuyết Mai

31 tháng 12, 2015

———————————————————————

CHÚA LÀ AI CON KHÔNG THẤY QUEN

(Thơ và Nhạc của Tuyết Mai 6/13/10)

Lạy Chúa!

Ngày ngày trên bước đường con đi,

Sao con chẳng bao giờ gặp được Chúa?

Chúa là ai? Con chẳng thấy trông quen?

Toàn những con người con không thể làm quen hay thân được.

Bà Chu bên cạnh nhà, ồn ào, từ sáng sớm.

Ông Xã Xệ sát bên, lời qua tiếng lại, chẳng kém gì bà ta.

Mấy đứa con trai bà, thẹo đầy mặt, trông phát ghê sợ.

Mấy đứa con gái ông Xã Xệ, xem cách ăn mặc,

Cũng biết thuộc gái ăn chơi của thời đại,

Luôn có mặt trong những quán bia ôm.

Bà Gô bán bánh mì đầu ngõ,

Đố ai ăn quịt, mà ra về được an toàn.

Còn những đứa bạn gọi là thân nhất,

Cũng tốt với con tùy bữa tuỳ ngày.

Đại khái chẳng ai trong xóm con thấy chơi được,

Hà huống chi con lại muốn kết thân.

Còn ông Sò mang tiếng giầu nhất phố,

Cũng nổi tiếng là keo kiệt.

Bà vợ thì nổi tiếng là ngồi lê đôi mách chẳng ai sánh bằng.

Ăn hàng ghi sổ, từ quán ngoài cửa chợ, cho đến vào chợ trong.

Từ sáng sớm đến hoàng hôn, không cần ăn cơm nhà.

Không chuyện của ai mà bà ta không được biết.

Lạy Chúa,

Thế Chúa là ai con không được rõ?

Có phải anh mù, chị điếc, thằng câm, con thường gặp ở chợ?

Xin ăn từng bữa, kiếm miếng cơm thừa, cũng chẳng có ai cho?

Có phải những con người tanh hôi ghẻ lở?

Ở góc chợ đời, bị bao kẻ khinh ghét đuổi xua?

Có phải những con người lang thang trên hè phố?

Điên điên khùng khùng, vì cuộc đời cay nghiệt,

Chẳng biết đi về đâu?

Có phải những tiếng khóc của trẻ thơ,

Văng vẳng khắp nơi trên đường phố,

Tìm bú mớm từ giòng sữa ấm của mẹ,

Nhưng nó sẽ chẳng bao giờ được cho?

Cùng với tất cả những ai không nhà cửa,

Người thân, bất hạnh, khuyết tật,

Bệnh hoạn, điên loạn, nghèo đói,

Bị mọi người và xã hội ruồng bỏ,

Khinh chê, và bị bỏ quên trên khắp mọi nẻo đường,

Khắp mọi nơi trên tòan thế giới?

Lạy Chúa,

Có phải tất cả, họ là anh chị em của chúng con,

Là hình ảnh của Chúa đó không?

Nếu phải, thì lậy Chúa, con sẽ phải làm sao?

Vâng, thưa lạy Chúa!

Con sẽ cố gắng tìm đến và giúp từng người một con gặp được,

Trên mỗi bước đường của con, bây giờ,

Cho đến hết cuộc đời ngắn ngủi và giới hạn của con. Amen.

Y Tá Của Chúa

Tuyết Mai

*** Để cảm tạ, ngợi khen, và tôn vinh Thiên Chúa là Cha chung của tất cả chúng ta, tôi chân thành mời anh chị em hãy dùng những bài hát của tôi để hát, đem đến tận phương trời xa, để làm Sáng Danh Thiên Chúa.

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Bị đánh bom nguyên tử, vì sao người Nhật lại cúi đầu kính trọng tướng Mỹ?

Chính Tâm

MacArthur, vị danh tướng của Mỹ, là người chỉ huy quân đội tiến đánh Nhật Bản trong thế chiến thứ II. Tuy nhiên, khi ông rời khỏi đất nước này, người dân không hề căm ghét mà n

kính trọng, dan chu, chiến tranh,

Chân dung Thống tướng Douglas MacArthur. Ảnh: Internet

Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật đều hận ông thấu xương.

Chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước”.

Nhưng tướng MacArthur mang quân đến hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ

Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.

kính trọng, dan chu, chiến tranh,

Tướng MacArthur tiếp nhận quân Nhật đầu hàng (Ảnh: Internet)

Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật rất chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó để đi qua, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu mình là kẻ chiến thắng thì có làm được như thế không?

Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.

Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật thiết lập tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.

Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.

kính trọng, dan chu, chiến tranh,

Cột khói hình nấm khổng lồ bốc lên khi Mỹ thả bom nguyên tử xuống Nhật Bản. Ảnh: Askman.com

Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.

Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.

Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.

Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”. Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.

Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”. Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.

Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.

kính trọng, dan chu, chiến tranh,

Quang cảnh sau khi xảy ra vụ ném bom nguyên tử, hầu như mọi thứ đều bị thổi bay. Ước tính 90% nhà cửa ở Hiroshima bị hủy diệt hoặc hư hại. (Ảnh: Internet)

Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.

Người Nhật tổ chức buổi lễ long trọng đưa tiễn tướng quân MacArthur

Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng đất đai của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”

Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Harry Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng và buộc tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!

Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.

Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.

Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.

Theo Daikynguyenvn