httpv://www.youtube.com/watch?v=24MFbbD8vsI
Bài giảng Lòng Thương Xót Chúa ngày 21/12/2016 – Cha Giuse Trần Đình Long

Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em (Mt 5,44)
Sưu tầm – Bình Luận-Sự Kiện
httpv://www.youtube.com/watch?v=24MFbbD8vsI
Bài giảng Lòng Thương Xót Chúa ngày 21/12/2016 – Cha Giuse Trần Đình Long
Ngày 25-12-1991, ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô

“Merry Christmas !” Một viên chức trong đoàn tùy tùng của Tổng Bí Thư Mikhail Gorbachev chào Ted Koppel và nhóm phóng viên của hệ thống ABC đang đứng chờ trước bậc thềm điện Kremlin. Ted Koppel chào lại nhưng anh chàng Rick Kaplan, phụ tá của Ted Koppel phản đối “Với tôi anh phải chúc là Happy Hanukkah mới phải”. Rick Kaplan nói thế chỉ vì anh ta gốc Do Thái. Viên chức Liên Xô không hiểu Hanukkah nghĩa là gì và tưởng là Honecker nên hỏi ngược “Tại sao tôi phải chào Happy Honecker chứ nhỉ?”
Thật ra, thắc mắc của viên chức Liên Xô không phải là không có lý do. Ngày 25 tháng 12 không chỉ là ngày cuối cùng của hệ thống CS Liên Xô mà có thể cũng là ngày cuối của Erich Honecker nữa. Tên lãnh tụ CS Đông Đức này bị truy tố tại Đức và được Gorbachev cho phép tỵ nạn chính trị tại Liên Xô. Erich Honecker sợ bị Boris Yeltsin tống cổ về Đức nên hôm qua đã chạy sang tòa đại sứ Chile ở Moscow xin tỵ nạn. Báo chí loan tin sáng hôm đó Erich Honecker vừa xin tỵ nạn chính trị lần nữa nên viên chức trong đoàn tùy tùng Gorbachev liên tưởng đến y khi nghe “Happy Hanukkah”.
Ngày 25 tháng 12 là ngày nhiều tỉ tín đồ Thiên Chúa Giáo trên thế giới kỷ niệm ngày Chúa Cứu Thế giáng trần nhưng tại Moscow, ngày 25 tháng 12, 1991 là ngày chính thức cáo chung của chế độ Cộng Sản. Thật khó tin nhưng đang diễn ra trước mắt nhân loại. Ngày cuối cùng của chế độ CS Liên Xô được tường thuật theo từng giờ trong tác phẩm Moscow, December 25, 1991, the last day of Soviet Union của Conor Óclery mà người viết tham khảo.
Thời tiết Moscow lạnh xuống gần 0 độ F. Những lớp tuyết dày trên dưới chân tường điện Kremlin dấu vết của cơn bão tuyết ba ngày trước. Nửa đêm 24 tháng 12, một đoàn hành hương đến cầu kinh dưới chân tháp Thánh Nicholas. Từ khi chính sách Glasnost ra đời, việc tiếp xúc tôn giáo có phần cởi mở. Nhiều đoàn hành hương có cơ hội đến thăm viếng các nhà thờ lớn ở Liên Xô. Phần đông người trong đoàn đến từ Mỹ. Dù Giáng Sinh theo lịch Julian do Giáo Hội Chính Thống Giáo Nga dùng là ngày 7 tháng Giêng những người hành hương này muốn đón Giáng Sinh theo lịch Mỹ ở Moscow. Những ngọn đèn cầy được thắp lên trong đêm đông tại quốc gia CS hàng đầu thế giới. Những người hành hương không biết một cách chi tiết những gì sắp xảy ra trên đất nước này trong vài giờ nữa.
Mikhail Sergeyevich Gorbachev, Tổng Bí Thư đảng CS kiêm Chủ tịch Cộng Hòa Liên Bang Sô Viết thức dậy sớm. Ông ta ý thức ngay rằng, tất cả những gì ông sắp sửa làm từ bữa ăn sáng do đầu bếp Shura phục vụ và cả biệt điện nguy nga mà vợ chồng ông ta nghĩ trước đó sẽ ở cho đến chết đều sẽ là lần cuối. Chiếc xe đặc biệt ZiL-41047 chờ ông. Hai viên đại tá có khuôn mặt lạnh như tiền ngồi trên chiếc Volga theo sau xe của Gorbachev. Họ không phải là cận vệ nhưng là người mang chiếc cặp trong đó chứa các thông tin tuyệt mật để phát động chiến tranh nguyên tử. Hai đại tá này biết chiều tối nay họ sẽ chào từ biệt Mikhail Gorbachev để phục vụ lãnh đạo Cộng Hòa Nga Boris Yeltsin.
Mikhail Sergeyevich Gorbachev được thế giới ca ngợi như là người đã thổi vào không khí chính trị Liên Xô làn gió mới và được trao tặng giải Nobel Hòa Bình 1990 nhưng trong nước dân chúng đổ hết công phẫn lên ông ta. Tên Gorbachev đồng nghĩa với suy thoái, thất nghiệp, vật giá leo thang, tem phiếu. Người dân thường dĩ nhiên cũng không cần biết, Gorbachev là lãnh đạo CS thứ bảy từ Lenin và cũng là người kế thừa một gia sản lạc hậu, ung thối từ trong máu của chế độ.
Nhiều câu chuyện cười ở Moscow về thái độ bất mãn của người dân đối với Gorbachev. Ví dụ, trong một tiệm rượu, một người khách đứng dậy bỏ đi, các bạn anh ta hỏi đi đâu, anh chàng đáp đi giết Gorbachev chứ đi đâu, anh ta mở cửa ra đi thật nhưng trở lại ngay, bạn bè hỏi sao giết Gorbachev mà nhanh thế, anh chàng đáp không giết được vì phải sắp hàng dài quá.
Mikhail Gorbachev và đoàn tùy tùng đến dinh chủ tịch ở điện Kremlin hơi trễ hơn thường lệ chút ít. Hãng tin Mỹ ABC gồm Ted Koppel và Rick Kaplan có mặt ngay tại chỗ dừng xe. Họ được Gorbachev cho phép tường thuật biến cố lịch sử này. Theo lời kể lại của Ted Koppel, Gorbachev rất trầm tỉnh. Nhân viên làm việc trong điện Kremlin vẫn tới đủ nhưng không có việc nào làm khác hơn là dọn dẹp. Thời khóa biểu tiếp khách trước đây được tính từng phút hôm đó trống không. Mặc dù theo thỏa thuận, Gorbachev có đến cuối năm để dời ra khỏi điện nhưng thực tế Yeltsin đã tóm thu hết quyền hành và các phương tiện thông tin. Đơn vị phòng vệ điện Kremlin vẫn túc trực nhưng không đặt dưới quyền chỉ huy của Gorbachev mà trực thuộc thẳng Yeltsin. Chiếc điện thoại màu trắng trên bàn làm việc của Gorbachev còn hoạt động nhưng không ai gọi vào.
Trong lúc điện Kremlin chìm trong im lặng, Tòa Nhà Trắng Nga lại sôi nổi với hàng loạt chương trong ngày mới của nền Cộng Hòa. Tòa nhà quốc hội Nga này là biểu tượng của trận chiến chống chế độ toàn trị khi Yeltsin đứng trên xe tăng thách thức đám lãnh đạo CS cực đoan hồi tháng Tám trước đó. Boris Yeltsin lãnh đạo Nga đến văn phòng làm việc. Ông lên văn phòng đặt trên tầng thứ năm bằng cầu thang riêng phía sau. Trên bàn làm việc hàng loạt sắc lịnh chờ ông ký. Một chế độ hình thành bằng máu, dao búa và súng đạn đang được giải thể bằng sắc lịnh. Một trong những sắc lịnh ông phải ký hôm nay là giải tán cơ quan KGB và thay bằng Federalnaya Sluzhba Bezopasnosti gọi tắt là FSB tức Cơ Quan An Ninh Liên Bang Nga. Không chỉ trong ngành an ninh, mật vụ mà cả sắc lịnh về các hí viện, nhạc viện, các viện hàn lâm, trường đại học, viện bảo tàng v.v. từ nay đều trực thuộc Cộng Hòa Nga.
Các cơ quan ngoại giao quốc tế cũng vậy. Bộ trưởng Ngoại Giao Eduard Shevardnadze nổi tiếng thời Gorbachev bị trục xuất ra khỏi nhiệm sở và thay bằng Bộ trưởng Ngoại Giao Nga Andrey Kozyrev. Tại tất cả nhiệm sở ngoại giao khắp các múi giờ trên toàn thế giới, cờ Liên Xô bị hạ xuống và cờ Cộng Hòa Nga ba màu được kéo lên. Nhiều đại sứ vội vã đánh điện cho Yeltsin tuyên bố trung thành. Tòa đại sứ lớn nhất của Liên Xô là tòa đại sứ tại Washington DC với hơn 300 nhân viên thuộc nhiều sắc tộc. Các nhân viên chia thành nhiều nhóm theo sắc dân và tự tuyên bố họ là đại diện cho cộng hòa của họ tại Mỹ.
Gần 11 giờ sáng Tổng thống Nga Boris Yeltsin qua phòng họp quốc hội Nga ở lầu 1. Tổng cộng 252 đại biểu quốc hội đang tập trung để chứng kiến ngày lịch sử. Nhân dịp này, Boris Yeltsin thông báo tin vui rằng 11 quốc gia cựu Liên Xô trong phiên họp tại Kazakhstan đã đồng ý thành lập Khối Thịnh Vượng chung.
Mikhail Gorbachev ăn trưa xong. Phía sau phòng ăn có một phòng nhỏ bỏ trống. Tổng bí thư CS Liên Xô vào, đóng cửa lại và nằm nghỉ. Các phụ tá của ông hớt hải đi tìm. Gorbachev phải có mặt để ký thư từ biệt gởi các lãnh đạo thế giới mà ông có quan hệ tốt. Một danh sách khá dài từ Tổng thống Mỹ George H. W. Bush cho đến Thủ tướng Anh John Major và cả các ông hoàng như Vua Juan Carlos và Nữ Hoàng Sofia của Spain.
Bài bình luận trên báo Nga buổi sáng hôm đó chẳng tốt lành gì cho lãnh tụ CS Mikhail Gorbachev. Tờ Rossiyskaya Gazeta tiết lộ các cam kết mật Yeltsin dành cho Gorbachev khi về hưu bao gồm số phụ cấp bằng với mức lương hiện nay của ông ta có điều chỉnh theo mức lạm phát, hai chiếc xe riêng và một đoàn tùy tùng 20 người kể cả tài xế và an ninh. Đây là thỏa thuận kín giữa Gorbachev và Yeltsin nhưng đã bị cánh Yeltsin tiết lộ cho báo chí biết. Các báo còn cho rằng Gorbachev đòi hỏi một đoàn phục vụ lên đến 200 người. Thật ra, theo Chernyaev, phụ tá của Gorbachev, ông ta chưa bao giờ đòi hỏi một số lượng nhân viên phục vụ đông như thế. Phe Yeltsin chỉ bịa ra để làm nhục Gorbachev.
Gorbachev và phụ tá Andrei Grachev xem lại diễn văn mà 4 giờ nữa ông sẽ đọc và quyết định thay chữ “từ chức” bằng chữ “ngưng các hoạt động” trong chức vụ chủ tịch Liên Bang Sô Viết. Diễn văn được sửa tới sửa lui nhiều lần chung quanh các điểm xung khắc giữa Yeltsin và Gorbachev.
Cũng trong buổi chiều cuối cùng này, Gorbachev gọi điện thoại chào từ giã tổng thống Mỹ George H. W. Bush. Buổi điện đàm được truyền hình ABC thu. Gorbachev mở đầu trước bằng gọi một cách thân mật “George thân mến, chúc mừng Giáng Sinh đến anh và Barbara !” và nói tiếp “George, tôi muốn báo anh biết một tin quan trọng. Trước mặt tôi là diễn văn từ nhiệm. Tôi sẽ rời khỏi chức vụ tổng tư lịnh và chuyển giao quyền sử dụng vũ khí nguyên tử sang tổng thống Liên Bang Nga”. Buổi điện đàm diễn ra trong không khí rất thân mật và tổng thống Mỹ mời Gorbachev viếng thăm Mỹ lần nữa. Cả hai đều tránh nhắc tới tên Yeltsin.
Trời đã về chiều. Gorbachev và hai phụ tá thân cận nhất của ông ngồi quanh nhau bên ly cà phê cuối cùng. Cả ba đồng ý, sau khi đọc diễn văn, Gorbachev sẽ ký quyết định từ nhiệm thay vì ký trước như dự tính.
Trong lúc nhắp cà phê, câu chuyện về số phận Nicolae Ceausescu của Romania được nhắc đến. Mặc dù Gorbachev ví Ceausescu như là Hitler của Romania, cả hai đã duy trì một quan hệ lãnh đạo các quốc gia trong khối CS. Chỉ ba tuần trước khi vợ chồng Nicolae Ceausescu bị xử bắn, Gorbachev đã tiếp y tại điện Kremlin. Trong dịp đó Gorbachev khuyên Ceausescu đừng ngại thực hiện các cải cách dân chủ và tiên đoán “đồng chí sẽ còn sống trong dịp hội nghị các lãnh đạo CS Liên Xô và Đông Âu” tổ chức ngày 9 tháng Giêng. Ngày đó không bao giờ đến và Nicolae Ceausescu cũng đã chết rồi.

“Kính thưa toàn thể nhân dân”, giọng Mikhail Gorbachev hơi lạc đi vì xúc động, gò má ông rung lên. Trong chốc lát, ông lấy lại bình tĩnh và đọc tiếp “Số phận đã quyết định rằng, khi tôi trở nên lãnh đạo đất nước, hiển nhiên đã có những sai trái trầm trọng trong quốc gia này. Chúng ta có đầy đủ mọi thứ, đất đai, dầu khí, tài nguyên thiên nhiên và Tạo Hóa đã ban cho chúng ta trí tuệ và tài năng – Tuy nhiên, mức sống của chúng ta tệ hại hơn nhiều so với các quốc gia kỹ nghệ khác và khoảng cách mỗi ngày rộng thêm. Lý do rõ ràng vì xã hội bị bóp ngặt trong tay của một hệ thống quan quyền được tạo ra để phục vụ một ý thức hệ, và phải chịu gánh nặng chạy đua vũ trang, căng thẳng tột cùng. Tất cả cố gắng để thực hiện các cải cách nửa vời đều lần lượt dẫn đến thất bại. Đất nước không còn hy vọng gì nữa.”
Gorbachev tiếp tục nói về các cải cách ông thực thi từ 1985, dù sao, đã là những viên gạch cần thiết lót lên con đường dẫn đến chế độ dân chủ và theo ông “xã hội đã đạt được tự do, tự do về chính trị và tự do về tinh thần”. Gorbachev chấm dứt diễn văn lúc 7:12 phút tối. Ông nhìn lên ống kính truyền hình và thêm vào câu nữa “Chúc quý vị mọi điều tốt đẹp”.

Các lý do làm Liên Xô sụp đổ là nguồn thúc đẩy sự nghiên cứu của nhiều sử gia, nhà nghiên cứu, nhà phân tích và vẫn còn đang được nghiên cứu, phân tích. Tuy nhiên, như nhiều người đông ý, nguyên nhân sâu xa vẫn là (1) những mâu thuẫn có tính triệt tiêu trong bản chất của chế độ CS độc tài toàn trị, (2) sự chuyển hóa không ngừng của xã hội và (3) các nguyên nhân trực tiếp gồm tình trạng tham nhũng thối nát, chạy đua vũ trang và trung ương không giữ được địa phương.
Nếu chỉ nhìn từ bên ngoài, chế độ CS Liên Xô không thể nào sụp đổ. Sau thế chiến thứ hai, Liên Xô có một đạo quân khổng lồ gồm 500 sư đoàn trong đó 50 sư đoàn thiết giáp. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh với Mỹ và Tây phương, Liên Xô duy trì một đạo quân từ 3 triệu người đến 5 triệu người. Khoảng thời gian Liên Xô sụp đổ, Liên Xô có 210 sư đoàn với một phần tư là các sư đoàn thiết giáp. Kho vũ khí hạt nhân Liên Xô có 27 ngàn đầu đạn nguyên tử trong đó 11 ngàn đầu đạn có tầm bắn xa đến tận nước Mỹ. Mỗi đầu đạn nguyên tử có thể tàn phá một thành phố Mỹ.
Bên ngoài hùng mạnh nhưng bên trong, Liên Xô là một cơ chế chính trị chứa đựng các mâu thuẫn nội tại dẫn đến thối rửa. Chủ nghĩa Marx-Lenin đề cao “Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng” nhưng thật sự từ Cách mạng CS tại Nga, Trung Cộng, Cu Ba, Bắc Hàn, Việt Nam v.v.. đều phát xuất từ một nhóm nhỏ cán bộ CS biết vận dụng các lý do lịch sử và bất đồng nhất thời trong xã hội để phát động chiến tranh và sau đó tiếp tục cai trị nhân dân bằng súng đạn, nhà tù, sân bắn. Người dân không có quyền chọn lựa. Mâu thuẫn đối kháng mang tính triệt tiêu nhau giữa chế độ độc tài toàn trị và quyền sống, quyền tự do chọn lựa của con người vì thế đã bắt đầu ngay khi cách mạng CS thành công và sâu sắc dần theo thời gian.
Như người viết đã có dịp phân tích bài Trung Cộng không đáng sợ, sự chuyển hóa tri thức của xã hội là nguồn lực chính thúc đẩy cách mạng dân chủ tại các quốc gia CS. Nguồn lực đó nhanh hay chậm tùy theo điều kiện mỗi nước nhưng là một tiến trình không thể bị ngăn chận bởi bất cứ một cơ chế độc tài nào. Những nguồn đối kháng từ bên trong các nước CS đã âm thầm lớn mạnh chỉ chờ cơ hội là bùng vỡ. Sức sống của đất nước cũng như của xã hội là một dòng chảy không bao giờ ngừng nghỉ, các thế lực cầm quyền độc tài chỉ là những khe đá, có thể làm chậm dòng thác văn minh nhưng không thể nào ngăn chận được.
Khi nhận thức con người được mở rộng sự sợ hãi sẽ giảm dần. Điều này thể hiện không chỉ ở người dân Liên Xô lúc đó mà cả các cấp lãnh đạo CS Liên Xô cũng không còn sợ các biện pháp chế tài của trung ương đảng. Chưa bao giờ trong lịch sử đảng CS Liên Xô có một ủy viên bộ chính trị từ chức. Không cần phải tìm hiểu cũng biết điều gì sẽ xảy ra cho Boris Yeltsin nếu ông ta từ chức trong thời kỳ Lenin, Stalin.
Yếu tố chính tác động vào sự sụp đổ của Liên Xô, hệ thống CS tại châu Âu và sẽ diễn ra tại Trung Cộng cũng như Việt Nam chính là nội lực phát xuất từ xã hội, kết quả của các phong trào xã hội và sự chuyển hóa không ngừng của xã hội. Các quốc gia CS còn lại như Trung Cộng, Việt Nam tìm mọi cách để ngăn chận sự phát triển tự nhiên của văn minh con người, cố tình che đậy, bưng bít thông tin nhưng chỉ làm chậm lại tiến trình cách mạng dân chủ một thời gian ngắn mà thôi. Cuộc chiến tranh xoi mòn từng mảnh nhỏ này đang diễn ra từng giờ, từng phút và phần thắng đang nghiêng dần về phía người dân.
Thập niên 1970 Liên Xô có vẻ trong vị trí ổn định và có ảnh hưởng quốc tế nhất. Vị trí của Liên Xô lên cao tại Phi Châu, Trung Đông và Á Châu. Tuy nhiên sau thượng đỉnh Vladivostok giữa Leonid Brezhnev và Tổng thống Mỹ Gerald Ford tình hình bắt đầu đổi khác. Nền kinh tế Liên Xô suy sụp dần vì hơn 30%, nhiều phân tích cho rằng hơn một nửa, ngân sách quốc gia phải đổ vào cuộc chạy đua vũ trang với Mỹ. Giống như đòn kinh tế Mỹ đang áp dụng hiện nay đối với Vladimir Putin, thập niên 1980, Mỹ cũng thỏa thuận với Saudi Arabia để giữ giá dầu thấp nhằm đánh vào nền kinh tế sống nhờ xuất cảng dầu khí của Liên Xô.
Gorbachev kế thừa một “sự nghiệp cách mạng” nhưng trong thực tế một gánh nặng của chủ nghĩa độc tài toàn trị kéo dài từ 1917 cho đến tháng 3 năm 1985, thời gian ông được chọn làm tổng bí thư đảng. Cơ chế chính trị trung ương không giữ được các cộng hòa địa phương. Trước Giáng Sinh 1991 vài ngày, 11 nước cộng hòa Sô Viết gồm Ukraine, Liên Bang Nga, Belarus, Armenia, Azerbaijan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Moldova, Turkmenistan, Tajikistan và Uzbekistan tuyên bố họ không còn là những tiểu quốc trong liên bang Sô Viết. Bốn nước Estonia, Lithuania, Latvia, Georgia chọn nghiêng hẳn về phía Tây thay vì theo Nga.
Chế độ CS, một chế độ đi ngược dòng phát triển văn minh nhân loại và quyền con người như Mikhail Sergeyevich Gorbachev xác nhận trong diễn văn từ chức “hệ thống toàn trị đã ngăn chận một quốc gia để trở nên giàu có và thịnh vượng, hệ thống đó phải bị giải thể.” Điều đó đã xảy ra tại Nga, Đông Âu, Phi Châu và đương nhiên sẽ xảy ra tại Trung Cộng và Việt Nam. Cách mạng dân chủ là một tiến trình không thể nào đảo ngược. Các lãnh đạo CSVN chỉ có một trong hai chọn lựa, hoặc như Mikhail Gorbachev hoặc như bị lật đổ như Nicolae Ceausescu, Erich Honecker chứ không có chọn lựa thứ ba nào.
Xã hội dân sự kêu gọi ‘quốc tang cho người chết vì lũ’

Bottom of Form
Anhcalu
Hình kêu gọi tổ chức quốc tang người chết vì lũ lụt miền Trung trên mạng xã hội
Một số tố chức xã hội dân sự đang phát đi lời kêu gọi trên mạng xã hội về việc tưởng niệm, tổ chức quốc tang cho khoảng 235 người chết vì lũ lụt miền Trung trong năm 2016.
Truyền thông Việt Nam dẫn nguồn Ban Chỉ đạo trung ương về Phòng chống thiên tai cho biết từ đầu năm 2016 đến nay mưa lũ khiến 235 người chết và mất tích, ước tính tổng thiệt hại trên 37.650 tỷ đồng.
Hôm 20/12, đại diện một số tổ chức xã hội dân sự đồng loạt phát đi lời kêu gọi tưởng niệm và đề xuất tổ chức quốc tang cho những người thiệt mạng do lũ lụt tại miền Trung vào các ngày 26 – 28/12.
Cùng ngày, trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, nhà hoạt động Dương Đại Triều Lâm, thành viên Mạng lưới Blogger Việt Nam, nói: “Tôi nghĩ việc để tang người chết vì bão lụt miền Trung thể hiện sự đồng cảm và thương xót của cộng đồng mạng xã hội đối với những mất mất về người và tài sản của bà con nơi đây.”
“Như thế thì sự chung tay, góp sức giúp đỡ bà con vượt qua khó khăn cũng nhiều hơn.”
“Và qua đó cũng đánh động chính quyền nên có sự quan tâm lớn hơn với những nạn nhân thiên tai tại miền Trung.”
“Mà để tang như thế thì cũng giúp nhiều người quan tâm, tìm hiểu hơn về nguyên nhân gây ra nạn lũ lụt.”
Trong đó có nguyên nhân từ thủy điện mà nói đúng ra là nhân tai chứ không phải thiên tai.”
“Rồi thì người ta sẽ thấy sự lãng phí của chính quyền trong các dự án trị giá hàng ngàn tỷ đồng mang tính tuyên truyền như tượng đài, quảng trường tại các địa phương mà người dân còn khốn khổ vì lũ lụt”.
‘Nhạy cảm’
Hôm 20/12, từ Hà Nội, Giáo sư Nguyễn Đình Cống trao đổi với BBC: “Tôi không tán thành lời kêu gọi làm quốc tang cho người chết vì lũ lụt.”
“Ở nước ngoài, người ta chỉ tổ chức quốc tang khi có thiên tai hoặc tai nạn chết nhiều người cùng ở một địa điểm chứ không tại các địa phương như lũ lụt miền Trung.”
“Vả lại, không nên vì cái sai lỡ tổ chức quốc tang tại Việt Nam cho Fidel Castro mà lại làm thêm những cái sai khác.”
“Còn nếu nói làm quốc tang để đánh động sự chú ý đến những nhà máy thủy điện gây chết người thì nên tổ chức biểu tình phản đối sự tồn tại của những công trình này, bắt họ phải đóng cửa, đền bù cho nạn nhân”.
Việt Nam tổ chức quốc tang cho Fidel
Hôm 20/12, một nhà báo đang công tác ở Hà Nội đề nghị không nêu danh tính, nói với BBC: “Nếu sự kiện tưởng niệm người dân chết vì lũ lụt do một tổ chức đoàn thể chính trị xã hội chính thống nào đó phát động thì tôi sẽ ủng hộ ngay.”
“Nhưng tôi chỉ thấy những nhân vật liên quan tới dân chủ lên tiếng về vụ này thì tôi xem như không đáng quan tâm.”
“Hơn nữa, lời kêu gọi đấy rất nhạy cảm.”
Nhà báo này từ chối giải thích thế nào là ‘nhạy cảm’.
Trước đó, giới chức Việt Nam gây tranh cãi khi thông báo tổ chức quốc tang cho lãnh tụ Cuba Fidel Castro vào hôm 4/12.
Vào ngày hôm ấy, trong khi nhiều công sở treo cờ rủ thì đại diện các tổ chức dân sự đăng hình họ rủ nhau đi uống bia ‘mừng quốc tang Castro’ trên mạng xã hội.
Hai người phụ nữ đều xuất thân từ tầng lớp nghèo khổ nhưng có hai số phận và hai ngả rẻ khác nhau.Một ,đang tận hưởng giàu sang,vinh hoa ; một đang đối diện với bốn bức tường nhà lao,với những lần tuyệt thực và một ý chí kiên cường bất khuất.
Sẽ khập khiễng nếu buộc người này giống như người kia.Bởi họ đều có quyền chọn cho mình một con đường đi.
Nhưng sẽ không hề khập khiễng chút nào nếu so sánh số lượng người bấm like trên mỗi bức hình của Ngọc Trinh và số lượng người bấm like trên mỗi STT về Cấn Thị Thêu.
36 K so với vài trăm.Trong lúc 14 trạm thủy điện xả lũ làm 235 người chết và hàng trăm ngàn người màn trời chiếu đất.
Trong khi đó sở dĩ Myanma trở thành một nước dân chủ là vì họ đã gạt bỏ ra ngoài hình ảnh của các người mẫu ,chân dài mà chỉ quan tâm đến hình ảnh của Aung San Suu Kyi, chiêm nghiệm sâu sắc từng câu nói của bà.Dân trí Việt Nam có lẻ thua xa Myanma ?
Xem ra thì đa số người Việt Nam vẫn ôm ấp một hoài vọng trở thành một Ngọc Trinh thứ hai hơn là một phiên bản CẤN THỊ THÊU.
Đó chính là nguyên nhân khiến Việt Nam vẫn luôn nghèo đói lạc hậu,bị các dân tộc khác bỏ xa. Có lẻ họ đã thua ngay chính từ trong suy nghĩ.
(Duong Hoai Linh)



Hiện nay 10 đơn vị tiền tệ có giá trị thê thảm nhất thế giới là:
1. Iranian Rial (1 USD = 29739.00 IRR)
2. Vietnam Dong (1 USD = 22065.00 VND)
3. São Tomé & Príncipe Dobra (1 USD = 21963.50 STD)
4. Belarusian Ruble (1 USD = 15994.50 BYR)
5. Indonesian Rupiah (1 USD = 13732.50 IDR)
6. Lao Kip (1 USD = 8196.95 LAK)
7. Guinean Franc (1 USD = 7242.85 GNF)
8. Paraguayan Guarani (1 USD = 5212.50 PYG)
9. Sierra Leonean Leone ( 1 USD = 4640.00 SLL)
10. Cambodia Riel (1 USD = 4106.90 KHR)
– Iran Rial đứng đầu bảng tệ hại vì Iran bị cấm vận gần như toàn cầu do tinh luyện uranium. Bởi thế, kinh tế và tiền tệ của Iran bị rớt mạnh trong vài năm gần đây.
– Việt Nam, trái lại hoàn toàn không bị cấm vận mà còn là một trong những quốc gia nhận viện trợ nhân đạo và số tiền vay nhẹ lãi cao nhất châu Á và là một trong 20 quốc gia nhận tiền viện trợ không hoàn trả + kiều hối cao nhất thế giới. Việt Nam được Hoa Kỳ tháo bỏ cấm vận từ 1994 (ngoài trừ cấm vận mua bán vũ khí), có nghĩa là không còn cấm vận đã 21 năm qua.
– Cuối bảng là Campuchia. Tiền Riel của Campuchia có giá trị hơn Việt Nam đồng 5 lần.
Nên biết rằng, hối xuất chính thức đầu năm 1975 ở miền Nam là: 1 USD = 700 đồng bạc VNCH. Trong khi đó, 1 đồng bạc cụ Hồ = 500 đồng bạc VNCH, điều này có nghĩa 1 USD tròm trèm bằng 1.5 đồng bạc cụ Hồ thời đó.
Cho đến nay, hối xuất chính thức: 1 USD = 22065.00 VND. Có nghĩa từ giá trị 1.5 rớt xuống 22065.00 VND tương đương với bị rớt 14710 lần.
(Hoàng Ngọc Diêu)
Lũ lụt nhấn chìm nhà dân ở miền Trung trong biển nước. Nguồn: internet
Lũ lụt xảy ra trên diện rộng và quá lớn như vừa rồi phần nhiều do chặt phá rừng bừa bãi, nên không còn rừng đầu nguồn để có thể chống lũ khi vào mùa nước lớn. Hàng loạt thuỷ điện lại xả cùng lúc nên miền Trung chìm trong biển nước.
Biển bị đầu độc một cả một vùng trải dài gần 300km cũng vì chúng ta mải mê đầu tư hay thu hút đầu tư và chấp thuận những dự án mà đánh đổi môi sinh, không tính đến sự an toàn cũng như tính bền vững hay bảo vệ môi trường cho cuộc sống của chính mình. Nước hồ, sông, kênh, rạch chúng ta cũng cạn và lâm vào cảnh hạn hán một vùng rộng lớn mà rồi không có cách nào đối phó. Nhiều nơi nguồn nước ô nhiễm nặng nề gây chết hàng loạt thuỷ sản trên khắp cả nước thời gian qua. Không khí cũng độc hại không kém bởi khói bụi, do các ống khói nhà máy công nghiệp, do những khí thải dân sinh. Chúng ta được đánh giá là quốc gia có không khí ô nhiễm độc hại nhất thế giới.
Chúng ta không phải chịu những cảnh khắc nghiệt kiểu các sự kiện bất thường ngoài tầm kiểm soát như sóng thần, động đất giống như Nhật Bản, Philippines hay Nepal, nhưng có lẽ những hậu quả mà chúng ta phải gánh chịu liên tiếp thời gian qua bởi các biến động thiên nhiên như xâm lấn ngập mặn, hạn hán, lũ lụt càn quét chắc chắn rằng không thể nào thiếu trách nhiệm của con người trong việc tàn sát rừng để lấy gỗ để tìm kiếm lợi ích hay duy trì những dự án đầy rủi ro và với sức tàn phá môi trường một cách khủng khiếp.
Thiên nhiên ưu đãi chúng ta quá nhiều, nhưng chúng ta lại ỷ lại mà tàn phá và hủy hoại nó chỉ để đáp ứng và thoả mãn nhu cầu tức thì nhưng đầy tính tham lam một cách vô hạn định của mình. Nhưng thật đau đớn thay, hầu hết những hậu quả kinh hoàng của nó thì phần lớn là nhân dân trên những vùng đất khốn khổ ấy lại phải gánh chịu.
Theo thống kê, 235 người đã chết, thiệt hại tới 1.7 tỷ đô la được gây ra bởi cơn lũ vừa qua mà có một phần lũ chồng lên là bởi hàng loạt các thuỷ điện xả ra cùng lúc.
Chưa bao giờ thiên nhiên lại dữ dội và khắc nghiệt đến thế, như lúc này, nhất là tại dải đất miền Trung đầy khổ hạnh và nghèo khó quanh năm.
Sự đau khổ và bất hạnh bao giờ sẽ dừng lại, trên mảnh đấy này? Bàn tay con người tham lam và độc ác, bao giờ biết run sợ?


Phan Thị Hồng added 2 new photos.
“Người Việt chắc bận rộn lắm nhỉ?”
Đó là câu hỏi của anh chàng phượt thủ người Mỹ tên Danie. Anh đã đi dọc Việt Nam suốt 2 tháng qua và rút ra kết luận nửa thật lòng, nửa mỉa mai, chua chát này.
Ảnh 1: Người Việt vì quá bận rộn nên phải cố chen lấn, giành từng mét đường khi giao thông.
Ảnh 2: Năm 2011, trong trận động đất khủng khiếp, người dân Nhật chịu thiệt hại nặng nề và thiếu lương thực. Họ vẫn nghiêm chỉnh xếp hàng nhận cứu trợ. Người ở gần nhường cho người ở xa nhận trước, mình chịu thiệt nhận sau.
Anh Danie nhận xét:
– “Vì tôi thấy cuộc sống của các bạn gấp gáp, con người luôn cố gắng chen lên phía trước trong mọi hoàn cảnh. Hẳn phải bận rộn lắm người ta mới tìm cách chen ngang khi mọi người đang xếp hàng ở sân bay.
– “Hẳn phải bận lắm người ta mới tìm mọi cách để vượt đèn đỏ, chen lên, luồn lách thoát khỏi đám đông bằng mọi giá. Chắc cuộc sống phải bận rộn vô cùng, người Việt mới thiếu kiên nhẫn trong mọi hoàn cảnh.
– “Thang máy mở cửa, tôi thấy nhiều người cố tràn vào trong khi người trong thang vẫn chưa đi ra ngoài. Chắc họ phải bận lắm.
– “Có lần tôi rút tiền ở cây ATM, có người chạy từ đâu tới chen lên trước mặt tôi. Chắc anh ta đang rất bận mới không để ý tôi đã xếp hàng ở đó từ trước.
– “Nhịp sống của các bạn gấp gáp đến chóng mặt. Tôi thấy taxi dừng giữa đường để đón và trả khách rồi lại vội vã phóng đi.
– “Tôi thấy nhiều xe chạy ngược chiều, chạy sang làn đối diện để thoát. Tôi nghĩ chắc họ phải bận rộn vô cùng”.
Mĩa mai thay! Theo cách nhìn của Daniel, người Nhật Bản, Hàn Quốc, Đức, Úc… quả là những người rỗi rãi, có nhiều quỹ thời gian để chờ đợi, …
Người Nhật Bạn: Chờ đợi tử thần!
Chắc không quan tâm đến sinh mạng, nên lúc gấp rút sơ tán vì động đất, người Nhật vẫn kiên nhẫn xếp hàng.
Chắc phải bình tỉnh lắm nên khi khẩn trương chạy tránh nạn động đất, người Nhật vẫn nghiêm chỉnh chấp hành luật lệ giao thông, xe sau nối đuôi xe trước, dù làn đối diện chẳng có xe nào cả.
Những nhận xét của Danie vừa châm biếm, vừa xót xa.
Thật mỉa mai cho nền giáo dục mất nhân cách tồi tệ – đánh mất bản chất cao quý của cả một dân tộc.
Nguồn: http://m.afamily.vn/nguoi-viet-chac-ban-ron-lam-nhi-cau-hoi
NGÔN NGỮ NGOẠI GIAO THỜI DONALD TRUMP.
Tên trộm muốn giữ thể diện, kẻ ti tiện, nhỏ nhen ưa rao giảng lời đạo đức!
Trung cộng gặp phải Donald Trump thì lộ rõ nguyên hình loài ma quỉ ác độc đội lốt người
Anh Tập cầm nhầm tàu ngầm không người lái của Mỹ. Chính phủ của anh Obama còn chưa biết làm sao, thì anh Trump lên Twitter mắng một tiếng: “Mày là thằng ăn trộm”.
Ngay sau đó thằng ăn trộm Tập ói tang vật ra xin trả laị. Chẳng cần đếch chi công hàm, công hiếc cho tốn kém thời giờ và tiền của.
Ngôn ngữ ngoại giao cũng thay đổi theo thời đại của mạng xã hội. Nhất là đối với các nhà nước cộng sản, cần bớt đi những lời lẽ lịch sự kiểu cách ngoại giao. Nói thẳng bản chất của vấn đề, không cần lịch sự với bọn đê tiện, xảo trá, không cần tử tế với loài ma quỷ.
Đúng là làm ngoại giao kiểu Trump
Chỉ có sự thẳng thừng như Trump để nói chuyện với các nhà nước cộng sản mà thôi!
PS: Bạn Mạnh Kim vừa mới cập nhật, mới đây nhất Trump lại lên Twitter mắng thằng ăn trộm: Mày cứ giữ đồ ăn trộm mà tế cha mày đi, tao éo cần.
(Mượn ý Fb: Huỳnh Ngọc Chênh).
—–
Ngày 317/12, Trung Quốc đã lên tiếng trả lại tàu ngầm không người lái (UUV) cho Mỹ chỉ vài giờ sau khi ông Trump gọi hành động này là “ăn cắp” và “chưa từng có tiền lệ”.
(CNN)

ĐÊM NOEL ĐẸP NHẤT TRONG ĐỜI
Cậu bé Antonie giật mình thức giấc. Đêm nay là đêm Noel, bố mẹ đã đi dự lễ nửa đêm. Cậu vừa qua một cơn bệnh ngặt nghèo, còn yếu nên phải ở nhà một mình. Như lời kể của mẹ, cậu tin rằng lát nữa đây, khi bố mẹ trở về, các đôi giầy của cả nhà để trước lò sưởi sẽ đầy ắp quà của Chúa Giêsu Hài Đồng…..
Đang miên man suy nghĩ, Antonie chợt nghe có tiếng động rất khẽ, cậu tự nhủ: “Ồ đúng là bé Giêsu đang tới nhà mình rồi đó, ta phải bất ngờ hù cho Chúa giật mình mới được!” Cậu rón rén ra khỏi giường, xuống thang gác, nhè nhẹ bước về gian bếp, nơi vừa phát ra tiếng động. Cửa bếp chỉ hé mở, lọt ra ngoài một tia sáng yếu ớt. Cậu bé dừng lại, hồi hộp suy nghĩ: “Chà, chắc bé Giêsu không tìm ra cái nút mở điện nên đành dùng nến đây”.
Và, cậu đã bất ngờ kéo mạnh tay nắm cửa, chút ánh sáng leo lét liền tắt ngúm và có tiếng lịch kịch đụng chạm vội vàng. Antonie lại nghĩ: “Chắc Chúa Giêsu bị giật mình rồi đây, ta phải mau trấn an Chúa kẻo tội nghiệp!” Cậu vội bấm nút mở đèn, ánh sáng như chói lòa gian bếp. Ô kìa, chỉ có một người đàn ông đứng tuổi, ăn mặc khá nghèo nàn, đang lúng túng trước lò sưởi, một tay cầm một hộp kẹo chocolate khá to, một tay cầm lấy miệng một cái bao tải căng phồng, phía dưới là đôi giầy của Antonie. Cậu bé nheo mắt nhìn người khách lạ: “Ủa, cháu cứ ngỡ là bé Giêsu cơ…”
Tên trộm hoàn toàn bị bất ngờ, giờ đây lại càng ngẩn ngơ trước vẻ hồn nhiên của em bé chủ nhà. Đây là lần đầu tiên trong đời, một em nhỏ đã nói chuyện với hắn mà không có một chút gì là sợ hãi kinh khiếp. Antonie lại chợt toét miệng cười reo lên: “A, cháu biết rồi, bác chính là thánh Giuse. Chắc bé Giêsu lại cũng bị bịnh như cháu nên bác mới phải đi tặng quà thay, phải không bác? Tội nghiệp bé Giêsu, mà cũng tội nghiệp cho bác phải vất vả nữa…. Ấy, cháu phải xin lỗi bác mới đúng, bác đang làm việc mà cháu lại đi tò mò xuống đây…. Nhưng mà, ô kìa, hộp kẹo đẹp quá, chắc bác vừa mới lấy ra và định đặt lên đôi giầy cháu phải không ạ? Ôi, thích quá!”
Tên trộm càng lúc càng ngỡ ngàng, không kịp phản ứng gì sau một loạt câu nói huyên thuyên dễ thương của chú bé ngây thơ. Antonie lại tíu tít hỏi:“Bác Giuse ơi, thế Chúa Giêsu Hài Đồng gởi cái gì cho bố mẹ cháu vậy?” Người đàn ông mỉm cười tự diễu thầm trong bụng: “Ái chà, cái thằng ăn trộm chuyên nghiệp như mình mà lại là ông thánh Giuse cơ đấy! Không thể tưởng tượng nổi! Đành vậy, không thì lộ tẩy mất….”
Thế là ông ta có vẻ thích thú với vai kịch bất ngờ hi hữu này, bèn giả vờ tự nhiên đặt hộp kẹo lên trên đôi giầy của cậu bé, rồi cho tay vào lục trong chiếc bao tải chứa những món đồ mới vơ vét được, rút ra một chiếc ống điếu mới toanh và một chiếc khăn quàng bằng len thật đẹp. Bé Antonie thấy thế thì reo lên: “A, cái này của bố, còn cái này thì dành cho mẹ! Bác ơi, bác tốt bụng quá đi mất, mà sao bác lại biết đúng ý muốn của mọi người thế? Mẹ cháu có kể với cháu là bố cháu rất mong có được cái ống điếu mới từ hôm lỡ tay làm rơi vỡ mất, mẹ cháu định mua tặng nhưng lại bảo chưa tiện dịp đi phố. Còn bố cháu thì đã định tặng mẹ cháu cái khăn từ khi trời mới chuyển lạnh nhưng lại chưa kịp lãnh lương. Cháu biết rõ lắm, bởi vì chuyện gì bố mẹ cháu cũng đều tâm sự riêng với cháu cả. Còn bác, làm sao mà bác lại có thể đoán trúng tất cả như vậy nhỉ?”
Tên trộm nghe đến đây thì dường như hơi chần chừ một chút, rồi liền quyết định rút ra khỏi bao tải thêm một gói xúc xích thật ngon. Antonie há hốc miệng, em không thể nào tin rằng gia đình không mấy khá giả của em lại có thể hưởng được một niềm vui lớn như thế trong đêm Giáng Sinh năm nay. Bé chạy ào đến, ôm chầm đôi tay gân guốc xạm đen của tên ăn trộm mà em vẫn ngỡ là bác Giuse hiền hậu. Một cảm giác thật kỳ diệu! Đôi lòng bàn tay nhỏ bé ấm áp làm cho ông ta chợt nhớ lại những chiếc còng bằng thép lạnh ngắt của cảnh sát đã từng hơn một lần xiết vào cổ tay ông.
Nhưng rồi, gương mặt ông ta chợt đanh lại khi quay về với thực tại: “Phải chuồn ngay thôi, bố mẹ thằng bé sắp về rồi!” Thế là ông vùng mạnh khỏi đôi tay chú bé, vội vàng định bỏ đi. Antonie ngẩn ngơ một thoáng, rôi chạy vội theo, níu lấy chiếc áo khoác cũ mèm của ông ta: “Bác ơi, cháu chưa kịp cám ơn bác cơ mà. Cháu biết bác phải vội đi trao quà cho nhiều nhà khác nữa, nhưng bác nán lại một tí đã nào. Thứ nhất, bác cho cháu gởi lời cám ơn Bé Giêsu, Chúa Hài Đồng của cháu nhé. Thứ hai, lễ Noel sang năm, bác lại nhớ ghé thăm nhà cháu nữa này! Và cuối cùng là, cháu…. cháu không để cho bác đi ngay bây giờ nếu như bác không chịu cho cháu hôn bác một cái.”
Tên trộm lại một lần nữa xúc động đến rưng rưng. Ông ta rụt rè cúi xuống bồng em bé lên và đưa một bên má gầy còm hốc hác của mình cho bé. Nụ hôn thơ ngây làm cho những giọt lệ chợt trào ra, lăn dài trên khuôn mặt hằn sâu những tủi nhục và đen tối. Thật êm dịu, thật hạnh phúc xiết bao khi còn có được một chút thương yêu tin cậy trong cuộc đời. Ông ta chỉ muốn khoảnh khắc này cứ kéo dài mãi mãi.
Bé Antonie chợt bật cười phá vỡ giây phút đang lắng đọng: “A, cháu bắt đền bác Giuse đấy, bác chả chịu cạo râu, râu bác cứng ơi là cứng, nó đâm cả vào mặt cháu đây này!” Người đàn ông lúng túng vội dỗ dành em bé: “Bác xin lỗi cháu vậy. Thôi khuya lắm rồi, chắc bố mẹ cháu cũng sắp về, bác phải đi ngay thôi cháu ạ!”
Ngoảnh nhìn lần cuối chiếc lò sưởi lại đầy ắp quà Noel như lúc mới tới, kẻ khốn khó vắt chiếc bao tải rỗng không lên một bên vai gầy còm, mỉm cười với chú bé hạnh phúc, rồi nhanh tay mở cửa sau, mất dạng vào trong đêm tối lạnh giá.
Xa xa, nơi ngôi nhà thờ nhỏ bé rực sáng, chuông đã reo vui báo hiệu Thánh Lễ Nửa Đêm Vọng Giáng Sinh vừa tan. Chắc hẳn đêm Noel năm nay, có ít nhất một người sẽ phải nhịn đói, nhưng ông ta lại đã có được điều qúy giá vô ngần, đó là một niềm tin thơ ngây của trẻ nhỏ có sức cải hóa cả một cuộc đời tội lỗi vô vọng…
Sưu tầm
*************************
Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, xin dạy con biết rằng một niềm tin sắt son vào Thiên Chúa nhân lành, một niềm tin vô điều kiện không thành kiến vào tha nhân có thể cảm hóa những tâm hồn chai sạn. Xin sử dụng con như một khí cụ bình an để chạm đến những tâm hồn bất hạnh trong mùa Giáng Sinh giá buốt này. Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, ước chi tâm hồn con được trở nên như một em bé ngây thơ, hiền lành, phó thác, tin người, tin đời…. và tin vào Thiên Chúa. Amen.
Langthangchieutim gởi.
Đằng nào có lý hơn?
Có Thiên Chúa không? Đây là câu hỏi mà mọi người cần tìm hiểu;bởi có câu trả lời chính xác của câu hỏi này, sẽ giúp chúng ta có quyết định khôn ngoan để chọn hướng đi đúng.
Có Thiên Chúa thì chúng ta không thể trốn tránh Ngài, và sẽ phải trả lời với Ngài về những suy nghĩ, lời nói, việc làm và cả những việc chúng ta phải làm, mà đã không làm khi còn sống ở trần gian.
Có Thiên Chúa thì không ai có thế giết Ngài, dù họ có triệu quyển sach, ngàn đài phat thanh, vạn tờ báo tuyên truyền dối trá, thìNgài vẫn hiện hữu.
Có Thiên Chúa thi` chúng ta phải trở về với Ngài, là trở về với cội nguồn, về với hạnh phúc vĩnh cửu, vì ngoài Thiên Chúa thì không có gì thỏa mãn được khát vọng vô biên trong tâm hồn của mỗi chúng ta.
Thánh Augustine: “Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế tâm hồn con bất an mãi cho đến khi được trở về an nghỉ trong Chúa.”
Những quôc gia theo tà thuyết cộng sản vô thần, và những tôn giáo chối bỏ Đấng Tạo Hóa đã cố gắng chứng minh không có Thiên Chúa, nhưng mọi cố gắng của họ đều thất bại. Ngược lại, nhiềubác học đã chứng minh có Thiên Chúa thật tuyệt vời, mà tôi đã phổ biến qua các bài trước đây.
Theo thống kê của A. Eynieu và của Bác sĩ Dennert cho biết, có đến92% nhà bác học trên thế giới tin có Thiên Chuá, và hầu hết nhân loại đều tin có Đấng Thiêng Liêng, có Đấng Sáng Tạo. Số người vô thần thật sự thì không nhiều.
Phật giáo chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa là Đấng sáng tạo vũ trụ, mọi loài mọi vật. Nếu bạn theo tôn giáo này, bạn nghĩ sao về những câu hỏi sau đây:
Vậy, những ai còn trí khôn hãy cùng tôi, hợp ý với Thánh Vịnh 19, mà chúc tụng Thiên Chúa lời này: “Trời cao bày tỏ vinh quangThiên Chúa; không trung tuyên xưng kỳ công Ngài.“
NguyễnHyVọng
TẠI SAO NGƯỜI NHẬT KHÔNG THÙ NGƯỜI MỸ DÙ BỊ NÉM BOM NGUYÊN TỬ ?
From facebook Hằng Lê
Tướng quân MacArthur là danh tướng của Mỹ. Năm 1942 tướng MacArthur dẫn đại quân tấn công Nhật Bản, từ Melbourne xa xôi đánh thẳng đến Tokyo, hai tay nhuộm máu người Nhật Bản. Vì thế vô số người Nhật muốn xé xác ông, còn ông cũng hận người Nhật thấu xương.
Vào 2:5 chiều ngày 30/8/1945, tướng quân MacArthur ra khỏi máy bay và đặt chân lên đất Nhật Bản, cho dù ông không mặc quân phục và không mang theo vũ khí gì, cũng không có người tổ chức duyệt binh, nhưng thời khắc đó với 70 triệu người Nhật Bản là thời khắc kinh hoàng mà họ không thể quên, trong tâm trí mọi người chỉ còn nghĩ được hai chữ “mất nước, mất nước, mất nước”.
Nhưng tướng MacArthur mang quân đến vì hòa bình, chính nghĩa, khoan dung và dân chủ
Nền kinh tế Nhật Bản sau chiến tranh rơi vào suy sụp, đến bữa trưa của Nghị viên Quốc hội cũng phải ăn cơm trộn khoai lang, cái đói bao phủ khắp nơi. Lúc này tướng MacArthur gây áp lực khiến chính phủ Mỹ phải hỗ trợ Nhật Bản, thế là 3,5 triệu tấn lương thực và 2 tỷ Mỹ kim tức tốc được gửi đến Nhật. Ông không chỉ giữ lại chính quyền Nhật Bản mà còn gây áp lực đặc xá cho Thiên hoàng, thậm chí còn quan tâm đến số phận của từng người lính bình thường của Nhật Bản, giúp họ tìm con đường sống.
Theo sau ông, 400 nghìn lính Mỹ đã dùng thiện ý và tinh thần hy sinh để chinh phục người Nhật Bản. Khi đó các con hẻm trong thành phố của Nhật vô cùng chật hẹp, một người Nhật bình thường và một người lính Mỹ to lớn nếu gặp nhau cũng khó khăn để đi qua nhau, vì thế thường thì người lính Mỹ sẽ nép vào một bên cho người Nhật đi trước. Người Nhật không thể không băn khoăn tự hỏi, nếu họ là kẻ chiến thắng thì họ có làm được như thế không?
Sau khi tướng MacArthur đến Nhật Bản, ông lập tức ra lệnh thả tội phạm chính trị, trong đó có rất nhiều Đảng viên Cộng sản, bị chính phủ Nhật bắt giam trong thời gian dài.
Ngày 25/8/1945, quân chiếm đóng của Mỹ cho phép phụ nữ Nhật xây dựng tổ chức của mình; tháng 9 cho công bố Dự luật về vai trò trong bầu cử của phụ nữ Nhật Bản; đây là lần đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, phụ nữ được quyền bầu cử và ứng cử.
Lúc này tại Tokyo có cô kỹ nữ được chọn làm Nghị viên thành phố, nhiều thị dân cảm thấy khó chấp nhận. Nhưng tướng MacArthur nói, mọi người chọn cô ấy để cô ấy phục vụ mọi người, đừng vì cô ấy là kỹ nữ mà kỳ thị bỏ qua. Khi đó mọi người chợt hiểu người được chọn trong bầu cử dân chủ phải là người thay mặt cho mình để vì mình làm việc, thế là sau khi hiểu ý nghĩa vấn đề họ đã quyết định chọn bầu cô kỹ nữ kia. Kết quả sau khi trở thành Nghị viên, cô đã không phụ lòng mọi người, làm được rất nhiều việc có ý nghĩa.
Vào ngày 11/10/1945, tướng MacArthur tuyên bố bỏ lệnh cấm báo chí, Nhật Bản được tự do thông tin và tự do ngôn luận. Ngày 22/12/1945, ban hành “Luật Công hội”, giai cấp công nhân thực sự có tổ chức của mình. Ngày 1/9/1947, ban hành “Luật lao động”, quy định tiêu chuẩn tiền lương thấp nhất và thời gian làm việc nhiều nhất.
Ngày 3/2/1946, tướng MacArthur chỉ thị cho Tổng bộ Liên minh khởi thảo Hiến pháp Nhật Bản. Chính phủ Mỹ truyền đạt nguyên tắc chế định Hiến pháp cho tướng MacArthur là: Chính phủ Nhật Bản phải do toàn thể cử tri trao quyền và phải chịu trách nhiệm trước toàn thể cử tri. Ngày 3/5, quân liên minh giao ra Bản dự thảo Hiến pháp. Ngày 7/10, Quốc hội Nhật Bản thông qua Hiến pháp. Ngày 3/11, Thiên hoàng cho ban hành Tân Hiến pháp.
Đây là Hiến pháp do kẻ chiếm lĩnh chiếu theo giá trị quan phương Tây áp đặt cho kẻ bị chiếm lĩnh, nhưng lại là bản Hiến pháp đem lại phúc lợi cho nhân dân quốc gia bị chiếm lĩnh. Bản Hiến pháp nhấn mạnh quyền lợi công dân cơ bản của người Nhật Bản, xem những quyền lợi này là “quyền lợi trời cho mà không ai có quyền tước đoạt”. Những quyền này bao gồm: quyền bầu cử, lập hội và tự do xuất bản; không có sự tham gia của luật sư thì không được định tội; bảo đảm quyền cư trú an toàn cho dân, cấm kiểm tra và tước đoạt vô cớ.
Ngày 21/10/1946, Quốc hội đã thông qua “Luật Cải cách ruộng đất”.
Chính phủ Nhật Bản mua lại đất đai dư thừa của giới địa chủ, sau đó bán đất lại cho nông dân không có ruộng. Với những nông dân không có tiền mua đất, chính phủ cho vay thế chấp. Tất cả diễn ra không đổ một giọt máu, một mạng người, những người nông dân ai nấy đều có được một phần đất cho mình.
Ngày 31/3/1947, ban hành “Luật Giáo dục”. Theo đó mục tiêu hàng đầu của giáo dục là “tôn trọng sự tôn nghiêm của cá nhân, bồi dưỡng cho mọi người có lòng nhiệt huyết vì chân lý và hòa bình”.
Trường học của Nhật Bản không còn nằm trong kiểm soát của chính phủ mà là do Ủy ban Giáo dục do dân chúng bầu ra quản lý. Việc chọn lựa nhà giáo, sách học và bố trí chương trình hoàn toàn do người dân tự chủ quyết định.
Năm 1952, quân chiếm đóng Mỹ trả chính quyền về cho chính phủ Nhật Bản. Sau 7 năm chiếm đóng, người Mỹ cải cách triệt để con đường phát triển của Nhật Bản, chủ quyền quốc gia từ trong tay kẻ chuyên chế trao lại cho người dân Nhật Bản, những tiền đề tiến bộ đầu tiên này giúp người Nhật bước vào con đường thênh thang.
Hơn 10 năm sau, Nhật Bản trở thành cường quốc kinh tế thứ hai thế giới, quốc gia phồn vinh, nhân dân giàu có, xã hội ổn định. Có thể nói thêm một câu, quân chiếm đóng của Mỹ không chi một đồng tiền thuế nào của người dân Nhật Bản, chi phí của họ là lấy từ tiền thuế của người Mỹ.
Trong thời gian chiếm đóng Nhật Bản, rất nhiều người Nhật đã viết thư gửi cho tướng MacArthur yêu cầu biếu tặng điền sản của họ. Nhiều phụ nữ can đảm viết thư đề nghị được hiến thân cho tướng MacArthur, nhiều người còn viết “xin hãy cho tôi được sinh con cho ngài.”
Sáng ngày 16/4/1951, Tổng thống Truman phế bỏ chức Tư lệnh quân chiếm đóng, tướng MacArthur phải về nước, sự kiện này chỉ thông báo cho một số quan chức cấp cao người Nhật biết. Nhưng khi ông ngồi lên ô tô thì mới phát hiện, từ nơi dinh phủ ông ở đến Sân bay Atsugi có hàng triệu người Nhật Bản đứng hai bên đường đưa tiễn. Đoàn xe hộ tống đi qua những hàng nước mắt cùng tiếng hô vang dậy của người dân Nhật Bản: Đại nguyên soái!
Người dân Tokyo đứng chật kín hai bên đường, ai nấy rơi nước mắt, họ như hoàn toàn quên chuyện tướng MacArthur là kẻ chiếm đóng đã đánh bại quân đội quốc gia mình. Thiên hoàng đích thân đến sứ quán đưa tiễn MacArthur, tướng MacArthur cũng xúc động rơi nước mắt, nắm chặt hai tay của Thiên hoàng Hirohito.
Khi đưa tiễn, Thủ tướng Yoshida của Nhật nói: “Tướng quân MacArthur đã cứu chúng tôi ra khỏi nỗi sợ hãi, lo lắng và hỗn loạn của thất bại để đưa chúng tôi vào con đường mới do ông xây dựng, chính Ngài đã gieo trồng hạt giống dân chủ trên đất nước chúng tôi để chúng tôi bước trên con đường hòa bình, tình cảm ly biệt mà nhân dân chúng tôi dành cho Ngài không lời nào có thể diễn tả được.”
Uy lực quả bom nguyên tử của Mỹ tàn phá thành phố và nền kinh tế của Nhật Bản, nhưng về phương diện tinh thần, nước Mỹ đã hoàn toàn chinh phục được người Nhật Bản.
httpv://www.youtube.com/watch?v=EhzCuL4g1Jw
Why Doesn’t Japan Hate The US?
S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

tuongnangtien
L.T.Đ: Tôi cùng vài đồng nghiệp (Phạm Trần, Ngô Nhân Dụng, Kami, Bùi Thanh Hiếu …) vừa bị Báo Nhân Dân – số ra ngày 2 tháng 12 năm 2016 –hài tội là “… xuyên tạc, vu cáo, vu khống, dựng chuyện … để gieo rắc thông tin bịa đặt, từng bước gây mơ hồ, hoang mang, làm xói mòn niềm tin vào Đảng, Nhà nước Việt Nam.”
Những lời cáo buộc nặng nề vừa nêu khiến tôi vô cùng lo sợ. Bị cơ quan ngôn luận chính thức của một quốc gia tầm cỡ (“kẻ thù nào cũng đánh thắng”) mang ra đấu tố mà không lo sao được? Phen này nếu không bị quần chúng nhân dân ném đá cho đến chết (e) cũng la lết, và hết đường về quê mẹ.
Đêm rồi sợ tới mất ngủ luôn. Nằm suy nghĩ miết tôi mới nhớ ra là mình có một bài viết cũ – trên trang talawas – lỡ ghi lại vài ba sự kiện về báo Nhân Dân, cùng với những lời bình hết sức vô tư và khách quan, chứ không hề “dựng chuyện” hay “vu cáo” gì (ai) ráo trọi. Xin phép được ghi lại trên diễn đàn này để rộng đường dư luận, cùng với hy vọng sẽ được công luận minh oan.
Trân Trọng
Tờ New York Times sống dở (chết dở) ở đâu không rõ, chớ ở xứ sở chúng em thì báo Nhân Dân vẫn in ấn đều đều, và vẫn sống hùng sống mạnh như thường lệ. Không tin cứ thử đọc qua “vài nét” về tờ Nhân Dân, qua http://www.nhandan.org.vn/vainet/ coi:
“Hiện nay, báo Nhân Dân có 5 ấn phẩm (sic) gồm: Nhân Dân hằng ngày, Nhân Dân cuối tuần, Nhân Dân hằng tháng, Nhân Dân điện tử tiếng Việt, Nhân Dân điện tử tiếng Anh.”
“Báo Nhân Dân hằng ngày có số phát hành khoảng 220.000 nghìn bản/ngày.”
“Báo Nhân Dân cuối tuần 16 trang ra hằng tuần khoảng 110.000 bản/kỳ. Báo Nhân Dân cuối tuần in tại Hà Nội, chuyển bằng máy bay, xe lửa, ô-tô đến các tỉnh, thành phố trong cả nước.”
“Báo Nhân Dân hằng tháng ra hằng tháng, mỗi số 48 trang, số lượng phát hành khoảng 130.000 bản/kỳ. Báo Nhân Dân hằng tháng in ở 2 nhà in: Nhà in báo Nhân Dân tại Hà Nội và Công ty in Tạp chí Cộng sản, được vận chuyển bằng máy bay, xe lửa, ô-tô đi các tỉnh, thành phố trong cả nước.”
“Trụ sở chính Bộ Biên tập báo Nhân Dân đóng tại: Nhà số 71, phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cơ quan thường trực tại TP Hồ Chí Minh, tại TP Đà Nẵng, tại TP Cần Thơ…”
“Ngày 21-8-1997, Thường vụ Bộ Chính trị T.Ư Đảng CS Việt Nam đã đồng ý cho phép báo Nhân Dân đặt cơ quan thường trú nước ngoài tại Paris (Pháp), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Bangkok (Thailand).”
“Báo Nhân Dân in tại 8 điểm in (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Định, Đác Lắc, Điện Biên), phát hành trên phạm vi toàn quốc và một số lượng nhất định được gửi ra nước ngoài.”
“Báo Nhân Dân phát hành theo cả hai kênh: Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam (VNPT) và hệ thống bán lẻ. Năm 1996 đạt 57,85 triệu tờ. Năm 2007 đạt 82,74 triệu tờ.”
Tờ báo bề thế và tầm vóc (tới) cỡ đó mà giáo sư Nguyễn Ngọc Lan, thuở sinh thời, trong một cuộc phỏng vấn dành cho RFI, dám biểu là thiên hạ không ai thèm đọc báo Nhân Dân. Họ chỉ dùng nó vào những việc gia dụng khác: “I was reminded of the time when there was a severe shortage of paper across the country. People literally lined up daily to buy the inexpensive Nhan Dan for household uses.” (Robert Templer, Shadows And Wind. Penguin Group. New York:1988, 165). Dùng vô chuyện gì khác thì (dù có bị ra tấn) ổng cũng nhất định không chịu nói.
Người phương Tây thì khác. Họ không có thói quen nói năng úp/mở, hay “bóng và gió” như vậy. Tác giả cuốn sách dẫn thượng, Robert Templer – sau ba năm làm đặc phái viên cho A.F.P. tại Việt Nam, từ 1994 đến 1997 – đã thản nhiên tuyên bố :
“Dân Việt dùng báo Nhân Dân để đi cầu, chớ còn tin tức thì họ nghe từ chương trình phát thanh tiếng Việt của đài BBC, RFI và VOA.” (Vietnamese may have found Nhan Dan useful in the bathroom, but for information they turned to their radios and the Vietnamese language services of BBC, RFI and VOA).

Những ý kiến vừa ghi, tất nhiên, chỉ là cái nhìn phiến diện và chủ quan của những cha nội thuộc loại phản động, hay bá vơ nào đó – kiểu như Nguyễn Ngọc Lan, Robert Templer… mà thôi. Báo Nhân Dân, chắc hẳn, phải có tác dụng và giá trị (đặc biệt) của nó mà “kẻ ngoại đạo” khó lòng nhìn ra được.
Cách đạy chưa lâu, qua BBC, tôi nghe nhà văn Đào Hiếu kể một chuyện vui và (chả hiểu sao) lại nghĩ ngay đến ông Tổng Biên tập của báo Nhân Dân:
“Có thằng nhà báo Pháp gặp tao nó hỏi: ‘Việt Nam hiện nay có mấy tờ báo và tạp chí?’ Tao đáp: ‘ Có chừng 700.’ ‘Ô thế thì báo chí Việt Nam thực là phong phú.’ Tao nói: ‘Coi vậy mà không phải vậy. Vì có 700 tờ báo nhưng chỉ có một ông tổng biên tập.’ Thằng Tây nó cười gần chết.”
Còn “mấy thằng làm báo Việt Nam” thì cũng gần chết (dù không cuời) khi phài làm việc với một ông TBT khổng lồ cỡ đó. Tuy có tên là ND nhưng (thiệt ra) đây là tờ báo của Đảng CSVN. Nó có nhiệm vụ chính là định hướng tư tưởng cho đảng viên và chỉ đạo nhận thức cho cả nước. Ngoài ra, nói một cách hoa mỹ, báo ND cũng là “kim chỉ nam” hay “ngọn hải đăng” cho cả ngàn tờ báo khác.”
Phải mở lại những chồng báo cũ – kể từ năm 1951 đến nay, trải qua những đời TBT Trường Chinh, Tố Hữu, Hoàng Tùng … – mới thấy được hết công dụng của báo Nhân Dân trong công việc xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội ở… nước ta! Khi thì báo Nhân Dân cổ động chính sách Cải cách Ruộng đất hay Cải tạo Công Thương Nghiệp, lúc thì hô phong hoán vũ (”thay trời làm mưa,” “nghiêng đồng cho nước chẩy ra ngoài”) để đẩy mạnh phong trào Hợp tác xã Nông nghiệp …
Báo Nhân Dân còn đảm nhiệm một vai trò quan trọng khác nữa mà cỡ thường dân như ông Nguyễn Ngọc Lan, hay ngoại nhân như ông Robert Templer, còn lâu mới khám phá ra. Ông Bùi Tín, cựu phó Tổng Biên tập của tờ báo này cho biết: “Đây là một nền báo chí quan liêu, chuyên lên lớp, răn dạy, đe nẹt người đọc.” (Hoa Xuyên Tuyết, 2nd ed. Turpin Press. California: 1994, 42).
Nói tóm lại là răn/đe. Xin đơn củ một thí dụ về thứ ngôn ngữ đanh thép, đe doạ và qui chụp – theo tiêu chí “gắp lửa bỏ tay người” – của của báo Nhân Dân đối với những những đồng nghiệp (hay đồng chí) lỡ thò chân ra khỏi… lề bên phải:
“Năm 1956, Thụy An, Nguyễn Hữu Đang, Phan Khôi lập thành một nhóm. Tháng 9-1956, dựa vào tiền bạc của những phần tử tư sản phản động, bọn chúng xuất bản tờ báo Nhân Văn… Báo Nhân Văn là tờ báo chính trị phản động. Mục đích của tờ báo này là nhằm khích động quần chúng chống lại chế độ dân chủ nhân dân… Sau khi báo Nhân Văn bị đóng cửa, bọn Nguyễn Hữu Đang và Thụy An vẫn cấu kết chặt chẽ với nhau và tiếp tục hoạt động gián điệp phá hoại.”
(Nguồn: Nhân Dân, Hà Nội, 21/01/1960, tr. 1, 6. Lại Nguyên Ân sưu tầm và biên soạn).
Nửa thế kỷ sau, vào ngày 27 tháng 4 năm 2009, trên báo Nhân Dân xuất hiện bài viết “Chung quanh vấn đề khai thác bô – xít ở Tây Nguyên” (của một ông hay bà Xuân Quang nào đó) để cổ vũ cho chủ trương khai thác bauxite ở Tây Nguyên – cũng cùng với cái giọng điệu “ngậm máu phun người” cố hữu:
“Cần cảnh giác và có thái độ rõ ràng, kiên quyết với những mưu toan chính trị hóa vấn đề của các thế lực thù địch, thiếu thiện chí, muốn chia rẽ nội bộ chúng ta; xuyên tạc sự thật, lợi dụng những tình cảm thiêng liêng trong trái tim, khối óc mỗi người để kích động hòng thực hiện những mưu đồ xấu xa của họ.”
Lập trường của báo Nhân Dân rõ ràng (và hoàn toàn) không thay đổi nhưng thế thời thì đã đổi thay… tự lâu rồi. Cùng ngày 27 tháng 4 năm 2009, trên Blog Osin xuất hiện một bài viết ““Bauxite & Báo Nhân Dân” (của tác giả Huy Đức) để đáp lại cái thứ ngôn ngữ lu loa, ngoa ngoắt của Xuân Quang. Xin được trích dẫn đôi ba phản hồi ngăn ngắn, đọc được sau bài báo này:
– TRUNG NGÔN// 27/04/2009 3:03 am
Tôi rất bàng hoàng khi đọc ý kiến của tác giả Xuân Quang. Một tiếng nói lạc lõng cất lên giữa những tiếng lòng đang từng giờ lo lắng cho vận nước.
– cù nèo // 27/04/2009 // 3:10 am
Thằng Xuân Quang từ ngày hôm nay sẽ chính thức được gọi là thằng
bán nước cầu vinh.
– Hồ Quốc // 27/04// 4:37 am
Đừng tìm cách giữ đặc quyền đặc lợi cho mình và cho một nhóm người. Lòng dân đã không còn tin vào “Nhân dân” từ lâu rồi. Ít ai thích đọc, còn phát hành được chỉ vì không biết xấu hổ.
Cây gậy có tên gọi là báo Nhân Dân của Đảng CSVN, với thời gian, đã trở thành một… cây củi mục! Nó không còn có thể gây sợ hãi hay gây tai hại cho bất cứ ai nữa.

Chuyện “báo hại” tới đây kể như đã (hoàn toàn) chấm dứt nhưng chuyện “báo cô” hay còn gọi là cách sống ký sinh thì ngó bộ còn lâu. Coi:
“Trụ sở chính Bộ Biên tập báo Nhân Dân đóng tại: Nhà số 71, phố Hàng Trống, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cơ quan thường trực tại TP Hồ Chí Minh, tại TP Đà Nẵng, tại TP Cần Thơ…”
“Ngày 21-8-1997, Thường vụ Bộ Chính trị T.Ư Đảng CS Việt Nam đã đồng ý cho phép báo Nhân Dân đặt cơ quan thường trú nước ngoài tại Paris (Pháp), Bắc Kinh (Trung Quốc) và Bangkok (Thailand).”
“Báo Nhân Dân in tại 8 điểm in (Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Nghệ An, Đà Nẵng, Cần Thơ, Bình Định, Đác Lắc, Điện Biên), phát hành trên phạm vi toàn quốc và một số lượng nhất định được gửi ra nước ngoài.”
Sản xuất giấy để… chùi thì chỉ cần nhà máy in là đủ. Chớ mắc mớ chi phải có trụ sở trung ương, cơ quan thường trực tại những thành phố lớn, và những cơ quan thường trú ở Paris, Bangkok, Bắc Kinh…? Đã thế, còn khoe rằng báo Nhân Dân có “một số lượng nhất định được gửi ra… nước ngoài” nữa cơ! Nghe mà ớn chè đậu. Nói sợ ông Đinh Thế Huynh (đương kim TBT báo Nhân Dân) buồn lòng chớ ngoài những nước bạn bè thân thiết như Cu Ba, Bắc Hàn ra, người dân ở bất cứ một quốc gia khác – kể cả dân Tầu – không ai có đủ can đảm (dám) đụng tay vào tờ báo (thổ tả) này đâu!