ƠN CHỮA LÀNH

ƠN CHỮA LÀNH

Tác giả:  Lm. Trần Việt Hùng

LÒNG THƯƠNG XÓT.

Bác sĩ tâm lý Blenton chia sẻ rằng ông đã học hỏi Kinh Thánh mỗi ngày, các bệnh nhân của ông quá ngạc nhiên. Ông nói Kinh Thánh là sách giáo khoa vĩ đại nhất được góp nhặt để trình bày về các phẩm hạnh của con người. Nếu có đủ số người học hỏi, thấm nhuần và khởi sự sống lời Kinh Thánh thì hầu hết các bác sĩ tâm lý sẽ thất nghiệp. Cho thí dụ, ông nói về dụ ngôn ‘người con phung phá’ và những ai thật sự tin vào cốt lõi của câu truyện về lòng yêu thương tha thứ của Thiên Chúa vĩ đại vô biên hơn bất cứ lỗi lầm nào mà chúng ta có thể lỗi phạm, thì tất cả các bệnh nhân và tâm bệnh đang mang cảm giác tội lỗi, đều có thể được chữa lành và bước đi một cách tự do.

Tổ tiên của loài người là ông Adong và bà Evà. Ông bà tổ tiên đã đi lạc hướng từ thuở ban đầu. Tội lỗi đã nhập vào thế gian bởi sự bất tuân phục của ông bà. Cho nên tất cả chúng sinh đều mang thân phận nặng nề yếu đuối và tâm linh dễ hướng về đường xấu. Sự hoàn hảo của loài người từ lúc ban sơ không còn trọn vẹn. Con cái loài người đã phải chịu đau khổ, bệnh tật và chết chóc. Vì yêu thương, ngay sau khi tổ tiên phạm tội, Thiên Chúa đã hứa sẽ cứu vớt con người khỏi ách của sự dữ: Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.”(Stk 3, 15). Tội lỗi như một thứ vi khuẩn lây lan khắp cả. Con người hoàn toàn bị lệ thuộc vào xác thịt vật chất của luật tự nhiên và môi trường sống chung quanh. Trí khôn phải lần mò tìm kiếm ý nghĩa của đời sống tâm linh và tri thức. Thân xác tro bụi yếu đuối phải đối diện với các thứ bệnh tật, đau yếu, già nua và chết chóc.

Thiên Chúa ban cho con người có trí khôn, khả năng và tài trí để phấn đấu và chinh phục thiên nhiên, nhưng vẫn còn quá nhiều giới hạn. Quyền năng của Thiên Chúa là tuyệt đối. Vì Lòng Xót Thương, Thiên Chúa đã can thiệp để giúp con người vượt lên trên những sắp đặt tuần tự của luật tự nhiên. Tiên tri Giêrêmia đã diễn tả sự chữa lành của Thiên Chúa: Nhưng, Ta sẽ mang lại cho nó một phương thuốc điều trị, sẽ chữa lành, sẽ tỏ cho chúng thấy một cảnh thái bình và một nền an ninh lâu dài. (Giêr 33, 6). Tác giả thánh vịnh trình bày sự chữa lành cả tinh thần lẫn thể xác: Chúa tha cho ngươi muôn ngàn tội lỗi, thương chữa lành các bệnh tật ngươi (Tv 103, 3). Thiên Chúa yêu thương băng bó những tâm hồn dập nát đau thương: Người chữa trị bao cõi lòng tan vỡ, những vết thương, băng bó cho lành (Tv 147, 3) và Lòng Thương Xót vô bờ của Thiên Chúa còn được thể hiện: Người chăm nom khi liệt giường liệt chiếu, lúc bệnh hoạn, Người chữa cho lành (Tv 41, 4).

Khi ra rao giảng Tin Mừng, Chúa Giêsu đã tỏ lòng từ bi nhân hậu với tất cả những người cùng khốn, khổ đau và bơ vơ lạc lõng: Thế rồi Đức Giêsu đi khắp miền Galilê, giảng dạy trong các hội đường, rao giảng Tin Mừng Nước Trời, và chữa hết mọi kẻ bệnh hoạn tật nguyền trong dân (Mt 4, 23). Chúa đã dong duổi khắp các làng mạc, núi đồi, ruộng đồng, bãi biển và các hang cùng ngõ hẻm để kiếm tìm và đưa về những con chiên bị xa lạc, chữa lành những kẻ đau yếu tật nguyền, xua trừ ma quỷ, cho kẻ chết sống lại và làm các dấu lạ để minh chứng quyền năng của Ngài: Có đông đảo dân chúng đi theo Người, bởi họ từng được chứng kiến những dấu lạ Người đã làm cho những kẻ đau ốm (Ga 6, 2). Chúa đã kêu mời những người thấp cổ bé miệng, những kẻ đơn sơ thất học, kẻ tội lỗi, gái điếm, những người thu thuế và những người bị xã hội loại trừ. Chúa đã khai mở, dẫn dắt và chữa lành cả tâm hồn lẫn thể xác.

Khi chữa lành bệnh họan tật nguyền về thân xác, Chúa ban ơn bình an trong tâm hồn. Trong rất nhiều trường hợp, Chúa đã cứu nhiều người khỏi vòng xấu xa tội lỗi và tuôn đổ ân sủng canh tân tâm hồn, như câu truyện của người đàn bà ngoại tình bị bắt qủa tang, người đàn bà xa lạc ra múc nước tại giếng, người đàn bà tội lỗi xức dầu thơm chân Chúa, ông Giakêu trưởng ban thu thuế và ông Matthêô thu thuế… Chúa nhìn thấu tận đáy tâm hồn và lòng tin yêu của họ. Chúa đã cứu chữa. Niềm tin vào Chúa là động lực mạnh mẽ giúp người ta thóat khỏi những ràng buộc của tội lỗi và bệnh họan. Người đàn bà bị bệnh lọan huyết đã âm thầm sờ vào gấu áo của Chúa với lòng tin được chữa lành: Đức Giêsu nói với bà: “Này con, lòng tin của con đã cứu chữa con. Con hãy đi bình an.”(Lc 8, 48).

Rất nhiều người hằng ngày nghe Chúa giảng dạy, tuy nhiên, tâm hồn bị đóng kín. Có nhiều luật sĩ, biệt phái, trưởng lão và cả các thượng tế đền thờ đã ra mặt chống đối, bắt bẻ, ngăn cản và hằn học thù ghét. Họ đã không gặp gỡ được Chúa, mà họ còn gây khó khăn cho việc rao giảng Tin mừng Nước Trời. Chính họ đã bị mất cơ hội nhận lãnh ân sủng. Chúa đã luôn tỏ lòng thương xót đối với những kẻ khiêm cung biết chạy đến với Chúa xin ơn chữa lành: Người đã không thể làm được phép lạ nào tại đó; Người chỉ đặt tay trên một vài bệnh nhân và chữa lành họ. (Mc 6, 5). Chữa lành là một ân sủng ngoại thường do quyền năng của Chúa. Chúa không cần thời gian, các phương tiện khoa học hay thuốc thang, Chúa chỉ cần lòng tin và sự phó thác của chúng ta vào tình yêu của Chúa.

Khi sai các tông đồ ra đi rao giảng Tin Mừng, Chúa trao ban quyền chữa lành: Người sai các ông đi rao giảng Nước Thiên Chúa và chữa lành bệnh nhân (Lc 9, 2). Chúa ban cho các tông đồ quyền năng một cách nhưng không. Các tông đồ vui mừng vì làm cho danh Chúa được rạng sáng. Đây là quyền năng từ trên ban cho con người vượt ngoài luật tự nhiên. Các phép lạ là dấu chỉ Nước Thiên Chúa đã đến gần: Anh em hãy chữa lành người đau yếu, làm cho kẻ chết sống lại, cho người phong hủi được sạch bệnh, và khử trừ ma quỷ. Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy (Mt 10, 8). Dõi theo bước chân của Chúa, các tông đồ đã ra đi khắp nơi mang tin vui và thực hiện các dấu lạ kèm theo: Các ông ra đi, rảo qua các làng mạc loan báo Tin Mừng và chữa bệnh khắp nơi (Lc 9, 6).

Trong Năm Thánh Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã chọn một Logo (Huy hiệu) với Motto (Châm ngôn), Lòng Thương Xót của Chúa Cha. Logo là tác phẩm của linh mục Dòng Tên người Slovenia cha Marko Ivan Rupnik. Diễn tả hình ảnh Chúa Kitô vác trên vai một con người yếu đuối lầm lạc, Ngài là Mục Tử Nhân Lành đã chạm vào da thịt của con người để chia sẻ tình yêu thương của Thiên Chúa cho nhân loại. Chúa Kitô, Mục Tử đầy Lòng Thương Xót, đang mang trên mình cả nhân loại. Trong hình Logo có hai khuôn mặt cận kề với ba con mắt, con mắt của Chúa nhìn nhân loại bằng con mắt của Adam và nhân loại nhìn bằng con mắt Chúa Kitô. Mắt Chúa và mắt nhân loại hòa quyện vào nhau. Mọi người sẽ khám phá ra trong Chúa Kitô, một Ađam mới, bản tính nhân loại của Ngài và tương lai hướng về phía trước, suy niệm, trong sự chiêm ngắm của Ngài, tình yêu của Chúa Cha.

Thiên Chúa yêu thương nhân loại đã ban chính Con Một để hy sinh chuộc tội cho mọi người. Chúa còn muốn chia sẻ những đặc sủng cho các tông đồ, môn đệ, tư tế và các thừa tác viên sống động để bày tỏ tình Lòng Thương Xót của Chúa cho loài người. Để canh tân lòng người và bộ mặt trái đất, Chúa Thánh Thần đã ban cho con người những ơn cần thiết: Kẻ thì được Thần Khí ban cho lòng tin; kẻ thì cũng được chính Thần Khí duy nhất ấy ban cho những đặc sủng để chữa bệnh. Người thì được ơn làm phép lạ, người thì được ơn nói tiên tri; kẻ thì được ơn phân định thần khí; kẻ khác thì được ơn nói các thứ tiếng lạ; kẻ khác nữa lại được ơn giải thích các tiếng lạ (1 Cor 12, 9-10). Tất cả các ơn huệ được trao ban để sinh ích lợi chung trong Nhiệm Thể Chúa Kitô.

Để xứng đáng lãnh nhận ơn chữa lành hồn xác, mỗi người chúng ta hãy tin tưởng, siêng năng đọc kinh cầu nguyện, suy gẫm Lời Chúa, tham dự các giờ kinh phụng vụ, làm việc bác ái, lãnh nhận các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Hòa giải, Thánh Thể và Xức Dầu. Lạy Chúa, xin củng cố lòng tin của chúng con. Xin Chúa chữa lành và băng bó thân tâm chúng con thoát khỏi mọi khổ đau, tội lỗi và tật nguyền. Chúng con kính lạy Lòng Thương Xót Chúa đến muôn đời.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Bronx, New York

KHI CUỘC SỐNG THIẾU CON TIM

KHI CUỘC SỐNG THIẾU CON TIM

Mấy ngày nay, ra đường, không ít người trong đó có tôi khá ngạc nhiên vì có một số bạn trẻ đứng ở góc đường. Không như hình ảnh quen thuộc của “đội quân áo xanh”, các bạn tụm 4 tụm 5 lại với nhau và cầm bức tranh vẽ.

Dừng chờ đèn đỏ cũng khá lâu để rồi nhìn vào hàng chữ trên bức tranh vẽ đẹp màu đó. Hàng chữ trên tấm bảng ghi như thế này : “Hãy lái xe bằng cả trái tim”.

Lần mò trên mạng thì được biết đang có một phong trào gọi là kêu gọi mọi người “Lái xe bằng cả trái tim”. Giật mình khi “chạm” đến bài báo có tựa đề : “Mong có nhiều người “Lái xe bằng cả trái tim”.

Người nước ngoài, nếu như họ đọc được slogan này chắc họ cười và chạnh lòng cho một đất nước mà phải kêu gọi mọi người “lái xe bằng cả trái tim”.

Chuyện lái xe, chắc có lẽ không vịn cớ vào văn hóa hay là phát triển hay giàu nghèo. Chuyện lái xe đơn giản là tham gia giao thông và điều đơn giản nhất mà mọi người cần đó là “biết mình – biết người”. Chính khi người ta không còn “biết mình – biết người” nữa thì người ta đã loại ra khỏi con tim của họ con tim của người đồng loại.

Thật ra, không chỉ là chuyện tham gia giao thông người ta mới kêu gọi người ta “bằng cả trái tim”.

Mới đây, một người bạn xa xứ nhiều năm trời, nay trở về thăm quê hương cũng như dự đám cưới của người em. Chỉ mới hai ngày chưa kịp “hoàng hồn” sau chuyến bay đường dài, người bạn ngao ngán nói với tôi : “chán quá !”.

Hỏi ra thì được biết là gia đình bạn đang có sự chia rẽ trầm trọng ! Sự chia rẽ đơn giản khởi đi từ chuyện tranh chấp quyền lợi. Giản đơn là khi người ta không còn hành xử với nhau bằng trái tim nữa thì người ta sẵn sàng tranh giành hết mức có thể.

Đang khi đó, một người bạn cảm thấy nuối tiếc khi gia đình có đến 9 đứa con nhưng khi người cha mổ cái chân thì gần một nửa anh chị em trong nhà chống đối. Cũng đơn giản là mảnh đất thừa kế để lại mà gia đình tính bán đi để lo cho người cha già đau bệnh thì anh em trong nhà không chấp nhận ký giấy để bán đi để có tiền chữa cho cha già.

Đâu đó vẫn là những câu chuyện nhân sinh của cuộc đời. Khi người ta không còn tấm lòng nữa hay khi người ta khép lòng lại thì cuộc sống càng thêm nặng nề đáng ghét !

Ra đường, giờ đây tìm được văn hóa giao thông dường như quá khó. Đơn giản là con người đa phần chỉ biết mình và đánh mất đi con tim mà nay nhiều người muốn tìm lại.

Trở về nhà, lại thấy một bầu khí quá nặng nề bởi sự tranh chấp đạt đến đỉnh cao. Cũng chỉ vì ít đồng bạc hay vài tấc đất mà người ta sẵn sàng chối bỏ lẫn nhau dẫu rằng ngày còn bé họ bú chung bầu sữa mẹ.

Biết sao giờ khi chợ đời vẫn còn đó những bôn ba, cạnh đó còn có thêm những chuyện tranh giành xem ra đáng tiếc.

Thôi thì lòng nhủ lòng mình và tự nhủ với con tim rằng không chỉ tham gia giao thông mà trong mọi mảng sống của cuộc đời, ta hãy sống với nhau trọn vẹn con tim, trọn vẹn lòng nhân ái của bao người.

Huệ Minh

Tác giả:  Huệ Minh

Tháng chạp của những người già neo đơn

 Tháng chạp của những người già neo đơn

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam
2016-01-17

000_Hkg9914181-630.jpg

Các cụ già hàng ngày phải vào rừng hái rau dại. (Minh họa)

AFP PHOTO

Your browser does not support the audio element.

Cuối năm, với những người già neo đơn, thiếu vắng bóng dáng con cái và người thân, thời khắc này bao giờ cũng lạnh và buồn hơn rất nhiều so với những người có đầy đủ con cháu và so với thời gian khác trong năm. Đặc biệt, với những người cao tuổi nghèo khổ, cái Tết đến với họ như những hạt muối rơi chạm vết thương. Sự nghèo khổ của những người già sống trên đất Hướng Hóa, Quảng Trị là một dấu lặng tháng Chạp.

Lo từng bữa ăn, thiếu thốn mọi bề

Cụ bà Hồ Thị Lữ, 75 tuổi, người xã A Dơi, huyện Hướng Hóa, Quảng Trị, chia sẻ: “Năm nay mệ (bà) 79 tuổi, sang năm mới được 80 tuổi. Khi được 80 tuổi thì hàng tháng mệ được cho một trăm mấy ngàn, chừ thì chưa, mệ chưa đủ tuổi, 80 mới đủ tuổi. Mệ chuẩn bị đi hái măng rừng với mấy đứa trong xóm, đi sớm, nó dậy rồi nó đợi mệ cùng đi, mệ hái được nhiều, ra sớm thì mệ lên chợ bán cũng được mấy chục.”

Theo cụ Lữ, suốt nhiều năm không có con cái, cụ sống một mình dưới mái nhà xập xệ do cha mẹ để lại. Nơi nào dột thì cụ mua tôn về lợp. Số tiền tích lũy được do bán rau rừng cũng đủ để vài năm mua một tấm tôn lợp dặm vào những chỗ nhìn thấy trời, mà che mưa che nắng.

Hằng ngày, cụ thức dậy lúc ba giờ sáng để quét dọn nhà cửa. Nói là quét dọn nhà cửa nhưng thực sự cũng chẳng có gì để quét dọn, chỉ làm việc giết thời gian đợi trời sáng vì không thể nào ngủ được. Đến khi trời hừng sáng, ăn vội miếng cơm nguội để lại từ tối qua với nước mắm kho quẹt hoặc chút cá kho khô để lâu ngày. Ăn xong lại lên đường vào rừng hái rau dại mang xuống chợ bán.

Mưa hay nắng, trừ những khi đau ốm không thể nhấc mình khỏi giường thì ở nhà, những ngày còn lại cụ đều đặn vào rừng hái rau rừng. Hái rau vừa giúp cho cụ có cái để ăn qua ngày, có cái để dành phòng khi đau ốm và giết ngày dài buồn tủi, cô đơn lúc tuổi già.

000_Hkg8227378-420.jpg

Sau khi vào rừng hái rau dại, các cụ phải mang xuống chợ bán. (Minh họa)

Trung bình mỗi ngày, đi từ lúc năm giờ sáng và về nhà lúc năm giờ chiều, cụ Lữ kiếm được từ mười ngàn đồng đến ba chục ngàn đồng. Bữa nào kiếm được mười ngàn đồng thì bỏ ra hai ngàn để mua gạo, hai ngàn mua gói mì ăn liền loại rẻ và cất dành sáu ngàn đồng bỏ ống.

Bữa nào kiếm được nhiều rau, kiếm thêm được măng rừng hay bắp chuối rừng, bán được từ hai lăm đến ba chục ngàn đồng, cụ Lữ tự thưởng cho mình một dĩa cơm mười ngàn đồng ở hàng cơm trong chợ. Với cụ, đó là bữa tiệc trọng đại trong tháng bởi vì có khi suốt cả tháng ròng mới có được ngày bán rau thu vào ba chục ngàn đồng.

Khi chúng tôi hỏi thăm về chế độ bảo hiểm dành cho người nghèo cũng như các khoản hỗ trợ người nghèo từ phía nhà nước. Cụ Lữ buồn bã nói rằng các khoản này không phải ai cũng có được, có thể người nghèo không bao giờ có nhưng nhưng người không nghèo lại hưởng được nhiều khoản trợ cấp của người nghèo. Cụ Lữ cho rằng nghèo là cái tội, và cụ mang tội rất lớn với tổ tiên, với đất nước bởi sự nghèo của cụ.

Giải thích về cái tội nghèo, cụ Lữ nói rằng nghèo thì không đóng góp được gì cho bà con, thậm chí làm cho bà con thấy ái ngại mỗi khi mình xuất hiện. Nhưng cái tội lớn nhất là tiếp tay cho tội ác. Bởi nhiều kẻ quyền thế đã lợi dụng cái nghèo để lấy tiền của nhà nước, của nhân dân. Nếu không còn những người nghèo như cụ thì những kẻ kia lấy đâu ra cái cớ để lợi dụng lòng thương, dựa vào nhà nước để ăn tiền.

Nhưng đó chỉ là câu nói đùa của cụ Lữ, cụ nói rằng trong sâu thẳm lòng mình, cụ vẫn thấy nghèo, cô đơn là một vết thương mà mỗi dịp Tết về, nhìn mọi gia đình khác đoàn viên, sum họp, cụ chỉ biết khóc thầm một mình. Ba ngày Tết cụ cũng không dám đến nhà ai vì sợ mình mang cái nghèo, cái neo đơn của mình đến nhà người khác đầu năm. Đã mấy mươi cái Tết như vậy đi qua cuộc đời cụ Lữ và gần như cụ đã quen với nỗi buồn hằng Tết.

Chứ cũng ứa nước mắt, mỗi ngày bán ngoài chợ được cỡ tám ngàn thôi, ăn hàng (ăn sáng) hai ngàn bạc cháo, hai ngàn tiền dù che mưa che nắng là bốn ngàn, một ngàn tiền thuế chợ là năm. Mà có ngày bán được chục ngàn, có ngày bán được có năm ngàn, lời không được năm ngàn bạc nữa, khổ ơi!

Chờ để được già

Cụ Dương, 79 tuổi, làm dâu trên đất Hướng Hóa, Quảng Trị gần sáu chục năm nay, buồn bã chia sẻ: “Chứ cũng ứa nước mắt, mỗi ngày bán ngoài chợ được cỡ tám ngàn thôi, ăn hàng (ăn sáng) hai ngàn bạc cháo, hai ngàn tiền dù che mưa che nắng là bốn ngàn, một ngàn tiền thuế chợ là năm. Mà có ngày bán được chục ngàn, có ngày bán được có năm ngàn, lời không được năm ngàn bạc nữa, khổ ơi!”

Theo cụ, phần đông người cao tuổi neo đơn ở đây không có đủ cơm để ăn và hằng ngày phải bươn bả đủ mọi việc để kiếm sống. Thu nhập trung bình của những người như cụ sẽ dao động từ mười ngàn đồng đến hai mươi ngàn đồng trên mỗi ngày, không thể nhiều hơn. Và hầu như không có ai được hưởng bất kì chế độ đãi ngộ nào từ phía nhà nước.

Bởi nếu muốn hưởng tiêu chuẩn của người cao tuổi, cụ phải đợi thêm sáu năm nữa, khi đó đủ tám mươi lăm tuổi thì sẽ hưởng được mỗi tháng một trăm tám mươi ngàn đồng trợ cấp của nhà nước. Và với số tiền một trăm tám mươi ngàn đồng đó, theo cụ Dương là không đủ để làm bất cứ việc gì. Nếu trong làng có đám cưới, có thiệp mời thì nhận xong một trăm tám mươi ngàn đồng của nhà nước, các cụ phải đi vay thêm hai mươi ngàn đồng nữa để bỏ phong bì tặng quà cưới. Bởi vì mức giá chung cho phong bì quà cưới hiện tại là hai trăm ngàn đồng.

Và cũng theo cụ Dương, với khoản tiền một trăm tám mươi ngàn đồng trên một tháng, cụ vẫn phải bươn bả ra rừng hái rau lên chợ bán hay mua củ quả của nhà vườn ra chợ ngồi bán. Bởi vì số tiền này nếu mua gạo thì thiếu mắm thiếu muối, nếu mua mắm muối thì thiếu gạo. Cụ nói rằng dù có thắt lưng buộc bụng gì đi nữa thì cũng không thể nào sống một tháng với một trăm tám mươi ngàn đồng.

Nhưng đó là chuyện của sáu năm nữa, còn hiện tại, cũng như nhiều người già neo đơn, không con không cháu khác, cụ Dương phải ra chợ eo sèo mua bán hoặc lên rừng lục lọi từng ngọn cỏ, lùm cây để theo mùa mà hái rau rừng về bán dưới chợ. Cũng may rau rừng bây giờ có giá nhưng người hái lại quá nhiều.

Thêm một cái Tết nữa đang về, hoàn cảnh của nhiều người già neo đơn vẫn chưa có gì thay đổi ngoài những bữa cơm hẩm hiu tự mình biết riêng mình. Và mỗi cái Tết như một lời thách thức của cái nghèo, sự cô đơn, cô độc và tuổi già trước thời gian, trước sự hờ hững của cuộc đời!

Cuộc đảo chính cung đình tiền Đại hội

Cuộc đảo chính cung đình tiền Đại hội

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhận hoa từ tay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi ông Dũng tái đắc cử thủ tướng ngày 26 tháng 7, 2011 tại Hà Nội.

Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nhận hoa từ tay Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau khi ông Dũng tái đắc cử thủ tướng ngày 26 tháng 7, 2011 tại Hà Nội.

Bùi Tín

17.01.2016

Hội nghị Trung ương 14 đã kết thúc. Diễn văn khai mạc và bế mạc hội nghị nói nhiều đến Hiệp ước Xuyên Thái Bình Dương TPP, nhưng đây chỉ là kiểu đánh lạc hướng dư luận trong và ngoài nước. Thật ra chỉ có một vấn đề duy nhất: đây là trận sống mái cuối cùng giữa hai phe nhóm để tranh giành nhau 4 chiếc ghế quyền lực cao nhất, được gọi là ‘tứ trụ triều đình’, như của Nhà nước phong kiến cổ xưa.

Khi đảng CS đang ở thời kỳ tan rã theo quy luật tự nhiên và xã hội, cuộc tranh ăn cuối cùng đã tỏ ra cực kỳ gay gắt vì các bô lão cầm quyền cảm thấy thời gian của họ không còn có nhiều, phải giữ ghế đến cùng để tận lực vơ vét trước khi thuyền đắm, may có thể trôi nổi vào bờ để sống sót.

Đã có một hình ảnh trào lộng. Nhà nước CS trong cơn thở hắt ra, được đặt tên là «Nước Cộng hòa Dân chủ Bô Lão», với lá cờ đỏ trên đó in 10 chữ C – viết tắt của 10 chữ «Các Cụ Cùng Con Cháu Chắt Các Cụ Cả», nói lên một chế độ già nua, đại gia đình trị của những phe nhóm vừa kình định vừa liên kết với nhau.

Trở về với Hội nghị Trung ương lầ thứ 14, Khóa XI, trong 3 ngày 11, 12 và 13/1 vừa qua, tiếp theo các Hội nghị Trung ương 12 và 13, chỉ là để chia nhau gần 200 ghế trong Ban Chấp hành Trung ương BCHTƯ và 16 ghế trong Bộ Chính Trị, và mấy ghế của Ban Bí thư cho Khóa XII.

Đây thực chất là một kiểu đảo chính tiền Đại hội, không nổ súng, chưa từng có trong 11 đại hội trước đây, vi phạm trắng trợn Điều lệ của đảng CSVN, vi phạm chế độ dân chủ tập trung, là một cuộc tiếm quyền của BCHTƯ Khóa XI đối với quyền hạn của Đại hội XII chưa nhóm họp, nhằm áp đặt «tứ trụ» do Khóa XI bầu bán xong xuôi cho Đại Hội XII từ khi nó chưa họp.

Thật ra, tất cả nội dung Báo cáo Chính trị trong đó có Cương lĩnh, học thuyết, chính sách, đường lối chính trị, kinh tế, đối ngoại, quốc phòng cũng như toàn bộ nhân sự lãnh đạo phải do 1510 đại biểu hoàn toàn tự do quyết định, không cần có sự can thiệp dẫn dắt của ai hết. Mọi sự phải được quyết định kể từ sáng 20/1, khi khai mạc Đại Hội XII. Mọi ý kiến, nghị quyết, báo cáo của ban lãnh đạo cũ chỉ mang tính chất gợi ý, đề nghị đại hội mới xem xét và tự đại hội mới quyết định. Thậm chí Đại hội XII có toàn quyền bác bỏ học thuyết Mác- Lê, bác bỏ nền chuyên chính vô sản, từ bỏ chủ nghĩa xã hội kiểu Mác-xít, từ bỏ tên đảng Cộng sản để lấy một tên khác, từ bỏ nguyên tắc «ruộng đất thuộc sở hữu toàn dân» để trả lại quyền sở hữu cố hữu cho nông dân, từ bỏ phương châm «quốc doanh là chủ đạo» để mọi hình thức sở hữu cạnh tranh bình đẳng, như ở bao nhiêu nước văn minh, giàu mạnh và dân chủ.

Về vấn đề nhân sự cũng vậy. Đại hội XII có toàn quyền bầu ra Đoàn chủ tịch, Đoàn thư ký, Ban thẩm tra tư cách đại biểu do chính mình lựa chọn, không bó buộc phải thừa nhận danh sách do Bộ Chính trị cũ đề cử. Đó mới thật là tinh thần trách nhiệm cao, là đổi mới, là dân chủ trong đại hội. Trong bầu cử BCHTƯ mới, Ban Bí thư, Bộ Chính trị, Ban Kiểm tra Trung ương mới cũng vậy, Đại hội XII có quyền khởi đầu từ một mặt bằng phẳng trắng , từ danh sách các ứng cử viên tự do, các ứng viên được Đại hội giới thiệu, rồi bỏ phiếu kín theo đa số tuyệt đối hay đa số tuơng đối do tự mình lự chọn và quyết định, không chịu ràng buộc bởi bất cứ ai khác. Tất cả các trò bầu bán ở các Hội nghị Trung ương 12, 13, 14 của Khóa XI đều không có giá trị bắt buộc nào.

Do vậy cho nên bộ tứ trụ Triều đình được loan truyền ầm ỹ là: Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch Nước Trần Đại Quang, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân… không có chút giá trị chính thức nào. Nó là con đẻ của mưu đồ của TBT Nguyễn Phú Trọng muốn ở lại nắm quyền lực cao nhất của chế độ trong 5 năm nữa, hay chí ít là 2 hoặc 1 năm nữa, cùng tay chân thân tín nhất là Tô Huy Rứa và Đinh Thế Huynh trong Bộ Chính trị, để khuynh loát các Hội nghị Trung ương suốt 2 năm nay. Đây có thể coi là 3 nhân vật kém khả năng, háo danh, tham quyền cố vị nhất trong số 16 ủy viên của Bộ Chính trị.

Nguyễn Phú Trọng đã biểu diễn tất cả sự mụ mẫm về chính trị khi sang Cuba giảng thuyết suốt 2 giờ về lý luận Mác-xít và chủ nghĩa Cộng sản khi 2 anh em nhà Castro đã thú nhận sự thất bại của mô hình cộng sản, bị báo chí Cuba từ chối đưa tin, và sáng hôm sau bị Tổng thống Brazil từ chối đón tiếp. Tô Huy Rứa là Trưởng Ban tổ chức mà việc đầu tiên khi nhận chức là đưa cô con gái cưng 26 tuổi vừa học xong về báo chí làm Trưởng ban quản trị một Đại công ty về xây dựng. Còn Đinh Thế Huynh trên cương vị Trưởng Ban tuyên giáo, vớ được chức Phó tổng biên tập báo Nhân Dân mà chưa hề viết một bài báo nào có thể đọc được, lại vớ bở chức Chủ tịch Hội Nhà Báo. ĐinhThế Huynh bị cả làng báo chí lề phải cũng như lề phê phán về câu khẳng định «ở VN sẽ không bao giờ có đa đảng».

Nhóm âm mưu trong Bộ Chính trị trên đây đã làm xong một cuộc đảo chính cung đình ở thời kỳ tiền Đại hội, tự tin rằng sẽ tiếp tục chiếm lĩnh quyền lực tuyệt đối trong 5 năm nữa.

Cánh Nguyễn Tấn Dũng bị thua đau nhưng chưa bỏ cuộc. Nguyễn Tấn Dũng là người có nhiều mưu mô thâm độc. Từng suýt bị kỷ luật, Nguyễn Tấn Dũng đã trổ tài thoát hiểm trong đường tơ kẽ tóc nhờ đa số ủy viên Trung ương bênh vực. Ngay khi Hội nghị Trung ương 14 kết thúc, cánh Nguyễn Tấn Dũng đã tuyên bố «cuộc cờ chưa tàn», rằng «Anh Ba rồi sẽ thắng, nhóm anh Ba sẽ ‘lật kèo’ ngoạn mục cho mà xem, nhóm giáo điều cơ hội cực đoan ắt phải thua khi tranh luận công khai.

Phát biểu trong cuộc họp, Ủy viên Bộ Chính trị Nguyễn Thiện Nhân khẳng định Nghị quyết Bộ Chính trị về đề cử tứ trụ là vi phạm điều lệ ; trường hợp «đặc biệt» là gì không có trong điều lệ đảng ; đòi Tổng Bí thư phải là người miền Bắc là phá hoại đoàn kết, gây chia rẽ…Cho nên rất có thể sau khi đại hội khai mạc, cánh Nguyễn Tấn Dũng sẽ lên tiếng, vạch rõ những mưu đồ thâm hiểm, vi phạm nguyên tắc tổ chức, chà đạp Điều lệ đảng, đề nghị phá bàn cờ cũ, làm lại từ đầu theo đúng quyền hạn là cơ quan lãnh đạo cao nhất, không ai có quyền can thiệp. Chưa rõ đến lúc ấy ý kiến của 1510 đại biểu tham dự đại hội sẽ ra sao, vì 1510 người này chưa họp nên «nhóm Lú» chưa biết sẽ nắm được đa số hay không.

Khá năng tốt nhất là sẽ có nhóm đại biểu trẻ, không theo «nhóm Lú» cũng như «nhóm X» đứng ra yêu cầu đại hội làm việc từ đầu, thảo luận kỹ về mô hình, hệ thống, học thuyết, đổi mới chế độ lãnh đạo và cầm quyền, sau đó bầu ra ban lãnh đạo mới do đại hội toàn quyền ứng cử, đề cử và bỏ phiếu tự do, không có một sức ép nào hết.

Đại hội sẽ xem xét kỹ để chọn một dàn nhân tài mới, trẻ, khỏe về tư duy, chí công vô tư, trong sạch minh bạch, có tầm chính trị của thời đại để hòa nhập với thế giới văn minh, dân chủ. Một số người trong ban lãnh đạo cũ có thể được tín nhiệm lại, cùng với một dàn lãnh đạo mới, BCHTƯ mới, Bộ Chính trị mới, Ban Bí thư Trung ương mới, Ban Kiểm tra Trung ương mới, để đi đến cuộc bầu cử Quốc hội mới, mà Chủ tịch Quốc Hội không phải do Đại hội đảng quyết định trước mà phải do chính Quốc hội mới bầu ra, cùng với việc cử ra Chủ tịch Nước mới, vào tháng 5/2016.

Chủ đề: Giấc mơ nước Mỹ

Chủ đề: Giấc mơ nước Mỹ

Tác giả : Nguyên Giang

Bài dự thi viết về nước Mỹ gửi từ Sài Gòn bằng email, được đăng nguyên văn, không thêm bớt. Bài viết ngắn, tác giả 30 tuổi, cho biết đây là những câu hỏi mong được các chú bác anh em ở Mỹ trả lời.

Tôi muốn được đặt chân tới Mỹ!

Đó là điều mơ ước cháy bỏng của tôi từ khi biết nhận thức sau khi rời Trung Học để bước vào đời. Vì sao ư? Để tôi tìm hiểu về nền văn hóa, chính trị, giáo dục, kinh tế của nước này. Để tôi tự trả lời cho nhiều câu hỏi cứ thôi thúc trong đầu mình bao nhiêu năm qua từ khi tôi biết nhận thức về đời sống.

Tôi muốn đến Mỹ, để tôi hỏi vì sao đồng bào tôi có mặt ở đây, và sự ra đi này kéo dài hơn một thế hệ rồi, mà đến bây giờ hằng ngày đi ngang Tòa Đại Sứ Mỹ ở Sài Gòn vẫn còn lũ lượt người chờ đợi một tấm vé đặt chân vào Mỹ, dù đất nước Việt tôi đã im tiếng súng đã lâu, từ khi tôi chưa chào đời.

Tôi muốn đến Mỹ xem coi có phải đó là Thiên Đường không mà đồng bào tôi, bạn bè tôi sau khi định cư vài năm có trở về thăm quê họ như một con người khác, lịch sự nhã nhặn, có kiến thức giỏi giang hơn rất nhiều. Tôi tự hỏi điều gì đã làm nên đôi hia bảy dăm đó?

Tôi muốn đi để hỏi các cô gái lấy chồng “Việt Kiều Mỹ” niềm vui rạng ngời hơn các cô gái phải bán thân đi Đài Loan, Hàn Quốc, Campuchia?

Tôi muốn đi để thấy, để biết Tổng Thống Mỹ có phải ông Trời không mà sao cả thế giới phải nghe ngóng, chờ đợi mỗi mùa bầu cử Tổng Thống Mỹ?

Và tôi muốn đi để hỏi các Chú Bác những chiến hữu của Ba tôi ngày xưa được chìa khóa HO để đến thiên đường nước Mỹ, có còn nhớ đến bạn bè chiến hữu, quê hương hay không. Mà sao ai cũng chen chân bỏ lại “chùm khế ngọt” mà hân hoan làm kẻ lưu vong?

Tôi muốn gặp những người cùng lứa tuổi tôi là Người Mỹ Gốc Việt để thử xem cách xa hai nửa bán cầu, tuổi trẻ có gì giống và khác nhau.

Cuối cùng tôi muốn đi để xem vì sao, hấp lực gì mà hàng triệu người miền Nam đổ xô ra biển không định hướng những năm sau 1975 đến những năm 1990 và tiếp tục đến bây giờ bằng nhiều cách.

Nhưng đường đến nước Mỹ với mình chắc xa diệu vợi. Thôi thì các Chú, Bác anh em đồng bào ở Mỹ có ai còn tâm tình với những người bên này vui lòng trả lời dùm tôi, một thanh niên 30 tuổi những câu hỏi vừa nêu, để tôi khỏi khắc khoải về một nước Mỹ vô cùng lạ lẫm, và thần kỳ. Nếu vậy thì âu cũng là một niềm vui lớn rồi, chứ chưa dám nghĩ ngày nào đó mình đạt chân đến Mỹ quốc!

Mong lắm thay!

Nguyên Giang

Mười hai lời khuyên của Đức Phanxicô cho các gia đình

Mười hai lời khuyên của Đức Phanxicô cho các gia đình

Đức Phanxicô gặp gia đình Catire và Noel Walker và các con, từ trái, Cala, Dimas, Mia và Carmin) ngày chúa nhật tại Đại chủng viện San Carlos Borromeom, Philadelphia. 2

 Từ khi nhậm chức đến bây giờ, Đức Phanxicô liên tục nói với các cha mẹ, ông bà, trẻ em. Đây là một vài lời khuyên đẹp nhất của ngài.

  1.   “Xin vui lòng”, “Cám ơn”, “Tha thứ”. Đó là những chữ giúp cho gia đình sống trong bầu khí bình an. Những chữ đơn giản nhưng không dễ để thực hiện! Nó bao gồm một sức mạnh lớn lao: sức mạnh bảo vệ tổ ấm gia đình dù phải qua muôn vàn thử thách và khó khăn. Nhưng nếu không có những chữ này thì gia đình sẽ có những nứt rạn có thể dẫn đến tan vỡ.
  2.     Chữ đầu tiên là “Xin vui lòng,” khi chúng ta nhẹ nhàng xin một chuyện, dù chúng ta nghĩ chuyện này là chuyện mình có quyền được, thì chúng ta đã bảo vệ được bầu khí cùng sống chung của vợ chồng và gia đình. (…) Dù chúng ta xem như đã biết nhau, nhưng đừng nghĩ một khi có là có mãi mãi.
  3.  Trước khi làm một cái gì trong gia đình, chúng ta cũng xin: “Xin vui lòng, tôi có thể?”. Ngôn ngữ lịch sự này đầy cả tình yêu và tạo nhiều điều tốt đẹp trong gia đình.
  4.  Một tín hữu không biết cám ơn là một tín hữu đã quên ngôn ngữ của Chúa.
  5.   Có một hôm, tôi nghe một người rất lớn tuổi, rất tốt, rất đơn sơ, rất khôn ngoan nhưng khôn ngoan của một tấm lòng mộ đạo, một tấm lòng yêu cuộc sống: “Lòng biết ơn chỉ lớn lên trong mãnh đất của những tâm hồn cao thượng”. Tấm lòng cao thượng này là ơn Chúa trong tâm hồn chúng ta, thúc đẩy chúng ta nói lên lời cám ơn, lên tâm tình tri ân.
  6.  “Tha thứ”. Đó là một chữ khó khăn nhưng lại rất cần thiết. Khi chữ này không được nói lên thì các rạn nứt nhỏ sẽ banh rộng ra (…).
  7.  Nhận biết mình sai lầm và muốn chuộc lại những gì đã bị lấy mất – lòng tôn kính, chân thành, tình yêu – là làm cho sự tha thứ thành chính đáng. (…) Nếu chúng ta không xin lỗi được, có nghĩa là chúng ta không biết tha thứ. (…) Bao nhiêu tổn thương tình cảm và rạn nứt trong gia đình bắt đầu vì không nói lên được chữ “tha thứ”.
  8. Không thể nào tránh cãi vã trong đời sống vợ chồng nhưng tôi có một lời khuyên: đừng bao giờ kết thúc một ngày mà chưa làm hòa! (…) Và làm hòa như thế nào? Quỳ gối xuống? Không! Một cử chỉ nhỏ là đủ, chỉ một cử chỉ nhỏ, hòa khí trong gia đình sẽ trở lại (Buổi tiếp kiến chung 13 tháng 5-2015).
  9. Chúa Giêsu được sinh ra trong một gia đình. Ngài có thể sinh ra là chiến binh, là hoàng đế… Không, Ngài xuống thế gian như một người con trong một gia đình.
  10.  Biết bao nhiêu người mẹ học được lòng quan tâm của Mẹ Maria cho Con của mình! Biết bao nhiêu người cha đã học từ Thánh Giuse, một người công chính, hiến cả cuộc đời mình để nâng đỡ và bảo vệ vợ con mình trong những lúc khó khăn! Và Chúa Giêsu ở tuổi vị thành niên đã khuyến khích các người tìm hiểu để thấy sự cần thiết và nét đẹp cần phải vun trồng cho ơn gọi sâu đậm hơn, ước mơ cao cả hơn!
  11.  Như Đức Mẹ và Thánh Giuse, mỗi gia đình đều có thể đón nhận Chúa Giêsu. Lắng nghe Ngài, nói chuyện với Ngài, cùng ở chung với Ngài, bảo vệ Ngài và lớn lên với Ngài; và như thế mới cải thiện được thế giới (…) Đó là sứ mệnh lớn lao của gia đình: dành một chỗ để Chúa Giêsu đến, đón nhận Chúa Giêsu vào gia đình để Ngài lớn lên về mặt thiêng liêng trong gia đình này (Buổi tiếp kiến chung 17-12-2014).
  12.  Các bà mẹ là chất khử độc mạnh nhất cho chủ nghĩa ích kỷ cá nhân. “Cá nhân” có nghĩa là “không chia được”. Ngược lại, các bà mẹ “chia sẻ” ngay khi họ đem đứa con ra chào đời và nuôi nó lớn lên. (…) Một xã hội không có các bà mẹ thì không phải là một xã hội của loài người vì, dù trong những giây phút đau buồn nhất, các bà mẹ cũng là chứng nhân của tấm lòng tận tâm, dịu dàng, chứng nhân của sức mạnh tinh thần. (…) Không có các bà mẹ, không những không có các tín hữu mới mà đức tin sẽ mất đi phần lớn sự nồng ấm đơn giản và sâu đậm (Buổi tiếp kiến chung 7 tháng 1-2015).

Marta An Nguyễn chuyển dịch

Bèo Giạt

Bèo Giạt

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

RFA

đều mang gốc gác Việt

liều lĩnh bỏ quê nhà

bằng đường dây người lậu

đi cầu thực phương xa

những con người khốn khó

tâm hồn rách tả tơi

xuất xứ từ nghèo đói

mang giấc mơ đổi đời

Bắc Phong – “Những Người Rơm”

Cuối năm, blogger Hoàng Giang gửi đến độc giả một câu chuyện rất “nhẹ nhàng” và “đáng yêu” ngăn ngắn:

Tôi mới đọc được mẩu tin nho nhỏ, mà chắc chả mấy ai bận tâm, mẩu tin cũng nhẹ nhàng tình “củm” có tựa đề là “How did this Swedish cat turn up in south France?”. Tức là có một chú mèo tên là Glitter sống ở Bromolla, miền nam Thụy Điển mất tích đã 8 tuần. Anh chủ Sammy Karlsson tưởng chừng như sẽ không có hy vọng tìm lại được Glitter nữa thì bỗng dưng vào đúng tuần lễ Thanksgiving, anh nhận được một cuộc gọi từ vùng Nimes tại miền nam nước Pháp hỏi anh về chú mèo lông xù này.

Sammy ngạc nhiên tới mức anh tưởng người ta đang đùa cợt mình, nhưng khi bức hình được gửi đến, thì chú mèo đó chính xác là Glitter của anh. Trong một bài phỏng vẫn, anh nói đùa rằng “Có lẽ Glitter đã phải lòng một cô gái Pháp nào đó, và chàng quyết định đội chiếc mũ bê rê.” Hiện chàng mèo đang được tiêm phòng và làm quốc tịch Pháp sau đó sẽ được gửi trả về với chủ tại Thụy Điển.

Câu chuyện mới đáng yêu làm sao, cứ tưởng tượng một chú mèo thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu, chu du hơn 1,700km, mà tự dưng cũng muốn mình được như thế, vô lo vô nghĩ…

Ước muốn được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” của Hoàng Giang tuy không có gì là viển vông nhưng vẫn rất xa vời, và mỗi lúc một thêm xa, nếu chúng ta (chả may) sinh ra là … người Việt Nam – cái xứ sở mà nhiều người dân phải cầm cố nhà cửa/ruộng vườn mới đủ chi trả cho con cái một chuyến đi ra khỏi nước.

Dù giá quá đắt nhưng không phải ai đi (rồi) cũng đến. Hãy nghe qua một mẩu đối thoại giữa một cô gái Việt, và người bạn trai (đồng cảnh) từ hai phòng giam sát cạnh nhau – trong một nhà tù nào đó ở Âu Châu:

Tuyết ho, tôi xót ruột. Ho xong, nó nói:

“Em mơ còn nằm trong cái xe thùng chở em sang đây. Ðứa con gái nằm ngay bên cạnh em chết ngạt.”

“Chết!?”

“Chết. Bị nhốt trong thùng xe hai ngày hai đêm. Khi bọn đầu gấu mở cửa xe ra, thấy bốn người chết từ bao giờ. Con ấy thân với em nhất. Chúng em đã từng chia phiên nhau kề mũi vào cái lỗ nhỏ để thở.

The Vietnamese girl, believed to be 16, had been crammed into a tiny space behind the dashboard of a car stopped at Dover. Ảnh & chú thích: dailymail.co.uk

Thương hại nó hay nhường cho em thở lâu hơn. Dọc đường nó cứ đòi về, không muốn đi nữa. Nhưng em biết về thế nào được với bọn đường dây. Nó mà sống sót cũng bị đường dây hành tới chết về cái tội đòi về… Anh có nghe không đấy?”

“Nghe rõ cả.”

“Nó nói khổ đều quanh năm chịu được, dồn vào một ngày thì chết. Anh nghĩ có đúng không?”

“Chắc đúng.”

“Mẹ nó bán ruộng, bán vườn để chung tiền cho nó đi, cứ mong nó mang đôla về chuộc đất, xây nhà như những người có thân nhân Việt kiều. Bây giờ nó chết, chưa kịp nhìn thấy tờ đôla xanh. Trước khi chết nó tựa vai em lầm bầm ‘Mẹ ơi! Con không muốn làm Việt kiều. Con muốn về nhà. Con muốn cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời.’ Giọng nó như đứa trẻ con ba tuổi.” (Tâm Thanh – “Người Rơm”).

Người rơm còn có một tên gọi khác, dễ nghe hơn, theo ngoại ngữ: nouveaux boat people – những thuyền nhân mới. Khác với lớp người tị nạn từ Việt Nam vào cuối thế kỷ trước, những kẻ đến sau không còn được thế giới chào đón nữa.

Nhân loại, xem chừng, đã oải. Không ai còn đủ kiên nhẫn và bao dung với những kẻ khốn cùng, (không vốn liếng, không ngoại ngữ, không nghề nghiệp, không cả một mảnh giấy tùy thân) cứ tiếp tục đến mãi từ một xứ sở… Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc!

Thêm một điều khác biệt nữa là tuy được gọi tên “những thuyền nhân mới” nhưng họ không vượt biên bằng thuyền.

Trong cuộc hành trình dài bằng phần nửa vòng trái đất, họ thường bám trên các xe vận tải hạng nặng xuyên qua Châu Âu. Trốn trong những thùng chứa hàng trong xe, họ phải ép xác, có khi chịu đựng không ăn uống trong nhiều ngày…” (PhươngVũ Võ Tam Anh, “Người Việt Khốn Khổ Tại Paris”).

Sau khi đặt chân được đến miền đất hứa (Anh Quốc) có một hiện tượng lạ xẩy ra là lớp người rơm, ở tuổi vị thành niên, đều mất biến – theo bài tường thuật (Missing Kids UK) của Sam Judah, qua Tạp Chí Thời Sự BBC:

“Người ta tin rằng hầu hết các trường hợp đều được các băng đảng đưa lậu vào Anh, bị cảnh sát phát hiện và đưa vào các trung tâm chăm sóc.

Các em rõ ràng là không bỏ trốn khỏi những kẻ bắt giữ mình, mà còn thường trốn khỏi các gia đình nhận nuôi dưỡng mình và các trung tâm chăm sóc để trở lại với những kẻ đó, nhằm tìm cách trả các khoản nợ lớn và nhằm để gia đình ở Việt Nam khỏi bị trả thù.

Văn, một cậu bé người Việt 15 tuổi, mà dường như được đăng tải trên trang mạng trẻ mất tích dưới một cái tên khác, đã được đưa lậu vào Anh bằng xe tải và đã bị buộc phải giúp việc nhà cho những kẻ đã đưa cậu vào. Sau đó, cậu được đưa vào làm ‘thợ vườn’ ở một số trại trồng cần sa trên cả nước…

Hồi năm ngoái, 96 thiếu niên người Việt đã được chuyển tới cho cơ quan quản lý tình trạng buôn bán người của chính phủ, khiến Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều đối tượng được cho là nạn nhân ở tuổi vị thành niên nhất tại Anh.

BBC, nghe được hôm 18 tháng 2 năm 2014, còn cho biết thêm một khía cạnh tồi tệ khác: “Số liệu từ Cơ quan Tội phạm Quốc gia Anh Quốc (NCA) cho thấy trẻ em từ Việt Nam nằm đầu bảng danh sách bị đưa lậu vào Anh vì mục đích lạm dụng tình dục.”

Người rơm ở rừng Calais, Pháp Quốc. Ảnh: radiochantroimoi

Cập nhật hơn, The Guardian, số ra ngày 23 tháng 5 năm 2015, có bài tường thuật (“3,000 children enslaved in Britain after being trafficked from Vietnam”) của hai ký giả Annie Kelly và Mei-Ling McNamara. Xin ghi lại vài đoạn ngắn, theo bản dịch (“3.000 trẻ em bị buôn bán từ ‘đất nước Hồ Chí Minh’ sang Anh làm nô lệ”) của blogger Nguyễn Công Huân:

Giống như nhiều trẻ em Việt Nam khác, Hiền đã được đưa đến Anh để sống một cuộc đời nô lệ hiện đại. Em cuối cùng phải vào tù về tội trồng cần sa…

Chuyến đi của Hiền tới Anh Quốc bắt đầu khi em bị bắt cóc khỏi làng lúc 5 tuổi bởi một người nói rằng ông ta là chú của em. Như một đứa trẻ mồ côi, em không còn lựa chọn nào khác ngoài làm theo những mệnh lệnh của người khác. Em đã mất năm năm đi qua nhiều quốc gia bằng đường bộ, hoàn toàn không biết mình đã đi qua những đâu, từ Việt Nam qua biên giới giữa Pháp và Anh để tới một căn nhà ở London. Ở đây em phải làm nô lệ trong nhà trong 3 năm, nấu ăn và dọn dẹp cho nhóm những người Việt đi ra vào ngôi nhà em bị giam giữ…

Trong lời khai với cảnh sát, Hiền nói rằng em vẫn không hiểu chính xác loại cây em trồng là cây gì, mặc dù em hiểu rằng nó rất có giá trị. Em chăm sóc đám cây, sử dụng thuốc trừ sâu khiến em bị ốm, và chỉ rời căn hộ khi em giúp chuyển các cây cần sa này tới nơi khác để sấy khô. Em bị khóa trong nhà, bị đe dọa, bị đánh đập và bị cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài.

Ảnh: theguardian

Ước mơ của đám trẻ con Việt Nam đang bị giam giữ trong những trang trại trồng cần sa, hay những nơi mua bán tình dục – nếu có – hẳn không phải là được “thong dong trên khắp nẻo phố châu Âu” (như chú mèo Glitter trong câu chuyện của Hoàng Giang) mà là được trở lại quê hương. Được “cơ cực ở nhà với mẹ suốt đời,” như nguyên văn tâm sự của một nhân vật (dẫn thượng) của nhà văn Tâm Thanh.

Chuyện hồi hương, buồn thay, cũng không dễ dàng chi – theo tường trình của thông tín viên Lê Hải, từ Luân Đôn:

“Khi đã vào đến nước Anh rồi thì tùy thuộc vào chính quyền Việt Nam có chịu nhận những người này về hay không. Thường thì số lượng người bị trục xuất về Việt Nam gia tăng khi giữa hai nước có các đoàn công tác cấp cao, và chính phủ Anh có thể đề nghị tăng viện trợ để đổi lại bằng chuyện Việt Nam nhận người về.”

Cách ứng xử của những người lãnh đạo ở Việt Nam hiện nay (Luân Đôn phải tăng viện trợ Hà Nội mới chịu nhận người về) dễ làm người ta liên tưởng đến lời lẽ cứng rắn trong bức thư mà ông Lý Quang Diệu gửi cho bà Thủ Tướng Anh, về vấn đề thuyền nhân Việt Nam, vào ngày 5 tháng 6 năm 1979. Xin được trích dẫn đôi dòng, theo bản Việt Ngữ của nhà văn Phạm Thị Hoài:

“Phải nói, phải nhắc đi nhắc lại, cho nhân dân và các nhà lãnh đạo trên toàn thế giới biết rằng chính quyền nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam chính là kẻ tích cực xúc tiến cuộc di tản ồ ạt này, gây thiệt hại nặng nề cho các nước Đông Nam Á…

Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời thu về thì rất nhanh.”

(People and leadears throughout the world must be told, again and again, that this is the government of the Socialist Republic of Vietnam which has actively promoted this massive migration, causing havoc to the countries of Southeast Asia…

They have cold, calculating minds, which, whilst incapable of compassion to their own people, are nevertheless most acute in computing cost-benefits.)

Nguồn: Margaret Thatcher Foundation

Từ 1979 đến nay là gần nửa thế kỷ. Trong khoảng thời gian này  đã có hai đợt di dân tập thể từ Việt Nam: thuyền nhân cũ và những thuyền nhân mới – ancient boat people and nouveaux boat people.

Giữa hai lớp người này có nhiều điểm dị biệt nhưng chính sách của nhà đương cuộc Hà Nội thì trước sau như một, hoàn toàn xuyên suốt và nhất quán: “Họ có đầu óc lạnh lùng tính toán, không hề biết động lòng với chính đồng bào mình, nhưng làm phép tính giữa chi phí và lời lãi thu về thì rất nhanh.”

Nói cho nó gọn thì đây là một hình thức buôn dân của giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nước họ còn dám bán thì buôn dân, tất nhiên, chỉ là chuyện nhỏ.

Chiếc Gương và Cửa Sổ

Chiếc Gương và Cửa Sổ

Có một phú ông tên Hạo Tường luôn cảm thấy trong cuộc sống của mình thiếu thốn một cái gì đó, nên ông quyết định lên đường tìm Thiền sư để tham hỏi.
Khi gặp Thiền sư: “Thưa ngài! Tôi có rất nhiều tiền, muốn thứ gì thì có thứ đó nhưng lại không cảm thấy vui và hạnh phúc được”. Vị thiền sư mời ông ta đứng trước một cửa sổ được làm bằng kính và hỏi ông thấy được những gì qua ô cửa kính đó. “Dạ, con thấy những đoàn người tất bật, hối hả qua lại trên những con đường, có khi bằng phẳng, có khi gập gềnh, khúc khủyu nữa”
Thiền sư chẳng nói gì và mời ông ta đứng trước một chiếc gương soi, hỏi ông thấy gì qua chiếc gương đó. “Con thấy chính mình…”

Thiền sư ôn tồn nói: “Chiếc gương được làm bằng kính, cửa sổ cũng được làm bằng kính, nhưng cửa sổ thì trong suốt nên có thể thấy được bên ngoài, có thể nhìn được người, cảnh vật xung quanh ta nhưng chiếc gương thì phủ một lớp sơn phía sau hoặc một tấm gỗ nên chỉ có thể nhìn được mình mà thôi, khi trong con người mình có thể gỡ bỏ đi lớp sơn hay tấm gỗ kia thì lúc đó con sẽ nhìn thấy người khác, lúc con nhìn thấy người khác con sẽ cảm thấy hạnh phúc với những gì đang có”.

Lời bạn: Bạn có là người hạnh phúc không? hay là người luôn bận rộn với cuộc sống hiện đại này? Hoặc ta cảm nhận cuộc sống mình mỗi ngày một vui hơn? Mỗi ngày chúng ta chạy danh cầu lợi. Ở đâu đó, chúng ta đã có một góc của sự bình yên và hạnh phúc nhưng chưa bao giờ thay đổi góc độ nhìn để dung nạp, tha thứ cho người khác. Chỉ khi nào ta hiểu được hai chữ “dừng bước”. Ta đứng lại để tiếp nhận người khác đang tồn tại, họ hiện hữu trong sự tương quan của ta, ta dừng lại để nhìn, để hiểu và để thương. Khi thương được mọi người ta sẽ thương chính mình.
Huệ Thiện” (sưu tầm & chuyển ngữ)

Đại hội 12: Đảng của dân tộc hay hội kín của Mafia?

Đại hội 12: Đảng của dân tộc hay hội kín của Mafia?

nguyenhuuvinh

RFA

Cõ lẽ, trong suốt 12 kỳ Đại hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa có kỳ nào mà những sự kiện, những vấn đề liên quan đến Đảng CS nóng lên như những ngày này. Đó là cuộc đấu đá trong đời thực đã được phản ánh trên các mạng xã hội và sự hoảng hốt, hăm dọa cũng như những lời nói của quan chức, cách làm của đảng đã cho người dân thấy sâu sắc hơn nhiều điều cốt tử về bản chất của đảng là gì.

Đảng của nhân dân, của dân tộc?

Hệ thống tuyên truyền Cộng sản xưa nay chưa bao giờ ngớt đưa ra những lời tuyên bố rằng thì là “Đảng CSVN là đảng của dân tộc, của nhân dân”, là “đại biểu ưu tú” của nhân dân… Thôi thì đủ mọi loại ngôn từ đẹp đẽ như chính cái đảng này là của nhân dân vậy. Thậm chí, ngay trong cái gọi là Hiến pháp, Đảng CS còn được trịnh trọng ghi rõ rằng: “Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc…”

Vì vậy, nên Đảng mặc sức lấy tiền thuế của dân tiêu không cần ai cho phép.

Thế nhưng, đảng có phải của nhân dân? Của dân tộc hay không?

Hãy nhìn những gì đã diễn ra trong thời gian qua, câu hỏi này không khó xác định.

Khi trên Biển Đông, bọn bành trướng bá quyền Trung Cộng đã chiếm Hoàng Sa từ xa xưa, nay Trường Sa đang bị chiếm đóng, bồi lấp các đảo chìm thành đảo nổi, đưa hàng ngàn tàu thuyền, thậm chí là cả dàn khoan khổng lồ vào tận thềm lục địa Việt Nam khoan thăm dò dầu khí, ngư dân bị tàu Trung Cộng bắn giết trên biển… thì cả hệ thống đảng lãnh đạo tuyệt đối đến nhà nước Việt Nam hầu như im hơi lặng tiếng hoặc vài lời phát ngôn lấy lệ.

Điều đó ban đầu gây nghi ngờ cho dân chúng, thậm chí nhiều người nghĩ rằng chẳng có một cái đảng nào, một nhóm hội nào là của dân tộc, của đất nước lại có thể im lặng trước chủ quyền đất nước, lãnh thổ bị xâm lăng trắng trợn như vậy. Thậm chí, một số người còn nghi ngờ rằng chắc “đảng và nhà nước” đã có những phương án hữu hiệu để gìn giữ đất nước, non sông?

Thế nhưng, đến khi Nguyễn Phú Trọng, TBT đảng tuyên bố rằng “nếu có đụng độ trên Biển Đông, thì chúng ta có ngồi yên để bàn chuyện Đại hội Đảng được không”. Đến khi đó, thì mọi người mới giật ngữa mình khi biết sự thật đằng sau. Đó là Đảng chỉ lo việc lấy tiền dân cho cái Đại hội của đảng là quan trọng nhất, còn việc lãnh thổ, chủ quyền và tính mạng người dân chỉ là chuyện con tép con tôm.

Ngay lập tức, mạng xã hội đã đưa câu nói của Nguyễn Phú Trọng như một chủ đề nóng về bản chất của đảng là gì. Đọc những phản ứng của dân chúng trên mạng xã hội, chợt nhớ đến câu Kiều ngày nào:

Lời ngay, đông mặt trong ngoài,
Kẻ chê bất nghĩa, người cười vô lương !

Cũng vì thế, đảng đón tiếp Tập Cận Bình, tên trùm xâm lược bằng 21 phát đại bác chưa dứt và màn bắt bớ, giam cầm, đánh đập trấn áp người dân Việt để lấy lòng Tập Cận Bình chưa xong, thì họ Tập đã bắn lại cả hệ thống đảng và nhà nước Việt Nam bằng một khẩu siêu đại bác với câu nói khẳng định Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam là của Tàu ngay khi vừa cắp đít ra khỏi Quốc hội Việt Nam.

Tưởng rằng cái tát vỗ mặt đó sẽ làm tỉnh ngộ những người cầm quyền trong đảng CSVN, nếu đúng là đảng của dân tộc, của đất nước. Thế nhưng không, với đảng CSVN, thì những hành động xâm lược, những âm mưu và hành động giết chóc người dân của Tàu Cộng chưa là gì. Đảng vẫn coi kẻ thù của dân tộc, của nhân dân là bạn vàng của đảng.

Vì thế trước khi tổ chức Hội nghị Đảng, Nguyễn Sinh Hùng còn te tưởi chạy sang Trung Cộng để khấu đầu trước Mao Trạch Đông, kẻ đã đưa quân xâm lược Hoàng Sa của Việt Nam.

Có lẽ nhà cầm quyền Trung Cộng thấy rằng sự khinh bỉ, sự ngạo ngược của chúng chưa đủ cho đám cầm quyền CSVN thấy nhục, thấy hèn. Nên ngay sau khi Nguyễn Phú Trọng đón họ Tập, Nguyễn Sinh Hùng chạy sang Tàu về đến nơi, họ Tập đã cho hàng chục lượt máy bay bay qua không phận Việt Nam như chỗ không người. Và hành động của Việt Nam đối với việc này lại là sử dụng “Người phát ngôn” để rồi từ “quan ngại” đến “hết sức quan ngại” là coi như xong việc.

Điều này làm người ta nhớ lại hành động mới đây của Thổ Nhĩ Kỳ đã bắn rơi máy bay Nga khi chỉ mới xâm phạm không phận đất nước họ 17 giây. Sự so sánh đó, để thấy rằng đảng CSVN đang là của dân tộc hay của ai.

Với giặc thì vậy, còn với dân?

Nếu như trước đây, các Đại hội Đảng thường được kêu gào, tuyên truyền từ hàng năm trời trước đó, rồi đưa ra “Dự thảo Báo cáo chính trị” để hò hét “lấy ý kiến nhân dân” như những màn diễn hài hước. Thì lần này, Đảng coi như việc Đại hội là việc của một hội kín nào đó đang mua bán ma túy nào đó chứ nhân dân chẳng là gì và màn diễn đó không ồn ào như trước nữa.

Khi chưa đưa ra Dự thảo Báo cáo chính trị, đảng đã dọa dẫm người dân “lợi dụng khi góp ý”. Và cứ thế, đảng âm thầm muốn viết gì, nói  gì là coi như việc của mình.

Trong khi người dân được đảng hô hào “bám biển giữ chủ quyền” và bị giặc giết, cướp ngoài biển không ai hay, thì quân đội, cảnh sát được đảng lấy tiền dân nuôi béo lại được sử dụng để tập duyệt bảo vệ Đại hội đảng với hơn nửa vạn người cùng đầy đủ súng ống, đạn dược và các phương tiện thiết bị đắt tiền mà người dân một nắng hai sương nhịn ăn nhịn mặc để nộp thuế cho đảng mua.

Hài hước hơn nữa, các cuộc diễn tập đó, đảng ngang nhiên coi người dân là thù địch và là đối tượng cần trấn áp để cho Đảng được yên. Những người dân một thời theo đảng, cầm lá cờ đỏ chạy theo phục vụ đảng cung cúc, tưởng rằng đảng nói thật khi kêu gọi chống tham nhũng… nay được đảng chỉ thẳng mặt, vạch rõ tên là đối tượng phản động và trở thành đối tượng của hàng ngàn công an, bộ đội trấn áp không thương tiếc. Quy mô trấn áp được đưa ra là hàng ngàn người dân giương khẩu hiệu chống tham nhũng và khiếu kiện đất đai do bị nhà nước và đảng cướp mất.

Hẳn rằng, đảng đã biết rằng bây giờ đảng có trở mặt thì thằng dân bao nhiêu đời nay “dưới sự lãnh đạo sáng suốt” bằng nhà tù, súng đạn của cái gọi là “chuyên chính vô sản”, thì dân chúng vẫn đủ khiếp sợ, không dám mở mồm kêu la chứ chưa dám nói đến việc chống lại.

Còn lòng tin yêu của người dân với đảng như hệ thống tuyên truyền bao năm ra rả tâng bốc ư? Đã đến lúc đảng nắm chắc vũ khí, xây đủ nhà tù thì những điều đó đâu cần nữa. Mặc dù vậy, bộ máy tuyên truyền của đảng vẫn leo lẻo không ngượng rằng: “Nhân dân đã tin tưởng và trao quyền lãnh đạo cho đảng”.

Hỡi ôi, không rõ nhân dân trao cho đảng khi nào và trao bằng cách gì? Phải chăng, họ đã biến nghĩa của chữ “cướp” thành chữ “trao”?

Có lẽ trong lịch sử của Đảng CSVN, đây là lần đầu tiên, đảng hiểu rằng người dân không còn là của đảng, hay nói cách khác, là tự đảng biết rằng người dân đã biết đảng chẳng phải là của nhân dân. Và việc “bảo vệ Đại hội đảng được đưa ra quy mô như vậy đối với nhân dân là nhằm trấn áp lại nhân dân, đã làm cho người ta hiểu ra bản chất của đảng.

Điều này cũng dễ hiểu. Trong đời thường, khi một nhà nông tự biết mình không đủ chính nghĩa, không có sức mạnh của sự tin yêu, không đủ lòng tin vào hàng xóm, vào cộng đồng, thì việc tăng cường khóa cổng, hàng rào và nuôi thêm đàn chó là cần thiết.

Hội kín?

Thông thường, một việc làm chính nghĩa trong sáng và lành mạnh, thì người ta không ngại bất cứ một sự nhòm ngó hoặc chê bai. Trong khi đảng tự nhận là đầy tớ của nhân dân, phục vụ nhân dân. Lẽ ra đã là đầy tớ, thì mọi việc làm, hành động của mình phải được ông chủ cho phép sau khi báo cáo hẳn hoi. Nhưng, ở đây thì ngược lại. Mọi hành động của đám đầy tớ này là bí mật, những ông chủ chỉ đứng từ xa để nghe ngóng, để đánh hơi và dài cổ chờ đảng… diễn trò. Tất cả mọi hoạt động họp hành của đảng, đều được giữ kín như bưng trước mặt ông chủ của mình.

Theo dõi những hành tung của Đảng thời gian qua, người dân thấy đảng đang hành động như một Hội kín nào đó của một tổ chức mua bán ma túy hoặc giết người chứ không thể là của một đảng quang vinh, vi đại và là đại biểu trung thành của họ.

Những kỳ họp hành Hội nghị, đảng tuyên bố lập lờ rằng có những ứng cử viên “đặc biệt” để lại khóa sau. Rồi họp hành là tuyệt mật, là bảo vệ kín đáo từ lời nói đến việc làm, từ con người đến kế hoạch, chương trình…

Những cuộc Hội nghị Trung ương, người dân thường chỉ được nghe Tổng Bí thư đọc những lời lẽ tốt đẹp, thành công rực rỡ… và chấm hết.

Thậm chí, mới đây, đảng còn tuyên bố kỷ luật một số đảng viên đã làm lộ bí mật về nhân sự ở Đại hội đảng bộ huyện cho đảng viên khác biết, chứ chưa cần nói với người dân.

Vậy thì đảng đang làm gì và chọn những tên đầy tớ như thế nào, mặt mũi nó ra sao để “làm đầy tớ phục vụ người dân”?

Theo thông báo của đảng, những ngày tới đây, chỉ có hơn 1000 đảng viên, nhưng khi đảng họp, thì hàng loạt tuyến phố sẽ bị cấm, hàng loạt sinh hoạt, đời sống người dân sẽ bị ngưng trệ. Tất cả để bảo đảm cho đám đảng viên được yên tâm ngồi họp kín với nhau.

Quan sát những hành động của đảng chuẩn bị cho đại hội lần này, người dân không khỏi đặt ra câu hỏi: Đảng đang định diễn thêm những trò gì khi mà đảng đang giành lấy bằng được cái quyền lãnh đạo người dân?

Lẽ nào, cơ đồ đất nước này qua hàng ngàn năm xây dựng, giữ gìn và xây đắp bằng xương máu của bao thế hệ, tính mạng cả trăm triệu người dân hiện nay cả hiện tại và tương lai của họ, họ lại ngu xuẩn đưa đi giao cho một cái đảng mà mọi sinh hoạt, mọi việc làm như của một hội kín hoặc một đám mafia nào đó họ không thể biết?

Tôi không tin người dân Việt Nam lại ngu xuẩn đến thế.

Hà Nội, 13/1/2015. Ngày kết thúc Hội nghị Trung ương đảng thứ 14.

J.B Nguyễn Hữu Vinh

“Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?.

“Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?.

By Stephen B. Young

Ảnh của Toản Trần.

Stephen B. Young
Người Hoa Kỳ, hành nghề luật sư, thông thạo Việt ngữ (vợ người VN).
Không ngờ một người Mỹ lại rành lịch sử VN.
Bài được gởi qua email từ người bạn trong nước và dưới đây toàn bộ do ông tự viết, xin chia sẻ với mọi người.

PS: Share với mọi người ở trong và ngoài nước tham khảo. Xin cám ơn.

Mở đầu:
“..Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .
Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?..”

Ai thống trị Việt Nam ngày nay ?

Có một tổ chức hiện nay cai trị Việt Nam từ Lạng Sơn đến Cà Mau như là vua chúa Phong kiến ở Tàu hay ở Âu châu thời Trung cổ. Một bộ máy võ trang tập trung các quyền hành lớn trong tay; không được dân bầu lên, và dân tuyệt đối không có quyền kiểm soát hay phê bình. Tổ chức này mang tên là “Đảng Cộng Sản Việt Nam”.Nhưng, thực sự, tổ chức nầy có phải là một Đảng đúng nghĩa của một đảng hay không?

Đáng lẽ ra một Đảng chánh trị phải có một chánh nghĩa, một sức mạnh do một lý tưởng, một nền tảng triết lý hay lý thuyết, một khuynh hướng thể hiện nguyện vọng của đảng viên để hành động nhằm phục vụ đất nước và dân tộc của mình. Vì vậy, nếu cái gọi là Đảng Cộng Sản mà không phải là một Đảng đúng nghĩa, thì bộ máy đó là cái gi?

Một tập thể những người có chung một chí hướng tôn thờ người ngoài, một công ty làm ăn, một tổ chức mafia khai thác thị trường đất nước của họ chăng? Như vậy chúng ta có vài tiêu chuẩn để đánh giá cái gọi là Đảng Cộng Sản bây giờ, đó là một đảng phái hay chỉ là một bọn làm ăn thiếu lương thiện?

Tôi đồng ý đã có thời gian cái goi là đảng Cộng Sản ngày nay có những hoạt động như là đảng phái đúng nghĩa. Nhưng những hoạt động ấy tốt xấu, hay dở, có lợi hay có hại cho đất nước Việt nam là chuyện khác. Tôi nói đó là một “thứ đảng phái” vì lúc ấy đảng Cộng Sản theo ý thức hệ Mác-Lê, vận dụng chủ thuyết mác-lê làm cách mạng võ trang cướp chánh quyền thực dân. Tiếp theo, đảng cộng sản phát động cuộc cách mạng xã hội, tiến hành giai cấp đấu tranh, đấu tố địa điền chủ, ám sát công chức, trí thức, lãnh đạo tôn giáo, tịch thâu tài sản của người giàu có để sau cùng đưa giới lao động, những tên du thủ du thực, lên cầm quyền và khi vào Bộ chánh trị, lại lãnh đạo đất nước, dân tộc. Hành động của đảng cộng sản lúc đó có mục đích thi hành “chính nghĩa xã hội chủ nghĩa ” theo ý hệ Mác-Lê.

Nhưng từ lâu lắm rồi, cái gọi là đảng Cộng Sản không còn giống như trước đó nữa. Nó đã hoàn toàn biến chất để trở thành một cái gì khác hẳn. Tức nó không phải cộng sản, không mang nội dung mác-lê, không chủ trương giai cấp đấu tranh để tiến lên xã hội công bằng, người không bốc lột người, như kinh điển mác-lê dạy người cộng sản.

Cách đây vài năm, ông Đặng Quốc Bảo, Khoa giáo trung ương, trong một báo cáo phổ biến hạn chế cho đảng viên cao cấp, nói rằng “hiện tại đảng Cộng Sản không còn chính nghĩa chút nào vì thuyết Mác-Lê lỗi thời và cũng không đúng, không khoa học”. Theo ông Bảo, thì đảng cộng sản không nên áp dụng thuyết ấy nữa. Hai ông Mác và Lê đã nghĩ sai về vũ trụ, về trời đất, về đời sống nhân loại. Vậy người thông minh phải vứt bỏ chủ thuyết Mác-Lê.

Nếu ông Bảo đánh giá lý thuyết Mác-Lê đúng, thì đảng Cộng Sản không có một chính nghĩa nào để vẫn khẳng định tiếp tục đưa Việt nam đi theo con đường của mác-lê.

Vậy đảng cộng sản là cái gì? Chỉ là một tập hợp những người đầy tham vọng và quyền lực. Họ không khác gì một thứ giặc cướp đối với nhân dân. Ông Bảo nói thêm rằng “ tổ chức anh chị em cán bộ phải giữ quyền cai trị Việt Nam vài năm nữa, vì nếu không có một lực lượng mạnh giữ ổn định chính trị xã hội, thì nước sẽ loạn và dân sẽ khổ ”.

Lấy sự ổn định làm chính nghĩa của mình không có ý nghĩa tốt đẹp vì hoàn toàn thiếu thuyết phục. Chính nghĩa ổn định, nhiều người bình thường có thể nói và thi hành. Cần gì phải có cái gọi là đảng Cộng Sản với 3 triệu đảng viên, với vai trò lãnh đạo toàn diện đất nước và xã hội ? Quân Đội làm được. Phật Giáo làm được. Việt Quốc làm được. Ai cũng hy vọng làm được. Cái gọi là đảng Cộng Sản không thể tự cho là chỉ có họ mới làm được.

Theo tuyên truyền của đảng cộng sản, trong quá khứ, họ có công đức lớn để đứng trên và trước mọi người khác. Tức họ cho rằng họ có vai trò lịch sử Có đúng như vậy không?

Để trả lời, giờ đây, Bộ Chính Trị hãy tổ chức gọi hồn các đồng chí của họ đã chết, chết vì hi sinh hay chết oan vì đảng cũng được, để hỏi công việc đảng làm. Rồi, có lẽ họ nên gọi hồn để hỏi cái gọi là đảng cộng sản thật sự có công đức với dân tộc Việt Nam hay không? Rồi, họ có thể gọi hồn để hỏi đảng cộng sản tại sao ngày nay vẫn nói đi theo mác-lê, mà trên thực tế không thấy xã hội việt nam chuyển biến theo mô hình” chính nghĩa Mác-Lê.” một chút nào nữa. Vậy thì cái đảng này nên tự giải tán, và có mang tội với đất nưóc, với dân tộc không?

Chúng tôi cũng có thể gọi hồn như Bộ Chính Trị. Chúng tôi có thể gọi hồn các vị cũng nằm xuống, vì nhiều lý do khác nhau, hỏi họ về công đức của cái gọi là đảng Cộng Sản.

Thí dụ, hỏi Đức Huỳnh Giáo Chủ của Phật Giáo Hòa Hảo, hỏi ông Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc Dân Đảng , ông Lý Đông A, Thư ký trưởng Đảng Duy Dân, các nhân sĩ yêu nước Ngô Đình Khôi, Nguyễn văn Bông, Tạ Thu Thâu, Nguyễn An Ninh, Hồ văn Ngà, Phan văn Hùm, Nguyễn văn Sâm, … và những người dân Huế chết hồi Tết Mậu Thân, vân, vân, … cho đến 1 ,2 triệu người Việt nam bình thường khác, chết trên biển cả, trong rừng sâu, trong các trại tù rải rác khắp cả nước.

Gọi hồn tất cả những người này về và lắng tai nghe họ nói số phận của dân tộc Việt Nam từ khi Đảng Cộng Sản vận dụng “chính nghĩa Mác-Lê” để cướp lấy quyền lãnh đạo đất nước và giử độc tôn cho đảng .

Xin trả lời: Công đức ở đâu?

Bằng chứng thứ hai cho thấy cái gọi là đảng Cộng Sản là một đảng thì đảng ấy có hành động cụ thể như thế nào? Ngoài sự hiểu biết, sự suy nghĩ, sự tính toán của con người, các hành động của người đó phải cho chúng ta thấy rõ, một cách minh bạch, để kết luận người đó tốt hay xấu, giỏi hay dở, đạo đức hay gian ác, cần tồn tại hay nên vứt đi thôi ?

Cái gọi là đảng Cộng Sản đó, cách đây 8 năm, đã tự động hiến dâng đất đai của tổ tiên để lại cho Bắc Triều mới . Và cả biển nữa! Tại sao?
Để đáp ứng sự đòi hỏi của Bắc Triều mới? Phải.

Ở điểm này, chúng ta hãy nhìn rõ. Cái gọi là đảng Cộng Sản đó vì nhu cầu tồn tại đã dâng đất, dâng biển cho Bắc kinh. Đây là nhu cầu sanh tử. Đảng cộng sản phải làm một việc tội lỗi như vậy chỉ vì đảng lo sợ nhân dân Việt nam hỏi tội của họ đối với tổ quốc và nhân dân từ trước đến giờ. Mà nhân dân hỏi tội có nghĩa là đảng sẽ bị mất quyền cai trị. Hoặc một vụ Thiên An Môn Việt Nam sẽ xảy ra . Trước nỗi ám ảnh mất quyền lực, đảng cộng sản cần sự ủng hộ, sự tiếp tay của Bắc Triều mới, mặc dầu có tổn hại đến quyền lợi tối thượng của Quốc gia.

Như vậy đảng cộng sản ở Hà nội không thể tự cho là một đảng có chính nghĩa yêu nước được, mà phải bị kết án là một đảng bán nước mới đúng.
Nếu đảng Cộng Sản Hà nội chuyên tâm phục vụ cho đòi hỏi, tham vọng của Bắc Triều mới, thì Việt nam tất nhiên phải lâm nguy làm thân nô lệ cho Hán Tộc. Nếu chỉ có riêng cái đảng cộng sản làm nô lệ Hán tộc thì chúng ta hà tất phải tốn lời.

Thực tế ở Việt Nam cho ta thấy công an, tình báo của Việt Nam đều do công an, tình báo Trung Quốc đào tạo và cố vấn. Nhờ đó mà công an, tình báo Hà Nội mới có đủ bản lãnh đàn áp những người dân chủ ở Việt Nam, đàn áp dân oan nạn nhân của những vụ đất đai bị đảng cộng sản tước đoạt, đàn áp những vụ biểu tình chống Trung quốc xâm chiếm đất đai bằng vũ lực và thô bạo.

Nhìn lại lịch sử Việt nam thì từ thời Ngô Quyền đến nay, chỉ có vài nhà vua Việt nam theo Bắc Triều một cách xấu hổ như vậy. Có Nhà Mạc phải xin sự ủng hộ của Hoàng đế phương Bắc để đối phó với Nhà Lê. Có vua Lê Chiêu Thống xin Trung Quôc gởi binh qua Hà nội để đánh anh em Nhà Tây Sơn. Có vua Gia Long và Minh Mạng lấy y thức hệ Tống Nho của Nhà Thanh bên Tàu để làm nền tảng đạo lý xây dựng uy quyền cho Nhà Nguyễn . Nhưng các ông vua này không làm mất đất, mất biển vào tay ngoại bang chỉ vì quyền lợi riêng tư như đảng cộng sản ngày nay.
Cầu viện thường hay lệ thuộc tư tưởng của kẻ khác, khó tránh khỏi bị dẩn đến mất chánh nghĩa quốc gia. Phải chăng vì thế mà Nhà Mạc đã không thắng Nhà Lê, vua Lê Chiêu Thống thua Quang Trung Nguyễn Huệ. Riêng Nhà Nguyễn vì chọn lựa sai lầm học thuyết lỗi thời mà cứ khăng khăng ôm giữ nên thua người Pháp. Tức một thứ lệ thuộc tư tưởng. Khi có được chỗ dựa mạnh là Bắc kinh, cái gọi là đảng Cộng Sản sẽ đánh bại được toàn dân Việt Nam chăng? Tức đảng cộng sản vĩnh viễn đàn áp, bốc lột nhân dân chăng?

Mới đây khi nghe tin Bắc Kinh tổ chức Hoàng Sa và Trường Sa trở thành môt đơn vị hành chánh mới trực thuôc Tỉnh Hải Nam, lập tức xảy ra nhiều cuộc biểu tình của dân chúng thanh niên, sinh viên ở TP Hồ Chí Minh, ở Hà nội, chống chánh sách xâm lược của Trung Quốc. Cái gọi là Đảng Cộng Sản không dám lên tiếng phản đối kẻ cướp đất, trái lại thô bạo đàn áp dân chúng công khai bày tỏ lòng yêu nước. Khí thế của nhân dân Việt Nam bây giờ làm cho đảng cộng sản Hà Nội bắt đầu lo sợ. Nếu đảng cộng sản khôn ngoan thì hãy thấy ở đây, tức ở nhân dân, mới là chỗ dựa vững chắc hơn thế của Trung Quốc.

Nhưng cái gọi là Đảng Cộng Sản nghe theo ai?

Buồn mà nói. Vì nói cho đúng thì phải nói lớn và nói rõ phe nhóm cai trị Việt Nam hiện nay là một bọn Hán Ngụy. Tiếc vì chúng tôi biết chắc chắn có nhiều đảng viên của cái gọi là Đảng Cộng Sản không muốn như vậy. Họ thương dân, yêu nước thật lòng. Nhưng họ lo sợ, có thể vì bất lực, cho sự an nguy của bản thân và gia đình trước những thủ đoạn khéo léo, gian ác, đê hèn của lực lượng Công An, Tình Báo đang có mặt khắp nơi rình rập.

Bọn Hán Ngụy thật sự không có nhiều người, nhưng họ có thế mạnh và nhiều tiền bạc. Họ quyết tâm giữ quyền lực cai trị đất nước mãi mãi. Họ sẽ làm cái gì phải làm để không mất địa vị cầm quyền, tức quyền làm ăn, làm giàu của họ.

Lệ thuộc Bắc Kinh, đối với họ, là một giá phải trả, họ chấp nhận trả, để có phương tiện ổn định xã hội chính trị Việt nam, tức duy trì chế độ độc tài toàn trị. Ổn định là cho quyền lợi của họ. Đất nước đối với họ chỉ là phương tiện trao đổi. Trung Quốc có một triết lý bình định thiên hạ từ đời Tần Thủy Hoàng. Ông ấy lấy ý kiến của phái Pháp Gia gồm lý thuyết âm dương, ngũ hành để kiến tạo thái hòa. Làm chính trị như vậy không theo sự giảng dạy của Khổng Mạnh, trái lại, đưa ra chính sách đại đoàn kết, giữ phép nước dưới sự lãnh đạo đọc tôn theo một vị hoàng đế. Đó là thuyết của Mặc Địch.

Cái đạo chính trị này – “ hoàng đế chính thuyết ”– là lý thuyết xây dựng xã hội không cần nghe ý dân. Đi từ trên xuống, không phải từ dân lên. Ngày nay là tập trung dân chủ, tức dân chủ xã hội chủ nghĩa và tư tưởng Hồ chí minh. Hoàng Đế nghe trời, ra lịnh và thiên hạ phải tuân theo. Dân không nghe theo thì sẽ bị phạt, nặng nhẹ tùy theo mức độ của sự phản bội, bất hiếu đối với chế độ.

Một ông Hoàng Đế không cần đức, không cần uy tín mà vẫn giữ được ổn định xã hội. Hiếu nghĩa thay thế nhân nghĩa. Cấp trên nói cái gì thì cấp dưới vâng dạ theo răm rắp. Nói vô phép, mất dạy, thì bị phạt, không được phần thưởng.

Đạo làm hoàng đế có mục đích lấy ý trời và qua cơ cấu hành chánh, ép thiên hạ vâng lệnh làm theo ý đó, mặc cho họ muốn hay không.
Trong lịch sử Việt Nam, các Nhà Lý, Trần và Lê không lấy đạo Hoàng Đế của Bắc Triều để trị dân. Nhà Lý và Nhà Trần theo đạo Phật. Nhà Lê cho đến Vua Lê Thánh Tôn theo quan điểm nhân nghĩa do Nguyễn Trãi viết ra.

Vua Lê Thánh Tôn bắt đầu theo chủ nghĩa Bắc Triều , tức lấy Tống Nho bênh vực ngôi vị Hoàng Đế một cách mù quáng với đạo hiếu nghĩa cha mẹ, vua chúa. Đến Nhà Mạc, Chúa Trịnh, thì ảnh hưởng Tống Nho ở cấp quan văn và các đại gia đình quan chức mở rộng. Nhà Nguyễn áp dụng Tống Nho và quan điểm hoàng đế, đưa triều đình Huế đi theo gương Nhà Thanh bên Tàu.

Trước đây, cái gọi là đảng Cộng Sản chụp mũ những người Việt nam không Cộng Sản mà hợp tác với Mỹ Quốc để giữ độc lập cho miền Nam Việt Nam là “Mỹ Ngụy” .

Bây giờ, nhìn về quá khứ thì chúng ta có thể đánh giá ai có công lớn hơn cho Dân Tộc Việt nam: “Mỹ Ngụy” hồi đó hay “Hán Ngụy” bây giờ?

Người Mỹ khi họ giúp các Chính Phủ Việt nam Cộng Hòa, khi họ làm cố vấn cho Chính phủ và quân đội quốc gia, họ thật sự muốn gì? Họ khuyến khích người Quốc Gia làm gì? Họ đòi hỏi Chính Phủ Sài gòn có chính sách nào?

Nói chung, người Mỹ từ Tổng Thống Eisenhower cho đến Tổng Thống Nixon, từ Đại Sứ Elbridge Durbrow cho đến Đại Sứ Ellsworth Bunker, tất cả đều yêu cầu Chính Phủ Sài gòn lo cho dân, áp dụng chế độ hiến trị, tổ chức các cuộc bầu cử từ xã ấp đến trung ương, trong sạch, dân chủ, cải cách ruộng đất, phát triển kinh tế, mở rộng giáo dục theo tôn chỉ “nhân bản, khoa học, khai phóng ” …Đối với Mỹ thì ý dân là hơn ý trời. Mỹ không bao giờ theo “ hoàng đế chính thuyết ”.

Như vậy làm “Mỹ Ngụy” là chọn phương pháp lo cho dân, cho quê hương Việt Nam, cho văn hóa, đạo đức dân tộc. Người Mỹ đến Việt Nam, không ở lại Việt Nam. Và “dân ngụy.” không hiến dâng đất dai, biển cả cho ngoại bang. Hơn nữa, trong lịch sử, người Mỹ không làm thuộc địa, không làm Thái thú, chỉ làm bạn đồng minh giai đoạn.

Còn người Việt nào bây giờ làm Hán Ngụy thì phục vụ ai? Họ có lo sợ số phận Tổ quốc của họ không? Hay chỉ có chung một thứ tập hợp những người cùng chí hướng tôn thờ quyền lợi bản thân mà thôi?

Stephen B. YOUNG

Đại hội 12 ‘sẽ đổi cán cân quyền lực’

 Đại hội 12 ‘sẽ đổi cán cân quyền lực’

BBC

Một nhà ngoại giao Mỹ đã nghỉ hưu, thường viết về chính trị Việt Nam, nhận định với BBC rằng Đại hội Đảng Cộng sản XII hứa hẹn “thay đổi”.

Ông David Brown là viên chức ngoại giao từng làm việc ở đại sứ quán Mỹ tại Sài Gòn trước năm 1975.

Hiện đang ở thăm Hà Nội trong lúc diễn ra Hội nghị Trung ương 14, ông trả lời phỏng vấn của BBC qua email hôm 13/1.

Đầu tiên ông cho biết không khí và sự quan tâm chung đến sự kiện chính trị này tại thủ đô Việt Nam.

David Brown: Tại Hà Nội, người dân thảo luận nhiều. Có cảm giác lan rộng rằng Đại hội Đảng XII có thể đem đến thay đổi đáng kể trong cân bằng lãnh đạo, có thể rồi sẽ dẫn tới những chính sách hiệu quả hơn.

Tầm mức bàn luận lan rộng chưa từng thấy cũng thể hiện qua các bài blog trên mạng và Facebook.

BBC: Vì sao ông cho rằng đây sẽ là Đại hội Đảng có ảnh hưởng to lớn nhất trong hai thập niên?

Ông David Brown đi du lịch Việt Nam

Ba lần đại hội trước chỉ luân chuyển các vị trí trong Đảng với mục tiêu cân bằng quyền lực, chứ không tính đến thay đổi.

Đại hội 12 quan trọng vì thay đổi có thể xảy ra. Ông Nguyễn Tấn Dũng đã phá vỡ mọi quy tắc trong nỗ lực chi phối cả đảng và nhà nước. Ông tập hợp được người ủng hộ chiếm đa số trong Ban chấp hành Trung ương hiện tại. Ông tạo cho mình nhãn hiệu là một nhà cải cách tương đối.

Nếu ông Dũng thành công trong nỗ lực trở thành Tổng bí thư và có thể quyết định vị trí Thủ tướng, Việt Nam sẽ có thể thực thi các cải tổ kinh tế từ lâu bị ngăn chặn. Nói ngắn gọn là từ bỏ “chủ nghĩa xã hội theo cơ chế thị trường” và tập trung cho quản lý kinh tế tốt, thay vì tham gia vào nền kinh tế.

BBC: Cho đến khoảng hai tháng trước, dường như đa số nhà quan sát nghĩ rằng Thủ tướng Dũng sẽ được tái cử để thành Tổng bí thư. Hiện tại, lại có cảm giác thách thức cho ông Dũng to lớn hơn người ta tưởng. Ông có ngạc nhiên không?

Như có thể tiên liệu, chiến thuật của ông Dũng không được lòng của một khối đáng kể các đảng viên kỳ cựu. Có ý kiến nói ông ấy không thực sự trung thành với việc duy trì kiểm soát của Đảng đối với mọi tầng nấc quyền lực. Thành ra không ngạc nhiên khi xảy ra phản ứng “ai lên cũng được, trừ ông Dũng”.

” Nếu ông Dũng thành công trong nỗ lực trở thành Tổng bí thư và có thể quyết định vị trí Thủ tướng, Việt Nam sẽ có thể thực thi các cải tổ kinh tế từ lâu bị ngăn chặn.

David Brown”

BBC: Với các chính khách Mỹ trong năm bầu cử tại Mỹ này, họ có quan tâm ai sẽ lãnh đạo Việt Nam từ 2016?

Không. Nhưng người ta sẽ chú tâm đáng kể về chính trị Việt Nam nói chung và ý chí thực hiện cam kết của các nhà đàm phán về TPP, khi TPP được đưa ra trước Quốc hội Mỹ để xin thông qua cuối năm nay.             

Chọn Ai Giữa Ba Người ?

Chọn Ai Giữa Ba Người ?

 Đang lái xe trong một chiều tối gió bão, bạn đi ngang qua một trạm xe buýt dựng bên đường với bốn bức vách mỏng manh và một mái nhỏ che trên nóc.  Bạn thấy có ba người đang ngồi đợi xe trong gió lạnh, mưa ướt:

  1. Một bà lão rất yếu ớt, dường như sắp chết.
  2. Một người bạn cũ đã từng cứu sống bạn.
  3. Người trong mộng của bạn – người mà bạn từng mơ ước về một Happy Ending.

 Bạn sẽ làm gì ? Bạn sẽ chọn ai giữa ba người này để giúp đỡ ?

Vì xe bạn chỉ có thể chở duy nhất một người, bạn sẽ chọn ai ?

Hoàn cảnh khó xử này đã được dùng trong một cuộc phỏng vấn xin việc làm để xem những người dự tuyển xử lý ra sao.  Hãy dừng lại và suy nghĩ trước khi bạn đọc tiếp…

  1. Bạn có thể chọn bà lão, bởi vì bà ta sắp chết, do đó bạn nên cứu trước hết.
  2. Hoặc bạn có thể chọn người bạn cũ bởi vì anh ta đã từng cứu sống bạn và đây là cơ hội thích hợp nhất để đáp trả lại tình nghĩa năm xưa.
  3. Bạn vẫn có thể chọn người trong mộng vì có thể là bạn sẽ chẳng bao giờ còn cơ hội gặp lại người ấy nữa.

 Ứng cử viên được chọn trong số 200 người dự tuyển đã không khó khăn gì để đưa ra câu trả lời của mình.

ANH TA ĐÃ NÓI GÌ ?  ANH TA ĐƠN GIẢN TRẢ LỜI RẰNG:

 “Tôi sẽ đưa chìa khoá xe hơi của mình cho người bạn cũ để anh ta đưa bà lão vào bệnh viện.  Còn tôi sẽ ngồi lại cùng đợi xe buýt với người trong mộng của cuộc đời tôi!”

  • Thế đấy, chúng ta cứ ngồi nghĩ đi nghĩ lại… đắn đo xem nên chọn ai đây… trong khi chúng ta sẽ nhận được nhiều hơn nếu chúng ta biết cho đi và phá vỡ những giới hạn nhỏ bé tự mình đặt ra.

“Bởi vì khi cho đi là người ta được lãnh nhận”

(Kinh Hoà Bình của thánh Phanxicô)

  Sưu Tầm và Tổng Hợp

 Tìm Hiểu thêm:

http://www.simonhoadalat.com/giaoducgd/SuyTu/64KinhHoaBinh.htm

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi