‘Dân không muốn thần tượng tuyên truyền’

‘Dân không muốn thần tượng tuyên truyền’

 BBC

29-5-2016

Người dân Việt Nam đang khao khát ‘thần tượng’, nhưng lại không muốn những thần tượng do ‘tuyên truyền’ và ‘được dựng lên’, theo ý kiến nhà nhà nghiên cứu, khách mời của BBC.

Tại cuộc tọa đàm về chuyến thăm của Tổng thống Mỹ và hội chứng mang tên cơn sốt Obama ở Việt Nam của BBC Việt ngữ cuối tháng 5/2016, Tiến sỹ Khuất Thu Hồng, nhà nghiên cứu xã hội học từ Hà Nội cho nói:

“Tôi nghĩ rằng cơn sốt Obama đã cho chúng ta thấy là dân chúng muốn thần tượng của mình là ai, chứ không phải là những gì người ta dựng lên hoặc người ta cố gắng để tuyên truyền cho nó.”

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội Việt Nam khẳng định:

“Đấy chính là cái gọi là thần tượng thực sự mà người Việt Nam đang thiếu và khát khao. Những thứ mà khiên cưỡng thì rất khó khăn.

“Sự xuất hiện của ông Obama giải đáp cho chúng ta câu hỏi là người Việt Nam muốn gì, muốn thần tượng của mình phải như thế nào.”

Có sính ngoại quá không?

Tại cuộc tọa đàm Bàn tròn thứ Năm của BBC hôm 26/5, trước câu hỏi dường như ở Việt Nam đã có sẵn nhiều ‘thần tượng’, từ những tượng đài, cho tới các tên gọi trên các đường phố, hay trong sách giáo khoa và những nơi khác, mà không phải là thiếu thần tượng, bà Khuất Thu Hồng nêu quan điểm:

TS. Khuất Thu Hồng: Không ạ. Tôi nghĩ rằng cơn sốt Obama đã cho chúng ta thấy là dân chúng muốn thần tượng của mình là ai, chứ không phải là những gì người ta dựng lên hoặc người ta cố gắng để tuyên truyền cho nó. Cơn sốt Obama nó cho thấy điều tôi nói như ban đầu là người dân Việt Nam đang thiếu một thần tượng.

H1Người dân Việt Nam chào đón Tổng thống Obama trên đường phố. Ảnh: Getty

Thần tượng mà họ cảm thấy gần gũi với họ, mang lại, đáp ứng những mong mỏi, nhu cầu, thất vọng do về tự do, phát triển, chủ quyền, giáo dục và tất cả mọi thứ. Đấy chính là cái gọi là thần tượng thực sự mà người Việt Nam đang thiếu và khát khao. Những thứ mà khiên cưỡng thì rất khó khăn.

Sự xuất hiện của ông Obama giải đáp cho chúng ta câu hỏi là người Việt Nam muốn gì, muốn thần tượng của mình phải như thế nào. [Đó] phải là một người chân thành, hiểu biết, uyên bác, gần gũi; một người có thể động đến trái tim của tất cả mọi người bằng chuyến đi và lời phát biểu của mình, bằng việc ngồi ăn bún chả hay uống cà phê sữa hay bắt tay người dân, thì ông Obama đã tạo nên một thần tượng mà từ nay người Việt Nam luôn luôn hướng đến, mơ ước và mong mỏi rằng một ngày nào đó mình sẽ có những thần tượng như thế ở đất nước này.

BBC: Liệu người Việt Nam có sính ngoại quá hay không, như một số người đặt vấn đề? Xin hỏi tiếp TS Khuất Thu Hồng

TS. Khuất Thu Hồng: Tôi nghĩ Việt Nam đã đón quá nhiều các nguyên thủ quốc gia nhưng chúng ta đã thấy có trường hợp nào tương tự như vậy không ạ? Cũng có những nguyên thủ quốc gia mà quả thật, sự viếng thăm của họ mang lại cho chúng ta rất nhiều lợi ích về kinh tế, nhưng có được sự đón tiếp nồng ấm của người dân như vậy hay không thì chúng ta đã đều thấy câu trả lời rồi.

Hãy lắng nghe đối thoại

BBC: Chúng tôi muốn vấn ý bà Thảo Griffiths, trưởng Đại diện Quỹ cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, bà có bình luận gì về ý kiến của TS Khuất Thu Hồng?

Bà Thảo Griffiths: Tôi nhớ là năm 2000 khi Tổng thống Bill Clinton sang Việt Nam. Đấy cũng là việc có ý nghĩa lịch sử trong quan hệ Việt Mỹ bởi vì đó là chuyến đi đầu tiên của một Tổng thống Hoa Kỳ đến Việt Nam sau khi chiến tranh kết thúc.

Chúng ta (Việt Nam) cũng đã tiếp đón Tổng thống Bill Clinton như chúng ta tiếp đón Tổng thống Obama.

BBC: Xin được nghe ý kiến bình luận của Tiến sĩ Khoa học Nguyễn Quang A, nhà vận động xã hội dân sự ở Việt Nam.

H1Phụ nữ và trẻ em cầm cờ và ảnh chào đón ông Obama. Ảnh: Getty

TS. Nguyễn Quang A: Tôi rất đồng ý với Tiến sĩ Khuất Thu Hồng về điểm đó. Bởi vì nếu chúng ta nhìn lại những thần tượng mà người ta muốn cấy vào đầu người Việt Nam trong suốt nhiều chục năm qua hoặc những vị lãnh đạo của chúng ta thể hiện một tác phong như thế nào.

Tôi thấy người dân Việt Nam có một cơ hội để đối sánh thực tiễn với mong mỏi của họ. Và khoảng cách giữa thực tiễn với cái mong muốn; cũng như khoảng cách giữa thực tiễn và với mong mỏi của người ta với phía ông Obama, hai cái đó khác nhau một trời một vực.

Có lẽ, tôi nghĩ, về phía người cầm quyền Việt Nam cần phải nghiên cứu một cách rất là sâu sắc và phải tự thay đổi mình. Xã hội người dân đã tiến khá nhiều. Rất đáng tiếc là tác phong lãnh đạo, cung cách lãnh đạo vẫn giống như nhiều chục năm trước.

Và khoảng cách đó càng ngày càng xa ra thì nó làm cho sự bức xúc của người dân càng lớn. Bức xúc đó có thể gây ra những chuyện bất ổn xã hội không đáng có.

Chính những người lãnh đạo Việt Nam là người phải chủ động thay đổi mình để kéo khoảng cách giữa người dân với họ đang từ khoảng rộng như thế nó thu hẹp dần lại, làm sao để có thể giống như ông Obama. Đó là một vấn đề hết sức nghiêm túc mà họ cần hết sức lưu ý và chấn chỉnh.

Tôi nghĩ là chỉ có như thế, lắng nghe người dân đối thoại với người dân, chứ không phải là họ đối xử với đối xử với tôi với (blogger) Đoan Trang như vừa rồi.

Thực sự cùng giá trị

Tôi nghĩ là lúc đó mới tạo được sự đồng thuận. Không có một người nào đấu tranh dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam bây giờ muốn có một sự bất ổn. [Họ] đều muốn có một sự phát triển hài hòa và chỉ muốn làm cho bản thân chính quyền phải mạnh lên.

Bởi vì cái chính phủ phải có niềm tin ở chính mình và tạo ra niềm tin trong nhân dân.

H1Người dân với biểu ngữ bằng tiếng Anh ghi: “Hoan nghênh Tổng thống Barack Obama. Chúng tôi yêu mến ông”. Ảnh: Getty

Đấy mới là tài sản quan trọng [mà] rất đáng tiếc trong thời gian vừa qua cái tài sản rất quý giá đấy của nhà nước thì họ đã làm xói mòn đi.

Rất đáng tiếc tôi không gặp được ông Tổng thống Obama.

Nhưng hai người chuẩn bị cho cuộc viếng thăm của ông thì tôi có thời gian để nói chuyện. Và tôi nói với họ rằng, về cơ bản, những giá trị của Mỹ, hay giá trị của Việt Nam mà người ta coi rằng là giá trị của họ, thực sự là một.

Bởi vì ông Hồ Chí Minh dẫn chiếu giá trị của Mỹ ở Tuyên ngôn độc lập; rồi Việt Nam cũng muốn xây dựng một xã hội của dân, do dân, vì dân. Đấy là của Mỹ. Nhưng họ không nói là vay mượn của Mỹ.

Thế như vậy là những giá trị cơ bản của Mỹ và Việt Nam là không có bất đồng gì cả.

Chỉ có bất đồng ở một điểm là cái cách thực hiện như thế nào. Một bên là chỉ có nói về cái đó nhưng không thực hiện.

Thế nên tôi mới đặt vấn đề là người dân, chúng ta phải cố gắng giúp nhà nước để biến cái quyền hão, quyền ảo của chúng ta thành quyền thực.

Nếu thực sự là làm với tinh thần xây dựng như thế, thì nước Việt Nam sẽ phát triển. Tôi nghĩ lãnh đạo Việt Nam nên lắng nghe và tự thay đổi, và đối thoại với người dân.

Mời quý vị theo dõi thêm các cuộc tọa đàm Bàn tròn của BBC Việt ngữ về chuyến thăm của Tổng thống Hoa Kỳ Obama tới Việt Nam tại đâytại đây.

H1Người dân với biểu ngữ bằng tiếng Anh ghi: “Hoan nghênh Tổng thống Barack Obama. Chúng tôi yêu mến ông”. Ảnh: Getty

H1Ảnh: JIM WATSON AFP Getty Images

H1Ảnh: Reuters

H1Ảnh: Bui Thu

H1

Đã “tìm” được nguyên nhân cá chết ở Biển Miền Trung!

Đã “tìm” được nguyên nhân cá chết ở Biển Miền Trung!

 Báo chí thời gian qua đã tắt ngóm theo định hướng XHCN về chuyện cá chết. Trên các trang báo  nhà nước, hiện tượng cá chết và ô nhiễm ở Miền Trung coi như đã xong. Giờ đây, báo chí đăng nhiều bài viết rằng các chợ cá lại tấp nập, đông vui nhộn nhịp… Vậy là cá hết độc, biển đã sạch.

Dù cho đến hôm nay, đã gần một tháng rưỡi, nhà nước vẫn ú ớ và loanh quanh chưa thể tìm ra nguyên nhân cá chết. Cái cách mà cha ông ta thường nói “để lâu cứt trâu hóa bùn” đang  nhà nước được thực hiện triệt để.

Để lâu cũng có cái lợi. Mới đây, Hà Tĩnh đã phải có công văn về tiêu cực khi hỗ trợ dân do cá chết – lợi đó chứ đâu.

hotrocachet

Dân tình thì cứ tha hồ đồn đoán về nguyên nhân cá chết là do đâu. Thôi thì đủ loại lời phán đoán.

Một số thanh niên xăm trổ lên mạng thì khẳng định: nguyên nhân cá chếthàng loạtlà do cá lập băng đảng đánh nhau.

Một số khác thì cãi: hoàn toàn không phải, chỉ là một vụ thảm sát kiểu LVL mà thôi. Chẳng là vì thời gian qua, nhiều gia đình cá sợ nhà nước huy động vàng trong dân để trả nợ xong thì huy động đến tài sản loài cá, nên tập trung cất giấu, và chuyện không lọt qua mắt của đám cá dữ kiểu LVL, nên mới sinh ra thảm sát hàng loạt.

Một số lái xe đường dài thì khẳng định: cá chết do tai  nạn giao thông. Họ lý giải: trên đất liền, đường sá toàn dạng BOT, trạm kiểm soát, thu vé khắp nơi, cảnh sát giao thông nhan nhản, vậy mà còn tai nạn chết mỗi năm mấy chục mạng người. Huống chi dưới biển, tàu bè đi lại, cá lớn cá bé tham gia giao thông không luật lệ gì, lại không có cảnh sát giao thông đứng rình để bắt tay nhắc nhở, thì làm sao mà không tai nạn hàng loạt?!

Còn những cổ động viên Hải Phòng thì khẳng định chắc chắn bằng băng rôn hẳn hoi: Cá chết do không biết bơi. Cái này nghe ra cũng có lý. Ở Việt Nam thì điều gì mà chẳng có thể xảy ra.

mangcamchubau

Còn quan chức nhà nước thì cứ đủng đỉnh. Cứt trâu chưa hóa bùn thì làm sao mà xong việc?! Họ cho rằng muốn xác định được nguyên nhân cá chết, thì phải mất… một năm.

Để minh họa cho điều đó, một pha biểu diễn mới đã được thực hiện. Truyền hình VTV đã phỏng vấn một giáo sư Nhật Bản. Dân ta vốn chuộng ngoại, nên Nhật Bản giáo sư nói thì càng dễ tin mà. Đoạn ấy như sau:

VTV: Thưa giáo sư Yoshihiko Yamada (Đại học Tokai), là một nhà khoa học có rất là nhiều kinh nghiệm trong việc tìm kiếm nguyên nhân thảm họa môi trường… giáo sư có thể cho biết mất khoảng bao lâu để tìm ra nguyên nhân cá chết ở Việt Nam?

GIáo sư Yoshihiko Yamada: Tôi nghĩ có khi đến 1 năm.

Thế nhưng, ngay lập tức, cộng đồng mạng đã tìm ra thông tin về ông giáo sư này trên website của trường Tokai như sau:

– Chuyên môn: Kinh tế Công cộng (Public economics); An ninh Hàng hải (Maritime security); Kinh tế đảo (Islands economics)

– Khoa mục giảng dạy: Xã hội hải dương và quan hệ quốc tế; Kinh tế chính trị của quốc gia biển; Chính sách về hải dương.

– Chuyên đề nghiên cứu hiện tại : Vấn đề hải tặc hiện nay; Nhật Bản biên giới và hải đảo

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nhận xét trên facebook như sau: “Với chuyên môn như thế, ông ta khó có thẩm quyền khoa học để nói về nguyên nhân cá chết, nói chi đến kết luận.” Và ông Nguyễn Quang A đề nghị: Các bạn Việt Nam ở Nhật nên hỏi trường và các đồng nghiệp của ông ta xem sao (hay xem VTV có dịch đúng lời ông nói hay không).

Nghi ngờ một đài truyền hình quốc gia có vẻ lạ. Nhưng là chuyện cần thiết ở nước ta, bởi qua những vụ bê bối của đài VTV vừa qua, như vụ ăn cắp bản quyền đến mức bị khóa tài khoản youtube, dựng video clip giả làm hại người dân buộc xin lỗi, đưa kẻ có tiền sử ăn cắp nhiều lần lên truyền hình giảng dạy văn hóa, đạo đức…, nên người dân có quyền nghi ngờ. Đặc biệt là cái phóng sự vu cáo các nhân sĩ, trí thức và Đức Giám mục Nguyễn Thái Hợp trong vụ cá chết vừa qua.

Thế rồi, chuyện cá chết không được nói đến nữa,nhất là những ngày bầu cử đang đến gần, mà dân thì nhất định chẳng sử dụng cái quyền đó làm gì.

Thậm chí, các nhà mạng đã đồng loạt lọc từ cá chết, môi trường, vũng áng, Formosa, bầu cử. Thế là càng yên.

Có lẽ trên thế giới, chưa có nước nào có thể giải quyết thảm họa ô nhiễm môi trường nhanh chóng và hiệu quả bằng Việt Nam.

Kinh nghiệm này, cần phổ biến ra toàn thế giới: Chỉ cần một công văn, hoặc một chỉ thị của Ban Tuyên giáo cấm báo chí đưa tin, buộc gỡ các bài viết về thảm họa, về cá chết với lý do rất đơn giản: Tổn hại đất nước. Thế là xong.

tuyenthe

Cũng chuyện cá chết, nhưng không phải ở Miền Trung, nơi có Formosa đang thải độc, mà trên kênh Nhiêu Lộc đồng loạt 70 tấn cá chết hai hôm nay. Lập tức ngày hôm sau Ban Tuyên giáo đã kết luận được ngay cá chết do các chỉ số nồng độ nước vượt mức, do ô nhiễm… rất nhanh chóng mà không cần đến 1 năm như ở Miền Trung. Chắc hẳn ở đây, không có Thủ tướng chỉ đạo nên họ làm nhanh hơn chăng?

Các quan chức sau buổi biểu diễn ăn cá rồi lặn mất tăm, chẳng thấy đâu nữa. Người dân thì thầm: Họ lại tàng hình rồi.

Điều rất lạ là các quan chức đứng đầu đất nước mới giơ tay thề nguyền được truyền hình trực tiếp, nghe sao mà nghiêm trang, mà xúc động… rằng sẽ tuyệt đối trung thành với Tổ Quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân, thế mà nay dân ngắc ngoải, nguy khốn, không thấy mặt một ông, bà nào. Chắc chuyện chết chóc hàng loạt, đói kém, hủy hoại môi trường sống và kế sinh tồn của người dân là chuyện không thuộc về phạm trù “hạnh phúc của nhân dân” chăng?

gachetdoanno

Thế rồi, mới đây, đàn gà ở Đà Nẵng ăn cá xong thì đột nhiên lăn đùng ra chết. Các cơ quan Đà Nẵng vào cuộc ngay và khẳng định: Không phải vì ăn cá mà gà chết, nguyên nhân chính là do gà tham ăn, nên ăn no quá mà chết cả đàn.Báo chí không được đưa tin cá chết, thì đưa tin gà chết do ăn no quá.

Thế mới là tuyệt đỉnh công phu và cao thủ. Chỉ cần khẳng định như vậy là đã giải oan cho đàn cá và nhắc nhở đàn gà lần sau phải biết “ăn trông nồi, ngồi trông hướng” như các cụ đã dạy.

Thế là dân mạng xã hội mới vỡ lẽ ra rằng: Thì ra nguyên nhân cá chết đâu xa xôi gì, chỉ là do cá ăn no quá mà chết thôi.

Chỉ có vậy mà tháng rưỡi nay nhà cầm quyền không tìm ra nguyên nhân đơn giản này.

Chắc không lâu nữa, giới khoa học thế giới sẽ tìm đến Việt Nam học tập cách chống thảm họa môi trường và tìm nguyên nhân của gà và cá chết hàng loạt.

Đất nước ta lại bội thu về những khoản từ những phát minh làm cả thế giới kinh ngạc và “oán phục”.

Đúng, có vậy mới xứng tầm một đất nước được sự lãnh đạo “tuyệt đối và sáng suốt” của một đảng tự nhận là đỉnh cao trí tuệ loài người…

 Hà Nội, ngày 18/5/2016

J.B Nguyễn Hữu Vinh

GIẢ SỬ MỘT NGÀY , KHI TÔI CHẾT ĐI ….

GIẢ SỬ MỘT NGÀY , KHI TÔI CHẾT ĐI ….

* NẾU MỘT NGÀY
Khi tôi chết đi :
– Người ghét tôi, họ sẽ nhảy múa……
– Người yêu tôi, họ sẽ khóc như mưa…

* NGÀY THỨ HAI
Thân xác tôi sẽ được chôn dưới lòng đất
– Người ghét tôi nhìn thấy ngôi mộ , họ chỉ mỉm cười và bước đi.
– Người yêu tôi không dám quay đầu nhìn lại , dù chỉ một lần.

* MỘT NĂM SAU
Thân xác của tôi đã trở nên mục nát . Ngôi mộ của tôi , cỏ mọc um tùm .
– Người ghét tôi , đôi khi vẫn rất khó chịu khi nhắc đến tên tôi.
– Người yêu tôi , trong đêm khuya vắng vẻ vẫn khóc thầm gọi tên tôi.

* MƯỜI NĂM SAU
Thân xác tôi không còn nữa . Chỉ còn lại bộ xương cốt.
– Người ghét tôi , không còn nhớ mặt tôi nữa, mà chỉ còn nhớ tên tôi một cách mơ hồ.
– Người yêu tôi , đôi khi trầm lắng trong giây lát khi nhớ đến tôi.

Cuộc sống khiến cho mọi thứ dần dần trở nên phai nhạt…

* MẤY MƯƠI NĂM SAU
Ngôi mộ của tôi , trải qua bao mùa mưa gió . Chỉ còn lại một bãi đất hoang vu.
– Người ghét tôi , không còn nhớ tôi nữa !
– Người yêu tôi , cũng đã nằm xuống đất !

Đối với thế giới này , tôi đã trở thành hư vô.
………………………………………………………………..

Những phấn đấu một đời , với bao của cải vật chất . Những ham muốn , theo đuổi một đời cũng không thể mang đi dù một chút hư danh.

Dù là giàu sang hay nghèo hèn , rốt cuộc cũng phải đi đến bước cuối cùng.

Hãy sống một cách thiết thực , đừng vì ánh mắt của người đời, hay tiêu chuẩn đánh giá của bất kỳ ai.
….

( Sưu tầm )

CÁI CHỮ LÚ ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT HÚY KỴ …

CÁI CHỮ LÚ ĐÃ TRỞ THÀNH MỘT HÚY KỴ …

Trong lịch sử nước Việt, mà cũng có lẽ là cả lịch sử loài người, chưa bao giờ có một thằng “lú như Trọng” lại là người đứng đầu cả một nước hơn 90 triệu dân.

Cái tên Trọng Lú không biết đã có từ lúc nào và do đâu (chắc là chỉ có những người trong hàng ngũ trí tuệ ở Ba Đình mới biết), tuy nhiên ngày nay đã trở thành một “húy kỵ” rất nặng.

Một bài báo với tựa đề “Lời than thở của các loài cá”, tác giả là Người Hóng Chuyện, đăng trên Thế giới tiếp thị số 20, đã bị Cục Báo Chí xử phạt 140 triệu đồng tiền âm phủ và Báo TG Tiếp thị bị đình bản 3 tháng kể từ ngày 14-05-2016.

Bài báo viết chung chung, mượn lời của các loài cá than thở về cái vụ “Cá chết”. Nhưng có lẽ chỉ có câu cuối cùng đã đưa nguyên tờ báo đến một chung cuộc thê thảm. Đoạn đó như sau:

– Cứ như vầy hoài, chắc dân tộc cá chúng ta trở thành cá Lú (tên khoa học: Parapercis sexfasciata) hết quá!

(Cá Lú là một giống cá có thiệt theo tiếng Việt).

À há ! cái Người Hóng Chuyện nầy quả thật gian manh, mượn lời than thở của các loài cá mà dám … chọc tới cái ông Tổng bí thư của đảng quang vinh !!!

Ha ha ha …

Bài báo “Lời than thở của các loài cá” được đăng trên Thế giới tiếp thị số 20, một ấn phẩm của báo Nông thôn ngày nay. Cùng với bài “Mãi mãi là người đến sau” đăng trên Thế giới tiếp thị số 18-19, báo Nông thôn ngày nay bị Cục Báo chí (Bộ Thông tin & Truyền thông) quyết định xử phạt vi phạm hành chính 140 triệu đồng, ấn phẩm Thế giới tiếp thị bị đình bản 3 tháng, kể từ ngày 14/5/2016.

Bài báo đã bị gỡ: Lời than thở của các loài cá

Tiếp Thị Thế Giới

11-5-2016

Con cá Lú (Tên khoa học là Parapercis sexfasciata). Nguồn: internet

Các loại cá Thu, Ngừ, Chình, Trích, Nục, Liệt, Đối, Phèn, Chỉ Vàng… diễu hành từng đoàn, kêu la rân trời trong vô vọng.

Hơn tháng trôi qua, kể từ ngày những con cá đầu tiên chết nổi lềnh bềnh trên mặt biển, lũ cá vẫn ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì đang và sẽ xảy ra.

Thông tin vô cùng nhiễu loạn.

Lúc thì “do tác động của các độc tố hoá học thải ra từ hoạt động của con người trên đất liền và trên biển và tảo nở hoa, gọi là hiện tượng thuỷ triều đỏ”.

Rồi “Kết quả quan trắc nước biển đạt tiêu chuẩn”.

Đặc biệt, sau khi các ông bụng bự xuống tắm để chứng minh biển sạch mà cá vẫn chết dạt vào bờ, loài cá càng hoang mang.

Kinh hãi nhất là dự báo nước biển bị ô nhiễm kim loại nặng, cá chết trước, người ăn cá tích tụ dần chất độc vào người, sẽ từ từ chết sau…

Loài cá cứ bơi vòng vòng, vòng vòng. Trong khi chờ cái chết tới, chúng tranh thủ thở than.

Cá Chim nói:

– Ôi ước gì mình bay được như chim để thoát khỏi vùng biển chết chóc này.

Cá Đao nghe vậy, chém gió một phát:

– Cậu không thấy chim cũng ngủm, xác phơi đầy đảo chim à?

– Cá Đuối rên hừ hừ: “Ôi, tui đuối quá rồi. Có ai cứu với?”

Đàn cá Bạc Má khóc rống lên:

– Hu hu, chắc thế hệ sau chúng tớ bị đổi thành cá Bạc Phước!

Các loại cá Thu, Ngừ, Chình, Trích, Nục, Liệt, Đối, Phèn, Chỉ Vàng… diễu hành từng đoàn, kêu la rân trời trong vô vọng. Bỗng, có tiếng tuyên bố:

– Chúng ta quyết liệt, khẩn trương, trong thời gian sớm nhất tìm ra thủ phạm gây ô nhiễm môi trường, có biện pháp khắc phục triệt để, ổn định đời sống loài cá, tránh gây hoang mang trong xã hội, kẻo thế lực thù địch trong và ngoài biển lợi dụng kích động.

Lũ cá nhìn quanh, tìm xem ai vừa nói rồi cá Đối la to:

– Thôi đi ông Sạo! Ông nói nữa, tụi tui đổi s thành x, kêu ông là Cá Xạo đó nha.

Cá Mập, Bạch Tuộc vẫn thấy nhởn nhơ. Đàn cá còn lại cứ bơi, bơi, ngày càng lo lắng:

– Cứ như vầy hoài, chắc dân tộc cá chúng ta trở thành cá Lú (tên khoa học: Parapercis sexfasciata) hết quá!

Người hóng chuyện
Thế Giới Tiếp Thị

. Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt-Quảng Trị

. Báo động: Người Trung Quốc đã lập căn cứ sát nách Cửa Việt-Quảng Trị

Blog VOA

Lê Anh Hùng

29-5-2016

Khu vực đã bị Trung Quốc thâu tóm và các vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng xung quanh. Courtesy Photo.

Trong một bài bình luận mới đây trên website của Đài Phát thanh Quốc tế Trung Quốc, một học giả Trung Quốc đã nói huỵch toẹt âm mưu của Bắc Kinh một khi chiến tranh Trung – Việt nổ ra là sẽ tìm cách chia cắt Việt Nam từ phía biển.

Xin trích một đoạn trong bài “Học giả Trung Quốc bày mưu chia cắt Việt Nam từ phía biển” trên trang Giaoduc.net ngày 19/4/2016:“…Một khi lực lượng hải quân ngoại bang triển khai từ trên biển thì về mặt địa hình, Việt Nam như ‘dưa hấu gặp dao sắc’, có thể bị tấn công đổ bộ từ bất kỳ địa điểm nào dọc theo đường bờ biển đất liền… Nói cách khác, nếu Việt Nam để mất quyền kiểm soát Biển Đông thì bố trí quân sự của Việt Nam ở miền Bắc mất hẳn chỗ dựa, đầu đuôi khó ứng cứu cho nhau…”

Mặc dù Trung Quốc có thể tấn công đổ bộ từ bất kỳ địa điểm nào dọc theo bờ biển Việt Nam, nhưng tất nhiên họ sẽ nhắm đến những vị trí xung yếu nhất về an ninh quốc phòng.

Đó là những vị trí đáp ứng được ít nhất một trong những tiêu chí sau: (I) thuận tiện cho việc đổ bộ – vùng biển nơi đổ bộ phải đủ sâu cho tàu trọng tải lớn cập bờ, cho phép cả binh lính lẫn các loại vũ khí hạng nặng đổ bộ; (II) nếu đổ bộ thành công, Trung Quốc , họ sẽ khống chế được một khu vực rộng lớn có tầm quan trọng chiến lược; (III) chỉ cần một lực lượng quân sự vừa phải là đủ sức chia cắt Việt Nam tại đó; và (IV) tại vị trí đối diện bên kia biên giới Lào – Việt hoặc Campuchia – Việt Nam, Trung Quốc cũng thiết lập được căn cứ phố hợp, nhằm khi chiến tranh nổ ra, nó sẽ hiệp đồng tác chiến với lực lượng đổ bộ từ biển vào (hoặc với cả lực lượng nằm vùng tại vị trí đổ bộ) để hình thành nên một gọng kìm nguy hiểm.

Hiện nay, Trung Quốc đã chiếm lĩnh được hoặc đang tìm cách chiếm lĩnh nhiều vị trí xung yếu nằm dọc theo bờ biển Việt Nam như Vũng Áng (Hà Tĩnh), Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Hải Vân (Thừa Thiên – Huế), Silver Shores (Đà Nẵng), Vĩnh Tân (Bình Thuận), Duyên Hải (Trà Vinh), hay Châu Thành (Hậu Giang), v.v.

Cách đây hơn 2 năm, chúng tôi đã từng báo động về việc Trung Quốc sắp lập căn cứ tại Cửa Việt thông qua một “dự án kinh tế” của Công ty Cổ phần Chăn nuôi C.P. Việt Nam – một công ty sản xuất thức ăn gia súc, thuỷ sản và chăn nuôi hàng đầu Việt Nam, vốn thuộc tập đoàn C.P. Group của Thái Lan, nhưng đã bị Trung Quốc thâu tóm. Nhờ sự lên tiếng kịp thời của công luận, dự án này hiện đang bị tạm dừng.

Tuy nhiên, nếu ai đó vội tin rằng Trung Quốc vì thế mà đã từ bỏ âm mưu lập căn cứ ở Cửa Việt thì nhầm to. Đơn giản, Cửa Việt là một trong không nhiều nơi dọc theo bờ biển Việt Nam hội đủ cả 4 tiêu chí nêu trên. Vì thế, nó đã lọt vào “mắt xanh” của các ông chủ Trung Nam Hải từ lâu.

Trong dịp trở lại thăm Cửa Việt vừa qua, chúng tôi lại phát hiện ra là Trung Quốc đang lập một căn cứ khác sát nách cảng Cửa Việt thông qua thủ đoạn núp bóng người Việt để thâu tóm một doanh nghiệp thuỷ sản ở địa phương – đó là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế tại thôn Phú Hội, xã Triệu An, huyện Triệu Phong.

Trước kia, đây là một cơ sở thuộc Công ty Thuỷ sản Quảng Trị, một doanh nghiệp nhà nước. Năm 2005, Công ty Thuỷ sản Quảng Trị bị phá sản. Năm 2007, UBND tỉnh Quảng Trị giao cơ sở thuỷ sản này cho một doanh nghiệp nhà nước khác là Công ty Xi măng Quảng Trị. Sau 3 năm trực thuộc Công ty Xi măng Quảng Trị và không hoạt động gì, đến năm 2010, cơ sở này lại được bán cho Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế. Và đến Tết Bính Thân vừa rồi, nó đã bị Trung Quốc thâu tóm thông qua một người Việt tên là Hoà, quê ở Thanh Hoá, với mức giá 8 tỷ VNĐ.

Hiện nay, các ông chủ người Hán đang gấp rút sửa sang lại nhà xưởng và xây dựng khu nhà ở cho công nhân trong khi tiếp tục hoàn thiện các thủ tục pháp lý còn lại để cho ra đời một doanh nghiệp Trung Quốc trá hình tại khu vực hết sức nhạy cảm về an ninh quốc phòng này.

Vị trí do người Trung Quốc kiểm soát bao gồm 2 khu: khu văn phòng + nhà ở công nhân và khu nhà xưởng. Tổng diện tích 2 khu này lên tới khoảng 9.000m2.

Người dân địa phương cho chúng tôi biết, nền móng khu nhà ở công nhân được xây hết sức kiên cố và đặc biệt là sâu khác thường: khoảng cách từ nền nhà xuống đáy móng lên đến 2,3m. Các hố móng được lấp đầy cát trắng, với các ống nhựa cắm xung quanh, nghĩa là lượng cát đó có thể được hút ra bất cứ lúc nào để trở thành một hệ thống hầm ngầm bí mật.

H1Khu vực đã bị Trung Quốc thâu tóm và các vị trí nhạy cảm về an ninh quốc phòng xung quanh

H1Trước khi rơi vào tay Trung Quốc, đây là Chi nhánh Quảng Trị của Công ty Cổ phần Phát triển Thuỷ sản Huế.

H1Khu văn phòng & nhà ở công nhân (bên trái) và khu nhà xưởng (bên phải) nhìn từ cầu Cửa Việt.

H1Khu văn phòng & nhà ở công nhân (bên trái) và khu nhà xưởng (bên phải) nhìn từ cầu Cửa Việt.

Từ Cửa Việt lên cửa khẩu Lao Bảo chỉ khoảng 80km, giao thông rất thuận tiện nhờ tuyến đường nhựa lớn nối với quốc lộ 9 chạy thẳng lên Lao Bảo. Bên kia cửa khẩu Lao Bảo là tỉnh Savanakhet, một địa bàn tập trung rất nhiều người Hán cùng các “dự án kinh tế” của họ trên đất Lào.[i] Một khi chiến tranh Việt – Trung nổ ra, lực lượng Trung Quốc từ Savanakhet đánh sang và lực lượng ngoài biển phối hợp với đội quân nằm vùng ở Cửa Việt đánh vào sẽ tạo nên một gọng kìm vô cùng nguy hiểm, đe doạ chia cắt Việt Nam ở khu vực này.

Những căn cứ ven biển của Trung Quốc không chỉ nguy hiểm về mặt quân sự mà, giống như đại thảm hoạ môi trường do Formosa Hà Tĩnh gây ra ở Miền Trung thời gian qua, chúng còn âm thầm đầu độc môi trường biển, khiến ngư dân – những “cột mốc chủ quyền” trên biển – không còn tha thiết với việc ra khơi để góp phần bảo vệ chủ quyền biển đảo của Việt Nam. Về lâu dài, tình trạng ô nhiễm môi trường biển sẽ làm thui chột nòi giống Việt trong tương lai.

Trong khi lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam vẫn không ngớt tụng niệm câu thần chú “4 tốt, 16 vàng”, lãnh đạo Bộ Quốc phòng vẫn chìm đắm trong vòng xoáy kim tiền cùng các màn “giao lưu quốc phòng” với “bạn” thì những gọng kìm của chủ nghĩa Đại Hán vẫn đang ngày đêm âm thầm siết chặt dải đất hình chữ S của chúng ta.

*Ảnh trong bài: Lê Anh Hùng

_______

Ghi chú:

[i] Đây là thông tin mà chúng tôi đã tìm hiểu từ những người hay qua cửa khẩu Lao Bảo sang đất Lào.

Vi phạm tràn lan trong bầu cử Quốc hội khóa 14

Vi phạm tràn lan trong bầu cử Quốc hội khóa 14

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2016-05-28

000_B23SG-622.jpg

Một điểm bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp lần thứ 14 tại Hà Nội ngày 22/5/2016.

AFP

 00:00/00:00

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 đã kết thúc cùng với nhiều điều tiếng về sự gian lận và vi phạm Luật Bầu cử. Tình trạng đó đã diễn ra như thế nào?

Sợ người dân chứng kiến kiểm phiếu

Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp lần thứ 14 đã kết thúc ngày 22/5/2016. Theo Tổng thư ký Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc cho biết, tỷ lệ cử tri cả nước đi bầu đạt tỷ lệ 98,77%.

Theo báo cáo thống kê từ 63 tỉnh thành cho thấy, 63,3 trong tổng số hơn 69 triệu cử tri đã đi bầu cử. Trong đó hơn 32.100 tổ bầu cử có 100% cử tri đi bầu.

Tuy nhiên theo thông tin và hình ảnh trên mạng xã hội đã cho thấy, có không ít người đã gạch chéo thẻ cử tri và tuyên bố tẩy chay. Và các vi phạm luật bầu cử cũng đã được đề cập tới.

Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 ở Việt Nam vừa qua đã bộc lộ quá nhiều các khiếm khuyết và vi phạm. Theo luật Bầu cử thì mọi công dân có đủ điều kiện theo quy định thì đều được ứng cử. Song những người tự ứng cử thì đều bị đe dọa và quấy nhiễu.
-Võ Văn Tạo

Nhận xét về cuộc bầu cử Quốc hội lần thứ 14, từ Nha trang nhà báo Võ Văn Tạo nhận định:

“Cuộc bầu cử Quốc hội khóa 14 ở Việt Nam vừa qua đã bộc lộ quá nhiều các khiếm khuyết và vi phạm. Theo luật Bầu cử thì mọi công dân có đủ điều kiện theo quy định thì đều được ứng cử. Song những người tự ứng cử thì đều bị đe dọa và quấy nhiễu; an ninh đưa các tài liệu vu khống của dư luận viên cho tổ trưởng dân phố đi phát cho dân; hăm dọa buộc người ta phải rút tên… với nhiều trò bẩn thỉu. Tôi nghĩ cuộc bầu cử lần này, người ta vẫn áp dụng các chiêu trò như cách đây 20 năm để đe dọa khủng bố người tự ứng cử. Đây thực sự là một cuộc bầu cử gian lận, giả hiệu nhưng sự đàn áp thì có vẻ mạnh hơn.”

Nhà hoạt động xã hội Từ Anh Tú cho rằng, trong một cuộc bầu cử độc diễn và việc vi phạm Luật bầu cử diễn ra hết sức tràn lan. Ví dụ việc ở mỗi điểm bầu cử, đều có một người hướng dẫn cử tri gạch ai, bầu cho ai. Theo ông điều này là sự vi phạm nghiêm trọng Luật bầu cử và vi phạm pháp luật. Ông tiếp lời:

“Những vụ việc vi phạm Luật Bầu cử trong kỳ bầu cử Quốc hội lần thứ 14 vừa qua diễn ra hết sức nặng nề và trắng trợn. Việc vi phạm đó xảy ra ở trong mọi lĩnh vực, ví dụ như việc tìm đủ mọi cách để loại bỏ các ứng cử viên độc lập ngay từ vòng đầu để đưa người của đảng vào; thứ 2 là họ bắt ép người dân, đặc biệt là các đối tượng sinh viên, viên chức… phải đi bầu cử nếu không họ sẽ gây khó khăn; còn một số địa phương chạy theo thành tích thì họ đã chia tiền cho cử tri.”

Lực lượng chức năng canh gác tại một điểm bỏ phiếu bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp lần thứ 14 ở Hà Nội ngày 22/5/2016. AFP PHOTO.

Công dân chống tham nhũng Bà Lê Hiền Đức, người trực tiếp phát hiện việc việc gian lận trong việc tráo các phiếu bầu của tổ bầu cử số 7, thuộc Phường Láng Thượng, Quận Đống Đa, Hà nội và đã bị các cán bộ thuộc tổ bầu cử hành hung. Bà khẳng định:

“Do lúc buổi chiều ngày bầu cử 22/5, tôi thấy trong phòng bầu cử có một tập phiếu bầu đã viết sẵn để trên một cái ghế, chắc chắn là bố trí chuẩn bị sẵn sàng để tráo đổi phiếu. Lúc 18h50 tôi đã đến tổ bầu cử để giám sát việc kiểm phiếu và có báo cho CA trực ở đó. Khi tôi vào thì mấy người hỏi tôi “Bà vào đây làm gì?” Tôi nói rằng, tôi là một người dân tôi xin phép vào để xem cách kiểm phiếu và sau đó họ đã dứt khoát không mở thùng phiếu. Chờ mãi họ cũng không chịu mở, và cuối cùng đã có mấy người ra xô tôi ngã lăn ra đất.”

Cơ cấu nhân sự sắp xếp sẵn?

Dưới nhan đề “Trò hề bầu cử: Thành ủy Đà Nẵng chỉ đạo sửa kết quả bỏ phiếu bầu Đại biểu Quốc hội khóa 14 và Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2016-2021”, báo Tin tức hàng ngày online cho biết, tác giả là ông Trần Minh Huy thuộc đơn vị bầu cử số 10 khẳng định rằng: Là những người trực tiếp làm công tác tại các tổ bầu cử tại đơn vị bầu cử số 9 và số 10 quận Sơn trà, Đà nẵng. Ông hết sức ngạc nhiên và phẫn nộ vì sự trơ trẽn, giả dối và coi thường nhân dân của mấy vị lãnh đạo Thành ủy Đà nẵng, họ đã ngang nhiên chỉ đạo sửa đổi kết quả bầu cử vừa qua một cách trắng trợn.

Theo Nhà báo Võ Văn Tạo thấy rằng, việc gian lận kết quả bầu cử là hiện tượng phổ biến nhưng khó bị phát hiện, vì không có ai giám sát và kiểm tra quá trình kiểm phiếu. Theo ông đây là cách đa số các đơn vị bầu cử thực hiện, theo chỉ đạo từ yêu cầu cơ cấu nhân sự đã sắp xếp sẵn. Ông nói:

“Theo tôi được biết qua theo dõi trên mạng thì có những địa phương đưa sai kết quả bầu cử, thì cần phải xem xét lại. Còn chuyện xảy ra ở Đà Nẵng thì có thông tin kết quả bầu khác với kết quả công bố, mà tôi tin là điều có thật. Điều đó cho thấy đã có sự gian lận xảy ra.”

Tôi nói rằng, đây là việc bầu cử gian dối, nếu đàng hoàng thì việc gì phải sợ, chúng tôi có sờ vào thùng phiếu để ăn cắp đâu mà sợ? Tóm lại tôi muốn hỏi họ rằng, tại sao lại sợ người dân chúng kiến việc mở thùng phiếu ra như vậy?
-Lê Hiền Đức

Theo Bà Lê Hiền Đức, việc gian dối trong lý lịch những ứng cử viên ở các địa phương là hiện tượng hết sức phổ biến mà không ai chú ý, theo Bà đây là điều cần được dư luận chú ý và quan tâm theo dõi. Bà dẫn chứng:

“Có những người khai lý lịch ứng cử rất gian lận, trình độ tiếng Anh khai trong lý lịch là bắng C – đó là một ứng viên ở địa bàn bầu cử của tôi là một phụ nữ. Khi tiếp xúc với cử tri tôi có làm một phép thử, bằng cách hỏi cô ấy một câu bằng tiếng Anh rất đơn giản, đó là “Bạn có thể nói chuyện tiếng Anh với tôi được không?” thì cô ấy không trả lời được.”

Trong một thái độ bức xúc, Bà Lê Hiền Đức thấy rằng, việc tổ chức bầu cử cần được công khai, minh bạch và phải chịu sự giám sát của người dân. Theo Bà không thể để tình trạng bầu cử vừa đá bóng vừa thổi còi như hiện nay. Bà tiếp lời:

“Tôi nói rằng, đây là việc bầu cử gian dối, nếu đàng hoàng thì việc gì phải sợ, chúng tôi có sờ vào thùng phiếu để ăn cắp đâu mà sợ? Tóm lại tôi muốn hỏi họ rằng, tại sao lại sợ người dân chúng kiến việc mở thùng phiếu ra như vậy? Mà trước đó tôi đã phát hiện có một số lượng phiếu bầu dùng cho việc tráo đổi kết quả, người dân đứng xa 5-10m quan sát chứ có làm gì đâu. Nhưng bây giờ tôi kết luận, vì các anh gian dối nên các anh đã sợ người dân chứng kiến.”

Trên trang Dân luận tác giả Lãng Anh viết rằng, căn nguyên của mọi bất cập xã hội ở Việt Nam xuất phát từ chính cơ chế tổ chức chính trị này. Người dân không có quyền và không tác động được gì vào việc bầu chọn ra cơ quan quyền lực nhà nước cũng như các vị trí đứng đầu nhà nước. Tất cả đều được quyết định bởi Đảng CS, do đó nhà nước chỉ là công cụ của nó. Do không được dân bầu, nên cái bộ máy này không đặt mục tiêu phục vụ nhân dân lên tối cao, mà mục tiêu tối cao của nó là phục vụ cho Đảng Cộng Sản.

Ai có thể cứu Trần Huỳnh Duy Thức?

Ai có thể cứu Trần Huỳnh Duy Thức?

Blog RFA

Nguyễn Thị Từ Huy

28-5-2016

Cụ Trần Văn Huỳnh, bố của TNLT Trần Huỳnh Duy Thức. Nguồn: facebook

Cụ Trần Văn Huỳnh, bố của TNLT Trần Huỳnh Duy Thức. Nguồn: facebook

Ở thời điểm này, tôi chỉ thấy có hai trường hợp sau đây là cứu được Trần Huỳnh Duy Thức (nếu mọi người nhìn thấy những khả năng khác, xin cứ trình bày, biết đâu những thảo luận có thể giúp chúng ta cứu được ông ấy) :

1/ Có khoảng 80-90% người lao động Việt Nam ngừng làm việc vô thời hạn, làm tê liệt nền kinh tế và sự vận hành của toàn bộ quốc gia, cho đến khi tính mạng của Trần Huỳnh Duy Thức được cứu sống. Một vài người hay một vài nhóm người tuyệt thực cùng ông ấy trong một vài ngày thì có thể bày tỏ sự chia sẻ, bày tỏ mối quan tâm, bày tỏ tình đồng loại, nhưng không thể cứu được Trần Huỳnh Duy Thức.

Có thể xảy ra việc 90% dân số lao động ngừng làm việc để cứu sống Trần Huỳnh Duy Thức không ? Điều này chỉ có thể xảy ra với điều kiện là 90% dân số lao động ở Việt Nam được biết về tình trạng của Trần Huỳnh Duy Thức, được biết về ý nghĩa của hành động tuyệt thực của ông, đồng thời họ phải và vượt qua được sự vô cảm đã trở thành căn bệnh mãn tính, sự vô cảm đã đạt đến giới hạn tàn nhẫn, và vượt qua được nỗi sợ hãi (chính là nguyên nhân của sự vô cảm). Điều này có thể xảy ra hay không, tùy thuộc vào chính những người đồng bào của Trần Huỳnh Duy Thức, những người đang sống và làm việc trên lãnh thổ Việt Nam.

Và để chín mươi phần trăm số người lao động được biết về Trần Huỳnh Duy Thức, điều này lại tùy thuộc hoàn toàn vào truyền thông chính thống (báo chí, truyền hình…). Cần phải đối diện với sự thật là mạng xã hội chỉ có thể tác động tới một bộ phận rất nhỏ trong xã hội. Vì thế, số phận của Trần Huỳnh Duy Thức, ông ấy có thể sống hay chết, phụ thuộc rất lớn vào truyền thông chính thống, phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, trách nhiệm, tình người của đội ngũ nhà báo chính thống.

Hơn tất cả các bộ phận dân cư khác trong xã hội, các nhà báo chính thống là những người có khả năng nhiều nhất để cứu sống Trần Huỳnh Duy Thức. Họ có muốn cứu ông ấy hay không, hay họ để cho ông ấy chết ? Chỉ có họ mới có câu trả lời, không ai trả lời thay họ được.

2/ Nhà nước sẽ thả Trần Huỳnh Duy Thức vô điều kiện, hoặc đáp ứng yêu cầu của ông ấy.

Thực ra, trong bối cảnh hiện nay, chỉ có nhà nước Việt Nam mới có thể cứu Trần Huỳnh Duy Thức một cách nhanh chóng nhất, để ngăn ngừa những hậu quả tai hại về thể chất mà cuộc tuyệt thực khiến Trần Huỳnh Duy Thức phải gánh chịu.

Nếu cả hai trường hợp trên đây đều không xảy ra, nếu chẳng may Nhà nước để cho Trần Huỳnh Duy Thức chết, thì sao ?

Người Việt Nam có chấp nhận điều ấy không ? Người Việt Nam sẽ nghĩ gì về chính mình ?

Thế giới sẽ nghĩ gì về Nhà nước và người dân Việt Nam ? Nếu Nhà nước, trong khi có đủ mọi phương tiện để cứu Trần Huỳnh Duy Thức nhưng lại để ông ấy chết thì có thể xem là một vụ giết người cố ý không?

Dĩ nhiên, còn cần phải nói rất nhiều về việc này, và sẽ còn có rất nhiều người nói về việc này.

Paris, 28/5/2016

Họ đang thực hiện một cuộc diệt chủng trên đất nước chúng ta!

 Họ đang thực hiện một cuộc diệt chủng trên đất nước chúng ta!

FB Đặng Xương Hùng

18-5-2016

Bài không tên số 10.

Cái gì phải đến nó sẽ đến. Cuộc khủng hoảng môi trường hiện nay ở Việt Nam là điều tất yếu, nó không nổ ra vào tháng 4/2016 thì ở một thời điểm nào đó nó vẫn sẽ xẩy ra. Ô nhiễm môi trường đang lan tràn rộng khắp trên toàn cõi Việt Nam, từ biển cả đến sông ngòi, từ đồng bằng ngập mặn đến đồi núi không còn rừng, từ thành phố đến nông thôn, thi nhau chặt cây, bê tông hóa gây nên bầu không khí đặc quoánh với thủy ngân và bụi bẩn, đấy là chưa kể đến nạn thức ăn nhiễm độc đe dọa đời sống hàng ngày của mỗi người dân. Khắp nơi đã bắt đầu nghe nhiều tiếng kêu ai oán. Mỗi người dân Việt Nam đều đã nhận thức được rằng không ai được miễn trừ trong tai họa chung này của đất nước.

Vậy câu hỏi đặt ra là ai đã gây ra và đâu là nguyên nhân gây nên tình trạng hiểm họa này cho dân tộc và đất nước Việt Nam?

Ở mỗi một sự vụ, ta có thể dễ tìm thấy một đối tượng là tác giả, thí dụ như trong vụ biển chết và cá chết tại Hà Tĩnh, chúng ta có thể luận nhà máy thép Formosa là tác giả của việc xả thải độc ra biển gây ra. Chính người phát ngôn của nhà máy đã công nhận đều đó : « Việt Nam muốn chọn cá hay chọn thép ?».

Nhưng, ở tất cả các sự vụ gây nên cuộc khủng hoảng toàn diện về môi trường hiện nay, ai cũng có thể nhận thấy rằng không ai khác đó là: sự tham lam, đầu óc tăm tối của giới lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp; âm mưu hòng tiêu diệt dân tộc Việt Nam của giới cầm quyền Bắc Kinh là nguyên nhân gián tiếp.

  1. Sau 71 năm lãnh đạo ở miền Bắc và 41 năm sau thống nhất, đảng cộng sản Việt Nam đã để lại cho thế hệ tương lai con cháu một gia tài « rất ngộ », như lời thơ của cô giáo Trần thị Lam. Rừng đã hết mà biển thì đang chết. Mỗi đứa trẻ sinh ra gánh nợ nần ông cha để lại. Đứng trước năm châu mà không phải cúi đầu.

Họ rất biết để tình trạng đất nước như hiện nay lỗi là do họ. Nhưng họ không hề muốn chia sẻ quyền lực, vì họ vẫn còn tham lam, mất hết tình thương đồng loại và nhất là họ còn bị tăm tối bởi những thứ chủ nghĩa không tưởng, ngoại lai.

Điều nguy hiểm họ là tập thể nên không ai chịu nhận trách nhiệm cá nhân. Không phải lỗi của tôi, đó là tâm lý chung của toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hiện nay. Nguy hiểm hơn nữa, để duy trì quyền lực họ đã biến người dân thành kẻ thù. Những cá nhân có đầu óc thay đổi đều bị trừng trị, những người dân đứng lên đều bị đàn áp không nương tay.

Bộ Chính trị và trung ương đảng cộng sản Việt Nam dường như là một tập thể tham lam và tăm tối. Ít ai tự vấn lương tâm để thoát khỏi sự tham lam tập thể. Ít ai tự vấn lương tâm để có thể đặt tình thương đồng bào lên trên hết. Tất nhiên, không phải tất cả họ đều tham lam và tăm tối. Thí dụ ông Nguyễn Phú Trọng, ta có thể thấy rõ ràng ông hơi bị tăm tối, nhưng ít thấy ông tham lam. Thí dụ Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh thì không thể coi là tăm tối, nhưng ông bị khóa bởi sự tham lam tập thể. Nhưng Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc thì quả thật ông là một người có đầy đủ sự tham lam, tăm tối và thủ đoạn.

Nếu các ông là người dân bình thường, sự chỉ trích nêu trên là xấu, nhưng các ông đang nắm vận mệnh của cả một đất nước, cả một dân tộc 90 triệu đồng bào, thì những chỉ trích như vậy thật là đích đáng.

Người phụ nữ trong cuộc biểu tình tại Hà nội ngày 8/5/2016, đã nói với đám công an, an ninh đang ngăn cản : « Các anh có biết không, họ (giới lãnh đạo) giầu vô biên luôn, họ cho con cái đi học ở Mỹ hết, chỉ còn lại các anh đi ngăn cản chúng tôi thôi, họ sẽ gọi chúng ta là đồ ngu ». Cảm ơn người phụ nữ này đã nói thay cho đông đảo người dân.

Tại sao họ giầu vô biên ? Sự yếu kém trong quản lý dẫn họ đến với những tham lam tột độ trong việc sử dụng quyền lực để giành về quyền lợi tối đa. Những dự án kếch xù bán rẻ đất nước, cho thuê Hà Tĩnh với giá rẻ mạt trong những 70 năm (một đời người). Bán rẻ lợi ích của đồng bào, chặt cây để xây đường tầu cho công ty Trung Quốc, xây tượng đài ngàn tỷ, trong khi đó bệnh viện hai ba bệnh nhân một giường nằm. Vân vân và vân vân.

Cô giáo Trần Thị Lam ý thức được rõ ràng nguyên nhân tại sao đất nước mình ngộ, nhưng với một trái tim nhân hậu, cô giáo chỉ dừng lại ở mức hỏi:

« Đất nước mình rồi sẽ về đâu anh
Anh không biết em làm sao biết được
Câu hỏi gửi trời xanh, gửi người sau, người trước
Ai trả lời dùm đất nước sẽ về đâu »

Nhưng cũng chẳng cần phải hỏi lên trời xanh, hãy hỏi thẳng người dân Việt Nam, họ đều có thể trả lời chắc nịch rằng: đảng cộng sản Việt Nam là nguyên nhân trực tiếp gây nên tình trạng đất nước như hiện nay.

  1. Đôi lúc ta tự nghĩ, có khi dân tộc mình còn đau khổ hơn dân tộc Khơ me. Pôn Pốt đã diệt chủng ba triệu đồng bào mình, nhưng dân tộc Khơ me chỉ đau một lần, chết một lần, trong một thời gian ngắn. Còn dường như dân tộc Việt Nam đang chết trước khi chết, chết dần dần, từ từ, dai dẳng và sẽ chết cho đến hết.

Nói như vậy để ta có sự so sánh dễ hiểu, chứ khó có người dân Việt Nam nào chấp nhận như vậy. Họ sẽ đứng lên nắm lấy vận mệnh của mình. Thật vậy, giờ đây mỗi người dân Việt Nam đã nhận ra được độ trầm trọng của sự kiện cá chết miền Trung. Cái chết đang đe dọa không chừa một ai. Mọi người đã lo ngại cho mình, cho gia đình mình. Cao hơn, có người đã lo ngại cho một sự diệt chủng, sự mất nước.

Hễ ai quan tâm đến vận mệnh đất nước đều không quên lời cảnh báo của ông cố Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch: « Thời kỳ Bắc thuộc mới đã bắt đầu ».

Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử của một cuộc đấu tranh lâu dài chống lại sự lệ thuộc của một nước nhỏ vào một nước lớn láng giềng. Cuốn lịch sử này từ ngàn xưa cho đến khi có đảng cộng sản Việt Nam là một lịch sử vinh quang, hào hùng. Tiếc thay, chủ nghĩa cộng sản đã thấm vào và sinh sôi tại Việt Nam, làm sói mòn tinh thần bất khuất của dân tộc.

Nguy cơ mất nước và diệt chủng dân tộc đang hiện hữu. Giới cầm quyền Bắc kinh chẳng khi nào từ bỏ dã tâm đồng hóa dân tộc Việt Nam. Đây là cơ hội thuận lợi nhất cho họ để thực hiện kế hoạch mà từ ngàn đời nay người Trung Quốc không thể thực hiện được.

Một cuộc chiến tranh không dùng súng đạn đang được nhà cầm quyền Trung Quốc thực hiện thắng lợi tại Việt Nam. Họ chỉ cần nắm phần chóp bu trong giới lãnh đạo Việt Nam, thì tất cả mọi thứ nằm trong sự khống chế và ý muốn của họ. Họ đang dùng người Việt Nam giết người Việt Nam, đang dùng đảng cộng sản Việt Nam để giết dân tộc Việt Nam.

Lời cảnh báo của ông Thạch đang trở nên dễ dàng nhận biết hơn bao giờ hết. Tiếc thay toàn bộ giới lãnh đạo Việt Nam hoặc quá tham lam, quá tăm tối hoặc đang quá hèn hạ để giả vờ bỏ qua lời cảnh báo này.

Diệt chủng không phải là một sự kiện mà là một quá trình. Điều mà người Trung Quốc đang thực hiện tại Việt Nam, thông qua sự đồng lõa của giới lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam, dường như có thể coi là một cuộc diệt chủng.

Mầm mống âm mưu xâm chiếm và đồng hóa Việt Nam của giới lãnh đạo Bắc Kinh gặp được mảnh đất phì nhiêu là sự tham lam đến tối mắt, sự yếu kém đến hèn hạ của của giới lãnh đạo Việt Nam, để cuối cùng hậu quả thì toàn bộ nhân dân Việt Nam phải gánh chịu.

Ấy vậy nên, khi xảy ra sự kiện cá chết miền Trung 4/2016, mọi công dân Việt Nam cả ở trong lẫn ngoài nước đều uất ức. Họ căm thù giới lãnh đạo Trung Quốc trăm lần, thì oán hận các vị lãnh đạo Việt Nam ngàn lần. Không biết các vị lãnh đạo đảng cộng sản Việt Nam đã nhận ra điều này chưa? Mong lắm các vị hãy quay về với nhân dân mình, dân tộc mình.

Đặng Xương Hùng
Genève, 18/5/2016

TÔI ĐI TU!

TÔI ĐI TU!

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Bà ôm tôi, bảo rằng bà hãnh diện vì tôi.

Bố trầm ngâm, chẳng nói gì, bảo rằng tôi đã lớn, hãy tự quyết định cho cuộc đời.

Mẹ rươm rướm nước mắt, lo lắng, chẳng biết tôi vào “trong đó” rồi sẽ ăn ngủ ra sao.

Có một người con gái cũng vì tôi mà nhỏ lệ.

Đám bạn thân, có đứa chúc mừng, có đứa bàng quan, có đứa cười khẩy, bảo “thằng này ngu, tự nhiên đánh mất cả đời trai phơi phới”!

TOI DI TU

Uhm, phải, “đời trai” cũng đẹp mà.  Cả cuộc đời dài đằng đẵng, chỉ có một lần duy nhất, người đàn ông sở hữu cái gọi là “đời trai.”  Ở cái tuổi đang hừng hừng sức sống này, một người con trai đang có trước mặt mình cả một vùng trời tươi sáng.  Biết bao con đường đang mở ra, nhìn đâu cũng toàn những viễn cảnh tươi đẹp.  Những phong ba bão táp dường như chẳng có gì đáng sợ cả.  Sức ta có, ý chí ta mạnh, ta chỉ biết con đường thẳng mà phóng tới, chẳng hề nghĩ ngợi hay đắn đo.  Những dự phóng, những kế hoạch, ta không hề thiếu.  Rồi công danh, sự nghiệp, tiền đồ phía trước như đang vẫy gọi ta.  Cả một hay thậm chí nhiều tình yêu đẹp sẽ đến với ta, làm con tim ta tan chảy hoặc nở rộ những cánh hồng tươi.  “Đời trai” hệt như một con sóng cuồn cuộn, tất cả sinh lực của trời đất như hừng hực trong mình.  Con đường vinh hoa, con đường thăng tiến như hiển hiện trước mắt, chỉ cần một bước nữa là tới thôi.

Thế nhưng, tôi bỗng dưng lại chọn cho mình một hướng rẽ.  Gạt đi những lời mời gọi hướng đến sự cao sang, tôi lại đặt bàn chân lên “một đoạn đường chẳng mấy ai đi,” một con đường gai góc.  Đi tu là đi đâu vậy?  Thú thật tôi cũng chẳng biết.  Phía trước tôi là một màn tối âm u.  Tôi chỉ nghe nơi đó vẳng lại một tiếng gọi mơ huyền, vây cuốn trái tim tôi và bảo tôi cứ men theo tiếng nói âm vang ấy mà cất bước.  Đi tu là chọn một con đường không biết đích đến, trong khi mọi chỗ an toàn để mình bám víu thì phải bỏ lại hết đàng sau.  Cứ liều mình bước đi như vậy, giữa một tư thế chông chênh, lấy niềm tin mà lao tới. Có đôi khi tôi tự hỏi bản thân: liệu mình có được mời gọi thật không, hay chỉ là do mình ảo tưởng, chuyện gì xảy ra khi bất chợt lúc nào đó tôi phát hiện ra mình đã nhầm.  Tôi tin vào tiếng gọi nhưng cũng có lúc tôi không khỏi lo sợ và dẫn đến nghi ngờ.

Đi tu, tôi có phải là một thánh nhân đâu.  Tôi vẫn còn đó những yếu đuối của một kiếp con người.  Tôi vẫn mong được ăn sung mặc sướng, muốn được ấp ủ chiều chuộng và thích làm theo ý riêng.  Càng đi tu, tôi càng nghiệm thấy rõ điều đó hơn, rằng tôi đến với Chúa bằng trọn vẹn một con người đầy loang lỗ, đầy vết nhơ, đầy thiếu sót.  Trước khi đi tu, tôi cũng ấp ủ nhiều lý tưởng cao đẹp, rằng tôi muốn dâng mình cho Chúa, muốn thuộc về Chúa, muốn cứu độ tha nhân.  Nhưng càng đi tu, tôi thấy mình như bị phô bày ra trước mắt biết bao nhiêu thiếu sót.  Càng sống trong đời tu, tôi càng cảm thấy xấu hổ khi nghĩ đến chuyện mình được hiến thánh, cảm thấy bất xứng khi có ai đó nói rằng tôi là người của Chúa, cảm thấy ngại ngùng khi bản thân mình còn chưa vẹn toàn, nghĩ gì đến chuyện cứu giúp người ta.  Sau bao nhiêu năm miệt mài theo Chúa, tôi vẫn còn thấy mình xa Chúa lắm, con đường thập giá tôi vẫn còn chưa ôm trọn vào người, bài học phục vụ tôi vẫn còn chưa đặt để vào con tim.  Có đôi khi, tôi còn mượn danh tu sĩ để tô vẽ cho bản thân những ánh hào quang giả tạo.

Nhưng càng đi tu, tôi càng nghiệm thấy Chúa yêu thương tôi vô điều kiện.  Ngài luôn đón nhận tôi, bất chấp những giới hạn và yếu đuối của tôi.  Bạn bè tôi không hiểu tại sao tôi huỷ hoại “đời trai” chỉ vì một lý tưởng mơ hồ nào đó.  Còn tôi, tôi cho rằng đặt đời mình vào tay Chúa thì “đời trai” của tôi mới sinh hoa kết quả dồi dào.  Chắc chắn là phải có những hy sinh, nhưng cảm nghiệm được một tình yêu lạ lùng từ Chúa giúp tôi thấy được nơi thập giá cuộc đời những cánh hoa tươi đẹp.  Đi tu, trước hết chỉ là “đến và ở lại” với Ngài, rồi sau đó mới là thoả sức tung cánh muôn phương.  Tôi không đi tu để trốn tránh cuộc đời vô thường, không tìm một chốn thanh tịnh nào đó để xa lánh thế gian.  Tôi lên núi gặp Chúa chính là để xuống núi với tha nhân, tôi tách mình ra khỏi thế giới là để có thể dấn thân vào nó nhiều hơn, sâu hơn.  Tôi đi tu là để hoà mình vào một tình yêu siêu nhiên và nhờ đó làm phong phú cho đời sống của mình.  Bởi thế, nên đời tu của tôi đẹp lắm!

Đường còn xa, lối đi còn muôn nẻo.  Hành trình đời tu vốn dĩ không bao giờ có sự chắc chắn và mãi mãi không có điểm dừng.  Niềm hãnh diện của bà, sự tin tưởng của bố, nỗi lo lắng của mẹ, nước mắt của cô gái kia, và cả những bỡn cợt của bạn bè, tôi khắc ghi vào tim, tôi để nó sánh bước song hành với mình.  Chẳng ai biết được tôi có trọn tình vẹn nghĩa với Chúa ở tận cuối con đường!  Chẳng ai biết được tôi có thể giữ lòng thanh thoát những trước quyến rũ của thế gian chỉ để say tình Chúa!  Chẳng ai biết được… Nhưng tôi chỉ xin cho mình biết luôn tín thác như Abraham – cất bước ra đi mà chẳng biết đi đâu, một sự sẵn sàng như Mẹ Maria – chỉ cần Chúa muốn là xin vâng mau mắn.  Đi tu, không chỉ là sửa mình, tu chỉnh mình, nhưng hơn hết, đó là một sự hiến dâng, một lời đáp cho tiếng gọi trong u tối.

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

*Đại từ “tôi” được sử dụng trong bài viết có ý nói đến những người dâng hiến cách chung chứ không nhất thiết là bản thân người viết.

. VẬN HỘI NÀO CHO VIỆT NAM?

VẬN HỘI NÀO CHO VIỆT NAM?

Phạm Dzũng

28-5-2016

Thuyền hình cá sấu trên sân thạp đồng Đào Thịnh (Yên Bái). Ảnh: internet

I- Hiện tượng “Di dân và Đồng hóa” trong lịch sử hình thành một quốc gia

Nhìn tổng thể về lịch sử loài người kể từ khi còn là những bộ lạc, người ta ghi nhận sự hình thành, phát triển hoặc tiêu vong của các cộng đồng dân cư (sắc tộc, bộ lạc, xã hội thành thị…), của nhiều định chế chính trị và quyền lực quân sự, như là các quốc gia, các đế quốc, và ngay cả của nhiều nền văn minh. Tất cả những diễn trình lịch sử đó đều tuân theo quy luật biến dịch, mà trong đó có quy luật thiên nhiên khắc nghiệt: “Đấu tranh sinh tồn”, thể hiện qua hiện tượng di dân và đồng hóa (và bị đồng hóa). Hiện tượng này đã liên miên xảy ra từ hàng vạn năm trước tới nay và sẽ còn tiếp tục mãi mãi.

Vậy nếu áp dụng góc nhìn hiện tượng học “Lịch sử xã hội loài người là lịch sử di dân và đồng hóa”, thì có thể thấy rõ động lực và hệ quả của nhiều sự kiện và chu kỳ biến động lịch sử trên thế giới từ xưa đến nay. Cũng từ góc nhìn này, có thể tiên liệu được động thái của nước lớn đối với các nước lân bang nhỏ hơn, và nếu ứng dựng vào lịch sử xung đột Việt Hoa sẽ nhìn thấy được bản chất đảng cầm quyền Cộng Sản VN dựa vào lịch sử hình thành và điều kiện phát triển của nó, qua đó cũng sẽ đánh giá được các chính sách, chiến lược mà CSVN đã và đang thực hiện, cũng như tiên liệu được kế sách của nó khi đối phó với thời thế, cùng  những hệ lụy đối với sự tồn tại của đất nước VN và tương lai của dân tộc Việt.

Cần ghi nhận rằng theo nghĩa thông dụng, thì:

– “Quốc-Gia (hay Nước)” chỉ là một Định chế chính trị (political institution) của một vùng lãnh thổ có dân cư- Định chế thì có tính ngắn hạn và dễ thay đổi, td: Nước Chiêm Thành nay đã tiêu tan, Quốc-gia Việt Nam Cộng Hòa nay đã không còn nữa, Nước Mỹ (Hợp chủng Quốc Mỹ Châu) thì mới có mặt từ khoảng 500 năm nay.

– “Tổ Quốc” là một khái niệm tình cảm cộng đồng đối với khu vực địa lý mà một cộng đồng dân cư đã sinh sống qua nhiều thế hệ, thí dụ: người Việt ở Mỹ chỉ vài ba thế hệ nữa là đa số dù muốn hay không cũng sẽ không còn thiết tha đến đất nước Việt, mà sẽ chỉ còn biết Tổ Quốc mình, Đất nước mình là Mỹ Quốc.

– “Dân tộc” là một tập hợp sinh học thuần nhất của những cư dân sinh sống trong một vùng địa lý. Như vậy, “Dân tộc” là một thực thể, do đó tồn tại lâu dài hơn là những định chế và tình cảm cộng đồng, và là yếu tố căn bản cho Quốc Gia hoặc một cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, sự hình thành một Quốc Gia ổn định lâu dài là điều kiện cần để hình thành và phát triển nền văn hóa và văn minh của một dân tộc hoặc cộng đồng dân cư.

Về lãnh vực Chủng tộc học, luật thiên nhiên chung cuộc vẫn là cạnh tranh và sinh tồn. Chủng tộc nào hiếu chiến, thích mạo hiểm, sanh đẻ nhiều sẽ có khuynh hướng xâm lăng đất đai và có ưu thế về phát tán di thể (lai giống). Nhưng về mặt xã hội, cộng đồng dân cư nào đông hơn, có nền văn hóa cao hơn thì sẽ ưu thế về mặt ổn định và phát triển thế lực. Mông cổ, Mãn Thanh về quân sự mạnh hơn Hán nên đã xâm lăng Hán, nhưng rồi cũng bị Hán hóa vì dân số Hán đông hơn và văn hóa cao hơn, hơn nữa, còn tự nguyện hội nhập (đồng hóa), vì dân Mông, Mãn vẫn thán phục, ưa chuộng văn hóa Hán tộc. Tiến trình xâm lăng, di dân và đồng hóa với địa phương của dân du mục Bắc Á (Mông, Mãn…) đã xảy ra từ cả vạn năm nay, cho nên nếu xét về di thể (gene), thì nhiều dân tộc đã có lai di thể Mông Cổ: Hoa, Việt, Hàn, Thái, Nhật, Mexico và một số vùng bên Ấn, Hồi, Nga, Mỹ châu … v.v… Đó là kết quả của những đợt di dân hoặc xâm lược của các bộ lạc du mục hùng mạnh có nguồn gốc Mông Cổ (Mongoloid) từ Tây Bắc Á.

Xem ra, diễn trình di dân và lai giống đối với loài người là không thể đảo ngược. Tuy nhiên nếu quốc gia được hình thành dựa trên những định chế tổ chức xã hội hợp lý thì sẽ giúp cho những cộng đồng dân cư khác nhau hội nhập một cách bình đẳng, từ đó gia tăng phúc lợi xã hội và thế lực cho quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Thời Hoa Kỳ lập quốc, những di dân từ Âu Châu qua đã xóa sổ hàng triệu người bản xứ Mỹ Châu (vốn thuộc các chủng Mongoloid Á châu). Nhưng ngày nay, sự hình thành nước Mỹ hợp chủng với thể chế liên bang trên căn bản các định chế chính trị dân chủ  và tiến bộ (tôn trọng tư hữu và tự do cá nhân, cơ hội đồng đều, không kỳ thị, hội nhập tự nguyện và bình đẳng) đã được chứng minh là mô hình hợp lý, có hiệu quả, và do đó có sức hấp dẫn di dân và chất xám mạnh nhất, đã giúp nước Mỹ phát triển nhanh chóng và ổn định, khác hẳn sự hình thành lãnh thổ bằng xâm lược, diệt chủng, bóc lột và nô lệ hóa của các đế quốc bá quyền cổ điển (Du mục, Phong kiến, Thực dân, Phát xít và Cộng sản).

II- Cuộc đấu tranh sinh tồn của Việt tộc chống sự xâm lược của Hán tộc

A-Bắc xâm và Nam tiến

Lịch sử và khảo cổ học đã chứng minh nhiều dân tộc (sắc tộc, bộ lạc, quốc gia…) ở vùng Hoa Nam, lưu vực sông Dương Tử đã bị xâm lược và đồng hóa bởi những sắc dân Hoa Bắc. Những sắc tộc nào di dân được xuống Đông Nam Á thì tồn tại được đến ngày nay mà không (hoặc ít) bị đồng hóa, là nhờ địa thế hiểm trở, khí hậu nhiệt đới, và sức sống (dân khí) của dân tộc đó (*1).

Những luồng di dân kèm theo hội nhập hoặc đồng hóa về văn hóa và nhân chủng sẽ tạo thành những biến chuyển địa lý chính trị có ảnh hưởng lớn lao nhiều mặt cho khu vực hoặc cả thế giới trong hàng trăm năm sau. Ở vùng lục địa Trung Hoa, khuynh hướng bành trướng về phía nam là bắt buộc đối với người Tàu phương bắc vì phía bắc và phía tây chiếm 2/3 nội địa nước Tàu là sa mạc hoặc núi non hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, thiếu nước, không phát triển nông nghiệp, không thể sản xuất đủ lương thực để nuôi dân số càng ngày càng đông.

Người Việt cũng vậy, trước sức ép nam tiến của Hán tộc, sau nhiều đợt di cư, Việt tộc quần cư ở đồng bằng sông Hồng, sông Mã, tạm yên được với Bắc phương vài ngàn năm nhờ vào địa hình biên giới hiểm trở. Trong khoảng thời gian này người Việt cũng phải mở nước bằng cách nam tiến, thôn tính và đồng hóa Chiêm Thành, Chân Lạp (nửa nước Miên) (*2), chuẩn bị tây tiến và bắc tiến bằng con đường từ phía Đông Nam (nếu thôn tính xong Miên) để thôn tính Lào, xung đột với Thái, Miến…

Mộng gồm thâu Đông Dương (hoặc thành lập Liên bang Đông Dương) của người Việt vẫn được ôm ấp kể từ thời các vua chúa nhà Nguyễn, vì địa lý nước Việt rất bất lợi cho sự thống nhất và an ninh lãnh thổ cũng như sự phát triển kinh tế và văn hóa:

*Rặng Trường Sơn phía Tây làm cho miền Trung quá hẹp, lãnh thổ rất dễ bị đứt khúc ở khoảng vĩ tuyến 17-18 như lịch sử đã từng chứng minh.

*Sông Mê Kông, xuất phát từ Tây Tạng dài gần 5,000 Km mà chỉ có trên 200 Km chảy qua đồng bằng Nam bộ, tạo ra một áp lực về thủy lợi và sinh tồn cho vựa lúa miền Nam VN nếu bị tác động từ thượng nguồn (với hàng chục đập thủy điện như hiện nay).

Địa lý các nước Miên, Lào cũng bất lợi không kém, do không có hoặc thiếu đường ra biển, tạo nên thế bị phụ thuộc.

Chỉ đến khi nào hình thành được “Liên bang Đông Dương”, mở rộng địa lý đất đai và dân số, làm chủ được ½ dòng chảy của sông Mê Kông, khai thác được lợi thế bờ biển và cảng biển của VN, thì cả 3 nước Việt Miên Lào mới hy vọng phát triển thịnh vượng để tồn tại và chận đứng ý đồ xâm lược của Tàu.

H2Bản Đồ Việt Nam 1569 (Thời Trịnh- Nguyễn). Nguồn: internet

Về phương diện lịch sử, tình huống địa chánh trị này của Việt Nam và Đông Dương mới phát sinh từ khoảng thế kỷ 16-17, kể từ khi di dân Việt bắt đầu chiếm ngụ và khai phá miền đất sình lầy miền đông nam bộ vốn là phần bỏ hoang của nước Chân Lạp (Cao Miên). Đà thay đổi này bị ngừng lại khi đội quân viễn chinh của Thực dân Pháp thắng quân đội trang bị lạc hậu của triều đình nhà Nguyễn (thời vua Tự Đức).

So với bề dài lịch sử, nước Việt Nam có hình chữ S mới được khoảng 200 năm, thực ra là một đất nước rất mới, và còn đang trên đà phát triển ưu thế trong khu vực Nam Á. Khi Thực dân Pháp lập được ách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam (Hòa ước Giáp Tuất 1874), thì lục tỉnh Nam kỳ mới được sát nhập vào VN khoảng 50 năm. Trước đó một chút, nếu VN canh tân kịp đồng thời với Nhật, thì nhiều phần chắc là cho tới ngày nay VN đã làm chủ Đông Dương, có thể kiểm soát được cả Thái Lan, Miến Điện, và trở thành  đối trọng với Tàu, và biết đâu sẽ có đủ thế lực để đòi lại đất cũ là Quảng Đông, Quảng Tây và Vân Nam (Nước Nam Việt thời Triệu Đà), thực hiện được hoài bão của vua Quang Trung.

H3 Bản Đồ Việt Nam 1835 gồm đất Cao Miên cho tới Biển Hồ – Nam Vang đổi tên là Trấn Tây Thành, dưới quyền Trương Minh Giảng. Nguồn: internet

Vận hội lớn này đã lỡ rồi. Sau khi vua Tự Đức đầu hàng, 3 nước Việt Miên Lào trở thành Đông Dương thuộc Pháp. Cho đến sau thế chiến II, thì lại tách ra thành 3 nước riêng biệt như cũ. Từ nay, một Liên Bang Đông Dương tương lai muốn được ổn định và phát triển thì không còn có thể được hình thành theo kiểu bá quyền như trước, mà phải dựa trên sự đồng thuận của các dân tộc trong khu vực, và phải được tổ chức với những định chế dân chủ pháp trị (như Mỹ, Canada, Liên Âu…). Nếu chưa có được một Liên bang (hoặc Liên Hiệp) Đông Dương như vậy, thì địa lý chánh trị vùng Đông Nam Á vẫn chưa thể ổn định; những nước Đông Nam Á sẽ không thể yên ổn trước áp lực bành trướng của Tàu, và Việt Nam sẽ vẫn còn là nơi bị giằng xé nhiều nhất, sẽ tiếp tục phải gánh chịu những tổn thất bi thương nhất trong thế cờ nhằm thực hiện những sắp xếp chiến lược toàn cầu của những cường quốc. Phải chăng đó là cái giá phải trả cho sự tồn tại của Việt tộc và những dân tộc Đông Dương trước tham vọng bành trướng của Tàu?

Xuyên suốt lịch sử, người Tàu từ Hoa Nam di dân liên tục vào VN và các nước Đông Nam Á từ rất lâu, trước cả thời phong kiến bắc thuộc, hoặc do tha phương cầu thực, hoặc qua chiến tranh xâm lược hoặc là hệ lụy các biến động chính trị, td. Thiên Địa Hội phản Thanh phục Minh, Thế chiến II, nội chiến Mao- Tưởng (*3). Khi họ vào ít, và không kèm tổ chức bang hội thì họ bị Việt hóa, td: người Tiều (Triều Châu= Minh Hương) ở miền Trung, lục tỉnh miền Tây và Rạch Giá … nhưng nếu họ vào nhiều và tổ chức được bang hội, thì họ thành lập khu vực riêng có tiềm năng trở thành khu tự trị (td: Chợ Lớn), nếu họ tổ chức được chính quyền thì họ tách ra làm quốc gia riêng: Singapore, Đài Loan v.v.., không chịu tùng phục chánh quốc nữa, giống như thời xa xưa An Dương Vương Thục Phán xâm lăng đánh thắng Vua Hùng, và rồi Triệu Đà (207-137BC) sau khi thắng An Dương Vương vậy. (*4)

Khác với người Việt vốn nói cùng một thứ tiếng, gọi nhau là “Đồng bào”, gọi mảnh đất mình ở là “nước nhà”; những vùng khác nhau bên Tàu không nói cùng một thứ tiếng, cũng không phải là “Đồng bào”. Ở bên Tàu, do lịch sử chiến tranh thôn tính nhau liên miên, sự chia rẽ, kỳ thị giữa các địa phương nói tiếng khác nhau rất lớn (Tạng, Thổ, Triều Châu, Quảng Đông, Vân Nam, Hải Nam, Phước Kiến v.v…). Người Tàu do đó cũng không có quan niệm Tổ Quốc là “Nước Nhà” như người Việt. Trong quan niệm của văn hóa phong kiến du mục của Đại Hán, chữ “Quốc” chỉ vùng lãnh thổ và dân cư mà đấng con Trời (Thiên tử) cai trị, và là tài sản riêng của Thiên Tử, cho nên vùng đất ấy đã lần lượt được gọi là Tần quốc, Hán quốc, Ngụy quốc, Đường quốc, Nguyên, Minh, Thanh quốc…, cho tới ngày nay dân vùng biên giới Hoa-Việt vẫn nói “vua Đặng”, “vua Tập”…

Người Tàu cũng như người Việt, nặng đầu óc phong kiến, có mộng làm vua một cõi, đồng thời cũng có thói thần phục kẻ mạnh, là kẻ có tài gồm thâu thiên hạ. Thời xưa (trên 3000 năm trước) vốn không có nước Tàu.Vùng đất đai rộng lớn đó vốn là nơi sinh sống của rất nhiều sắc dân của hàng mấy chục nước lớn nhỏ, chưa kể những bộ lạc vùng rừng núi xa xôi (Man, Di, Nhung, Địch…). Họ luôn luôn đánh giết nhau để cướp bóc, thôn tính đất đai và bắt nô lệ (thời Xuân Thu, Chiến Quôc), chỉ sau thời Đông Chu, Tần Thủy Hoàng diệt xong 6 nước lớn cuối cùng, nước Tàu mới thống nhứt, và gọi là Trung Hoa. Nên biết dân nước Tần của Tần Thủy Hoàng từ thời Đông Chu trở về trước gọi là rợ Tây Nhung, vốn là một sắc dân ở tây bắc nước Tàu, là giống dân lai giữa Mông Cổ và Thổ Nhĩ Kỳ (Uighur: Thổ Phồn, Hồi Hột), tạo nên người Hoa Bắc, vốn du mục nên rất thiện chiến và hung bạo (*5).

Như vậy nước Tàu hình thành do chiến tranh xâm lược. Lịch sử hình thành nước Tàu là lịch sử xâm lăng và đồng hóa bằng bạo lực chiến tranh.

Xét theo cơ cấu địa lý kinh tế và dân số, nước Tàu có bản chất một liên bang, tuy nhiên lịch sử hình thành đế quốc đã tạo thành trong đầu bất cứ người Tàu nào một tâm lý thần phục kẻ mạnh, và một thứ luận lý về quyền lực phong kiến và bành trướng vô giới hạn. Khi Tàu mạnh cũng vậy, mà khi Tàu yếu, lại càng cần phải tìm thế chính thống hoặc đánh lạc hướng những bất mãn và khủng hoảng bằng cách kích thích óc dân tộc chủ nghĩa quá khích của người dân để gây chiến với lân bang, nhân đó có cớ thắt chặt kiểm soát nội bộ và cai trị dân. Tình trạng nhân mãn càng khiến cho Tàu buộc phải tiếp tục chọn con đường tồn tại bằng cách bành trướng với bất cứ giá nào, bất kể khủng hoảng nội bộ và nguy cơ đụng độ với lân bang hoặc các cường quốc khác, cho tới khi chế độ toàn trị sụp đổ và Đế quốc bể ra nhiều mảnh, hiện tượng này có tính chu kỳ (đã xảy ra nhiều lần) trong lịch sử 4000 năm của Tàu.

B-Bàn tay Đại Hán trong mọi biến động quân sự, chính trị tại Đông Dương.

Chỉ nhìn bản đồ địa lý cũng thấy được cái thế sinh tồn của Đế Quốc Tàu: Tàu nay chỉ còn duy nhất hướng Đông Nam để bành trướng và tiến ra biển. Nếu làm chủ được VN, Tàu sẽ kiểm soát được Đông Dương, kiểm soát được hải lộ chiến lược và kinh tế Thái bình Dương. Về mặt an ninh cho lục địa, Việt Nam như cái bao lơn trông ra biển, chính là cái cổng ra vào rất quan trọng. Nếu VN rơi vào quỹ đạo Mỹ như Nhật, Nam Hàn, Phi luật Tân, Úc … thì Tàu sẽ ở vào cái thế bị vây chặt tứ bề như con cá nằm trong rọ. Do đó trong điều kiện chưa đủ mạnh để thực hiện tham vọng làm bá chủ thế giới, bằng bất cứ giá nào Tàu cũng phải giữ miền Bắc VN làm lá chắn phía đông nam, giống như Bắc Hàn là lá chắn phía đông bắc. Tuy nhiên vì bài học lịch sử thất bại ngàn năm còn đó, Tàu phải tránh trực tiếp xâm lăng bằng quân sự, vì vậy “Tằm ăn dâu” (Cabbage strategy- Salami slicing) là con đường duy nhất để thôn tính Việt Nam. Kế sách đó được thực hiện rất sớm, bền bỉ và liên tục trên nhiều mặt:

1-Thâm nhập sâu vào guồng máy cầm quyền, can thiệp vào tổ chức nội bộ và nhân sự lãnh đạo nhằm tiêu diêt nhân tài, tiêu diệt những người có tinh thần dân tộc, tạo ra hoặc thúc đẩy chia rẽ, phân hóa, nội chiến.

2-Phá hủy truyền thống dân tộc và cơ cấu xã hội, bóp méo xuyên tạc lịch sử, xâm lăng văn hóa, truyền bá văn hóa bạo lực đấu tranh giai cấp CSCN.

3-Phá hoại tài nguyên và tiềm lực kinh tế sản xuất, sao cho Việt càng ngày càng suy sụp và lệ thuộc để tự động trở thành phiên thuộc.

4-Lấn đất, lấn biển dưới nhiều hình thức và khi thời cơ thích hợp.

Trên thế giới, sự kiện các nước tìm cách ảnh hưởng lẫn nhau là điều không thể không xảy ra. Sự kiện các nước lớn tìm cách khống chế các nước nhỏ để thôn tính đất đai, bóc lột tài nguyên và lao động, hoặc đặt căn cứ quân sự cũng không thể tránh được. Chỉ khi nào có được dân khí cường thịnh (lãnh đạo giỏi, tinh thần đoàn kết dân tộc cao), và nền kinh tế phát triển (như Nhật, Hàn) đồng thời có chánh sách ngoại giao và liên minh khôn khéo (như Thái Lan, Phi luật Tân…), thì mới tạo nên một thực lực làm cho nước ngoài phải kiêng nể, giữ được độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ. Tiếc thay những điều này đã và đang không thực hiện được ở Việt Nam.

Tài liệu lịch sử cho thấy ngay cả chiến tranh Giải thực trước 1954 cũng đã bị Tàu, kể từ thời Trung Hoa Dân Quốc của Tôn Văn, Tưởng Giới Thạch lợi dụng chiêu bài đồng minh, đồng chí, hữu nghị, cố vấn v.v… ngoài mặt là giúp đỡ, nhưng bề trong là để thực hiện cả một kế sách thâm sâu để thôn tính VN và Đông Dương như họ đã từng làm trong suốt chiều dài lịch sử (*6)

Vậy sẽ rất là thiếu sót cho cả 2 phe người Việt và các bình luận gia trong nước và quốc tế khi chỉ nhìn và đặt tên cho cuộc chiến ở Việt Nam và Đông Dương 1945-1975 là chiến tranh Đông Dương, chiến tranh Ý- thức- hệ (Tư bản/ Cộng sản, Quốc/ Cộng …), hoặc chiến tranh Giải phóng, hoặc Nội chiến.

Dường như mọi người đều không nhận thấy hoặc cố tình bỏ qua cái bóng ma của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán trong lịch sử giao dịch và xung đột Việt-Hoa và trong mọi cuộc chiến Đông Dương.

Tàu không bao giờ bỏ lỡ cơ hội để thực hiện kế sách “Tằm ăn dâu”. Ngay cả trong những thời kỳ có vẻ thân thiện hữu nghị Tàu vẫn dùng mọi cách, hoặc trực tiếp qua áp lực kinh tế, chính trị, quân sự hoặc gián tiếp qua tình báo và phản tình báo để gây chia rẽ, lũng đoạn nội bộ để làm yếu thế lực Việt, băng hoại tinh thần dân tộc và văn hóa Việt, và cả cơ cấu tổ chức xã hội Việt.

Thí dụ: Cuộc Cải Cách Ruộng Đất (CCRĐ) 1953-1956 đẫm máu để thực hiện đấu tranh giai cấp cuồng tín, và ngay sau đó là vụ án Nhân Văn giai phẩm, rập khuôn theo chiến dịch Trăm Hoa đua nở cùa CS Tàu đã phải xảy ra, vì nó là sách lược quân sự căn bản (binh pháp Tôn Vũ: Tiên phát chế nhân= đánh phủ đầu) để khống chế toàn diện VN của Tàu, với sự phục tùng hoặc đồng lõa của các lãnh tụ tay sai Việt do CS Tàu đào tạo, nuôi dưỡng. Thực chất là chỉ mượn màu đấu tranh giai cấp nhằm che dấu dã tâm chính là:

1-Tiêu diệt nhân tài: tiêu diệt sớm (“giết tiềm lực”) những người có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh và trong xã hội, họ là những tinh hoa của dân tộc Việt, họ đều có học, đều xuất thân từ những gia đình khá giả hoặc tương đối khá giả (do đó dễ bị quy kết vào giai cấp địa chủ bóc lột), họ đã hết lòng chiến đấu chống thực dân dưới lá cờ Việt Minh chỉ do lòng yêu nước, họ có uy tín trong dân rất cao sau nhiều chiến thắng quân sự. Nếu những người này không bị tàn sát, thanh trừng thì sau này họ chắc chắn sẽ là những nhà lãnh đạo chính trị quân sự có tài và có tinh thần dân tộc, sẵn sàng bảo vệ tổ quốc trước dã tâm xâm lược, lũng đoạn của ngoại bang.

2-Sàng lọc dân và thanh lọc nội bộ: dùng khủng bố nhà nước để răn đe những phần tử bất đồng chính kiến và dân chúng, khiến họ quá sợ hãi và chịu hoặc khuất phục tuyệt đối, hoặc phải trốn chạy (di cư, vượt biên). Chính sách khủng bố nhà nước này đã thành công, với hậu quả là làm kinh tế miền Bắc VN trì trệ, phải lệ thuộc toàn diện vào viện trợ của Nga, Tàu giống như Bắc Hàn:

Giai đoạn 1953 (Đợt 1): thực hiện khủng bố ở vài địa phương xa, chủ yếu là gây tiếng vang đe dọa để sàng lọc dân, đuổi những thành phần không kiểm soát được vào miền Nam, vừa nhằm cướp tài sản của người di cư, vừa tạo gánh nặng cho miền Nam (1954: do quá sợ sẽ bị Cộng Sản đấu tố, khủng bố nên hơn 1 triệu người phải di cư vào Nam).

Giai đoạn 1956-1959 (gồm 4 đợt): Nhằm thanh lọc đảng và kiểm soát xã hội: tiêu diệt, loại trừ những cá nhân không vững “lập trường giai cấp”, thiết lập độc tài toàn trị “chuyên chính vô sản”, kiểm soát toàn diện tư tưởng và đời sống mọi người, không chừa một ai, kể cả cán bộ, đảng viên cao cấp. Có lãnh tụ Đảng đã phải tuyên bố từ bỏ giai cấp bằng cách đấu tố chính cha mẹ mình.

CCRĐ bên Tàu là rập khuôn theo kiểu Nga, mục đích là để củng cố quyền lực Đảng và lãnh tụ họ Mao. Khi Nga (Stalin) buộc Hồ Chí Minh thi hành CCRĐ và đặt dưới quyền giám sát của CS Tàu, thì Tàu lồng thêm vào âm mưu phá hoại thâm độc của họ, vì trong kế sách “tằm ăn dâu” thì việc triệt bỏ sớm những lãnh tụ tương lai có tinh thần dân tộc trong hàng ngũ Việt Minh, và triệt tiêu mọi mầm mống chống đối trong dân chúng chính là một bước tiến công quyết định, vì có triệt bỏ được những lãnh tụ tương lai này và làm tê liệt tinh thần dân tộc của dân Việt, thì về lâu về dài Tàu mới nắm chắc được đảng cầm quyền CSVN tay sai để thực hiện những bước thôn tính kế tiếp. Do vậy, phải nhìn thấy cuộc CCRĐ tắm máu không phải là sự sai lầm của các lãnh tụ CSVN hoặc sự ngu muội của cấp thừa hành như bọn họ đã cố tuyên truyền lừa bịp, mà là sự cài đặt sắp xếp có bài bản và áp lực cực lớn của Tàu (Mao đưa cả 1 đoàn cố vấn Tầu do Kiều Hiểu Quang, phó bí thư tỉnh ủy Quảng Tây lãnh đạo bên cạnh Hồ Chí Minh, lập ra các đội CCRĐ ở từng địa phương, uy quyền đến nỗi ra lệnh đấu tố, giết cả cán bộ Đảng; không khí sợ hãi đến nay còn truyền tụng: “nhất đội, nhì giời”  (*7)-

Không nhìn thấy rằng dã tâm cực kỳ thâm độc này của Tàu nếu được thực hiện sẽ ảnh hưởng sâu xa lâu dài thế nào đối với vận mệnh mất còn của dân tộc, thì quả là các lãnh tụ CSVN quá ấu trĩ, không xứng đáng là lãnh tụ (*8), và phải chịu trách nhiệm với lịch sử, với nhân dân vì đã làm cho đất nước suy sụp, tạo cơ hội cho ngoại bang can thiệp và xâm lược. Nhưng nếu đã nhìn thấy dã tâm này của Tàu mà vẫn đang tâm nhắm mắt tàn sát đồng chí, đồng đội, đồng bào thì phải gọi là gì đây? Chính danh thì phải gọi đó là tay sai cho giặc, là phản quốc, là bán nước, là có nợ máu với nhân dân.

Chỉ cần nhìn lại lịch sử, đọc lại tài liệu của chính Đảng CSVN để suy nghĩ về cuộc CCRĐ tắm máu “trời long đất lở”, thanh trừng, đầy đọa và giết oan hơn nửa triệu người, gồm trong đó có đến 43% tổng số cán bộ đảng viên Việt Minh, bất kể cấp bậc và công trạng (*9) cũng đủ để thấy sự thật về bản chất tay sai của Hồ Chí Minh và tập đoàn lãnh đạo đảng CSVN ngay từ 1956.

Hậu quả của chiến dịch này là: cho tới mãi mãi, trong hàng ngũ lãnh đạo của Đảng CSVN, nhất là trong đám lãnh tụ miền Bắc, sẽ chỉ gồm toàn những người vừa “lú” vừa cuồng tín, sợ Tầu, phục Tàu; Không thể tìm được một ai còn tinh thần dân tộc hoặc có tư duy xứng đáng với một người lãnh đạo.

Vụ Tổng Công Kích Tết Mậu Thân 1968 ở miền Nam là một thất bại về mặt quân sự, nhưng thực chất là thanh trừng nội bộ để tranh dành quyền lực, vốn là bản chất của mọi chế độ độc tài toàn trị. Mục tiêu thực của chiến dịch đó không khác của chiến dịch CCRĐ năm 1956: cũng chính là “giết tiềm lực”, nhằm tiêu diệt những người chiến đấu chống chính quyền miền Nam vì lý tưởng dân tộc chủ nghĩa (Chống Mỹ xâm lăng như kiểu chống Tây thực dân- Chống cường hào ác bá… ), đồng thời tiêu diệt lực lượng chính trị và quân sự hậu thuẫn cho phe MTGP miền Nam vốn có tiềm năng chia phần hoặc chống đối lại quyền lực chính trị của Bắc Việt. CS Miền Bắc đã thành công trong mục tiêu đó, vì đã mượn tay lực lượng VNCH để làm triệt tiêu trên 70% lực lượng chiến đấu cũa MTGP Miền Nam (*10), nhờ đó sau 1975, miền Bắc có thể áp đặt quyền lực chính trị và mô hình kinh tế XHCN hoang tưởng trên toàn miền Nam mà không bị chống đối, cho dù mô hình kinh tế què quặt này đã làm cho miền Nam phá sản, sắp chết đói.

Cũng như vua quan cuối thời nhà Nguyễn với đầu óc phục Tàu đã làm cho Việt Nam mất cơ hội hiện đại hóa như nước Nhật cùng thời, đầu óc của nhóm lãnh tụ CSVN lại còn tệ hại hơn nhiều, không chỉ là phục, mà còn sợ và lệ thuộc Tàu đến mức độ không thấy được tai họa của Chủ Nghĩa CS đối với sự tồn vong của dân tộc và đất nước.

Sau năm 1975, Lê Duẩn tuy ra mặt chống Tàu (vì Tàu không muốn một VN thân Nga), nhưng do trình độ thấp kém, lại bị ngộ độc bởi nọc độc Chủ Nghĩa CS (*11), nên sau khi chiếm được miền Nam, đã thực hiện một loạt biện pháp ngạo mạn ngu xuẩn: áp dụng chính sách kỳ thị chánh trị quá khích và độc ác đối với người miền nam, với người Việt gốc Hoa, nhất là đối với những cựu quân nhân viên chức của phe thua trận, làm trầm trọng thêm sự chia rẽ dân tộc, chia rẽ Nam Bắc; Đồng thời vừa chiếm đóng Miên, vừa áp đặt kinh tế XHCN hoang tưởng vào miền Nam, làm cho nền kinh tế thị trường đang lên này bị bức tử, khiến cho kinh tế cả nước đột ngột sụp đổ, nghĩa là đã trúng kế của kẻ thù phương Bắc: Chia rẽ dân tộc, Phá hoại sinh lực kinh tế, Cô lập với cộng đồng thế giới… Mặt khác, chiến lược chống đối với Tàu mà chỉ dựa vào có một đồng minh duy nhất (Liên Xô) là một nước cờ tồi (nước xa không thể cứu lửa gần). Sự thất bại là hiển nhiên, nhất là sau khi Liên Xô sụp đổ, khiến cho sự tồn vong của VN rơi vào cái thế tuyệt vọng hơn, vừa mất thêm đất đai (sau cuộc chiến biên giới Việt-Hoa 1979 và 1983), vừa lệ thuộc Tàu nặng nề thêm về kinh tế, chính trị (*12).

C- Chủ Nghĩa Cộng Sản chỉ là cái mặt nạ của Chủ nghĩa Đế Quốc

Nga (Liên xô) vốn âm mưu dùng Chủ Nghĩa CS để thôn tính cả thế giới, luôn cả Tàu, dưới chiêu bài Thế Giới Đại Đồng, nhưng Tàu to quá, Nga nuốt không nổi, đồng thời, khác với Hồ Chí Minh và đảng CSVN, Mao Trạch Đông và đảng CS Tàu dù là phải chịu lép vế một thời, phục tùng Stalin để được huấn luyện và yểm trợ chống lại Quốc Dân đảng, đã không ngu dại để biến thành tay sai muôn đời cho Nga, làm tên lính xung kích cho CS Nga như Hồ Chí Minh và đảng CSVN, hậu quả là Tàu và Nga trở thành kẻ thù của nhau-

Sau này kinh tế XHCN thất bại, không chịu đựng nổi cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ nên Nga Xô Viết xụp đổ, không giữ được những nước nhỏ mới thôn tính được sau thế chiến II – Nhưng Tàu dùng CNCS làm bình phong thì dù thất bại về kinh tế, vẫn có thể thôn tính được các nước Đông Dương, vì kinh tế XHCN nếu làm cho Tàu yếu một, thì cũng làm cho các nước nhỏ bị yếu nhiều lần hơn, đảng cầm quyền do bị cô lập, sẽ phải càng phải lệ thuộc vào đảng đàn anh để có chỗ dựa chính trị, hầu giữ vững quyền lực và quyền lợi: “còn Đảng, còn mình”.

Rốt cuộc các diễn biến ở VN từ 1930 dường như đều thuận lợi cho sách lược Nam tiến ngàn năm không ngưng nghỉ của Tàu.

Nghĩ cho cùng, về thực chất sâu xa lịch sử xung đột Việt-Hoa, chỉ toàn là Tàu chủ động đánh Việt, toàn là Tàu giấu mặt trá hình, dùng mọi thủ đoạn thâm độc tìm cách làm cho Việt chia rẽ, đánh lẫn nhau mà suy yếu đi, dân mình Bắc Nam đều chỉ là nạn nhân, các lãnh tụ CSVN vì ngu muội và bị sai khiến, cũng chỉ là con cờ trong bàn tay phù thủy.

Chúng ta nay đã đều biết ai đứng đàng sau Mặt Trận Việt Minh (trước 1954) và MT Giải Phóng Miền Nam (trước 1975) để giựt giây? chính là đảng CSVN, con đẻ của Quốc Tế III (Nga Xô), tay sai của Mao Trạch Đông và đảng CS Trung Hoa. Ngay từ đầu, CS Tàu đã muốn dùng chủ nghĩa CS để thôn tính các nước Đông Dương, mở rộng biên cương xuống phía Nam, làm chủ biển Thái Bình và cả vùng Đông Á. Trong ý đồ đó, miếng xương khó nuốt nhất vẫn là một nước VN thống nhất và hùng mạnh. Từ 3,000 năm nay Tàu gặp khó khăn khi muốn xâm lăng và đồng hoá VN vì ý chí về đồng bào đồng chủng, và độc lập dân tộc của VN còn mạnh, nay Tàu vớ được Chủ Nghĩa Cộng Sản, dùng mục tiêu hoang tưởng là “Đấu tranh giai cấp để tiến đến Thế Giới Đại Đồng”, tạo ra một thứ ảo vọng “Thiên Đàng hạ giới”, lừa gạt những người kém tinh thần dân tộc, những người nhẹ dạ, cả tin, cuồng tín giáo điều hoặc thiếu học vấn, kém suy luận, để che đậy ý đồ xâm lược (của Tàu) và âm mưu bán nước (của thành phần tay sai, thân Tàu trong Đảng CSVN)-

Chiến tranh giải thực ở VN vốn không cần chịu mất mát và đổ máu nhiều đến thế, nhưng với âm mưu làm yếu Việt, Tàu đã xúi dục, cổ võ, yểm trợ cho chiến tranh và phân hóa. Nhìn bề ngoài, thì giống như người Việt chống Pháp, Việt Minh đánh Việt Gian … nhưng thực ra chính là Hán tộc (Tàu) đánh Việt tộc bằng cách dùng ngay người Việt (Việt Minh) đánh giết người Việt.

Lực lượng Việt tộc (chính quyền Quốc Gia, các đảng phái Quốc Gia, các tôn giáo…) biết rõ sự lệ thuộc của các lãnh tụ Việt Minh vào Cộng Sản Tàu, Nga, nhưng vì yếu thế, nên đành phải dựa vào Pháp để chống Cộng, mà do Pháp thua, phải ký HĐ Geneve, nên phải cùng chạy xuống miền Nam.

Sau đó Tàu lại tiếp tục xúi Việt đánh Việt bằng chủ nghĩa CS và yểm trợ ồ ạt về quân sự cho CS Bắc Việt và Mặt Trận GP Miền Nam, thậm chí còn đưa quân Tàu giả dạng vào miền Bắc (*13) để miền Bắc có thể xua toàn lực thanh niên xâm nhập miền Nam (sinh Bắc tử Nam), một công hai việc: vừa thúc đẩy mở rộng chiến tranh làm suy yếu dân Việt, vừa lan tràn ảnh hưởng xuống Đông Nam Á.

*Thời kỳ trước 1954, Tàu dùng tay sai Đệ tam Quốc Tế là Hồ Chí Minh dựng nên Đảng CSVN, núp dưới chiêu bài Mặt Trận Việt Minh, trợ giúp vũ khí nặng, nên Việt Minh thắng Pháp trận Điện Biên Phủ. Sau chiến thắng đó Việt Minh hoàn toàn có thế lực để thống nhất và kiểm soát cả nước, nhưng vì Tàu chưa củng cố xong nội bộ, lại lo ngại sẽ không kiểm soát được một VN thống nhất nên đã đã áp lực Việt Minh nhượng bộ phe Đồng Minh do Mỹ đứng đầu, chịu chia cắt VN. Mục tiêu của Tàu lúc đó là cần củng cố hậu phương, nên chỉ muốn biến Bắc VN thành thành lá chắn phía đông nam, giống như Bắc Hàn là lá chắn phía đông bắc.

*Thời kỳ sau 1954, Tàu yểm trợ cho CS Bắc Việt xâm lăng miền Nam chỉ là tranh dành ảnh hưởng với Nga ở Đông Dương, và muốn cho VN suy kiệt do nội chiến để không thể trở thành đối thủ đáng ngại cho mưu đồ bành trướng.

Như vậy, sau 1975, mặc dù bề ngoài thấy giống như là phe Xã Hội CN thắng phe Tư Bản, Bắc Việt thắng Nam Việt, hoặc là Giải Phóng Miền Nam thắng Mỹ… nhưng thực ra vẫn chỉ là Tàu thắng Việt, vì Tàu đã thành công trong âm mưu dùng người Việt đánh người Việt, khiến cho 2 miền đều kiệt quệ, chết người, hại của, gây nên hận thù chồng chất và chia rẽ dân tộc thêm sâu sắc.

Nhớ lại, sau khi dàn xếp thỏa hiệp được với Tàu để dồn nỗ lực làm suy yếu Nga, Mỹ bỏ rơi VNCH, làm ngơ cho Tàu chiếm đoạt Hoàng Sa, cắt hết quân viện làm cho miền Nam thất trận 1975 (*14 ). Ngay sau đó miền Bắc xé bỏ thỏa thuận trước đây với MTGPMN (miền Nam trung lập trong 2 năm rồi mới hiệp thương thống nhất), áp đặt ngay chính sách kỳ thị chính trị với miền nam, và nền kinh tế giáo điều XHCN trên cả nước bằng cách cào bằng lực lượng sản xuất miền nam với các chiến dịch đánh tư sản và đổi tiền (thực chất là cướp tài sản), cô lập hoặc xua đuổi những người có tinh thần dân tộc, kể cả các lãnh tụ của Mặt Trận GPMN. Một số lớn nhân lực (vài trăm ngàn thanh niên trẻ và chuyên gia các ngành nghề quân sự, dân sự, khoa học kỹ thuật) có tiềm năng chống Tàu hoặc xây dựng kinh tế rất lớn bị lừa vào các trại cải tạo, thực chất là các trại tù. Một số lớn dân chúng có tiềm năng xây dựng nền công nghiệp và kinh tế thị trường bị cưỡng bức đi khai khẩn vùng rừng núi hoang vu (gọi là vùng kinh tế mới).

Những nhân tài vật lực (lực lượng sản xuất tiên tiến) này miền Nam đã mất 20 năm mới vun trồng và tích lũy được, đã từng là vốn quý khiến cho kinh tế xã hội và đời sống miền Nam thời đó cao hơn cà Singapore, Thái, Nam Hàn, đã bị sự ngạo mạn u mê của các lãnh tụ “Bên thắng cuộc” làm tiêu tan hết chỉ trong vài năm.

Sự kỳ thị chính trị một cách quá khích và nền quản trị quá kém cỏi đã làm Kinh tế cả nước phá sản, tinh thần người dân bị suy sụp, bị đẩy đến chỗ cùng quẫn đến nỗi phải bỏ quê hương vượt biển ra nước ngoài cả triệu người, là một con số rất lớn chưa từng có trong trong lịch sử VN và thế giới- Cả triệu người, đại đa số là dân thường, kể cả dân miền Bắc phải liều lĩnh chạy ra biển khơi, bỏ nước mình để ra đi về nơi xứ lạ quê người, bất kể bão tố, cướp biển, hãm hiếp và chết chóc (khoảng 1/3 vùi thây trong biển cả). Điều đó nói lên được sự cùng quẫn thất vọng của người dân đối với nền cai trị ở VN. Thảm kịch này không khác gì một cuộc “tự diệt chủng” vốn là đặc trưng trong mọi chế độ Cộng sản, lại bồi thêm một lần mất máu (bleeding) rất lớn nữa cho sinh lực Việt tộc, cho lực lượng dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. (*15)

Tàu còn xúi dục, yểm trợ Kmer Đỏ tàn sát người Việt, đốt phá và tấn công biên giới tây nam để khích VN phải xua quân qua Kampuchia, tốn người, hại của, mất uy tín đối với quôc tế. Vậy mà Tàu lại viện lý do VN chiếm đóng Kampuchia để xua quân tấn công biên giới phía bắc, tàn sát hàng ngàn dân Việt. Rõ ràng là ném đá dấu tay rồi lại thừa cơ đối sách yếu kém của CSVN để gây chiến và cướp đất biên giới. Cũng phải ghi nhận rằng cuộc thảm sát của Kmer Đỏ làm chết gần 2 triệu người (21% dân số Miên) cũng là 1 cuộc “cải cách” còn triệt để và đẫm máu hơn là Cải Cách Ruộng Đất ở VN, vốn là đòn độc hiểm của Tàu, dùng người Miên giết người Miên để khống chế Miên về lâu về dài.

Thảm họa “tự diệt chủng” của dân Miên trực tiếp là qua bàn tay Kmer đỏ, nhưng chính CSVN đã đưa Kmer đỏ về Miên và giúp chúng lật đổ chế độ Lon Nol. Do vậy, đây cũng đồng thời là âm mưu của Đảng CSVN, dùng Kmer đỏ để diệt chủng, làm yếu dân Miên hầu thực hiện mộng Liên Bang Đông Dương.

D- Đệ Nhất Cộng Hòa, một thể chế không đúng thời vận.

Có một điều đáng tiếc, là ở miền Nam VN sau 1954, nếu ông Ngô Đình Diệm có lập trường đúng về ưu tiên cấp bách cho dân tộc lúc đó, là một mặt cần “chính danh” (legitimacy) để ổn định nhân tâm đối phó lại với thủ đoạn tuyên truyền của Việt Minh CS, một mặt cần một mô hình dân chủ pháp trị thích hợp nhất với thời thế, và quyết tâm xây dựng chế độ theo mô hình đó một cách dứt khoát, không nhượng bộ áp lực cá nhân thân tộc thì sẽ giữ được cái thế “chính danh, đại nghĩa”, tiếp tục huy động được sự ủng hộ sâu rộng của các đoàn thể quần chúng và đảng phái, tôn giáo, và đã có thể kéo dài chế độ thêm một thời gian đủ dài để xây dựng được nền móng chính trị dân chủ vững mạnh, củng cố và dựa vào sức mạnh đại đoàn kết dân tộc chống lại sự thao túng của ngoại bang, kể cả Mỹ và thủ đoạn tuyên truyền xuyên tạc, phá hoại của CS.

Đối với các nước ở Đông Á vào Thế Kỷ 20, nhất là những nước phong kiến nông nghiệp vừa mới thoát khỏi chế độ nô lệ thuộc địa, dân trí còn thấp kém, nhất là ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân chưa có, xem ra mô hình chính trị dân chủ thích hợp nhất phải là Quân chủ lập hiến, vì những nước theo mô hình này vẫn ổn định cho tới gần đây (Thái, Miên, Nhật …) – Nhiều nước dân chủ Âu Mỹ tới nay cũng vẫn còn là Quân chủ lập hiến (Anh, Úc, Canada …)

Tại Việt Nam, bài học lịch sử cận đại còn đó: Trịnh Kiểm (1503–1570) có thế lực chính trị hơn vua Lê, nhưng lòng dân còn mến mộ công đức vua Lê Lợi đã cởi ách nô lệ cho dân, cho nên Trịnh Kiểm không dám cướp ngôi, họ nhà Trịnh đành phải “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản” cho đến khi bị nhà Tây Sơn dẹp.

Vua Quang Trung (1753-1792) sau đó xưng Vương được chính danh, là vì vua Lê Chiêu Thống “cõng rắn cắn gà nhà” đưa quân Tàu vào. Nhà Tây Sơn sau khi vua Quang Trung mất đã chia rẽ, đánh lẫn nhau, và làm dân đói khổ, cho nên bị vua Gia Long diệt.

Nhà Nguyễn Gia Long (1802-1945) đã có công mở rộng đất nước gấp đôi, và cai trị trên 100 năm, được lòng dân mến mộ và tuân phục. Vị vua cuối cùng là Bảo Đại cũng hết lòng đấu tranh đòi Thực Dân Pháp trao trả độc lập. Dù thoái vị vì mắc mưu Việt Minh lợi dụng lòng yêu nước của mình, nhưng cũng chưa hề làm mất lòng dân. Trong khi đó, ông Ngô Đình Diệm chỉ là một đại quan của vua Bảo Đại; Gia tộc ông chưa có công trạng gì lớn với đất nước, uy tín với dân và sĩ phu cả nước cũng chưa có gì đáng kể, nếu ông sáng suốt hơn, thì thay vì lật đổ và bêu xấu vua Bảo Đại, ông nên bắt chước Trịnh Kiểm với vua Lê, như vậy sẽ có chính danh, chính nghĩa để huy động được sự tuân phục của giới sĩ phu và dân chúng, vô hiệu hóa được sự tuyên truyền của Việt Minh. Với chế độ Quân Chủ Lập Hiến, Việt Nam sẽ ổn định về chính trị, có uy tín trong khu vực (Đông Dương) và thế giới, do đó sẽ thắng Cộng Sản và trở thành cường quốc khu vực.

Vậy thất bại của ông Ngô Đình Diệm là do mâu thuẫn giữa một bên là hệ tư tưởng phong kiến nông nghiệp của đại đa số trí thức, nhân sĩ thời đó, thể hiện qua tác phong quan lại của ông và gia tộc, với một bên là tham vọng cá nhân và áp lực xây dựng chính quyền theo mô hình dân chủ pháp trị kiểu Mỹ (dân chủ cộng hòa), mô hình này quá mới lạ đối với những điều kiện văn hóa, tâm lý xã hội của một nước nhỏ Á châu, và cũng không thích hợp với tình hình nhân tâm ly tán ở một miền Nam VN đang tan tác hỗn loạn sau 1954.

Những điều kiện mâu thuẫn như vậy đã khiến cho cho một lãnh tụ có tinh thần dân tộc như ông Diệm, sau khi lên làm Tổng Thống, không những không phát triển được mối quan hệ hợp tác với các đảng phái Quốc Gia, với các tôn giáo và các lực lượng chống cộng khác (Cao Đài, Hòa Hảo…) là những lực lượng quần chúng rộng lớn và có tổ chức chặt chẽ vốn đã tự nguyện tập họp giúp ông ngay từ ban đầu, mà lại còn bị ảnh hưởng của gia tộc và bọn xu nịnh, đưa chế độ vào tình trạng tự cô lập và xa rời quần chúng, dần dần làm mất thế chính danh mỏng manh của mình, tạo điều kiện cho địch (kể cả Mỹ) khai thác các sơ hở, mâu thuẫn để tuyên truyền phá hoại. Hậu quả là đưa nền cộng hòa sanh non đến chỗ chết yểu, sụp đổ quá sớm, không đủ thời gian để tiếp tục thực hiện việc cấp thiết sinh tử là chấn hưng dân khí, xây dựng một hệ thống chính quyền và một thế hệ nhân tài về chính trị, quân sự hoàn toàn mới cho phe Quốc Gia (không còn tàn dư của thời Pháp thuộc qua sự lưu dụng những công chức và sĩ quan cao cấp được Pháp đào tạo).

Vậy là Việt tộc lại mất đi thêm một vận hội lớn hiếm có để phục hưng sức mạnh chống lại tham vọng xâm lược của Tàu.

III- Vận nước còn nổi trôi

A- Chiến lược thôn tính Việt Nam và Đông Dương của Tàu

Sau 80 năm thuộc Pháp, với chính sách bóc lột về kinh tế, kềm hãm sự mở mang dân trí, và chia để trị (Bắc, Trung, Nam kỳ với 3 chế độ cai trị khác nhau), Thực dân Pháp đã làm cho VN chia rẽ và kiệt quệ.

Đến khi Mao Trạch Đông nhờ viện trợ của CS Nga, đánh thắng Tưởng Giới Thạch, nắm được chính quyền, thì Mao khởi đầu chiến lược thôn tính Đông Dương. Nếu Tưởng thắng, thì cũng sẽ làm y như vậy- Tàu nào cũng giống nhau- Sẽ rất là lạ nếu thực tế lịch sử lại không xảy ra như vậy- Mộng Đại Hán nằm sẵn trong đầu bất cứ anh Tàu nào-

Theo đó, hiển nhiên là CS Tàu phải điều khiển cho được cuộc chiến Đông Dương. Có rất nhiều tài liệu lịch sử đã được phổ biến cho thấy chiến tranh ở VN kể từ Chiến dịch biên giới 1950, trận Điên Biên Phủ và Hiệp định Geneve 1954, các chính sách lớn của CSVN kể cả cuộc CCRĐ đẫm máu 1956, tất cả đều có bàn tay của Tàu xếp đặt và điều khiển để làm suy yếu VN.

Cùng một đối sách áp dụng với Triều Tiên, dù không muốn thấy một VN thống nhất, Tàu nhận thấy việc ra mặt yểm trợ Bắc Việt xâm chiếm miền Nam là cần thiết để ngăn chận Nga Xô bành trướng thế lực, và về lâu dài còn có lợi cho mưu toan khống chế Đông Á, phá thế bao vây chiến lược của cả Nga lẫn Mỹ, do đó từ 1960 Tàu tiếp tục viện trợ hào phóng cho Bắc Việt và MTGPMN.

Sau khi Nga Xô sụp đổ, mất chỗ dựa duy nhất, lại bị cấm vận vì chiếm đóng Kampuchia, nền kinh tế tan hoang và nhân tâm ly tán khiến đảng CSVN không còn đường nào khác, đành phải bám vào thứ chính nghĩa bịp bợm và hoang tưởng là “bảo vệ CNXH thế giới”, quay lại khuất phục Tàu, bí mật nhượng bộ Tàu mọi mặt kể cả bán nước để được tồn tại (Hội nghị Thành Đô 1990).

Đến đây thì thấy rõ nhà cầm quyền CSVN hiện nay đang lâm vào tình thế bắt buộc phải giao căn nhà VN cho Tàu. Mọi động thái hiện nay của CSVN chính là đang chuẩn bị giao Việt Nam cho Tàu. Kiểm điểm lại, kể từ khi khởi đầu can thiệp vào Đông Dương từ năm 1930 với tay sai là Hồ chí Minh và Đảng CSVN, đến nay Tàu đã chiếm được các cao điểm quân sự ở biên giới phía Bắc (Ải Nam Quan, Đồi Lão Sơn …), chiếm đóng Hoàng Sa Trường Sa để làm chủ vùng biển VN, ém quân trên Cao nguyên và bờ biển Trung phần VN, yết hầu chiến lược của toàn thể Đông Dương, lật đổ ảnh hưởng của VN tại Lào và Campuchia, tạo thế bao vây VN trên bộ và ngoài biển, gài người nắm các chức vụ then chốt trong Bộ Chính trị CSVN và guồng máy an ninh, quốc phòng VN, tiêu diệt các lực lượng dân tộc, triệt hạ ý chí dân tộc, đào sâu chia rẽ nam bắc, phá hoại kinh tế, xã hội và văn hóa và VN, thông qua nhà cầm quyền tay sai khiếp nhược “hèn với giặc, ác với dân”.

Một khi ý chí đấu tranh của người dân bị mất định hướng, bị đàn áp hung bạo đến tê liệt và suy kiệt, người dân sẽ chỉ còn biết an thân thủ phận lo sinh kế, lòng yêu nước và tinh thần đại đoàn kết dân tộc bị lụn bại thì đất nước sẽ rơi vào cái thế buộc phải lệ thuộc ngoại bang, đưa tới mất nước và bị đồng hoá, y như dân Chiêm Thành, Chân Lạp trước đây vậy.

H4Đảng Cộng sản VN đón Tập Cận Bình bằng cờ 6 sao. Nguồn: internet

Dân ta ở VN sẽ thành ra người Tàu gốc Việt, như là đã xảy ra ở Tây Tạng, Tân Cương, Nội Mông vậy. Sẽ lại có thể xảy ra một đợt di tản lớn, người Việt lại ào ạt chạy ra nước ngoài, vài ba thế hệ sau là thành con lai hết…. Rốt cuộc đó cũng là thể hiện quy luật vận động của lịch sử loài người: Di dân và Đồng hoá. Khí thế đấu tranh của dân tộc nếu không đủ mạnh để sớm lật đổ chế độ cai trị độc tài của Đảng CSVN, dành lại nền độc lập tự chủ thì khó có thể tránh được một cuộc chiến tự diệt chủng tàn khốc nữa có thể làm tan rã Việt Nam.

Cuộc cờ muôn thuở ở VN cho tới nay vẫn không thay đổi, sau mỗi cuộc cờ, giữa 2 phe người Việt, vẫn không có bên nào là “Bên Thắng Cuộc”, mà kẻ thắng chính là Tàu, còn kẻ thua cuộc vẫn là nhân dân Việt Nam, là Việt tộc, là các dân tộc Đông Dương.

B- Chiến lược can thiệp của Mỹ

Trong điều kiện chủ nghĩa bá quyền Đại Hán còn tồn tại, nếu VN bị Tàu thôn tính hoặc hoàn toàn kiểm soát, thì Đông Dương và Biển Đông sẽ thuộc về Tàu. Tình thế này đã được dự đoán từ sau Thế chiến II, và không thể được các cường quốc khác chấp nhận.

Còn đối với Mỹ thì sao? nếu VN mất vào tay Tàu thì Mỹ cũng đâu có thiệt gì? Đại chiến lược của Mỹ vẫn là giữ vững thế siêu cường số một- Mục tiêu cốt lõi của Mỹ vẫn là bảo vệ và phát triển lợi nhuận các đại công ty tài phiệt và công kỹ nghệ.

Đối với Mỹ, quyền lợi là trên hết, cho nên Mỹ vốn là cần Tàu hơn là cần VN. Đầu tư của tư bản Mỹ vào Tàu rất lớn, thông qua nhà cầm quyền độc tài đảng trị CS Tàu, Mỹ không cần xâm lăng đất đai của Tàu cũng vẫn bóc lột được 1 tỷ rưỡi người Tàu-

Trong Đại chiến lược nhằm đối đầu với những thế lực có tiềm năng tranh chấp vai trò số 1 của mình, bao giờ kẻ mạnh hơn cũng chủ động áp dụng chiến thuật Điểm và Diện, để địch thủ không đỡ nổi. Đối phó với Tàu, tranh chấp ưu thế quân sự trên biển Đông chỉ là “Diện”, còn “Điểm” chính là cái “tử huyêt” của tên khổng lồ một mắt Đại Hán mà Mỹ đang khai thác, đó là mâu thuẫn sinh tử giữa thể chế chính trị độc tài toàn trị và nền kinh tế thị trường đang toàn cầu hóa nhanh chóng dưới tác động thúc đẩy ngày càng mạnh của các tiến bộ khoa học kỹ thuật, đó chính là cái mâu thuẫn “ai thắng ai” giữa “quan hệ sản xuất lỗi thời, phản động” và “lực lượng sản xuất tiên tiến”, nói theo thuật ngữ kinh tế học Mác Xít-

Cái mạnh căn bản của một đảng chính trị, một chế độ, một quốc gia, cho đến một đại cường vẫn là phải có cái thế “chính danh” trong triết học chính trị của mình. Mỹ và đồng minh có nền văn hóa và thể chế chính trị phù hợp với nhau và đi đúng xu thế thời đại, là nhân bản, dân chủ hóa và toàn cầu hóa, tức là có “chính danh”. Cái mạnh này của phe các nước dân chủ chính là cái yếu chí tử của các thể chế chính trị độc tài toàn trị, vốn chỉ có thể tạm thời tồn tại nhờ vào dối trá và đàn áp.

Do đó, dù Mỹ chẳng sợ gì Tàu, nhưng cũng không dại gì để gây chiến với Tàu, vì không có lợi- Mỹ đã thắng Nga và sắp xếp Nga vào quỹ đạo thế giới thế nào thì cũng sẽ tính là về lâu dài sẽ thắng Tàu và sắp xếp Tàu vào trật tự thế giới bằng cách tương tự. Mỹ đang một mặt sắp xếp cái bẫy chạy đua vũ trang, một mặt thúc đẩy Tàu đi cho hết chu kỳ bành trướng quyền lực của một thể chế độc tài toàn trị. Mỹ đang thổi cho Tàu phải phình to ra để sẽ tự nổ thành nhiều mảnh, y như Nga Xô Viết vậy, dù biết trước mà vẫn không tránh được…. Từ nay cho tới lúc đó, thì nếu Tàu mà ra mặt đụng độ với Mỹ, Mỹ chỉ cần xù nợ hoặc không mua hàng là Tàu sẽ gặp khó khăn rất lớn, có thể có nội loạn ngay nếu có thêm cả trăm triệu người thất nghiệp do cấm vận. “Cấm vận” là vũ khí độc quyền của Mỹ và đồng minh. Dĩ nhiên Mỹ cũng sẽ gặp khó khăn, vì đã có phần nào phụ thuộc vào hàng hóa rẻ tiền nhập từ Tàu. Tuy nhiên vì mục tiêu lâu dài và Đại chiến lược của mình, Mỹ cũng không thể để Tàu chiếm được VN hoàn toàn, vậy thì Mỹ và đồng minh sẽ phải tìm mọi cách để ngăn chặn tham vọng bành trướng của Tàu bằng cách yểm trợ cho phe chống đối ở VN trở nên đủ mạnh để tạo áp lực với Tàu, buộc Tàu phải dừng chân lại.

Chiến tranh giằng co ở Đông Dương do đó sẽ lại bùng nổ dưới hình thức chiến tranh ủy nhiệm. Tại sao phải là chiến tranh ủy nhiệm? vì chắc chắn Tàu và Mỹ, kể cả Nhật, Ấn, Úc sẽ không trực tiếp đánh giết nhau, nhưng sẽ dựa vào tình trạng mâu thuẫn, chia rẽ và suy sụp ở VN để tạo ra 2 phe, thí dụ: phe Bắc Việt (thân Tàu) và phe Mặt Trận Giải Phóng v.v… và viện trợ cho 2 phe đánh giết nhau. Cuộc chiến Long tranh Hổ đấu để tái sắp xếp bàn cờ và tranh dành quyền lực ở Thái Bình Dương này sẽ lại làm cho dân Việt xương tan máu đổ vài chục năm, rốt cuộc chỉ để Mỹ đạt được thỏa hiệp với Tàu, thể hiện bằng cách chia đôi VN như vào năm 1954.

Cái mà Mỹ muốn và phải được, là cầm chân được Tàu, duy trì hiện trạng cán cân lực lượng với ưu thế về Mỹ, chờ dịp để thực hiện “tái sắp xếp” Tàu vào quỹ đạo thế giới của mình, giống như đã từng làm với Nhật, Đức sau năm 1945 và với Liên Xô sau 1991. Cái mà Tàu được sẽ có ý nghĩa lớn đối với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, là làm chủ thực sự nửa nước VN, mở được cửa ngõ tiến ra biển Đông để trở thành cường quốc biển.

Ngoài lý do là thế xung đột không tránh được giữa đại cường cũ (Mỹ), và đại cường mới (Tàu) đang hình thành, còn một lý do nữa để cho thấy chiến tranh ủy nhiệm chu kỳ là khó tránh, là vì các đại cường luôn luôn cần thử nghiệm, sản xuất và dự trữ vũ khí mới, đồng thời kho vũ khí cũ trị giá hàng ngàn tỷ cần phải được tiêu thụ. Không phải Vũ khí là loại hàng hóa đem lại siêu lợi nhuận sao?

C-Cuộc chiến để tồn tại của VN

Về mặt địa chính trị, người ta thấy một tình huống có tính quy luật:

Một đất nước bị tụt hậu, suy sụp mọi mặt  và chia rẽ đến tận tập đoàn lãnh đạo, đồng thời lại ở vị trí địa lý bị giằng co giữa những thế lực đại cường, thì khó thoát được nạn bị chia cắt lãnh thổ hoặc tan rã.

*Tình huống này đã xảy ra ở Việt Nam và Hàn Quốc vào những năm 1950 với Hiệp định Bàn Môn Điếm chia đôi Hàn Quốc, và Hiệp Định Geneva chia đôi VN.

*Tình huống này cũng đang xảy ra hiện nay ở Việt Nam: tình trạng đất nước bị tụt hậu, suy sụp mọi mặt và chia rẽ Bắc Nam rất trầm trọng ngay cả trong hàng ngũ cao cấp nhất của Đảng CSVN sẽ mau chóng đẩy cả nước vào tình thế bị chia cắt lãnh thổ hoặc tan rã. Như vậy là bãi chiến trường được chọn đã sẵn sàng.

Thế cờ sắp tới là cả Mỹ và Tàu đều chuẩn bị thử sức nhau lâu dài ở biển Đông, ở miền Nam VN. Nếu không phục hưng lên kịp, VN sẽ lại là 1 quân cờ, là nơi tiêu thụ vũ khí tồn kho, nơi chiến trường trắc nghiệm kỹ thuật chiến tranh và vũ khí mới.

Điềm gì đây khi Mỹ đã bỏ cấm vận vũ khí sát thương cho VN (cuối tháng 5, 2016) mà không ràng buộc gì với nhân quyền? Nếu vũ khí Mỹ lại ào ạt đổ vào VN, thì có cách gì khác để Mỹ chống Tàu mà không dùng đến máu VN ?

Mặc dù lịch sử diễn biến, nhưng với một nền tuyên truyền dối trá và bưng bít sự thật, bị chi phối bởi Tàu và tay sai, thế hệ con em chúng ta đã và sẽ không học hỏi được kinh nghiệm gì của lịch sử, đại cuộc như vậy vẫn sẽ tiếp tục bị chi phối bởi thế lực ngoại bang, cho nên đại thể diễn biến lịch sử sắp tới sẽ vẫn là cảnh bổn cũ soạn lại. Những bàn tay lông lá cũ đã và đang chuẩn bị những lá bài mới cho giai đoạn mới.

Tình hình quốc nạn như nước sôi lửa bỏng, trong lúc giai cấp lãnh đạo càng ngày càng thối nát, hèn với giặc ác với dân, đồng thời chia rẽ và mâu thuẫn về quyền lực và quyền lợi giữa các nhóm lợi ích ngày càng gay gắt. Đảng CSVN và các lãnh tụ huyền thoại của họ ngày nay đã lộ hết bộ mặt thật tay sai phản dân bán nước, nên không còn chút uy tín gì với nhân dân trong nước và quốc tế. Một mặt do họ tự đánh mất qua sự dốt nát, tác phong côn đồ tồi tệ và sự độc ác phi nhân tính của họ đối với chính nhân dân của mình; mặt khác, từ sau 1975 tới nay, chính Tàu là kẻ đã tiết lộ mọi chuyện thâm cung bí sử trong bang giao Tàu-Việt, các văn bản thần phục, thỏa thuận giao chủ quyền biển đảo và biên giới VN của các lãnh tụ CSVN cho cả thế giới biết. Những tiết lộ này đã khiến cho chút chính nghĩa “giải phóng” còn lại cũa CSVN tay sai cũng trở thành khôi hài. Tàu ngày nay thấy không còn cần che dấu nữa, không cần bảo vệ chút uy tín nào của đàn em như trước đây nữa.

Thái độ ngược ngạo ở biển Đông, ở thượng nguồn sông Mê Kông cho thấy Tàu đang nhấn mạnh cho dân Việt và thế giới biết rằng: Tình trạng lệ thuộc của VN đã được xác định. Sự tồn tại của Đảng CSVN ngày nay hoàn toàn nằm trong bàn tay Tàu, buông ra thì còn thoi thóp, bóp lại là chết ngay.

Với tình trạng trần truồng và bất lực như vậy, ai còn tin được Đảng CSVN còn có khả năng và cơ hội để bảo vệ đất nước VN thì thật là hoang tưởng.

Không lạ gì khi thấy CSVN phải hèn với giặc, ác với dân. Ngay cả những cuộc biểu tình bất bạo động chống tập đoàn Formosa xả độc phá hoại tài nguyên và môi sinh biển Vũng Áng mà cũng bị đàn áp đổ máu, chứng tỏ chúng xem dân như bầy thú nuôi bị nhốt chờ làm thịt, do đó đàn áp là cách duy nhất để cai trị.

Điều đáng lo ngại là Phong trào đấu tranh và phản kháng trong nước đang đứng trước nguy cơ bị đàn áp khủng bố tệ hại nhất, vì bộ máy đàn áp đang được điều khiển bởi Tàu, qua những Robot mang nhãn hiệu VN nhưng được sản xuất bởi Tàu như: Nguyễn Phú Trọng, Phùng Quang Thanh, Trần Đại Quang  v.v… Do vậy Đảng cầm quyền tay sai nếu không đủ nhân lực và vũ khí phương tiện để đàn áp hiệu quả, thì sẽ nhận được ngay viện trợ dồi dào từ Tàu. Sẽ không lạ nếu qui mô đàn áp khủng bố có thể tàn bạo tới mức diệt chủng, vì đó là bản chất của mọi chế độ độc tài toàn trị (td: Thiên An Môn).

Xin mở ở đây một dấu ngoặc: Cùng thời gian và điều kiện gần giống VN, Hàn Quốc đã bị chia đôi, vậy Bắc Hàn đang và sẽ tồn tại như thế nào?

Hàn Quốc là 1 bán đảo, giống như 1 cái giỏ. Dưới áp lực xâm lược của Tàu và Nhật, người dân Hàn không có nẻo thoát bằng nam tiến như dân Việt. Họ còn tồn tại là nhờ họ rất cứng cỏi, họ đã không hề bị đô hộ mấy ngàn năm như VN. Hiện nay, dù bị buộc phải lệ thuộc Tàu về kinh tế, và áp lực về chính trị, chế độ cai trị ở Bắc Hàn vẫn tỏ ra rất độc lập với Tàu về chủ quyền.

Chính sách chống Mỹ cực đoan có vẻ như điên cuồng đã giúp cho Bắc Hàn thực hiện chương trình vũ khí nguyên tử và phát triển hỏa tiễn tầm xa. Thái độ có vẻ hung hăng quá khích này của họ Kim trên thực tế không những không làm hại an ninh hoặc quyền lợi kinh tế của Nam Hàn, và thế lực quân sự của Mỹ, mà lại có vẻ có lợi, vì tạo điều kiện cho Nam Hàn gia tăng quốc phòng, và Mỹ có cớ triển khai tên lửa phòng thủ sát nách Tàu, giống như bên tung bên hứng; Trong khi đó Tàu vẫn bị buộc phải nuôi Bắc Hàn mà không can thiệp được vào chương trình nguyên tử của Bắc Hàn, cũng không thể cài người vào trong tập đoàn lãnh đạo dưới bàn tay chuyên chế sắt máu của gia tộc phong kiến quân phiệt họ Kim.

Gia tộc họ Kim đã giữ vững được chủ quyền, ổn định được đất nước và chế độ suốt 3 thế hệ, kể từ Kim Nhật Thành, thì phải là những người lãnh đạo có bản lãnh, không thể là khùng điên, hung đồ như người ta vẫn nhận xét- Với bom Nguyên tử, một ngày nào đó, nếu chế độ Bắc Hàn muốn thống nhất với miền Nam, chắc chắn Tàu cũng sẽ không làm gì được. Thiển nghĩ trong điều kiện bị áp lực kinh tế và cô lập chính trị của mình, Bắc Hàn mặc dù chưa thể đưa người dân thoát khỏi cuộc sống nghèo đói, không còn cách nào khác tốt hơn là xử dụng kế “Tôn Tẫn giả điên” như đã và đang làm để giữ được chủ quyền trước mối đe dọa xâm chiếm và đồng hóa của Tàu, thay vì tiếp tục chọn giải pháp tự diệt chủng, xua quân “giải phóng miền Nam” như các lãnh tụ CSVN đã làm.

Cần thêm là vào giữa năm 2015, không rõ thực sự vì áp lực từ đâu, VN đã phải giao cho Nga gần 30kg Plutonium tinh chế, là nguyên liệu làm bom nguyên tử (*16). Phải chăng Tàu sợ một họ Kim khác xuất hiện ở VN?

Đối với Việt Nam, tình trạng tụt hậu, suy sụp và lệ thuộc Tàu mọi mặt, lãnh đạo thì hèn kém và chia rẽ, dân khí lại bạc nhược đến nỗi thay vì kết hợp lại để chống lại giặc nội xâm, thì lại hầu như bất cứ ai có dịp là đều sẵn sàng bỏ nước ra đi, cho thấy nguy cơ tan rã hoặc bị chia cắt rất cận kề. Nếu không chấn hưng được dân khí, huy động được toàn lực nhân dân trong nước, cộng thêm yểm trợ của các nước lân bang, thì ít nhất sẽ mất miền Bắc. Một bộ phận dân Việt nếu tiếp tục chạy thoát được sang các nước khác thì sau vài thế hệ cũng bị lai giống hoặc đồng hóa.

Sự tồn tại của Việt tộc luôn luôn bị đe dọa bởi chủ nghĩa bá quyền Đại Hán, ngày nay lại còn bị đồng thời đầu độc bởi Chủ Nghĩa Cộng Sản. Sức sống của dân tộc đang bị mòn mỏi cùng cực- Nếu không lật đổ được Chế độ CS thối nát này và bọn tay sai thân Tầu, thì cơ may tồn tại của dất nước VN là rất ít.

Trừ phi Tàu, do bị Mỹ “triệt buộc”, phải phình to, và tự nổ sớm, thì đất nước ta và dân ta lại tồn tại và có thêm một vận hội mới nhờ vào thế mạnh của cuộc cách mạng dân chủ thế giới đợt thứ 3… Mong lắm thay !!!

Phạm Dzũng

GHI CHÚ

(*1) Dân khí, Nguyên khí dân tộc: Cách đây hơn năm thế kỷ, Thân Nhân Trung (Thân Trọng Đức 1418-1499 thời Vua Lê Thánh Tôn) đã viết: “…Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn…”

 Hoặc nói như cụ Phan Chu Trinh: “Chấn dân khí – Hưng dân trí – Hậu dân sinh…”

*Ý thức của thành lãnh đạo về sức mạnh của đại đoàn kết toàn dân là đặc điểm của dân khí cường mãnh: Hội nghị Diên Hồng.

*Biểu hiện của dân khí là ở chỗ xuất hiện trong dân gian những lãnh tụ, những bậc hào kiệt có khả năng quy tụ quần chúng đông đảo đứng lên xây dựng đất nước, chống độc tài, chống bán nước, chống xâm lăng.

(*2) Chiếm Chiêm Thành: Khởi đầu với vua Lý Thánh Tông (1069), đến năm 1693 với chúa Nguyễn Phúc Chu, xóa sổ nước Chiêm Thành.

– Chiếm Miên (Chân lạp): Khởi đầu từ 1658, Chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần chiếm Biên Hòa. Năm 1835 do Miên suy yếu, bị Xiêm (Thái) xâm lược, vua Minh Mạng giúp đánh đuổi quân Xiêm và chiếm đóng Miên, đặt Nam Vang là Trấn Tây Thành.

*Xem thêm: Cambodia, lá bài cũ và câu chuyện mới của người Trung Quốc

https://www.facebook.com/notes/lang-anh/cambodia-lá-bài-cũ-và-câu-chuyện-mới-của-người-trung-quốc/10203354821471319

(*3) Người Hoa ở VN: Lê Bắc-http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,45688 (cận đại).

– Vào năm 1679 và 1680, khi nhà Thanh bình định  tỉnh Quảng Đông thì một số quan, quân, dân nhà Minh đã chạy qua VN và đã góp công sức rất lớn trong việc mở mang bờ cõi phía Nam. Ngoài 2 đợt di dân quan trọng đó, suốt thế kỷ 19 có nhiều người Hoa, theo tình hình xã hội, đã di dân tới Việt Nam.

– Khi Pháp chiếm được 6 tỉnh Nam Kỳ, đất rộng người thưa, tư bản Pháp đã chiêu mộ và khuyến khích người Hoa từ Trung Quốc và Singapore sang kinh doanh, khai thác

– Chiến tranh Quốc Cộng ở Trung Hoa đã làm cho nướcTàu loạn lạc, nhiều nhóm người Hoa cũng đã chạy trốn Cộng Sản và di cư sang VN.

– Năm 1954, nhiều người Hoa ở Hà Nội, Hải Phòng đã di cư vào Nam.

– Năm 1975-1979, với biến động ở Campuchea, nhiều người Hoa cũng đã chạy tỵ nạn sang sinh sống ở Việt Nam.

(*4) An Dương Vương (Thục Phán), rồi đến Triệu Đà đều là người Hoa Nam.

Xem: Lê văn Siêu, Việt Nam Văn Minh sử Cương, NXB Thanh Niên 2004-trg 36: Sáu trong 12 sứ quân thời sau vua Ngô Quyền là thổ phỉ bên Tàu chạy qua.

 Xem: Phan Như Huyên,Việt Nam Nước tôi, Garden Grove, CA, USA, 2000)Triệu Đà (207-137BC) chiếm Âu Lạc của An Dương Vương Thục Phán, xưng vương, đặt tên nước là Nam.

(*5) Xem: Cát Kiếm Hùng, Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc Tập I ,trang 10-11, Người dịch : Phong Đảo, NXB Văn Hóa Thông Tin Hà Nội 2004.

(*6) Lý Đông A, Chu Tri Lục 3 Cương Lĩnh (1943). http://thangnghia.com/?p=43

http://www.danchimviet.info/archives/35479

(*7 ) Xem Đại Nghĩa: Hồ Chí Minh và Cải Cách Ruộng Đất.  Việt, gồm Âu Lạc, Quảng Đông, Quảng Tây, đặt kinh đô ở Phiên Ngung thuộc tỉnh Quảng Đông.

*Ông Hoàng Tùng, nguyên Tổng Biên tập báo Nhân Dân (1954-1982) kể lại trong chuyện “Bí mật HCM” cho chúng ta thấy được sự nô lệ của ông Hồ và đảng Lao Động Việt Nam (tiền thân của đảng CSVN) như thế nào: “Mùa hè năm 1952 Mao Trạch Đông và Stalin gọi bác sang, nhất định bắt phải thực hiện CCRĐ. Sau thấy không thể từ chối được nữa, bác mới quyết định phải thực hiện CCRĐ…. Mục đích của họ không phải là CCRĐ mà là đánh vào đảng ta ….

*Giáo sư Nguyễn Mạnh Tường, trả lời báo Quê Mẹ khi du lịch sang Pháp sau năm 1975: “Trong lịch sử Việt Nam từ hồi lập quốc đến nay chưa có một cuộc thanh trừng giết dân nào khủng khiếp tàn bạo như cuộc CCRĐ. Hầu như mọi cuộc đấu tố đều có sự nhúng tay của cố vấn Trung cộng. Điều đó cho thấy chính quyền HCM lệ thuộc ngoại bang như thế nào”. (Người Việt ngày 7-9-2004).

*Xem thêm: Huy Đức, Bên Thắng Cuộc, NXB OsinBook, California, USA 2012, trg 255 “…Cùng với cải cách ruộng đất, chiến dịch “Chỉnh đốn tổ chức Đảng và chính quyền” mà Hồ Chủ tịch ca ngợi trong báo cáo trước Hội Nghị Trung ương 5 cũng đã gây tổn thương nặng nề cho Đảng”.

*Xem thêm: Trần Gia Phụng, Huyền thoại Hồ Chí Minh (Đàn Chim Việt- 20/3/2013): “Việt Minh thủ tiêu hàng loạt các đảng viên Quốc Dân Đảng, các nhà trí thức khác, và hàng ngàn tín đồ đạo Cao Đài.(5) Việt Minh thủ tiêu tất cả những ai không theo chủ nghĩa CS và có thể tranh quyền với Việt Minh, từ trung ương, ở các thành phố lớn, đến những đơn vị nhỏ nhất ở các làng xã, dù họ là những người yêu nước hay là những nhân tài của đất nước. Việt Minh gọi hành động nầy là “giết tiềm lực”, tức giết những người có tiềm lực nguy hiểm cho CS về sau.”

*Xem thêm: Trần Ngươn Phiêu, Nhân chứng cuối cùng.

(*8) Xem: Tùng Phong (Ngô Đình Nhu) Chính Đề Việt Nam – Nhà xuất bản Hùng Vương, Los Angeles 2009: Bối cảnh của vấn đề. http://phamthientho.files.wordpress.com/2011/07/chc3adnh-c3b0e1bb81-vn-ngc3b4-c3b0c3acnh-nhu1.pdf.

(*9) Bùi Tín, Nhìn lại cuộc Cải cách ruộng đất: Những bài học còn nóng hổi-

http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=8440&rb=0401 (trích):“…Vậy là tính sơ sơ, số nạn nhân trực tiếp nói chung lên đến nửa triệu con người….. -Chưa hết, theo thống kê nội bộ, trong chỉnh đốn tổ chức được tiến hành ở 2.876 chi bộ ĐCS gồm có 15 vạn đảng viên, đã có đến 84.000 đảng viên bị xử trí (bị tù, tra tấn, xỉ vả, bị giết) chiếm 47%. Con số khủng khiếp này – nhiều hơn số địa chủ bị đấu tố – đã được giữ rất kín. Tôi có những bạn thân, đồng đội cấp trung đoàn (hồi ấy chưa có quân hàm) là trung đoàn trưởng, tỉnh đội trưởng… bị đánh rụng hết răng, mù mắt, gẫy chân; một số khi sửa sai thì đã bị lao phổi nặng do phải nằm đất ẩm, chỉ có manh chiếu rách. Số đảng viên bị tra tấn còn tàn khốc hơn dân thường vì bị coi là phần tử thù địch chui vào Đảng để phá từ bên trong. Hầu hết là đảng viên trí thức, có trình độ học vấn khá”.

(*10) Trận Tết Mậu Thân 1968

Xem:Wikipedia:http://vi.wikipedia.org/wiki/Sự_kiện_Tết_Mậu_Thân#cite_ref-24. “..  Sau tổng tiến công Mậu Thân, vùng kiểm soát của Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam bị thu hẹp. Quân Giải phóng bị đẩy ra xa và suy yếu trầm trọng: các đơn vị quân sự suy yếu, các lực lượng chính trị bị lộ và bị triệt phá gần hết, thương vong cao hơn hẳn các năm trước…”.

*Xem thêm: Trần Nguơn Phiêu, Gió mùa Đông Bắc (2008).- Nỗi lòng Huỳnh Tấn Phát.

(*11) Ngộ độc chủ nghĩa CS: *Xem: Vũ Thư Hiên, Đêm giữa ban ngày (Hồi ký chính trị của một người không làm chính trị), Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 424, phần chú thích 1. “Lê Duẩn nói: “… ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc-

Nguyễn văn Linh đã từng nói (1986): “Tôi biết rằng dựa vào Trung Quốc là mất nước, nhưng thà vậy còn hơn mất Đảng.

Chủ Nghĩa CS phá hủy văn hóa truyền thống và ý thức dân tộc, phá hủy nền tảng tư duy về đạo đức cá nhân, cũng phá hủy luôn cấu trúc tự nhiên kinh tế và xã hội do áp dụng triết lý bạo lực về giai cấp đấu tranh, cộng với biện chứng hoang tưởng về xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội toàn thế giới (Thế giới Đại Đồng)- Biện chứng này tạo cho Đảng cầm quyền một thứ “Chính Nghiã” ảo, dựa vào đó để che dấu âm mưu thôn tính của nước lớn, và sự phục tùng lẫn âm mưu bán nước của tập đoàn cầm quyền nước mhỏ.

(*12) Xem: Nguyễn Gia Kiểng – Quan hệ Việt- Trung- Thực tế bẽ bàng hơn nhiều.

http://ethongluan.org/ 301

(*13) Trần Trung Đạo: Từ Buổi Chiều Trên Nghĩa Địa Hàng Dương,

http://www.trantrungdao.com/?p=290) Sự thật bị giấu kín (320 ngàn quân Trung Cộng từng tham gia chiến tranh Việt Nam

(*14) Daniel Ellsberg, Time Magazine US, Jun 28-1971: Pentagon Papers- The secret war.

 *Xem thêm: Trương như TảngHồi ký của một Việt Cộng.

(*15) Hồi ký Trần Quang Cơ, Chương 1- http://www.diendan.org/tai-lieu/ho-so/hoi-ky-tran-quang-co/hoiky-tqc-ch-1.

“Lý Quang Diệu đã nhận xét: “Năm 1975 thành phố Hồ Chí Minh có thể sánh ngang với Bangkok. Nhưng nay (năm 1992) nó tụt lại đằng sau tới hơn 20 năm”…

*Xem thêm: Robert F. Turner, Những sự thật về chiến tranh Việt Nam, Hậu quả của Hoa Kỳ sau khi bỏ rơi Đông Dương.

(*16) Xem: http://www.tin247.com/viet_nam_tra_nga_16_kg_uranium-1-22363256.html