MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?

MARIA MAĐALÊNA, BÀ LÀ AI?

Mary Ann Getty

MADALENA
Maria Mađalêna có một ảnh hưởng bền bĩ lâu dài, gợi hứng cho nhiều nghệ sĩ, tội nhân lẫn các thánh và cả những môn đệ của Đức Kitô qua nhiều thời đại.  Tiếng tăm này không thể dễ dàng giải thích dựa vào các thông tin về bà trong Kinh Thánh.  Điều Tân Ước nói về bà thật ít ỏi và gây thất vọng, đơn giản chỉ gọi bà là Maria Mađalêna hay Maria thành Magđala, nhưng có một chi tiết nhỏ thật có ý nghĩa và thách đố.  Cả bốn Tin Mừng đều khẳng định bà là môn đệ gương mẫu cho mọi thời đại.
Có điều gì đó bí ẩn và hấp dẫn về người phụ nữ này trong các Tin Mừng.  Một người phụ nữ mà tên riêng không đi kèm với tên một người đàn ông nào khác ngay trong Tân Ước thì đó là điều thật có ý nghĩa.  Khi xếp bà riêng ra thì hoặc bà là một nhân vật ngoại thường hoặc có vấn đề gì ở đây.  Có lẽ chính vì thế mà óc tưởng tượng bình dân đã “điền vào chỗ trống” và gán ghép bà với những phụ nữ khác trong Tân Ước, tạo nên một khối tù mù.  Trước khi xem các Tin Mừng nói gì thì chúng ta hãy xem thử những gì mà các Tin Mừng không hề nói.

Bà không phải là ai 
      Thỉnh thoảng Maria Mađalêna bị đồng hóa cách sai lầm với người phụ nữ xức dầu thơm lên chân Chúa Giêsu.  Sự đồng hóa này lại càng thêm phức tạp bởi vì người ta thường nhầm lẫn câu chuyện xức dầu với một người phụ nữ tội lỗi, một cô điếm.  Và góp phần khiến vấn đề trở nên tệ hại hơn là hình ảnh của Maria Mađalêna và một người phụ nữ bị cáo buộc ngoại tình trong Tin Mừng Thánh Gioan lại nhập nhằng với nhau.
Trong câu chuyện Khổ Nạn, dầu mục đích sử dụng câu chuyện khác nhau, cả bốn Tin Mừng đều nói về một phụ nữ xức dầu thơm chân Chúa Giêsu (Mc 14, 3-9; Mt 26, 6-13), Thánh Marcô và Matthêu đưa trình thuật nói về một phụ nữ vô danh xức dầu cho Chúa Giêsu có ý nói về cuộc mai táng của Ngài.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang ở nhà của ông Simon người phung hủi, ở Bêthania gần Giêrusalem.  Thánh Gioan cũng thuật lại câu chuyện xức dầu chân Chúa Giêsu không lâu trước cái chết của Ngài, xác định người phụ nữ là Maria thành Bêthania, bà làm thế để tỏ lòng biết ơn Chúa Giêsu đã làm cho em bà là Lazarô sống lại.  Maria là một tên gọi rất thông dụng và có lẽ chính vì thế mà hai bà tên Maria đã bị hòa lẫn vào nhau trong truyền thống Kitô giáo sau đó.
Thánh Luca kể về một phụ nữ vô danh đã xức dầu chân Chúa Giêsu khi Ngài đang ngồi bàn ăn trong khi đang thực hiện sứ vụ (Lc 7, 36-50) chứ không phải lúc cuối đời.  Lúc ấy Chúa Giêsu đang dùng bữa tối tại nhà ông Simon người Pharisiêu.  Có lẽ Maria Mađalêna đã bị nhầm lẫn với người phụ nữ này bởi vì Maria Mađalêna lần đầu tiên được gọi đích danh trong câu chuyện tiếp liền ngay sau trình thuật xức dầu của Thánh Luca (Lc 8, 2).  Góp phần để tạo thêm nhầm lẫn là người phụ nữ này đôi khi được miêu tả là người tội lỗi công khai (một cái tên thanh tao để gọi nghề làm điếm), người đã đổ nước mắt vì thống hối và hành động vì lòng hối hận.  Thế nhưng người phụ nữ xức dầu chân Chúa Giêsu là một phụ nữ vô danh trong Tin Mừng Thánh Luca, và nếu bà được ghi nhớ chỉ vì “tội lỗi” của mình hơn là tình yêu đưa dẫn đến hành động xức dầu chân Chúa, thì điều đó vừa trái với ý nghĩa của dụ ngôn mà Chúa Giêsu vừa mới nói đến trong dịp này lại vừa không phải là mục đích của Thánh Luca khi kể lại câu chuyện.
Vấn đề càng thêm phức tạp khi có một vài thủ bản Tin Mừng Thánh Gioan (7, 53 – 8, 11) nói về người phụ nữ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình và gán ghép chị này với Maria Mađalêna.  Một truyền thống lâu đời trong văn chương và nghệ thuật Kitô giáo đã vẽ nên một Maria Mađalêna là người tội lỗi ăn năn, sau khi gặp được Chúa Giêsu thì bà đã trải hết phần đời còn lại để khóc than tội lỗi mình.  Thế nhưng các Tin Mừng không hề gán ghép Maria Mađalêna với người phụ nữ tội lỗi, hoặc tệ hơn nữa là một cô điếm.

Các Tin Mừng nói gì
Trong các Tin Mừng Matthêu, Marcô và Luca, bà được gọi là Maria Mađalêna hay “Maria Magđala” (xem Mt 27, 56.61; 28, 1; Mc 15, 40.47; 16, 1,9; Lc 8, 2; 24, 10).  Thánh Gioan gọi bà là “Maria thành Magđala”, một thành phố vô danh trong Kinh Thánh (xem Ga 19, 25; 20, 1.18).  Vài người cho rằng đó là thành phố Magađan (xem Mt 15, 39; Mc 8, 10), một thành phố nằm bên bờ Tây của Biển hồ Galilê, giữa Tiberia và Capharnaum.

Maria thành Magđala được ghép với một địa danh chứ không phải với tên của bất kỳ người đàn ông nào bên cạnh Chúa Giêsu.  Trong thế giới Tân Ước, người phụ nữ thường gắn liền với chồng, cha, con trai hoặc anh em của họ.  Như vậy, người phụ nữ vô danh đã theo Chúa Giêsu và hiện diện dưới thập giá đơn giản chỉ được gọi là “bà mẹ của các con trai ông Zêbêđê.”  Tên gọi Zêbêđê xuất hiện ở đây không phải vì ông hiện diện dưới chân thập giá cùng với vợ con ông, những người đã theo Chúa Giêsu từ Galilê cho đến Giêrusalem.  Song chính ông được nêu tên chứ không phải bà vợ đầy lòng tin của ông.

Maria thành Nazareth, Maria và Martha thành Bêthania được gắn liền với thành phố quê hương của họ nhưng đồng thời cũng được gắn liền với người đàn ông:  Maria với Giuse, Maria và Martha với Lazarô.  Còn Maria Mađalêna chính là môn đệ và tông đồ của Chúa Giêsu.  Không có hàng chữ nào nói lên vai trò này của bà trong Tân Ước.  Đúng ra, các Tin Mừng chỉ phác họa Chúa Giêsu là người thâu nhận “những người học việc” (“môn đệ”).  Sau thời gian học tập với vị Tôn Sư, các môn đệ này được “sai đi” (ý nghĩa của từ “tông đồ”) để rao giảng và hành động với thẩm quyền của Chúa Giêsu.  Từ các Tin Mừng, chúng ta biết rằng các môn đệ được kêu gọi. Chúa Giêsu dạy các môn đệ rằng họ phải làm nhân chứng, tiếp tục sứ mệnh mà Chúa Giêsu đã khởi đầu.  Các môn đệ được đòi hỏi phải theo Chúa Giêsu và kiên trì cho đến chết.  Họ đã tin và rao giảng sự phục sinh.

Ơn gọi của Maria
Có vài môn đệ được kêu gọi từ bỏ cuộc sống đang đà thuận lợi.  Thánh Phêrô, Giacôbê và Gioan đã “bỏ mọi sự” mà theo Chúa Giêsu (Mc 1, 18).  Lêvi (hay Matthêu) là người thu thuế đã lập tức đứng dậy đi theo Chúa Giêsu (Mc 2, 13-14; Mt 9, 9).  Những người khác đã bỏ lại bệnh tật và khiếm khuyết của mình và “ơn gọi” của họ thật sự là một phép lạ đúng nghĩa.  Người mù gặp được Chúa Giêsu và được chữa lành.  Kể từ đấy ông đã “đi theo Người trên con đường người đi” (xem Mc 10, 52).  Tương tự như vậy, Maria Mađalêna sau khi được trừ “bảy quỷ,” đã đi theo Chúa Giêsu (xem Lc 8, 2; Mc 16, 9).  Thánh Luca kê tên bà trong số mấy phụ nữ được trừ quỷ và chữa lành bệnh tật đã đi theo Chúa Giêsu từ Galilê đến Giêrusalem, chăm sóc cho Ngài.

Các chứng nhân làm chứng cho điều họ thấy và nghe.  Các môn đệ được kêu gọi làm chứng cho Nước Trời đã đến trong lời nói và hành động của Chúa Giêsu.  Họ được trao ban nhiệm vụ (xem Mt 10; Lc 9 – 10) và được sai đi để làm điều Chúa Giêsu đã làm (Lc 10, 1.3.9).  Chúa Giêsu dạy các môn đệ phải trở nên đất tốt để “khi nghe Lời Chúa với tấm lòng cao thượng và quảng đại, họ nắm giữ và nhờ kiên trì mà sinh hoa kết quả” (Lc 8, 15).  Lời dạy này phù hợp với những miêu tả về Maria Mađalêna, sau khi được trừ quỷ, đã kiên trì và trung thành theo Chúa Giêsu cho đến khi Ngài chết trên thập giá, ngoài ra còn lấy nguồn lợi tức của riêng mình để chăm sóc cho Ngài và các môn đệ khác với tình chân thật và lòng quảng đại.

Theo Thánh Marcô, lời dạy cuối cùng của Chúa Giêsu với các môn đệ trước cuộc Khổ Nạn là “Hãy tỉnh thức!” (Mc 13, 36).  Họ đã chứng kiến sự đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu và cuối cùng là sự phục sinh của Ngài.  Thế nhưng các tác giả Tin Mừng nhìn nhận rằng các đấng môn đệ nam nhi đã không thể “tỉnh thức” với Chúa Giêsu dầu chỉ một thời gian ngắn ngủi trong Vườn Cây Dầu.  Vậy mà bà Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã “tỉnh thức” để trông xem cuộc đóng đinh và rồi nán lại để “nhìn xem” xác Ngài được đặt ở đâu.  Thánh Matthêu nói rằng Maria Mađalêna và vài phụ nữ khác đã ra mộ từ sáng sớm ngày Phục Sinh để “trông chừng” ở đấy (xem Mt 27, 55-56.61; 28, 1.8-10).  Họ đã “xem thấy” ngôi mộ trống.  Cuối cùng, theo ba Tin Mừng Nhất Lãm, những phụ nữ này đã nghe sứ điệp phục sinh và về thuật lại cho những người khác.  Họ đã được “sai đi” làm sứ giả hay tông đồ cho các môn đệ khác.

   Chứng nhân và sứ giả
Marcô đã xếp đặt bà Maria Mađalêna và những phụ nữ khác đứng dưới chân thập (Mc 15, 40-41).  Sử dụng Tin Mừng Marcô, Thánh Luca đã đặt ngay tâm điểm sứ vụ của Chúa Giêsu đoạn văn nói về những phụ nữ đi theo Ngài từ Galilê cho đến Giêrusalem để nói lên đức tin và sự kiên trì của họ (Lc 8, 1-3).  Còn theo Thánh Luca, tại Bữa Ăn Tối Cuối Cùng, Chúa Giêsu nhắc đến các môn đệ như là những người cùng đứng với Ngài trong cơn thử thách, “một lòng gắn bó với Thầy giữa lúc gian nan” (Lc 22, 28).  Maria Mađalêna chắc chắn là một trong số người đó.
Bất kỳ khi nào được nêu tên (ngoại trừ Ga 19, 25-27), Maria Mađalêna đứng đầu danh sách những phụ nữ đi theo và hầu hạ Chúa Giêsu.  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, các phụ nữ này đã rời bỏ tuyến hậu phương để xuất hiện dưới chân thập giá.  Chỉ trong Tin Mừng Thánh Gioan thì nhóm phụ nữ này gồm có cả “thân mẫu Chúa Giêsu,” cùng với chị của thân mẫu Chúa Giêsu là bà Maria vợ ông Clopas, và Maria Magđala” (Ga 19, 25).  Được sự ttháp tùng của các phụ nữ này cũng như người Môn đệ Chúa yêu (theo chứng từ của Tin Mừng thứ tư), “thân mẫu Chúa Giêsu” đến sát cây thập giá đủ gần để nghe Chúa Giêsu trăn trối mình cho người môn đệ ấy chăm sóc.  Maria Mađalêna cũng đứng gần đấy, chứng kiến cái chết và lắng nghe Ngài như bà đã từng làm trong suốt cuộc đời mình.

Trái hẳn với các môn đệ nam nhi đã bỏ Chúa Giêsu mà chạy trốn, Maria Mađalêna cùng những người đồng hành phụ nữ không chỉ chứng kiến cái chết của Chúa Giêsu mà còn nán lại để xác minh nơi chôn cất.  Và các bà đã quay trở lại ngôi mộ để xức dầu thơm xác Ngài vào lúc sáng sớm sau ngày Sabbath.  Sau khi được Chúa Giêsu hiện ra, Tin Mừng Nhất Lãm nói rằng bà Maria Mađalêna đã đi và nói cho các môn đệ khác biết sự việc đã xảy ra thế nhưng họ không tin phụ nữ (Mc 16, 20; Lc 23, 49).  Dường như các môn đệ không tin vì họ xưa nay vốn chẳng tin chuyện phụ nữ.
Trong Tin Mừng Gioan, Maria Magđala đi ra mồ “từ lúc sáng sớm khi trời còn tối.”  Thấy tảng đá che cửa mồ đã lăn sang một bên, bà chạy đi báo cho Simon Phêrô và Người môn đệ Chúa yêu (Ga 20, 1-2).  Cả ba chạy trở lại ngôi mộ rồi các môn đệ trở về (Ga 20, 9).  Maria vẫn ở lại, khóc lóc (Ga 20, 11).  Cuối cùng, Chúa Giêsu hiện ra và nói chuyện với bà (20, 11-18).  Bà đã về và báo cho các môn đệ rằng: “Tôi đã thấy Chúa” và kể lại những gì Ngài nói với bà (Ga 20, 18).  Trong Tin Mừng Thánh Gioan, không thấy có ám chỉ nào nói rằng Phêrô và những môn đệ khác không tin Maria hoặc bà là một chứng nhân không đáng tin vì là phụ nữ.  Gioan chỉ nói rằng Phêrô và Môn đệ Chúa yêu đã chạy ra mộ đ
nhìn tận mắt, và người môn đệ Chúa yêu đã tin.  Gioan dường như bóng gió rằng Phêrô không tin ngay lập tức.  Maria Mađalên đã thấy chính Chúa Giêsu và lòng tin của bà được khẳng định trong nhiệm vụ được giao là nói cho những người khác biết về sự phục sinh của Chúa.

Vài kết luận 
Các Tin Mừng đã phản ảnh một tranh luận trong xã hội ở thế kỷ đầu tiên về giá trị chứng từ của những người phụ nữ.  Sự chắc chắn và nhất quán của các Tin Mừng về tính đáng tin cậy của những phụ nữ và đặc biệt của Maria Mađalêna cho thấy rằng các cộng đoàn tín hữu của Chúa Giêsu đã có một nhãn quan mới về phụ nữ và chỗ đứng của họ trong một xã hội mới và trong Giáo Hội.  Một cách rất có ý nghĩa, các Tin Mừng đã ghi lại sự thất bại thảm hại của các đấng môn đệ nam nhi trong “giờ khắc” gay cấn nhất, rồi tiếp theo đó là họ đã không tin Maria Mađalêna cùng những phụ nữ khác đã vội vã chạy về loan tin Chúa Giêsu phục sinh cho họ.

         Kinh Thánh thoát thai trong một nền văn hóa gia trưởng phụ quyền.  Trong nền văn hóa như vậy, người ta nói về phụ nữ không mấy tích cực. Để vượt qua bối cảnh này, cần phải thẳng thắn khi nói về các đấng môn đệ nam nhi cư xử như thế nào vào thời khắc cao điểm trong cuộc tự hiến của Đức Giêsu và giải thích vai trò cần thiết của các phụ nữ cũng trong thời điểm ấy. Trong suốt Tân Ước, đặc biệt là các Tin Mừng, hình ảnh tích cực của các phụ nữ vẫn còn là một tiếng nói muốn được giải thích và trả lại tính xác thực.

Maria Mađalêna đã bị đánh giá sai thậm chí bị khinh khi, qua nhiều thế kỷ chúng ta đã đánh mất hoặc bỏ qua vai trò của bà như là người tông đồ đầu tiên.  Mặc dầu các bình luận về bà vẫn còn dè dặt để chỉ nói điều ít nhất, cả bốn Tin Mừng đều đồng ý rằng bà Maria Mađalêna đã ở dưới chân thập giá, nơi ngôi mộ trống và là một trong những chứng nhân đầu tiên về sự phục sinh của Chúa Giêsu.  Bà đã trở thành người mà phụng vụ mùa Phục Sinh gọi là “Apostola Apostolorum” (Tông đồ của các Tông đồ).

Mary Ann Getty

LM Phaolô Nguyễn Minh Chính chuyển ngữ

From: KittyThiênKim

Xôn xao clip: Thư sinh áo trắng mắng tay sai thân Tàu

Xôn xao clip: Thư sinh áo trắng mắng tay sai thân Tàu

httpv://www.youtube.com/watch?v=ugkbWPsBuMk


Bạn đọc Danlambao – Đoạn clip ghi lại cảnh một thanh niên trẻ hùng hồn nói lý lẽ với lực lượng công an sắc phục tại Bờ Hồ đang thu hút nhiều sự quan tâm trên các mạng xã hội.

Trước đó, hàng chục người đã bị CA trấn áp và bắt đưa lên xe bus vào sáng ngày 17/7/2016 khi đang tham dự cuộc tuần hành ôn hoà tại Hà Nội nhằm ủng hộ phán quyết Biển Đông của PCA, đồng thời phản đối “đường lưỡi bò” Trung Cộng.
Theo nội dung clip, người thanh niên này lên tiếng phản đối CA vì những việc làm sai trái như: bắt người phi pháp, cấm cản quyền tự do đi lại của người dân.
“Người dân được đi du lịch ở đây. Sao các anh lại có quyền ra đây cấm cản người dân?”, người thanh niên áo trắng nói.
Sau đó, có tiếng một phụ nữ chen vào: “Tóm lại là sợ Trung Quốc chứ gì? Có phải thế không? Hay thế nào?”
Lực lượng CA sắc phục và các dân phòng có mặt tại hiện trường đều tỏ ra im lặng, không dám trả lời những chất vấn của người dân.
Anh thanh niên này hùng hồn nói tiếp:
“Đây, có một người hỏi: Có phải sợ Trung Quốc hay không?” 
 
“Sao các anh không lên tiếng nói đi. Các anh là những chiến sỹ, là những người ăn cơm và mặc áo của dân. Các anh phải có nghĩa vụ bảo vệ người dân chúng tôi!”
Đáp lại, vẫn là những khuôn mặt vô cảm đang cúi đầu im lặng.
Xin được gửi lời khâm phục người thanh niên áo trắng vì sự can đảm của anh. Một lần nữa, đoạn video clip đã khẳng định thêm rằng chính nghĩa thuộc về những người biểu tình yêu nước chống Trung Cộng xâm lăng.
* Video: Facebook DMCS, Pham Van Hai

Bà nghị sĩ và Tập đoàn Formosa

Bà nghị sĩ và Tập đoàn Formosa

Bài viết sau đây của nhà nghiên cứu Mai Thái Lĩnh, bằng những sự kiện được mô tả chi tiết sẽ cho chúng ta thấy rõ lai lịch và “thành tích” của tập đoàn siêu hạng Formosa trước khi đầu tư vào Việt Nam :
 
– Formosa đã bị tai tiếng rất nhiều vì tội phạm hủy hoại mội trường;
 
– Ngay ở Đài Loan đã nổ ra những cuộc phản đối Formosa dữ dội, ngoài việc bắt đền tiền đã khởi kiện và yêu cầu đóng cửa;
 
– Sự phản đối của dân Đài Loan với tập đoàn Formosa không chỉ đơn thuần về kinh tế và môi trường. Về nguồn gốc Formosa thuộc phái thân Hoa lục độc tài cực đoan, đối lập với đảng Dân Tiến Đài Loan có tính chất thân dân chủ, và bảo vệ môi trường, bảo vệ dân sinh.
 
– Đọc xong, không thể không bật ra câu hỏi: Các cấp lãnh đạo ở Việt Nam khi chấp nhận cho tập đoàn Formosa lập một khu liên hợp công nghiệp, độc quyền vận hành trong 70 năm, tại một vùng hiểm yếu về an ninh như Vũng Áng, các vị có biết những thông tin này không, có biện pháp cảnh giác gì tương xứng không, hay chỉ nhìn thấy một mối lợi trước mắt nào đó? Hay là… còn gì gì nữa, để đến nay đã thành thảm họa, dễ chừng 50 năm nữa chắc gì đã gột rửa xong?
*
 
Bà nghị sĩ và Tập đoàn Formosa
Mai Thái Lĩnh – Ngày 16/6/2016, trong một cuộc họp báo tại Đài Bắc, ba nghị sĩ của Đảng Dân Tiến (hiện đang cầm quyền) đã lên tiếng yêu cầu chính phủ Đài Loan chỉnh đốn hoạt động của các nhà đầu tư ở hải ngoại, vì các cáo buộc cho rằng hàng triệu con cá chết tại Việt Nam là do một nhà máy thép của Tập đoàn Formosa gây ra.
Hình 1: (Từ phải qua trái) Bà Tô Trị Phần, bà Vưu Mỹ Nữ và ông Ngô Côn Dụ. Người thứ tư ngồi kế ba nghị sĩ là Linh mục Nguyễn Văn Hùng (người Việt Nam).
Ba nghị sĩ đó là Tô Trị Phần (Su Chih-fen 蘇治芬) (1), Vưu Mỹ Nữ (Yu Mei-nu 尤美女) và Ngô Côn Dụ (Wu Kun-yu 吳焜裕).
Câu hỏi đặt ra là: tại sao các nghị sĩ Đài Loan này lại quan tâm đến các ngư dân Việt Nam? Và tại sao cách đây không lâu, tập đoàn Formosa vẫn hùng hồn tuyên bố chuyện cá chết tại Việt Nam là do “thủy triều đỏ”, không liên quan gì đến nhà máy thép của Formosa Hà Tĩnh, vậy mà từ sau cuộc họp báo đó, Chủ tịch Formosa Hà Tĩnh đã thay đổi thái độ, thừa nhận cá chết là do chính họ?
Hãy thử lý giải hiện tượng này bằng cách tìm hiểu mối liên hệ giữa nhân vật quan trọng nhất trong buổi họp báo (bà Tô Trị Phần) với Tập đoàn Formosa, thông qua một số tài liệu nghiên cứu và tin tức trên báo chí Đài Loan.
 
Bà Tô Trị Phần là ai?
Bà Tô Trị Phần (Su Chih-fen 蘇治芬) xuất thân từ một gia đình rất nổi tiếng tại Đài Loan, mặc dù ở ngoại quốc người ta ít biết đến. Cha bà là Tô Đông Khải (Su Tung-chi 蘇東啟) – một nhân sĩ nổi tiếng tại huyện Vân Lâm (Yunlin), ở trung-tây đảo Đài Loan. Ông đã từng theo học tại Đại học Meiji (Nhật Bản) và vào đầu thập niên 1960 là nghị viên hội đồng tỉnh Đài Loan. Năm 1960, xảy ra vụ án Lôi Chấn (Lei Chen 雷震). Lôi Chấn nguyên là một trí thức ở đại lục, theo chân quân đội Quốc Dân Đảng (QDĐ) đến Đài Loan sau khi cộng sản chiếm được đại lục. Ông là người sáng lập và phát hành tạp chí Trung Hoa tự do vào năm 1950. Mặc dù là đảng viên QDĐ, cố vấn của Tưởng Giới Thạch, nhưng do lập trường ủng hộ dân chủ của tờ báo, ông đã làm phiền lòng nhà độc tài. Đầu tháng 9 năm 1960, ông bị bắt giam và kết tội phản quốc với bản án 10 năm tù theo lệnh của Tưởng Giới Thạch. Tờ tạp chí cũng bị đóng cửa từ đó.
Một vài trí thức nổi tiếng đã ký kiến nghị yêu cầu chính phủ trả tự do cho Lôi Chấn nhưng không thành công; trong số những người ký kiến nghị có chính trị gia Tô Đông Khải. Một năm sau (1961), hàng trăm nhà hoạt động tại Đài Loan bị bắt, trong đó có ông Tô. Ông bị kết tội âm mưu nổi loạn chống chính quyền và lãnh án tử hình (2). Bà vợ của ông là Tô Hồng Nguyệt Kiều (Su Hung Yueh-chiao 蘇洪月嬌) cũng bị bắt, sau đó bị kết án tù chung thân. Mãi đến năm 1976, dưới thời Tưởng Kinh Quốc, sau 15 năm ngồi tù bà Tô Hồng mới được trả tự do. Theo Linda Gail Arrigo, sau khi được ra khỏi tù, bà ứng cử vào hội đồng địa phương và trúng cử. Chính quyền QDĐ tìm cách gây khó dễ, nhưng sau đó không thể loại bỏ bà ra khỏi chức vụ dân cử (3). Gia đình họ Tô tại Vân Lâm trở thành một trong những hạt nhân địa phương đầu tiên góp phần quan trọng vào việc hình thành đảng đối lập lớn nhất tại Đài Loan vào năm 1986 – Đảng Dân chủ Tiến bộ, thường gọi tắt là Đảng Dân Tiến (tên trong tiếng Anh là Democratic Progressive Party, viết tắt là DPP).
Khi cha mẹ bị bắt giam, bà Tô Trị Phần mới lên 8 tuổi. Những nỗi đau mà gia đình bà phải gánh chịu đã thúc đẩy bà tham gia vào hoạt động chính trị. Bà bắt đầu nổi tiếng trên chính trường khi trúng cử chức vụ huyện trưởng Huyện Vân Lâm (Yunlin) vào cuối năm 2005. Vào lúc này, Đảng Dân Tiến đã nắm được chức vụ Tổng thống hơn một nhiệm kỳ và bước vào nhiệm kỳ thứ hai. Đảng Dân Tiến bước vào một giai đoạn khó khăn vì tuy nắm được quyền hành pháp nhưng tại Viện Lập pháp, Quốc Dân Đảng nắm đa số ghế. Trong cuộc bầu cử địa phương năm 2005, QDĐ thắng lớn: QDĐ thắng tại 14/23 thành phố và huyện, trong khi Dân Tiến trước đây nắm được 9 thành phố và huyện, nay chỉ còn nắm được 6 địa phương – trong đó có huyện Vân Lâm và huyện Gia Nghĩa (Chiayi). Huyện trưởng tại hai huyện này là bà Tô Trị Phần và ông Trần Minh Văn (Chen Ming-wen 陳明文).
Vụ án tham nhũng của cựu Tổng thống Trần Thủy Biển và gia đình là sự kiện lớn nhất trong giai đoạn này. Ngày 20/5/2008, chỉ một giờ sau khi rời khỏi chức vụ tổng thống (nghĩa là mất quyền miễn tố), ông Trần Thủy Biển lập tức bị bắt giữ và hạn chế quyền đi lại (lấy cớ là có thể bỏ trốn ra nước ngoài) vì bị cáo buộc các tội tham nhũng và lạm dụng quyền lực. Vụ án này kéo dài hơn hai năm, đến tận tháng 11 năm 2010, với phán quyết cuối cùng của Tòa án Tối cao: ông Trần Thủy Biển và vợ ông là bà Ngô Thục Trân (Wu Shu-jen 吳淑珍) bị kết án tù (17 năm rưỡi) và phải nộp phạt 154 triệu Đài tệ. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử Đài Loan, một nguyên thủ quốc gia bị án tù.
Ngày 4/11/2008, lợi dụng vụ án tham nhũng của Trần Thủy Biển đang ở thời kỳ cao điểm, cơ quan công tố đã bắt giữ và thẩm vấn bà Tô Trị Phần – huyện trưởng huyện Vân Lâm, vì cho rằng bà đã nhận hối lộ 5 triệu Đài tệ (tương đương 151 ngàn đô-la Mỹ) để thông qua một dự án xây dựng một hố chôn rác (landfill construction project). Việc bắt giữ này đã gây phẫn nộ trong người dân tại địa phương. Các đảng viên Dân Tiến lên án cơ quan công tố vì cho rằng họ chịu sự chỉ đạo từ phía chính phủ (của QDĐ) để nhân cơ hội này bức hại các đảng viên Dân Tiến – nhất là những người có uy tín tại địa phương như bà Tô Trị Phần (huyện trưởng Vân Lâm) và ông Trần Minh Văn – huyện trưởng huyện Gia Nghĩa.
Hình 2: Bà Tô trị Phần đang giơ cao hai tay bị còng để phản đối khi bị đưa lên một xe cảnh sát đến cơ quan công tố để thẩm vấn (Ảnh chụp ngày 10/11/2008) 
Các công tố viên đòi kết tội bà Tô bằng một bản án 15 năm tù và 8 năm bị tước quyền công dân (có lẽ để bà không thể nào tiếp tục sự nghiệp chính trị), thế nhưng qua hai lần xét xử, tòa án đã tha bổng bà Tô Trị Phần. Vì cơ quan công tố không chịu bỏ cuộc, tiếp tục kháng cáo nên mãi đến giữa tháng 1 năm 2012, Tòa án Tối cao mới ra phán quyết chung thẩm bác bỏ toàn bộ các cáo buộc của phía công tố, trả lại sự trong sạch cho bà Tô (4). Điều an ủi đối với bà Tô là trong kỳ bầu cử địa phương năm 2009, bà tiếp tục trúng cử chức vụ huyện trưởng. Và chính trong nhiệm kỳ thứ hai này, bà huyện trưởng Tô Trị Phần đối đầu với tập đoàn hóa dầu “khổng lồ” Formosa.
Để có thể hiểu rõ hơn về một huyện, cũng cần nói thêm đôi điều về cách phân chia hành chính của Đài Loan. Thời gian đầu Đài Loan được chia thành hai tỉnh Đài Loan và Phúc Kiến, nhưng tỉnh Phúc Kiến chỉ bao gồm hai quần đảo Kim Môn và Mã Tổ, còn lại đều thuộc tỉnh Đài Loan. Từ năm 1967 đến nay, có 6 thành phố lần lượt trở thành thành phố đặc biệt (special municipalities, 直轄市 trực hạt thị) trực thuộc trung ương: Đài Bắc (Taipei), Cao Hùng (Kaohsiung), Tân Đài Bắc (New Taipei), Đài Trung (Taichung), Đài Nam (Tainan) và Đào Viên (Taoyuan). Tỉnh Đài Loan chỉ bao gồm 3 thành phố thuộc tỉnh (provincial cities, 市 thị) và 11 huyện (counties, 縣 huyện). Vân Lâm là một huyện, đứng đầu là huyện trưởng (magistrate, có khi gọi là commissioner).
Cuộc đối đầu giữa bà huyện trưởng và Tập đoàn Formosa:
Tập đoàn Formosa (tên đầy đủ là Formosa Plastics Group – Tập đoàn Nhựa Formosa, thường viết tắt là FPG) khởi công xây dựng khu công nghiệp Mạch Liêu (Mailiao 麥寮) tại huyện Vân Lâm từ năm 1994, và bắt đầu đi vào hoạt động từ năm 1999. Đó là một tổ hợp công nghiệp khổng lồ được xây dựng trên một diện tích khoảng 2.600 hec-ta, với 61 nhà máy (dữ liệu năm 2014). Hạt nhân của khu công nghiệp hóa dầu này là nhà máy naphtha cracker số 6 (sử dụng naphtha để sản xuất ra ethylene – một hóa chất được sử dụng nhiều nhất trong ngành hóa dầu). Gọi là “nhà máy naphtha cracker số 6” nhưng thực chất là ba nhà máy được lần lượt xây dựng, nhà máy thứ ba hoàn thành vào năm 2007. Tổng công suất của cả ba nhà máy là 2,9 triệu tấn ethylene/năm, chiếm 75% sản lượng ethylene của Đài Loan (dữ liệu 2010). Nhà máy naphtha cracker số 6 được các nhà khoa học đánh giá là “tác nhân gây ô nhiễm môi trường lớn nhất tại Đài Loan”. Trong bài viết này, tôi tạm gọi nhà máy naphtha cracker là “nhà máy NC”.
Ngày 7 tháng 7 năm 2010, một đám cháy đã xảy ra sau vụ nổ tại một phân xưởng của nhà máy NC nhỏ nhất trong 3 nhà máy NC tại Mạch Liêu (công suất 700 ngàn tấn/năm) khiến cho nhà máy phải ngừng hoạt động. Ba tuần lễ sau đó, ngày 25/7, một đám cháy thứ hai lại xảy ra tại một phân xưởng khác của nhà máy này. Qua ngày hôm sau, đứng ở phía bắc cảng Đài Trung, cách đó hơn 70 km, người ta vẫn còn nhìn thấy cột khói đen của đám cháy.
Thật ra, cháy nổ vẫn xảy ra thường xuyên tại khu công nghiệp hóa dầu Mạch Liêu của Formosa. Chỉ tính riêng trong năm 2009, đã xảy ra tổng cộng 11 vụ cháy nổ tại khu công nghiệp này, khiến cho tin cháy nổ trở thành quen thuộc tựa như tai nạn ô-tô. Nhưng hai vụ cháy nổ lớn liên tiếp xảy ra chỉ trong vòng chưa đầy một tháng đã khiến cư dân trong vùng bàng hoàng. Hàng trăm cư dân tại Mạch Liêu đã tụ tập trước cổng của nhà máy NC, một số đeo mặt nạ có chữ “độc (毒) để phản đối Formosa – thủ phạm gây ra ô nhiễm môi trường.
Đám cháy âm ỉ suốt 36 giờ đã gây thiệt hại cho ngành nuôi trồng thủy sản cũng như nông nghiệp tại địa phương. Tại một nông trại nuôi 300 ngàn con vịt – trong đó có 6 ngàn con vịt con, chỉ trong một đêm gần 2 ngàn con vịt con đã chết. Người ta ngờ rằng nguyên nhân của tình trạng này là do tro than và mưa a-xít mà đám cháy gây ra đã làm ô nhiễm nguồn nước.
Sáng ngày 28/7, bà Thái Anh Văn (Chủ tịch Đảng Dân Tiến) đã đến huyện Vân Lâm để thanh tra sự thiệt hại đối với ngành thủy sản tại đây. Tháp tùng bà có bà huyện trưởng Tô Trị Phần. Các nông dân đã cho bà Thái Anh Văn xem những con nghêu, con sò (clams) đã chết – bị ngả sang màu nâu hay đen, có lẽ do nước bị ô nhiễm. Chủ tịch Thái nói rằng hai tai nạn công nghiệp liên tiếp không chỉ gây ra thiệt hại cho các nhà nuôi trồng thủy sản ở gần nhà máy NC số 6 mà còn gây thiệt hại lớn lao cho môi trường, vượt quá quyền hạn của chính quyền địa phương (5).
Ngày 29/7, bà Tô Trị Phần (huyện trưởng Vân Lâm) đã đích thân tham gia một cuộc biểu tình phản đối tại Đài Bắc. Cùng với các cư dân địa phương và các chính trị gia, bà quỳ gối trước trụ sở của Viện Hành pháp (tức Chính phủ Đài Loan) để bày tỏ sự phản đối các chính sách của chính quyền trung ương trong lĩnh vực công nghiệp và bảo vệ môi trường. Hành động này đã kích thích sự quan tâm và tranh luận rộng rãi trên toàn quốc. Ngày hôm sau (30/7) Thủ tướng Ngô Đôn Nghĩa (Wu Den-yih ) sau khi đích thân đến thị sát tại nhà máy, đã tuyên bố nhà máy bị cháy nổ phải lập tức đóng cửa và chỉ được phép mở lại sau khi chính quyền trung ương đã kiểm tra mức độ an toàn. (6)
Cơ quan quản lý môi trường của Đài Loan – Cục Bảo vệ Môi trường (Environmental Protection Administration, EPA) đã quyết định phạt Formosa 1 triệu Đài tệ ($NT), tương đương 31.000 đô-la Mỹ (31,000 $US), mức phạt cao nhất theo quy định của luật pháp. Đây là một mức phạt “quá nhẹ” dưới con mắt của các nhà đấu tranh bảo vệ môi trường. Họ cho rằng EPA thực ra chỉ là một cơ quan “đóng dấu” (rubber stamp) thừa hành lệnh của cơ quan hành pháp trung ương – vốn luôn chủ trương “ủng hộ phát triển công nghiệp mà xem nhẹ vấn đề bảo vệ môi trường”.
Ngày 17/8/2010, sau khi các cuộc thương thảo về tiền bồi thường giữa cư dân địa phương và tập đoàn Formosa không đạt được thỏa thuận, hàng ngàn cư dân đã tức giận, kéo nhau chặn tất cả ba con đường chính dẫn đến tổ hợp hóa dầu của Formosa tại Mạch Liêu. Sử dụng còi và loa phóng thanh, đám đông giận dữ đã vây hãm tổ hợp, đòi hỏi tập đoàn phải trả cho cư dân 1,8 tỷ Đài tệ (NT$ 1.8 billion) – tương đương 53 triệu đô-la Mỹ, vì đã làm ô nhiễm khu vực và gây nguy hại đến sức khỏe của họ. Họ cũng yêu cầu công ty hứa di chuyển nhà máy đi chỗ khác trong thập niên này. Gần 1000 cảnh sát và ít nhất ba công tố viên đã được gửi đến hiện trường trong một nỗ lực để giải tỏa đường cho các nhân viên công ty và ngăn ngừa các hoạt động bất hợp pháp. Đã có đụng độ nhẹ giữa hai bên mặc dù không có thương vong. Cảnh sát đã ra lệnh bắt 7 người lãnh đạo cuộc biểu tình, nhưng sau khi thẩm vấn đã phóng thích họ mà không buộc tội hoặc yêu cầu đóng tiền bảo lãnh.
Hình 3: Cư dân biểu tình trước cổng khu tổ hợp Mạch Liêu 
Về phía tập đoàn, đại diện của Formosa nói không thế chấp nhận đòi hỏi của những người biểu tình, và công ty sẽ cung cấp không hơn 500 triệu Đài tệ ($NT) tiền bồi thường. (“Mailiao protestors block access to FPG plant”, Taipei Times Aug 18, 2010)
Hình 4: Cảnh sát bảo vệ cổng nhà máy NC số 6 tại Mạch Liêu. 
Vì chưa nguôi cơn giận, sáng hôm sau (18/8), dưới sự lãnh đạo của một “hội tự-cứu” tại địa phương (7), những người biểu tình đã ngăn chận một con đường vào khu tổ hợp công nghiệp, gây ra ách tắc trên một quãng đường dài 3km. Cảnh sát đã phải tạo thành một “bức tường người” để mở đường cho khu công nghiệp hóa dầu hoạt động. (“Residents block access to FPG plant for a second day”, Taipei TimesAug 19, 2010).
Theo tài liệu của Yi-En Tso, mãi đến ngày 2/9/2010, các cuộc thương thảo về bồi thường mới đạt được thỏa thuận. Về phía Formosa, tập đoàn đồng ý kiểm tra sức khỏe miễn phí thông qua Bệnh viện Chang Gung – một bệnh viện tư thuộc quyền sở hữu của tập đoàn. Ngoài ra, tập đoàn sẽ trả tiền bồi thường 250 triệu Đài tệ trong năm đầu tiên, và kể từ năm thứ hai mọi cư dân tại Mạch Liêu sẽ được nhận tiền bồi thường hàng năm 7.200 Đài tệ (7,200 NT$).
(Còn tiếp)
_____________________________________
Chú thích:
(1) Trong sách báo tiếng Anh hiện nay, tên bà Tô Trị Phần được phiên âm là Su Chih-fen, hoặc Su Chih-feng. Tôi dựa vào cách ghi trên chính trang Facebook của bà.
(2) Hannah Pakula, The Last Empress: Madame Chiang Kai-shek and the Birth of Modern China, Simon and Schuster, 2009, p. 625. Về việc ông Tô Đông Khải có bị hành quyết haykhông , Pakula nói “có lẽ” đã bị hành quyết, có tác giả khẳng định “đã hành quyết một năm sau đó”, nhưng lại có tác giả cho rằng đã chuyển thành án tù chung thân.
(3) Linda Arigo, “Social Origins of Taiwan’s Democratic Movement”, 1981:
(4) Tương tự là trường hợp của Trần Minh Văn, huyện trưởng huyện Gia Nghĩa (2001-2009). Ông cũng được Tòa án tha bổng. Hiện nay, ông là nghị sĩ của Viện Lập pháp khóa 9, và được coi là một nhân vật lãnh đạo sáng giá của Đảng Dân Tiến.
(5) “Cai Ying-wen Consoled Southern Aquaculture Farmers suffered from the Sixth Naphtha Cracker Plant Fire”, 2010-07-28:
(6) Yi-En Tso, David A. McEntire, “Emergency Management in Taiwan: Learning from Past and Current Experiences”, In David McEntire (Ed.) Comparative Emergency Management: Understanding Disaster Policies, Organizations, and Initiatives from Around the World, FEMA, DHS, 2011.
(7) Hội tự cứu (self-help association) là một hình thức của nhóm lợi ích (interest group) tại Đài Loan. Từ thập niên 1980, nông dân thường tập hợp trong các hội tự cứu để hợp sức đấu tranh bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân và gia đình họ.

Formosa & sự im lặng khó hiểu của các cơ quan chức năng

Formosa & sự im lặng khó hiểu của các cơ quan chức năng

Mẹ Nấm (Danlambao) – Tính đến nay gần trọn một tuần người dân và báo chí vào cuộc phát hiện các địa điểm chôn lấp chất thải đưa về từ nhà máy Formosa tại Hà Tĩnh. Các báo Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Người Đưa Tin, Vietnamnet… tập trung đưa tin hàng ngày, riêng báo Tài Nguyên Môi Trường – cơ quan ngôn luận của Bộ TNMT im lặng sau khi trích dẫn vài phát biểu an toàn của Phó thủ tướng và Bộ trưởng đầu ngành.

Sáng 18/7/2016, báo Thanh Niên đưa tin “Phát hiện thêm 10 điểm chôn trộm chất thải của Formosa”(1). Trả lời vấn đề này, ông Dương Tất Thắng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Hà Tĩnh cho rằng: sự cố chôn lấp chất thải của Formosa là một bài học rất lớn đối với Hà Tĩnh và để giải quyết vấn đề này phải cần một quá trình lâu dài.“Chúng tôi đã phải trả một cái giá không tính toán được liên quan đến vấn đề môi trường môi sinh, dư chấn tâm lý của người dân, thiệt hại cả tinh thần, vật chất”

Thật ra, các lãnh đạo và các quan chức không ai phải trả giá gì cho sự quan liêu, thiếu trách nhiệm và tính tham lam vô độ của các cá nhân, tổ chức đã tiếp tay cho Formosa đầu độc môi trường. Người phải trả giá bằng sức khỏe, bằng những mối lo ngại sẽ bị ảnh hưởng trong tương lai là nhân dân – những người đang sống chung với thảm họa. Tháng 4, cá chết biển chết, người lay lắt vì mất nghề, vì bỏ biển. Chưa có một động thái xử lý rõ ràng và hướng khắc phục hậu quả nặng nề đã xảy ra thì các sai phạm lần lượt bị báo chí phơi bày.

Theo công bố của ông Trần Hồng Hà – Bộ trưởng Bộ Tài nguyên Môi trường thì nhà máy thép Formosa đã mắc phải 53 vi phạm trong quá trình cho chạy thử nghiệm. Không có thêm thông tin cụ thể gì về các điểm vi phạm này.

Quá trình xử lý Formosa vẫn đang được chia thì tương lai, nghĩa là “sẽ xử lý theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên ở đây, với thỏa thuận đền bù 500 triệu đô la, đại diện chính phủ Việt Nam đã đứng ra kêu gọi nhân dân “khoan hồng” cho kẻ hủy diệt.

Đến nay, sau hàng loạt tình tiết mới, chưa thấy đại diện của cơ quan chức năng nào đứng ra phát biểu.

Tại sao các cơ quan chức năng im lặng?

Câu hỏi này có lẽ không quá khó để trả lời.

Xin mượn lời Người Quan Sát trong bài viết “Formosa nhận lỗi, đảng nhận tiền – nhân dân nhận thảm họa” để nhắc chúng ta nhớ và biết mình phải làm gì:

“Formosa nhận lỗi nhưng chưa nhận tội. Cũng không cho biết trong những lỗi đó đã thải xuống biển những chất độc gì và hàm lượng bao nhiêu. Đảng nhận tiền nhưng không biết những thiệt hại đối với môi trường đến kinh tế, sức khoẻ và đời sống của người dân nghiêm trọng ra sao. Đảng cũng cương quyết không nhận lỗi lẫn nhận tội khi đã biết rõ nguyên nhân cá chết cả tháng trước, nhưng vẫn phớt lờ để ngư dân ra biển, vẫn không một cảnh báo chính thức về hiểm họa tiêu thụ thức ăn hải sản có nguy cơ nhiễm độc. Chỉ có người dân là đóng vai trò nạn nhân lẫn khán giả và nhận thảm họa trong bi kịch Cá Chết Formosa.” (2)

Đừng im lặng, hãy lên tiếng yêu cầu khởi tố các cá nhân liên quan đến thảm họa môi trường mang tên Formosa.

18.7.2016

Mẹ Nấm

Chính quyền Hà Nội nên cảm ơn và xin lỗi No-U

Chính quyền Hà Nội nên cảm ơn và xin lỗi No-U

Nguyễn Khắc Mai

No-U là một nhóm thanh niên đầy nhiệt huyết và tinh thần dân tộc, yêu nước. Họ trẻ trung, hoạt bát, thông minh và nhạy cảm trước thời cuộc. Tôi cho là hơn hẳn lũ người luôn rêu rao về những cái gì là “đại cục, tiểu cục”. Khi “Tàu” cộng sản trong cơn hưng phát liền giương vây, vỗ cánh bành trướng ở Biển Đông, chiếm đảo, chiếm biển, uy hiếp Việt Nam và các nước nhỏ trong khu vực, vạch ra cái đường chữ U, còn gọi là đường lưỡi bò, hòng liếm gọn vùng biển quốc tế và vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam và các nước khác, thì họ tập họp nhau lại trong một các tên rất nghịch ngợm và “sái”, để bênh vực chủ quyền của Đất Nước, phản đối chủ trương và hành động bất lương, vô đạo, ngang ngược của Trung Quốc. Cái “sái” là theo nghĩa tiếng Việt, no u là no đòn, u trán, bươu đầu vì bị “côn đồ” được cấp phép hành hung, đàn áp. Còn theo nghĩa tiếng Anh là không chấp nhận và đấu tranh để xóa bỏ cái đường chữ U sai lầm và ngang ngược của Trung Quốc; họ là những chàng trai, cô gái rất xứng danh là tuổi trẻ của Thủ đô ngàn năm văn hiến, của Sài Gòn tài hoa và anh dũng.

Họ nhiều lần bị hành hung, bị đàn áp, bắt bớ, thật vô thiên, vô pháp, bất chấp đạo lý, luật lệ. Gần đây khi họ họp nhau đá banh, ra về, Lã Việt Dũng, một kỹ sư trẻ có tài, có tâm, có tầm, một No-U Hà Nội đã bị du côn (không biết có phải du côn không, hay là công an đội lốt) chặn đường hành hung khiến anh bị thương phải vào viện điều trị.

Giờ đây, sau khi Tòa trọng tài quốc tế PCA ra phán quyết bác bỏ “đường chữ U” do Trung Quốc xưng xưng áp đặt, chúng ta càng thấy các em No-U thật thông minh, dũng cảm, các em biết sống vô ngã, quên mình vì nghĩa lớn. Hành động của các em thật rõ chính nghĩa, chính khí của Việt Nam, luôn cảnh giác trước dã tâm của kẻ thù của Dân của Nước. Các em hơn hẳn lũ người không bao giờ nhìn xa hơn cái lỗ mồm của mình, biến thành lũ vong nô, hành xử cứ như là tay sai tiếp tay tiếp sức cho kẻ thù của Dân của Nước, đàn áp vô đạo những người yêu nước, có lương tri.

Chính quyền Hà Nội hãy thể hiện chính nghĩa của dân tộc, thể hiện mình là chính chứ không phải là tà. Một chính quyền biết tôn trọng những người có lương tri, có tinh thần yêu nước, dũng cảm, không nhỏ nhen, ích kỷ, luôn biết đặt cao những giá trị, biết hành xử đúng, tốt và đẹp, chính quyền ấy sẽ được trọng thị trong mắt của người dân, sẽ thể hiện phẩm chất văn hóa của mình.

Phải dừng ngay những hành vi côn đồ và trừng trị những kẻ nào đã ra lệnh và hành động bất lương, bất nghĩa đối với những người dân yêu nước, lương thiện, đối với các em No-U.

Tôi thành tâm mong ước chính quyền Hà Nội biết xin lỗi và biết cảm ơn những công dân tử tế của mình./.

N. K. M.

Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước

 Chiến thuật trấn áp sự phản kháng trong nước

Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.

Cảnh sát canh gác trước Tòa án Nhân dân TP HCM.

VOA

Trong bài “Vietnam’s rising repression”, đăng trên tờ New Mandala mới đây, giáo sư Zachary Abuza, một nhà Đông Nam Á học, cho rằng những sự đàn áp của chính quyền Việt Nam đối với những người bất đồng chính kiến càng lúc càng gia tăng và càng lúc càng tinh vi. Ông tóm tắt những sự đàn áp ấy vào năm chiến thuật chính:

Thứ nhất, trấn áp những luật sư thường đứng ra bảo vệ và bào chữa cho những người đối kháng bị chính quyền bắt giữ và đem ra xét xử. Tiêu biểu nhất cho những luật sư này là Lê Công Định, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Văn Đài và Võ An Đôn.

Thứ hai là sử dụng những tội danh khác, phổ biến nhất là tội danh trốn thuế, để đánh lạc hướng dư luận là ở Việt Nam không hề có tù nhân lương tâm.

Thứ ba là sử dụng công an chìm để hành hung những nhà hoạt động dân chủ và những người hay lên tiếng phê phán chế độ, kể cả các nhà báo đang tiến hành các cuộc điều tra việc công an đàn áp dân chúng. Theo tổ chức Theo dõi Nhân quyền, riêng trong năm 2014, đã có tới 14 nhà báo bị hành hung.

Thứ tư là gia tăng kiểm duyệt trên mạng lưới internet. Việt Nam được xem là quốc gia có hệ thống kiểm duyệt truyền thông khắt khe nhất thế giới.

Cuối cùng, thứ năm là tập trung bóp chết những trang blog có ảnh hưởng sâu rộng trong quần chúng.

Theo tôi, trong năm chiến thuật được Zachary Abuza nêu lên ở trên, hai chiến thuật sau cùng có thể được gộp làm một: Trấn áp những tiếng nói đối kháng trên mạng lưới internet. Có ba hình thức trấn áp chính: Một là dựng tường lửa, đặc biệt với các trang web đặt trụ sở ở hải ngoại; hai là dùng tin tặc để tấn công các trang web thù nghịch; và ba là bắt bớ những blogger có nhiều ảnh hưởng như trường hợp của Trương Duy Nhất (2 năm tù), Phạm Viết Đào (15 tháng tù), Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh (bị bắt ngày 5 tháng 5 năm 2014, chưa xét xử) và Nguyễn Quang Lập (bị bắt và tạm giam 2 tháng, đã thả).

Ngoài các chiến thuật mà Zachary Abuza nêu trên, tôi nghĩ còn một chiến thuật khác chính quyền Việt Nam gần đây sử dụng nhiều để đàn áp những người bất đồng chính kiến: Trục xuất họ ra khỏi đất nước, chủ yếu là đẩy họ sang Mỹ. Cho đến nay, họ đã trục xuất bốn người: nhà văn Trần Khải Thanh Thuỷ (ngày 23 tháng 2 năm 2011), luật sư Cù Huy Hà Vũ (ngày 7 tháng 4 năm 2014), blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải (ngày 21 tháng 10 năm 2014) và gần đây nhất, blogger Tạ Phong Tần (ngày 19 tháng 9 năm 2015).

Việc đưa các nhà bất đồng chính kiến từ nhà tù đi thẳng sang Mỹ có ba lợi ích cho họ: Một là đáp ứng được các yêu sách từ phương Tây, chủ yếu là từ Mỹ; hai là chứng tỏ họ có tinh thần nhân đạo, và ba là để vô hiệu hoá những nhà bất đồng chính kiến ấy. Hai lợi ích đầu tương đối dễ thấy. Tôi chỉ xin phân tích lợi ích thứ ba.

Trên nguyên tắc, sống ở nước ngoài, đặc biệt tại Mỹ, các nhà bất đồng chính kiến ấy sẽ được tự do hơn. Họ muốn nói gì thì nói, muốn làm gì thì làm, không ai cấm cản được họ cả. Hơn nữa, họ cũng được sự ủng hộ của nhiều người trong cộng đồng, nhờ thế, họ dễ tập hợp thành một lực lượng với những tầm vóc nhất định. Nhưng tự do cũng là một con dao hai lưỡi. Lưỡi kia của tự do là: người ta mất tư cách nạn nhân, những người bị đày ải trong lao tù của bạo chính. Mất tư cách nạn nhân, người ta cũng mất cả tư cách là anh hùng bởi anh hùng chỉ được thể hiện trong điều kiện đối diện với thử thách và đặc biệt, với sự áp bức. Sống ở hải ngoại, tự do phơi phới, không ai có thể anh hùng hơn ai được. Khái niệm anh hùng của những người bất đồng chính kiến trở thành một thuộc tính của quá khứ, một thứ vang bóng một thời. Hơn nữa, sống ở nước ngoài, người ta cũng mất cả tư cách chứng nhân; tiếng nói của họ, do đó, cũng mất sức nặng của người trong cuộc.

Nói cách khác, mất cả ba tư cách nạn nhân, anh hùng và chứng nhân, người ta mất tất cả. Họ trở thành bình thường như bao nhiêu người bình thường khác. Họ lại thua những người bình thường khác ở chỗ: Họ ra ngoại quốc muộn hơn, gặp nhiều khó khăn trong tiến trình hội nhập vào cuộc sống mới hơn, bởi vậy, với một mức độ nào đó, họ cũng mất thế giá hơn. Đó là chưa kể trong môi trường tự do ở hải ngoại, người ta rất dễ bộc lộ những sự nghi ngờ hay đố kỵ nhắm vào những người mới từ Việt Nam sang: Họ là “tay sai” hay “sứ giả” của Việt Cộng sang phá hoại cộng đồng. Trường hợp của Nguyễn Chí Thiện trước đây là một ví dụ. Lúc còn trong nước, ông là một nhà thơ anh hùng; sang Mỹ, ông chỉ còn là một nhà thơ. Không những vậy, ông còn đối diện với những tin đồn thất thiệt, trong đó, có tin đồn ông chỉ là một Nguyễn Chí Thiện… giả.

Trong bài “Chuyện Cù Huy Hà Vũ sang Mỹ” đã đăng trên blog này năm ngoái, tôi có nêu lên kinh nghiệm của nhà văn Dương Thu Hương và nhà văn Alexander Solzhenitsyn. Lúc còn ở trong nước, các tác phẩm văn học cũng như các bài viết về chính trị của Dương Thu Hương được đón nhận nhiệt liệt. Từ năm 2006, bà sang sống hẳn ở Pháp. Sống ở đâu thì Dương Thu Hương cũng vẫn là Dương Thu Dương thôi. Vẫn thông minh, sắc sảo, thẳng thắn và tài hoa. Không có gì thay đổi. Nhưng rõ ràng là sự tiếp nhận của những người chung quanh, từ cộng đồng người Việt đến cộng đồng quốc tế, đã thay đổi: Bà chỉ còn là một nhà văn chứ không phải nhà văn đối kháng nữa. Với bà, người ta hờ hững dần. Và bà cũng im lặng dần.

Mà không phải chỉ có Dương Thu Hương. Lớn hơn Dương Thu Hương rất nhiều, nhà văn Alexander Solzhenitsyn, giải Nobel văn chương năm 1970, bị trục xuất khỏi Nga vào năm 1974; và sau một thời gian ngắn sống ở Tây Đức và Thụy Sĩ, ông được mời sang Mỹ. Ông định cư ở Mỹ cho đến năm 1994, khi chế độ cộng sản đã sụp đổ tại Nga, ông mới về nước. Trong gần 20 năm ở Mỹ, Solzhenitsyn chỉ sống một cách lặng lẽ ở một địa phương khuất lánh heo hút. Trừ sự ồn ã ở vài năm đầu, sau đó, dường như người ta quên mất ông, hơn nữa, có khi còn bực bội vì ông. Một số quan điểm của ông, lúc còn nằm trong nhà tù Xô Viết, được xem là dũng cảm; lúc đã sống ở Mỹ, ngược lại, lại bị xem là cực đoan.

Cả Solzhenitsyn lẫn Dương Thu Hương đều không phải là những người làm chính trị. Họ chỉ là những nhà văn, khi còn trong nước, được xem là đối kháng. Nhưng ngay cả khi là một nhà văn, người ta còn không được nghe, huống gì chỉ là một người hoạt động chính trị? Cơ hội để được nghe chắc chắn sẽ hiếm hoi hơn nhiều.

Bởi vậy, việc trục xuất những người bất đồng chính kiến ra khỏi nước được xem là một cách vô hiệu hoá họ. Chiến thuật này đã từng được Liên Xô sử dụng thường xuyên trong suốt thời chiến tranh lạnh.

Bây giờ đến lượt Việt Nam.

TÂM TƯ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC THỜI SỰ CỦA GIÁO HỘI

TÂM TƯ CỦA MỘT LINH MỤC TRƯỚC THỜI SỰ CỦA GIÁO HỘI

Lời người dịch: Đọc trong tập san S.J.M. tôi thấy bài của một linh mục viết về thời sự Giáo hội rất thiết thực và sâu sắc, rất đáng cho các Kitô hữu dù là giáo sĩ, tu sĩ, giáo dân cùng suy tư. Xin chia sẻ với độc giả.  

Linh mục Antôn Nguyễn Mạnh Đồng Nhà Hưu Dưỡng linh mục Cần Tho

 

  1. Người ta thích dán nhãn hiệu. 

1.1 Cho Chúa Kitô.

Ôi Chúa Kitô, Chúa đẹp nhất trong con cái loài người, con yêu Chúa!

Ôi Chúa Kitô, Chúa là nạn nhân đến nỗi không còn hình tượng là người nữa và mình đầy thương tích, con yêu Chúa, ôi, con càng yêu hơn biết bao!

1.2 Cho Giáo hội.

Ôi Giáo hội trong sạch và vô nhiễm tội, Giáo hội là Hiền thê của Con chiên không tì vết, con yêu Giáo hội.

Ôi Giáo hội bị chia rẽ và bệnh tật, Giáo hội là Hiền thê của Đấng vô tội bị xé xác, con yêu Giáo hội, ôi, con càng yêu hơn biết bao!

1.3 Cho linh mục.

  • Người ta thấy tôi mặc áo dòng vải thô và họ thường hỏi tôi: Cha là người bảo thủ (toàn vẹn) phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế.
  • Người ta biết tôi có viết trong tập san “Lửa và ánh sáng” và họ hỏi tôi: Cha là người nhóm đặc sủng phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế.
  • Người ta biết tôi làm việc trong các khu ổ chuột ở Mỹ Latinh và ở đó họ hỏi tôi: cha là nhà thần học giải phóng phải không? Hoặc đơn giản họ nghĩ như thế. Còn tôi chỉ có một câu đáp: “Tôi cố gắng là người công giáo!” Và đó là tham vọng duy nhất của tôi.
  • Người ta tìm cách dán nhãn hiệu cho tôi, đó là họ giới hạn tôi, nhốt tôi lại, xếp loại tôi. Và dán cho cả nhiều người khác nữa với tôi.
  • Người ta đặt tôi vào một cái hộp, điều này làm đau lòng Chúa, và khi họ đặt tôi vào một cái hộp là họ đặt Thiên Chúa vào một cái hộp và họ xếp cái hộp trong tủ nếu gặp nguy khó, gặp chiến tranh, hoặc phải đói kém.
  • Thiên Chúa của tôi không phải để được bỏ vào các hộp, không phải để được dán cho các nhãn hiệu, không phải để được xây những bức tường, không phải để được xếp loại, không phải để được giới hạn!
  • Thiên Chúa của Phúc Âm mà tôi yêu là Thiên Chúa không nhãn hiệu, không tường, không giới hạn.
  • Thiên Chúa của Phúc Âm mà tôi yêu, là Thiên Chúa của tự do, Thiên Chúa sai truyền tôi luôn đi xa hơn, nâng tôi luôn lên cao hơn, yêu tôi luôn nhiều hơn.
  • Người ta mất biết bao thời giờ để nghi kị, để xét đoán, để loại trừ.

Ôi đúng vậy! đã mất đi bao thời giờ, lạy Chúa!

  1. “Những điều trông thấy …”

2.1 Ngoài kia có bao nhiều kẻ trần truồng….

  • Những bức tường của Giáo hội chúng ta có phải là những bức tường sẽ sụp xuống sau cùng không? (tường Bá Linh đã sụp năm 1989)

“Lạy cha, Con van xin Cha để chúng nên một, như Cha và Con là một …”

  • Cái áo đỏ của Chúa tôi ở đâu? Người ta đã làm cho nó thành cái áo vá chằng vá đụp!
  • Cái áo dệt liền từ trên xuống dưới của Chúa tôi ở đâu? Đó là một cái áo rách bươm, đầy những miếng vá chằng chịt!
  • Với cái tên của tôi, người ta nói với tôi: “Cha sẽ là linh mục của giới không muốn lệ thuộc!” Không đâu! Tôi muốn là linh mục của tất cả những ai muốn lệ thuộc vào Chúa Kitô.
  • Với cấp bằng của tôi, người ta nói với tôi: “Cha sẽ là linh mục của giới trí thức!” Không đâu! Tôi muốn là linh mục của Chúa Giêsu Kitô, muốn hiến thân cho mọi người!

2.2 Ngoài kia mọi người đang đói!

Tất cả anh em hãy cầm lấy mà ăn!

Tất cả anh em hãy cầm lấy mà uống!

  • Lúc bình minh, Tôi là Giêsu thích đến lối vào các công xưởng và nói với các bạn thợ: “Các bạn có biết Cha tôi luôn luôn làm việc không? Có biết Cha tôi đang làm việc với các bạn không?”
  • Buổi sáng, Tôi thích ra chợ và nói với các phụ nữ: “Các chị có biết một thứ lương thực không hư nát, một thứ lương thực ban sự sống và sự sống đời đời không?”
  • Buổi chiều, Tôi thích đến các nhà tù và nói với các tù nhân: “Các bạn có biết rằng các bạn có tự do không? Tình yêu của tôi đã đến đem các bạn ra khỏi tù đấy!”
  • Buổi chiều, Tôi còn thích đến các trường học, ở đó có các cháu gái đi dép hài và mặc áo dễ thương và Tôi nói với chúng: “Ôi, các bé gái mà Thiên Chúa yêu thương, các con có biết hạnh phúc thật là cho đi tất cả và cho đi chính bản thân không?”
  • Đêm đến, Tôi thích đi đó đây trong các điểm khiêu vũ và nói với người đến ngồi bàn với Tôi: “Bạn có biết, có gì còn hay hơn nhạc rock không? Bạn có biết rằng trái tim và thân xác được tạo dựng cho một cuộc khiêu vũ khác không?”

2.3 Ngoài kia có những trái tim đang chết.

A! Tôi yêu Giáo hội có muôn ngàn gương mặt biết chừng nào, Giáo hội là mẹ tôi có muôn mặt! Tôi yêu Giáo hội được xây móng trên Phêrô và nghiêng mình trên Gioan. Tôi yêu Giáo hội chú mắt vào Đức Maria như ánh sao và nhận ra mình rất đúng nơi Tôma.

  • Tôi nghe nói rằng giám mục của tôi theo truyền thống và giám mục giáo phận bên cạnh thuộc loại tiên tiến. Thật là kỳ cục: Tôi tưởng rằng cả hai đều là những đấng kế vị các tông đồ! Mọi điều khác còn lại chỉ có lợi cho chia rẽ.
  • Tôi nghe nói rằng báo chí Kitô giáo kích động những căng thẳng và những chia cắt. Thật là kỳ cục: tôi tin rằng một tờ báo Kitô giáo là để làm cho hiệp nhất, giống như cây thánh giá hợp nhất chiều đứng với chiều ngang.
  • Tôi nghe nói rằng có những chồi còn rất non bị đè bẹp vì nó mọc nghiêng. Thật là kỳ cục: Phải chăng chỉ cần một cọc đỡ thẳng cũng đủ? Nếu không, từ lâu vườn của tôi sẽ là sa mạc. Không còn một cây liễu, không còn một cây cẩm chướng, không còn một cây hoa hồng. Dường như các cây già cảm thấy bị đe dọa bởi các cây mới được trồng. Trong Phúc Âm của tôi, người ta gọi là sự tàn sát các trẻ con vô tội.

“Chúa sẽ không bẻ gẫy cây sậy bị giập, Chúa sẽ không dập tắt tim đèn còn leo lét, mà sẽ xét xử trong tất cả sự trung trực”.

  • Tôi nghe nói rằng các cộng đoàn tu dòng lấy trộm ơn gọi ở các giáo phận. Tôi nghe nói rằng có các giáo phận quay hướng các ơn gọi tu dòng cho lợi ích giáo phận. Tôi nghe nói rằng có những cộng đoàn lấy trộm ơn gọi của nhau và các giáo phận cũng lấy trộm ơn gọi của nhau. Thật là kỳ cục: Tôi tưởng rằng tất cả mọi người đều làm cho cùng một vườn nho!
  • Tôi nghe nói về Giáo hội của người nghèo và Giáo hội của người giàu, Giáo hội của thợ thuyền và Giáo hội của chủ nhân. Thật là kỳ cục: tôi tưởng rằng Giáo hội là cái gì khác với một nghiệp đoàn. Tôi tưởng rằng Giáo hội là nơi duy nhất mà tiền bạc không phải là một tiêu chuẩn để đánh giá, Giáo hội là nơi mà mọi người có thể nhận ra mình là anh em.
  • A! Người ta dán vào mình những nhãn hiệu….

Đó là trò chơi độc ác đối với những ai khám phá rằng cuộc sống không phải là một trò chơi! Tốt hơn là người ta xóa bỏ những cách gọi tên không được kiểm tra. Và ban đêm, người ta xây tường – Ô, đúng vậy, đúng là việc làm của ban đêm! – Đáng lẽ là khắp nơi người ta phải xây các cây cầu.

2.4 Ngoài kia có những người đang chết đuối.

  • Người ta bảo tôi: “Giáo hội phải lo cho người nghèo!” Trúng lắm: tôi khám phá rằng mọi người đều nghèo – mà tôi là người nghèo nhất.
  • Người ta bảo tôi: “Ưu tiên cho những ai khóc!” Trúng lắm: Tôi khám phá ra rằng mọi trái tim đều khóc!
  • Người ta bảo tôi: “Đừng quên những kẻ làm điều xấu!” Trúng lắm: mọi người đều là tội nhân – mà tôi là tội nhân số một.

Chúa chẳng cho mưa xuống trên người lành và trên cả người dữ sao?

  1. Tâm tư của tôi đối với Giáo hội.

3.1 Tôi yêu Giáo hội không có các giai cấp và không có các nhãn hiệu. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: có các bức tường và các nhãn hiệu. Phải chăng đó là cách tốt nhất để chữa lành Giáo hội?

3.2 Tôi yêu Giáo hội cởi mở toàn vẹn, không đe dọa, không ngờ vực, không lãnh đạm. Nhưng tôi yêu Giáo hội như Giáo hội hiện đang là: với những mánh lới và loại bỏ những sợ hãi và những chuyện gây hiếu kỳ. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội đẹp hơn?

3.3 Tôi yêu Giáo hội biết cảm thương đang đứng dưới chân mọi người bị đóng đinh vào thập giá. Nhưng tôi cũng yêu Giáo hội còn cứng cỏi, Giáo hội loại trừ mà không lắng nghe và không còn biết khóc với kẻ khóc nữa. Phải chăng đó là cách tốt nhất để làm cho Giáo hội mềm mỏng hơn?

Tóm lại, tôi không yêu một người mẹ mà tôi mơ, tôi mơ một người mẹ mà tôi yêu.

From: vongtaysongnguyen

AI SẼ LÀ ÊLIA ?

 AI SẼ LÀ ÊLIA ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT,


Tĩnh tâm hay cấm phòng là những chữ trong nhà đạo chỉ về một sinh hoạt thường xuyên của Hội Thánh dành cho các Kitô hữu nhằm giúp người ta có thời gian nghỉ ngơi, khôi phục, củng cố đời sống tâm linh và định hướng cho cuộc sống. Có khi người ta dùng thời gian tĩnh tâm hay cấm phòng để suy nghĩ về một tình huống quan trọng nào đó hoặc để xin một ơn cần thiết cho chính mình. Tùy hoàn cảnh sống mà người ta chọn lựa thời điểm các cuộc tĩnh tâm và thời gian tĩnh tâm. Đối với các Tu Sĩ, tĩnh tâm trở thành một chương trình sống bắt buộc được ghi vào
khoản lề luật Dòng.

Tôi vừa tham dự tĩnh tâm cùng với một Đan Viện trong khoảng thời gian 10 ngày. Mười ngày tách biệt khỏi cuộc sống thường nhật, ẩn mình trong bầu khí tĩnh lặng, nghiêm trang và thánh thiện của đời sống đan tu đã cho tôi rất nhiều cảm nghiệm và niềm vui làm khỏe mạnh tâm hồn.

Khung cảnh tràn ngập cây xanh, không gian thoáng đãng, tiếng chim hót rộn vang mỗi sáng, những tia nắng trong lành ban mai xuyên qua cành lá, tiếng chuông chiều trầm mặc ngân vang, những bóng dáng của các Đan Sĩ ẩn hiện thấp thoáng thầm lặng, cảm giác đi chân trần trên những phiến gạch sạch sẽ đã giúp tôi tìm lại được sự nhẹ nhàng, bình an và thanh thản.

Mỗi ngày, khi bóng tối còn dày đặc không gian, khi những giọt sương đêm vừa hình thành kết tụ, khi muôn loại còn đang thiếp ngủ say, khi đồng hồ sinh học đang tiến vào khoảng thời điểm nghỉ sâu nhất, thì tiếng chuông đã đột ngột ngân vang giữa đêm vắng, một giọng nam chắc khỏe xướng lên “Nào ta hãy chúc tụng Chúa” cả Đan Viện bừng lên lời đáp “Tạ ơn Chúa”.

Ta có thể nghe thấy tiếng nhảy của đôi chân xuống sàn nhà, ánh đèn từng căn phòng bừng sáng lên, tiếng ho đầu ngày, tiếng nước chảy… Mười lăm phút sau tất cả đã có mặt ở Nhà Nguyện. Nhẹ nhàng từng chiếc bóng trong tu phục với áo khoác ngoài, các Đan Sĩ bắt đầu một ngày mới, một ngày “cầu nguyện và lao động” (Ora et Labora – châm ngôn của đời đan tu).

Tiếng chiêng thủng thỉnh ngân lên, kéo dài và vang dội, dứt tiếng chiêng, giờ kinh ban mai khởi sự. Một ngày họ dành hơn 6 tiếng cho việc cử hành Phụng Vụ thờ phượng Thiên Chúa, tất cả các giờ kinh Phụng Vụ: Kinh Ban Mai (Kinh Sáng),  Kinh Trưa Giờ Ba, Giờ Sáu và Giờ Chín, Kinh Chiều, Kinh Tối và Kinh Đêm (Kinh Sách), Thánh Lễ.

Ngoài các giờ Phụng Vụ thờ phượng, các Đan Sĩ còn có giờ suy ngẫm, giờ lần chuỗi Mai Khôi, giờ đọc sách thiêng liêng và chầu Thánh Thể. Có thể nói toàn thời gian họ dành cho việc cầu nguyện và thờ phượng Chúa. Một ngày họ lao động để mưu sinh ít giờ, ngay cả trong lao động họ cũng phải giữ luật thinh lặng những khi cần thiết.

Có một câu chuyện vui không biết có thật hay không. Một Đan Sĩ nọ lo thư viện, ông ta lấy cuốn sách bị ẩm ướt ra và đưa cho vị Đan Sĩ làm bếp, ông ra dấu bảo người bạn tu hơ cuốn sách trên lửa cho khô sách, nhưng vì giữ luật không nói nên vị kia tưởng bạn mình nhờ đốt sách, ông ta quăng cả cuốn sách vào bếp cháy tiêu!

Mỗi tuần khi thay đổi phiên làm việc, các Đan Sĩ lo làm bếp, giúp bàn ăn, lo đọc sách vào giờ cơm, họ lần lượt ra trước cộng đoàn trong Nhà Nguyện, mọi người cầu nguyện cho những vị này chu toàn trách nhiệm phục vụ của mình trong lòng yêu mến, những vị ra khỏi phiên làm việc cũng ra trước cộng đoàn xin lỗi vì những sai lầm hoặc thiếu sót trong việc bổn phận. Sứ mạng của họ là cầu nguyện cho mọi người, cho Hội Thánh, cho toàn thế giới. Bảng ghi lời xin cầu nguyện dày đặc các tờ giấy của khách thập phương đến xin ơn…

Mấy ngày nay, không gian sống ở Đan Viện Thiên An Huế dậy sóng, từ lâu rồi, nhà cầm quyền lấy nhiều mảnh đất của Đan Viện này làm khu vui chơi khai thác kinh doanh, làm thu hẹp không gian sống của Đan viện, làm mất việc lao động mưu sinh của các Đan Sĩ, phá vỡ bầu khí trầm lắng cô tịch của Đan Viện. Gần đây họ tiếp tục lấy nốt các phần đất còn lại của hơn 100Ha rừng thông sở hữu của Đan Viện từ khi thành lập.

Một đoạn video lan truyền trên mạng hình ảnh các Đan Sĩ quỳ cầu nguyện khi nhà cầm quyền hạ cây Thánh Giá biểu tượng của Kitô giáo trên đỉnh một đồi thông, trong video này có cảnh một nhân viên nhảy lên cánh phải Thánh Giá khi đã bị hạ xuống, ông ta đập vỡ cánh tay bên phải của Chúa Giêsu.

httpv://www.youtube.com/watch?v=0QtpQGj461I

Không chỉ Thiên An Huế, nói riêng về Đan Viện, nhiều Đan Viện đã bị lấy một cách thô bạo như vậy, Nhà Kín Hà Nội, Nhà Kín Thanh Hóa, Nhà Kín Bùi Chu… Sau năm 75 ở miền Nam, Đan Viện đầu tiên bị xóa sổ là Đan Viện Phước Sơn Thủ Đức, Đan Viện này ngày nay trở thành trường Cảnh Sát Nhân Dân, tên hành chánh đổi là quận 9. Hai chữ Phước Sơn còn nguyên nên có những anh cảnh sát khoe mình học ở trường Phước Sơn ra. Học ở Phước Sơn là học cầu nguyện, học yêu thương chứ không phải học để đi… cướp đất người khác !

Đúng khi ngồi viết những hàng chữ này, Kinh Sách của Hội Thánh đang suy niệm về cuộc đời và sự nghiệp của Ngôn Sứ Elia (1V 17, 1 tt. Tuần thứ 15 Thường Niên), hôm nay Thứ Tư là câu chuyện vua Akháp cướp vườn nho của Navot, vườn nho của gia tộc nhọc công khai phá, gia đình Navot chăm sóc giữ gìn. Vua Akháp đã cướp bằng cách xui người vu khống tội cho Navot, lập tòa án xử tử hình, ném đá Navot, rồi cướp vườn nho làm vườn rau !

Có lời Đức Chúa phán với ông Êlia, người Títbe, rằng: “Ngươi hãy đứng dậy, xuống gặp Akháp, vua Ítraen, ở Samari. Này, nó đang ở trong vườn nho của Navốt, vì nó đã xuống chiếm đoạt vườn nho ấy. Ngươi hãy nói với nó rằng: “Đức Chúa phán thế này: Ngươi đã giết hại, lại còn chiếm đoạt nữa ư ? ngươi hãy nói với nó, Đức Chúa phán thế này: Tại chính nơi chó đã liếm máu Navốt, thì chó cũng sẽ liếm máu ngươi” (1V 21, 17 – 19).

Ai sẽ là Elia những ngày tháng này của chúng ta ?

Lm. VĨNH SANG, DCCT,

thứ tư 13.7.2016

Tiếng thét của môi trường trước tội lỗi và cái giá phải trả

Tiếng thét của môi trường trước tội lỗi và cái giá phải trả

 

Trong nhãn giới đức tin, người Công giáo coi trái đất là món quà quý giá của Thiên Chúa. Trái đất và môi trường thiên nhiên như là cái nôi bảo vệ sự sống, là phương tiện sinh sống và dự án mà Thiên Chúa ký thác cho con người điều khiển và có trách nhiệm sao cho:

 

Trời xanh tường thuật vinh quang Thiên Chúa.

Không trung loan báo việc tay Người làm” (Tv 19,1).

Với trí khôn và sự khéo léo Thiên Chúa ban, con người ra sức khám phá tiềm năng phong phú của trái đất, vừa biến nó trở thành những phương thế phục vụ cho đời sống của con người, vừa bảo vệ và phát triển môi trường thiên nhiên sao cho hài hòa với sự vận hành của thiên nhiên. Với ý nghĩa đó, con người thật sự vừa là chủ, theo nghĩa là đại diện chính thức, nắm toàn quyền trên công trình sáng tạo, có quyền sở hữu trên các thành quả lao động và trí tuệ, vừa là quản lý trung tín và khôn ngoan đối với môi trường thiên nhiên mà Thiên Chúa đã trao vào tay con người. Vì thế, con người phải chứng tỏ có đủ khả năng, bản lãnh xứng với kỳ vọng của Thiên Chúa để thi hành trách nhiệm Thiên Chúa giao phó.

ô nhiễm

Hơn bao giờ hết, ngày nay con người đã thấm thía với những cách hành xử thô bạo, tham lam và ngu dốt đối với thiên nhiên, cái nôi và môi sinh duy nhất để con người sống và tồn tại. Con người không thể sống và tồn tại nếu không tôn trọng và quý mến môi trường thiên nhiên, được hiểu là tất cả các sinh vật sống trong đó, thực vật cũng như động vật, đất, nước, sông ngòi và đại dương, cũng như những trật tự vận hành nên thời tiết khí hậu của các vùng, miền khác nhau trên trái đất. Mọi kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội của con người đều phải gắn liền với mối quan tâm bền vững, tránh làm tổn hại đến môi trường thiên nhiên và các sinh vật sống trong đó.

Thông điệp Laudato Si (Chăm sóc ngôi nhà chung) của Đức Phanxi cô như muốn triển khai rõ ràng, cụ thể hơn những gì Giáo Huấn Xã Hội của Giáo hội Công giáo, chương 7, bàn về Bảo vệ môi trường, ở trên bình diện quốc tế. Ngài khẩn thiết kêu gọi sự chú ý của mọi người, ra khỏi sự vô cảm, tận tâm và tận lực chung sức với nhau chữa lành những tổn thương của trái đất, nhất là gieo ý thức tôn trọng và bảo vệ môi trường thiên nhiên như vấn đề sinh tử. Ngài nói: “Chúng ta cần đến sự liên đới toàn cầu cách mới mẻ… cần đến các tài năng và đấn thân của tất cả mọi người, để làm tốt những gì con người đang lạm dụng, gây tổn thất cho sáng tạo của Thiên Chúa” (LS, số 14)

Chủ nhân ông ngu dốt, tham lam và vô trách nhiệm.

Xã hội Việt Nam hôm nay, dưới góc độ xem xét thái độ của con người đối với môi trường thiên nhiên cho thấy cơn khủng hoảng ghê rợn đang càn quét những giá trị có nguyên nhân chính yếu từ việc con người phủ nhận vai trò của Thiên Chúa là chúa tể, là đấng xét xử muôn loài và không còn yêu quý món quà thiên nhiên Thiên Chúa ban tặng.

Loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi cuộc sống, bóp nghẹt tiếng nói của lương tâm, chỉ biết chạy theo tham vọng bất chính, bất nhân, con người phá vỡ trật tự hòa điệu do Thiên Chúa thiết lập trong vũ trụ; không tuân thủ luật lệ Thiên Chúa, lấy đó làm nguyên lý, làm chuẩn mực tuyệt đối trong mọi hành vi đối xử với tha nhân và với môi sinh; bị cuốn hút vào men say chiếm hữu và tham lam một cách ngu dốt và vô trách nhiệm, con người càng đày đọa nhau vào mọi thứ thảm họa khủng khiếp chẳng thể thoát ra.

Có thể coi đó là những thứ hình phạt giáng trên con người do sự chống cưỡng những luật hài hòa trong thiên nhiên mà Thiên Chúa đã thiết định. Hình phạt của tội lỗi giáng trên chính những kẻ phạm tội và làm liên lụy đến những người khác, đến cái nôi của sự sống. Việc khai thác có tính tận diệt các tài nguyên thiên nhiên như rừng, đất đai, thủy hải sản…đã gây ra hiệu ứng nhà kính, sa mạc hóa, bão tố, lũ lụt,… phải chăng là đòn “gậy ông đập lưng ông” của vạn vật chống lại tội lỗi con người, hối thì đã muộn?

Đã có nhiều sự phân tích và đánh giá sơ khởi về tác động môi trường, về đời sống và điều kiện kinh tế của người dân sống quanh vùng, những tác động lợi và hại, trực tiếp và gián tiếp, trước mặt và lâu dài trong thời gian qua Fomosa, khi nhà máy luyện gang thép Formosa cố ý xả thải những chất độc hại ra môi trường thiên nhiên, gây những tổn thất không thể bù đắp lại cho con người và môi trường, đặc biệt hệ sinh thái ở biển.

Theo “Thời báo Kinh tế Saigon”, với công suất ở giai đoạn 1 là 15 triệu tấn thép/ năm, Formosa sẽ thải ra môi trường: khí thải gần 36 triệu tấn/năm, nước thải các chất ô nhiễm trên 28.000 tấn/năm, chất thải rắn gần 9 triệu tấn/năm chưa qua xử lý.

Nếu tính tổng lượng phenol và xyanua trong nước thải của Formosa trước khi xử lý khoảng 120 tấn/năm hay 0,36 tấn/ngày. Như vậy, trong năm ngày nhà máy mất điện, không xử lý được nước thải, tổng lượng phenol và xyanua đã thải ra biển Vũng Áng mà Bộ TN-MT công bố là nguyên nhân chính gây ra thảm họa cá chết hàng loạt từ Hà Tĩnh đến Thừa Thiên – Huế trong tháng 4-2016 vừa qua, là 1,82 tấn (giả định chạy theo công suất của giai đoạn 1). “Chỉ” 1,82 tấn phenol và xyanua trong năm ngày mà phá hủy gần như toàn bộ rạn san hô trên 200 cây số bờ biển miển Trung mà có khi cần đến cả trăm năm để phục hồi, hàng triệu ngư dân miền Trung và gia đình của họ bị đẩy vào thảm cảnh bế tắc và không thể nói trước được tương lai của họ thế nào.

Nếu tính theo giấy phép xả thải mà Formosa đã được cấp với lưu lượng 45.000 mét khối/ngày, chỉ riêng với nồng độ phenol hay xyanua cho phép là 0,585 mg/l, thì tổng lượng phenol và xyanua sẽ thải ra biển Vũng Áng trong điều kiện Formosa vận hành ổn định và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn cho phép sẽ là 17,37 tấn/năm, tức là lớn gấp 9,5 lần so với lượng thải của năm ngày gây ra thảm họa. Thử hỏi có sinh vật nào còn tồn tại và biển sẽ ra sao trong vòng 70 năm nhà máy Formosa được cấp phép hoạt động?.

Sau nước thải là khí thải. Chỉ riêng khí CO2 thải ra của Formosa đã đạt đến 34,5 triệu tấn/năm, so với tổng lượng phát thải khí nhà kính năm 2020 của tất cả các ngành sản xuất và xây dựng là 68,3 triệu tấn/năm, chiếm đến trên 50,5% tổng lượng phát thải khí nhà kính trong toàn bộ các ngành sản xuất và xây dựng tại Việt Nam! (không kể ngành công nghiệp sản xuất năng lượng), theo báo cáo dự báo phát thải khí nhà kính của Bộ TN-MT năm 2014.

Và sau đó là những thảm họa do thiên tai như hạn hán, lũ lụt xảy ra khắp cả nước trong thời gian qua với cường độ tác hại ngày càng lớn góp phần làm nghiêm trọng thêm tác động do biến đổi khí hậu đến mức nào?

Còn những chất ô nhiễm độc hại khác như, bụi và khí kim loại gần 1 triệu tấn/năm có nguy cơ rất cao gây ra các bệnh về đường hô hấp, trong đó có ung thư phổi. Khí SO2 và NOx là những khí gây ra mưa axit, làm suy giảm chất lượng đất, chất lượng nước, giảm năng suất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, cũng đạt đến lượng phát thải theo thứ tự là 33.000 tấn/năm và 34.500 tấn/năm.

Có hai điều đáng nói về QCVN 51:2013/BTNMT, đó là quy định chỉ tiêu dioxin/furan chỉ được áp dụng từ ngày 1-1-2017, và nồng độ bụi cho phép cao gấp 2-5 lần so với hướng dẫn của IFC (100 mg/Nm3 so với 20-50 mg/Nm3, trong đó IFC đề nghị áp dụng 20 mg/Nm3 khi trong bụi phát hiện có các kim loại độc hại). Dioxin, thành phần chính của chất độc màu da cam mà không lạ gì với người dân Việt Nam, là tác nhân gây chết người, ung thư và để lại nhiều di chứng về sức khỏe cho nhiều thế hệ; Dioxin/Furan là những hợp chất có độc tính cao nhất được biết trong khoa học cho đến nay.

formosa

Ngay cả bụi phát sinh từ các ống khói nhà máy liên hợp sản xuất thép có tính chất là bụi lơ lửng (SPM), trong đó hàm chứa rất nhiều các kim loại nặng độc hại khác nhau như asen, thủy ngân, cadmi, chì, niken, crôm, kẽm, mangan… Vậy thì, dioxin/furan độc hại như thế, sao chỉ yêu cầu áp dụng từ ngày 1-1-2017? Bụi lơ lửng phức tạp với nhiều kim loại nặng độc hại như thế, dựa vào đâu để cho phép thải với nồng độ quá cao so với tiêu chuẩn quốc tế?

Ngoài ra, hiện nay giấy phép xả thải chỉ mới được áp dụng cho nước thải và chất thải công nghiệp, chất thải nguy hại, còn giấy phép xả thải cho khí thải chỉ được áp dụng sau ngày 1-1-2018, theo quy định trong Nghị định số 38/2015/NĐ-CP. Với nguy cơ ô nhiễm do khí thải của Formosa Hà Tĩnh như hiện nay, rõ ràng không có lý do gì phải trì hoãn việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải đến sau ngày 1-1-2018. Việc áp dụng giấy phép xả thải cho khí thải càng sớm càng tốt sẽ góp phần ngăn ngừa thảm họa môi trường do ô nhiễm không khí từ Formosa Hà Tĩnh có thể gây ra cho đồng bào miền Trung…

Chỉ có Bộ TN-MT với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước trực tiếp và cao nhất trong Chính phủ về các lĩnh vực môi trường, tài nguyên nước, biến đổi khí hậu… mới có thể trả lời những câu hỏi đó.

Tới hôm nay, dư luận lại “dậy sóng” một lần nữa vì có sự “cấu kết” giữa ông Lê Quang Hòa, Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Quản lý môi trường đô thị Kỳ Anh và nhà máy Formosa với việc chôn lấp khỏang 100 tấn chất thải trong trang trại của ông ở phường Kỳ Trinh, thị xã Kỳ Anh, nơi rất gần nguồn nước cấp cho người dân ở đây. Chưa biết kết quả thế nào, có đúng với số liệu phân tích, thông số đo lường hay vẫn “đúng quy trình”,” ở trong ngưỡng cho phép”, có thể trồng cỏ, nuôi bò, thả dê làm nguồn thực phẩm, như việc các quan chức Đà Nẵng tắm biển, ăn hải sản khi chưa có kết quả nguyên nhân vụ cá chết, để khuyến khích người dân trước đây?

Vẫn biết điều đáng sợ nhất là con người phải ra trước tòa Thiên Chúa để trả lẽ về những gì nó đã làm. Thiên Chúa Là Đấng thi hành công lý. Người xét xử, phân định tội phúc công minh, nhưng Người còn là Cha giàu lượng thương xót, Người luôn biểu lộ tình thương ngay cả khi sửa trị lỗi lầm của con người. Điểm độc đáo của công lý của Thiên Chúa là chú trọng mục đích giáo dục để cải hóa, cứu chữa và phục hồi phẩm giá của tội nhân, chứ không nhắm vào mục tiêu trừng phạt và báo thù như công lý con người. Công cuộc hòa giải tội nhân với Thiên Chúa do Chúa Kitô thực hiện (LS, số 100) là sự phối hợp diệu kỳ giữa hai điều tưởng chừng mâu thuẫn, vì yêu thương mà không có công lý chỉ là thứ tình yêu mù quáng và công lý nếu thực thi với quả tim vô cảm là thứ công lý của hận thù

Vì vậy, việc cổ vũ và giáo dục ý thức cộng đồng chung sức bảo vệ môi trường vừa là trách nhiệm pháp lý theo nguyên tắc công ích xã hội, vừa là một sự thức tỉnh lương tâm cộng đồng đứng trước nguy cơ hủy diệt, nhưng trước hết chính là để bảo vệ phẩm giá của mình trong tư cách là chủ tể trái đất.

Việc học hỏi Giáo Huấn Xã Hội của Giáo Hội Công giáo và Thông điệp Laudato Si của Đức Phanxi cô nhắm mục đích ấy cũng như tin tưởng khả năng con người có thể sửa chữa những lỗi lầm trong quá khứ, tài bồi thêm vẻ đẹp sự sống của trái đất và gìn giữ cho thế hệ tương lai một hành tinh xanh, một ngôi nhà chung là môi trường thiên nhiên.

13/7/2016

Jos. Ngô Văn Kha, C.Ss.R.

PHẢI CHĂNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG TÔI ĐÃ CHẾT?

PHẢI CHĂNG LÒNG THƯƠNG XÓT TRONG TÔI ĐÃ CHẾT?

EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.    

LONG TH XOT

 

 

 

 

 

 

 

Triết gia J.P. Sartre đã khẳng định: “Tha nhân là hỏa ngục.” Dường như lời phát biểu này được thốt ra trên môi miệng của một người đang trong cơn bấn loạn và mất bình an.  Ông đã phóng chiếu cái nhìn nội tâm lên ánh mắt của tha nhân để rồi ông chỉ nhận ra tha nhân coi mình như một sự vật chẳng hơn chẳng kém.  Có thể nói, tư tưởng này phần nào đã dẫn lối cho những chủ trương sống phóng túng và bất cần sự hiện hữu của tha nhân.  Và như thế, tha nhân đang phải đối diện trong tình trạng dở sống dở chết chẳng làm tôi mủi lòng.  Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?

Chúng ta đang sống trong một xã hội đề cao duy vật hưởng thụ, “chân lý bằng với chân giò”, “nhân phẩm chỉ ngang giá thực phẩm” thì đâu là bậc thang giá trị để định hướng con người thăng tiến?  Gặp một người bị nạn giữa đường, tôi dừng lại và cúi xuống ra tay thi thố lòng thương xót, nào ngờ lại bị chính nạn nhân trở mặt cướp của giữa ban ngày, hay đứng trước một cuộc ẩu đả, người này vô tay, người khác lấy máy quay phim chụp hình, mặc cho nạn nhân bị đe dọa đến tính mạng…  Đứng trước những tình cảnh bi đát đại loại như thế, Đức Phanxicô phải kêu gào nhân loại: Hãy tránh tình trạng toàn cầu hóa sự dửng dưng.  Phải chăng lòng thương xót trong tôi đã chết?

Tôi đã rảo quanh trên khắp nẻo đường dương thế để tìm những tâm hồn có lòng thương xót.  Tôi đã thấy một gã xe ôm gầy nhom đang chở một ả mua hương bán phấn trên đường X.  Bỗng thình lình gặp một chàng thiếu niên bị tai nạn dọc đường, họ quyết định cứu giúp nạn nhân.  Họ cho lên xe chở vào bệnh viện gần đó để cấp cứu.  Vì máu ra quá nhiều, người phụ nữ này đã cởi áo mình ra để băng bó vết thương nạn nhân.  Nàng đã cứu người bất chấp thân thể lõa lồ của mình.  Đến bệnh viện, y tá nghi ngờ đây là một ca “có vấn đề”, cô chần chừ và e ngại.  Một lát sau, cô đòi tiền tạm ứng để nhập viện, cả ông xe ôm và cô điếm móc tiền trong túi ra nhưng không đủ, buộc ông này phải đi cầm chiếc xe cũ kỹ tại một tiệm cầm đồ.  Ông đã cứu người bất chấp sự an toàn là chiếc xe làm phương tiện nuôi sống bản thân và gia đình.  Cả hai đang chờ tin tức mới thì được báo tin: Nạn nhân cần tiếp máu trực tiếp vì máu ra quá nhiều.  Một lần nữa cả hai lại xung phong xét nghiệm máu để có thể cứu sống nạn nhân.  Họ bất chấp mọi nguy hiểm bản thân để cứu sống người khác…  Tôi đã tìm thấy lòng cảm thương giữa một xã hội đua chen đi tìm thú vui hưởng thụ.  Phải chăng chỉ có những con người bị xã hội coi thường vì làm những việc tay chân thấp kém, hay bị xã hội sỉ nhục vì bán thân nuôi mình, những con người bị tổn thương ấy lại có một tấm lòng quảng đại?  Họ là niềm hy vọng cho những người thiện chí vì họ đã bất chấp thân thể, bất chấp sự nguy hiểm bản thân để thực thi lòng thương xót.

Thật vậy, lòng thương xót là hoa trái của tình yêu mà Thiên Chúa đặt để trong lòng con người, không thể chết.  Nó như một lớp than hồng đang tạm thời bị bao phủ bởi một lớp tro nào đó; lớp tro của nền văn hóa hưởng thụ, văn hóa sự chết hay một ý thức hệ nào đó…

Lòng thương xót là mầm thiện mà Thiên Chúa đã gieo vào lòng người; nó chỉ chết khi nào con người không còn tồn tại trên thế gian này.  Tất cả chúng ta đều được mời gọi làm cho mầm sống ấy đơm hoa kết trái trong cuộc đời để nỗi đau được vơi đi và niềm vui tăng trưởng mãi.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nói: Sống trong đời sống cần có một tấm lòng để làm gì em biết không? – để gió cuốn đi…  Chúng ta cần để gió cuốn đi những lớp tro vị kỷ và để cho lòng thương xót như lớp than hồng sưởi ấm tấm lòng con người.  Nhờ đó, sự lạnh lùng băng giá, sự thờ ơ lãnh đạm, toàn cầu hóa sự dửng dưng… không còn cản bước tiến của chúng ta trên đường hành thiện, thực thi lòng thương xót.

Nếu đã xác quyết: tư tưởng dẫn đến hành động, chúng ta sẽ không để cho tư tưởng: tha nhân là hỏa ngục tồn tại trong tâm trí mình.  Mặc dù, có đôi khi nó là tiếng nói nội tâm của ta trong một quãng đời đen tối nào đó; nó cũng không được quyền làm ta ngã quỵ mà thỏa hiệp với những chủ trương thế tục.  Con người sẽ sống ra sao nếu không còn lòng thương xót?  Tha nhân không là hỏa ngục nhưng một thế giới vắng bóng lòng thương xót là hỏa ngục trần gian.  Đúng thế, Tha nhân là nạn nhân đang chờ ta thi thố lòng xót thương.

Cục than hồng của lòng thương xót có thể sưởi ấm một con tim giá lạnh và thắp sáng một cõi lòng u mê. Nhưng nó cũng có thể làm tổn thương cho ai đụng chạm vào nó.  Lòng thương xót khả dĩ chữa lành nhiều vết thương, đồng thời, có nguy cơ làm tổn thương hơn những tâm hồn tế nhị.

Lòng thương xót là quà tặng mà Thiên Chúa đã trao cho mỗi người, đòi buộc ta phải trao ban.  Tuy nhiên, trao ban cách nào là cả một nghệ thuật nếu không, chúng ta dễ ảo tưởng mình là một kẻ trên cao có quyền ban phát: đó là lòng thương hại.  Có thể nói, thi thố lòng thương xót là một nghệ thuật phát xuất từ con tim, nghĩa là nó không những đòi hỏi một thái độ thấu cảm mà còn phải hiểu lý lẽ của con tim mình mà đến với tha nhân; một người đã từng bị tổn thương dễ dàng tìm cách để băng bó những tấm lòng tan nát.  Người ấy đáng được Chúa chúc phúc: Phúc thay ai xót thương người vì họ sẽ được Thiên Chúa xót thương.

EYMARD An Mai Đỗ, O.Cist.    

NHỮNG MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

NHỮNG MẪU GƯƠNG SÁNG NGỜI

Ba bài đọc của Chúa Nhật hôm nay cho thấy những tấm gương sống Lời Chúa trong những hoàn cảnh khác nhau: Abraham, Maria và Phaolô.

Chọn điều tốt nhất

Đức Giêsu trên đường rao giảng, ghé vào một gia đình rất quý mến Ngài.  Đó là gia đình của Martha, Maria và Lazarô.  Cô Martha lo làm đồ ăn đãi khách.  Có lẽ có cả các tông đồ cùng ở với Đức Giêsu, vì thế Martha một mình làm bếp cho mười sáu người ăn.  Với gia đình này, Đức Giêsu và các tông đồ là những vị khách quý, nên có thể đây là bữa tiệc.  Biết bao việc phải làm, thế mà Maria vẫn ngồi bên chân Đức Giêsu và nghe Ngài giảng dạy.  Chắc Martha đã ra hiệu hoặc nói với Maria giúp mình, nhưng Maria vẫn giữ lập trường: Ngồi tiếp chuyện Đức Giêsu, ngồi nghe Ngài giảng dạy.  Không thể chịu nổi nữa, Martha đã xin Đức Giêsu can thiệp: “Em con để một mình con với bao nhiêu việc, xin thầy bảo nó giúp con một tay.”

MARTHA

Theo nhiều người, Martha hoàn toàn có lý.  Cả Maria lẫn Đức Giêsu đều không được tế nhị lắm. Có lẽ Martha không chỉ trách Maria, mà trách cả Đức Giêsu như thể Đức Giêsu vô tình không để ý đến vất vả của Martha.

“Martha, chị lo lắng về nhiều chuyện quá.  Chỉ cần một điều thôi.  Maria đã chọn phần tốt nhất và không ai cướp đi được.”  Trên đời có nhiều điều có thể làm, phải chọn điều nào quan trọng và cần thiết để làm.  Trong trường hợp này, không cần phải làm nhiều món để đãi Đức Giêsu và các môn đệ của Ngài.  Không cần phải vất vả như vậy.  Tại sao lại phải làm nhiều món, và điều đó lại là không quan trọng (đối với Đức Giêsu), để rồi phải càm ràm oán trách người khác.  Maria đã chọn nghe Lời Chúa, và cũng sẵn sàng chấp nhận bị chị càm ràm, và cả người đời càm ràm chê trách, như thể là người lười, như thể là người không tế nhị và không biết giúp đỡ chị nữa.

Không có một bản lĩnh và một chọn lựa dứt khoát, không thể hành xử như Maria được.  Trong cuộc sống, tôi đã chọn điều gì là quan trọng?

Niềm nở ân cần tiếp đón tha nhân

“Đang ngồi hóng mát, nhìn lên Abraham thấy “ba vị” đang đứng gần.  Abraham chạy lại, cúi mình chào các vị, mời các vị khách rửa chân cho thoải mái trong một môi trường nóng bức, và dùng bữa.”  Với Abraham, đây không phải là những người quen thường gặp, thế nhưng Abraham đã tiếp đón rất ân cần tử tế.  Thái độ hiếu khách của Abraham đã làm tương quan giữa Abraham và khách trở nên rất tốt, đến độ các vị khách đã “tỏ mình” cho Abraham.

Thái độ hiếu khách của Abraham đặt vấn đề cho con người ngày nay.  Thái độ sống của tôi đối với những người tôi gặp gỡ như thế nào?  Abraham đã đón tiếp tha nhân, và cuộc đón tiếp này đã trở thành cuộc đón tiếp Thiên Chúa.  Đức Giêsu cũng đã đồng hóa mình với những người nghèo, đến độ ai đón tiếp người nghèo là đón tiếp Chúa, ai cho người nghèo ăn là cho Chúa ăn, ai đi thăm và giúp đỡ người nghèo là đi thăm và đón tiếp Chúa (Mt.25, 31tt).  Đối xử với con người, là đối xử với Thiên Chúa.

Rao giảng Tin Mừng Đức Giêsu Kitô

Cả cuộc sống của Phaolô sau khi trở lại, là rao giảng, phục vụ Tin Mừng.  Ngài được gọi để được sai đi rao giảng, và Ngài đã thực hiện sứ mạng của Ngài trong mọi hoàn cảnh, bất chấp những khó khăn và nguy hiểm.  Ngài rao giảng cả khi ở trong tù, cho cả người Do Thái lẫn người ngoại, cho người đời bình thường cũng như cho những người có địa vị và thế lực.  Ngài vui ngay cả trong những khổ đau, và Ngài muốn “hoàn tất” những gì còn thiếu trong thân thể Giáo Hội.  Với Phaolô, Ngài “học no học đói,” Ngài làm tất cả để Chúa được tôn vinh hơn.

Với Phaolô, Đức Giêsu là Tin Mừng.  Đức Giêsu là mầu nhiệm được giữ kín từ muôn thuở, nay được mặc khải cho con người.  Đức Giêsu Kitô là tất cả đối với Phaolô, Ngài sẵn sàng bỏ tất cả để được Đức Giêsu Kitô.

Phaolô trở thành con người tuyệt vời, nhờ thi hành sứ mạng rao giảng Tin Mừng.  Ước gì mỗi người không mắc cỡ nhưng can đảm tuyên xưng Đức Giêsu Kitô là Tin Mừng.  Chính nhờ Đức Giêsu Kitô mà mỗi người Kitô hữu trở thành người tuyệt vời.

LM Phạm Thanh Liêm

Anh chị Thụ & Mai gởi

Biển Đông & Những Ông Quan Sứ

Biển Đông & Những Ông Quan Sứ

 tuongnangtien's picture

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien

RFA

Mãi gần đây, tôi mới biết rằng mình với André Menras có chút tình “đồng khói.” Té ra, ổng nhận Việt Nam làm quê hương (thứ hai) cho dù đất nước này không … được dễ thương gì lắm.

Hồ Cương Quyết được công luận biết đến như là người đặc biệt quan tâm đến vấn đề Biển Đông, qua bộ phim Hoàng Sa Việt Nam Nỗi Đau Mất Mát. Tác phẩm này, tiếc thay, bị “tẩy chay có tổ chức” theo như lời than phiền của chính tác giả:

… bộ phim này đã chịu cảnh tẩy chay có tổ chức, sự tẩy chay vẫn đang tiếp tục tiến hành bởi những đại diện của nước Việt Nam ở  nước ngoài và những dây truyền lực của họ là những “Hội người Việt.”

André Menras Hồ Cương Quyết còn cho biết thêm một sự việc rất đáng phàn nàn khác nữa, liên quan đến bộ phim của mình, khi ông đến làm việc với Đại Sứ Quán Việt Nam Tại Nước Cộng Hoà Séc:

“Chính tôi đã thấy tòa đại sứ trống trơn không có người Việt Nam nào khi tôi đến đó xưng danh hẳn hoi và mời ông đại sứ hoặc một ai đó đại diện đi thay ông. Rõ ràng là đã có sự chờ đợi chuyến thăm tòa đại sứ của tôi, là việc tôi đã cẩn thận báo tin trong các cuộc thảo luận trước đó…

Một cô gái Séc đón tôi từ cửa vào. Cô nàng hoàn toàn bối rối lúng túng khi có nhiệm vụ truyền đạt lại cho tôi cái thông điệp siêu thực rằng: ‘đại sứ không có ở đây, và trong tòa đại sứ không có viên chức người Việt Nam nào cả’…

Vị đại sứ đã cư xử một cách lô gich đúng như hình ảnh cái Quyền lực đã bắt các thành viên của nó phải theo: vắng mặt, hoàn toàn vắng mặt ở nước ngoài trên địa hạt truyền thông, nhằm khẳng định chủ quyền đất nước mình.  Họ chỉ ở đó để quốc tế hóa … sự im tiếng.”

Những ông quan sứ Trung Hoa lại khác. Họ làm việc đàng hoàng và cần mẫn hơn nhiều – theo như tường trình củaRebecca Bailey (BBC News) vào hôm 10 tháng 7 năm 2016:

“Trong bối cảnh Tòa Trọng tài Thường trực sắp ra phán quyết về việc Trung Quốc tuyên bố chủ quyền trong khu vực tranh chấp tại Biển Đông, các đại sứ Trung Quốc đã viết hàng loạt bài trên các báo nước ngoài suốt vài tháng qua.

Phán quyết của vụ Philippines kiện được nhiều người trông đợi sẽ không có lợi cho Trung Quốc, nhưng cũng không ngăn được các đại sứ nước này cố gắng thuyết phục thế giới là Trung Quốc đã đúng…

Vậy vấn đề ở đây là gì? Cuối cùng thì, công việc của một đại sứ vẫn là tuyên truyền về lợi ích quốc gia khi ở nước ngoài.”

Lợi ích quốc gia, xem ra, không phải là mối bận tâm của các ông quan sứ Việt Nam. Tôi vào coi thử vài chục trang mạng của những Đại Sứ Quán Việt Nam (ở khắp nơi) nhưng không tìm ra một bài viết nào có liên quan đến vấn đề Biển Đông hết trơn hết trọi. Đã thế những trang mạng này đều làm ra cho có, nội dung gần y hệt như nhau: sơ sài, tuỳ tiện, toàn là những tin tức cũ xì, và phần lớn đều thuộc loại tin vớ vẩn!

Hai ngày sau, sau khi đã có phán quyết của Tòa Án Trọng Tài Thường Trực ở La Haye (về vụ kiện Biển Đông giữa Philippines với Trung Quốc) nhưng tất cả những trang web của các ĐSQVN đều không có một dòng chữ nào về sự kiện này.

Xin “copy and paste” vài trang để rộng đường dư luận:

Wed, 14 Jul 2016

Hoạt động đối ngoại: Không có tin nào!

Wed, 14 Jul 2016

Hoạt động đối ngoại: Không có tin nào.

Wed, 14 Jul 2016

Hoạt động đối ngoại: Không có tin nào.

Wed, 14 Jul 2016

19-06-2014 Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh tiếp Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan

– Đại Sứ Quán Việt Nam Tại Nga

Wed, 14 Jul 2016

14/11/2012 Đồng chí Đinh Thế Huynh thăm làm việc tại Nga

Cũng như qúi vị đại diện dân cử ở trong nước, qúi vị đại sứ của Việt Nam ở nước ngoài – phần lớn – đều đang gà gật cả. Đến ngày 14 tháng 7 năm 2016, trang web của ĐSQVN tại Nga mới tin (Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Phạm Bình Minh tiếp Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan) cách đây đã hơn ba năm. Cùng ngày, ĐSQVN tại Nga đi tin (“Đồng chí Đinh Thế Huynh thăm làm việc tại Nga”) cũ đến năm năm! Tuy thế, xem ra, vẫn còn hơn hàng chữ (“Hoạt động đối ngoại: Không có tin nào!”) của rất nhiều Đại Sứ Quán khác.

Và đây là giao diện của trang mạng Cơ Quan Đại Diện Ngoại Giao Việt Nam Ở Nước Ngoài vào hôm 14 tháng 7 năm 2016. Bản tin mới nhất ghi ngày 23 tháng 4 năm … 2015!

Foreign Affairs News 

Wednesday, July 14, 2016

23-04-2015 President attends plenary sessions, meets world leaders
22-04-2015 Viet Nam hopes for early conclusion of TPP talk with US
22-04-2015 President calls for enhanced Asian-African connectivity

Nếu rảnh bạn có thể vào những trang web của Đại Sứ Quán Việt Nam Tại LàoĐại Sứ Quán Việt Nam Tại Hoa KỳĐại Sứ Quán Việt Nam Tại Trung HoaĐại Sứ Quán Việt Nam Tại Phi  … để xem qúi ông/bà quan sứ của nước ta làm việc (lờ vờ) ra sao nơi đất khách. Sự lờ vờ này “tương ứng” với mức lương và thù lao (giả vờ) mà họ được nhận lãnh, theo như phân tích của tác giả Hương Vũ:

“Nhân viên sứ quán VN ở nước ngoài, mức lương trung bình từ 1000-1500/ tháng. Trừ đại sứ được cấp nhà riêng, tất cả ở phòng tập thể. Thường thì 4 người chung 1 phòng 20m, họp hành ngoại giao thì lúc nào quần áo cũng sực nức mùi xào rán bởi quần áo lưu cữu trong gian phòng chật hẹp.

Chế độ bảo hiểm y tế, tai nạn như cccc, trợ giá học tập hay trợ giúp hoàn cảnh gia đình gì, hoàn toàn không. Sống ở các nước tư bản trường lớp công được free thì đỡ, sống ở các nước thổ dân phải đóng tiền học cho con cái thì số tiền lương coi như chẳng bõ chua mép dép.

Mà để có 1 chân trong sứ quán, các mẹ tưởng bần nông chân đất mắt toét đi thi tuyển công chức là nghiễm nhiên có 1 chỗ ấm êm trong sứ quán á há há???

Thế mà các mẹ đòi hỏi họ phải phục vụ các mẹ cách công chính, không lạm thu, không phiền nhiễu. Xin lỗi các mẹ, chân chạm xuống đất 1 tý nhìn đời thực tế hơn đi. Sống và làm việc cách công chính như nhân viên sứ quán các nước khác, nhân viên sứ quán Vn chỉ còn cách cắn dép gặm không khí qua ngày.”

Khi người ta không được phép “sống và làm việc một cách công chính” thì chuyện nước non, biển đảo quả là chuyệm có hơi xa vời và (vô cùng) xa xỉ. Hơn nữa, ngay tại Việt Nam qúi vị lãnh đạo cũng có ai thiết tha gì đến chuyện bảo vệ lãnh hải, ngư dân, ngư trường, môi trường đâu (tất cả chỉ chăm lo vơ vét thôi) thì trách chi những ông quan sứ.