Trung Quốc chuyển sang kiềm chế Jack Ma

 Nhà giàu ở xứ cộng sản cũng khổ!!!

 

Image may contain: 1 person

Trung Quốc chuyển sang kiềm chế Jack Ma

Bắc Kinh khởi động một cuộc điều tra chống độc quyền đối với công ty của tỷ phú trực tính Jack Ma và ra lệnh tạm dừng phiên phát hành cổ phiếu đầu tiên ra công chúng (IPO) của công ty công nghệ tài chính Ant Group của ông hồi cuối tháng 12 năm ngoái.

Jack Ma là người sáng lập tập đoàn thương mại điện tử khổng lồ Alibaba và người giàu thứ hai Trung Quốc bị nghi ngờ là đã “mất tích” sau hai tháng không xuất hiện trước công chúng.

Hồi tháng 10-2020, Jack Ma có bài phát biểu chỉ trích những bất cập trong hệ thống quản lý tài chính của Trung Quốc.

Theo mạng báo Telegraph, ông không xuất hiện trong cả chương trình truyền hình thực tế mà ông làm ra và tham gia với tư cách một thành viên ban giám khảo.

Ảnh biếm họa: Rebel Pepper #RFAVietnamese #JackMa  

ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẸP QUÁ VÀ XẤU QUÁ

ĐẠO CÔNG GIÁO ĐẸP QUÁ VÀ XẤU QUÁ

 Lm. Bùi Tuần

Một ông bạn đến thăm. Bạn mới toanh. Mình chỉ mới biết chứ chưa quen và chưa dám thân. Vừa ngồi xuống ghế, ông vô đề cái rụp:

– Anh là linh mục. Tôi là mácxít. Nhưng chúng mình cứ chân thành nói chuyện với nhau. Không ai ngại ai. Đừng ai sợ ai.

– Đồng ý. Tôi chỉ ước mong có bấy nhiêu thôi.

– Tôi công nhận đạo của anh có chân lý, vì nó tồn tại hai mươi thế kỷ. Tôi cố tìm hiểu đạo của anh, nhưng tìm hoài không ra. Tôi đọc Victor Hugo, tôi thấy đạo của anh rất mâu thuẫn. Đọc cuốn “Những Kẻ Khốn Cùng”, tôi thấy đạo của anh đẹp quá. Đọc cuốn “NhàThờ Đức Bà Paris”, thì lại thấy đạo của anh bẩn quá. Vậy thì đạo của anh là gì?

– Đọc Victor Hugo, anh chỉ thấy chúng tôi, chỉ thấy Giáo Hội, chứ chưa thấy ĐẠO. Chúng tôi không phải là ĐẠO. Đức Giêsu mới là ĐẠO. Chúng tôi hay Giáo Hội của chúng tôi, chỉ là những người tội lỗi đang lẽo đẽo theo sau Đức Giêsu, để tìm ơn cứu độ. Giữa Đức Giêsu và chúng tôi còn một khoảng cách xa vời vợi.

– Làm thế nào để hiểu biết Đức Giêsu?

– Phải đọc Thánh Kinh.

– Thánh Kinh bán ở đâu?

– Có đâu mà bán.

– Tại sao vậy?

– Anh hiểu rõ hơn chúng tôi. Nhưng hy vọng chánh sách sẽ mở rộng từ từ…

Mình và ông mácxít ngồi tâm sự rỉ rả với nhau từ tám giờ tối, đến mười giờ đêm. Tin tưởng và chân thành dìu cả hai người đi vào mọi ngóc ngách lịch sử của cả đạo lẫn đời.

Mình không ngại kể lại cho ông bạn sơ giao nghe những trang sử đen tối nhất của GiáoHội. Thời Trung Cổ Giáo Hội đã phạm những sai lầm ngoài sức tưởng tượng của mình.Đó là chia rẽ Kitô giáo; tòa án tôn giáo; cuộc chiến dai dẳng giữa Công giáo và Hồi giáo; đời sống luân lý sa đọa ngay tại Vatican.

Mình kể chuyện Giáo Hội yếu đuối, mà lòng không e ngại. Dường như mình cảm thấy rằng khiêm tốn nhìn nhận lỗi lầm của Giáo Hội cũng là chứng tá của Tin Mừng. Thánh Phalô đã không giấu giếm cái quá khứ tội lỗi của mình. Ngài thấy mình yếu đuối bao nhiêu thì càng thấy ơn Chúa hùng mạnh bấy nhiêu. Thánh Phêrô trên đường truyền giáo, chắc chắn không quên kể lại chuyện mình chối Chúa ba lần. Kể chuyện mình chối Chúa, mà cả người kể lẫn người nghe đều cảm thấy lòng mình thương Chúa nhiều hơn.

Hôm nay ông bạn mácxít được nghe chuyện xấu xa của Giáo Hội nhiều hơn ông đã từng biết. Ông không ghét, ông không khinh Giáo Hội. Dường như ông thông cảm với Giáo Hội, y như ông thông cảm với thân phận yếu đuối chung của loài người và của chính ông. Dường như ông cũng bắt đầu thấy rằng dưới gầm trời chẳng có ai là thánh. Ai khoe mình là Thánh, thì chỉ là khoác lác, chỉ là cuồng si, chỉ là không tưởng…

Mình cảm thấy rằng khi hai người đối thoại với nhau mà không thành kiến, không hận thù, thì họ sẽ thấy những khuyết điểm của nhau chỉ là đáng tiếc, chứ không đáng khinh dể. Bây giờ ông bạn mácxít của mình không còn thắc mắc tại sao “đạo của anh bẩn quá”. Ông chỉ còn muốn biết Đức Giêsu là thế nào. Mình kể cho ông nghe ba câu chuyện của ba người.

Người thứ nhất là ông Philip.

Sau khi được Đức Giêsu mời gọi làm đệ tử, Philip vội vàng đi khoe với ông bạn Nathanael: “Đấng mà Môsê và ngôn sứ nói tới, thì chúng tôi đã gặp rồi, đó là Đức Giêsu con ông Giuse, người làng Nagiarét”. Nói tới Nagiarét một làng nổi tiếng quê mùa, Nathanael cả cười và phê một câu chắc nịch: “Chẳng có điều gì tốt mà lại xuất phát từ Nagiarét”. Philip đành chịu thua, nhưng khuyên bạn: “Anh hãy đến mà xem”. Nathanael đến gặp Đức Giêsu và đã tin Người là Đấng Cứu Thế.

Mình khuyên ông bạn mácxít của mình: “Anh hãy nuôi ước muốn tìm hiểu Đức Giêsu. Ngài sẽ trực tiếp giúp anh”.

Người thứ hai là đại danh hào Lep Tolstoi.

Tolstoi say mê kinh “Phước Thật Tám Mối”. Đó là bài giảng quan trọng nhất của Đức Chúa Giêsu. Đó là chân dung hoàn hảo nhất của một Kitô hữu chân chính. Tolstoi đã giới thiệu kinh này cho Thánh Gandhi của Ấn Độ. Thánh Gandhi đã phát biểu ý kiến của mình về kinh “Phước Thật Tám Mối” như sau:

“Sau khi đọc kinh phước thật tám mối, tôi rất yên tâm tiếp tục cuộc đấu tranh bất bạo động của mình để giành độc lập cho quê hương Ấn Độ”.

Người thứ ba là đại danh hào Dostoievsky.

Dostoievsky bất mãn với Giáo Hội thời Trung Cổ. Trong cuốn “Anh Em Nhà Karamasov” ông đã dựng nên một vở tuồng cực ngắn mô phỏng một vị hồng y ngồi ghế chánh án xử một tín đồ về tội không tin theo giáo huấn của Giáo Hội. Người tín đồ ấy bị đưa lên giàn hỏa thiêu. Phần kết của vở tuồng, Dostoievsky cho đức hồng y chánh án đối chất với Đức Giêsu đang bị giam ở tầng hầm của tòa giám mục, “Xin Ngài nhớ là trước khi về trời, Ngài đã trao mọi quyền hành trên trời và dưới đất cho chúng tôi rồi mà. Tại sao bây giờ Ngài lại đến xía vào việc của chúng tôi…”.

Dostoievsky bất mãn với cái xấu của Giáo Hội, một tập thể yếu đuối đang đi tìm ơn cứu độ nơi Đức Giêsu. Nhưng ông lại tuyệt đối tin tưởng vào Đức Giêsu. Ông tuyên tín như sau: “Đức Giêsu là Chân-Thiện-Mỹ tuyệt đối. Nếu có ai bảo rằng Đức Giêsu không có chân lý thì tôi, Dostoievsky, vẫn đứng về phía của Người”.

Mình hứa sẽ tìm cho ông bạn mácxít của mình một cuốn sách Thánh Kinh. Đọc Thánh Kinh để biết Đức Giêsu. Đọc Thánh Kinh còn giúp người đọc hiểu sâu sắc hơn về các tác phẩm văn chương của Châu Âu. Mình đan cử một ví dụ:

V.Gheorghiu tác giả của cuốn “Giờ Thứ Hai Mươi Lăm” kể chuyện: một người đàn bà nghèo tên là Aritiba có một người chồng mà dư luận cho là có dòng máu Do-Thái. Đó là thời điểm đang bùng vỡ phong trào bài Do Thái. Người đàn bà này sợ quá, nhưng không dám hỏi chồng. Bà cứ nom nóp lo sợ, cứ âm thầm thắc mắc. Cho tới buổi tối hôm ấy, chồng của bà hấp hối. Bà đứng khóc thút thít bên giường người chồng sắp ra đi. Khi ông vừa ngáp một cái rồi tắt thở, thì bà vội kéo quần ông xệ xuống một cái rồi kéo trở lại ngay. Bà hốt hoảng lấy tay làm dấu Thánh giá…

Mình hỏi ông bạn:

– Anh có biết tại sao bà kéo quần của chồng xệ xuống, rồi vội kéo lên ngay không? Anh có hiểu tại sao bà ta hốt hoảng và làm dấu Thánh giá không?

– Tôi chưa kịp hiểu. Anh hỏi tôi mới để ý.

– Bà kéo quần chồng xệ xuống mới phát giác ra rằng quả thật chồng bà là người Do Thái.Theo luật, thì mọi người Do Thái phải cắt bỏ da bọc quy đầu. bà đã thấy, bà sợ quá. Khi sợ quá người bên đạo chúng tôi thường làm dấu Thánh giá như một phản xạ. Nếu anh đọcThánh Kinh, anh sẽ tìm hiểu ngay chi tiết có vẻ hơi bí mật này.

– Có lý. Anh kiếm cho tôi một cuốn Thánh Kinh nha.

Lm. Bùi Tuần

Buồn Vui Năm 2020 – Bài tản mạn

Buồn Vui Năm 2020 – Bài tản mạn

Tác giả: Nguyễn Ngọc Duy Hân

Thấm thoát mà một năm Dương Lịch lại đã trôi qua – năm 2020 với nhiều biến động, thay đổi. Thời gian nhanh như gió thoảng, nhớ mới hôm nào bắt đầu năm 2000, gia đình tôi và mọi người đều lo lắng cho một thiên niên kỷ mới, lo tích trữ gạo, nước, sợ điện bị cúp, lo hệ thống computer bị hư hỏng …. mà bây giờ 20 năm nữa đã trôi qua. Con số 2020 nhìn rất đặc biệt, nên cũng đã có khá nhiều sự kiện khác lạ xảy ra trong năm rồi. Mời bạn cùng tôi điểm qua vài sự kiện quan trọng nhé.

Đầu tiên thì phải kể tới đại dịch COVID-19. Thế giới ghi nhận bệnh nhân số 0 là một người dân ở Vũ Hán nước Tàu, 55 tuổi. Sau khi không thể che đậy dấu diếm, WHO đã phải công bố tình trạng y tế khẩn cấp toàn cầu. Đến nay, cả thế giới chịu ảnh hưởng bởi các lệnh phong tỏa và giãn cách xã hội. Mặt nạ, thuốc chích ngừa là vấn đề hàng ngày trên các báo chí, truyền thông. Người ta bị hạn chế tiếp xúc, giao thông công cộng bị đình trệ, ngành du lịch bị chết cứng. Biết bao tiền bạc, hợp đồng mua bán bị tiêu hủy, nạn thất nghiệp gia tăng chưa từng có. Dù chính phủ các quốc gia có hỗ trợ, cứu nguy người dân nhưng cũng không được bao nhiêu. Số nợ nần thâm thủng quốc gia này không biết sau này chúng ta và con cháu phải trả cách nào, đến bao giờ mới khỏi xuống dưới số zero. Tiếp theo suy thoái kinh tế là sự sụp đổ của thị trường chứng khoán, ngoài một vài hãng làm thuốc chủng ngừa, bán hàng “online” có giá stock lên, còn đa số các công ty khác đều bị xuống giá trầm trọng, mỗi ngày hàng bao nhiêu triệu đô-la bị biến mất.

Người ta thống kê thấy nữ giới bị mất việc làm nhiều hơn nam giới, vì phụ nữ thường làm việc ở những ngành bị ảnh hưởng nặng nhất như du lịch và bán lẻ, làm trong các ngành phục vụ như nhà hàng, khách sạn… Riêng người Việt mình ở hải ngoại thì lao đao do tiệm Nail, tiệm cắt tóc, tiệm ăn bị lệnh “lockdown” phải đóng cửa. Ngay cả các tiệm bán hoa cũng khó làm ăn, vì không có tiệc, không có sinh nhật, thì đâu cần hoa hòe làm gì! Đám tang thì nhiều hơn nhưng phải tổ chức trong giới hạn, không có bao nhiêu người đi viếng funeral thì hoa cũng trở nên ế ẩm. May ra thì nhà quàn, nơi bán quan tài là đắt khách hơn trước. Các bà ít ra đường nên cũng chẳng cần quần áo đẹp, son phấn trang điểm. Đi chợ thì che mặt kín mít, tô son điểm phấn cũng hoài của. Có lần đi nhà thờ, tôi đem chè mới nấu tặng vài anh chị bạn mỗi người một hộp. Trao quà xong về nhà tôi ngơ ngẩn vì hồ nghi, không chắc mình đã trao hộp chè cho đúng người, vì anh đeo mặt nạ kín mít, đôi mắt nhìn tôi có vẻ rất ngạc nhiên, có lẽ anh thắc mắc sao bà này tự nhiên lại đem cho mình chè. Chùa chiền, nhà thờ cũng vắng vẻ, có thời gian được mở cửa lại với số người hạn chế, nhưng khoảng cuối năm 2020 thì lại đóng cửa trở lại. Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa bị ngưng trệ, phải học và họp phải qua hệ thống viễn liên, các sinh hoạt đều mang tính cách tạm thời, vá víu. Khẩu trang không chỉ trở thành hình ảnh mang tính biểu tượng của năm 2020 mà còn là biểu tượng của một thời kỳ đáng sợ. Đến các bức tượng nổi tiếng, ông già Noel, cục kẹo chocolate hình ông già Noel, các gốc cây… cũng phải đeo khẩu trang, thì việc chiếc “mask” trở thành vấn đề “nổi cộm” là chuyện đương nhiên. Thôi thì đành làm quen với cuộc sống ảo, chấp nhận khó khăn chứ biết sao bây giờ.

Sau Covid, sự kiện khá quan trọng mà báo chí thế giới đã công nhận là việc Nga sửa đổi hiến pháp, kéo dài nhiệm kỳ Tổng Thống. Chuyện này xảy ra vào đầu tháng 7, gần 80% cử tri Nga đã bỏ phiếu ủng hộ sửa đổi hiến pháp, trong đó có việc hủy bỏ giới hạn nhiệm kỳ tổng thống. Sửa đổi này cho phép tổng thống Vladimir Putin ra tranh cử thêm 2 lần nữa, và như vậy ông Putin có khả năng duy trì quyền lực cho đến năm 2036. Chuyện này cũng quen quen, giống như chuyện luật lệ ở Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa, tất cả nằm trong quyền lực của chủ tịch.

Tiếp theo là cuộc chiến pháp lý ở biển Đông. Bất chấp đại dịch COVID-19, Trung Cộng vẫn tiếp tục leo thang hoạt động quân sự tại biển Đông, dù nhiều năm qua, rất nhiều các quốc gia đã phản đổi mạnh mẽ. Chẳng hạn trong năm 2020, Philippines, Malaysia, Indonesia đã đồng loạt gửi công hàm ngoại giao đến Liên Hiệp Quốc, phản đối đường 9 đoạn “Lưỡi Bò” của Trung Cộng. Ngoài ra, Mỹ, Úc rồi 3 nước châu Âu – Anh, Pháp, Đức – cũng gửi văn thư bác bỏ yêu sách Biển Đông của Bắc Kinh. Về phía người Việt hải ngoại, cũng đã có các nhóm kết hợp với người Việt quốc gia trong nước lo việc thưa Trung Cộng ra tòa án quốc tế, mong đòi lại được Hoàng Sa, Trường Sa toàn vẹn lãnh thổ. Công việc không dễ dàng nhưng nếu không làm, không cố gắng thì sẽ không có chút hy vọng nào.

Đụng độ biên giới giữa Ấn Độ – Trung Cộng cũng là một trong những việc đáng nhắc tới trong năm qua. Sự tranh chấp lãnh thổ giữa hai nước này trong nhiều năm qua đã trở nên căng thẳng hơn cả sau vụ bắn nhau ở biên giới khiến 20 người lính Ấn Độ thiệt mạng hồi tháng 6, 2020. Bộ mặt thật của Trung Cộng ngày càng rõ ràng hơn trước tai mắt quốc tế, nhất là sau cơn dịch Vũ Hán. Cứ đà này, Trung Cộng sẽ có nhiểu cơ hội lấn lướt các nước lớn và trở thành quốc gia có thể chi phối cả thế giới. Mong là các nước đều mạnh mẽ có thái độ để Trung Cộng bớt lộng hành.

Việc người đàn ông da đen tên là George Floyd bị người cảnh sát da trắng ghì cổ đến chết cũng đã là sự kiện lớn xảy ra ở Hoa Kỳ trong năm qua. Người dân khắp thế giới tức giận biểu tình rồi đi đến bạo động. Phong trào Black Lives Matter sau đó bị lợi dụng để hôi của, phá hoại, rất nhiều các bức tượng đã bị giật sập, nhiều địa danh phải bị đổi tên vì không dám dính líu tới người da màu.

6 bieu tinh Black live matter.png

Báo chí cũng nhắc lại việc “đàn hặc”, dự định truất phế tổng thống Donald Trump nhưng cũng may chuyện bất thành, chỉ làm tốn thêm một mớ tiền thuế của người Mỹ.

Sự kiện lớn trong năm qua cũng là chuyện “bầu” giữa hai đảng Dân Chủ và Cộng Hòa bên Mỹ. Cuộc bầu cử Tổng Thống 2020 là cuộc bầu cử gây tranh cãi nhiều nhất trong lịch sử nước Mỹ. Đến bây giờ là cuối năm 2020, mà vẫn chưa ngã ngũ ai là tổng thống. Các gia đình, các nhóm gây gỗ nhau hằng ngày trong các bữa cơm, diễn đàn, thậm chí đi đến mạ lỵ phỉ báng nhau vì người bênh Trump, người bênh Biden. Đứng giữa có các “dư luận viên” ăn tiền Cộng Sản thọc gậy bánh xe, làm xáo trộn mất đoàn kết, mắng chửi nhau kinh hồn. 

Bạn có đọc câu chuyện vui về việc bầu bán sau đây chưa (ông bà mình dùng chữ hay quá, bầu thì phải đi liền với bán!):

Người Mỹ hãnh diện: “Chúng tôi với kỹ thuật hiện đại, buổi sáng bỏ phiếu, buổi chiều biết liền ai là tổng thống”.

Người Trung Cộng điềm tĩnh nói: “Sao các bạn kém vậy mà cũng khoe, chúng tôi hôm nay bỏ phiếu, nhưng năm ngoái đã biết chủ tịch là ai rồi”.

Người Bắc Hàn tỏ vẻ khinh thường: “Chẳng cần bỏ phiếu, khi học mẫu giáo đã biết ai sẽ là chủ tịch tiếp theo rồi”.

Người Nhật Bản bối rối tiếp theo: “Chúng tôi đã bỏ phiếu, nhưng cũng không biết ai là Thủ tướng”.

Người Nga cười nhạt một tiếng: “Tổng thống của chúng tôi mệt mỏi khi làm thủ tướng, và thủ tướng cũng mệt mỏi khi làm tổng thống”.

Một người Cuba nghi hoặc, yếu ớt hỏi: “Này anh, người lãnh đạo cũng có thể thay đổi à?”

Người Iraq lớn tiếng trả lời: “Có thể chứ, làm sao không thể đổi! Nếu không đổi, người Mỹ sẽ cho anh đổi!”.

Người Việt Nam thì cúi mặt: “Đảng cử, Dân bầu, không cần đi bầu cũng biết nhà nước sẽ có báo cáo có 99% dân đi bầu”

Còn năm nay, người Mỹ lại phải đổi cách nói, than rằng: “Chúng tôi bỏ phiếu từ gần 2 tháng nay, đếm tới đếm lui mà đến nay vẫn không rõ tổng thống là ai?”

Tiếp theo chuỗi chuyện rắc rối là việc cháy rừng ở Úc: “The Black Summer Fires”. Sydney bị chìm trong khói bụi cháy rừng. Chính phủ Úc phải tuyên bố đây là tai nạn lớn của quốc gia, gần 500 triệu thú vật đã bị chết cháy. Các nước trong có lính cứu hỏa Canada đã phải sang Úc tiếp cứu.

10 chay Uc.jpg

Hỏa hoạn cũng tiếp tục ở Hoa Kỳ, đặc biệt tại California làm thiệt hại rất nhiều. Nơi thì thần lửa nổi giận, nơi thì mưa gió ngập lụt, ôi thật là buồn, giá mà bù đắp cho nhau được. Các trận lụt lớn bên Phi, bên Tàu, Việt Nam cũng là điều không thể quên trong năm qua.

Tấm hình chụp một phụ nữ thuộc bộ tộc Turkana bị bủa vây bởi “giặc châu chấu” tại sa mạc Turkana, Kenya cũng trở thành tiêu đề cho năm 2020. Đám châu chấu khổng lồ này làm thiệt hại mùa màng, gây thêm đói kém nghèo khổ không ít.

8 chau chau tai Kenya.jpg

Kế tới là việc chiếc Boeing 737 của Ukrainian bị bắn rớt, vì người Iran tưởng lầm đây là hỏa tiễn của “giặc lạ”. Quả là “lầm chết người”, Iran tuyên bố sẽ bồi thường tiền cho nạn nhân, nhưng số tiền có là bao so với mạng người phải chết tức tưởi như thế.

11 ukrain crash.jpg

Được nhắc tới nhiều là một vụ nổ kinh hoàng tại trung tâm Beirut cũng đã làm khu vực này trở thành bình địa, thiệt hại rất to lớn. Những người cầm đầu chính phủ Lebanon này đã bị dân chúng chống đối đòi họ phải từ chức, do quá bất cẩn chứa nhiều hóa chất dễ nổ mà không phòng ngừa,

12 beirut explosion.jpg

Tại Thái Lan, chuyện chấn động trong năm là việc khu trung tâm buôn bán lớn đã bị một người lính nổ súng làm 29 người chết và 58 bị thương.

Các cuộc biểu tình lớn ở Hongkong cũng là sự kiện quan trọng, hàng triệu người đã xuống đường đòi tự do. Dù bị Trung Cộng đàn áp dã man, mọi người đặc biệt giới trẻ vẫn không sờn lòng.

13 B hongkong.jpg

Tại Anh, năm qua Hoàng Gia cũng đã thêm nhức đầu do hoàng từ Harry và vợ là Meghan Markle tuyên bố “quit” Hoàng Gia, không thèm tước vị công nương, hoàng tử. Giàu có, quyền lực như Nữ Hoàng Anh mà cũng phải đối đầu với nhiều biến cố, có ai sung sướng hoàn toàn đâu.

Báo chí thế giới cũng liệt kê cái chết của Kobe Bryant, một cầu thủ bóng rổ nổi tiếng của NBA bị tai nạn trực thăng là sự kiện đáng chú ý trong năm. Tiện đây cũng xin mở ngoặc vào cuối năm 2020, nhạc sĩ Lam Phương và Chí Tài đã qua đời. Về nghệ thuật thế giới thì người ta cũng cho việc cuốn phim “Parasite” nghĩa là “Ký Sinh Trùng” được tới 4 giải Oscars là sự kiện quan trọng. Phim và đạo diễn là người Đại Hàn, điều này cho thấy người châu Á cũng rất tài năng và đang phát triển vượt bậc trong nghệ thuật phim ảnh.

15 oscars.jpg

Tiếp theo các sự kiện trên là các hệ lụy đương nhiên xảy ra, đã dẫn tới sự nghèo đói khắp thế giới. Theo WB, COVID-19 đã khiến thêm 115 triệu người rơi vào cảnh cùng cực trong năm nay. Lớp người nghèo mới này đa số ở tại Nam Á hoặc vùng hạ Sahara của châu Phi. Thế giới trong 2020 có thêm khoảng 132 triệu trẻ em bị đói ăn. Tại nhiều nơi, tình trạng khan hiếm lương thực và dịch bệnh đã gây ra mâu thuẫn và bạo lực. Tấm hình của một cậu bé bị suy dinh dưỡng, với ánh mắt tuyệt vọng tại tỉnh Hajj, Yemen cũng làm người ta xúc động mãnh liệt. Yemen là quốc gia xảy ra vi phạm nhân đạo nghiêm trọng nhất thế giới do 3 năm nội chiến.

9 be trai Yemen bi doi.jpg

Riêng tại Việt Nam, đối với tôi sự kiện quan trọng trong năm nay là việc tù nhân lương tâm Nguyễn Bắc Truyển được trao giải Stefanus. Tổ chức Stefanus Alliance International của Na Uy hôm 20 tháng 10, 2020 đã làm buổi lễ trao giải thưởng đặc biệt cho ông Truyển.  Đây là giải trao cho người dám thể hiện lòng dũng cảm, dám tranh đấu cho quyền tự do tôn giáo và “Human Rights” của con người. Trước đây giải thưởng này đã trao cho các nhân vật tại Iraq, Bắc Hàn, Thổ Nhĩ Kỳ… Ông Nguyễn Bắc Truyển là một tín đồ Phật giáo Hòa Hảo, một thành viên của Hội Ái Hữu Tù Nhân Lương Tâm và Hội Anh Em Dân Chủ. Năm 2017, ông Truyển cùng một số nhà hoạt động khác bị bắt và bị đưa ra xét xử. Sau đó, ông bị tuyên án 11 năm tù và 3 năm quản chế với cáo buộc “hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”. Bà Bùi Thị Kim Phượng, vợ của Nguyễn Bắc Truyển từ Sài Gòn cho biết bà rất xúc động và tự hào về chồng mình. Cho dù bản thân bà và các chị của bà đã phải chịu sự trả thù hết sức là bất nhân của nhà cầm quyền Việt Nam. Ông Truyển hiện ở tại nhà tù An Điềm, tỉnh Quảng Nam. Chúng tôi sinh hoạt trong Phong Trào Yểm Trợ Dân Chủ Quốc Nội Toronto, rất gần gũi thân thiết với vợ chồng Nguyễn Bắc Truyển, rất cảm phục tinh thần dấn thân và hy sinh của họ.

1 nguyen bac truyen.jpeg

Vâng, ở Việt Nam thì thế đấy, sau khi cướp đất ở Thái Hà, vườn rau Lộc Hưng… là hiện tượng Đồng Tâm, biết bao người bị giết, bị tù vì không chịu bị bọn cầm quyền chiếm đất cách vô lý. Thời gian gần đây nhiều tù nhân lương tâm khác cũng đã bị bắt, như nhà báo độc lập Phạm Đoan Trang, anh em Huỳnh Minh Tâm, Huỳnh Tố Nga, cô Thu Thủy… Trần Huỳnh Duy Thức vẫn đang tuyệt thực trong trại giam. Một công dân Canada là ông Châu Văn Khảm bị xử bản án vô lý vẫn còn trong tay bọn Cộng Sản. 

Mặc dù nhìn ở mặt ngoài, do được các công ty ngoại quốc đến Việt Nam đầu tư, công ăn việc làm có nhiều hơn, đời sống một số người dân đỡ khổ hơn, nhưng ăn chận, hối lộ, hà hiếp dân lành, đàn áp tôn giáo vẫn là chuyện không chấm dứt được ở quê nhà. Năm vừa qua bão lụt miền Trung lại xảy ra to lớn hơn bao giờ, người dân đã nghèo lại càng khổ hơn. Hiện tượng ca sĩ Thủy Tiên thu góp được số tiền cứu trợ nạn nhân bão lụt rất lớn cũng được coi làm một việc đáng nhắc tới. Tại sao người dân không tin nhà nước, mà lại tin vào một nữ ca sĩ như thế, câu trả lời chắc là ai cũng biết rồi. 

Tại hải ngoại, các sinh hoạt cộng đồng như lễ tưởng niệm Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Quốc tế Nhân quyền, các hội họp đểu bị ngưng do lệnh “lockdown”. Năm con Trâu sắp đến các Hội Chợ Tết cũng sẽ không có, không biết đến mùa hè 2021 mọi việc sẽ ổn định lại chưa. Quả là một năm buồn nhiều hơn vui.  

Tuy nhiên, nếu cứ bi quan nhìn vào cái tiêu cực thì cũng không nên. Qua đại dịch Covid, cũng có vài điều tốt mình nên nhắc tới. Đầu tiên là việc môi trường, không khí, các vùng biển được trong lành, bớt ô nhiễm hơn. Người ta cũng có thì giờ nhìn lại mình, dành nhiều giờ cho gia đình và bồi dưỡng tâm hồn hơn. Thức ăn cũng được “lành” hơn do ít đi ăn ngoài, tự nấu lấy tránh được dầu mỡ, bột ngọt, hóa chất. Tuy nhiên, cũng không ít người lên cân do thiếu vận động, ở nhà buồn nên ăn nhiều hơn. Có người bạn vui vẻ tuyên bố: “Cấm cung ở nhà ăn nhiều, mà không hề lên cân”. Không “lên cân” ở đây nghĩa là không dám bước lên cái cân, chứ đâu phải nghĩa là không tăng ký! Ngoài ra mình cũng có được khoảng thời gian để nhìn lại, như ly nước luôn bị vẩn đục, nay được yên lặng để cát bụi cặn bã lắng xuống, ly nước tâm hồn được trong trẻo hơn, có nhiều quyết tâm thay đổi cuộc sống hơn.

Forbes cũng vừa công bố danh sách 100 phụ nữ quyền lực nhất thế giới năm 2020, trong đó thủ tướng Đức là bà Angela Merkel vẫn đứng đầu danh sách những phụ nữ quyền lực nhất thế giới năm thứ 10 liên tiếp. Ngoài ra, những người được liệt tên khác là ứng cử viên phó Tổng thống Mỹ Kamala Harris, Nữ hoàng Anh Elizabeth, thủ tướng New Zealand Jacinda Ardern, thủ tướng Phần Lan Sanna Marin, chủ tịch Ngân hàng Trung ương Châu Âu Christine Lagarde, Thị trưởng Tokyo Yuriko Koike….

Nãy giờ điểm qua các chuyện có thể không vui lắm, nên tôi xin sưu tầm vài phong tục đón Tết dương lịch ngộ nghĩnh trên thế giới, hy vọng sẽ làm bạn vui được chút chút chăng.

Bắt đầu là Tây Ban Nha, trong giây phút chuyển giao giữa năm mới và năm cũ, người Tây Ban Nha ngoài uống rượu chúc mừng thì họ còn có truyền thống là ăn nho xanh. Khi “count down” giao thừa, họ ăn thật nhanh 12 trái nho tượng trưng cho 12 tháng trong năm mới, thể hiện mong ước một tương lai ngọt ngào và suôn sẻ.

Đối với người dân tại Cộng hòa Czech thì trong đêm mừng năm mới, mọi người trong gia đình sẽ cùng nhau quầy quần và trên bàn ăn sẽ cắt quả táo làm đôi. Nếu lõi quả táo có hình ngôi sao tức là năm đó sẽ có sức khỏe dồi dào và gặp nhiều may mắn. Còn nếu quả táo có hình chữ thập đan chéo thì năm đó sẽ có người bị vấn đề sức khoẻ.

Úc là một trong những nơi đón giao thừa sớm nhất thế giới. Đêm giao thừa ở các nước khác rơi vào mùa Đông giá lạnh, còn đêm giao thừa tại Úc thời tiết có thể ấm gần 40 độ C.

Người Ai Cập lấy nước sông Nile dâng cao nhất làm ngày bắt đầu năm mới.

Tại Mỹ và Canada, mọi người thường hôn nhau vào khoảnh khắc giao thừa. Theo văn hóa phương Tây, đặc biệt là ở Bắc Mỹ, việc hôn một người vào lúc 0 giờ rất có ý nghĩa, nếu thích ai mình có thể “canh-me” hôn người đó vào lúc này mà không bị… tát tai.

Người Ba-Tây lại có phong tục thả trôi những bông hoa trắng dưới biển để tỏ lòng biết ơn với nữ thần biển cả.

Đập vỡ bát đĩa trong đêm giao thừa được coi là may mắn tại Đan Mạch.

Riêng ở Châu Mỹ Latin như Mexico, Bolivia và Ba-Tây, màu sắc quần lót sẽ xác định năm mới của mình như thế nào. Màu đỏ sẽ mang lại tình yêu và sự lãng mạn, màu vàng dẫn đến sự giàu có và thành công, màu trắng dành cho sự bình an và hòa hợp, màu xanh lá cây có ý nghĩa tốt đẹp và yêu thiên nhiên. Ở Thổ Nhĩ Kỳ, quần lót đỏ cũng được xem là món quà may mắn và hứa hẹn một năm mới đầy sinh khí.

Ở Ecuador, phong tục đốt cháy hình nộm là để tiêu diệt những điều xui xẻo của năm cũ. Những hình nộm này được làm từ quần áo cũ được nhồi với giấy báo hoặc mạt cưa. Bắt chước họ, bạn thử đốt một ít khẩu trang xem sao, may ra năm mới 2021 không phải đeo cái mặt nạ này nữa.

Tháng Giêng tại Nhật Bản được gọi là “Oshougatsu”, bắt nguồn từ phong tục chào đón vị thần năm mới Toshigamisama – vị thần tượng trưng cho sức khỏe, may mắn và phát đạt. Ngày xưa Nhật Bản đã đón tết âm lịch như các nước châu Á khác, nhưng sau này họ chuyển sang đón tết dương lịch. Họ đặt các loại bánh dầy, bánh Tokonoma lên bàn thờ nhằm tỏ lòng thành kính và mong được các thần linh phù hộ. Vào lúc nửa đêm, các ngôi chùa Phật giáo khắp Nhật Bản rung lên 108 hồi chuông để xua tan đi 108 đam mê xấu xa của con người. Đam mê tội lỗi có tới 108 loại, tôi chỉ mong mỗi năm mình bớt được 1, 2 tánh xấu là mừng lắm rồi. Càng già tôi càng thấy “tật” rất khó sửa, chính mình không sửa được thì sao dám đòi hỏi người chung quanh thay đổi.

Điểm thú vị trong ngày đầu năm mới tại Pháp là người dân nước này ra đường xem hướng gió để đoán thời vận trong năm. Nếu gió Nam thổi, đó là dấu hiệu một năm mưa thuận gió hòa. Nếu gió Tây thổi, sẽ là một năm may mắn đối với nghề đánh cá và nuôi bò sữa. Nếu gió Đông thổi, cây trái sẽ bội thu, nhà nhà no ấm. Còn nếu gió Bắc thổi là điềm không tốt, đây sẽ là một năm mùa màng kém thành công.

Người dân Colombia rất thích được đi du lịch khắp thế giới. Vì thế truyền thống vào dịp cuối năm của họ là xách một chiếc vali chạy vòng quanh một khối đá với mong ước sang năm mới sẽ được đi nhiều nơi để khám phá nhiều điều thú vị hơn.

Bắt đầu từ năm 1970, cứ vào đêm giao thừa người dân nước Đức lại có thói quen đón xem chương trình “Dinner for One”. Đây là một bộ phim hài hước đen trắng a nước Anh được quay ở Đức vào năm 1963. Bộ phim này chẳng liên quan đến năm mới bao nhiêu, nhưng không xem thì coi như thiếu niềm vui trong năm mới.

Ở Hungary, người ta cũng kiêng không giặt quần áo trong ngày đầu năm nếu không muốn năm tới xui xẻo.

Bắn pháo bông cũng là phong tục mừng năm mới trên khắp thế giới. Người ta xếp hạng 10 địa điểm bắn pháo hoa đẹp nhất trên thế giới như sau: Đứng đầu là Sydney của nước Úc. Màn bắn pháo hoa mỹ lệ diễn ra tại nhà hát con sò Opera Sydney và cây cầu của hải cảng Sydney đã mang đến cảnh tượng ngoạn mục cho mọi người. Tiếp tới là Đài Bắc (Đài Loan), rồi tới Bangkok (Thái Lan) au đó là Dubai với màn trình diễn các loại pháo bông đủ kiểu tại tòa nhà cao nhất thế giới Burj Khalifa (828 mét). Tiếp tới là Moscow (Nga),  Cape Town (Nam Phi), London (Anh), Rio de Janeiro (Brazil), gần cuối hạng 9 và hạng 10 mới là New York và kinh đô ánh sáng trên sa mạc Las Vegas (Mỹ).

19 sydney.jpg

Năm nay các nơi vẫn có bắn pháo bông mừng năm mới, nhưng khán giả đa số bị cấm cửa không được ra đường xem trực tiếp, kể cũng buồn. Hẹn năm sau. Đúng rồi, có xuống thì sẽ có lên, bao giờ người siêng năng, cố gắng cũng dễ đạt tới thành công. Hãy sống tốt nhất trong hoàn cảnh của mình và hướng về tương lai. 

Nhìn lại chuyện thế sự thì như thế, còn chuyện của riêng ta thì sao. Năm nào, tháng nào, ngày nào tôi cũng ráng nhìn lại mình, cầu nguyện cho mình được tốt hơn hôm qua, năm cũ. Đầu năm mới, “new year resolution” của bạn là gì, hãy chú tâm, cố gắng hoạch định và chúc bạn thành công nhé.

Xin mến chúc mọi người luôn lạc quan để thấy không phải chỉ nụ cười, mà nhiều khi nước mắt cũng là hạnh phúc, kinh nghiệm tốt đẹp. Chúc mọi người tìm và giữ được những giây phút yêu thương chan chứa trong ngày đầu năm. Chúc bạn một năm 2021 đến trong an hòa, hạnh phúc. Chúc bạn ngoài biết nấu ăn ngon trong bếp, cũng biết thêm cách nêm nếm xào nấu ngôn ngữ trước khi sử dụng để “đắc nhân tâm” không làm người khác buồn lòng. Chúc bạn nhạy cảm như lá cây mắc cở (hoa trinh nữ) để luôn biết xếp cánh, thương cảm trước những cảnh khó khăn và rộng lòng giúp đỡ. Với người thân đã ra đi không thể đoàn tụ, nhất là vì Covid, mong là trái tim chúng ta luôn ở bên nhau, nhớ tới nhau, cầu nguyện cho nhau.

Trong giây phút giao hòa của đêm 31 tháng 12, chúng ta cũng hướng lòng về quê cha đất tổ, chúc non sông An hòa Dân chủ, chúc người dân thật sự Tự do No Ấm, quan tâm yêu thương nhau….

Don’t just Dream…DO

Don’t just hear…LISTEN

Don’t just talk…ACT

Don’t just tell…SHOW

Don’t just exist…LIVE

Chúc Mừng Năm Mới – Happy New Year

Nguyễn Ngọc Duy Hân

Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

 

Vì sao người Tây Phương (Mỹ) không dùng nhà và xe đo lường “thành công” như người Việt?

Gần đây, sau bài viết “Khoe khoang kiểu Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam khác gì nhau” đăng tải trên Trí thức VN, không ít người đã bình luận và liên tưởng đến quan điểm sống, cách “khoe khoang” cũng như tiêu chí đo lường thành công của người Tây phương, đặc biệt là người Mỹ.

Dường như nếu tại một số nước phương Đông, nhà lầu và xe hơi được coi là tiêu chí đo lường thành công, thì điều này khác biệt hoàn toàn ở Mỹ. Vì sao lại có sự khác biệt như vậy?

Thứ nhất, quan điểm của những người trẻ đã trở nên thay đổi

Hiện tại, những người trẻ ở Mỹ có quan niệm khá khác biệt so với những người thế hệ trước, họ có hệ giá trị quan của mình. Những người thành công không sử dụng tài sản để mua nhà, mua xe hay tiến hành đầu tư nữa. Với họ, thành công tức là phải tự làm cho bản thân mình phong phú, đi du lịch nhiều nơi, chơi nhiều môn thể thao mạo hiểm và phải tự gây dựng sự nghiệp của mình.

Hơn nữa, những người trẻ tuổi cũng không có nhu cầu muốn ổn định, họ thậm chí còn muốn có nhiều không gian sinh hoạt sao cho có thể duy trì sự độc lập về kinh tế và tự chủ trong cuộc sống.

Thứ hai, thích lối sống tự do

Người Mỹ bản thân tính cách sôi nổi, thích trải nghiệm những môi trường sống khác nhau, thay đổi công việc của người Mỹ cũng lớn, mỗi lần như vậy đều có thể chuyển cả chỗ ở. Điều này trái ngược hoàn toàn so với văn hóa “an cư lạc nghiệp” của người phương Đông.

Ngoài ra, bởi vì những nhân viên người Mỹ tính lưu động cũng lớn, do đó các công ty cũng thường khuyến khích nhân viên tìm nhà ở gần chỗ làm để tiện cho công việc. Trong nhiều trường hợp, đi thuê nhà sẽ phù hợp với sự lưu động của tính chất công việc.

Thứ ba, người Mỹ làm cho chúng ta “tròn mắt” về quan niệm nhân sinh

Nói đến nước Mỹ, rất nhiều người chưa từng đến Mỹ đều cho rằng đây là một đất nước hiện đại hóa, nhịp sống rất nhanh, khắp nơi là đô thị, quán bar nhà hàng, tụ điểm ăn chơi… cho rằng Người Mỹ ai ai cũng chỉ âm mưu tranh đấu, tình người lạnh nhạt, khái niệm về gia đình không mạnh, tình dục hết sức cởi mở, tiền là thượng đế…

Nhưng nếu đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện ra những gì trong tưởng tượng đó lại chỉ phù hợp với tình hình của Việt Nam và Trung Quốc hiện nay, không hề giống như nước Mỹ vốn có.

  1. Bị bệnh vẫn cố đi làm được xem là một hành vi vô trách nhiệm

Đến Mỹ, bạn sẽ phát hiện rằng, bị bệnh thì nên nghỉ ngơi, không nên cố đi làm. Khi bị bệnh mà vẫn cố đi làm thì được xem là một hành vi vô trách nhiệm đối với cả bản thân mình và người khác.

Chẳng hạn nếu bạn bị cúm, bác sĩ sẽ yêu cầu bạn nên ở nhà, cần phải tự cách ly bản thân trong thời gian bao lâu, bởi khi đến nơi công cộng bạn sẽ lây bệnh cho những người khác. Đây còn là một chủng đạo đức công cộng, chính là biểu hiện có trách nhiệm với xã hội.

  1. Nhà lầu xe hơi không phải là thứ mà người giàu nhất định phải sở hữu

Ở Mỹ khi nói đến mua nhà, cơ bản là mua nhà độc lập (giống như cái gọi là “biệt thự” trong suy nghĩ của nhiều người Việt). Những người bình thường cũng có thể mua nhà loại này, chứ không phải những người giàu. Ngoài ra còn một loại nhà xây theo từng phố (chúng ta gọi là biệt thự liền kề) giá rẻ hơn và thuộc quyền sở hữu của chủ nhà.

Điều này không giống với ở Trung Quốc và Việt Nam, người bình thường có để dành tiền cả đời cũng khó mua được biệt thự. Ở Trung Quốc chỉ có thể sở hữu tối đa 70 năm, còn quyền sở hữu vĩnh viễn thuộc về nhà nước, còn ở Việt Nam chỉ mua được quyền sử dụng đất.

  1. Chính trị gia cũng không có gì đáng kể

Trong suy nghĩ của nhiều người chúng ta, nếu được chụp ảnh riêng với chủ tịch nước, thủ tướng hay thậm chí giám đốc tỉnh, thành phố thôi cũng là một điều đáng để tự hào. Nhưng ở Mỹ thì quan chức chính phủ là do cử tri bầu cử. Bạn sẽ có nhiều cơ hội gặp họ khi họ tiến hành chiến dịch vận động tranh cử. Nếu bạn muốn chụp ảnh, khẳng định là họ sẽ phải cười vui vẻ và thể hiện thái độ thân thiện nhất với bạn, sau đó còn phải cảm ơn bạn đã ủng hộ cho họ. Các nghị sĩ và quan chức sau khi được bầu chọn, bạn viết thư cho họ nhất định sẽ nhận được hồi đáp. Nếu như trong giờ làm chưa giải quyết hết công việc, họ sẽ phải ở lại muộn để trả lời từng lá thư một.

  1. Gia đình là số một: Công việc và tiền bạc đều phải nhường chỗ cho gia đình

Rất nhiều người hiện nay bị cuốn vào công việc và tiền bạc đến nỗi không có thời gian dành cho gia đình. Có những người làm việc cả ngày lẫn đêm, họ coi trọng của cải vật chất hơn bất cứ thứ gì khác, sẵn sàng bỏ bê vợ con, con ốm cũng không đưa đi bệnh viện được, đến khi cha mẹ qua đời có thể còn không kịp đến gặp mặt lần cuối cùng…

Ở Mỹ, nếu làm như vậy thì sẽ bị người khác khinh thường. Nhiều người Mỹ thường đặt ảnh chụp chung của gia đình trên bàn làm việc. Sau giờ làm và cuối tuần họ đều dành thời gian cho gia đình. Hàng năm cũng có những kỳ nghỉ mà toàn bộ thành viên gia đình tham gia cùng nhau.

Người Mỹ cho rằng gia đình là số một, ngay cả tiền bạc và công việc đều phải nhường chỗ cho gia đình (Ảnh: Pixabay)

  1. “Phú” không đồng nghĩa với “quý”

Nhiều người cho rằng cuộc sống quý tộc chính là ở biệt thự, đi xe Bentley, chơi gôn, chi tiêu nhiều tiền hay đầu tư vào nhà đất… Thực tế thì đây không phải là tinh thần quý tộc. Đây mới chỉ là bước khởi đầu.

Tại Mỹ, rất dễ đánh giá sai một người nếu chỉ nhìn bề ngoài. Người giàu họ không chú trọng thương hiệu, không dùng xe hơi, nhà lớn, mà chú trọng phong thái, ra đường phải chỉnh tề (rất quan trọng), làn da phải màu nâu rám (có tiền để đi tắm nắng), thể hình phải rắn chắc (có phòng tập thể dục)… Một điều quan trọng nhất chính là khoản tiền đóng góp hàng năm cho các hiệp hội từ thiện và nhà thờ. Ở những trường đào tạo quý tộc thực sự, học sinh phải ngủ ở giường cứng, ăn uống cũng đạm bạc, mỗi ngày đều phải đào tạo huấn luyện cực kỳ gian khổ, thậm chí còn khổ hơn ở những trường bình dân. Trong ý thức người Trung Quốc, phú và quý là như nhau, không có khác biệt, nhưng sự thật thì hoàn toàn khác nhau, phú là ở vật chất, còn quý là ở tinh thần.

Người Mỹ theo đuổi các giá trị tinh thần, chứ không chạy theo bạc tiền vật chất, do đó với họ thì việc mua nhà lầu xe hơi chắc chắn không phải là thước đo thành công hay giá trị của một người giàu có.

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Bà là một góa phụ lớn tuổi, chồng bà đã qua đời sau một tai nạn xe hơi. Kể từ đó, bà sống khép kín, không khóc than, không tâm sự với bất kỳ ai về cái chết của chồng. Hầu như ngày nào, bà cũng ngồi nhìn ra cửa sổ một cách vô định, không nấu ăn, không chăm sóc khu vườn và cả bản thân của mình nữa

Con gái bà đã tìm mọi cách giúp mẹ vượt qua tình trạng bế tắc này nhưng thật vô vọng. Nhiều bác sĩ đã chẩn đoán và điều trị chứng trầm cảm của bà nhưng vẫn hoài công, và đến một ngày người con gái dẫn bà tới gặp một bác sĩ tâm lý.

Lúc đầu, bà và bác sĩ chỉ ngồi quan sát nhau mà không trò chuyện. Trông bà khá trẻ so với cái tuổi bảy mươi, nhưng dường như trong bà không còn chút sức sống.

Người bác sĩ bắt đầu gợi chuyện, hỏi tại sao bà lại đến đây.

– Chồng tôi đã mất – Im lặng một lúc, bà nói tiếp – Các con tôi muốn tôi được khuây khỏa sau cái chết của cha chúng. Nhưng không ai có thể hiểu được cả.

– Tôi hiểu bà như mất đi một nửa cuộc sống của mình. Chỉ có chồng bà mới hiểu được nỗi mất mát ấy. Và cũng chỉ ông ấy mới biết được cuộc sống của hai người trước đây đã hạnh phúc đến nhường nào. – Bác sĩ nói.

Bà quay lại nhìn bác sĩ, đôi mắt màu nâu đen của bà không có một tia sáng nào cả.

– Nếu như lúc này ông ấy đang có mặt tại đây, bà sẽ nói gì?

Bà nhìn bác sĩ một lúc lâu rồi từ từ nhắm mắt lại. Bà bắt đầu nói – như thể đang nói với người chồng thân yêu của mình – về cuộc sống của bà từ khi không có ông. Bà kể cho ông nghe cảm giác của bà khi phải tự mình làm mọi việc mà trước đây hai người cùng làm. Bà cảm thấy thật sự khó khăn khi phải chấp nhận rằng ông thực sự không còn nữa. Bà thấy rằng còn nhiều điều bà chưa kịp làm và chia sẻ cùng ông… Và bà đã khóc, bà khóc rất nhiều như chưa bao giờ được khóc.

Đợi bà qua cơn xúc động, bác sĩ hỏi liệu có còn điều gì mà bà chưa nói với ông không. Bà bảo rằng bà rất giận ông vì ông đã để bà phải sống một mình khi về già, rằng ông đã không thực hiện lời hứa với bà.

– Ông ấy đã dạy cho tôi biết thế nào là tình yêu cuộc sống…

– Bà tiếp tục kể. Vị bác sĩ vô cùng xúc động và ngạc nhiên khi nghe câu chuyện tình lãng mạn của hai người.

– Giả sử ông ấy đang ngồi đây, trước mặt bà, là tôi đây. Ông ấy sẽ hỏi bà điều gì về cuộc sống của bà trong suốt hai năm qua? – Bác sĩ hỏi.

– Anh ấy sẽ hỏi tôi “Tại sao em lại nhớ anh bằng một nỗi đau đớn vô bờ và hành hạ bản thân mình như vậy? Điều mong muốn lớn nhất trong cuộc đời của anh là mang đến cho em niềm vui mà”. Khi nói xong điều đó, một tia sáng hiếm thấy lấp lánh trong ánh mắt bà. Bà dường như được trở về với chính mình hai năm trước đó.

Qua lần trò chuyện đó, bà dần hiểu rằng không phải cứ đau buồn đắm chìm trong ký ức và giam mình trong một cuộc sống khép kín mới là tưởng nhớ đến nhau. Khoảng một năm sau, bà gửi cho bác sĩ tâm lý một tập gồm các bài viết trích từ tờ báo địa phương về tổ chức từ thiện mà bà đang tham gia – trong đó có những người như bà – cùng lời đề tặng: “Từ trong tuyệt vọng, tôi đã quyết định nhổ neo, căng buồm và lướt sóng ra khơi”.

Đứng trước mỗi một nỗi đau, mất mát nào đó, chúng ta dường như phải lựa chọn cuộc sống một lần nữa. Chúng ta không bắt buộc phải quên đi mọi thứ, nhưng thời gian sẽ chữa lành tất cả, để ta nhớ về nhau với niềm yêu thương chứ không phải bằng nỗi đau!

Helen Keller

Tình yêu thì còn mãi

Tình yêu thì còn mãi

Một năm trước khi chết, nhà văn Tiệp khắc Franz Kafka (1883-1924) đã có một trải nghiệm đặc biệt. Đi dạo trong công viên Steglitz ở Berlin ông gặp cô gái nhỏ Elsi đang khóc vì tuyệt vọng: cô ấy đã đánh mất con búp bê Brigida yêu thích của mình. Kafka đã đề nghị giúp cô ấy đi tìm và hai người đã hẹn là sẽ gặp nhau vào ngày hôm sau.

Biết là không thể tìm thấy, nhà văn đã giả giọng con búp bê viết một bức thư cho cô bé và mang nó theo khi họ gặp nhau: “Xin đừng khóc, tôi đang đi du lịch để nhìn xem thế giới và sẽ kể cho bạn nghe về những chuyến phiêu lưu này…”, Ông đã bắt đầu bức thư như vậy.

Khi gặp nhau, ông đã đọc bức thư, trong đó mô tả thật kỹ những cuộc phiêu lưu tưởng tượng của con búp bê Brigida. Cô bé Elsi cảm thấy mình được an ủi, và trước khi chia tay, nhà văn Kafka có tặng cho cô bé một con búp bê. Dĩ nhiên con búp bê này khác với con búp bê bị mất, nó được kèm theo một ghi chú để nhằm giải thích: “Cuộc hành trình dài đã làm tôi thay đổi”.

Nhiều năm sau, khi cô gái Elsi đã trưởng thành, một hôm cô tìm thấy một mảnh giấy khác giấu trong lòng con búp bê: “Tất cả những gì bạn yêu bạn đều có thể sẽ đánh mất nó, nhưng cuối cùng tình yêu sẽ chuyển đổi trong một hình thức khác”. (Người gửi: Franz Kafka)

“Cuộc đời vô thường, ta không thể giữ mãi những gì ta yêu quý nhưng tình yêu còn lại mãi…”

Theo Blog Radio

Hình của songdep

Image may contain: 3 people

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Nước nghèo có thể dân chủ không? Người dân Malawi nói có

Phương Tây ngả mũ trước nỗ lực gìn giữ nền dân chủ của một đất nước châu Phi bé nhỏ.

30/12/2020

By  JASON NGUYEN

Cử tri Malawi mừng chiến thắng của Tổng thống tân cử Lazarus Chakwera trong cuộc bầu cử lịch sử năm 2020. Ảnh: Amos Gumulira/ AFP.

Năm 2020, tổ chức Freedom House đánh giá rằng tình hình dân chủ đã xấu đi ở ít nhất 80 nước, trong đó có cả nước Mỹ.

Theo đó, các giá trị dân chủ đã xói mòn trong bối cảnh đại dịch. Nhiều quốc gia đã có những động thái như giới hạn tự do truyền thông và ngôn luận, trì hoãn nhiều cuộc bầu cử quan trọng, cũng như tăng cường giam giữ những tiếng nói đối lập – tất cả với lý do phòng chống dịch bệnh.

Duy chỉ có một đất nước có điểm số dân chủ tăng lên, đó là Malawi. Tạp chí The Economist (Anh) mới đây đã trang trọng gọi đất nước châu Phi này là quốc gia của năm.

Tình hình dân chủ xấu đi ở nhiều quốc gia trong năm 2020. Malawi là điểm sáng duy nhất. Đồ họa: The Economist.

Theo nhận định của Freedom House, câu chuyện ở Malawi đã “nêu bật tầm quan trọng của các thiết chế nhà nước độc lập cũng như một khu vực xã hội dân sự năng động trong việc duy trì tính toàn vẹn và dân chủ của bầu cử, đồng thời đưa ra các bài học quan trọng cho các cuộc bầu cử tương tự trong khu vực”.

Câu chuyện về mặt hồ phát sáng

Malawi là một quốc gia còn khá xa lạ với nhiều người trên thế giới, không riêng gì với người Việt Nam. Nằm giữa vùng Đông Nam châu Phi với dân số khoảng 19 triệu người, Malawi tiếp giáp với ba quốc gia là Mozambique, Tanzania, và Zambia.

Thu nhập bình quân đầu người của Malawi vào năm 2019 chỉ là 411 USD, theo số liệu của World Bank. Mức thu nhập này chỉ bằng ⅙ của Việt Nam. Malawi, theo đó, là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.

Ánh bình minh phản chiếu trên mặt hồ Malawi khi các ngư dân trở về nhà sau một đêm làm việc dài. Ảnh: Marcus Westberg/ New York Times.

Địa danh nổi tiếng nhất tại quốc gia này có lẽ là hồ Malawi – một trong những hồ nước ngọt chứa lượng cá phong phú nhất thế giới. Dù có diện tích tương đối nhỏ (chỉ bằng một nửa Việt Nam), Malawi sở hữu đến 1/3 diện tích nước ngọt của cả châu Phi. Tên gọi của quốc gia này phản ánh đặc trưng đó. Malawi trong tiếng bản địa nghĩa là “vùng nước phát sáng” (flaming waters), tượng trưng cho hình ảnh mặt hồ Malawi phản chiếu những tia nắng mặt trời.

Malawi chỉ trở thành tên gọi chính thức khi quốc gia này giành độc lập khỏi Anh Quốc vào ngày 6/7/1964, thay cho tên cũ là Nyasaland (mang nghĩa “vùng nước rộng lớn” – broad waters).

Vào ngày độc lập, hơn 40.000 người đã đổ ra Quảng trường Trung tâm (Central Stadium) tại thủ đô Lilongwe và hô vang ‘Ufulu! Ufulu’ (‘Tự do! Tự do!) cho một khởi đầu mới của đất nước, và của chính họ.

Trong một khu vực vẫn còn mang nặng quá khứ thuộc địa, Malawi được xem là một hình mẫu khá thành công. Khi các quốc gia châu Phi khác vẫn đang phải đắm chìm trong xung đột giữa các bộ tộc, Malawi đang từng bước vững chãi chuyển mình sang thể chế dân chủ hậu thực dân.

Thăng trầm dân chủ hóa

Không lâu sau khi giành được độc lập, một cuộc tranh chấp quyền lực xảy ra giữa thủ tướng lúc bấy giờ là Hastings Kamuzu Banda và các bộ trưởng trong nội các chính phủ. Ba bộ trưởng sau đó bị bãi nhiệm, ba người khác từ chức.

Vào ngày 6/7/1966, Malawi trở thành một nước cộng hòa, và Banda được bầu làm tổng thống. Năm 1971, ông được bổ nhiệm làm tổng thống trọn đời. Hiến pháp cũng chính thức công nhận Đảng Quốc hội Malawi (Malawi Congress Party – MCP), lúc bấy giờ do tổng thống Banda lãnh đạo, là chính đảng duy nhất tại đây.

Tuy là đảng phái lâu đời nhất và có sức ảnh hưởng tại Malawi, nhưng bên cạnh công trạng lớn trong việc đưa quốc gia này thoát khỏi thuộc địa Anh và thúc đẩy phát triển kinh tế, MCP được cho là dùng phần lớn thời gian trong suốt 31 năm cầm quyền của mình để củng cố quyền lực và xây dựng một chế độ độc đảng.

Tổng thống đầu tiên của Malawi từ ngày giành độc lập – Hastings Banda, cùng với Nữ hoàng Anh Elizabeth II tại Blantyre, Malawi vào ngày 22/7/1979. Ảnh: Popula.com/ AP.

Mọi chuyện chỉ thay đổi từ ngày 8/3/1992, khi một lá thư mục vụ (pastoral letter) của Hội đồng Giám mục Công giáo Malawi được đọc tại các nhà thờ trên khắp đất nước.

Nội dung lá thư bày tỏ mối quan tâm về tình hình nhân quyền tồi tệ, nạn nghèo đói, và những ảnh hưởng nghiêm trọng của chúng đến cuộc sống của người dân lúc bấy giờ. Xuất hiện vào một thời điểm không thể thích hợp hơn, lá thư này như một luồng gió khích lệ với các đảng phái đối lập đang hoạt động ngầm. Họ chờ đợi cơ hội khơi mào một chiến dịch cải cách dân chủ.

Thổi thêm vào luồng gió này là áp lực từ quốc tế, khi chính phủ các quốc gia viện trợ đe dọa sẽ cắt các nguồn trợ cấp nếu Malawi không chịu đa nguyên hóa thể chế chính trị.

Các yêu cầu cải cách đã có một chiến thắng vang dội.

Vào cuối năm 1992, hai đảng phái đối lập trong nước là Liên minh cho Dân chủ (Alliance for Democracy) và Mặt trận Dân chủ Thống nhất (United Democratic Front – UDF) chính thức được thành lập và ra mắt công chúng.

Tháng 5/1994, cuộc bầu cử tự do đầu tiên chính thức diễn ra tại Malawi sau 30 năm kể từ ngày giành độc lập. Thủ tướng Banda sau đó bị ứng cử viên Bakili Muluzi của đảng đối lập UDF đánh bại. Đảng UDF cũng đã giành được đa số ghế trong quốc hội sau cuộc bầu cử này.

Năm 1995, một hiến pháp mới ra đời, đặt những viên gạch nền tiếp theo giúp Malawi chuyển mình sang một xã hội dân chủ. Hiến pháp mới cũng giới hạn số nhiệm kỳ của tổng thống Malawi xuống tối đa là hai, với mỗi nhiệm kỳ kéo dài 5 năm.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình, tổng thống Muluzi đã tiến hành những cải cách dân chủ sâu rộng hơn, thúc đẩy các quyền tự do cơ bản như quyền tự do ngôn luận và hội nhóm. Đó là một giai đoạn trái ngược hoàn toàn với thời kỳ lãnh đạo của cựu tổng thống Banda.

Tưởng chừng mọi việc đã an bài, thế nhưng, nền dân chủ của Malawi lại bị đe dọa một lần nữa.

Muluzi tái đắc cử tổng thống vào năm 1999, nhưng nhiệm kỳ thứ hai của ông không suôn sẻ như nhiệm kỳ đầu. Kết quả bầu cử bị đặt nghi vấn, kéo theo đó là một giai đoạn của các cuộc biểu tình, bạo lực, và cướp bóc.

Tổng thống Muluzi bị các tiếng nói cả trong và ngoài nước chỉ trích vì đã có những động thái ngày càng chuyên quyền. Không muốn bị giới hạn chỉ trong hai nhiệm kỳ, ông cũng đã nỗ lực sửa đổi hiến pháp nhằm gia hạn thời gian cầm quyền của mình, nhưng bất thành.

Bingu wa Mutharika và Bakili Muluzi, hai tổng thống của Malawi. Ảnh: Maravipost.com.

Không thể tiếp tục nắm quyền, vào cuộc bầu cử tiếp theo (năm 2004), Muluzi đề cử một ứng viên khác của Đảng UDF là Bingu wa Mutharika. Ông Mutharika sau đó đắc cử tổng thống.

Mutharika, giống như những người tiền nhiệm của mình, là đại diện cho một tình trạng đáng lưu tâm trong tiến trình dân chủ hóa ở các quốc gia châu Phi. Đó là việc người lãnh đạo trở nên chuyên quyền sau một thời gian tại vị.

Là một trong những thành viên sáng lập chủ chốt của Đảng UDF, Mutharika có một nền tảng học thuật và hoạt động công ích vững chắc. Ông từng làm việc tại các tổ chức quốc tế lớn như Liên Hợp Quốc và Ngân hàng Thế giới trước khi bước vào chính trường.

Trong nhiệm kỳ đầu tiên của Mutharika, Malawi trải qua nhiều thách thức lớn. Đất nước nhỏ này phải đối mặt với cuộc khủng hoảng dịch bệnh HIV/AIDS. Bên cạnh đó là sự thiếu hụt các đòn bẩy kinh tế, mất cân bằng an ninh lương thực, nền giáo dục xuống cấp, và cơ sở hạ tầng yếu kém.

Giống những người tiền nhiệm, Mutharika đã tiến hành nhiều cải cách quan trọng, trong đó nổi bật nhất là về kinh tế và chính trị.

Về kinh tế, ông tập trung vào việc chống tham nhũng và thiết lập các chính sách kinh tế bền vững để giúp đưa nền kinh tế thoát khỏi suy thoái. Còn về chính trị, Mutharika tập trung vào quá trình cải thiện tình hình nhân quyền và pháp quyền với một tôn chỉ: vì người dân Malawi.

Thế nhưng vào nhiệm kỳ thứ hai, bắt đầu từ năm 2009, chính sách của Mutharika đã quay ngoắt 180 độ so với những gì ông cố thực hiện trước đó. Có thể nói, Mutharika của năm 2004 và 2009 là hai phiên bản đối nghịch của nhau.

Mutharika ngày càng trở nên chuyên quyền và kém khoan dung trước những lời chỉ trích. Ông cách chức tùy tiện các quan chức chính phủ, sách nhiễu các nhà hoạt động phản đối chính sách mình đưa ra, công khai tuyên bố rằng sẽ “xử lý” và bỏ tù những người tổ chức các cuộc biểu tình chống lại chế độ của mình.

Biểu tình lớn ở Malawi năm 2011. Ít nhất 19 người đã chết trong cuộc đụng độ với quân đội. Ảnh: VOA.

Vào tháng 7/2011, sức ép lên chính quyền của Mutharika càng lên cao. Nhiều cuộc biểu tình đã nổ ra tại Malawi vì người dân bất mãn với giá lương thực tăng cao và cuộc khủng hoảng năng lượng trên toàn quốc. Quân đội được triển khai để trấn áp. 19 người biểu tình bị giết chết, hàng trăm người khác bị thương.

Ngày 5/4/2012, một sự kiện bất ngờ xảy ra: Mutharika đột ngột qua đời vì một cơn đau tim.

Cái chết của vị tổng thống chỉ được công bố chính thức hai ngày sau đó. Lý do là vì các quan chức chính quyền (vốn theo Mutharika) không muốn phó tổng thống lúc bấy giờ là Joyce Banda thế vào chỗ trống theo hiến pháp. Tấm thảm dẫn tới ghế tổng thống lúc đó đã được trải sẵn cho cậu em trai Peter Mutharika. Tuy vậy, với sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân trong nước và quốc tế, Banda vẫn nhậm chức tổng thống tạm quyền.

Đến cuộc bầu cử năm 2015, Peter Mutharika giành thắng lợi với 36,4% số phiếu bầu. Ông vượt qua Lazarus Chakwera, ứng cử viên của đảng MCP, và Tổng thống tạm quyền Banda (đạt lần lượt là 27,8% và 20,2% số phiếu). Mặc dù Banda cáo buộc có gian lận bầu cử, Tòa án Tối cao Malawi đã bác bỏ cáo buộc này.

Tuy nhiên, chỉ vài năm sau, mọi sự tập trung không dành cho người về nhất, mà lại đổ dồn vào người về nhì: Lazarus Chakwera.

Khi người dân quyết tâm giành lại cuộc bầu cử

Lazarus Chakwera là một cái tên khá mới mẻ trong chính trường Malawi. Cuộc đời ông lẽ ra đã được định sẵn để trở thành một mục sư, chứ không phải là tổng thống.

Sinh ra trong gia đình có cha là một nhà truyền giáo, Chakwera theo học và tốt nghiệp cử nhân triết học tại Malawi, sau đó theo học thạc sỹ ngành thần học (theology) tại Nam Phi và Hoa Kỳ. Ông quyết định xông pha vào chính trường khi nhận thấy rằng đất nước của mình đang lâm vào khủng hoảng và trở nên chia rẽ hơn bao giờ hết trong suốt 25 năm qua.

Dáng dấp của Chakwera gợi nhớ đến một trong những nhà lãnh đạo dân sự vĩ đại nhất nước Mỹ – mục sư Martin Luther King Jr. – và bài phát biểu “Tôi có một giấc mơ” (I have a dream) nổi tiếng. Trong các bài diễn thuyết của mình, Chakwera thậm chí còn truyền đi những hy vọng táo bạo hơn.

“Đã đến lúc chúng ta vươn xa hơn những giấc mơ của mình”, ông nói. “Tất cả phải thức dậy, bởi vì đây chính là thời điểm để thoát khỏi giấc ngủ dài và biến giấc mơ của chúng ta thành hiện thực”.

Đó cũng chính là thời khắc người dân Malawi chợt thức tỉnh.

Lazakrus Chakwera gợi nhớ đến huyền thoại Martin Luther King Jr. Ảnh: Reuters.

Vào cuộc bầu cử tổng thống tháng 5/2019, cái tên Peter Mutharika lại được xướng lên là người chiến thắng với 38,57% số phiếu, theo sau là Chakwera với 35,41%. Thế nhưng, chiến thắng lần này của ông Mutharika không kéo dài được lâu.

Ủy ban Bầu cử Malawi (MEC) nhận được 147 báo cáo về gian lận bầu cử, trong đó có việc sử dụng hóa chất Tipp-Ex để tẩy xóa các phiếu bầu của ứng cử viên đảng đối lập. Các đảng đối lập đệ đơn lên Tòa án Hiến pháp, còn người biểu tình Malawi thì tràn ra đường để cất lên tiếng nói ủng hộ quyết định trên.

Vào tháng 2/2020, Tòa án Tối cao Malawi đưa ra phán quyết rằng đã có những sai sót “lớn, mang tính hệ thống, và nghiêm trọng” trong quá trình bầu cử; đồng thời yêu cầu tổ chức lại một cuộc bầu cử mới trong vòng 150 ngày.

Lần này thì hàng triệu cử tri Malawi quyết tâm không để gian lận bầu cử lặp lại.

Đại dịch COVID-19 ngăn cản các quan sát viên quốc tế đến giám sát cuộc bầu cử mới, nhưng điều này chẳng thành vấn đề. Các tổ chức dân sự, phóng viên, và các nhà hoạt động xã hội địa phương đã thay phiên giám sát từng quá trình, từ vận động, bầu chọn, cho đến kiểm và đếm phiếu.

Để đảm bảo không có gian lận xảy ra, người dân tuần hành “hộ tống” các thùng phiếu đến các trung tâm kiểm phiếu. Quân đội lại được triển khai, nhưng giờ đây là để bảo vệ dòng người biểu tình đang diễu hành đòi công lý.

Tháng 6/2020, cả đất nước trải qua giai đoạn hồi hộp nhất kể từ ngày độc lập. Người người chăm chú bên chiếc radio trong hàng tháng trời để dõi theo từng diễn biến của cuộc bầu cử mới.

Sau biết bao chờ đợi, người dân Malawi đã có lý do để ăn mừng. Kết quả cuối cùng không phụ lòng họ.

Người dân Malawi đón mừng phán quyết của Tòa án Tối cao tại thủ đô Lilongwe. Ảnh: The Economist/ AP.

Trong cuộc bầu cử “sạch” này, ứng cử viên Lazarus Chakewra đã chiến thắng với 59% trong tổng số 4,4 triệu phiếu bầu, bỏ xa đối thủ Mutharika.

Đây không chỉ là chiến thắng của riêng Chakewra, mà còn là của cả người dân Malawi trong nỗ lực bảo vệ nền dân chủ của mình.

Điều này cũng cho thấy tầm quan trọng của các thiết chế vững chãi đối với những quốc gia đang bước đầu xây dựng nền dân chủ: một hệ thống tòa án độc lập, một khu vực xã hội dân sự sôi động, một nền báo chí dấn thân, và một quốc hội đủ mạnh. Tất cả kết hợp lại sẽ khiến cho những kẻ đam mê quyền lực khó lòng bám trụ vào ảo tưởng của mình.

Đây cũng là một bài học cho tất cả các quốc gia khác – những nước xét về quy mô dân số và điều kiện phát triển đều hơn hẳn quốc gia châu Phi nhỏ bé này.

Người Malawi đã lựa chọn dân chủ. Họ không viện dẫn cái nghèo để thờ ơ với chính trị, hay để những kẻ chuyên quyền tước đi các quyền dân sự cơ bản nhất của mình: quyền được cất lên tiếng nói, quyền được bầu chọn người lãnh đạo, và quan trọng hơn hết, quyền được tiếp cận sự thật.

Malawi đáng được ngưỡng mộ vì lẽ đó. Tạp chí The Economist vinh danh họ là quốc gia của năm 2020 với một phát biểu hùng hồn:

“Dù đất nước còn nghèo, nhưng người dân Malawi không chấp nhận làm đối tượng bị cai trị. Họ là những công dân tự do.”

Sẽ còn rất nhiều việc phải làm để cải thiện đời sống của những công dân tự do nơi đây. Nhưng trước mắt họ đang là rất nhiều hy vọng.

Tham khảo:

How Malawi saved its democracy, The Continent

Which is The Economist’s country of the year?, The Economist

A historic day for Malawi’s democracy, The Economist

Malawi’s re-run election is a victory for democracy, The Economist

Nyasaland Becomes Malawi, 37th Free African Country; New Name Helps Mark Shift of Control From Whites to Black Majority, New York Times

History of Malawi, Britannica
The Erosion of Democracy in Malawi: President Bingu wa Mutharika’s Unholy Conversion, Brookings Institution

CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦ

  Image may contain: text that says 'Pluralism'

 
CHỦ NGHĨA ĐA NGUYÊN VÀ NỀN DÂN CHỦĐỗ Ngà

Đa nguyên về bản chất nó là dựa trên nguyên tắc “tất cả đều hòa thuận”. Nguyên tắc này được nêu ra từ rất xa xưa bởi các nhà triết học Hy Lạp cổ đại. Họ cho rằng chủ nghĩa đa nguyên là một yếu tố thiết yếu của nền dân chủ, nó cho phép và thậm chí khuyến khích sự đa dạng của chính kiến. Để phát triển được chủ nghĩa đa nguyên thì mỗi người có phẩm chất “biết chấp nhận sự khác biệt”. Tuy nhiên để có con người biết chấp nhận sự khác biệt thì giáo dục thời cổ đại không thực hiện nổi. Chính vì vậy mà dù chủ nghĩa đa nguyên đã có từ lâu nhưng đợi đến thế kỷ 17 nó mới bắt đầu nảy nở và từ đó các nền dân chủ mới hình thành và phát triển.

Để đi đến bản hiến pháp tọa dựng nên nền dân chủ cho Hoa Kỳ thì tháng 10 năm 1787, 3 người thuộc đảng Liên Bang gồm Alexander Hamilton, James Madison và John Jay viết loạt sách có tựa The Federalist Paper, mỗi cuốn là một bài tiểu luận có giá trị. Nó là những bài phản biện sắc sảo để chuẩn bị viết nên bản Hiến pháp nổi tiếng. Trong đó có nhiều bài James Madison đã phản biện lại lỗ hổng mà Montesquieue đã viết trong cuốn Tinh Thần Pháp Luật nổi tiếng. Có tất cả 85 bài luận.

Trong bài luận The Federalist Paper số 10, James Madison đã cho rằng, nếu không có chủ nghĩa đa nguyên thì chính chủ nghĩa bè phái sẽ đưa đất nước đến các cuộc giao tranh chính trị cố hữu của và nó sẽ làm tan rã nền cộng hòa mới của Mỹ. Madison lập luận rằng, chỉ khi cho phép nhiều phe phái cạnh tranh bình đẳng để tham gia vào chính phủ thì nước Mỹ sẽ tránh kết quả thảm khốc này. Nghĩa là những đảng mạnh phải chấp nhận luật chơi công bằng, không dùng thế để loại bỏ đảng yếu hơn. Chính James Madison đã dựa vào chủ nghĩa đa nguyên xây dựng nên một nhà nước dân chủ và qua 245 năm, nó đã quá vững chắc.

Chính dựa trên nền tảng chủ nghĩa đa nguyên mà nền giáo dục nước này tạo ra cho nước Mỹ một nền tảng dân chủ vững chắc vì người dân Mỹ biết chấp nhận khác biệt. Chủ nghĩa đa nguyên nó giúp con người giảm căng thẳng với nhau, giúp con người chấp nhập sự thật rất dễ dàng. Một tổng thống hôm hay làm đúng, ngày mai ông ta lại trở thành kẻ phá hoại nền dân chủ thì với con người theo chủ nghĩa đa nguyên, họ sẽ dễ dàng vứt bỏ việc mến mộ và chuyển sang chỉ trích. Đó là lý do tại nao người dân Mỹ dồn phiếu cho Joe Biden trong cuộc bầu cử vừa qua. Nền dân chủ nước Mỹ được các vị khai quốc đặt nền tảng trước đây 2,5 thế kỷ giờ nó đã mọc rễ rất sâu trong lối sống người Mỹ rồi, phá không nổi dù cho người đó là tổng thống đầy quyền uy.

Chủ nghĩa CS nó nảy nở trên đất nước này qua 75 năm tạo ra tác hại ghê gớm. Bộ máy nhà nước CS không chấp nhận sự tồn tại của các đảng phái khác, không chấp nhận sự chỉ trích từ phía người dân đã đành, nó còn dựng nên một nền giáo dục thối tha mà nó gọi là “giáo dục XHCN”. Nền giáo dục này nó nặn ra con người phục tùng thiếu tư duy độc lập. Nếu nói ở Mỹ chủ nghĩa đa nguyên nó tồn tại trong bộ máy nhà nước lẫn trong tâm thức người dân thì tạo Việt Nam ngược lại nó chẳng tồn tại được ở chỗ nào cả. Nền tảng cho dân chủ Việt Nam vẫn là con số zero. Đó là lí do tại sao người Việt Nam dễ sùng bái lãnh tụ và dễ bị dắt mũi bởi những loại tin giả.

Có thể nói với nước Mỹ thì không ai đá đổ nổi nền dân chủ, còn với Việt Nam thì ngược lại, rất rất khó có thể gầy dựng nên một nền dân chủ được. Chỉ khi nào con người Việt Nam biết chấp nhận chủ nghĩa đa nguyên, thì khi ấy dân chủ mới nảy nở và lớn mạnh được.

-Đỗ Ngà-

Tham khảo:

https://www.thoughtco.com/pluralism-definition-4692539

https://www.history.com/topics/early-us/federalist-papers

 

10 Điều Phương Tây Đã Dạy Tôi

GÓC SUY GẪM….

10 Điều Phương Tây Đã Dạy Tôi

Là một người may mắn được ăn học ở Phương Tây, tôi cũng đã ít nhiều học được nhiều thứ mà tôi nghĩ ở Việt Nam sẽ chẳng bao giờ dạy.

Trước đây có một bài báo mang tên “2 tỷ đồng du học có mua được một người văn minh không?” Theo tôi, văn minh không phải là một cái gì đó có thể mua được, vì tôi thấy có nhiều bạn du học mà vẫn xấu tính như thường. Văn minh là một thứ gì đó chúng ta phải tiếp thu và truyền lại cho người khác.

Chúng ta không cần phải bỏ ra 2 tỷ để mua một con người văn minh. Sau đây là 10 điều mà tôi đã học và Phương Tây đã dạy tôi.

  1. Nụ cười. Người Phương Tây rất thích cười. Thậm chí, đó là điều bạn sẽ trông thấy đầu tiên từ người quen cho đến người ngoài đường. Khi bạn đi bộ và thấy một người lạ nào đi đối diện, họ sẽ nhìn bạn và nở một nụ cười, và thậm chí hỏi “bạn khỏe không?”
  2. Cảm ơn và xin lỗi. Đây là 2 câu cửa miệng của người Phương Tây mà tôi nghĩ còn xa lạ đối với đại đa số người Việt. Không phải vì chúng ta kém văn minh hơn mà chúng ta có cái suy nghĩ khác về việc sử dụng 2 từ này. Nếu bạn vô tình va chạm một ai đó cho dù lỗi là bạn, nhưng họ cũng sẽ nói “I’m sorry.” Và khi bạn làm gì đó cho họ, họ sẽ đáp lại với câu “thank you.” Nhiều bạn sống lâu năm ở Phương Tây khi trở về Việt Nam sinh sống và làm việc cảm thấy rất khó chịu vì môi trường Việt Nam thiếu đi điều này.
  3. Tư duy cá nhân. Trường lớp Phương Tây khuyến khích tư duy cá nhân, khác với tư duy tập thể của văn hóa Đông Á. Thậm chí, tư duy cá nhân là nền tảng của giáo dục Phương Tây. Mỗi cá nhân là một cái gì đó đặc biệt và không thể gom chung được.
  4. Văn hóa đọc sách. Trung bình, một người Tây sẽ đọc tầm 4-7 cuốn sách trong một năm. Còn ở Việt Nam thì con số là 0.7. Bạn sẽ hỏi “rồi sao? Đọc sách thì liên quan gì?” Sách là kho tàng kiến thức, là nơi một người tìm đến để mở mang tầm nhìn của mình. Ngành xuất bản ở Phương Tây rất phát triển, khác hoàn toàn đối với ở Việt Nam. Một đất nước mà trung bình một người dân chỉ đọc 0.7 cuốn sách thì bạn nghĩ đất nước đó có đủ kiến thức để phát triển không? Tôi nghĩ là không.
  5. Không soi mói đời tư cá nhân. Người Phương Tây chỉ tập trung vào chuyên môn của bạn, họ không quan tâm bạn là ai, từ đâu đến. Điều quan trọng nhất vẫn là năng lực của bạn. Ngược lại, người Việt Nam thường hay soi mói cá nhân và những thứ chẳng liên quan gì.
  6. Tư duy chỉ trích những lãnh đạo chính trị. Cái này mình xin không nói nhiều nhé…..Nói tóm lại là người Phương Tây coi lãnh đạo của họ là những viên chức ăn lương bình thường như bao người khác, không hơn không kém. Họ đã nhận lương thì họ phải làm tốt công việc của mình. Còn ở Việt Nam thì sao?
  7. Tầm nhìn dài hạn. Người Phương Tây khi đã lên kế hoạch và xây dựng cái gì thì họ sẽ có tầm nhìn dài hạn, ít nhất là 20 năm trở lên. Các doanh nghiệp Tây không bao giờ làm ăn chụp giật để kiếm lời trong ngắn hạn như Đông Á. Họ luôn có cái nhìn lâu dài và bền vững.
  8. Tôn trọng và nâng niu phụ nữ. Ở Phương Tây, quy luật tất yếu là “phụ nữ là nhất.” Phụ nữ luôn được đàn ông tôn trọng. Ở Việt Nam thì khi đàn ông nhìn phụ nữ tôi cá rằng họ chỉ muốn “chịch.” Cách tán gái của đàn ông Việt vì vậy mà thô tục không kém. Chẳng có văn hóa và đẳng cấp chút nào.
  9. Tôn trọng sự khác biệt của người khác, đừng bao giờ ép người khác phải theo mình. Đây cũng là một phần của “chủ nghĩa cá nhân.” Mỗi cá nhân là một món quá đặc biệt của Thượng Đế. Nên đừng bao giờ ép người khác phải làm theo ý mình, trừ khi họ tự nguyện.
  10. Và cuối cùng, tôi nghĩ cái này là quan trọng nhất, đó là “tư duy thắc mắc” hoặc cái mà tôi gọi là “văn hóa tại sao?”

Người Phương Tây luôn luôn hỏi, luôn tìm hiểu và luôn hỏi tại sao. Họ không bao giờ ngừng suy nghĩ hay tự cao về bản thân. Cũng ít khi nào lấy bằng cấp mình đi khoe và coi đó là sự thể hiện rằng mình hơn người khác. Họ không bao giờ ngừng học hỏi. Ở đây không phải tôi so sánh, mà hình như người Việt Nam không có cái tư duy này. Trong mắt người Việt luôn có cái nhìn “kệ nó” hay “tại vì xứ mình nó thế.”

Đó là 10 điều trong vô số điều mà tôi đã học được từ Phương Tây. Người Việt Nam là một dân tộc rất đẹp, nhưng tôi nghĩ chúng ta cần phải học hỏi nhiều từ Phương Tây.

Không phải vì chúng ta thấp hơn hay họ cao hơn, mà vì những thứ trên là những yếu tốt giúp họ trở thành những nước phát triển.

Hy vọng các bạn đọc và hiểu.

Cafe Ku Búa….

LS STEVEN ĐIÊU: TRUMP HỦY HOẠI TRUYỀN THÔNG & ĐỊNH CHẾ DÂN CHỦ MỸ?

httpv://www.youtube.com/watch?v=79s91CL8znM

LS STEVEN ĐIÊU: TRUMP HỦY HOẠI TRUYỀN THÔNG & ĐỊNH CHẾ DÂN CHỦ MỸ?

Những nhà độc tài thường ra nhiều chiêu bài như: tạo mâu thuận phân hóa trong xã hội, Tạo kỳ thị tôn giáo ,chủng tộc, hủy hoại truyền thông là đệ tứ quyền” Truyền thông là kẻ thù nhân dân “. Đó là những điều Trump đưa ra trong suốt 4 năm qua.

‘Nghĩa đời trong ba tiếng’ (*)

Image may contain: one or more people, people sleeping, baby and closeup

 

TẠP GHI HUY PHƯƠNG….

*******

‘Nghĩa đời trong ba tiếng’ (*)

Nhân loại, ai khi mới sinh ra cũng cất tiếng khóc. Theo y học, sau khi ra đời, cuống nhau thai nhi cung cấp oxy và các chất dinh dưỡng bị cắt bỏ, đứa bé buộc phải tự hô hấp. Tiếng khóc làm phổi mở rộng và đứa trẻ bắt đầu thở. Tiếng khóc của em bé giúp đẩy ra và hít không khí vào phổi liên tục với tốc độ nhanh, giúp phổi nhanh chóng thích ứng với việc hô hấp. Tiếng khóc còn giúp trẻ sơ sinh loại bỏ được những chất dịch còn đọng lại trong phổi, mũi hoặc miệng.

Nghe tiếng khóc, bác sĩ còn có thể biết được tình trạng sức khoẻ của đứa trẻ.

Trẻ không khóc là không thở được, người ta sẽ dốc ngược thân em bé xuống và vỗ mạnh vào mông đứa trẻ.

Tiếng khóc đầu đời của một bé sơ sinh cũng là nỗi vui cả người cha đang ngồi ở phòng chờ và người mẹ vừa mới qua cơn sống chết để sinh con. Tiếng khóc cũng là âm thanh khởi đầu cho một đời người, mà theo triết lý bi quan, có buồn nhiều hơn vui, vì “đời là một thung lũng nước mắt,” hay “đời là bể khổ.”

Chính Nguyễn Công Trứ cũng đã có lần hỏi: “Trần có vui, sao chẳng cười khì?”

Dù thế nào đi nữa, tiếng khóc cũng là biểu hiện cho sự sống. Đó chính là niềm hạnh phúc cho mỗi gia đình.

Lớn lên, ai cũng phải vất vả mới có miếng ăn. Dù là “cổ xanh” hay “cổ trắng,” ai cũng phải chạy theo thời gian, dính líu đến chiếc đồng hồ chỉ giờ.

Ngày còn đi làm, tôi ghét nhất là cái đồng hồ báo thức, lúc sáng sớm, bỗng reo lên, phá tan cơn mộng mị và giấc ngủ đang ngon lành, vì cứ đi trễ vài lần là chắc chắn mất việc, mà mất việc sẽ dẫn đến chuyện mất nhà, và mất… vợ!

Qua thời gian đi làm việc mưu sinh trên xứ này, nếu có người hỏi tôi, cái gì làm cho tôi chịu đựng nhiều nhất, đó là gặp một ông boss khó tính hay bạn đồng nghiệp thiếu thân thiện, kỳ thị, thì tôi trả lời ngay đó là cái đồng hồ báo thức khi phát kêu lên những tiếng kêu khó thương mỗi buổi sáng, những buổi sáng mùa Đông lạnh lẽo, nhất là những ngày ở miền Đông, vén màn nhìn ra ngoài trời, thấy tuyết đang rơi mù mịt.

Dù là cái đồng hồ hay chiếc radio phát ra những nốt nhạc trầm bổng, hay tiếng kêu lích kích thì cũng chẳng ai ưa, nhưng nếu cái vật biết kêu này, một sáng nào đó, nhức đầu sổ mũi, ngủ quên, làm chính chủ nhân nó cũng ngủ quên theo, thì lại là một đại họa.

Đó là “nhân vật” gần gũi khó chịu nhất, mà tối trước khi đi ngủ, chúng ta phải sờ đến nó, trừ tối Thứ Bảy và những ngày nghỉ lớn trong năm. Có lẽ đến tuổi về hưu, chúng ta nên “làm lễ” tống khứ cái đồng hồ báo thức, hay lấy búa đập nó thành mớ sắt vụn, cho hả dạ.

Thời gian làm lụng vất vả, ai cũng mong cho đến một này “rửa tay, gác kiếm,” thong dong bước vào tuổi già, mắc võng giữa hai cây lớn, đầy bóng im trong vườn nhà, đong đưa cho quên hết việc đời. Nhưng khổ nỗi, chữ “hưu” gần với chữ “già,’ mà già, bệnh, và chết là ba giai đoạn cuối cùng của cuộc đời. Ít ai được chết như ngọn đèn hết dầu tắt phụt hay như chiếc xe hết nhiên liệu, đột ngột tắt máy, dừng lại giữa đường. Không ít thì nhiều, khi ta về già, ai cũng trải qua nhiều thứ bệnh tật, vào ra bệnh viện, trước khi xuôi tay.

Nhìn quanh bạn bè, chẳng ai khá hơn ai. Người thì bị troke bán thân bất toại, người thì suy thận, phải vào bệnh biện ba lần mỗi tuần để lọc thận, người phải mang bình tiểu quanh năm, người mắc bệnh ung thư, sau nhiều năm chữa bệnh, tóc rụng, thân gầy nằm chờ chết. Mà không ai biết ngày mai, mình sẽ ra sao? Không biết đêm nay có phải là một đêm yên lành, để sáng mai thức giấc, còn được nhìn thấy ánh mặt trời qua khung cửa hay không. Chuyện gì sẽ đến trong đêm hôm nay?

Nhiều đêm, chúng ta chợt thức giấc nửa khuya, nghe tiếng còi cấp cứu vang rền trong đêm vắng, để đưa một ai đó vào bệnh viện. Chúng ta đã có lúc, hay rồi ra sẽ có khi là nhân vật nằm trên chiếc cáng, trong chiếc xe màu trắng, loang loáng ánh đèn đỏ, chớp tắt liên hồi ấy, hối hả trên đường đến bệnh viện.

Tiếng còi xe cứu thương đã trở thành một âm thanh ghê sợ, hãi hùng, có khi đem một người đi mãi không về, nếu không thì cũng bệnh viện với màu trắng của giường nệm, y phục của những người y tá, dây nhợ chuyền thuốc men, nước biển… Những đoạn thời gian hôn mê trong phòng mổ, những cơn đau vật vã, những mũi thuốc vội vàng từ người y tá và một nỗi buồn tê dại mỗi chiều, mỗi đêm, cô quạnh với những giọt thuốc nhỏ giọt thấm vào cơ thể, tiếng nói cười của những người xa lạ, trần nhà trước mắt và những ánh đèn chong sáng suốt đêm.

Con đường từ nhà ra nghĩa địa hay lò thiêu mà không đi qua bệnh viện là con đường đẹp nhất! Phúc cho ai chưa bao giờ phải nằm trên chiếc cáng trong xe cứu thương hay chưa trải qua một ngày nào trong bệnh viện.

Đêm nay, một đêm cuối năm lạnh lẽo, trời trở gió, văng vẳng đâu đây một tiếng còi xe cấp cứu, nghe khi gần khi xa.

Xin cầu nguyện cho chúng ta được một đêm yên lành, và không bao giờ chiếc xe đó, dù chỉ một lần, trực chỉ đến địa chỉ căn nhà của chúng ta đang sống!

Phải chăng,“Nghĩa đời trong ba tiếng”: Tiếng khóc của trẻ thơ. Chuông buổi sáng báo giờ. Hồi còi xe cấp cứu!

– Em bé chào đời. (Hình: PHILIPPE HUGUEN/AFP via Getty Images)

Giá Trị Con Người Là Số 1 Hay Số 0?

 

GÓC SUY GẪM…

Giá Trị Con Người Là Số 1 Hay Số 0?

“Nhà toán học Ả Rập vĩ đại Al Khawarizmi khi được hỏi về giá trị của con người, ông đã trả lời:Nền tảng con người là đạo đức. Nếu có đạo đức, thì giá trị của bạn là 1.

Cách mà nhà toán học Al-Khwarizmi diễn giải để thiết lập giá trị của một con người theo các con số toán học có chút gì đó… kỳ kỳ mà đảm bảo khi xem kỹ, khối dân công sở sẽ giật mình. Đâu là giá trị làm nên một con người?

Đối diện với câu hỏi này, tin chắc rằng không ít dân công sở sẽ trả lời rằng nó nằm trong trí tuệ, sự giàu có, mức độ thành công và thậm chí là cả nhan sắc.

Bởi lẽ, hầu hết đều ngộ nhận rằng, trong môi trường làm việc, một cá nhân thông minh thì sẽ được sếp và đồng nghiệp đánh giá cao; thân thế tốt thì ít nhiều cũng nhận được sự coi trọng nhất định. Nếu thêm đẹp đẽ xinh xắn nữa thì ai ai cũng muốn ở gần để được… chiều chuộng thị giác.

Và Muhammad Musa al-Khwarizmi – nhà toán học vĩ đại người Ả Rập cũng đồng tình với những điều trên. Ấy thế nhưng, cách mà ông diễn giải để thiết lập giá trị của một con người theo các con số toán học có chút gì đó… kỳ kỳ mà đảm bảo khi xem kỹ, khối dân công sở sẽ giật mình.

Cụ thể, có câu chuyện kể rằng, lúc Khwarizmi được hỏi về giá trị của con người, ông điềm đạm đã trả lời như sau:Nền tảng con người là đạo đức. Nếu có đạo đức, thì giá trị của bạn là 1.

Nếu cũng thông minh, thêm một số 0 và giá trị của bạn sẽ là 10.

Nếu cũng giàu có, thêm một số 0 nữa và giá trị của bạn sẽ là 100.

Nếu trên tất cả bạn lại còn xinh đẹp, lại thêm một số 0 và giá trị tổng sẽ là 1000.

Nhưng nếu bạn bị mất số 1, tương ứng với mất đạo đức, bạn sẽ mất tất cả giá trị và giá trị của bạn chỉ còn là số 0.

Quả thật, dù đạo đức là thứ không thể đo lường bằng các định lượng khách quan được, nhưng suy cho cùng từ xưa đến nay, không chỉ Khwarizmi, cổ nhân từ phương Đông cho đến phương Tây mà cả những thế hệ người lớn gần gũi xung quanh chúng ta như ông bà, bố mẹ, thầy cô đều đồng tình cho rằng nền tảng để tạo nên giá trị của một con người là nằm ở mặt đạo đức.

Đúng thật là như nhiều người nghĩ, xinh đẹp, tài giỏi hay thông minh đều mang đến cho chúng ta nhiều lợi ích nhất định trong mắt người đời. Tuy nhiên, một khi nền tảng đạo đức không có thì giá trị của chúng ta chỉ dừng ở mức có và rất khó để dùng.

Riêng trong môi trường công sở mà nói. Tài giỏi mà không có đạo đức, người ta rốt cuộc cũng chỉ là kẻ tiểu nhân, dùng cái tài của mình để mưu cầu lợi ích cho bản thân hoặc xem sự tài giỏi của mình là vũ khí để công kích đồng nghiệp, uy hiếp cả sếp.

Đẹp mà không có đạo đức cũng chẳng làm gì ra hồn, không “chọc trời” cũng quay sang “khuấy nước”, gây chuyện điên đảo thị phi trong công ty.

Giàu vật chất mà không có đạo đức, đời sống tinh thần chẳng lúc nào yên vui vì chất chứa tâm cơ, đồng nghiệp chán ghét.

Ngược lại, nếu dân công sở dẫu chẳng đẹp đẽ, thông minh hay tài giỏi, chỉ cần có đạo đức, biết kính trên nhường dưới, nắm rõ nghệ thuật đối nhân xử thế và tử tế tốt bụng với mọi người xung quanh, đảm bảo ai cũng yêu quý và nể trọng.

Nên nhớ, trí tuệ kiến thức có thể trau dồi nhưng nhân phẩm và đạo đức một khi đánh mất sẽ rất khó tìm lại được. Nhân phẩm tốt có thể bù đắp lại sự thiếu hụt về trí tuệ, nhưng tài vận vĩnh viễn không thể bù đắp được thiếu sót trong nhân cách.

“Tả thị Xuân Thu” có câu “trước lập đức, sau lập công”. Câu này có nghĩa là phàm làm người muốn thành danh, thành công trên con đường sự nghiệp thì trước tiên phải biết “lập đức”, tức là trau dồi nhân phẩm, dung dưỡng đạo đức và đạo làm người cho tốt cái đã.

Image may contain: one or more people and indoor

Quan Sát Tâm

Chính xác. Có câu, “có đức không sức mà ăn” là vậy. Có đức thì những thứ khác từ từ sẽ bị hút đến.

Cuối cùng rồi, sau khi nhắm mắt xuôi tay, cái gì sẽ còn giữ lại, theo ta mãi mãi, đó không phải là tiền bạc, giàu sang, quyền lực, chức vụ, địa vị, đó chính là nhân cách, là đạo đức của con người. Khi nhắm mắt có nhiều người thương tiếc, nhiều người cầu nguyện cho. Tục ngữ ta có câu”Có đức không sức mà ăn” chỉ cảm nghiệm được sau khi trải qua cuộc đời thăng trầm, sẽ nhìn thấy dễ dàng hơn lúc về già.