Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

 Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

Những căn nhà đổ nát vì pháo kích của Việt Cộng vào Sài Gòn trong ngày 30 Tháng Tư 1975. (Hình: Getty Images)

VIỆT NAM, (NV) – Sau 44 năm kể từ khi Sài Gòn thất thủ, quân đội Bắc Việt chiếm toàn miền Nam Việt Nam, rất nhiều người trên mạng xã hội đã bày tỏ suy nghĩ, cảm xúc về ngày 30 Tháng Tư. Những câu được nhìn thấy nhiều nhất là: “Ngày 30 Tháng Tư, ăn mừng vì điều gì?”

Facebook Đinh Bá Truyền viết trên trang cá nhân: “30 Tháng Tư, 1975, một toán cộng quân tiến chiếm Dinh Độc Lập. Lính tráng rửa ráy ở bồn phun nước trước Dinh. Riêng tay chính ủy bước vào phòng tắm, mở trúng cái vòi nước nóng, phỏng cả người. Y hét lên: “Tiên sư đế quốc Mỹ, rút đi rồi còn cài nước sôi ám hại ông!”

Facebook Đỗ AnhDo chia sẻ:“Chúng ta cùng ôn lại lịch sử 30 Tháng Tư, 1975. Sự đau thương không bao giờ quên.”

Trịnh Bá Tư, một người trẻ sinh ra và lớn lên sau “ngày giải phóng” đăng tải bài thơ của “nhà thơ điên” Bùi Giáng, “Đánh cho Mỹ chút Ngụy nhào” trong đó có đoạn: “… Đánh cho cả nước Việt Nam, Áo ôm khố rách xếp hàng xin cho. Đánh cho hết muốn tự do, Hết mơ dân chủ hết lo quyền người…”

Một Facebooker khác có tên Thienthanh viết: “Ngày 30 Tháng Tư, 1975, ngày tri ân đến những người chiến sĩ anh hùng Việt Nam Cộng Hoà vị quốc vong thân. Ngày tưởng nhớ đến những người Việt Nam đã ra đi tìm đường Tự Do, đã yên nghỉ trong lòng Đại Dương. Và không quên những người dân Việt Nam còn đang sống trong địa ngục của cộng sản Việt Nam. Một ngày tang thương cho toàn dân tộc Việt Nam.”

Nguyễn Phương, cũng là một người trẻ sinh sau năm 1975, hiện đang sống và làm việc ở Nhật đã đăng tải 2 hình ảnh: “Sài Gòn 1969 và TPHCM 1976” cùng với lời bình luận: “Thằng đi bộ, xe độp tiến vào nam “giải phóng” thèng đi xe oto!”

Blogger Lê Nguyễn Hương Trà đưa lên trang cá nhân một video có tên “Sài Gòn xưa.” Video này nhanh chóng nhận được nhiều lượt xem và chia sẻ. Có những người sau khi xem xong để lại những dòng chữ như: “Đẹp và thanh lịch, có một Sài Gòn như thế. Có người viết rằng: Sài Gòn trước ngày bị cướp.”

Nhà văn Nguyễn Đông Thức, con trai nhà văn Bà Tùng Long, từ Sài Gòn, chia sẻ bài viết dài trên trang cá nhân:

 “Tôi rất sợ ngày 30-4. Đã có một thời gian dài, cứ đến ngày này là người tôi lại bị tan rã nhão nhoẹt như một vũng bùn nhớp nhúa chảy dài trên giường. Tôi chỉ nằm vậy thôi.

Rồi mọi cảm giác lâu dần cũng trở thành chai sượng.

Mấy năm nay tôi thường dùng ngày này để đóng cửa nằm nhà. Làm việc, đọc sách, nghe nhạc… Không cho phép mình buồn. Và thậm chí không dám chạm đến Facebook, nơi tôi biết cứ mỗi dịp như thế này là lại sôi sục một không khí “từ bao lâu ta nuốt căm hờn”, cạnh đó là niềm vui chiến thắng ăn chơi nhảy múa. Cùng với sự xuống cấp ngày càng tệ hại của xã hội, có vẻ như “bên thắng cuộc” bắt đầu thấy sượng hơn nên kín đáo hơn trong sự ăn mừng của mình, còn “bên thua cuộc” càng thấm thía nỗi đau khi đối chiếu lại giá trị của những gì đã bị mất.

Luôn cố gắng để có thể là một nhà chuyên nghiệp trong mọi việc, tôi quyết định coi như không còn ngày 30-4 trong tâm trí mình nữa. Không còn ai thắng thua, không còn hoà hợp hoà giải (vì có bên nào muốn đâu!), không còn hy vọng và tuyệt vọng. Tập trung làm việc để khỏi nghĩ tới nó.”

Đặc biệt, Facebook Trương Thị Hà, thế hệ 9X sinh ra và lớn lên ở miền Bắc viết trên trang cá nhân: “30/04 – Ngày quốc tang.”

“Đối với tôi, ngày 30/4 hôm nay và về sau là ngày đáng thương cho đất nước Việt Nam và toàn thể người dân Việt Nam trước và sau năm 1975. Giải phóng gì mà 444,000 thanh niên miền Bắc và 282,000 thanh niên miền Nam phải bỏ mạng. Giải phóng gì mà 2 triệu người dân Việt Nam vô tội phải chết trong lửa khói. Giải phóng gì mà 1 triệu lính miền Nam phải bỏ tù cải tạo, trong đó có 165,000 lính miền Nam chết trong trại cải tạo. Giải phóng gì mà 1.5 triệu con dân miền Nam phải tha phương nơi đất khách quê người để trốn chế độ cộng sản, trong đó có 300,000 người sẽ mãi mãi không bao giờ nhìn thấy bến bờ tự do. Giải phóng gì khi ngày nay 97 triệu người dân Việt Nam bị tước những quyền cơ bản như quyền biểu tình, quyền lập hội. Thống nhất gì khi lòng dân không yên, vẫn còn phân biệt, đối xử vùng miền giữa thành thị và nông thôn, kẻ có tiền và quan hệ luôn đè đầu, cưỡi cổ kẻ nghèo hèn.”

Còn rất nhiều hình ảnh, bình luận, chia sẻ khác được bày tỏ trên mạng xã hội trong vài ngày qua. Tất cả đều cho thấy một tâm trạng tiếc nuối, hoài vọng, đau xót về một Sài Gòn chỉ còn trong ký ức. (C.Lynh)

From: TU-PHUNG

Người Việt Nam trên mạng xã hội nói về “ngày giải phóng”

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

ĐỨC MẸ CỦA KINH THÁNH VÀ ĐỨC MẸ CỦA LÒNG SÙNG KÍNH

 Rev. Ron Rolheiser, OMI

Có nhiều người tin rằng: Người Công giáo La Mã có khuynh hướng sùng bái Đức Mẹ, còn người Tin Lành và phái Phúc âm thì có khuynh hướng bài trừ Đức Mẹ.  Cả hai đều không chuẩn lắm.

Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, có hai tuyến lịch sử trong truyền thống Kitô giáo.  Chúng ta có Đức Mẹ trong Kinh thánh, và Đức Mẹ của lòng sùng kính, và cả hai đều góp những phần đặc biệt cho hành trình Kitô hữu của chúng ta.

Đức Mẹ của lòng sùng kính thì được biết đến nhiều hơn, chủ yếu là trong Công giáo La Mã.  Đây là hình ảnh Đức Mẹ trong chuỗi mân côi, Đức Mẹ của các đền thánh nổi tiếng, Đức Mẹ Sầu bi trong các kinh, Đức Mẹ dịu dàng chuyển cầu cho chúng ta đến với Chúa, Đức Mẹ tinh tuyền và trinh khiết, Đức Mẹ hiểu nỗi đau của con người, Đức Mẹ làm kẻ sát nhân phải mềm lòng, và Đức Mẹ mà chúng ta luôn có thể chạy đến kêu cầu.

Và Đức Mẹ này, trên hết là Mẹ của người nghèo.  Karl Rahner từng chỉ ra rằng khi nhìn vào mọi lần Đức Mẹ hiện ra mà đã được Giáo hội công nhận, bạn sẽ để ý thấy rằng mẹ luôn hiện ra với người nghèo, một đứa bé, một nông dân, một nhóm trẻ em, một người không có địa vị xã hội.  Đức Mẹ không bao giờ hiện ra với một thần học gia đang nghiên cứu, một giáo hoàng, hay một triệu phú.  Mẹ luôn là người mà người nghèo hướng về.  Lòng sùng kính Đức Mẹ chính là thần nghiệm của người nghèo.

Ví dụ như, chúng ta thấy rất rõ điều này trong tác động của Đức Mẹ Guadalupe lên Châu Mỹ La tinh.  Trong toàn châu Mỹ, hầu hết các thổ dân đều là Kitô hữu.  Tuy nhiên, ở Bắc Mỹ, nơi hầu hết thổ dân là Kitô hữu, Kitô giáo lại không phải là một tôn giáo bản địa, mà là một tôn giáo du nhập từ nơi khác đến.  Còn ở Châu Mỹ La tinh, khắp nơi mà giáo dân sùng kính Đức Mẹ Guadalupe, thì Kitô giáo được xem là một tôn giáo bản địa.

Nhưng lòng sốt sắng và sùng kính cũng có nguy cơ trật đường về mặt thần học và gây nên sự ủy mị không lành mạnh.  Đây cũng là vấn đề trong hình ảnh Đức Mẹ của lòng sùng kính.  Chúng ta có khuynh hướng nâng Đức Mẹ lên hàng thần thánh (mà thế là sai) và chúng ta quá thường sùng kính Mẹ đến nỗi trong tâm thức của chúng ta, một Đức Mẹ của lòng sùng kính không thể nào là một người khiêm hạ đã hát lên bài Magnificat.  Đức Mẹ của lòng sùng kính quá thường bị tôn vinh với sự sốt sắng, đơn giản hóa thái quá, và phi tính dục như thể cần bảo vệ Mẹ khỏi những phức tạp của thân phận con người.  Nhưng Đức Mẹ của lòng sùng kính vẫn cho chúng ta đối diện rõ ràng hành trình tâm linh của mình.

Còn Đức Mẹ của Kinh thánh và vai trò mà các Tin Mừng khác nhau đã nói đến về Mẹ, thì bị làm ngơ hơn nhiều.

Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ được thể hiện như hình mẫu người môn đệ.  Nói đơn giản hơn, Mẹ là một con người chuẩn mực ngay từ đầu.  Nhưng chúng ta lại không nhận ra như thế ngay lập tức.  Nhìn bề ngoài, đôi khi chúng ta lại thấy ngược lại.  Ví dụ như, trong nhiều dịp Đức Giêsu nói chuyện với đám đông, có người cắt lời và báo rằng mẹ và người thân của Ngài đang chờ bên ngoài và muốn nói chuyện với Ngài.  Và Chúa Giêsu trả lời: “Ai là mẹ Ta và ai là anh chị em của Ta?  Là người nghe lời Chúa và tuân giữ.”  Khi nói thế, Chúa Giêsu không có thái độ xa cách với mẹ mình, mà ngược lại thì đúng hơn.  Trong các Tin mừng, trước chuyện này, các thánh sử đã rất cẩn thận chỉ ra rằng Đức Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.  Và như thế, chính Chúa Giêsu nêu bật mẹ mình trên hết là vì đức tin của Mẹ, chứ không phải vì huyết thống.  Trong Tin mừng Nhất lãm, Đức Mẹ là hình mẫu cho tinh thần môn đệ.  Mẹ là người đầu tiên nghe lời Chúa và tuân giữ.

Tin mừng theo thánh Gioan còn cho Mẹ một vai trò khác.  Mẹ không phải là hình mẫu cho tinh thần môn đệ (một vai trò mà thánh Gioan trao cho người môn đệ Chúa thương và Maria Magdalena) nhưng được xem là Evà, mẹ của nhân loại, và là mẹ của mỗi người chúng ta.  Thú vị là, thánh Gioan chưa từng nói ra tên của Đức Mẹ, ngài luôn luôn nói là “Mẹ của Chúa Giêsu.”  Và với vai trò này, Đức Mẹ làm hai điều:

Thứ nhất, Mẹ là tiếng nói cho sự hữu hạn của con người, như khi Mẹ lên tiếng trong tiệc cưới Cana “họ hết rượu rồi.”  Trong Tin mừng theo thánh Gioan, đây không chỉ là cuộc nói chuyện giữa Đức Mẹ và Chúa Giêsu, nhưng còn là cuộc nói chuyện giữa Mẹ Nhân loại và Thiên Chúa.  Thứ hai, là Evà, Mẹ toàn thể và Mẹ chúng ta, Đức Mẹ cũng bất lực trong và trước nỗi đau của con người khi Mẹ đứng dưới chân thập giá.  Trong biến cố này, Mẹ cho chúng ta thấy mình là Mẹ của toàn thể, nhưng cũng là một gương mẫu về cách đương đầu với sự bất công, cụ thể là đứng trong sự bất công đó mà không nhân đôi hận thù và bạo lực đó nhưng đáp lại bằng yêu thương.

Đức Mẹ đã cho chúng ta một gương mẫu tuyệt vời, một gương mẫu không phải để chúng ta tôn sùng hay làm ngơ, nhưng là để sống.

Rev. Ron Rolheiser, OMI

From: Langthangchieutim

30.04.1975: Ngày mất nuớc? Phải làm gì?

30.04.1975: Ngày mất nuớc? Phải làm gì?

Trần Nguyên / Người Xứ Bưởi

Andy

season camera GIF

I/ Nổi đau nào lớn hơn nổi đau mất nước ?

Đại thi hào Hy Lạp Eupirides trong vở kịch Medea đã có câu nói bất hủ:  “Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước” (xem Nguồn 1 phía dưới).

Không phải tình cờ mà Cộng Đồng Người Việt Tị Nạn tại Úc đã khắc ghi điều này cho hậu thế biết trên một Đài Tưởng Niệm Thuyền Nhân tại đó.

Đúng vậy: 30.04.1975 là ngày mất nước và là ngày đau buồn nhất cho dân tộc Việt Nam. Sau 44 năm, nếu mổi người Việt nhìn trở lại thì ai cũng thấy rỏ nổi đau này. Gia đình nào cũng tan nát phân tán khắp nơi. Đúng là: “Nước mất nhà tan”. Cũng như còn nổi nhục nào cái nhục này, khi biết được nhan nhản trên báo chí Trung Cộng đăng lời rao bán đàn bà, con gái Việt Nam:

“Mua một cô vợ Việt Nam giá 6,000 USD

– Bảo đảm còn trinh;

– Bảo đảm giao hàng trong vòng 90 ngày;

– Không phụ phí;

– Nếu cô ta trốn đi trong vòng 1 năm, được 1 cô khác miễn phí”.

Sự thực hiển nhiên cho thấy dân tộc Việt Nam trải qua nổi nhục nhằn đó từ khi thế lực cộng sản thống trị trên đất nước và sẽ là cơ hội dể dàng để Trung Cộng đặt ách đô hộ. Sau mật ước Thành Đô 1990, VN chúng ta lần lượt mất vô số lãnh thổ vào tay Trung Cộng. Điển hình như Ải Nam Quan, Thác Bản Giốc … bị cướp đi và Trung Cộng cho di dân ào ạt qua VN mua đất đai để tính kế lâu dài. Đó đúng là “Đại Hoạ Mất Nước” sắp tới nơi rồi (xem Nguồn 2)

II/ Kinh nghiệm thắng được Cộng sản tại Ba Lan & Đông Âu

Muốn thoát khỏi đại họa mất nước gần kề, mổi người dân Việt phải sáng suốt coi công cuộc tranh đấu là quan trọng nhứt với tinh thần “Quốc gia hưng vong thất phu hữu trách”và sẳn sàng học hỏi kinh nghệm thành công từ các quốc gia đã từng thoát được ách cộng sản.

Chẳng hạn như Đông Âu, mà điển hình là trường hợp Ba Lan đã thành công rực rỡ nhờ:

1) Ở quốc nội dân chúng Ba Lan sáng suốt tranh đấu ôn hoà dưới sự hướng dẫn của lãnh tụ Walesa / Công Đoàn Liên Đới (Solidarity) không tạo ra tình thế bạo động cực đoan khiến bị đàn áp đẫm máu như đã xảy ra tại Đông Bá Linh (1953), Hung Gia Lợi Budapest (1956), Tiệp Khắc Prague (1968) … dẫn đến thất bại làm mất tiềm lực tranh đấu cả hàng chục năm sau..

2) Tại quốc ngoại, Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan vận động yểm trợ quốc nội trên mọi lãnh vực như:

  1. a) quyên tiền gửi cho tổ chức tại quốc nội để có phương tiện nuôi dưỡng tranh đấu.
  1. b) thông tin cho quốc tế biết về công cuộc tranh đấu tại Ba Lan để phá tan tuyên truyền láo lếu (fake news) của hệ thống tuyên truyền cộng sản & thiên tả.
  1. c) phát triển & đoàn kết lại giữa các Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan ở các cường quốc Tây Phương.

3) Quan trọng và quyết định nhứt là tìm kiếm sự yểm trợ hữu hiệu của quốc tế. Đặc biệt là của siêu cường Hoa Kỳ, vì thực tế cho thấy chỉ quốc gia này mới đủ sức và dám đương đầu Cộng sản Liên Sô. Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan tại Mỹ đã sáng suốt biết đầu tư trong cuộc bầu cử Tổng Thống Mỹ vào năm 1980 qua sự ủng hộ Liên Danh TT Reagan & PTT Bush để được thắng cử và nhờ đó sau này TT Reagan mới có cơ hội thực hiện chánh sách “đánh & diệt” Cộng sản  Liên Xô.

Đây là nước cờ tối quan trọng đã khiến Liên Sô sụp đỗ vào đầu năm 1991 và đã khiến tự động mấy chục nước Cộng sản Đông Âu đều thoát ách độc tài, mà chả cần phải vô cùng gian khổ tranh đấu như mấy chục năm trước đó.

Cộng đồng Tỵ nạn Ba Lan đã can đàm dứt khoát dám chọn ủng hộ một ứng cử viên Tổng Thống ngang tàng kiểu “cao bồi Texas” như ông Reagan.

 

Điều này rõ ràng qua sự kiện TT Reagan đã dám tới ngay Bức Tường Ô Nhục Bá Linh (Berlin) thách thức cấp lãnh đạo cộng sản Liên Sô phải phá bỏ bức tường này vào ngày 12/0671987 (xem Nguồn 3 & Nguồn 4).

 

Kết quả thực đúng như lời kêu gọi ngang tàng này, Bức Tường Ô Nhục Bá Linh – sau đó 2 năm – đã bị “sụp đỗ” vào ngày 09/11/1989 (xem Nguồn 5).

III/ Phải làm gì?

Nhìn kỹ lại: Hiện nay tình hình biến chuyển có chiều hướng thuận lợi tương tự như thời kỳ chánh phủ Reagan (1981 – 1989) với chánh phủ Mỹ có chủ trương “đánh & trị Trung Cộng”. Nếu hòn đá tảng Trung Cộng để dựa vào không còn nữa – như Liên Sô – thì VN chúng ta không còn lo “đại họa mất nước” và chắc chắn tự động thoát khỏi ách cộng sản như đã xảy ra tại Đông Âu.

Qua bài học Ba Lan, mỗi người dân VN chúng ta ở trong và ngoài nước ai cũng đều có thể làm được tương tự như vậy tuỳ theo hoàn cảnh và khả năng mồi cá nhân.

Quan trọng nhứt là đồng bào VN với tư cách cử tri tại Mỹ tích cực thuyết phục gia đình và bạn bè quen biết ủng hộ một chánh phủ với một chính đảng cầm quyền xứng đáng có chánh sách phù hợp sự sinh tồn dân tộc VN chúng ta. Thực vậy chúng ta cần một chánh phủ Mỹ cầm quyền lâu dài như thời kỳ Reagan & Bush để đủ sức mạnh gây áp lực ngăn chặn được mưu đồ Trung Cộng toan chiếm Biển Đông và uy hiếp các quốc gia láng giềng.

Rất có thể nhờ vậy cuộc khủng hoảng kinh tế của Trung Cộng sẽ còn tiếp tục kéo dài và dẫn đến sụp đỗ toàn diện như đã xảy ra cho Liên Sô vào năm 1991. Lúc đó VN chúng ta có quyền hãnh diện và không còn buồn tủi khi mổi năm tháng tư ló dạng.

Mong sẽ được như vậy!

Trần Nguyên / Người Xứ Bưởi

Nguồn 1: Vở kịch nổi tiếng Medea đã có câu nói bất hủ:  “Không có nỗi đau nào lớn hơn nỗi đau mất nước”

https://en.m.wikipedia.org/wiki/Medea_(play)

Nguồn 2: Phim tài liệu “Đại Hoạ Mất Nước”

Nguồn 3: “Mr. Gorbachev, Tear Down This Wall!”: Reagan’s Berlin Speech

https://www.britannica.com/story/mr-gorbachev-tear-down-this-wall-reagans-berlin-speech

Nguồn 4: “Berlin Wall” Speech – President Reagan’s Address at the Brandenburg Gate – 6/12/87

YouTube player

Nguồn 5: Bức Tường Ô Nhục Bá Linh đã bị “sụp đỗ” vào ngày 09/11/1989

https://en.wikipedia.org/wiki/Berlin_Wall

Đây là hình ảnh đón lễ.

Image may contain: outdoor
Trần Hồng Lâm

 

Hứa với dân Thủ Thiêm, trong tháng 11-2018, sẽ giải quyết dứt điểm vấn đề khiếu kiện, nhưng cuội cũng thua anh mấy bậc.

Nhưng với BCT, anh hứa không để xảy ra biểu tình ở thành phố nơi anh cai quản, anh chơi phát lào ra phát ý.

Đây là hình ảnh anh cho quân giăng lên để đón lễ.

” Ôi những cánh đồng quê chảy máu,
Dây thép gai đâm nát trời chiều!”

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ NGÀY 30/4 CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ THỨC TỈNH.

Image may contain: 1 person, standing and text
Lê Quốc QuânFollow

NHỮNG CÂU NÓI HAY VỀ NGÀY 30/4 CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ THỨC TỈNH.

1/ Nếu ngày 30-4-1975, 
bên chiến thắng là Việt Nam Cộng Hòa thì giờ đây trong khu vực châu Á, Việt Nam có thể chỉ thua duy nhất Nhật Bản về kinh tế, còn chắc chắn sẽ ngang bằng hoặc hơn Hàn Quốc về cả kinh tế và quân sự.
(Luật sư Nguyễn Văn Đài )

2/ ” Càng huênh hoang, bốc phét về đại thắng mùa xuân càng khơi dậy nỗi đau và lòng hận thù “

“30/4 là ngày đã giải phóng cho tôi , một công dân miền Bắc khỏi kiếp nô lệ của một thứ triết học chính trị ngoại lai”
( Nhạc sĩ Tô Hải )

3/”Vào miền Nam tôi khóc vì sao? Là bởi vì tôi hiểu đạo quân chiến thắng ở miền Bắc phụ thuộc vào một chế độ man rợ. Rất nhiều dân tộc văn minh bị tiêu diệt bởi một chế độ man rợ hơn, bởi vì họ hung hăng hơn.

Sau này tôi mới hiểu tôi cũng ngây thơ tôi khóc thế thôi. 
30/4 tôi còn khóc vì một lý do khác nữa là vì chúng tôi bị lừa. Chúng tôi đi không nghĩ ngày về, nhưng mà chúng tôi tưởng chiến thắng quân ngoại xâm nhưng thực sự hoàn toàn là không phải. 
Và tất cả tuổi trẻ của chúng tôi đã bị tiêu huỷ đi. 
Và vì vậy mà tôi khóc,  trong những giọt nước mắt của tôi có cái phần chung cho dân tộc và có phần riêng của chúng tôi, của những người bạn tôi đã chết và của bản thân tôi đã hy sinh tuổi xuân một cách vô ích.»

( Nhà văn Dương Thu Hương).

4/”Dù không muốn nói ra,  dù bây giờ ai nói ra đều bị coi là phản động, rằng đã có một cuộc giải phóng ngược trong ngày 30/4/1975, bên thắng cuộc đã được hoàn toàn giải phóng, trước tiên và trên hết là sự giải phóng về tư duy, ít nhất là đúng với mình”
( Nhà văn Nguyễn Quang Lập ).

5/ “Tôi nghĩ giá như trong cuộc chiến vừa qua, miền Nam thắng, thì có lẽ sẽ tốt hơn “.
( Nhà văn Nguyên Ngọc )

6/”Hóa ra những người chiến sĩ Giải phóng chúng tôi bấy lâu đã bị một thế lực nhân danh sự nghiệp Giải phóng ngấm ngầm trói buộc vào một guồng máy lấy xương máu chúng tôi và xương máu nhân dân để đúc thành ngai ghế “vua quan cách mạng” của họ.”

( Nhà thơ Bùi Minh Quốc)

7/ “Trống kèn ầm ỹ, pháo hoa khắp nơi, duyệt binh
“hoành tráng” chỉ còn là màn khói mỏng che đậy những sai lầm và tội ác chồng chất cùng những bất công kinh khủng mà xã hội không còn có thể chịu đựng nổi.”
( Nhà báo Bùi Tín )

8/”Sự kiện 30-4-1975 tôi không phải là chứng nhân của sự kiện đó vì tôi sinh ra năm 1979, nhưng những gì tôi trực tiếp trải qua và chịu đựng trên đất nước Việt Nam thì tôi thấy đây là sự kiện hết sức là đặc biệt, cá nhân tôi nghĩ rằng đây là sự an bài nhục nhã của đức chúa trời dành cho dân tộc Việt Nam. “
( Luật sư Lê Thị Công Nhân ).

( Nguồn: Internet ). Copy từ facebook Sao Mai

Viết trong những ngày đất nước đang chuyển mình

 

Viết trong những ngày đất nước đang chuyển mình

Bởi   AdminTD

KTS Trần Thanh Vân

30-4-2019

Tôi không phải là nhà chính trị, cũng không phải là một fortune teller, nhưng với những năm tháng từng trải của mình, tôi hiểu sâu sắc rằng, đất nước VN đang ở trong những ngày biến động dữ dội, nhưng mỗi ngày một sáng sủa hơn.

Đại gia đình tôi đã trải qua 72 năm và có ít nhất 3 thế hệ sống trong nước Việt Nam Dân chủ Công hòa, thành lập ngày 2/9/1945 và đến hôm nay là những ngày cuối cùng của Cộng Hòa XHCN Việt Nam do ĐCSVN lãnh đạo. Nhìn vào những biến động của đại gia đình mình trong 72 năm qua, tôi “nhìn thấy” sự biến động của đất nước và tôi tin chắc rằng mọi thứ đang được phát triển theo một quy luật mà không thế lực nào cưỡng nổi.

Thế hệ thứ nhất

Năm 1945, cha tôi là một thanh niên 30 tuổi, đầy lòng yêu nước, ngây thơ và hăm hở theo Việt Minh rồi trở thành Đội viên Đội tự vệ Hoàng Diệu từ những ngày đầu kháng chiến chống Pháp. Cha trở thành công an mật Hà Nội năm 1947, được kết nạp vào ĐCS năm 1948, rồi lên chiến khu Việt Bắc, rồi trở về Hà Nội ngày giải phóng Thủ đô năm 1954…

Khi cha tôi mất năm 2002, cụ vẫn là một cán bộ cách mạng lão thành, sống kham khổ, trong sạch và khi nhắm mắt xuôi tay, cha mãn nguyện ra đi vì đã cống hiến cả đời mình sự nghiệp giải phóng quê hương. Tôi thương cha, đến phút chót cuộc đời, cha không hiểu hết con đường cách mạng của mình đúng sai ở chỗ nào?

Cậu ruột, em trai thứ 3 của mẹ tôi thì khác hẳn. Là một thanh niên học sinh yêu nước của trường Bưởi Hà Nội, cậu tôi rủ các bạn cùng trường, đi quyên góp gạo tiền, nấu cháo phát chẩn cho bà con nghèo đói ở các làng quê, nạn nhân của nạn đói 1945… Nhưng cậu tôi không theo Việt Minh, ông và các bạn ông hưởng ứng lời kêu gọi của Thủ tướng Trần Trọng Kim, khi chính phủ Trần Trọng Kim bị Việt Minh đánh đổ, cậu tôi bị Việt Minh bắt giam và bị giết chết.

Thế hệ thứ hai

Chồng tôi và tôi cùng lớn lên trong nhà trường xã hội chủ nghĩa. Khác với tôi, chồng tôi luôn tỏ ra là một người sống có kỷ luật, ngoan ngoãn và trung thành với chế độ. Chồng tôi được kết nạp vào ĐCS năm 1961, ông được tổ chức cơ quan và chính quyền nhà nước cưng chiều, được cử sang Anh tu nghiệp tiếng Anh năm 1979, sang Hà Lan, sang Nhật học tập về Quy hoạch quản lý kinh tế. Ông được Ủy ban Hợp tác kinh tế đối ngoại của chính phủ phân công phụ trách khối Bắc Âu, đã từng có quan hệ thân tình với Thụy Điển, là khách quý được cố Thủ tướng Thụy Điển Olof Palme mời tới nhà riêng ăn cơm chiều…

Đã đặt chân tới hơn 40 nước phi XHCN, chồng tôi có dịp tiếp cận, kết bạn và tìm hiểu khá kỹ về “chế độ tư bản giẫy chết”, ông từng cố gắng mang những hiểu biết của mình, thuyết phục, phân tích cho các quan chức cùng thời. Có người ủng hộ và muốn làm cuộc cải cách, như Thủ tướng Võ Văn Kiệt, như Thứ trưởng Trần Quang Cơ, nhưng các vị đó suy nghĩ nhiều mà chẳng làm được việc gì.

Khi cựu Thủ tướng Võ Văn Kiệt bị ám hại qua đời, chồng tôi hiểu rằng mọi cố gắng chưa hợp thời đều bị thất bại, ông về hưu năm 2000, bỏ ĐCS, ông ở nhà nuôi dạy thằng Út, hy vọng thằng con lớn lên sẽ không bỏ phí cuộc đời như cha nó.

Khác hẳn với chồng, tôi ngang bướng và rất “vô kỷ luật”, tốt nghiệp kiến trúc tại Thượng Hải năm 1966, theo học “The International Post-Granduate Training Course on Ecosystem Management” ở Dresden năm 1980-81. Trở về nước, tôi chỉ chăm lo công tác chuyên môn là nghiên cứu kiến trúc cảnh quan, bỏ nhiều thời gian nghiên cứu về Phong thủy. Tôi từ chối mọi cơ hội được đề bạt thăng chức, tôi không nộp đơn xin vào ĐCS và năm 1992, tôi nằng nặc đòi nghỉ hưu khi mới 51 tuổi.

Từ ngày được sống cuộc đời tự do, tôi lập công ty tư nhân, tự đi kiếm việc làm thuê để nuôi sống bản thân và gia đình, tôi bắt đầu quan tâm đến xã hội xung quanh và vận mệnh đất nước.

Càng hiểu sâu về Phong thủy, tôi càng khao khát cơ hội được phục hồi HÀO KHÍ THĂNG LONG của các triều đại Lý, Trần, Lê, khi xưa. Tôi bắt đầu quan tâm và không ngần ngai hiểm nguy, tôi lên tiếng ngăn cản Dư án Thủy cung Thăng Long ở Bán đảo Tây Hồ năm 1998, lần đầu tiên có một quan chức cao cấp là Phó TT Ngô Xuân Lộc mất chức và có kẻ vào tù.

Thế hệ thứ ba

Chồng tôi bị trọng bệnh và qua đời cuối năm 2012. Còn lại một mình, tôi bán nhà và cho thằng Út theo học trường quốc tế tại Hà Nội rồi đi du học tại Vương quốc Anh từ năm 2017. Trong 7 năm theo học tại trường quốc tế song ngữ Hanoi Academy, con tôi được tiếp xúc với các thầy cô giáo quốc tế, với khẩu hiệu “Becoming a Global Citizen” in trên trang phục, tôi muốn đứa con nhỏ được lớn lên trong bầu không khí lành mạnh, được thoát khỏi mọi kỷ niệm đau buồn mà gia đình đã trải qua.

Thỉnh thoảng nhà trường tổ chức cho học sinh đi dã ngoại, các cháu quyên góp quần áo, sách vở và dụng cụ học tập trợ giúp những học sinh kém may mắn ở vùng cao, vùng xa… nên đến khi nộp hồ sơ để đi du học, thầy giáo quốc tế hỏi cháu muốn chọn ngành gì? Cháu trả lời: Nghiên cứu Tâm lý Xã Hội. Hỏi tại sao? Cháu nói: Nhiều người cần giúp đỡ quá, phải hiểu họ thì mới giúp họ được. Thầy giáo chủ nhiệm người Mỹ nói với tôi rằng đó là câu trả lời nghiêm túc của một một đứa trẻ sống có trách nhiệm. Và tôi hoàn toàn yên tâm, tiễn con ra đi. Ở xa, vài ngày cháu lại gọi về động viên mẹ ăn ngủ điều độ và đừng làm việc quá sức.

Tôi không làm việc quá sức. Tôi biết điều tiết bản thân và giữ gìn sức khỏe. Ở nhà một mình, tôi rảnh rang theo rõi mọi biến động của xã hội. Đến nay, đã có hàng chục, hàng trăm và hàng ngàn dự án chiếm đất làm giầu của rất nhiều tập đoàn bất động sản trên khắp đất nước. Và đến nay tôi hiểu sâu sắc rằng sự suy thoái xã hội đã đến bước trầm trọng, không ai cứu vãn nổi nữa.

Mặt khác, tôi cũng nhận ra nền tảng xã hội đang chuyển mình rõ rệt và mỗi ngày một rõ rệt hơn. Các lệnh cấm đoán, bắt bớ tù đày không ngăn cản được lòng dân suy nghĩ và nói lên mọi suy nghĩ của mình.

Nếu 20 năm trước, một nhóm KTS chúng tôi có thể ngăn chặn một Dự án Thủy cung Thăng Long tội lỗi và đánh đổ ông Phó Thủ tướng Ngô Xuân Lộc, thì hôm nay có nhiều Thủy Cung Thăng Long khác tội lỗi hơn và trong số đó có một đệ tử gần gũi của ông Ngô Xuân Lộc khi xưa, là ông Đinh La Thăng, Ủy viên BCT cùng một lũ đầu trâu mặt ngựa đã phá nát và đục khoét đất nước mà công chúng gọi là công cuộc “đốt lò vĩ đại” của ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước.

Thử hỏi, trong tất cả những kẻ đã bị ném vào lò đó, có kẻ nào bị oan uổng không? Không có kẻ nào oan uổng cả. Nhưng tôi e rằng, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước sẽ không có đủ lò để đốt hết lũ sâu mọt chúng nó đâu, bởi vì lũ sâu mọt kia là sản phẩm của cơ chế XHCN mà ông là thủ lĩnh. Mỗi ngày lại xuất hiện thêm nhiều kẻ độc ác tham lam, khốn nạn hơn, bọn đó không chỉ đáng ném vào lò, mà cần phải bị tru di tam tộc.

Có lần tôi đã viết thư gửi cho ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước, xin ông đừng nghĩ tôi không phải đảng viên cộng sản thì tôi chống đảng. Cha tôi, chồng tôi từng là những ĐVCS ưu tú, từng sống trong sạch tận tụy vì lợi ích của đất nước… nhưmg thời đó qua rồi. Còn ông, tôi khuyên ông tự giải tán đảng Cộng sản trước khi bị nhân dân lật đổ.

Năm 2018, khi bà chủ tịch quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân quăng các bản hồ sơ Đặc khu kinh tế lên bàn hội nghị Quốc hội, ép Quốc hội thông qua Luật Đặc khu với lời tuyên bố tỉnh bơ “Bộ Chính trị đã quyết”, nhưng cuối cùng Luật đặc khu đã bị ngăn lại. Công của ai, tội của ai tôi không tiện bàn, tôi chỉ khẳng định công lý đã thắng thế và trong giới chóp bu cộng sản, có người đã tỉnh ngộ.

Cũng như vấn đề Biển Đông sôi động nhiều chục năm qua, khiến cả nước căm hờn, phẫn nộ, khi người “bạn vàng”, “thân thiết như môi với răng” của VN ta xưng xưng nói rằng, Biển Đông của ta là Biển Hoa Nam của họ, nhưng xin chớ bi quan, cho đến hôm nay, quan hệ hợp tác về quốc phòng giữa VN và Hoa Kỳ đã là Hợp tác chiến lược toàn diện. Vào những ngày ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước lâm bệnh nặng, Đô đốc Philip Davidson, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương – Ấn Độ Dương đến thăm Việt Nam, đã được VN đón tiếp nồng hậu; cũng như khi đoàn nghi sĩ thượng viện Hoa Kỳ do Thượng nghĩ sĩ Patrick Leahy dẫn đầu đến thăm VN, họ đã được VN đón tiếp thân tình, kể cả việc họ được đến thăm Thiền sư Thích Nhất Hạnh, vị Thiền sư nổi tiếng thế giới có lúc đã bị giới chop bu CS coi như kẻ bán nước.

Và vài tháng nữa thôi, ông Tổng bí thư – Chủ tịch nước hoặc người đại diện cho ông sẽ đi thăm Hoa Kỳ. Chắc chắn sẽ có nhiều văn bản hợp tác về kinh tế và các vấn đề hệ trọng khác về hợp tác khai thác dầu khí và bảo vệ Biển Đông sẽ được ký kết.

Tóm lại, tôi không quan tâm lắm về bệnh tình của ông TBT- CTN ốm đau ra sao, ông có bị ai ám hại hay không, ở trong một chính đảng đã đến thời suy thoái, lại ở sát sườn với một thằng bạn xấu sẵn sàng ăn tươi nuốt sống mình, thì tôi hiểu rằng bị kẻ xấu rình rập ám hại và mỗi người phải trả giá cho những sai lầm của đời mình là dễ hiểu.

Có điều tôi biết chắc chắn rằng, đã đến lúc đảng Cộng sản sẽ phải tự giải tán, chế độ độc tài sẽ phải tự thủ tiêu và năm bảy năm nữa khi lứa tuổi trẻ như con tôi trở về, chúng sẽ có đủ trí tuệ, tài năng và nhiệt huyết điều hành đất nước.

Quy luật tất yếu đó sẽ không một ai, không một sức mạnh nào ngăn cản được.

CHÚA BAN BÌNH AN

CHÚA BAN BÌNH AN

Phúc Âm tuần này kể chuyện Chúa Giêsu phục sinh hiện ra với các môn đệ và nói: “Bình an cho anh em” tới 3 lần. Để thực sự hưởng ơn bình an của Chúa cần thực hiện 3 điều: THẤY CHÚA, THA THỨ, và TIN TƯỞNG.

  1. Thấy Chúa. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. Quan trọng là Chúa như thế nào? Nếu thấy 1 Thiên Chúa thẳng tay trừng phạt thì chỉ có sợ toát mồ hôi mà thôi. Nhưng khi thấy Chúa giàu lòng thương xót đến nỗi đã chịu mang đầy thương tích ở tay chân, và cạnh sườn mở ra để ta thấy tim Chúa chan chứa yêu thương, thì lúc ấy chúng ta dạt dào niềm vui và bình an.
  2. Tha thứ. Chúa sống lại đã không đi trả thù những kẻ đã giết Ngài cho hả lòng hả dạ; không hạch tội các môn đệ phản bội cho bõ tức! Chúa tha thứ; Chúa quên hết quá khứ lỗi lầm của nhân loại. Chúa thổi Thần khí sự sống mới cho các môn đệ. Để rồi, các môn đệ cũng có thể sống tinh thần tha thứ cho lòng thanh thản bình an. Nếu không tha thứ thì lòng người sẽ ứ đọng thù ghét, ứa lên men cay đắng bất an.
  3. Tin tưởng. Nếu cứ sống trong bóng tối nghi ngờ người khác và nghi ngờ cả Chúa thì liệu lòng mình có được bình an? Chỉ khi sống tin tưởng nhau, tin thật vào Chúa thì lòng mình mới bình an phó thác. Chính vì điều này mà đi liền với các tượng ảnh Lòng Chúa thương xót luôn là câu tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa Giêsu, con xin tín thác vào Ngài.”

Tạ ơn Chúa phục sinh đã giúp các môn đệ cùng chúng con thấy Chúa, tha thứ và tin tưởng để đời chúng con được bình an ngay giữa những gian nan trong đời. Xin cho trái tim mỗi chúng con cũng lúc lắc những nhịp đập thương xót và tin tưởng để trở thành khí cụ bình an cho gia đình, hội đoàn, giáo xứ, đất nước… được an vui hạnh phúc. Amen.

From: KittyThiênKim & Kim Bang Nguyen

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

THÁNH TÔMA VÀ LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA

Chúa Nhật II phục sinh Giáo hội tuyên dương lòng thương xót Chúa.  Thánh Gioan Phaolô II đã thiết lập lễ này đáp lại ý Chúa muốn qua thánh nữ Maria Faustina: “Ta muốn ngày lễ kính lòng thương xót là một trợ giúp và là nơi trú ẩn cho mọi linh hồn và nhất là cho những người tội lỗi đáng thương.  Trong ngày ấy, lòng thương xót của Ta sẽ rộng mở, Ta sẽ tuôn đổ một đại duơng hồng ân xuống các linh hồn đến gần nguồn mạch lòng thương xót của Ta” (Tiểu nhật ký, số 699).  Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II qua đời vào đêm cuối tuần Phục Sinh đầu tiên (ngày 2 tháng 4 năm 2005).  Lòng thương xót Chúa đã chiếu một luồng ánh sáng vào cái chết của một vị thánh thời đại.

Lòng thương xót của Chúa được diễn tả qua cuộc thương khó và cái chết của Ngài trên thập giá.  Điều quan trọng được Thánh Kinh ghi nhận là thân xác phục sinh của Chúa Giêsu vẫn còn mang thương tích của cuộc khổ nạn, vẫn còn lỗ đinh ở chân tay và vết giáo đâm ở cạnh sườn.  Tin Mừng phục sinh là Tin Mừng về các vết thương đã lành nay thành những vết sẹo.  Lòng thương xót ghi đậm nét nơi các vết thương trên thân thể Chúa.  Vì thế, việc đầu tiên khi hiện ra với các môn đệ, sau khi trao sự bình an, là cho các ông xem các vết thương ở tay và cạnh sườn, các môn đệ vui mừng và bình an.

Lòng thương xót Chúa đối với con người trước và sau phục sinh không thay đổi, vì Chúa Giêsu vẫn là một để cho người ta nhận ra Ngài.  Vết thương diễn tả lòng thương yêu của Chúa với con người không thay đổi.  Ngài còn khoe và cho phép Tôma lấy tay kiểm tra vết thương.  Chúa không che dấu, không tiếc xót dù Tôma có cứng lòng, đòi thực tế phải thấy mới tin. 

1. Đức tin của Tôma

Chúa sống lại, các môn đệ không dễ dàng tin, thánh sử Luca kể: “Khi từ mộ trở về, các bà Maria Macđala, bà Gioanna và bà Maria, mẹ ông Giacôbê và các bà khác cùng đi với mấy bà này.  Các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy.  Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẫn, nên chẳng tin” (Lc 24,11).  Thánh Matthêu thuật lại: khi mấy người phụ nữ báo tin cho các môn đệ: Chúa đã sống lại rồi, các ông cũng hoài nghi.  Rồi, “khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” (Mt 28,17).  Riêng Tôma đã nói một câu quyết liệt: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin.”  Đây là kiểu tin bằng lý luận kiểm chứng, chỉ tin khi thấy, khi đã có đủ bằng chứng rõ ràng hiển nhiên. 

Tôma đại diện cho những người lý luận, cái gì cũng muốn xem tận mắt, bắt tận tay.  Chỉ tin những gì thấy được.  Chỉ chấp nhận những gì sờ được.  Đòi kiểm nghiệm tất cả.  Đòi tự mình chứng nghiệm tất cả.  Không chỉ tin vào lời nói suông.  Tôma không vội tin một cách dễ dàng như bao người khác.  Ông là người có tính thực tế của khoa học phải qua kiểm chứng, kiểm nghiệm bằng mắt thấy, tai nghe, tay chân sờ mó đụng chạm hẳn hoi thì mới tin.  Đây phải chăng là thái độ khôn ngoan, cẩn thận trước một quyết định hết sức quan trọng của đức tin nơi Tôma?  Cám ơn thánh Tôma, vì nhờ ngài mà các môn đệ khác được chứng kiến tỏ tường Chúa sống lại, được nhìn thấy những vết thương ở tay chân và cạnh sườn Người. 

Trước khi tin, Tôma phải hoài nghi đã.  Tôma chỉ tin những điều hợp lý, những gì “thấy được, sờ được.”  Đây không phải là thái độ cố chấp của Tôma mà ngược lại là thái độ không nhẹ dạ, không cả tin vội vàng bằng tai nghe.  Đó là lối phân tích theo nhận định tự nhiên của con người và cũng là kinh nghiệm sống đức tin của nhiều người chúng ta.  Dù sao, đây cũng là một khó khăn riêng tư của Tôma trong việc tin vào Chúa sống lại.  Chúa Giêsu hiểu ông, nên đã đích thân đến và giúp cho ông dễ dàng hơn để tin vào Chúa.  Ngài mời gọi ông hãy tin vững vàng.  Và ông đã nói lên lời tuyên xưng đức tin thật đẹp đẽ, thật trang trọng “lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi.”  Cuối cùng, Chúa Giêsu đã ban cho Toma sự bình an và đức tin mạnh mẽ qua sự hoài nghi, để ông tuyên xưng đức tin cá nhân của mình: “Lạy Thiên Chúa của con.”  Sau khi nhận lãnh Chúa Thánh Thần, Tôma đi rao giảng Tin Mừng khắp nơi.  Theo lưu truyền, ông đi rao giảng đức tin và lòng thương xót của Chúa ở Ba tư, Xyri rồi chịu tử đạo ở Ấn Độ.

Thần học gia Hans Kung nói: “người tín hữu không bao giờ nghi ngờ sẽ khó lòng hoán cải một người hoài nghi.”  Nhà thần học Paul Tillich nói: “sự hoài nghi chín chắn là sự khẳng định của đức tin.  Nó chứng tỏ một sự quan tâm rất nghiêm chỉnh.”  Còn Thomas Merton bảo: “người có niềm tin mà chưa từng trải qua sự nghi ngờ thì không phải là người có niềm tin.”  Jean Guitton, một nhà triết học người Pháp, nói: “Chính vì nghi ngờ thường trực mà tôi lại có thể tin vững.”  Thực tế, trên đời có biết bao điều chúng ta không thấy mà vẫn tin, không kiểm tra được mà vẫn phải chấp nhận và sống điều ấy.  Sự hoài nghi giúp chúng ta trưởng thành trong đức tin, thúc đẩy ta thắc mắc, tìm hiểu, học hỏi, cầu nguyện, nghiên cứu sách vở (Lm. Pet. Bi Trọng Khẩn).

2. Lòng mến của Gioan

Có hai mức độ tin: mức độ thấp là tin vì thấy, tin dựa vào bằng chứng; mức độ cao là tin mà không cần thấy, tin không dựa trên bằng chứng mà dựa trên tình yêu.  Đây là mối phúc thứ 9 như lời Chúa Giêsu nói với tông đồ Tôma: “Phúc cho những ai không thấy mà tin” (Ga 20,28).  Không thấy mà tin không có nghĩa là tin một cách mù quáng, vu vơ, không có cơ sở, không có lập trường mà là bằng tình yêu nên đức tin vững mạnh hơn, truởng thành hơn.  Thánh Gioan, “người môn đệ Chúa yêu”, bằng tình yêu, Gioan “đã thấy và đã tin” và nhận ra điều mà mọi người khác không nhận ra.  Phúc âm kể: khi thấy một bóng người mờ mờ đi trên mặt biển, mọi người khác đều tưởng là ma, chỉ có Gioan tức khắc nhận ra đó là Thầy mình.  Khi Chúa Phục Sinh hiện ra bên bờ biển hồ Tibêria, “các môn đệ không nhận ra” nhưng “ môn đệ được Chúa Giêsu thương mến” đã nhận ra và nói với Phêrô “Chúa đó” (Ga 21, 4-7)…  Rõ ràng, con đường tình yêu đi đến niềm tin nhanh chóng hơn, nhẹ nhàng hơn, thoải mái hơn. 

Tin mừng Phục Sinh cho thấy: có hai con đường dẫn tới đức tin, một con đường bằng lý luận với những bằng chứng rõ ràng, và con đường thứ hai là dựa vào tình yêu, thoạt xem có vẻ tầm thường nhưng thực ra lại nhanh chóng, nhẹ nhàng và cũng không kém phần vững chắc.  Chúng ta hãy củng cố đức tin của mình bằng cả hai con đường đó.  Phải có những suy nghĩ lý luận thật vững chắc về Chúa, mặt khác chúng ta cũng hãy cố gắng yêu mến Chúa ngày càng nhiều hơn, bởi vì cũng như thánh Gioan, nếu có thêm sức mạnh của tình yêu, chúng ta sẽ được mở mắt để nhận biết những gì mà người không yêu Chúa không nhận biết.

3. Lòng Chúa Xót Thương

Nhân loại thời nay khát khao một “Thiên Chúa tình yêu giàu lòng thương xót” (1Ga 4,8; Ep 2.4) để họ tôn thờ, tựa nương và tìm được ý nghĩa cuộc đời.  Lòng thương xót là tình yêu thương, là lòng trắc ẩn với người đau khổ, với người nghèo đói, với người bệnh tật, với người tội lỗi.  Nhân loại thời nay cần tình yêu, đây là một dấu chỉ của thời đại.  Vì thế, mỗi người tùy vào khả năng của mình hãy đặc biệt quan tâm đến việc thực thi lòng thương xót.  Mỗi tín hữu được mời gọi trở thành nhân tố tích cực để sống và làm chứng cho lòng thương xót. 

Điều làm nên nét độc đáo của người tín hữu là nhân đức thương xót, thể hiện bằng đạo yêu thương, được bộc lộ nơi bản thân và cuộc đời mỗi cá nhân.  Mỗi người trong chúng ta, bằng cách thực thi bác ái, lòng thương xót và tha thứ, có thể trở nên dấu chỉ quyền năng tình yêu của Thiên Chúa có sức biến đổi tâm hồn, đem lại hòa giải và bình an.  Trong Tông sắc Misericordiae Vultus (Dung mạo Lòng Thương Xót), ĐTC Phanxicô nói: “Thời đại ngày nay, khi Hội Thánh đang thực thi công cuộc Tân Phúc Âm hóa, lòng thương xót quả là cần thiết để một lần nữa tạo nên nhiệt tình mới và đổi mới các hoạt động mục vụ.  Điều tối quan trọng đối với Hội Thánh, cũng như để làm cho lời rao giảng của Hội Thánh đáng tin, chính là sống và làm chứng cho lòng thương xót.  Ngôn ngữ và hành động của Hội Thánh cần phải thông truyền lòng thương xót, để đến với trái tim con người và giúp họ gặp thấy lối đường dẫn về Chúa Cha” (số 12).  Đáp lại lời kêu gọi của ĐTC Phanxicô, trong Thư gởi cộng đoàn dân Chúa (17.9.2015), HĐGMVN nhấn mạnh: “Mỗi người Công Giáo phải trở thành nhân tố tích cực trong việc xây đắp nền văn minh tình thương và văn hóa sự sống.  Không có những chứng nhân của lòng thương xót, xã hội sẽ trở thành một sa mạc hoang vu, cằn cỗi, không sức sống.”

Chúa Phục Sinh cho các tông đồ xem những thương tích cuộc khổ nạn nay đã thành sẹo như mời gọi các ngài chiêm ngắm chính nguồn mạch của Lòng Thương Xót không bao giờ cạn vơi.

Thánh Tôma Aquinô đã cầu nguyện rằng: “Chúa ơi, con không xin được xem thương tích Chúa như ông Tôma tông đồ, nhưng con tuyên xưng Chúa là Chúa của con.  Hãy làm cho con luôn tin vào Chúa, cậy trông vào Chúa và yêu mến Chúa nhiều hơn nữa.”  Người kitô hữu đôi khi không cần trí tuệ để tin vào những thực tại thiêng liêng; không cần giác quan để kiểm soát những dấu chỉ mầu nhiệm trong đạo, mà cần sống bằng lòng mến.  Càng yêu mến nhiều thì càng tin chắc.  Càng tin vững thì càng bình an.  Như vậy, con đường của lòng tin là con đường của lòng mến.  “Ai xót thương người, sẽ được Thiên Chúa xót thương” (Mt 5,7).  Những ai luôn tin vào sự hiện diện của Chúa Giêsu phục sinh đều luôn sống tích cực và khám phá ra điều kỳ diệu trong những cái tầm thường để có khả năng chứng mình về tình yêu và lòng thương xót của Chúa. 

Lm Giuse Nguyễn Hữu An