Quyền lực thuộc về dân

Quyền lực thuộc về dân

Đôi lời: Hoan hô báo GDVN, một tờ báo “lề phải” dám đăng bài viết này! Trích: “Khi lòng dân dậy sóng, sức dân có thể cuốn phăng tất cả những gì được xem là rào cản của quyền lực nhân dân. Sức mạnh của lòng dân là sức mạnh của quy luật lịch sử.  Bất cứ lực lượng nào cũng có thể bị nghiền nát nếu là trở lực muốn ngăn cản hay quay ngược bánh xe lịch sử. Những kết quả khắc nghiệt, những kết cục bi thương của nhiều tổ chức, nhiều cá nhân có những “sai lầm lịch sử” đã minh chứng điều ấy”.

“Vì tham quyền cố vị mà chống lại sức mạnh của nhân dân thì ắt sẽ phải trả giá. Hành động thuận theo quy luật và ứng xử nhân văn thì chắc chắn luôn được lưu danh sử sách và đó cũng được xem là di sản quý giá để lại cho những thế hệ mai sau”.

___

GDVN

Ngọc Việt

2-2-2016

(GDVN) – Khi lòng dân dậy sóng, sức dân có thể cuốn phăng tất cả những gì được xem là rào cản của quyền lực nhân dân. Sức mạnh của lòng dân là sức mạnh của quy luật.

Truyền thông quốc tế ngày 1/2 đưa tin, Quốc hội mới của Myanmar được bầu ngày 8/11/2015 đã nhóm họp lần đầu tại thủ đô Naypyidaw hôm qua. Đây là lần đầu tiên trong hơn 50 năm qua tại đất nước này có một Quốc hội được dân bầu và đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ (NLD) của lãnh tụ Aung San Suu Kyi chiếm đa số ghế tại cơ quan lập pháp Myanmar.

Nền chính trị tại Myanmar đã đổi thay theo nguyên tắc dân chủ, quyền lực đã thuộc về những người được nhân dân Myanmar lựa chọn để trao gửi niềm tin và khát vọng của họ. Đất nước Myanmar đã thật sự chuyển mình sau chiến thắng lịch sử của NLD trong một cuộc bầu cử tự do.

Dư luận thế giới hướng về Myanmar với những kỳ vọng tích cực và hy vọng yên bình ở nơi mà chế độ quân phiệt được thay thế bằng nền dân chủ một cách hòa bình với đầy những nghĩa cử nhân văn. Nơi mà lợi ích dân tộc và chủ quyền quốc gia được tôn trọng và là nền tảng cho mọi quyết định đổi thay.

H1

Lãnh tụ NLD Aung San Suu Kyi tham dự phiên họp đầu tiên của Quốc hội mới Myanmar. Ảnh: EPA.

Nghị sĩ Nyein Thit thuộc NLD đã nói với hãng tin AFP rằng: “Chúng tôi sẽ làm việc để có được nhân quyền và dân chủ cũng như hòa bình cho đất nước chúng tôi”.

Với phiên họp đầu tiên của Quốc hội mới sau bầu cử, người ta nhìn thấy những giá trị của nền dân chủ được nuôi dưỡng dưới chính quyền của Tổng thống Thein Sein đã được đảm bảo và trở thành nguyên tắc nền tảng cho mọi sinh hoạt chính trị tại Myanmar.

Tuy nhiên, theo người viết thì những gì diễn ra trên đất nước Myanmar có ý nghĩa không chỉ là một sự đổi thay chính trị – xã hội tại đất nước này.

Chiến thắng của nền dân chủ trước chế độ quân phiệt tại Myanmar còn là sự khẳng định những nguyên lý, nguyên tắc mà con người phát hiện ra, xây dựng nên làm nền tảng cho mọi họat động chính trị nhưng đã bị xóa nhòa ở nhiều nơi, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Myanmar dưới chính quyền quân sự trong hơn nửa thế kỷ qua.

Quyền lực luôn thuộc về nhân dân

Những nhà chính trị học và xã hội học xây dựng nên các khái niệm của phạm trù quyền lực, đã rất khoa học và thực tế khi xác định quyền lực thuộc về nhân dân. Cho dù quyền được xác lập bởi luật pháp, lực là sức mạnh của lòng dân, nhưng thực ra nền tảng của quyền lực đều là sức mạnh của nhân dân thông qua thực thể chính trị đại diện là nhà nước.

Có nhiều học thuyết chính trị cho rằng, nhà nước là công cụ của giai cấp thống trị sử dụng để cai trị những giai cấp, những tầng lớp khác – gọi chung là tầng lớp bị trị. Theo người viết, đó là những lý luận thiếu thực tiễn và không phản ánh được bản chất của nhà nước – thực thể quan trong nhất của thể chế chính trị.

Nhà nước là cơ quan quyền lực của nhân dân. Đó là nguyên lý. Nhà nước không thể ra đời hay hình thành bất cứ lúc nào, như thế nào cũng được. Theo sự phát triển của lịch sử nhân loại, khi mâu thuẫn về lợi ích của con người trong chế độ công xã nguyên thủy không tự giải quyết được thì bắt đầu hình thành nên định chế đầu tiên được trao quyền phán xét người khác.

Nghĩa là một tổ chức có quyền lực hết sức sơ khai – cơ sở đầu tiên cho sự ra đời của nhà nước sau này – đã hình thành trong buổi ban đầu của văn minh nhân loại cũng đã xuất phát từ nhân dân và chỉ được nhân dân ủy thác thực hiện quyền lực. Điều đó cho thấy nhân dân là nhân tố quyết định quyền lực hay nói cách khác quyền lực luôn thuộc về nhân dân.

H1

Quyền lực luôn thuộc về nhân dân. Lực lượng cầm quyền chỉ được nhân dân ủy nhiệm nắm giữ quyền lực. Hình ảnh nhân dân Myanmar ủng hộ NLD. Ảnh: Reuters.

Do vậy, không thể có nhà nước của giai cấp thống trị hay quyền lực thuộc về lực lượng nắm quyền mãi mãi. Lực lượng cầm quyền chỉ được nhân dân ủy thác nắm quyền lực trong những giai đoạn nhất định thông qua những sự ủy nhiệm –  nguyên lý ban đầu cho các cuộc bầu cử phổ thông ngày nay – khi lực lượng cầm quyền có khả năng và điều kiện sử dụng quyền lực.

Tất cả những chế độ chính trị, những nhà nước ra đời không theo nguyên lý ấy đều không phải là nhà nước đại diện cho quyền lực của nhân dân – và đó chỉ là “cái gọi là nhà nước” mà thôi. Đó là kết quả của việc tiếm quyền, cướp quyền, dù trực tiếp bằng các cuộc bạo loạn lật đổ, đảo chính hay gián tiếp là những cuộc bầu cử mỵ dân, hình thức.

Một khi không đại diện cho quyền lực của nhân dân thì bất cứ chế độ chính trị nào, bất cứ hình thức nào của “cái gọi là nhà nước” cũng sẽ bị thay thế bằng sức mạnh của nhân dân. Còn việc điều đó diễn ra dưới hình thức nào, vào thời điểm nào sẽ phụ thuộc vào thời thế. Việc đổi thay chế độ chính trị tại Myanmar là một chứng minh rất rõ ràng cho nguyên lý ấy.

BBC ngày 1/2 dẫn lời ông Khin Maung Myint, một Nghị sĩ thuộc đảng NLD nói với AP: “Tôi không bao giờ tưởng tượng rằng đảng của chúng tôi sẽ có thể được thành lập chính phủ. Ngay cả công chúng cũng không nghĩ rằng Myanmar có thể có một chính phủ của NLD. Nhưng bây giờ điều đó đã là sự thật và nó giống như một cú sốc đối với chúng tôi và cả thế giới nữa”.

Nói tóm lại, một chế độ chính trị, một nhà nước ra đời theo nguyên lý, theo quy luật thì đương nhiên là cơ quan đại diện quyền lực của nhân dân, luôn được nhân dân tin tưởng và tôn trọng. Lực lượng cầm quyền sẽ có quyền và có lực nếu họ được giao nắm giữ quyền lực theo đúng cơ chế ủy nhiệm nhân dân – bầu cử tự do.

Tất nhiên, trong lịch sử nhân loại đã có nhiều sự “sai lầm lịch sử”, nghĩa là lực lượng cầm quyền không nắm quyền lực theo quy luật. Và khi nhân dân đứng lên đòi quyền lực thì sẽ xảy ra hai tình huống. Thứ nhất là lực lượng cầm quyền quyết tâm không từ bỏ quyền lực đã cướp được thì họ sẽ phải trả giá, sự súp đổ của chế độ Gaddafi tại Libya là một ví dụ điển hình.

Thứ hai là lực lượng cầm quyền thuận theo thời thế, hành động theo quy luật lịch sử thì họ sẽ không phải đánh đổi những gì thuộc về quyền con người của họ. Họ chỉ phải trả lại những gì mà họ “giữ”nhưng không được nhân dân “trao”. Và họ vẫn có thể được sự ủy nhiệm của nhân dân nếu họ có đủ khả năng, điều kiện thực hiện quyền lực và được nhân dân ủy thác.

Tổng thống Thein Sein và chính quyền quân sự tại Myanmar đã ngả theo hướng thứ hai khi họ thấy vai trò của họ được trao nắm giữ vận mệnh quốc gia diễn ra không theo cơ chế ủy nhiệm của nhân dân.

Họ đã tạo điều kiện cho quyền lực nhân dân được thể hiện và khẳng định – nghĩa là họ đã sáng suốt trong việc khắc phục “sai lầm lịch sử” tại Myanmar và họ được lịch sử ghi nhận công lao ấy.

Lịch sử luôn khách quan và công bằng

Cuộc bầu cử diễn ra tại Myanmar và mang lại chiến thắng lịch sử cho NLD là một sự khẳng định sức mạnh của lòng dân. Bên cạnh đó cuộc bầu cử còn khẳng định nhân dân rất khách quan khi thể hiện sức mạnh và quyền lực.

Nhân dân là chủ thể của lịch sử dân tộc, họ viết nên những trang sử oai hùng hay đau thương cũng đều rất công bằng với thực tế.

H1

Lịch sử luôn khách quan và công bằng với những ai hành động thuận theo quy luật. Ảnh: AP.

Khi lòng dân dậy sóng, sức dân có thể cuốn phăng tất cả những gì được xem là rào cản của quyền lực nhân dân. Sức mạnh của lòng dân là sức mạnh của quy luật lịch sử.

Bất cứ lực lượng nào cũng có thể bị nghiền nát nếu là trở lực muốn ngăn cản hay quay ngược bánh xe lịch sử. Những kết quả khắc nghiệt, những kết cục bi thương của nhiều tổ chức, nhiều cá nhân có những “sai lầm lịch sử” đã minh chứng điều ấy.

Tuy nhiên lịch sử cũng ghi nhận, nhân dân chưa bao giờ đứng về một lực lượng nào để làm hại những lực lượng khác, nếu những lực lượng ấy không có “sai lầm lịch sử” hoặc nhân văn trong việc sửa chữa, khắc phục những sai lầm của quá khứ.

Đã có bao cá nhân, bao tổ chức “lầm lỡ” được nhân dân tạo cơ hội để thể hiện mình xứng đáng là đại diện cho quyền lực của nhân dân.

“Quốc hội mới của Myanmar họp tại thủ đô Naypyidaw, bắt đầu bằng việc bầu Nghị sĩ U Win Myint của đảng Liên đoàn Quốc gia vì Dân chủ làm Chủ tịch như mong đợi và bầu Nghị sĩ U Ti Khun Myat của đảng Liên minh Đoàn kết và Phát triển (USDP), đảng được quân đội hậu thuẫn làm Phó Chủ tịch”, BBC ngày 1/2 đưa tin.

Những gì đang diễn ra trên đất nước Myanmar là sự khẳng định tính công bằng và khách quan của lịch sử. Khi lực lượng nắm quyền hiểu được quy luật lịch sử, hành động thuận chiều lịch sử thì nhân dân được yên bình, đất nước thanh bình và sức mạnh của chính quyền càng được khẳng định vì nó là tựu trung của niềm tin và khát vọng của nhân dân.

Tổng thống Thein Sein và chính quyền của ông đang thực hiện việc chuyển giao quyền lực cho chính quyền của NLD và bà Aung San Suu Kyi, dự kiến sẽ hoàn tất vào tháng 3/2016.

Thein Sein và một số thành viên chính phủ của ông có thể không tiếp tục tham gia vào đời sống chính trị tại Myanmar nữa, nhưng có lẽ không người dân Myanmar nào quên được công lao của họ.

Nền chính trị tại Myanmar nói riêng, xã hội Myanmar nói chung không thể cởi mở và bình yên nếu như chính quyền quân sự không nuôi dưỡng nền dân chủ.

Đất nước Myanmar không thể có được những nền tảng vật chất và những định chế căn bản cho việc phát triển nếu chính quyền quân sự “tham quyền cố vị” mà quyết tâm phá nát những gì đất nước Myanmar có được trong bao năm qua với tâm lý “không ăn được thì đạp đổ”.

Và cuối cùng lịch sử dân tộc Myanmar không phải được viết tiếp bằng những trang sử bi thương bởi xung đột xã hội, bởi mâu thuẫn đảng phái và bởi chính những ích kỷ nhỏ nhen trong những toan tính thấp hèn mà người ta có thể thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay, khi lực lượng cầm quyền quyết không từ bỏ quyền lực cho dù đã bị nhân dân tước bỏ.

Có thể thấy rằng, đây là nét nhân văn của một sự đổi thay mang tầm cỡ một cuộc cách mạng xã hội tại Myanmar –  một quốc gia nổi tiếng về bảo thủ và chính quyền quen sử dụng công cụ sức mạnh của thể chế vào việc đối phó với sức mạnh của nhân dân.

Tính nhân văn này được thể hiện bởi cả người về trước, kẻ về sau trong một cuộc bầu cử tự do để nhân dân Myanmar ủy thác quyền lực của họ.

Theo người viết thì giá trị nền dân chủ tại Myanmar, ý nghĩa của sự đổi thay tại Myanmar là nằm ở việc khẳng định giá trị những nguyên lý, nguyên tắc trong cơ chế thể hiện sức mạnh nhân dân. Điều đó được thể hiện đậm nét hơn, sâu sắc hơn ở tính nhân văn của nó được những người trong cuộc thể hiện và tôn trọng.

Vì vậy, mặc dù chính phủ mới tại Myanmar chưa được thành lập, những chính sách mới của NLD chưa được khẳng định trong đời sống xã hội tại Myanmar, nhưng điều đó không làm ảnh hưởng đến ý nghĩa của sự đổi thay ấy.

Bởi lẽ nguyên lý là bất biến, quyền lực nhân dân là vĩnh cửu, còn tất cả những vấn đề khác sẽ biến thiên theo thế và thời.

Ý nghĩa của việc đổi thay chính trị tại Myanmar là bài học rất quý cho những lực lượng cầm quyền, những chính quyền không được xem là đại diện cho quyền lực của nhân dân ở nhiều quốc gia trên toàn thế giới.

Vì tham quyền cố vị mà chống lại sức mạnh của nhân dân thì ắt sẽ phải trả giá. Hành động thuận theo quy luật và ứng xử nhân văn thì chắc chắn luôn được lưu danh sử sách và đó cũng được xem là di sản quý giá để lại cho những thế hệ mai sau.

MÙA XUÂN IM LẶNG TRONG ÐÔI GUỐC

MÙA XUÂN IM LẶNG TRONG ÐÔI GUỐC

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J.

Con cái đã quên, không còn ai nhớ đến đôi guốc mộc.  Sau đám tang của mẹ, mấy người con gom quần áo của bà đốt hết.  Riêng đôi guốc gỗ nằm nơi xó tường nên chả người con nào để ý.  Mấy tháng, kể từ ngày bà nằm trên giường bệnh, đôi guốc lúc bị đá vào xó tường này, lúc bị đẩy sang góc tối kia, đến độ người nhà không còn để ý nó là đôi guốc của ai.

Từ ngày theo người mẹ đó về nhà, đôi guốc giã từ những tháng ngày thong thả, mơ mộng trên quầy hàng.

* * *

Thủa xưa, khách vào ra, ngắm nghía, nâng niu, chủ hàng chẳng bao giờ để đôi guốc bám bụi.  Ðôi guốc chả phải làm gì, sống như thế thật nhàn hạ.  Nhưng nếu nghĩ cho cùng, cũng không thiếu nhàm chán, chả có gì mới mẻ trong cuộc sống cả.  Ðôi lúc, đôi guốc nghe như có hai tiếng nói thì thầm trong hồn nó.  Một là bảo nó cứ nằm yên ở đây cho nhàn hạ, hai là bảo nó hãy bỏ đây xuống đời tìm cho cuộc sống một ý nghĩa.

– Chả nhẽ cứ tiếp tục là đôi guốc nằm trên quầy hàng như thế này mãi sao?

Nó không phải là đồ trang sức, không phải là bức tranh cho người ta ngắm.  Có nhàn hạ, nhưng nằm mãi ở đây thế này nó bắt đầu thấy chán, càng ngày càng thấm thía những suy nghĩ về một cõi sống trên những nẻo đường của cuộc đời.  Nhưng mỗi khi nhìn đôi guốc dưới chân các bà mẹ, nó lại nghe tiếng nói khác thì thầm: “Vất vả quá!” Có đôi guốc sứt mẻ.  Có đôi guốc mòn xác xơ.  Ðiều đó làm nó nghĩ ngợi.

Ðời là một chọn lựa.  Cứ tiếp tục suốt đời giam mình ở đây hay bước xuống đường để ra đi đây đó? Sau cùng nó quyết định ra đi.

Một trưa xế nắng kia, có người thiếu phụ vào tìm mua đôi guốc.  Chủ hàng đem nó ra giới thiệu. Nhìn dáng người thiếu phụ, đôi guốc biết người đàn bà ấy thật thà, nhưng thấy dáng bà có vẻ nghèo. Những người nghèo thường vất vả.  Bước chân của người nghèo là bước chân khổ.  Làm thân guốc cho một người nghèo vất vả lắm.  Thật thà mà nghèo chắc cũng chả hạnh phúc.  Cuộc sống bây giờ chẳng ai quý người nghèo.  Càng suy nghĩ, đôi guốc càng lưỡng lự, cứ sợ người đàn bà ấy chọn mua mình.

Nó phân vân không biết có nên theo chân bà ta hay không.  Ðời luôn là phải chọn lựa như thế.  Vất vả, nghèo mà thật thà, đặc tính của người muốn mua nó có vậy thôi.  Ðôi guốc nghĩ thầm: “Ðến lúc muốn ra đi, lại gặp phải người đàn bà nghèo thế này.  Hay ta chờ một người đàn bà khác giàu có.  Theo chân người giàu sẽ sung sướng hơn?”

Trong lúc nó phân vân, người đàn bà cầm đôi guốc ngắm nghía, cho xuống chân ướm thử.  Một làn hương thơm huyền nhiệm toát ra từ đôi chân bụi đường.  Ðôi guốc vô cùng kinh ngạc, làm sao điều ấy có thể xảy ra được.  Nó đã được nhiều đôi chân đẹp ướm thử mà chưa bao giờ có hiện tượng lạ lùng như thế.  Phải là đôi chân dịu dàng mới toát ra vị thanh tao được chứ.  Ðôi chân trần của người đàn bà nhà quê mốc thếch.  Làm sao đôi chân lấm lem lại có thể toát ra một hương nhân đức kỳ bí được.  Nó không ngờ.  Ðiều huyền diệu ấy, tiếng lương tâm đôi guốc bảo cho nó biết rõ là đến từ lòng thật thà, bao dung, vất vả hy sinh của người mẹ kia.  Bấy giờ, nó hối hận vì quá vội nghi ngờ đánh giá khi nhìn sự nghèo khó bên ngoài.  Lòng hối hận ấy làm nó bừng lên một ước ao mãnh liệt là được theo chân bà. Linh tính cho nó biết nơi dấu chân người mẹ này có một thế giới huyền diệu.  Nhưng người mẹ băn khoăn đặt nó vào kệ gỗ vì bà không đủ tiền.

Ðôi guốc gỗ mím môi tiếc xót vì từng bị thử dưới bao đôi chân, chưa thấy bước chân nào kỳ lạ như bước chân của người mẹ này.  Giữa lúc nó muốn theo chân người đàn bà để khám phá thế giới linh thiêng kỳ bí đó, bà lại không đủ tiền mua nó.  Bà tần ngần đặt đôi guốc lại kệ gỗ.

Người chủ hàng chỉ bán rẻ những đôi guốc bị nứt thôi.  Ðôi guốc nghĩ thầm: “Hay là ta đánh đổi đời mình thành đôi guốc nứt?”  Nếu vậy, còn gì dáng vẻ, vì cả một đời sẽ mang dấu vết nứt đó.  Ðôi guốc suy nghĩ quay quắt về một chuyến đi trong đời.

Người đàn bà lại cầm nó trên tay, tiếc vì không đủ tiền.  Ðôi guốc giật mình nghĩ rằng đời không có nhiều cơ hội.  Nếu bà không đủ tiền mua nó, bao giờ bà sẽ quay lại?  Có thể sẽ không bao giờ.  Nếu bà đặt nó trở lại quày hàng, biết đâu nó sẽ vĩnh viễn không bao giờ gặp lại bà?  Nó lấy hết can đảm theo tiếng gọi thâm sâu của linh hồn, chấp nhận một thương đau cho khởi đầu một chân trời kỳ bí kia đang chờ đón.  Nó quyết định chấp nhận đời mình thành đôi guốc nứt.  Tức khắc, ngay khi quyết định xong, nó nghe như trong linh thiêng có một trận chiến vô hình.  Tiếng nói của Bóng Tối gục xuống.  Tiếng nói của Ánh Sáng bừng lên.  Cũng trong lúc ấy, như chiều cao thập giá đổ xuống, một vết thương xước ra, chạy dài toàn thân.  Nó ngất lịm.  Thế là nó thành một đôi guốc nứt.

Người đàn bà giơ lên nhìn kỹ.  Bà ồ lên một tiếng thở nhẹ, vui mừng vì một khám phá:

– Ông chủ tiệm ơi, nhìn kỹ đi, đôi guốc có vết nứt đây này.

Người chủ tiệm tiếc rẻ.  Ngần ngừ, ông đành bán tống nó đi.

Lúc tỉnh dậy, đôi guốc đã về đến nhà người đàn bà.  Bà xoa xoa vết nứt, tìm mũi đinh đóng lại.  Một lần nữa, nó đau buốt thân mình.  Nhưng trong mỗi nhát búa, nó thấy mùa xuân đang về trên những nhánh gai.  Nó bắt đầu cảm thấy ý nghĩa của nước mắt và hạnh phúc.  “Tôi sẽ theo chân bà ta đi đâu bây giờ?”  Trời đang vào hạ hanh nắng hay cúc vàng nhuộm xuân.  Nó hồi hộp tự hỏi.

Ngày hôm sau, ngay chuyến đi đầu tiên nó đã mệt rã rời.  Trời xuống tối, bà vẫn chưa về đến nhà. Quẩy gánh nặng trên vai.  Con đường cứ dài thăm thẳm, toàn thân mình đau ê ẩm.  Ðường đất miền quê sỏi đá gồ ghề, ngay chân bà cũng trượt té trầy da huống chi đôi guốc.  Nó bị nện xuống gập ghềnh. Như vậy mà đã từ bao lâu nay người mẹ này cứ bước chân không, nghĩ đến nỗi đau, nó thấy xót xa cho bà.  Nhìn xuống nỗi đau của mình, nó muốn chia sẻ với bà nỗi đau kia.  Lạ lùng quá, khi mới chợt có ý nghĩ ấy, nó thấy toàn thân nóng bừng, và trên nỗi đau nó thấy ý nghĩa ngọt ngào của hy sinh.

Qua một buổi chiều mà đôi guốc đã khám phá bao nhiêu bí mật đời sống dưới bàn chân một người mẹ:

– Hy sinh bao giờ cũng có hương thơm có thể bay ngược chiều gió.

– Chịu đựng bao giờ cũng cho tâm hồn nét đẹp cao thượng.

– Gánh nặng vì tình yêu luôn luôn đi đôi với sức mạnh.

– Thật thà là mật ngọt nuôi dưỡng bình an.

– Nhẫn nại là những đường may nối dài tình thương.

Quá mệt, đôi guốc ngủ thiêm thiếp lúc nào không hay.  Lúc ướt lạnh, nó co người rùng mình thì người mẹ đã đang ở bờ giếng kéo nước đổ vào nồi cám nấu cho heo.  Ðôi guốc bàng hoàng không biết trời đang vào khuya hay đã về sáng.  Chung quanh chỉ là đêm tối lần mò.  Nó lắng nghe bước chân. Người mẹ hết quanh quẩn trong góc bếp lại ra cầu ao.  Khuya thế này rồi sao bà không nghỉ ngơi?  Ðôi guốc mệt đừ.

* * *

Thời gian thấm thoát thoi đưa.  Thoát chốc đã đến ngày đôi guốc mòn quá rồi.  Bây giờ nó không còn là hình dạng đôi guốc ngày xưa trong cửa hàng nữa.  Xấu xí, lem luốc, nứt nẻ.  Nhìn lại quãng đời, đôi guốc không thể biết được nó đã bước bao nhiêu đường dài.  Nếu mỗi ngày bà mẹ quẩy gánh 10 cây số, thì 365 ngày một năm, đã trên 3 ngàn cây số rồi.  Trời ơi!  Ðôi guốc không ngờ nó đã đồng hành với bà trên một dặm đường dài hơn cả đất nước của người đàn bà như thế.

Ðôi guốc không hiểu sao nó có sức chịu đựng trung thành theo chân bà.  Nó còn nhớ ngày xưa nằm trên quầy tủ cửa hàng, mới chỉ nghĩ đến ra đi đã ngao ngán quá rồi.  Vậy đâu là sức mạnh?  Gần đến cuối đời, đôi guốc nhìn lại những bến bờ đã đi qua, nó thấy cộng lại những cây số ngàn ấy, không bước chân nào của bà mẹ không có tình thương.  Từ sớm tinh mơ đến tan chợ chiều, bà vất vả cũng vì các con mà thôi.  Từ đó, đôi guốc khám phá ra khi nó được chia sẻ đời nó trong tình yêu, tình yêu cho nó sức mạnh.  Bất cứ nơi nào có tình yêu thì có sức sống.  Bất cứ gỗ đá nào chạm vào tình yêu cũng thành trái tim mềm mại thiết tha.  Và nó hiểu, nó không đi tìm mùa xuân vì chính nó đang làm nên mùa xuân cho cuộc đời.

* * *

Thưa mẹ, con còn nhớ một đêm kia, khuya quá khuya, mẹ ngồi bên con, nhìn con trong cơn sốt.  Làm sao mẹ có đôi đũa thần của bà tiên quyền phép làm cho con hết cơn đau.  Mẹ cứ ngồi bên con vậy thôi.  Mẹ không an lòng rời xa con.  Mẹ đặt tay lên trán con chờ mong từng giây cho con hết bệnh.  Muốn uống một ly sữa, con chỉ cần đưa chiếc ly lên miệng uống là xong.  Bây giờ nhìn lại, con thấy đêm đó, khi chợt nghe con muốn một ly sữa, mẹ vội thắp thêm đèn, chiếc đèn dầu con tù mù, lệch kệch ra sau vườn kéo gầu nước, nhóm bếp củi mù than đun nước.  Mẹ hối hả không ngại ngùng gõ cửa hàng vào những giờ người ta không muốn thức giấc để mua, hòa cho con một ly sữa.

* * *

Sau khi bà mẹ chết, đôi guốc nằm im lặng nơi góc tường tối.  Không người con nào để ý.  Nó âm thầm một đời theo chân người mẹ, hy sinh, vất vả, chịu đựng.  Lúc người mẹ còn sống, đôi guốc đã âm thầm như thế.  Bây giờ bà chết rồi, nó vẫn tiếp tục cái âm thầm của bao tháng ngày về trước.  Chẳng lẽ bất cứ điều gì liên quan tới mẹ đều lặng lẽ như thế sao?

Tình yêu của những người mẹ dường như bao giờ cũng âm thầm.  Xin những người con hãy khua động tình yêu âm thầm ấy của mẹ bằng một cánh hoa linh hồn.

Kìa, ngoài kia đất trời đã đang chuyển mình tìm mùa xuân.

Lạy Chúa, con cũng đang đi tìm mùa xuân cho cuộc đời.  Chân đi trong đời để tìm mùa xuân nhiều khi rất đau.  Và bây giờ con hiểu, con nhớ tới đôi guốc của mẹ con.

LM Nguyễn Tầm Thường, S.J.

(Trích trong Cô Đơn và Sự Tự Do)

CÓ THỂ LÀ TỘI NHÂN, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC LÀ KẺ HƯ HỎNG

CÓ THỂ LÀ TỘI NHÂN, NHƯNG KHÔNG ĐƯỢC LÀ KẺ HƯ HỎNG

ĐGH Phanxicô

“Chúng ta hãy tha thiết nài xin Thiên Chúa để dẫu chúng ta có yếu đuối phạm tội nhưng đừng bao giờ trở thành những kẻ hư hỏng (corrotti), không cần đến sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.”  Đây là nội dung bài giảng của Đức Thánh Cha Phanxicô trong thánh lễ sáng thứ sáu, ngày 29.01, tại nguyện đường thánh Marta.

Khởi đi từ bài đọc một trích sách Sa-mu-en, thuật lại chuyện vua Đa-vít và bà Bát Se-va, Đức Thánh Cha đã phân biệt giữa tội nhân và kẻ hư hỏng.  Khác với những người hay phạm tội nhưng biết ăn năn, kẻ hư hỏng không còn cảm thấy cần sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.

“Con người có thể hay phạm tội nhưng luôn biết chạy đến với Thiên Chúa để chân thành nài xin sự tha thứ.  Chân thành nài xin chứ không bao giờ nghĩ rằng tự sức mình có thể đạt được sự tha thứ ấy.  Nhưng khi con người bắt đầu trở nên hư hỏng, không còn cảm thấy cần sự tha thứ; thì vấn nạn mới thực sự phát sinh.”

Tôi không cần Chúa

Đây là thái độ mà vua Đa-vít vướng phải khi vua say mê bà Bát Se-va, vợ ông U-ri-gia, một sỹ quan quân đội đang chiến đấu trên tiền tuyến.  Sau khi vua Đa-vít ăn nằm với bà Bát Se-va và biết rằng bà đã có thai, vua đã nghĩ ra những mưu kế để che dấu hành vi ngoại tình của mình.  Vua truyền cho ông U-ri-gia từ chiến trận quay về nhà để nghỉ ngơi và có thời gian gần gũi với vợ.  Nhưng ông U-ri-gia lại nghĩ rằng không nên về với vợ mà nằm ở cửa đền vua với tất cả các bề tôi của chúa thượng ông.  Kế hoạch không thành, Vua Đa-vít chuốc rượu cho ông U-ri-gia đến say khướt, nhưng âm mưu vẫn thất bại.

Như thế, vua Đa-vít đã rơi vào một tình huống khó khăn.  Nhưng chắc chắn rằng, vua vẫn có thể tự nói với mình: “Ta sẽ giải quyết được việc này.”  Vua đã viết thứ cho ông Giô-áp và gửi ông U-ri-gia mang đi.  Trong thư, vua viết rằng: “Hãy đặt U-ri-gia ở hàng đầu, chỗ mặt trận nặng nhất, rồi rút lui bỏ nó lại, để nó bị trúng thương mà chết.”  Vua Đa-vít nhất định khiến ông U-ri-gia phải chết.  Người lính can trường và trung thành này – trung thành với lề luật, với dân tộc, tổ quốc – đã phải mang lấy án tử bởi chính vị vua mà ông hết mực trung thành.

Tính “an toàn” của sự hư hỏng

Vua Đa-vít là thánh nhân nhưng cũng là tội đồ.  Vua đã sa ngã vì sự thèm muốn và khao khát nhục dục, nhưng Thiên Chúa vẫn rất yếu mến vua.  Vua Đa-vít cảm thấy an tâm, vì quốc gia đang hưng thịnh. Sau khi ngoại tình, với quyền lực của mình, vua đã làm mọi cách để đẩy người tôi trung đến cái chết, khi bỏ nó lại chiến trường nơi mặt trận nặng nhất.  Và cái chết vì gươm đao là chuyện vô cùng bình thường của nhà binh.

Sự kiện này xảy ra trong cuộc đời của vua Đa-vít khiến chúng ta cũng phải xem xét lại đời sống của mình: Liệu tôi có đang chuyển từ tội nhân đến một kẻ hư hỏng không?  Vua Đa-vít đã bước một chân lên nấc thang đầu tiên dẫn đến sự hư hỏng rồi.  Vua có quyền lực.  Vua có sức mạnh.  Và chính vì lý do đó, sự hư hỏng rất dễ xảy ra với chúng ta là những người có quyền lực, cho dù đó là uy quyền trong Giáo hội, tôn giáo hay trong kinh tế, chính trị…  Bởi vì, ma quỷ sẽ khiến chúng ta an tâm và tự nhủ: “Tôi có thể làm được.  Tôi sẽ giải quyết được mọi sự.”

Tội nhân, có thể chấp nhận; nhưng kẻ hư hỏng thì không

Sự hư hỏng – nhờ ân sủng Chúa, vua Đa-vít đã được giải thoát khỏi tình trạng này – đã làm thương tổn tâm hồn chàng thiếu niên anh dũng, người đã đối diện với tên Gô-li át khổng lồ và hạ hắn bằng một dây phóng đá cùng năm hòn đá cuội nhặt dưới suối.  Bởi vậy, hôm nay, tôi muốn nhấn mạnh với anh chị em một điều thôi:  Đôi khi chúng ta phạm tội hay đời sống của chúng ta quá an toàn, chắc chắn, chúng ta cảm thấy ổn vì có nhiều quyền lực; chính lúc đó sự hư hỏng sẽ bắt đầu.  Một trong những điều tồi tệ nhất mà sự hư hỏng gây ra là khiến người ta không còn cảm thấy cần sự tha thứ của Thiên Chúa nữa.

Bởi vậy, chúng ta hãy tha thiết cầu nguyện cho Giáo hội, cho Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, linh mục, các nam nữ tu sĩ và tất cả mọi tín hữu: “Lạy Chúa, xin cứu chúng con.  Xin cứu vớt chúng con khỏi sự hư hỏng.  Chúng con là tội nhân, nhưng lạy Chúa, xin đừng để chúng con trở thành những kẻ hư hỏng, không cần đến sự tha thứ của Chúa nữa.” Chúng ta hãy nài xin Thiên Chúa ân sủng này.”

ĐGH Phanxicô

Chuyển ngữ:  Vũ Đức Anh Phương, SJ

Tiếng hát liêu trai Thanh Thuý – 40 mùa xuân chưa quay về cố hương

Tiếng hát liêu trai Thanh Thuý – 40 mùa xuân chưa quay về cố hương

Cát Linh, phóng viên RFA
2016-01-31

  • RFA

Pic01.jpg

Nữ danh ca Thanh Thúy

Courtesy of www.thanhthuy.me

Your browser does not support the audio element.

Mời quí vị cùng Cát Linh nghe những ca khúc xuân và tâm tình của người nghệ sĩ đã trải qua 40 mùa xuân ở xứ người. Những ca khúc xuân bà đã từng hát luôn vang lên ở khắp nơi trong những ngày đón năm mới, dù là ở Việt Nam hay hải ngoại.

Tiếng hát liêu trai Thanh Thuý và 40 mùa xuân chưa quay về cố hương.

” Mình hát ra là mình rơi nước mắt, mình khóc. Mà ở dưới khán giả cũng khóc. Khi mình hát những bài về thân phận của người mất nước, người lưu vong. Cái cảnh đó rất là xúc động. Không bao giờ quên được những ngày đầu ở xứ người.”

“Trong thế gian đang vui mừng đón Xuân

Chắc nàng xuân năm nay đẹp bội phần

………………………………………….

Để cho đất nước vui trọn mùa xuân thắm xinh” (Tâm sự ngày Xuân)

“Cái cảm giác lúc đó nó quá buồn. Tại vì là ngày xuân nhưng đâu có ai thấy xuân đâu. Đi hát là ngày xuân đầu tiên của ngày tôi di tản qua Mỹ, nhưng thật sự những người dưới sân khấu nghe tôi hát cũng như tôi đứng hát trên sân khấu, nhưng mà cùng một tâm trạng là quá buồn. Đến nỗi mình hát ra là mình rơi nước mắt, mình khóc. Mà ở dưới khán giả cũng khóc. Khi mình hát những bài về thân phận của người mất nước, người lưu vong. Cái cảnh đó rất là xúc động. Không bao giờ quên được những ngày đầu ở xứ người.”

Xuân đầu tiên 1976, tha hương ngộ cố tri

Quý vị vừa nghe những lời tâm tình của nữ danh ca, Tiếng hát liêu trai Thanh Thuý khi nhắc nhớ lại ngày đầu tiên bà trình diễn cho khán giả của mình trên đất Mỹ, mùa xuân năm 1976.

Sau 40 mùa xuân xa quê, kể từ tháng Tư năm 1975, bà chưa một lần quay về quê hương. Cho dù, như lời bà kể, đã rất nhiều lần người ca sĩ rơi nước mắt khi đọc được, hay nghe được một lời nhắn gửi của khán thính giả yêu thương gọi mình quay về đứng hát trên quê nhà.

Nữ danh ca nhớ lại ngày đầu tiên hát cho khán giả của mình, ở một nơi không phải là quê hương, và lại là những ngày đầu năm mới, bà kể lại thế mà “lúc đó không có hát Xuân nhiều, chỉ hát bài Tâm sự ngày xuân, Chuyện buồn ngày Xuân. Sau đó là những bài như Vĩnh biệt Sài Gòn, gần như là những bài xa quê thôi.”

“Buồn lắm. Những ngày đó bên Seattle cũng có tuyết, lạnh lắm. Không một chút gì giống Việt Nam hết. Ở Việt Nam, những ngày Tết mình đi mua hoa, đi chợ Tết, mua sắm trái cây, mứt bánh để cúng giao thừa. những ngày tết cũng đi hát nhưng gần gũi với gia đình… Buồn lắm, không thể nào là nói giống được hết. Nó quá đau thương, chỉ có khóc. Không thấy mùa xuân là gì hết. Không có gì vui hết.”

“Sao anh đành bỏ em/Để ra đi một mình/ Giữa đêm sương lạnh lùng/ Chim xa bầy còn thương tổ ấm/ Huống chi người tội lắm anh ơi/ Xuân năm nào có nhau/ Mình chung ly rượu đào/ Mùi quê hương ngọt ngào…” (Chuyện buồn ngày xuân)

“Năm đó là năm đầu tiên, nên những người nhạc sĩ đặt những bài rất đúng tâm trạng, buồn lắm. Bữa đó hát cũng nhiều bài, mà phần nhiều là những bài xa quê hương, Sài Gòn niềm nhớ không tên, Quê hương bỏ lại…”

IMG_5796.JPG

Nữ danh ca Thanh Thuý và sáng tác của cố nhạc sĩ Anh Bằng

Có lẽ không phải chỉ riêng nữ danh ca Thanh Thuý, mà tất cả những người phải rời quê hương, đón Tết nơi đất khách năm đó cũng đều có chung một nỗi niềm. Sài Gòn những ngày cận Tết vẫn còn mới nguyên trong tâm trí của họ… nhưng thật ra là đã rất xa.

Xa từ tiếng pháo đì đùng khắp phố phường, đến xác pháo rơi vãi trong từng ngõ hẹp. Xa cả hình ảnh những cô thiếu nữ trong tà áo dài khoe sắc trong nắng xuân. Người nghệ sĩ, trong nỗi niềm nhớ cố hương khôn cùng, cố gắng mang lại cho khán giả của mình hơi ấm mùa xuân ngày cũ trên đất khách.

“Mùa Xuân mang cho thế gian giấc mơ thần tiên nhất đời

Đường xa thăm viếng nhau lời chúc Xuân tha thiết nghe tuyệt vời

Giàu sang đón mùa Xuân lâu

Nghèo không có mùa Xuân đâu

Hai kiếp đời người thì đỉnh núi kẻ thì vực sâu đớn đau…” (Mùa xuân hoa đào)

Khán giả là gia đình trong ngày xuân

“Sau đó tôi cũng đi hát nhiều lắm. Gần như Xuân nào cũng đi hết. Thành ra mình thấy ra đi là đi vậy thôi. Ở bên này có thấy gì là tết đâu. Vì Tết năm nào cũng phải rời xa gia đình để đi đến nơi khác chỗ mình ở là California. Năm nào cũng vậy, hát cho đồng bào mình nghe, hát cho khán thính giả mình nghe. Khán thính giả cũng cùng một tâm trạng với mình lúc đó. Lúc đó, người nào cũng đau buồn, nhớ nhà, nhớ những ngày xuân ở Sài Gòn, nó vui như thế nào. Tôi rất tiếc những ngày vui đó không còn nữa…”

“Nhặt cánh hoa vàng tim ngẩn ngơ

Ngoài hiên tin xuân đến bao giờ

Lòng thấy bồi hồi trong trí nhớ

Nàng Xuân sao vội đến

Không chờ không đợi một ai

Nào có vui gì để đón xuân

Mùa xuân năm nay thiếu ân tình

Từng cánh mai vàng trong xác pháo

Giờ đây đâu còn nữa

Những mùa xuân đẹp ngày xưa…” (Ngày về có tin xuân)

“Ngày về có tin xuân”, sáng tác của cố nhạc sĩ Anh Bằng là ca khúc xuân mà nữ danh ca Thanh Thuý đã thực hiện trong album nhạc đầu tiên sau khi đặt chân đến hải ngoại.

Rồi cứ từng mùa xuân trôi qua, người nghệ sĩ cùng với khán giả của mình nơi quê người mỗi năm “cùng nhau đón thêm mùa xuân”. Dẫu cho “xuân dù thay đổi biết bao lần” nhưng những hình ảnh yêu thương truyền thống của ngày Tết nơi quê nhà vẫn không phai mờ.

Thanh Thuý nói rằng những ngày xuân lưu diễn xa nhà, dù có buồn vì xa gia đình, người thân nhưng bà luôn thấy ấm cúng vì lúc đó, khán giả là tình thân.

“Tất cả những mùa xuân đó phải nói buồn thì buồn thật. Nhưng, phải nói là khán giả đến với mình rất dễ thương và đầm ấm. Coi như khán giả là những người trong gia đình của mình. Họ săn sóc từ những giọt nước mắt cho đến những cái bắt tay, những cái ôm, rồi an ủi nhau. Đó là hạnh phúc của mình đó. Tuy là buồn không được gần gia đình nhưng đó là những cái an ủi mình rất lớn.”

“Trên đường đi lễ xuân đầu năm

Qua một năm ruột rối tơ tằm

Năm mới nhiều ước vọng chờ mong

May nhiều rủi ít ngóng trông

Vui cùng pháo đỏ rượu hồng….” (Câu chuyện đầu năm)

40 mùa xuân trên đất khách

” Tôi cầu trời Phật, Thượng đế cho Việt Nam mình sống trong thanh bình, không còn những gì bất công, không vui nữa. Thiệt tình mà nói ai lại không muốn về. Nhưng bây giờ thì chưa được. Một ngày nào không còn vấn đề mất tự do như bây giờ thì tôi sẽ về. Nhưng ngày đó không biết mình còn sống hay không để về gặp những người thân thương của mình, khán thính giả của mình.”

Thế rồi sau bao nhiêu năm tự nhận là đã bôn ba rất nhiều, giờ đây, bà dành trọn những ngày Tết thiêng liêng cho gia đình, tình thân. Bà nói rằng mình đã có thể cúng ông bà và đón giao thừa với gia đình, nhưng điều mà mấy mươi năm qua, bà đã không có được trong những ngày đầu xuân. Nỗi đau buồn làm người ly hương trong mùa xuân đầu tiên đã nguôi ngoai được phần nào, mặc dù không thể nói là hết được.

“Khoảng 10 năm nay gần như không có Tết nào tôi nhận lời ở đâu hết. Trước đó, mình còn đi hát nhiều, nên mình phải đi. Bây giờ, sau 10 năm nay, tôi từ chối tất cả những show mời Tết, ngay cả những hội từ thiện, hay chùa, hay nhà thờ, tôi đều từ chối hết. Sau thời gian hết bôn ba, tôi thấy rằng mình phải ở nhà những ngày Tết.”

“Thứ nhất là tôi muốn ở nhà để lo sửa soạn đón giao thừa, lo cúng Phật. Đó là điều tôi rất cần. Vì cuộc đời của tôi, tôi nghĩ là Phật đã cho tôi rất nhiều phước lành. Cho nên tôi không đi hát những ngày xuân nữa để 30 là tôi lo cúng Phật, cúng giao thừa, ông bà cha mẹ. Mình phải cúng 3 ngày liền như vậy, từ mùng 1, mùng 2, mùng 3 đến mùng 4 mình mới đưa ông bà đi về trời. Gần 10 năm nay là như vậy rồi.”

Với người ca sĩ, âm nhạc là cuộc đời, là hơi thở, là nghiệp dĩ. Cho dù ở hoàn cảnh đau buồn nhất, là khi quê hương đã nghìn trùng xa cách; hay trong khoảnh khắc làm cho người xa quê nhớ về cố hương nhất là khi mùa Xuân về, thì người ca sĩ đã mang những âm thanh kỳ diệu đầy hoài niệm để xoa dịu nỗi niềm nhớ thương. Thanh Thuý đã mang tiếng hát liêu trai ma mị của bà đến với người Việt ly hương khắp nơi trên thế giới trong mấy mươi năm qua.

Dù thương nhớ, nhưng chưa một lần bà quay về để tìm lại hơi thở của mùa xuân trên mảnh đất chất chứa rất nhiều kỷ niệm, kỷ niệm của Sài Gòn và tiếng hát liêu trai.

“Tôi cầu trời Phật, Thượng đế cho Việt Nam mình sống trong thanh bình, không còn những gì bất công, không vui nữa. Thiệt tình mà nói ai lại không muốn về. Nhưng bây giờ thì chưa được. Một ngày nào không còn vấn đề mất tự do như bây giờ thì tôi sẽ về. Nhưng ngày đó không biết mình còn sống hay không để về gặp những người thân thương của mình, khán thính giả của mình.”

40 năm, một thời gian gần nửa đời người. Nhưng dù thêm 40 năm nữa cũng không thể làm phai nhoà hình ảnh của mùa xuân Sài Gòn trong tâm trí của người Việt Nam. Trong mùa xuân đó, giữa hoa mai, hoa đào, giữa những tiếng pháo mà chỉ còn là hoài niệm, có một tiếng hát liêu trai sẽ mãi vang lên, đưa ký ức người nghe quay về Sài Gòn khi có tin Xuân.

“Vật đổi sao dời ai có hay

Mùa xuân tha hương đất khách này

Nặng trĩu tâm hồn tôi mới nhớ

Tình xuân đâu còn ấm

Để mà nâng rượu mừng xuân”

MẶC CẢM CỦA SỰ DỐT NÁT

MẶC CẢM CỦA SỰ DỐT NÁT
Bài của Nguyễn Liệu về “cái bằng tiến sĩ”

Nguyễn Liệu

Năm 1976, chấm dứt chiến tranh, bác sĩ Tôn thất Tùng, một bác sĩ giỏi, học tại Pháp, kẹt trong kháng chiến, rồi phải phục vụ cho Việt cộng, đã mạnh dạng viết bài báo đề nghị bác sĩ Việt cộng được đào tạo trong chiến tranh, phải thi và học lại. Nếu không học lại hoặc học mà thi không đậu, thì không cho hành nghề vì không đủ tiêu chuẩn của một bác sĩ.

Tôn thất Tùng, một đảng viên cộng sản, cũng phải đợi gần 80 tuổi mới liều mạng nói một sự thật mà đã cắn răng chịu đựng gần hết cuộc đời. Bởi vì chính ông đã chứng kiến đã đào tạo những đảng viên trung kiên, dốt nát trong 6 tháng trở thành bác sĩ y khoa ,đáng lẽ phải đào tạo từ 6 năm đến 15 năm sau khi tốt nghiệp trung học.
Tại sao không gọi y tá mà phải gọi bác sĩ. Đó là đặc điểm của ….

Dốt nhất, nghèo nhất, ít suy nghĩ nhất, ngu nhất, là những yếu tố căn bản của đảng viên trung kiên cộng sản. Mac và Engels quan niệm, con người ngu nhất, nghèo nhất là con người trung thành nhất. Giai cấp bần cố nông, công nhân thấp nhất, là giai cấp tiên phong của đảng cộng sản, ngoài ra là những giai cấp phản động, muốn dùng chúng phải cải tạo chúng theo giai cấp tiên phong.
Từ ngày có đảng cộng sản Việt Nam, người có học bị xem là kẻ thiếu trung thành, kẻ phản bội, cho nên lãnh tụ Mao trạch Đông quá mặc cảm dốt nát đã nói thẳng thừng “ Trí thức không bằng cục phân”. Câu nói đó trở thành một nguyên lý cho đám cán bộ lãnh đạo cộng sản. Câu nói của Mao trạch Đông đó làm cho người lãnh đạo cộng sản tự tin rằng mình có giá trị, có bản lĩnh, có đạo đức cách mạng vô sản, vì mình không phải là trí thức, tức mình hơn cục phân. Nhiều lần tôi đã nói, nếu Hồ chí Minh là một trí thức như cụ Phan châu Trinh, như Nguyễn thế Truyền,… thì không bao giờ được làm bí thư của đảng cộng sản Đông dương. Thiếu bằng cấp, dốt nát, là một lợi khí tốt để cho Hồ chí Minh bước lên nấc thang lãnh đạo đảng cộng sản.

Tôi, người viết bài này, đã chứng kiến trước mặt, cái cảnh thê thảm của người lỡ có bằng cấp, muốn được đảng tin không biết làm sao xóa bỏ cái lỡ hiểu biết của mình. Cố nhiên họ một mặt không dám đọc sách, nhất là sách ngoại ngữ, vì giai cấp bần cố nông, bọn ăn mày ăn xin ngoài chợ, không làm chuyện đó. Hình thức thì có phần dễ, họ ăn mặc rách rưới, để thân thể cho dơ dáy, ngồi cạnh họ phải có mùi hôi của dân lao động chân chấm tay bùn. Ngôn ngữ rất khó, họ sợ hai chữ lãng mạn của lớp tiểu tư sản. Ví dụ họ không dám nói “ trăng đẹp, hoa hồng đẹp, Tây Thi đẹp …” mà thường nói cho nhiều người nghe “ đống rơm của bác đẹp quá, các luống cày đẹp quá, hố ủ phân tuyệt đẹp. Bác (Hồ chí Minh )cầm cây cuốc đẹp quá, chú Đồng nhỗ cỏ đẹp quá…chị nuôi bản lĩnh quá, đẹp quá, chị du kích đứng gác đẹp quá v.v…Bởi vậy Chế Lan Viên mới viết “ Một lỗ hầm chông đẹp hơn vạn đoá hoa hồng”, Tế Hanh viết “ Năm nay anh trồng cây bưởi góc nhà”. Tôi chắc chắn trên 100% những người có học, không cần nhiều, cỡ lớp đệ tứ niên ngày xưa trở lên, nếu kẹt trong chế độ cộng sản từ 1945 đến 1975 đều ít nhiều phải đóng kịch như thế ( Các thầy Hoàng Tuỵ, Lê trí Viễn, Nguyễn thiện Tụng, Phan Thao ( con cụ Phan Khôi) Trần tế Hanh……đã qua thời kỳ cố lột xác như thế. Nếu không lột xác thì không được vào đảng)

Sau năm 1975, hết chiến tranh, cộng sản về thành, nhất là thành phố Sài gòn. Đám cán bộ trung cấp và cao cấp từ Bắc vào, từ núi xuống, từ bưng biền ra, chới với trước nép sống có văn hóa của người dân miền Nam, chế độ cũ. Sự ngớ ngẩn dốt nát lố bịch của đám cán bộ đó đã làm cho dân chúng miền Nam khinh khi, và đã có nhiều chuyện tiếu lâm ngày nay vẫn còn truyền.

Từ chỗ học tập làm cho giống lớp bần cố nông để vào đảng, nay cũng những cán bộ đó học tập làm cho giống lớp tiểu tư sản, lớp có tiền, lớp trí thức.
Bắt chước cách ăn mặc của lớp tiểu tư sản thì dễ, chỉ cần trước hết, liệng ném cái nón cối, bỏ hẳn đôi dép đế xe hơi gọi là đôi dép bác Hồ (đế xe hơi làm đôi dép nguyên là của cu li kéo xe, người đổ thùng cầu tiêu,… họ quá nghèo, không có tiền mua đôi giày, nên lượm đế xe hơi bỏ làm giầy, và những người này là trung kiên của đảng cộng sản, là cán bộ lãnh đạo đảng cộng sản sau đó. Cụ Hồ bắt chước họ, cho giống họ, nên dùng đôi dép đó chứ Hồ chí Minh không sáng chế ra đôi dép đó, thế mà gọi là dép bác Hồ bác cũng nhận bừa, không cần đính chính, đó cũng là tính chất của…).

Họ, cán bộ cộng sản, xa lánh ngay lớp bần cố nông nghèo đói. Ngày trước cán bộ cộng sản nếu kể lai lịch cha mẹ ông bà có người đói, người làm mướn, người ăn xin ăn mày, thậm chí có người chết đói, thì họ rất hãnh diện vì họ thuộc thành phần tốt nhất, vô sản nhất, lành mạnh nhất, trung kiên nhất. Ngày đó nếu cán bộ nào có cha mẹ, bà con, ông bà, là người khoa bảng, làm quan, thì xem như kẻ phản bội. Bởi vậy dù cố gắng tới mức nào, Phạm Tuyên con quan thượng thư Phạm Quỳnh, Bùi Tín con cụ thượng thư Bùi bằng Đoàn, Hoàng Tụy con cháu tướng Hoàng Diệu , nhiều lắm là làm nhạc sĩ , làm báo, làm giáo sư khoa học, không bao giờ được vào hàng ngũ cán trung kiên của đảng.

Từ ngày họ bắt chước người tiểu tư sản người trí thức thì họ cố tập cho ra lớp người này. Về ăn mặc, nói năng, kiểu cách ăn chơi, tiêu tiền, lễ nghi v…v.. dù sao cũng dễ bắt chước nhất là bắt chước sự ăn chơi sa đọa thì rất dễ. Nhưng bắt chước có trình độ hiểu biết thì thật là khó, gần như vô vọng.
Để khắc phụ sự khó khăn đó, đảng chủ trương cho học tại chức, học không cần đến trường, học không cần đọc sách, học không cần làm bài, và một năm có thể ghi danh vài ba lớp. Phải cần 12 năm để học hết trung học, đảng cho học hai năm hết trung học. Bằng cử nhân bằng tiến sĩ cũng vậy cũng học tại chức.

Phe chiến thắng mà bị dân chúng chê dốt, đó là điều đau khổ nhất của Việt cộng. Đó là lý do bằng tiến sĩ mọc lên như nấm. Thêm vào đó, phong trào thi đua tham nhũng phát triển mạnh. ‘Ngành ngành tham nhũng, người người tham nhũng’, thì bằng cấp không cần ghi danh chờ thời gian nữa, mà có ngay, nếu có số tiền qui định.
Cán bộ cộng sản, nhà cửa có rồi, xe cộ có rồi, tỳ thiếp có rồi, bỏ nón cối, bỏ áo lãnh tụ, bỏ đôi dép Bác Hồ, ăn mặc kiểu tân tiến, kiểu Mỹ, tiệc tùng, uống rượu, cà phê, uống trà, nhảy đầm, theo kiểu bọn quí phái phong kiến ngày xưa….Nhưng còn thiếu trình độ học vấn để nông dân, dân lao động không khinh bỉ “ dốt mà làm sang” nên phải có mảnh bằng. Đã mua thì chịu tốn mua thứ cao nhất tốt nhất, và do đó bằng tiến sĩ đảng bán đắc như tôm tươi.

Một đề nghị thực tế.

Tôi hoàn toàn đồng ý với đảng cộng sản ồ ạt sản xuất bằng cấp để đánh tan thành kiến “ cộng sản là bần cố nông”. Trước năm 1954, dân chúng ở Quảng ngãi có ý khinh thường đám cán bộ đảng thường nói “ bọn bcn, tức bọn bần cố nông”. Không riêng gì ở Việt nam ở Cuba, Bắc Hàn ngày nay tiến sĩ bác sĩ đầy đường đầy sá, không làm gì cho hết. Bởi vì học rút ngắn thời gian, hạ thấp chương trình, và ưu tiên cho đảng viên không có thì giờ đi học và không biết chữ, hoặc biết sơ sơ, nhưng cần có bằng tiến sĩ.

Để khỏi gây tác hại cho dân chúng, tôi đề nghị, đảng không nên khuyến khích đảng viên cán bộ đảng nhận bằng tiến sĩ về y học, khoa học. Vì hai loại này có thể đưa đến chỗ giết người vì không thực học.
Tôi còn nhớ rất rõ năm 1984, ra khỏi tù tôi về Saigon. Con tôi bị sốt tôi nghi là sốt xuất huyết tôi đem vào bịnh viện nhi đồng. Theo lời khuyên chân thành và khẩn cấp của dân chúng, tôi thức trắng đêm bên giường bịnh, để canh chừng bác sĩ. Lúc đó bịnh viện Sài gòn có hai loại bác sĩ, một loại của chế độ cũ còn lại, một loại tập kết mới về, loại bác sĩ Tùng đã cảnh báo cho dân chúng biết. Tôi canh chừng nếu bác sĩ tập kết về khám bịnh hoặc chích thuốc cho con tôi, thì lập tức tôi cản không cho, và tôi cũng canh chừng nếu đứa nhỏ không sống được tôi phải bảo vệ xác chết của nó cho được toàn vẹn, đó là lời khuyên của đồng bào miền Nam.

Cấp bằng tiến sĩ không gây tác hại cho dân chúng, nên chọn những loại như văn chương nghệ thuật, phong tục, v..v…càng viễn vông càng mơ hồ càng tốt. Tôi rất phục Tô huy Rứa biết thân phận mình nên không chọn tiến sĩ y khoa hay tiến sĩ cầu cống, cũng không chọn tiến sĩ kinh tế, tiến sĩ luật, tiến sĩ giáo dục … vì những thứ này dễ lòi đuôi chuột khi đụng đến thực tế. Ông chọn tiến sĩ “ xây dựng đảng”, không làm hại người nào.
Đảng nên xem bằng tiến sĩ như phẩm hàm cửu phẩm bát phẩm ngày xưa triều đình cho các viên chức đúng tiêu chuẩn. Những chức này không làm hại người nào, chỉ để gọi danh xưng mà thôi. Người ta thường gọi tiến sĩ về ngành gì ví dụ ông Nguyễn văn A tiến sĩ kinh tế, ông Nguyễn văn B tiến sĩ toán học v..v….

Những tiến sĩ này vô hại nên phát cho đảng viên:

Tiến sĩ văn chương thơ Bác, Tiến sĩ ca dao kháng chiến, Tiến sĩ mưa phùn gió Bấc, Tiến sĩ cá thài bai, Tiến sĩ buổi chiều vàng, Tiến sĩ đồng lúa chín…..Tôi ví dụ như vậy để các ông tiến sĩ không làm cho dân chúng lo lắng.
Bởi vậy khi tôi nghe đảng ra quyết tâm phấn đấu trong 10 năm nữa sẽ đào tạo 20 ngàn tiến sĩ, tôi tin tưởng việc này đảng làm được và làm hơn có thể đưa lên gấp 10 tức 200 ngàn tiến sĩ.

Nguyễn Liệu

LƯỢNG TỪ BI CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

LƯỢNG TỪ BI CỦA LÒNG CHÚA THƯƠNG XÓT

 Tuyết Mai

Nghĩ thật kỹ thì ra con người của chúng ta ai cũng sống thật là ích kỷ vì chúng ta làm gì thì cái kết cuộc nó cũng đều phải có sự trao đổi hay thưởng ban từ việc chúng ta làm.   Đó là sự đền bù, là sự trả công đích đáng dù đó là cho một chút khoái cảm, cho sự hưởng thụ của lạc thú để sung sướng và để thỏa mãn cái tấm thân hay chết này chớ chúng ta có làm điều ích lợi gì cho ai đâu, thưa có phải?.

Ngay trong gia đình của chúng ta đây ngoài cha mẹ ra thì có ai tự động, tự nguyện làm một việc gì bao giờ mà không buông lời thở than, không tỏ lộ cái bộ mặt ủ rũ mày châu hay không buông lời cằn nhằn khiếm nhã làm mích lòng người nghe lắm lắm vậy.   Có phải vì lỗi từ nơi cha mẹ ngay từ đầu đã dạy cho con cái cách sống vô trách nhiệm đối với người trong gia đình, họ hàng và chòm xóm láng giềng? … Vì mọi thứ chúng cần hay không cần đều có sẵn để hưởng dùng mà chúng không cần phải động đến móng tay.   Cả khi rất cần nhờ đến chúng giúp làm việc gì thì cha mẹ lại hứa cho tiền, hoặc hứa cho chúng những gì mà chúng thích, v.v…

Do đó thường những đứa trẻ trong gia đình khá giả chúng hỗn hào hơn nhiều so với những con cái con nhà nghèo.   Vì con nhà nghèo thì chúng sớm học hiểu biết tinh thần trách nhiệm của chúng là phải trông em, lo chuyện bếp núc, nấu nướng, giặt dũ, trông sóc gia súc để cha mẹ chúng cần phải ra đồng, ra ruộng hay bán bưng ở ngoài chợ mới có tiền mà mua gạo và mua thức ăn để có mà nuôi bao nhiêu cái miệng ăn.

Nhưng thưa đấy là cuộc sống nơi Trần Gian này dù là người nghèo hay người giầu có thì đều phải tìm cách sống phù hợp cho qua ngày đoạn tháng, tuy cách sống của từng người thì khác xa nhau nhiều lắm.   Điều quan trọng ở đây là chúng ta cần lắm để sống cuộc đời tốt lành từ khi chúng ta còn trẻ, còn có thời gian, còn có cơ hội để Chúa làm việc trên khối óc, trái tim và trên chi thể của chúng ta … Thì đó mới là quan trọng và là thiết yếu cho linh hồn sống đời của chúng ta.

Vả ai nấy trong chúng ta cũng đều hiểu rằng Lòng Chúa Thương Xót đều đón nhận và gọi mời tất cả con cái tội lỗi của Ngài vào; để được Chúa Giêsu nhận chìm tất cả trong trái tim có máu và nước là một đại biển hồ rộng lớn vô đáy cho con cái nào biết chạy đến cầu cứu với Lòng Chúa Thương Xót thì đều được Chúa bảo toàn từ tánh mạng cho đến Linh Hồn sống đời, không bị sa vào Hoả Ngục muôn đời.   Nhưng hẳn chúng ta đâu có ai muốn linh hồn của mình phải bị ở lâu nơi Lửa Luyện Ngục?.

Và đã là con người thì không một ai mà dám tự phụ rằng chúng ta sống tốt đến độ không cần đến Lòng Chúa Thương Xót vì trong mắt Chúa tất cả chúng ta đều là kẻ có tội.   Và thưa tội gì là tội làm buồn lòng Thiên Chúa nhất? Có phải đó là tội vô cảm của con người đối xử với con người hằng ngày đó không?.

Từ sự lãnh đạm và vô cảm của chúng ta đã dễ dàng làm cửa ngỏ cho quỷ dữ chúng vào ngự trị, khống chế và điều khiển mọi suy nghĩ, mọi việc làm và dần chúng lấy mất linh hồn của chúng ta tự lúc nào mà chẳng ai hay ai biết.   Nên chúng ta cần phải luôn thức tỉnh mà cảnh giác, mà đề phòng kẻo sau này cửa lòng của chúng ta đóng chặt đến đỗi chúng ta quay lưng lại với Chúa thì thật quá là muộn màng và phũ phàng thay.

Lạy Chúa của Lòng Thương Xót, xin thương ban cho hết thảy chúng con luôn sống trong sự chuẩn bị, đề phòng, thức tỉnh mà đừng để cho giống như 5 cô trinh nữ dại khờ đã bị Chúa từ chối tiếp rước vì cửa đã đóng hay như nhà phú hộ giầu có nhưng đã vô cảm với cuộc sống khổ nghèo ghẻ chốc của người anh em là Lazarô sống trước nhà ông.   Chỉ vì sự thờ ơ và vô cảm ấy mà Chúa đã phạt ông xuống Hỏa Ngục bị lửa nung đốt đời kiếp kiếp.   Amen.

Y Tá của Chúa,

Tuyết Mai

23 tháng 1, 2016

Bạn Là Người Có Phước

Tui nhớ có một người bạn thường hay khuyên rằng hễ mỗi khi giận hờn ai hay có chuyện gì bực mình thì nên đi một vòng trong nghĩa trang. Bạn sẽ cảm thấy dễ dàng nguôi ngoai….

VTKhanh

Bạn Là Người Có Phước        

Nếu bạn thức dậy sáng nay vẫn có nhiều sức khỏe hơn bệnh tật, được sống tự do… không phải nằm trong phòng cấp cứu bệnh viện… thì bạn đang may mắn hơn hằng triệu người sắp chết tuần này …

Người ta hay coi thường những gì mình đang có!

Chỉ khi nào mất đi, mới hiểu và… ân hận… muộn màng!

Nếu bạn chưa từng cảm nhận sự nguy hiểm trong chiến trường, sự cô đơn trong ngục thất, sự đau đớn khi bị hành hình, cảnh nhục nhã, trốn tránh, sự đói ăn khát uống, cảnh sống lang thang vô gia cư…sống không biết ngày mai sẽ ra sao… thì bạn đã hạnh phúc hơn mấy trăm triệu người trên thế giới …

Nếu bạn được đi du lịch mà không sợ bị làm khó dễ, bạn may mắn hơn đa số trong khoảng gần 3 tỷ người trên thế giới

Nếu bạn có thức ăn trong tủ lạnh, có áo che thân, có nơi cư ngụ và có nơi để gối đầu khi ngủ, không phải lo lắng quá nhiều về ngày mai …,
bạn đã giàu có hơn 75% người trên thế giới này.

Nếu bạn có tiền trong nhà, ngân hàng, trong ví, và có bạc lẻ đâu đó… thì bạn là một trong số 8% người giàu có hơn rất nhiều người trên cả thế giới này.

Nếu bạn có thể ngẩng cao đầu, có thể mỉm cười và cảm thấy biết ơn cuộc đời…, bạn đã là người có hạnh phúc vì đa số chúng ta có thể cảm nhận điều đó, nhưng lại không chịu làm điều này. Quá nhiều người tham lam, tự làm khổ mình…

Nếu bạn có thể nắm tay người nào đó ôm choàng họ, hoặc vỗ về an ủi, động viên họ bằng hình thức nào đó … từ tinh thần tới vật chất…, bạn đã là người có hạnh phúc vì bạn có thể hàn gắn vết thương lòng, làm vợi đi nỗi buồn của nhân loại!

Hàng ngày, ngay lúc này đây, đang có biết bao người đau khổ vì đủ mọi bất hạnh, từ bệnh tật đến chiến tranh, tù đầy, các hoàn cảnh cơ cực… hàng nghìn trẻ em chết đói ở Châu Phi mỗi ngày…

S.T.

Nguyễn Phú Trọng ca ngợi độc tài kiểu CSVN là ‘dân chủ’

Nguyễn Phú Trọng ca ngợi độc tài kiểu CSVN là ‘dân chủ’
Nguoi-viet.com

HÀ NỘI (NV)Trình diện Bộ Chính Trị với ban bệ trung ương của đảng CSVN trong cuộc họp báo, tổng bí thư tái cử của đảng ca ngợi chế độ độc tài, đàn áp nhân quyền của ông là “dân chủ.”

Kết thúc đại hội đảng CSVN 5 năm một lần vừa xong, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng được “tín nhiệm” ở lại nhiệm kỳ thứ hai, sau khi gạt được đối thủ Nguyễn Tấn Dũng qua các cuộc đấu đá ngoắt ngoéo với một Bộ Chính Trị mới nhiều hơn khóa trước ba người và phần lớn là người miền Bắc như ông.


Nhìn vào tấm hình và vị trí đứng chụp hình (vai vế to đứng trước) của 200 đảng viên đảng CSVN đứng ở hàng đầu của chế độ Hà Nội là người ta biết “tứ trụ” mới của triều đình đỏ gồm những ai. Từ phải sang trái là Nguyễn Thị Kim Ngân, Nguyễn Xuân Phúc, Nguyễn Phú Trọng, Trần Ðại Quang. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Bộ Chính Trị khóa mới của đảng CSVN gồm 19 người trong đó có 12 người được đôn lên từ trung ương đảng. Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, là người quá tuổi nghỉ hưu nhiều tuổi nhất nhưng lại đặc biệt ngồi lại trong khi chín người quá tuổi khác bị “xin rút.”

Bộ Chính Trị khóa mới có tới 13 người gốc miền Bắc, miền Nam chỉ có 4 người và miền Trung chỉ có 2 người. Trong số này có tới 3 người gốc tướng công an là Trần Ðại Quang, Tô Lâm và Trương Hòa Bình. Phe quân đội chỉ có Tướng Ngô Xuân Lịch, chủ nhiệm Tổng Cục Chính Trị của quân đội nằm trong Bộ Chính Trị. Giới đấu tranh dân chủ ở trong nước bình luận rằng Bộ Chính Trị mới này sẽ chỉ lo bảo vệ đảng chứ không bảo vệ dân.

Nói với báo giới ông Nguyễn Phú Trọng khoe rằng ông “bất ngờ vì được đại hội tín nhiệm” ngồi lại trên cái ghế chóp bu đảng. Dịp này, ông cả quyết rằng cái đảng của ông sẽ vẫn “vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…”

Nhưng tại cuộc họp báo, ông nói “kết quả bầu cử vừa rồi bảo đảm 100% là hoàn toàn đúng với công tác nhân sự” mà phe nhóm của ông đã mưu toan từ lâu và đạo diễn để không bị đối thủ lật kèo, cho người ta hiểu ông Nguyễn Phú Trọng “nói vậy mà không phải vậy.” Ông còn khoe rằng cuộc tranh giành quyền lực trong đại hội đảng “Dân chủ đến thế là cùng – nhiều đại biểu tâm sự như thế. Ðại hội lần này là đại hội biểu hiện dân chủ, đoàn kết, kỷ cương, trí tuệ.”

Ngay từ trước khi có đại hội đảng CSVN, dư luận đã biết trước là nếu đảng Cộng Sản Việt Nam còn nắm chặt được quyền lực, thì nước Việt Nam sẽ tiếp tục tụt hậu so với các nước trong khu vực, đảng viên có chức có quyền sẽ mỗi ngày một giàu có hơn trong khi đại đa số dân chúng vẫn đói khổ với tương lai bất định.

Tại hội trường của đại hội đảng CSVN treo khẩu hiệu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,” một nhà báo hỏi ông Việt Nam sẽ có “dân chủ hơn không,” thì ông Nguyễn Phú Trọng đã trả lời là “vẫn phải có kỷ cương. Ðất nước không có kỷ cương thì rối loạn, mất ổn định.”

Diễn giải lời tuyên bố của ông Nguyễn Phú Trọng thì những ai đòi hỏi nhân quyền, tự do báo chí, tự do hội họp biểu tình, tự do tôn giáo tín ngưỡng sẽ tiếp tục bị đàn áp, tù đày như đã từng diễn ra trong những năm qua.

Các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế thống kê thấy trong năm 2015, chế độ Hà Nội đã bỏ tù ít nhất 100 người chỉ vì người ta sử dụng các quyền tự do căn bản của công dân mà nhà cầm quyền CSVN đã viết trên Hiến Pháp cũng như ký vào các công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Giữa tháng 12, 2015, nhạc sĩ Việt Khang vừa mãn hạn tù thì chế độ Hà Nội đã bắt ngay Luật Sư Nguyễn Văn Ðài và chị Lê Thu Hà, thành viên của Hội Anh Em Dân Chủ.

Giới phân tích thời sự quốc tế tin rằng chế độ Hà Nội sẽ tiếp tục đu dây giữa Bắc Kinh và Hoa Thịnh Ðốn dù ông Nguyễn Phú Trọng bị coi là kẻ bảo thủ và nghiêng về phía Bắc Kinh hơn. Tuy nhiên, quyết định đối ngoại của CSVN không hoàn toàn nằm trong tay của ông mà là đánh giá chung và quyết định chung của Bộ Chính Trị.

Hay tin ông Nguyễn Phú Trọng vẫn giữ được ghế tổng bí thư, Chủ Tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã gửi ngay điện văn chúc mừng. Tờ Hoàn Cầu Thời Báo (cái loa tuyên truyền hay chửi bới Việt Nam) bình luận rằng việc ông này tái cử “gửi một tín hiệu tích cực” cho Bắc Kinh cho dù Việt Nam tiếp tục đu dây giữa hai trung tâm quyền lực tư bản và độc tài lớn nhất thế giới.

Giới tranh đấu cho nhân quyền, dân chủ ở trong nước hiển nhiên đều thất vọng và cũng không ngạc nhiên gì. Facebooker Ta Hoang Quoc An viết bình luận trên mạng xã hội, “Ðất nước lại được ông già mù dẫn dắt đi tìm cái xã hội chết tiệt kia mà chính ông cũng chưa chắc đến cuối thế kỷ này đạt tới chưa. Không hổ danh VN chỉ thích lùi không thích tiến.”

Còn ông Ðặng Xương Hùng, một cựu viên chức ngoại giao CSVN hiện đang tị nạn chính trị tại Thụy Sĩ viết bình luận trên trang facebook của ông về kết quả đấu đá tại đại hội đảng CSVN vừa kết thúc: “Ðập chết con chuột đầu đàn – Bình không bị vỡ.”

Ông giải thích: “Chung quy đại hội 12 chỉ có hai việc chủ yếu: loại Nguyễn Tấn Dũng và khẳng định kiên trì chủ nghĩa Mác-Lê nin. Hai việc đều đã xong. Có thể coi đây là thắng lợi khá nhọc nhằn của ông Trọng, mà trong cả nhiệm kỳ 5 năm, ông cố loay hoay làm mà không được việc. Ông Trọng nổi tiếng với những phát biểu rất “ngộ,” mà tiêu biểu nhất hai câu rất “thật lòng,” toát lên phần nào con người ông. Ðó là, “đánh chuột đừng để vỡ bình – đến cuối thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa.” (TN)

Bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo

Bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo

Huỳnh Anh Tú (Danlambao) – “Ở An Giang, có những người tàn tật, đi bán vé số bằng xe lăn có thể bán mỗi ngày 3000 tờ”. Đây là khẳng định của ông Hồ Kinh Kha, giám đốc sở tài chính tỉnh Tiền Giang (1). Theo tính toán, tiền lãi cho một tờ vé số là 1.100đ. Nếu mỗi ngày người tàn tật bán được 3000 tờ như ông Kha nói thì thu nhập hàng tháng của họ sẽ xấp xỉ 100.000.000 đ (một trăm triệu đồng)!!!

Hãy nhìn vào hoàn cảnh thực tế của những người tàn tật bán vé số. Chắc hẳn ai trong số chúng ta cũng ít nhất một lần trong đời, hoặc hàng ngày nhìn thấy người bán vé số dạo trên đường. Đa số họ là những người già, người vô gia cư, những em bé mồ côi, những người quá nghèo khổ và những người tàn tật. Nhiều người lê lết với bộ quần áo rách rưới, có người chống nạng hay khá hơn sắm được chiếc xe lăn làm phương tiện. Họ lang thang khắp nẻo đường- góc phố, đến từng công viên- quán xá để cầu cạnh, mời mọc người đi đường mua cho một vài tấm.

Nghề bán vé số dạo may lắm chỉ đủ nuôi sống bản thân. Mỗi khi tiết trời xấu, mưa bão triền miên họ phải giảm khẩu phần ăn trong ngày, thậm chí còn nhịn đói vì ế hàng. Đã là bán vé số dạo thì tất nhiên phải đi bộ (đối với người khỏe mạnh) hoặc ngồi xe lăn, chống nạng, lê lết trên đường (đối với người tàn tật). Rồi mời chào, chờ đợi người mua. Giả sử một người đi bán từ 6 giờ sáng đến 10 giờ đêm, giỏi lắm cũng đi được hết vài con phố, mời được vài chục, hay cứ cho là vài trăm người. Trong những người khách, có phải ai cũng mua đâu. Mà nếu mua, cũng chỉ được một vài tấm vé. Mua vì lòng trắc ẩn, vì thương cảm, cũng có khi mua để người bán đi nhanh cho khỏi phiền.

Họ, những người tàn tật bán vé số thậm chí luôn phải đối mặt với nạn cướp giật, bị bắt nạt. Và không ít người trong số họ bị người đời coi thường hoặc thương hại. Chả lẽ, mỗi tháng kiếm cả trăm triệu lại chọn một cuộc sống lầm lũi, thiếu thốn, cực thân và chấp nhận sự thương hại hoặc thiếu tôn trọng của người đời? Hay là ông Kha có ý vu khống họ “giả vờ”, là “diễn trò” để lừa thiên hạ?

Ông Giám đốc Sở tài chính Tiền Giang còn khẳng định “đối tượng mua vé số chủ yếu là người có tiền, còn người nghèo chỉ mua 1-2 tờ, số lượng không đáng kể.” Không biết ông căn cứ vào đâu để khẳng định những gì ông đã nói. Nhưng mỗi ngày, một người tàn tật ngồi trên xe lăn bán được 3 ngàn tờ vé số và đều đặn ngày nào cũng thế, là điều không thực tế.

Nếu như lời khẳng định của ông Kha, giám đốc sở tài chính tỉnh Tiền Giang là có cơ sở, thì không riêng người tàn tật mà hầu hết những người bán vé số dạo, từ Nam chí Bắc, đều là những nhà tỉ phú. Các cơ sở kinh doanh sản xuất trong nước có lẽ đều đóng cửa vì thiếu vắng công nhân.

Theo lời ông, chắc chắn người người, nhà nhà trên khắp mọi miền đất nước đều đổ xô đi bán vé số với mức thu nhập “siêu khủng”. Tất nhiên, so với lợi nhuận bất chính thu được từ tham nhũng thì mức thu nhập “siêu khủng” này còn thua xa. Và biết đâu nạn buôn bán ma túy, buôn bán trẻ em và nhiều tệ nạn xã hội khác cũng được đẩy lùi hoặc hạn chế vì giới tội phạm, giới làm ăn bất chính đã chuyển ngành sang bán vé số dạo.

Hãy làm một phép so sánh nho nhỏ giữa nghề bán vé số dạo của người tàn tật với nghề làm thủ tướng ở Việt Nam.

Theo, đại diện Văn phòng Chính phủ cho biết thì lương của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có hệ số 12,5. Cộng tất cả các khoản phụ cấp chức vụ, và trừ tiền đóng Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, tổng số lương Thủ tướng nhận mỗi tháng chỉ hơn 17 triệu đồng. (2)

Thì ra mức thu nhập của ông thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam nó “bèo” đến thế sao? Và cũng lạ, thu nhập của ông chỉ xấp xỉ 1/6 mức thu nhập của một người tàn tật làm nghề bán vé số dạo, nhưng con cái ông vẫn đi du học ở những nước tiên tiến nhất thế giới. Con gái ông Dũng, dù còn rất trẻ đã nắm vị trí cao nhất ở những công ty, tập đoàn kinh tế thuộc các lĩnh vực ngân hàng, bất động sản, chứng khoán và đầu tư tài chính. Hai người con trai ông Dũng sau khi về nước đều giữ vị trí cao trong bộ máy cầm quyền. Và việc ông được cho là chủ nhân của những tập đoàn kinh tế, của những khối tài sản khổng lồ không phải là không có cơ sở.

Thế mới hay, bèo thay nghề thủ tướng và cao quý thay nghề bán vé số dạo, ông Kha nhỉ?

Huỳnh Anh Tú

danlambaovn.blogspot.com

Tại sao lại là ông Trọng?

Tại sao lại là ông Trọng?

Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, thuộc phe thân Bắc Kinh, đã giành được chức vụ lãnh đạo một lần nữa sau khi đánh bại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Ông Nguyễn Phú Trọng, 72 tuổi, thuộc phe thân Bắc Kinh, đã giành được chức vụ lãnh đạo một lần nữa sau khi đánh bại Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Nguyễn Hưng Quốc

27.01.2016

Thế là cuộc tranh giành quyền lực trong giới lãnh đạo chóp bu tại Việt Nam đã kết thúc: Trương Tấn Sang, Nguyễn Sinh Hùng và Nguyễn Tấn Dũng về hưu, Nguyễn Phú Trọng được lưu nhiệm để làm Tổng Bí thư thêm một nhiệm kỳ hoặc nửa nhiệm kỳ nữa với lý do là để giữ sự “ổn định” trong guồng máy lãnh đạo đảng.

Điều này làm giới quan sát Việt Nam cũng như quốc tế khá ngạc nhiên. Từ một, hai năm gần đây, hầu như người nào cũng tiên đoán chiếc ghế tổng bí thư ấy sẽ lọt vào tay của Nguyễn Tấn Dũng, người được cho là có thế lực nhất trong Ban Chấp hành Trung ương đảng.

Không những ngạc nhiên, nhiều người còn luyến tiếc. Trên các diễn đàn mạng, số lượng những người thiên vị Nguyễn Tấn Dũng nhiều hơn hẳn những người khác. Người ta ca ngợi Nguyễn Tấn Dũng là thực tế, thực dụng, cấp tiến, thân Mỹ và Tây phương, có tính cách mạnh mẽ, do đó, có hy vọng thay đổi tình hình chính trị tại Việt Nam. Nhiều người còn vẽ lên một bức tranh xán lạn: Nguyễn Tấn Dũng sẽ hợp nhất chiếc ghế tổng bí thư với chiếc ghế chủ tịch nước để tạo nên một guồng máy lãnh đạo giống như Trung Quốc, hoặc lạc quan hơn hơn, giống hình thức tổng thống chế ở Tây phương.

Với ý nghĩ như thế, người ta đâm ra thất vọng và hụt hẫng khi biết người chiến thắng trong cuộc giành giật chiếc ghế tổng bí thư lại là Nguyễn Phú Trọng.

Xin lưu ý là từ mấy năm nay trong những trận đối đầu công khai giữa Nguyễn Tấn Dũng và Nguyễn Phú Trọng, hầu như lúc nào Nguyễn Tấn Dũng cũng thắng. Năm 2012, trong Hội nghị thứ 6, Ban Chấp hành Trung ương đảng đã bác bỏ đề nghị kỷ luật Nguyễn Tấn Dũng của Nguyễn Phú Trọng. Năm 2013, trong Hội nghị lần thứ 7, Ban Chấp hành Trung ương lại bác bỏ đề nghị đưa Nguyễn Bá Thanh và Vương Đình Huệ vào Bộ Chính trị của Nguyễn Phú Trọng; ngược lại, hai người được bầu, Nguyễn Thiện Nhân và Nguyễn Thị Kim Ngân được cho là những người thân cận với Nguyễn Tấn Dũng.

Vậy mà, hiện nay, trong cuộc tranh chấp quan trọng và quyết định nhất đối với sự nghiệp của Nguyễn Tấn Dũng, ông lại bị Nguyễn Phú Trọng đánh bại.

Một câu hỏi không thể không được đặt ra: Tại sao Bộ Chính trị cũng như Ban Chấp hành Trung ương đảng lại chọn lựa Nguyễn Phú Trọng thay vì Nguyễn Tấn Dũng?

Ai cũng biết Nguyễn Phú Trọng là người bảo thủ, giáo điều và tuyệt đối không sắc sảo. Sự thiếu sắc sảo ấy khiến Nguyễn Phú Trọng, một mặt, sau 5 năm nắm giữ chức vụ cao nhất trong đảng, chưa bao giờ có một chính sách, hay thậm chí, một câu nói nào để lại ấn tượng sâu trong lòng quần chúng; mặt khác, bị dân chúng khinh bỉ, hoặc, nhẹ nhàng hơn, coi thường, xem là “lú”. Tính chất bảo thủ và giáo điều làm cho Nguyễn Phú Trọng, một mặt, xa rời thực tế và mù loà trước những xu thế vận động của lịch sử thế giới; mặt khác, ít nhiều ngả về phía Trung Quốc với cái ảo tưởng là cả hai đều có một lý tưởng chung: chủ nghĩa cộng sản.

Chính ba đặc điểm, bảo thủ, giáo điều và thiếu sắc sảo ấy của Nguyễn Phú Trọng làm cho dân chúng nói chung dễ có khuynh hướng ủng hộ Nguyễn Tấn Dũng. Người ta thừa biết Nguyễn Tấn Dũng tham nhũng, lợi dụng chức quyền để đưa con cái vào guồng máy cai trị cũng như làm giàu một cách bất thường. Tuy nhiên, người ta vẫn tin, với Nguyễn Tấn Dũng, đất nước còn có chút hy vọng thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc. Với Nguyễn Phú Trọng thì không. Tuyệt đối không.

Vậy tại sao Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương đảng lại chọn Nguyễn Phú Trọng?

Lý do chính, theo tôi, là: Người ta sợ sự sắc sảo. Những người thông minh sắc sảo bao giờ cũng có những phản ứng và những chính sách bất khả đoán đối với những người tầm thường. Điều này giải thích tại sao trong mấy kỳ đại hội đảng vừa qua, bao giờ người ta cũng bầu những người bình bình nhàn nhạt lên chiếc ghế tổng bí thư. Hết Đỗ Mười (1991-97) đến Lê Khả Phiêu (1997-2001), Nông Đức Mạnh (2001-2011) và từ Đại hội XI đến nay là Nguyễn Phú Trọng.

Tâm lý sợ sự sắc sảo ấy gắn liền với một tâm lý khác: sợ sự thay đổi. Người ta biết chắc Nguyễn Phú Trọng không phải là một lãnh tụ tài giỏi nhưng ít nhất dưới sự lãnh đạo của ông sẽ không có gì thay đổi cả. Không thay đổi trong thể chế chính trị. Không thay đổi trong quan hệ với Trung Quốc. Và, đặc biệt, quan trọng nhất, không có gì thay đổi trong bộ máy quyền lực của đảng cũng như những quyền lợi mà các uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương đang có.

Tâm lý này phù hợp với một trong những mục tiêu chính Ban Chấp hành Trung ương đảng nêu ra trong nhiệm kỳ tới: “giữ vững môi trường hoà bình, ổn định”. Nói đến “hoà bình”, người ta chủ yếu nhắm đến quan hệ với Trung Quốc; nói đến “ổn định”, người ta nhắm đến sinh hoạt chính trị đối nội: không có thay đổi gì mới trong cơ chế cũng như trong cấu trúc quyền lực trong nội bộ đảng.

Tâm lý sợ thay đổi ấy đi ngược hẳn lại xu hướng chung của lịch sử và niềm tin chung của mọi người. Việt Nam đang là nước yếu, yếu về cả kinh tế lẫn chính trị; điều Việt Nam cần nhất, do đó, không phải là giữ nguyên trạng mà phải thay đổi để tiến bộ. Sự quyết định của Ban Chấp hành Trung ương, khi coi sự “ổn định” là tiêu chí quan trọng nhất để chọn lựa người lãnh đạo là một quyết định hoàn toàn sai lầm. Năm ngoái, bà Phạm Chi Lan, một chuyên gia kinh tế tại Việt Nam, có một nhận xét rất hay về tình trạng Việt Nam hiện nay: “Trên thế giới chia ra gồm nước phát triển, nước đang phát triển, nước chậm phát triển nhưng Việt Nam có lẽ là mô hình đặc biệt nhất. Đó là nước… không chịu phát triển!”

Đất nước không chịu phát triển. Chỉ có quyền thế và quyền lợi của giới lãnh đạo là…phát triển vượt bậc.

ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH

ỨNG NGHIỆM LỜI KINH THÁNH

Noel Quesson

Người bắt đầu nói với họ: “Hôm nay đã ứng nghiệm lời Kinh Thánh quý vị vừa nghe”

Đấy là kết luận bài giảng đầu tiên của Đức Giêsu trong hội trường làng quê Nagiarét: Qua bài đọc của ngôn sứ Isaia, Đức Giêsu vừa đưa ra một chương trình hành động: Rao giảng Tin Mừng cho Người nghèo hèn, giải phóng những tù nhân, đem lại sự giải thoát cho những người bị áp bức, loan báo năm hồng ân của Chúa.  Lời chú giải duy nhất của Đức Giêsu nói rằng!  Hôm nay, mọi sự ấy đã ứng nghiệm.  Trước sự ngạc nhiên của cử tọa, Người khẳng định rằng bản thân Người đã đáp lại trọn vẹn mọi sự chờ đợi của Israel.  Đức Giêsu kéo Lời Chúa từ “quá khứ” xa xôi nơi người ta muốn luôn luôn giam hãm Lời Chúa.  Người yêu cầu nhân loại chớ đặt Thiên Chúa “trong quá khứ” hoặc “trong tương lai”: phải là sự lan tỏa của Thiên Chúa, dự án của Thiên Chúa, trong đời sống hàng ngày của chúng ta… Hôm nay!

Và hôm nay, chẳng phải chúng ta cũng đã cố gắng kéo lui Tin Mừng trở về phía sau, vào hai mươi thế kỷ trước đây đó sao?  Vậy còn những người nghèo hèn nào, những tù nhân và người bị áp bức nào hôm nay ở chung quanh chúng ta?  Chúng ta sẽ mang đến cho họ Tin Mừng nào?

Mọi người đều tán thành và thán phục những lời hay ý đẹp thốt ra từ miệng Người

Tôi chiêm ngưỡng “miệng” Đức Giêsu mà Luca là người duy nhất thường nói với chúng ta (Lc 4, 22; 11, 54; 22, 71). Những “lời ân sủng” từ miệng Đức Giêsu mà ra.  Như thế, sự rao giảng của Đức Giêsu đã bắt đầu với việc khẳng định rằng thời kỳ mà Thiên Chúa ban ơn “không mất tiền” và ban sự tha thứ đã đến và đó là hôm nay: ý nghĩa sít sao của từ “giải phóng” trả lại tự do, hay “giải thoát” (“aphésis” trong tiếng Hy Lạp) là thế.  Đức Giêsu đến để mang lại một “sứ điệp của ân sủng”, một sự ban ơn, một quà tặng vô giá mà không ai xứng đáng được.  Chúng ta phải ghi nhận rằng toàn bộ thần học của thánh Phaolô về “ân sủng” trong thư gởi tín hữu Rôma đã được viết ra khi Luca soạn thảo Tin Mừng của Người.  “Ở đâu tội lỗi đã lan tràn, ở đó ân sủng càng chứa chan gấp bội” (Rm 5, 20).

Luca đã là một môn đệ và một người bạn đồng hành của Phaolô.  Không giống như Máccô (6, 1-6), trước tiên Luca ghi nhận rằng việc rao giảng của Đức Giêsu được đón nhận: “Mọi người đều tán thành và thán phục?”  Những người dân ở Nagiarét không xấu xa hơn ở những nơi khác: Vậy thì, tại sao họ sắp sửa trở mặt?

Họ bảo nhau: “Ông này không phải là con ông Giuse đó sao?

Luca biết rất rõ đó là một biểu lộ sự ngu dốt của họ về nguồn gốc thật sự của Đức Giêsu như ngài vừa viết ra trên giấy trắng mực đen: “Thiên hạ vẫn coi Người là con ông Giuse” (Lc 3, 23).  Vậy thì, người ta hài lòng với “sứ điệp của Đức Giêsu, nhưng Người ta không muốn nhận sứ điệp ấy từ Người: Đó là cớ vấp phạm rất thông thường của nhân loại!  Dẫu sao, đó chỉ là “con ông Giuse.”  Giáo Hội cũng luôn gây ra cùng một cớ vấp phạm.  Người ta sẵn sàng tiếp đón sứ điệp của Giáo Hội, nhưng người ta không chấp nhận sự yếu đuối của con người trong Giáo Hội.

Giáo Hội cơ cấu giống như phần lớn các hiệp hội, với tài chính của nó, với sự nặng nề trong việc điều hành, nhưng sơ cứng của sức nặng quá khứ trong huyết quản, những tội lỗi của cách thành viên, chứng nhận định thiếu sót của một số viên chức, sự sợ hãi canh tân, những mâu thuẫn giữa “nói” và “làm”.  Người ta không bao giờ nhận xét hết những khía cạnh “quá” con người của Giáo Hội.  Như thế, những người dân ở Nagiarét bị kẹt cứng trong định kiến “con ông Giuse.”

Người nói với họ: “Hẳn là các ông muốn nói với tôi câu tục ngữ: Thầy lang ơi, hãy chữa lấy mình!  Tất cả những gì chúng tôi nghe nói ông đã làm tại Ca-phác-na-um, ông cũng hãy làm tại đây, tại quê ông xem nào!

Đức Giêsu không tìm cách làm giảm nhẹ cuộc xung đột mà Người đoán trước: Chính Người đã tấn công. “Vậy ông hãy làm cho chúng tôi những phép lạ như ông đã làm ở những miền lân cận!”  Người ta không ngừng đặt “cơn cám dỗ” lớn ấy dưới chân Đức Giêsu.  Đó là cơn cám dỗ của satan (Lc 4, l-14).  Người ta đòi hỏi Đức Giêsu những “dấu chỉ từ trời xuống” (Lc 11, 16).

Một trong những cách chối bỏ Thiên Chúa là yêu cầu Chúa làm các phép lạ.  Chúng ta tiếp tục có thái độ của người dân ở Nagiarét.  Chúng ta muốn có một Thiên Chúa tỏ mình ra thêm chút nữa, một Thiên Chúa giải quyết những vấn đề của chúng ta thay cho chúng ta.  Vả lại Thiên Chúa không thích vai trò mà chúng ta muốn ép Người làm.  Thiên Chúa không thích điều ngoại lệ, kỳ diệu và ly kỳ.  Khi Người chữa lành một người mù không phải để làm cho chúng ta kinh ngạc mà để ám chỉ cho chúng ta biết rằng Người muốn chữa sự mù lòa vốn có của tất cả chúng ta.  Khi Người chữa lành một người bị liệt nằm trên cáng, vì Người mong muốn chữa lành mọi người chúng ta khỏi một bệnh liệt còn nặng hơn nhiều là tội lỗi của chúng ta.  Điều đó được nói rõ ràng trong Tin Mừng (Lc 5, 17-26).

“Vậy ông cũng hãy làm tại đây một phép lạ cho chúng tôi.”  Chúng ta cũng thế, có lúc chúng ta tưởng rằng mình phục vụ Thiên Chúa theo cách đó.  Vả lại, muốn xếp đặt Thiên Chúa “để phục vụ chúng ta” chính là chối bỏ Người.  Tối hậu thư bi đát.  Tối hậu thư buồn cười.  Con người tìm đến trước mặt Chúa và yêu cầu Người “làm” điều mà mình mong mỏi, điều phục vụ cho mình?  Thách thức Thiên Chúa?  Giảm lược Thiên Chúa để Người chỉ còn là một “động cơ phụ gỡ rối cho chúng ta khi cái xe: không còn chạy được nữa.  Ôi! Lạy Chúa, con nhận ra mình ở trong số những người đồng hương của Chúa ở Nagiarét!  Xin Chúa giúp con trở lại với lòng con để bắt đầu phục vụ Chúa, thay vì đòi Chúa phục vụ con.  Thay vì lúc nào cũng nói “nguyện ý con được thể hiện bởi Chúa, con phải nói trong chân lý rằng nguyện ý Cha được thể hiện bởi con.”

Người nói tiếp: “Tôi bảo thật các ông: không một ngôn sứ nào được chấp nhận tại quê hương mình

Không, người ta chẳng chịu nghe các ngôn sứ.

Làm ngôn sứ chẳng dễ chịu chút nào, phiền toái là đằng khác!  Nghĩa là làm “người phát ngôn” của Thiên Chúa.  Giêrêmia trong bài đọc một của chủ nhật này nói với chúng ta điều đó một cách thật đau đớn.  Thiên Chúa không phải lúc nào cũng nói những lời dễ nghe.  Vì thế nhiều ngôn sứ đã phải chết: “Giêrusalem! Ngươi giết các ngôn sứ và ném đá những kẻ được sai đến cùng ngươi!” (Mt 23, 37).  Đấy là một chủ đề của Luca (6, 23; 11, 47-50; 13, 33-34; Cv 7, 52).

Còn chúng ta, trong thế giới mà đa số là vô tín và duy vật, nhưng chúng ta có phải là những ngôn sứ không?  Không phải trong những lúc đặc biệt mà trong đời thường mỗi ngày; nắm chắc “chính nghĩa của Thiên Chúa”, nắm chắc lời “vì Chúa” (từ ngôn sứ trong tiếng Hy Lạp do chữ “pro-phèmi” có nghĩa là “tôi nói vì”).

Thật vậy, tôi nói cho các ông hay: vào thời ông Êlia, khi trời hạn hán suốt ba năm sáu tháng, cả nước phải đói kém dữ dội, thiếu gì bà goá ở trong nước Israel; thế mà ông không được sai đến giúp một bà nào cả, nhưng chỉ được sai đến giúp bà goá thành Xarépta miền Xiđôn.

Luca, môn đệ của thánh Phaolô, tông đồ dân ngoại, là người duy nhất đưa ra sự so sánh này lấy ra từ Cựu ước để nhấn mạnh đến những ân huệ mà Thiên Chúa ban cho những người không phải là dân Do Thái.  Biến cố ở Nagiarét mang dáng dấp của một chủ đề thần học: ơn cứu độ không dành riêng cho một số người đặc quyền.  Thiên Chúa muốn cứu chuộc mọi người.  Thiên Chúa yêu thương dân ngoại.  Không có Đất Thánh, không có Dân được chọn.  Chúng ta sẽ lạm dụng ngôn ngữ mạc khải nếu chúng ta sử dụng những cách diễn tả của Kinh Thánh một cách cố chấp như thể những miền đất khác bên ngoài Israel là phàm tục, như thể các dân tộc khác bị loại trừ khỏi Giao ước Thiên Chúa không có biên giới!  Thiên Chúa còn bao la, cao cả hơn những chân trời nhỏ bé của bản thân chúng ta!  Người ta không thể giam hãm con ông Giuse trong cái “hố” ở Nagiarét của Người.  Thiên Chúa cao cả hơn Giáo Hội hữu hình.  Những người ngoài Kitô giáo không nằm bên ngoài ân sủng của Thiên Chúa.

Cũng vậy, vào thời ngôn sứ Êlisa, thiếu gì người phong hủi ở trong nước Israel, nhưng không người nào được sạch, mà chỉ co ông Naaman, người xứ Xyri thôi

Trong sự so sánh giữa Israel và các dân ngoại, mọi ưu điểm thuộc về dân ngoại.  Khi nào có thể, Đức Giêsu đều thán phục đức tin của các dân ngoại, những người không phải là Do Thái, những người Samari dị giáo (Lc 9, 23.47; 10, 33; 17, 16).  Thật lạ lùng khi tôn giáo có thể làm sơ cứng lòng người.  Từ hai ngàn năm rồi Israel đã chờ đợi Đấng Mêsia, nhưng đức tin của họ bị sơ cứng.  Đó là lời cảnh báo cho tất cả những ai tưởng rằng mình thân thiết với những việc của Thiên Chúa, tưởng rằng mình được hưởng, một nền giáo dục Kitô giáo tốt đẹp, và việc thường xuyên tham dự các bí tích bảo đảm.  “Những người thu thuế và gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Lc 7, 34).

Nghe vậy, mọi người trong hội đường đầy phẫn nộ.  Họ đứng dậy, lôi Người ra khỏi thành – thành này được xây trên núi.  Họ kéo Người lên tận đỉnh núi, để xô Người xuống vực

Đây là sự tiên báo số phận sau cùng của Đức Giêsu.  Người bị giết bên ngoài thành (Lc 20, 15; Cv 7, 57).  Chúng ta hẳn sẽ lầm khi vội vã tưởng rằng mình ở về phía những người lương thiện và được miễn trừ thái độ của những người đồng hương với Đức Giêsu.  Rất nhiều lần, chúng ta cũng “lôi” Đức Giêsu ra khỏi những quyết định của chúng ta, nhà chúng ta, nghề nghiệp chúng ta.  Ông không can dự gì ở nhà tôi!  Hỡi ngôn sứ, đi chỗ khác mà thuyết giáo.

Nhưng Người băng qua giữa họ mà đi.

Những từ khước của tôi không thể ngăn Con Thiên Chúa theo đuổi kế hoạch của Người với những người khác.  Điều tệ hại là tôi không biết ngạc nhiên nhiều hơn!  Giữa những trào lưu của lịch sử, những từ khước của con người, Đức Giêsu tiếp tục “con đường của Người.”  Lạy Chúa, cám ơn Chúa!

Noel Quesson

Những điều không nên nói nếu không muốn có hệ quả xấu !


Có nhïng iÁu không nên nói, n¿u nói s½ khó tránh khÏi bË báo éng. (¢nh: Internet)
Những điều không nên nói nếu không muốn có hệ quả xấu !

Người xưa có câu: “Phúc thủy nan thu” (ý nói nước đã đổ đi thì khó hốt lại, gương vỡ thì khó lành). Lời nói giống như hắt bát nước, nước đã hắt đi thì không thể thu lại được, lời đã nói ra cũng khó thu hồi lại. Cho nên, một lời trước khi muốn nói ra không thể không thận trọng suy nghĩ.

Nói chuyện là một môn nghệ thuật, cho dù nói lời hay đi nữa cũng không thể muốn nói thì nói. Nói người này tốt nhưng lại ảnh hưởng không tốt đến người khác, như thế cũng không hẳn đã là thông minh. Nói lời không hay sẽ khiến người khác buồn rầu, chán nản thì càng không nên nói. Vậy những lời nào không nên nói? Hãy cùng xem nhé!

1. Không nên nói những lời chán nản, làm mất ý chí

Có những người rất hay nói những lời chán nản, lời làm nhụt ý chí, kỳ thực cuộc sống nên nhận được sự cổ vũ khích lệ của người khác, cho dù không có người động viên mình thì cũng phải tự động viên mình. Tự bản thân mình không cổ vũ, khích lệ chí hướng của mình, ngược lại còn thường xuyên nói những lời chán nản thì tự nhiên sẽ khiến mình đắm chìm trong tuyệt vọng. Khi con người đắm chìm trong tuyệt vọng, nhìn đâu đâu cũng không thấy có hy vọng có tương lai thì sẽ không còn quý trọng bản thân mình và họ dễ dàng bị rơi vào sa đọa mà hủy hoại cuộc sống của mình.

2. Không nên nói những lời tức giận

Con người trong lúc tức giận mà nói thì thường thiếu suy nghĩ nên sẽ dễ dàng làm tổn thương người khác, có khi làm tổn thương chính bản thân mình. Con người trong lúc bị khinh bỉ xúc phạm thì tốt nhất nên giữ vững tỉnh táo, đừng tùy tiện lên tiếng, bởi vì lời nói lúc nổi nóng sẽ rất khó nghe, thậm chí có thể khiến người khác ám ảnh cả đời mà không thể quên được. Đối với cha mẹ, thì lời nói trong lúc tức giận của con cái sẽ khiến họ rất đau lòng. Đối với con cái, trẻ nhỏ thì lời nói trong lúc bực tức của cha mẹ có thể khiến trẻ chán nản mà tìm đến con đường cùng.

3. Không nên nói những lời phàn nàn, oán trách

Con người khi không hài lòng, thường hay nói những lời phàn nàn, oán trách, oán hận cấp trên, oán trách bạn bè hay thậm chí oán hận cả người nhà. Nếu như bạn thường xuyên nói những lời phàn nàn, sau khi người khác nghe được họ có thể sẽ mượn lời của bạn mà bàn lộng thị phi, nói bạn oán trách người này người kia, đối phó người này người kia. Lúc ấy, chẳng phải bạn sẽ là người chịu “quả đắng” sao?

4. Không nên nói những lời tổn hại người khác

Có người lỗ mãng, không tôn trọng, không bao dung người khác, thường xuyên nói những lời tổn hại đến người khác, có lúc là “hại người lợi mình” nhưng cũng nhiều khi là “hại người hại mình”. Lời nói làm tổn hại người khác có thể chỉ là nhất thời nhưng nhân cách của mình đã bị người khác coi nhẹ, nên chỗ bị thương lại là vĩnh viễn.

5. Không nên nói những lời khoe khoang

Có những người rất yêu thích nói lời tuyên truyền về mình, quảng cáo bản thân mình, khoe khoang bản thân mình khiến người khác nghe xong đều không thấy đồng tình. Cho nên, việc tự mình khoe khoang về bản thân là không có lợi ích thực tế mà trái lại còn làm tổn thương mình. Nếu bạn muốn mình vĩ đại, hãy làm một số việc vĩ đại, việc vĩ đại sẽ được người khác đánh giá nhận định còn bản thân mình thì khiêm tốn vẫn là quan trọng hơn.

6. Không nên nói những lời dối trá

Trong “5 giới cấm” của Phật giáo thì “nói dối” là một trong số giới cấm đó. Lời nói dối chính là “thấy mà nói không thấy, không thấy mà nói thấy, đúng nói là sai, sai nói là đúng”, hay nói ngắn gọn rằng lời nói dối là lời nói không thật. Nói những lời nói dối không chỉ đem tai họa đến cho người khác mà còn đem cả tai họa đến cho bản thân mình, thường xuyên nói dối khiến người khác không còn tin tưởng mình thậm chí khi nhắc đến mình người ta đã thấy coi thường.

https://daikynguyenvn.com/wp-content/uploads/2016/01/Nhung-dieu-khong-nen-noi-neu-noi-se-kho-tranh-khoi-bi-bao-ung2.jpg

(Ảnh: Internet)

7. Không nên nói những lời thuộc về bí mật

Có rất nhiều điều cần giữ bí mật như bí mật giữa nhân viên công ty, bí mật trong gia đình, bí mật của công ty, bí mật của bạn bè, bí mật của quốc gia…Cho nên, chúng ta nên dưỡng thành thói quen không tiết lộ bí mật của công ty, của bạn bè… đã chia sẻ với mình. Bởi vì hậu quả mà nó mang lại sẽ là rất lớn và bạn không thể lấy lại được. Sự tín nhiệm của mọi người đối với bạn cũng trở thành con số 0 ngay lập tức.

8. Không nên nói những lời riêng tư

Mỗi người đều có những điều riêng tư của bản thân mình, việc riêng tư của bản thân mình đương nhiên cũng sẽ không muốn người khác biết cho nên việc riêng tư của người khác họ cũng không muốn mình nói ra. Cho dù việc bạn nói ra việc riêng tư của người khác mà không bị họ phản kháng lại thì cũng đã thể hiện ra bạn là người không có hậu phúc. Mỗi người cần một căn phòng, một căn hộ không phải chỉ là để che mưa, che nắng, vì an toàn mà điều quan trọng nữa là vì sự riêng tư của bản thân. Bạn mặc quần áo là để giữ ấm nhưng điều quan trọng là để che giấu đi cơ thể mình. Vì vậy, để tôn trọng lẫn nhau thì việc trước hết là cần phải tôn trọng việc riêng tư của nhau.

Trên đây là những điều mà bạn không nên nói ra, hoặc nếu nhất định phải nói ra thì cần thận trọng suy nghĩ một cách kỹ càng bởi vì bạn là người nói, hệ quả sẽ tìm đến với bạn trước tiên đấy!

Theo Letu.life
Mai Trà biên dịch