Một Cách Giáo Dục Tuyệt Vời….

GÓC SUY GẪM

Câu Chuyện Hôm Qua – Hôm Nay – Ngày Mai. Một Cách Giáo Dục Tuyệt Vời….

Một lớp của trường tiểu học Mỹ có 26 học sinh đặc biệt vì chúng đều có quá khứ tội lỗi: em thì từng tiêm chích, em thì vào trại cải tạo, thậm chí có một học sinh nữ trong một năm đã phá thai 3 lần.

Gia đình đã từ bỏ, thầy cô giáo cũng coi chúng là đồ bỏ đi. Cuối cùng, lớp học được giao cho cô Phila chủ nhiệm.

Ngay ngày đầu tiên, Phila đã không dọa nạt, ra oai với chúng như những giáo viên trước mà cô nói với lớp: “Cô kể cho các em một số điểm trong quá khứ của 3 ứng cử viên:

Người thứ nhất luôn tin vào thầy cúng. Ông có 2 người tình, ông hút thuốc và nghiện rượu trong nhiều năm liền.

Người thứ 2 từng bị đuổi việc 2 lần. Ngày nào ông ta cũng ngủ đến trưa, tối nào cũng uống một lít rượu và cũng từng hút thuốc phiện.

Người thứ 3 từng là anh hùng trong chiến đấu. Ông ta luôn giữ thói quen ăn kiêng, không hút thuốc, thỉnh thoảng mới uống rượu, thường uống bia nhưng không uống nhiều. Thời thanh niên chưa từng phạm pháp”.

Cô hỏi cả lớp trong 3 người, ai sau này sẽ cống hiến nhiều nhất cho nhân loại. Học sinh đồng thanh chọn người thứ 3.

Nhưng cô giáo trả lời:
“Cô biết chắc chắn các em sẽ cho rằng chỉ có người thứ 3 mới có thể cống hiến được nhiều cho nhân loại. Nhưng các em đã sai rồi. Ba người này là những nhân vật nổi tiếng trong thế chiến thứ 2.

Người thứ nhất là Franklin Roosevelt, tuy tàn tật nhưng ý chí kiên cường, ông đảm nhận chức tổng thống Mỹ trong 4 nhiệm kỳ liên tiếp.

Người thứ 2 là Winston Churchill, thủ tướng nổi tiếng trong lịch sử nước Anh.

Người thứ 3 là Adolf Hitler, con ác quỷ phát xít đã cướp đi sinh mạng của hàng chục triệu người dân vô tội”.

Các em có biết không, những điều cô nói về 3 nhân vật này là quá khứ của họ. Còn sự nghiệp sau này của họ, là những việc mà họ đã làm sau khi thoát ra khỏi cái quá khứ. Cái thực sự đại diện cho cuộc đời một con người chính là những việc làm ở hiện tại và tương lai.

Hãy bước ra từ bóng tối của quá khứ, bắt đầu làm lại từ hôm nay, cố gắng làm những việc mà các em muốn làm nhất trong cuộc đời mình, các em sẽ trở thành những người xuất chúng”.
*********

Sau đó, khi những học sinh này trưởng thành, rất nhiều người đã đạt được nhiều thành tích đáng tự hào. Người trở thành bác sĩ tâm lý, người trở thành quan tòa, người trở thành nhà du hành vũ trụ.

Điều đáng nói là, Robert Harrison, cậu học sinh quậy phá nhất lớp, giờ đã trở thành giám đốc tài chính trẻ nhất của phố Wall.
(Theo internet)

Image may contain: one or more people
Image may contain: 1 person, closeup
Image may contain: one or more people and closeup

Đám tang Trần Đại Quang, ấn Kim Cang và chuyện ốp đồng

Image may contain: one or more people, people standing and text

Duc Thong DO

Đầu Đảng CSVN Tuy Vô Thần, Nhưng Vẫn Sợ Hỏa Ngục, Nên Cúng Chùa Để Được cầu Siêu Siêu Thoát !

***
Đám tang Trần Đại Quang, ấn Kim Cang và chuyện ốp đồng
Thứ Sáu, 09/28/2018 – 04:44 — VietTuSaiGon
***
Trạng thái ốp đồng, nếu bỏ qua những luận lý khoa học thì đâu đó trong sâu thẳm vùng hố đen mà khoa học chưa chạm tới hoặc chưa muốn chạm tới, nó có thật. Nó như một sự cưỡng bức sóng, một tần số, một linh hồn nào đó đóng vai trò tha lực xâm chiếm, cưỡng bức ngôi nhà thể xác của một tần số, linh hồn yếu đuối hơn. Và trên hết là sự tự nguyện lép vế của linh hồn chủ khi mời hoặc chấp nhận để linh hồn bên ngoài vào áp đảo thể xác của mình.

Tình trạng ốp đồng thì có liên quan gì đến cái chết của ông Trần Đại Quang? 
Có đấy, từ chỗ bấm Kim Cang Ấn của ông Nguyễn Phú Trọng khi đứng trước bàn thờ vong Trần Đại Quang đã cho thấy tình trạng ốp đồng đã ăn sâu tận gốc rễ dân tộc này. Và đây là một hiểm họa khôn lường!
Trở lại chuyện Kim Cang Ấn, đây là cách bắt quyết, hay còn gọi là cách bắt ấn của những người theo Mật Tông trước đây, hiện tại thì không riêng gì người theo Mật Tông mà dường như hầu hết Phật Tử, người nhà chùa đều dùng đến Kim Cang Ấn. Bởi đây là ấn quyết nhằm hội tụ chân khí, tạo thăng bằng tâm linh và tránh các tha lực (gồm cả tà khí) thâm nhập.

Đương nhiên, vấn đề chính vẫn là Kim Can Ấn chống tà khí. Khi một người theo Mật Tông hoặc một người tu hành tinh tấn, nếu gặp một chỗ ốp đồng (thật), họ chỉ cần bắt quyết Kim Cang Ấn và niệm chú Kim Cang (hoặc kết hợp Bạch Y Thần Chú) thì liền sau đó, hồn sẽ thoát xác đồng, cuộc ốp đồng chấm dứt. Nói như vậy để thấy mức độ và công hiệu của Kim Cang Ấn. Và có một nghịch lý là người nào, nhà nào, nơi nào dùng Kim Cang Ấn càng nhiều thì người đó, nhà đó, nơi đó càng có nhiều chuyện ma ám, chuyện đồng bóng và trên hết là tính vong bản.

Vì sao? Vì nếu không sợ những tần số, tha lực hay linh hồn khác, người ta không cần dùng đến Kim Cang Ấn. Nói cho cùng, tâm hồn càng thanh thản, tâm linh vững vàng thì chẳng cần bất cứ cái ấn hay cái quyết nào để bắt/bấm. Thế giới đại đồng, tình yêu chan hòa chính là cái ấn lớn nhất của nhân loại. Mọi cái ấn, cái quyết khác chỉ nhằm hỗ trợ cho linh hồn yếu đuối, sợ sệt của con người.

Một tâm hồn yếu đuối, thiếu tự chủ và nhu nhược, muốn nương nhờ đến một thứ gì đó bên ngoài để dựa dẫm thì hay chấp nhận bán mình cho những thứ bên ngoài bằng cách cầu cho thứ bên ngoài bước vào thân thể mình, cưỡng bức thân thể mình nói và hành động theo sự mong muốn của linh hồn kia. Nói khác đi, thân thể con người cũng giống như một ngôi nhà, nếu chủ nhà yếu đuối, nhu nhược và bất lực, chấp nhận để kẻ bên ngoài vào làm chủ và bản thân lùi ra xó bếp hay một góc phòng nào đó giữ yên lặng, để mặc kẻ lạ hô mưa làm gió trong nhà của mình… Rõ ràng, ở đây đã mất tính tự chủ.

Nói rộng ra, một quốc gia, một dân tộc chấp nhận đứng lùi trong góc khuất nhân loại, để cho một nền văn hóa khác, một thể chế chính trị khác từ một dân tộc khác hô mưa gọi gió trên lãnh thổ của mình, đó cũng là một kiểu bất lực của chủ thể. Xét trong ý nghĩa này, đây cũng là một kiểu ốp đồng của quốc gia, dân tộc về mặt văn hóa, chủ quyền và dân tộc tính.

Trở lại hình ảnh Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng bắt ấn Kim Cang trước bàn vong của ông Chủ tịch nước Trần Đại Quang trong lễ viếng, chuyện này có liên quan gì tới tính tự chủ dân tộc hay ốp đồng quốc gia?
Xin thưa là có ba vấn đề để bàn ở đây để thấy rằng chưa bao giờ hồn thiêng sông núi nước Việt trở nên héo mòn, lu mờ và yếu đuối như hiện tại.

Thứ nhất, người Cộng sản vô thần, họ không theo tôn giáo nào và họ cực lực chống “mê tín dị đoan”. Thế tại sao có hàng chục ngôi chùa qui mô, đồ sộ và hàng trăm cái điện ốp đồng được xây dựng, bảo trợ bởi các quan chức cấp trung ương? Thế tại sao người ta lại cho một nhóm sư sãi tổ chức cầu siêu cho ông Trần Đại Quang? Và ông Nguyễn Phú Trọng bấm ấn Kim Cang Ấn trong lúc viếng tang lễ ông Trần Đại Quang là ý gì?

Thực ra, người Cộng sản chưa bao giờ vô thần, cái vỏ vô thần chỉ là cái áo giáp để chinh chiến trong quá trình dẹp bỏ mọi tôn giáo để rồi sau đó, khi các tôn giáo chết dần chết mòn trên vùng đất Cộng sản, họ lại cho khôi phục bằng cách thổi vào đó một thứ thần linh khác, thuộc thế giới độc thần – Thần Cộng sản. Và giả sử như thế giới thần linh hay thế giới tâm linh thuần túy lấy yêu thương làm nền tảng, lấy nhân ái làm kim chỉ nam thì với Thần Cộng sản, kim chỉ nam và tồn tại là đấu tranh, đấu tố, phe nhóm lợi ích và thủ đoạn. Chính vì thứ tôn chỉ gắt máu này mà người Cộng sản sẽ sớm dùng các phương tiện bảo tồn sức mạnh cho dù là tâm linh hay vật chất từ các giáo phái, tôn giáo mà họ đã trù dập. Họ dùng nó như một sự “lấy nọc rắn để giết rắn” chứ không phải dùng cho mục đích bồi bổ tâm linh hay dùng như một phương tiện đi đến cứu cánh tư tưởng, tâm hồn.

Và một khi mỗi đảng viên, mỗi nhà lãnh đạo trở thành một đầu lĩnh, thậm chí một giáo chủ Cộng Sản Thần tiềm năng, họ sẽ dùng mọi ấn quyết để triệt tiêu đối phương mà đi đến độc tôn. Bởi chỉ có độc tôn mới thỏa mãn tham vọng của họ, bởi chỉ có độc tôn mới đảm bảo tính mạng của họ. Và họ không còn lựa chọn nào khác.

Hành vi bấm Kim Cang Ấn của Nguyễn Phú Trọng không chỉ đơn thuần là bấm ấn chống tà khí, đề phòng tha lực trước bàn vong của Trần Đại Quang, bởi nếu lực ông Quang đủ mạnh thì ông Trọng mới là người ngồi trên bàn vong kia chứ không phải Quang. Và ở đây cũng không cần bàn thêm về mối quan hệ “bên ngoài thơn thớt nói cười” nhưng bụng chứa đầy dao găm, thuốc độc và không ngoại trừ polonium 210 dành sẵn cho nhau của người Cộng sản. Vấn đề muốn nói ở đây là sự bất an, mất tự chủ trong hệ thống này.

Ở một hệ thống chính trị mà kẻ nắm quyền hành đứng đầu lại có hành tung giống như một phù thủy hoặc giả một giáo chủ tông giáo, giáo phái nào đó; Ở một hệ thống chính trị mà căn nhà quốc gia, dân tộc đã bị cưỡng bức bởi một nền văn hóa, một thế lực chính trị của một quốc gia, dân tộc khác và kẻ đại diện chủ nhà chấp nhận đứng lùi vào xó bếp sau khi dựa dẫm, gọi mời kẻ kia đến tác oai tác quái trong nhà của mình thì e rằng, không chỉ Kim Cang Ấn mà còn hàng trăm, hàng ngàn thứ ấn, quyết, bùa chú, mantra… cũng chẳng thể nào cứu vãn được tình thế. Và bắt ấn chỉ là một cách chống lại sự sợ hãi mơ hồ nào đó đang vây bủa.

Sau cái chết của ông Trần Đại Quang, dường như mọi chân tướng hiện ra rõ hơn. Rất tiếc là nó rõ theo chiều kích đáng sợ và đáng lo cho dân tộc, quốc gia này!

http://www.rfavietnam.com/node/4722

Côn trùng và hào quang

Van H Pham

**********

Côn trùng và hào quang

Tuần này, đom đóm trở thành một trong những chủ đề nóng trên mạng xã hội.

Loại côn trùng có khả năng phát sáng vào ban đêm ấy được thiên hạ quan tâm, bàn luận rôm rả vì là một phần trong thân thế – sự nghiệp của ông Trần Đại Quang.

Hệ thống truyền thông chính thức của Việt Nam đã dành khá nhiều thời gian, công sức để khắc họa “tài năng, đức độ” của ông Quang như một cách cân bằng thông tin với mạng xã hội đang tràn ngập những dè bỉu, chỉ trích, cáo buộc ông Quang.

Với bối cảnh xã hội như hiện nay, khắc họa “tài năng, đức độ” cố Chủ tịch Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, cựu Bộ trưởng Công an Việt Nam rõ ràng là không dễ dàng chút nào. Dường như thiếu… bột nên chuyện gột thành… hồ của hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam về “tài năng, đức độ” của ông Quang sượng đủ chỗ. Một trong những chỗ sượng tới mức sống sượng là tình tiết quảng bá ông Quang “thông minh, siêng học từ nhỏ”, từng “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng làm đèn học đến khuya” .

Không may cho hệ thống truyền thông chính thức tại Việt Nam, ở thời điểm này, mạng xã hội đã trở thành đại chúng, sự khinh bỉ, chán ngán giới lãnh đạo hệ thống chính trị, hệ thống công quyền Việt Nam đã vượt ngưỡng nên tụng ca thường mang lại đại họa.

Ngay sau khi tờ Phụ Nữ TP.HCM đăng bài “Vĩnh biệt cậu trò nghèo bắt đom đóm làm đèn học”, có những facebooker như Trương Văn lập tức lên tiếng lưu ý: Đom đóm không sáng liên tục, sau mỗi bốn giây mới sáng nửa giây. Văn dẫn một nghiên cứu của E. Newton Harvey và Kenneth P. Stevens vào năm 1928, theo đó, độ sáng của mỗi con đom đóm chỉ có 0.0006 lumens (lumen – đơn vị đo độ sáng). Để có thể đọc được gì đó, mắt một người bình thường cần độ sáng tối thiểu là 450 lumens. Nghĩa là cần 750.000 con đom đóm sáng cùng một lúc trong nửa giây. Muốn duy trì liên tục độ sáng ở mức 450 lumens, cần phải có 8 lần số đom đóm thay phiên nhau phát sáng, nói cách khác cần tới sáu triệu con đom đóm.

Lưu ý của Trương Văn cũng là lưu ý của nhiều người khác, trong đó có cả những facebooker là bác sĩ nhãn khoa như Nguyen Tien Phuc. Phuc nhắc thêm, phải có “hảo công phu” mới bắt được đủ lượng đom đóm cần thiết để đọc, chưa kể lấy đâu ra đủ lượng vỏ trứng để chứa số đom đóm ấy?

Trước những dẫn chứng khoa học và phân tích cặn kẽ như đã kể, có không ít facebooker đùa như Nguyen Phuong Anh: Đom đóm nước ta khác, chúng sáng rực rỡ và muôn năm! Hoặc như Ngoc Hiêp Nguyên: Hồi bác Quang còn nhỏ, đom đóm rất nhiều và rất to mỗi con nặng khoảng nửa ký, độ sáng bằng đèn bốn cục phin của Trung Quốc. Chỉ cần hai con là đủ học suốt đêm. Nghe nói cụ Nguyễn Đình Chiễu vì dùng nhiều, bốn hay năm con gì đó để học bài nhưng độ sáng quá cao nên bị mù. Hồi xưa đom đóm sáng ghê lắm! Thiệt đó!.. Cũng đã có những facebooker như Trần VirJo thẳng tuột, không vòng vo: Mùa đom đóm là mùa hè, mùa đ… có thằng đ… nào đi học trừ khi dốt quá phải học phụ đạo.

Đom đóm cũng là lý do khiến nhiều facebooker như Nguyễn Thành Phương, thân hữu của Nguyen Tien Phuc, nửa đùa, nửa thật, đầy ngậm ngùi: Xưa có những siêu nhân như anh Tám – cháy đùng đùng mà vẫn tìm được đúng đường chạy vào kho xăng, chị Sáu… bị bắn nát ngực vẫn hát, rồi những anh Bảy, anh Mười… Giờ có thêm vài… thánh đom đóm cũng vui. Lạ là một dân tộc tộc toàn… siêu nhân như thế sao cứ khổ hoài vậy?

Quang Nguyễn, một thân hữu khác của Nguyen Tien Phuc, trấn an những người bi quan như Nguyễn Thành Phương: Bắt đom đóm cho vào vỏ trứng để trang trí thôi. Trong đầu đã có tư tưởng Mác Lê soi sáng thì mấy cái bóng tối lẻ tẻ có gì đáng để không đọc được. Một khi đã sáng mắt, sáng lòng thì làm gì có đêm đen nào ngăn cản được mình.
***********

Giữa trận bão dư luận về đom đóm, có không ít facebooker chỉ trích báo giới như Nguyễn Hữu Phúc: Lỗi là do bọn viết báo chứ không phải của người đã khuất!

Tuy nhiên quy trách như thế dường như chưa sòng phẳng.

Tác giả “Vĩnh biệt cậu trò nghèo bắt đom đóm làm đèn học” đăng trên tờ Phụ Nữ TP.HCM ngày 21/9/2018, viết rất rõ, nguồn gốc chuyện ông Quang “bắt đom đóm bỏ vào vỏ trứng làm đèn học đến khuya” là chuyện do “nhà báo Vũ Thanh Hương – Phó Ban An ninh thế giới của Báo Công an nhân dân – kể sau khi có cơ hội dùng bữa cơm thân mật cùng gia đình ông Trần Đại Quang hồi 2011 khi ông Quang còn là Thứ trưởng Bộ Công an”. Từ 2011 đến khi đột tử hồi hạ tuần tháng này, đã có bao giờ ông Quang phủ nhận huyền thoại tạo ra hào quang ấy cho mình như đã từng phủ nhận ông ủng hộ Luật Biểu tình, khiến tờ Tuổi Trẻ phải đình bản ấn bản trực tuyến trong ba tháng đâu.

Đâu phải chỉ có ông Quang dùng côn trùng tạo dựng huyền thoại, xây đài vinh quang. Cũng năm 2011, thông qua hệ thống truyền thông chính thức, mẹ ông Vương Đình Huệ, thủ thỉ, thưở còn thơ, ông Huệ cũng… bắt đom đóm bỏ vào vỏ cà rỗng để làm đèn, học hành. Khi ấy, ông Huệ mới được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Tài chính, giờ – không biết đom đóm góp bao nhiêu phần trăm trong việc nâng ông lên thành Phó Thủ tướng, đưa ông vào Bộ Chính trị.

Những câu chuyện dã sử về một Mạc Đĩnh Chi, một Nguyễn Hiền,… dùng đom đóm làm đèn để dùi mài kinh sử, cứu nước, giúp đời, vốn chỉ nhằm khyến khích hậu sinh chăm chỉ học hành, nay, ở thế kỷ 21 đã mang màu sắc khác, khi được tô vẽ như thật, sự tô vẽ có chủ đích và chắc chắn không phải là chủ trương của “bọn viết báo”. Ai chẳng biết thân phân “bọn viết báo” xứ này ra sao. Thành ra đâu phải tự nhiên mà có những facebooker như Khải Trần cho rằng: Nên lấy đom đóm làm linh vật cho ngành giáo dục. Hoặc Huy Vũ Đình đề nghị: Dựng một tượng đài đom đó để suy tôn những con vật nhỏ bé đã soi đường cho những thiên tài của đất nước.
Thiên Hạ Luận

Image may contain: 3 people, people standing and outdoor
Image may contain: text
Image may contain: 1 person

Chuyện về quán “Không”

 Chuyện về quán “Không”

 

Một vị thương gia lập nghiệp từ tay trắng, sau kiếm được rất nhiều tiền nhưng vì buôn bán trong thời kinh tế không ổn định, khiến ông ta trở nên phá sản, nợ nần chồng chất. 

Nghĩ mãi không tìm ra cách giải quyết, ông ta bèn ra bờ sông tự tử. 

Vào lúc canh ba một đêm nọ, ông ta đến trước bờ sông, bỗng nhiên nhìn thấy một thiếu nữ đang ngồi khóc thảm thiết, ông bèn đến hỏi cô gái: 
– Có chuyện gì mà đêm hôm khuya khoắt cô ngồi khóc một mình ở đây? 

Cô gái buồn bã nói: 
– Tôi bị người yêu ruồng bỏ, tôi không muốn sống nữa, bởi vì không có anh ấy tôi không sống nổi. 

Vị thương gia vừa nghe xong lập tức nói: 
– Ồ! Lạ nhỉ, sao lúc chưa có bạn trai, cô có thể tự sống được. 

Cô gái vừa nghe xong liền bừng tỉnh và bỏ ngay ý định tự tử. Ngay lúc đó vị thương gia nọ cũng chợt nhận ra rằng: 
“Khi chưa giàu có ta vẫn sống bình thường, ta cũng tay trắng làm nên mà!”

Lúc đó cô gái quay sang hỏi vị thương gia: 
– Đêm hôm lạnh lẽo như vậy, ông ra đây để làm gì? 

Vị thương gia ậm ừ trả lời: 
– Ừ… đâu có làm gì, chỉ là tản bộ chút vậy thôi!. 

Thì ra, dù đã mất tất cả nhưng thực sự cũng chỉ bằng lúc ta chưa có mà thôi. Đây là một tuệ giác lớn! 

Phần lớn thế hệ chúng ta từng sinh ra trong chiến tranh, lớn lên trong giai đoạn đất nước đói nghèo, gia sản chỉ gói gọn trong một chiếc ba lô nhưng vẫn yêu đời, tin tưởng vào tương lai tươi sáng, thì giờ đây gặp rủi thời, dẫu có thất thế sa cơ đến tay trắng cũng chẳng đến nỗi nào, vì trước đây ta có cái gì đâu! Ai thấy được điều này là có trí tuệ. Vì khổ đau, vật vã, thù hận thậm chí quyên sinh khi mất mát xảy ra, xét cho cùng cũng chỉ thiệt cho mình. 

Nhờ quán “Không” nên người con gái trong câu chuyện trên khi mất người yêu nghĩ rằng không có người yêu thì không sống nổi, chợt thấy rõ rằng trước khi chưa gặp “kẻ phản bội” kia thì ta vẫn sống vui, liền lập tức đổi ý không trầm mình xuống sông nữa. Người thương gia trắng tay cũng đổi ý khi ngộ ra rằng trước đây ta cũng từ tay trắng mà lên. Bây giờ trắng tay nhưng cũng chỉ bằng ngày xưa chứ chưa mất mát tí gì. 

Con người sinh ra đời với hai bàn tay trắng và dù thành công hay thất bại thì cũng trở về cát bụi với hai bàn tay không, vậy thì sá gì với được mất, có không, vì vô thường thay đổi vốn là bản chất của cuộc đời này.

Chúng ta hãy quán chiếu thật sâu sắc vào sự chuyển biến vô thường của cuộc đời, để sống bình thường trước mọi biến động có thể xảy đến với ta bất cứ lúc nào.

Trúc Nguyên 

Vô Thường

Vô Thường

” Trong thú vui đã mở đường cho đau khổ …

Trong hội ngộ, đã nẩy mầm chia ly ” …

Bạn có từng nghĩ rằng một ngày nào đó những người thương của bạn sẽ không còn sống bên bạn nữa không. Chúng ta không một ai có thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai. Thậm chí chúng ta cũng không thể biết chắc được điều gì sẽ xảy ra vào một giờ sắp tới đối với những người thân của chúng ta, hay thậm chí đối với bản thân mình. 

  Có thể bạn ta mới đến thăm ta ngày hôm qua, mà hôm nay ta được báo tin là người đó đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Nhận được tin ấy mà lòng ta bồi hồi xúc động và ta dường như không thể tin vào những gì mà tai mình vừa mới nghe thấy. Ta nói với người đến báo tin với ta rằng “tôi mới nói chuyện với anh ấy ngày hôm qua mà ” , hay “ chị ấy mới đến thăm tôi và còn tặng quà cho tôi nữa mà ”. Nhưng sự thật vẫn là sự thật. Người bạn ấy của ta đã không còn sống trên cõi đời này nữa. Và có rất nhiều, rất nhiều trường hợp tương tự như thế. Người ta mới thấy đó nhưng giờ đây đã không còn nữa. 
  
Khi chúng ta giao tiếp, cư xử với người xung quanh với ý thức rằng có thể ngày mai ta sẽ không có cơ hội nghe được giọng nói của người đó nữa. Có thể ngày mai ta sẽ không còn thấy được nụ cười tươi trên khuôn mặt người đó nữa. Thì tự nhiên ta sẽ trân quí sự có mặt của người đó và ta sẽ không nỡ nói hay làm những gì có thể gây tổn thương cho người đó. 
  
Người đó có thể là ba mẹ chúng ta. Người đó có thể là chồng hay là vợ của chúng ta. Và người đó cũng có thể là con cái chúng ta…Chúng ta sống với ý thức về sự vô thường, ngắn ngủi của một kiếp người càng sâu sắc, thì cách sống của chúng ta, cách hành xử của chúng ta cũng sâu sắc và yêu thương hơn. 
  
Mỗi người trong chúng ta hay có khuynh hướng nghĩ rằng những người thương của chúng ta sẽ sống với chúng ta hoài, sẽ sống với chúng ta mãi. Chúng ta ít có khi nào nhớ rằng có thể chỉ sau một đêm thôi thì ta sẽ mãi mãi không còn gặp người ấy nữa. Ta muốn nói những lời xin lỗi của ta với người ấy, ta muốn nói lòng biết ơn của ta với người ấy hay ta muốn thể hiện tình thương của mình cho người ấy – nhưng đã trễ rồi. Người đó đã không thể nghe, và mãi mãi sẽ không thể nghe những gì ta muốn nói dù chỉ một lời. 
  
Vì vậy bạn hãy vui lên đi, bạn hãy cười tươi lên đi khi bạn vẫn có ba, có mẹ còn sống bên bạn. Bạn hãy hạnh phúc lên đi khi những người thương của bạn vẫn còn đó cho bạn. Và bạn hãy can đảm để nói cho người thương của bạn những gì sâu kín nhất trong lòng của mình. Vì có thể bạn sẽ chẳng còn cơ hội nào nữa nếu bạn không nói ra điều ấy. Và bạn hãy tha thứ cho tất cả những ai đã từng làm hại bạn, làm tổn thương bạn vì có thể ngày mai bạn cũng sẽ không còn có mặt trên cõi đời này nữa. 
  
Điều mà tôi khám phá ra trong cuộc đời của mình cho đến tận bây giờ,điều mà làm cho tôi hạnh phúc đó là tình thương, sự tha thứ, bao dung. Có thể tôi thực tập yêu thương còn kém, có thể sự tha thứ, bao dung trong tôi còn kém nhưng đó là con đường mà tôi sẽ nguyện đi trên ấy mỗi ngày. Tôi tự nói với chính mình “hãy thương yêu khi có thể, hãy tha thứ, bao dung khi có thể, bởi vì chỉ một giây phút thôi thì những điều này sẽ trở thành không thể.”

Và điều mà làm cho tôi hạnh phúc nhất không có gì khác hơn sau khi bạn đọc những dòng chữ này, thì sự thương yêu, tha thứ, bao dung trong bạn được biểu hiện. Và bạn đến nói với ba bạn, mẹ bạn, những người thương của bạn rằng bạn yêu họ lắm. Rằng ba mẹ vẫn còn sống bên bạn là hạnh phúc lớn nhất của cuộc đời bạn. Rằng bạn sẽ không cần gì hơn những điều như vậy. Rồi nụ cười hạnh phúc sẽ nở trên môi của bạn và khi đó bạn cũng biết rằng nụ cười hạnh phúc ấy cũng đang nở trên môi của tôi.

Pháp Nhật 

From: ngocnga_12 & NguyenNThu

Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,

Suy Tư Chúa nhật thứ 26 thường niên năm B 30/9/2018

(Mc 9: 38-43, 45, 47-48)

Khi ấy, ông Gioan nói với Đức Giêsu:

Thưa Thầy, chúng con thấy có người lấy danh Thầy mà trừ quỷ. Chúng con đã cố ngăn cản, vì người ấy không theo chúng ta.” Đức Giê-su bảo: “Đừng ngăn cản người ta, vì không ai lấy danh nghĩa Thầy mà làm phép lạ, rồi ngay sau đó lại có thể nói xấu về Thầy. Quả thật, ai không chống lại chúng ta là ủng hộ chúng ta.

Ai cho anh em uống một chén nước vì lẽ anh em thuộc về Đấng Ki-tô, thì Thầy bảo thật anh em, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu.

Ai làm cớ cho một trong những kẻ bé mọn đang tin đây phải sa ngã, thì thà buộc cối đá lớn vào cổ nó mà ném xuống biển còn hơn. Nếu tay anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một tay mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai tay mà phải sa hoả ngục, phải vào lửa không hề tắt. Nếu chân anh làm cớ cho anh sa ngã, thì chặt nó đi; thà cụt một chân mà được vào cõi sống còn hơn là có đủ hai chân mà bị ném vào hoả ngục. Nếu mắt anh làm cớ cho anh sa ngã, thì móc nó đi; thà chột mắt mà được vào Nước Thiên Chúa còn hơn là có đủ hai mắt mà bị ném vào hoả ngục, nơi giòi bọ không hề chết và lửa không hề tắt.”

&   &   &

 “Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc,”

“Hoa hết thơm rồi, rượu hết say”

(dẫn từ thơ Nguyễn Bính)

 Mai Tá lược dịch.

Mới có thế, mà sao nhà thơ đã than đời sa mạc, những gió lộng? Rất nhiều thời, nhà Đạo mình nào đã sầu bi chỉ một đời như các thánh hằng khẳng định ở bài đọc, rất hôm nay.

Bài đọc 1 hôm nay, sách Dân Số kể về trường hợp người khách lạ có nhắc đến Giavê Thiên Chúa, nhưng lại không thuộc giống giòng Do thái Chúa đã chọn. Cũng vậy, trình thuật thánh Máccô nay kể về đồ đệ phản đối Thày về người khách lạ không cùng nhóm môn đồ của Chúa, nhưng vẫn thành công kình chống ác thần, để khi hỏi Thày chuyện này, đã được biết:“Ai không chống ta là ủng hộ ta.”(Mc 9: 9-10)

Nhờ có Tin Mừng, ta mới biết Chúa là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Và, ta tin Hội-thánh là chốn miền qua đó ta lĩnh nhận Lời Ngài, cả đến bí tích và cuộc sống của Chúa nữa. Tuy nhiên, những ai không gia nhập Hội thánh hoặc không tin vào Hội thánh, sẽ ra sao? Ơn cứu độ có sẻ san cho người ngoài thánh hội không? Ai không biết đến Tin Mừng vì thất học, hoặc vì sống ở vùng xa xôi hẻo lánh, và những người tuy nắm rõ mọi sự nhưng không tin vào Hội rất thánh thì sao? Họ, có được cứu độ không?

            Thánh Âu Tinh xưa có nói: “Ta biết Hội thánh Chúa hiện thời ở đâu, nhưng lại không rõ nơi nào Hội thánh không hiện diện. Trên tàu ông Nô-ê có nhiều thú vật xin tị nạn, có loài chẳng thể nào thích nghi được với lối sống ở trên tàu, nhưng vẫn được cứu. Nơi giòng chảy bên mạn tàu, mọi loài cá đều sống rất tốt, tuy không tị nạn trên tàu Nô-ê và vẫn sống ngoài kế hoạch của Chúa khi Ngài dựng vũ trụ.”

Thật sự thì, Chúa yêu thương hết mọi loài, không trừ một ai. Chẳng ai bị rơi rớt sống bên ngoài con tim của Ngài hết. Chúa muốn mọi loài đều được cứu. Chính Ngài đã cho đi chính mình Ngài ngõ hầu mọi loài đều ở vào danh sách những kẻ được cứu độ. Và, Thần Khí Ngài vẫn quanh quẩn ở với mọi người, chứ không chỉ những người có chân trong Hội thánh, mà thôi.

Công Đồng Vatican 2 dạy ta biết tôn trọng tự do của mọi người. Và, ta được khuyên dạy hãy thương yêu hết mọi người; bởi, có thể họ cũng sẽ là những người giúp ta đến với Chúa, rất mai sau. Nói như thế, không có nghĩa bảo: tôn giáo nào cũng như tôn giáo nào. Tức, cũng ngang bằng và giống nhau. Nhưng, Hội thánh Chúa, mới là đường chính dẫn đến Chúa, tức con đường Chúa tặng ban ơn lành cứu rỗi để ta san sẻ cho mọi dân.

Thiên Chúa không ngừng tỏ cho biết Ngài là Đấng Toàn Năng Toàn Thiện với mọi loài. Riêng loài người, được thụ hưởng cái-gọi-là “Nhân chi sơ tính bản thiện” từ Đức Chúa, nên đó còn là bằng chứng nói lên việc Chúa là Đấng đối xử tốt với mọi người, mọi loài. Người Samaritanô nhân hậu khi xưa dám cứu giúp người bị nạn bên đuờng, là ví dụ cụ thể, để ta nhận ra lòng nhân lành của Đức Chúa, nơi mọi người. Và, Chúa thực hiện “tính bản thiện” cho con người còn là bằng cứ chứng minh cho mọi người thấy Ngài vẫn hiện diện nơi con người ở thế gian.

Trình thuật hôm nay, rõ ràng mô tả Chúa không nói: “Ai không cộng tác với ta là chống ta”, nhưng Ngài bảo: “Ai không chống ta tức ở với ta.” Vế đầu là chuyện mơ hồ, hoang tưởng. Vế sau, vượt thắng sự thờ ơ, ơ hờ và hãi sợ mọi người khác. Vì hãi sợ nên con người mới để nó xâm nhập đầu óc mình, để rồi mới lật ngược lập trường sống cá thể để cương quyết sống hài hoà với hết mọi người, bất kể người đó là ai? Sống thế nào? Họ có tử tế, dễ thương không? Và, việc cuối cùng dành cho mọi người là: mình có chọn sự hoang tưởng hoặc cải biến chính mình cách chín chắn, yêu thương không? Đó là phương cách giúp ta trở nên giống con trẻ, như Tin Mừng hằng khích lệ.

Tuy thế, có người vẫn hỏi: là gì đi nữa, sống hoang tưởng hay có cải biến là sống ra sao, suốt một ngày? Cái đó còn tuỳ. Tuỳ người đi Đạo. Nhưng, câu trả lời có lẽ sẽ là: phải sống giản đơn, thuần thành, hiện thực. Không bận tâm đến những gì trừu tượng, đôi khi cũng lại hoang tưởng. Đừng cho rằng: cuộc sống là của chính mình, cho mình chứ không cho ai khác. Đừng mang trong người chỉ mỗi ảnh hình về chính mình hoặc về cung cách do mình tạo ra, cho cuộc sống. Đừng coi đó như hình thức “linh đạo” do mình sáng tạo, để mà sống.

Đã nhiều lần, người đi Đạo cũng đã nghe biết về thế giới cổ xưa có nền văn hoá Kitô-giáo, vẫn rất đẹp. Nhưng, đó không phải là con người mình. Cũng có người đi Đạo khác lại nghĩ rằng sự khôn ngoan nơi con người lan toả khắp mọi nơi; nó xâm nhập vào ảnh hình, ngẫu tượng, hình hài của những thời điểm rất khác biệt. Có người cứ liên tưởng về thế giới của thiền hành, không vọng tưởng, chẳng suy tư. Họ chỉ coi trọng tương quan với người khác, quyết xây dựng một thế giới khác thường, đặc biệt thôi.

Có người lại lập ra cho mình cung cách sống rất khác thường để rồi sủng ái, mến mộ đến độ nó trở thành hữu thể, rất dị biệt. Cũng chẳng nên phẩm bình tư duy và cung cách sống của bất cứ ai. Chẳng nên đặt khung hình để nhốt mình ở đó, mà sinh sống. Bởi tất cả vẫn ra như mù mờ, mới mẻ, đáng ta kinh ngạc. Đôi lúc có hơi nghiêm túc, nữa. Thế nên, cũng đừng quá nghiêm khắc với chính mình đến độ tự dẫn mình vào chốn tối mù, khó khăn, hoang tưởng. Nói như trình thuật thánh Máccô là nhủ rằng: hãy trở nên như con trẻ; hoặc như lông măng bay bổng qua hơi thở của Thiên Chúa.       

Khi biết rằng mình cũng lệ thuộc vào người khác. Cũng lĩnh nhận rất nhiều thứ, từ người khác, nên hãy cảm tạ họ. Và, hãy chỉ sống đời giản đơn như họ đang sống. Hãy vui hưởng cuộc sống giản đơn, như mọi người. Dù đôi lúc, mình cũng chẳng tin vào điều người nói về những điều họ tin tưởng. Trái lại, hãy cứ sống đơn sơ kiểu con trẻ, như hiện tại. Và, đừng bao giờ đặt nặng chuyện người khác có tin hay không vào mọi điều. Bởi khi sống đời giản đơn, rồi cũng sẽ nhận ra rằng có khi tính nghiêm nghị đến chết người cũng ảnh hưởng lên cuộc đời của chính mình. Dù, tính nghiêm túc ấy là do người của Hội thánh mang đến.

Sống nghiêm túc như người của Hội thánh, chưa hẳn là trở nên như con trẻ, theo đúng nghĩa. Bởi thế nên, cũng đừng rập khuôn đeo đuổi thuyết lý hoặc linh đạo kiểu “trẻ con”. Cũng đừng tìm cách sống ấu trĩ. Bởi, chẳng có ai cần phải làm như thế mới gọi là sống giản đơn. Tuy nhiên, nơi phần thâm sâu của mỗi người, vẫn còn đó tính “trẻ con”, rất ích kỷ. Thế nên, có lẽ cũng đừng tìm hiểu xem phần thâm sâu bên trong người mình là gì. Trong đời người, vẫn có người từng làm những chuyện như thế.

Có điều lạ, là: cả đến những người luôn tìm cách quan-trọng hoá, bi-đát-hoá mọi vấn đề trong đời, nhưng lại quên đi mỗi chuyện vui sống đời giản đơn với mọi người. Có sống giản đơn, mới thấy mọi chuyện trong đời đâu có gì cần phải ầm ĩ, bi đát đến như thế.  Chính vì vậy, cũng nên cười khẩy vào tất cả mọi sự, mọi chuyện tưởng chừng như ghê gớm ở trong đời.

Điều đưa ta trở về với sự thể biến cải khỏi sự vu vơ, mơ hồ, hoang tưởng ta đang suy và tưởng. Một sự thực rất dễ thấy, là: đừng quá ưu tư tạo cho mình tình huống “rối beng” để rồi không thể trở nên như con trẻ dám cười khẩy vào mọi sự. Trong lúc người lớn cứ tìm cách giáo dục con trẻ biết cách sống, thì trẻ con lại tìm cách tỏ cho người lớn biết cách để cười. Cười với hết mọi chuyện. Giả như, người người cứ ăn mặc quần áo với sắc mầu loè loẹt, không xứng hợp với tuổi tác, hoặc con người mình mà lại coi đó là chuyện tốt lành, há đó không phải là chuyện tiếu lâm chay/mặn quá đáng sao?

Trong kiếm tìm sự giản đơn để sống, cũng nên ngâm thêm lời thơ trên, rằng:

            “Đời tôi sa mạc, ôi sa mạc!

            Hoa hết thơm rồi, rượu hết say.

            Trăm sầu nghìn tủi, mình tôi chịu.

            Ba bốn năm rồi, nmăm sáu năm.”

            (Nguyễn Bính – Hoa Với Rượu)

Hoa rượu đời người, đâu sa mạc? Sa mạc đời, chỉ nơi người cứ đi tìm sự/vật rất khó để sống, có thế thôi. Hãy sống giản đơn như con trẻ, rồi sẽ vui vầy một đời, như Chúa dạy. Ngài dạy, ở nơi Tin Mừng rải khắp muôn nơi. Rất mọi thời.  

 Lm Kevin OShea DCCT biên soạn –

Mai Tá lược dịch.

Nếu, nếu một ngày không có em

Chuyện Phiếm đọc trong tuần 26 Thường niên năm B 30-9-2018

 “Nếu, nếu một ngày không có em”
Thì niềm cô đơn dài như năm tháng
Như mùa thu chết như lá thu rơi.”

(Khánh Băng – Nếu Một Ngày)

(1Côrinthô 13: 3-8)

Trần Ngọc Mười Hai

 Cứ coi là thế đi. Một ngày mà không có Em hoặc có Anh, thì ngày ấy sẽ chẳng là gì hết. Huống hồ, là tình yêu. Một ngày như thế, há nào như “mùa thu chết” hoặc cũng chỉ như ”lá thu rơithôiLá thu rơi ngày ấy, như tác giả nhạc bản “nếu một ngày” lại diễn tả thêm chữ “nếu” đầy tiếc nuối, mà rằng:

“Nếu, nếu ngày ấy mình đừng quen nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau

Nhớ, nhớ một chiều em đến thăm
Ngoài trời mưa trời mưa không dứt
Con đường trơn ướt em đến thăm tôi
Nhớ, nhớ ngày ấy mình cầm tay nhau
Nhìn hạt mưa ướt mi
Ngày sau sẽ không còn mưa rơi, sẽ không còn mưa rơi

Thôi kỷ niệm ấy xin trả cho người
Vì ngày mai tôi sẽ xa rời kỷ niệm, đành xa rời mãi.
Trên, trên con đường sóng gió ra đi.
Vì làm trai tôi đành lỗi hẹn.
Những niềm tin sẽ không xa rời, sẽ không xa rời.

Nếu, nếu một ngày không có tôi.
Thì người yêu ơi đừng quên tôi nhé.
Xin đừng giận dỗi, xin hiểu cho tôi.
Nếu, nếu ngày ấy mình đừng yêu nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau.”

(Khánh Băng – bđd) 

“Có đâu buồn đau”, lại cũng giống như trường-hợp của đấng bậc vị vọng nọ ở trời Tây, rất Nam Mỹ, từng thổ lộ về chuyện riêng tư của “ngài”, rằng:

Ngài linh mục người Brazil, Lm Antoine Teixeira đã có thư gửi Đức Phanxicô những lời sau đây: 

15 Tháng Chín, 2018

Kính gửi Đức Giáo hoàng Phanxicô,

Quả thật, ngài có lỗi! 

Đức Thánh cha có lỗi vì là một con người và không phải là một thiên thần! Đức Thánh Cha có lỗi vì khiêm tốn chấp nhận rằng mình đã sai lầm và cầu xin sự tha thứ cho chính mình và cho cả chúng con nữa. Trong khi điều này đối với nhiều người lại không thể chấp nhận được. 

Đức Thánh Cha có lỗi bởi vì ngài không muốn làm một vị thẩm phán, một con người của luật lệ, nhưng là một mẫu gương và nhân chứng của lòng thương xót. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã từ bỏ truyền thống sống trong cung điện và chọn cuộc sống như những người bình thường.

 Đức Thánh Cha có lỗi vì đã khước từ sự xa hoa của [Vương cung Thánh đường] Thánh Gioan Latêranô và ưa thích viếng thăm sự nghèo khổ nơi những nhà tù, trại trẻ mồ côi, bệnh viện, vv. 

Đức Thánh Cha thật có lỗi! Đức Thánh cha ngừng hôn những đôi chân thơm tho của các vị hồng y, nhưng lại hôn bàn chân “bẩn thỉu” của những phạm nhân, phụ nữ, bệnh nhân, những tín đồ thuộc các tôn giáo khác, và những người “khác biệt”! 

Đức Thánh Cha đáng bị lên án vì đã mở cửa đón nhận những người tị nạn, và bởi trước những vấn đề đau buồn cần được giải đáp, ngài chỉ trả lời một cách đơn giản: “Tôi là ai mà dám phán xét?”

 Đức Thánh Cha đáng bị đày đọa vì thừa nhận sự yếu đuối của mình bằng cách xin chúng con cầu nguyện cho ngài, trong khi nhiều người yêu cầu Đức Thánh Cha phải giáo điều, bất khoan dung, và quan liêu.

 Kính thưa Đức Thánh Cha, ngài bị quy kết cho thật nhiều thứ tội, như “những phường phản bội,” “hạng bị dứt phép thông công,” và “kẻ lai căng,” những người nhờ Đức Thánh Cha đã tái khám phá khuôn mặt xinh đẹp của Chúa Kitô đầy dịu dàng và thương xót. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã chỉ ra bản chất thực của sự việc và không ngừng nhắc nhở các giám mục rằng họ không phải là những mục tử ở sân bay, nhưng phải mang lấy “mùi chiên của họ.” 

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã xé toạc những trang sử bất khoan dung và thứ luân lý khô khan, tàn nhẫn, và ban tặng chúng con vẻ đẹp của lòng từ bi, nhân hậu và sự chân thành.

Đức Thánh Cha có lỗi vì đã mở mắt chúng con, những người [tự cho mình] thông minh và lý lẽ, nhất là con mắt của trái tim. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì muốn mang lấy thập giá của Giáo Hội thay vì mua vui cho những ánh mắt, bàng quan trước những nỗi đau và nước mắt của nhân loại thời đại chúng ta. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì không chịu đựng những tội ác ghê tởm nhân danh Thiên Chúa và những người rao giảng về Chúa nhưng lại sống đối địch với Ngài. 

Đức Thánh Cha có lỗi vì do lòng thương xót, dám tìm kiếm sự thật và công lý, thay vì thinh lặng, giấu giếm, giảm thiểu hoặc bỏ qua.

 Đức Thánh Cha có lỗi vì không muốn một Giáo Hội của đặc quyền, lợi ích, và vinh quang, và dạy cho chúng con sức mạnh của việc phục vụ, sự giàu có của việc rửa chân, và sự vĩ đại của tinh thần đơn sơ. 

Đức Giáo hoàng Phanxicô, hãy để người ta đổ lỗi cho ngài những “tội ác” này. Đức Thánh Cha biết rằng bên cạnh ngài là vô số những anh chị em nam nữ không phải là thiên thần như ngài, nhưng là những người yếu đuối, những tội nhân, những người hy vọng Chúa Kitô gìn giữ chúng ta và cho chúng ta.

 Đức Thánh Cha nên nhớ rằng có một làn sóng rất lớn của những tâm hồn luôn cầu nguyện cho Ngài mọi giây phút; vì Đức Thánh Cha, họ sẵn sàng mạo hiểm cả mạng sống mình. Họ bước theo Đức Thánh Cha như đoàn chiên tin tưởng vào mục tử của họ.

 Chính Đức Kitô đã ủy thác nơi Đức Thánh Cha sứ mệnh chèo lái “con thuyền” Hội Thánh. Ngài sẽ ban thêm sức mạnh cho Đức Thánh Cha theo đuổi con đường “tội lỗi” này, con đường đã được thực hiện thật tốt trên thế giới và trong Giáo Hội.

 Kính thưa Đức Thánh Cha, cảm ơn ngài đã trở nên “tội lỗi” để làm cho Hội Thánh nên xinh đẹp như mong ước của Chúa Giêsu.” (Lm. GB. Cao Xuân Hưng, Gp. Vinh biên dịch từ bản tiếng Anh, Nguồn: http://www.cbcplaiko.org/2018/09/13/from-a-priest-in-brazil-to-the-pope/)

Chuyện đời thường hoặc riêng tư nhà Đạo của một linh mục, cũng na ná hơi bị giống chuyện của người ngoài, ở đời thường. Nói na ná, là bởi nó chỉ giống đôi chút khía cạnh nào đó, rất nho nhỏ. Na ná, như câu truyện kể cũng rất nhẹ như bên dưới:

“Truyện rằng:

 Anh nọ có lần được dịp nói khoác:

–Tôi được thấy có nhiều cái lạ lắm, nhưng lạ nhất là có một chiếc thuyền, dài không lấy gì mà đo cho xiết, có người thuở hai mươi tuổi đứng ở đằng mũi bắt đầu đi ra đằng lái, đi đến giữa cột buồm thì đã già, râu tóc bạc phơ, cứ thế đi, đến chết vẫn chưa tới lái. Trong làng cũng có một anh nói khoác nổi tiếng, nghe vậy liền kể ngay một câu chuyện:

 –Như thế đã lấy gì làm lạ! Tôi đi rừng thấy có một cây cao ghê gớm. Có một con chim đậu trên cành cây ấy, đánh rơi một hạt đa. Hạt đa rơi xuống lưng chừng gặp mưa, gặp bụi rồi nảy mầm, đâm rễ thành cây đa. Cây đa lớn lên, sinh hoa, kết quả, hạt đa ở cây đa đó lại rơi vãi ra, đâm chồi, nẩy lộc thành nhiều cây đa con, đa con cũng như cây đa mẹ lớn lên, sinh hoa kết quả, lại nẩy ra hàng đàn cây đa cháu. Cứ thế mãi cho đến khi rơi tới đất thì đã bảy đời tất cả.

Anh đi xa về, nghe thế gân cổ lên cãi:

 –Làm gì có cây cao thế! Chả ai tin được.

Anh kia cười ranh mãnh:

–Ấy không có cây cao như thế thì lấy đâu ra gỗ mà đóng chiếc thuyền của anh? (Truyện kể rút từ điện thư vi tính, mới đây thôi.)

Truyện vui vi tính, thật ra, nhiều lúc cũng chẳng ăn nhập đề tài được bàn luận hoặc kể lể. Thế nhưng, đã gọi là truyện kể để minh-họa đề tài mình đang nói hoặc sắp nói, thì “giữa hai hàng chữ” vẫn có ý-tưởng sao đó, có thể xảy ra ngay ở đây vào một lúc, giống thế thôi. Thật ra thì, có kể truyện vui, cũng chỉ cốt để đề tài triết-lý/thần-học được dễ chịu khi người kể cứ bỏ thì giờ ra mà tìm kiếm.

Thế đó, còn là tâm-trạng của bần đạo bầy tôi đây, hôm nay, những muốn đề-cập đến một thứ phiếm luận đạo đời, rất khô khan, thôi. Kể rồi, nay mời bạn/mời tôi, ta trở về với  ca-từ nhạc-bản làm nền ở trên mà đi vào đoạn kết, cho bớt phiền. Ca-từ lại cứ hát những lời rằng:

“Nếu, nếu một ngày không có tôi
Thì người yêu ơi đừng quên tôi nhé
Xin đừng giận dỗi, xin hiểu cho tôi

Nếu, nếu ngày ấy mình đừng yêu nhau
Thì ngày nay có đâu buồn đau
Những khi mình xa nhau có đâu buồn đau.”

(Khánh Băng – bđd)

“Một ngày, không có tôi”, và cả những người anh, người chị ở thế-trần này, lại sẽ giống như tình-huống rất đạo/đời, mà thôi. Tình-huống những một ngày như thế ấy, còn là và vẫn là những tình và huống rất căn-cơ như lời lẽ bậc thánh hiền từng thổ-lộ hôm trước, nay ta nghe lại mà rằng:

“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp ra mà bố thí,

hay nộp cả thân xác mình để chịu thiêu đốt,

mà không có tình mến thương,

thì cũng chẳng ích lợi gì cho tôi.

Thương yêu, mến mộ luôn nhẫn nhục, hiền hậu,

không ghen tương,

không vênh vang,

không tự đắc,

không làm điều bất chính,

không tìm tư lợi,

không nóng giận,

không nuôi hận thù,

không mừng khi thấy sự gian ác,

nhưng vui khi thấy điều chân thật. 

Thương yêu, mến mộ tha thứ tất cả,

tin tưởng tất cả,

hy vọng tất cả,

chịu đựng tất cả.

Thương yêu, mến mộ như thế

không bao giờ lại mất đi.”

(1Côrinthô 13: 3-8)

“Không thể mất được”, đó là lời quả quyết như “đinh đóng cột”. Thứ quả quyết mà cả tôi lẫn bạn, cũng như mọi người vẫn cứ đưa ra cho mọi người biết, để còn tin. Và, khi đã tin rồi, sẽ không còn gì để thắc mắc nữa.

Thế đó, là lời thề của tôi và của bạn, của hất mọi người trong tương-quan đằm thắm rất yêu thương. Như thói thường cuộc đời người, xưa nay vẫn hoàn thế.

Thế đó, còn là ước hẹn của muôn người. Trên đường đời. 

Trần Ngọc Mười Hai  

Và những ước hẹn

Có tự bao giờ

Và bây giờ.

Một bài hay về hạnh phúc.

Bài cũ nhưng đọc lại vẫn thấy có giá trị.

Một bài hay về hạnh phúc.

Nếu hạnh phúc là thứ dễ tìm thấy thì có lẽ con người chẳng phải nếm mùi khổ đau nhiều như vậy? Nếu hạnh phúc là thứ ẩn nấp để cùng con người tham gia trò trốn tìm thì cuộc sống này liệu có còn thời gian tìm kiếm?

Hạnh phúc ở nơi đâu?

– Hạnh phúc nằm ở đôi môi của bạn ?

Một đôi môi biết mỉm cười và biết nói lời yêu thương chính là cửa ngõ dẫn đến hạnh phúc an nhiên của con người.

Nếu bạn chỉ biết than vãn, chỉ biết oán trách những trớ trêu của cuộc đời, chỉ biết dùng lời nói để chê bai, mỉa mai, công kích người khác thì đừng hỏi “Vì sao tôi không thấy hạnh phúc”. Hãy nói về những yêu thương tốt đẹp, hãy mỉm cười với cuộc sống xung quanh, hãy dành những lời ngọt ngào cho những người bạn yêu quý và bạn sẽ thấy hạnh phúc nảy nở từ đôi môi.

– Hạnh phúc nằm ở sự tha thứ?

Chẳng có ai ôm trong lòng mối hận thù mà cảm thấy vui vẻ và thoải mái cả. Có thể, họ đã làm tổn thương bạn, họ đã phản bội lòng tin và hằn trong lòng bạn một vết thương sâu hoắm và nhức nhối nhưng hãy đặt tay lên ngực mình và dặn với chính mình “Cuộc đời này vốn không đủ dài để yêu thương chỉ sao lại phí hoài nó cho hận thù”.

Vì thế, bằng cách này hay cách khác, hãy quên đi những vết thương và quên đi người để lại vết thương ấy, bạn cho đi sự tha thứ cũng chính là cách bạn tự cho chính mình một món quà chứa đầy hạnh phúc và an nhiên.

Tôi không chắc chúng ta có thể lại tin, lại yêu người ấy như chưa có chuyện gì nhưng chỉ cần bản thân tha thứ được thì ta sẽ lại có thể mỉm cười khi giáp mặt nhau. Như vậy, không phải sẽ tốt hơn sao?

– Hạnh phúc nằm ở chỗ Cho chứ không phải chỗ Đòi.

Hãy cho đi những thứ bạn muốn, rồi cuộc đời sẽ trả lại cho bạn những gì mà bạn muốn, có thể nó không đến từ người bạn cần nhưng chắc chắn rằng trong dòng đời sau này, sẽ có người cho bạn lại những điều như thế.

Đừng đòi hỏi điều gì khi bản thân không làm được. Sự hụt hẫng khi điều mình muốn không được đáp lại rất dễ đẩy bạn vào hố sâu của thất vọng.

Vì thế, đừng tự giết cảm xúc của mình chỉ vì những đòi hỏi cho thỏa mãn cảm xúc của bản thân, hãy học cách cho đi thật nhiều, cuộc sống này không để bạn chịu thiệt thòi đâu.

Hạnh phúc vào lúc nào?

– Hạnh phúc là khi bạn biết Đủ?

Nói theo Đạo học là “Thái quá hay Bất cập đều là dở cả” (thái độ cực đoan là không tốt).

Yêu thương quá sinh ra gò bó, quan tâm quá sẽ khiến mất tự do, ghen tuông quá cũng mất vị tình yêu và cái gì cũng thế, chạm đến chữ Đủ sẽ chạm được hạnh phúc tròn vị.

Đừng chạy theo cái gì quá hoàn chỉnh và cũng đừng ép bản thân phải trở nên quá hoàn hảo, yêu thương vừa đủ, ấm áp vừa đủ, quan tâm vừa đủ và bên nhau vừa đủ có lẽ sẽ hạnh phúc hơn.

Do đó, chúng ta thấy hạnh phúc chẳng nằm ở đâu xa, mà nằm ngay nơi chính ta, và hạnh phúc cũng chẳng phải là cái đích đặt ra để chúng ta đi đến, mà là thứ luôn hiện hữu song hành bên ta trong cuộc sống, chỉ vì ta quá hướng ngoại mà không quan tâm quên mất nó đi thôi.

Vì thế, hạnh phúc của chúng ta hẳn phải do tự chúng ta xây lấy, chứ chẳng phải chạy theo một ai đó để xin ban. Thứ hạnh phúc xin ban chỉ là thứ hạnh phúc ảo, nó sẽ dần chết theo thời gian.

Suu Tam