Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà

 Đài Á Châu Tự Do 

Tự nhận mình là “người miền bắc thuần tuý” do có bố mẹ là đảng viên Đảng Cộng Sản, và sinh trưởng ở vùng nông thôn bắc bộ sau khi chiến tranh đã kết thúc, nhưng ông Trịnh Hữu Long cho biết bản thân đã tìm ra lời giải cho việc hoà hợp, hoà giải giải dân tộc, và sách thời Việt Nam Cộng Hoà là một công cụ hữu hiệu.

Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà
RFA.ORG

Thế hệ hậu chiến với nỗ lực bảo tồn và quảng bá sách thời Việt Nam Cộng Hoà

Một tổ chức do người Việt Nam sinh ra thời hậu chiến đang

Cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn được báo chí chính thống Việt Nam sử dụng…

BBC News Tiếng Việt 

Cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn được báo chí chính thống Việt Nam sử dụng, trong các bài đánh dấu sự kiện 30/4/1975 năm nay.

Trong vài năm qua, thỉnh thoảng lại có ý kiến ở Việt Nam dè dặt cho rằng không nên gọi chính quyền Việt Nam Cộng hoà là ngụy quân, ngụy quyền như trước.

Tuy vậy, điểm qua báo chí tháng Tư 2022, người ta thấy chữ “ngụy quyền” vẫn được sử dụng chính thức tại Việt Nam.

Ví dụ, một bài của Thông tấn xã ngày 30/4/2022 viết: “ Trên chiến trường miền Nam, mặc dù ngụy quân, ngụy quyền và đế quốc Mỹ dùng mọi thủ đoạn chia rẽ nhân dân với bộ đội, du kích nhưng mối quan hệ đoàn kết quân dân luôn được củng cố, ngày càng gắn bó.”

Tạp chí Tuyên giáo hôm nay 30/4 viết: “Nhân dân các địa phương toàn miền Nam kiên cường bất, khuất suốt cuộc kháng chiến, khi cuộc tổng tiến công nổ ra, đã dũng cảm nổi dậy phối hợp cùng các lực lượng vũ trang đập tan bộ máy ngụy quyền, thiết lập chính quyền cách mạng, giải phóng quê hương.”

Báo Quân đội Nhân dân ngày 28/4 viết: “Như thế cần khẳng định rằng, chính quyền Việt Nam cộng hòa hoàn toàn là tay sai của Mỹ, thực hiện mưu đồ của Mỹ là biến Việt Nam trở thành thuộc địa kiểu mới. Dưới sự chỉ đạo của Mỹ, cùng với quân Mỹ, quân đội ngụy quyền Sài Gòn đã thực hiện nhiều chiến dịch thảm sát đồng bào miền Nam.”

Báo Tuổi Trẻ Thủ đô ngày 30/4 viết: “Vào lúc 11h30 ngày 30/4/1975, lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam đã tung bay trên nóc dinh Độc Lập – sào huyệt cuối cùng của ngụy quyền Sài Gòn.”

Báo Long An ngày 30/4 có bài viết: “Sự sụp đổ của Ngụy quyền Sài Gòn là tất yếu vì chính quyền đấy đi ngược lại lợi ích của nhân dân, lợi ích của quốc gia, dân tộc.”

Như vậy có thể thấy cụm từ “ngụy quyền Sài Gòn” vẫn là ngôn ngữ chính thức được sử dụng để chỉ các chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước đây.

ANH GIẢI PHÓNG TÔI HAY TÔI GIẢI PHÓNG ANH?!

Van Pham

ANH GIẢI PHÓNG TÔI HAY TÔI GIẢI PHÓNG ANH?!

Nhân 47 năm ngày được chế độ mênh danh là “ngày giải phóng”. Chúng ta hãy nghe nhà văn miền Bắc Nguyễn Quang Lập kể lại chuyện cuộc sống của hoc sinh miền Bắc vào thời điểm ấy!!!!

*******

Sài Gòn giải phóng tôi….

Mãi tới ngày 30 tháng 4 năm 1975 tôi mới biết thế nào là ngày sinh nhật. Quê tôi người ta chỉ quan tâm tới ngày chết, ngày sinh nhật là cái gì rất phù phiếm. Ngày sinh của tôi ngủ yên trong học bạ, chỉ được nhắc đến mỗi kì chuyển cấp.

Từ thuở bé con đến năm 19 tuổi chẳng có ai nhắc tôi ngày sinh nhật, tôi cũng chẳng quan tâm. Đúng ngày “non sông thu về một mối” tôi đang học Bách Khoa Hà Nội, cô giáo dạy toán xác suất đã cho hay đó cũng là ngày sinh nhật của tôi. Thật không ngờ. Tôi vui mừng đến độ muốn bay vào Sài Gòn ngay lập tức, để cùng Sài Gòn tận hưởng “Ngày trọng đại”.

Kẹt nỗi tôi đang học, ba tôi không cho đi. Sau ngày 30 tháng 4 cả nhà tôi đều vào Sài Gòn, trừ tôi. Ông bác của tôi dinh tê vào Sài Gòn năm 1953, làm ba tôi luôn ghi vào lý lịch của ông và các con ông hai chữ “đã chết”, giờ đây là triệu phú số một Sài Gòn.

Ba tôi quá mừng vì ông bác tôi còn sống, mừng hơn nữa là “triệu phú số một Sài Gòn”. Ông bác tôi cũng mừng ba tôi hãy còn sống, mừng hơn nữa là “gia đình bảy đảng viên cộng sản”. Cuộc đoàn tụ vàng ròng và nước mắt. Ông bác tôi nhận nước mắt đoàn viên bảy đảng viên cộng sản, ba tôi nhận hơn hai chục cây vàng đem ra Bắc trả hết nợ nần còn xây được ngôi nhà ngói ba gian hai chái. Sự đổi đời kì diệu.

Dù chưa được vào Sài Gòn nhưng tôi đã thấy Sài Gòn qua ba vật phẩm lạ lùng, đó là bút bi, mì tôm và cassette của thằng Minh cùng lớp, ba nó là nhà thơ Viễn Phương ở Sài Gòn gửi ra cho nó.

Chúng tôi xúm lại quanh thằng Minh xem nó thao tác viết bút bi, hồi đó gọi là bút nguyên tử. Nó bấm đít bút cái tách, đầu bút nhô ra, và nó viết. Nét mực đều tăm tắp, không cần chấm mực không cần bơm mực, cứ thế là viết. Chúng tôi ai nấy há hốc mồm không thể tin nổi Sài Gòn lại có thể sản xuất được cái bút tài tình thế kia.

Tối hôm đó thằng Minh bóc gói mì tôm bỏ vào bát. Tưởng đó là lương khô chúng tôi không chú ý lắm. Khi thằng Minh đổ nước sôi vào bát, một mùi thơm rất lạ bốc lên, hết thảy chúng tôi đều nuốt nước bọt, đứa nào đứa nấy bỗng đói cồn cào. Thằng Minh túc tắc ăn, chúng tôi vừa nuốt nước bọt vừa cãi nhau. Không đứa nào tin Sài Gòn lại có thể sản xuất được đồ ăn cao cấp thế kia. Có đứa còn bảo đồ ăn đổ nước sôi vào là ăn được ngay, thơm ngon thế kia, chỉ giành cho các nhà du hành vũ trụ, người thường không bao giờ có.

Thằng Minh khoe cái cassette ba nó gửi cho nó để nó học ngoại ngữ. Tới đây thì tôi bị sốc, không ngờ nhà nó giàu thế. Với tôi cassette là tài sản lớn, chỉ những người giàu mới có. Năm 1973 quê tôi lần đầu xuất hiện một cái cassette của một người du học Đông Đức trở về. Cả làng chạy đến xem máy ghi âm mà ai cũng đinh ninh đó là công cụ hoạt động tình báo, người thường không thể có. Suốt mấy ngày liền, dân làng tôi say sưa nói vào máy ghi âm rồi bật máy nghe tiếng của mình. Tôi cũng được nói vào máy ghi âm và thật vọng vô cùng không ngờ tiếng của tôi lại tệ đến thế.

Một ngày tôi thấy tài sản lớn ấy trong tay một sinh viên, không còn tin vào mắt mình nữa. Thằng Minh nói, rẻ không à. Thứ này chỉ ghi âm, không có radio, giá hơn chục đồng thôi, bán đầy chợ Bến Thành. Không ai tin thằng Minh cả. Tôi bỉu môi nói với nó, cứt! Rứa Sài Gòn là tây à?

Thằng Minh tủm tỉm cười không nói gì, nó mở cassette, lần đầu tiên chúng tôi được nghe nhạc Sài Gòn, tất cả chết lặng trước giọng ca của Khánh Ly trong Sơn ca 7. Kết thúc Sơn ca 7 thằng Hoan bỗng thở hắt một tiếng thật to và kêu lên, đúng là tây thật bay ơi!

Sài Gòn là tây, điều đó hấp dẫn tôi đến nỗi đêm nào tôi cũng mơ tới Sài Gon. Kì nghỉ hè năm sau, tháng 8 năm 1976, tôi mới được vào Sài Gòn. Ba tôi vẫn bắt tôi không được đi đâu, “ở nhà học hành cho tử tế”, nhưng tôi đủ lớn để bác bỏ sự ngăn cấm của ông. Hơn nữa cô họ tôi rất yêu tôi, đã cho người ra Hà Nội đón tôi vào. Xe chạy ba ngày ba đêm tôi được gặp Sài Gòn.

Tôi sẽ không kể những gì lần đầu tôi thấy trong biệt thự của ông bác tôi, từ máy điều hòa, tủ lạnh, ti vi tới xe máy, ô tô, cầu thang máy và bà giúp việc tuổi năm mươi một mực lễ phép gọi tôi bằng cậu. Ngay mấy cục đá lạnh cần lúc nào có ngay lúc đó cũng đã làm tôi thán phục lắm rồi. Thán phục chứ không ngạc nhiên, vì đó là nhà của ông triệu phú. Xin kể những gì buổi sáng đầu tiên tôi thực sự gặp gỡ Sài Gòn.

Khấp khởi và hồi hộp, rụt rè và cảnh giác tôi bước xuống lòng đường thành phố Sài Gòn và gặp ngay tiếng dạ ngọt như mía lùi của bà bán hàng tạp hóa đáng tuổi mạ tôi. Không nghĩ tiếng dạ ấy giành cho mình, tôi ngoảnh lại sau xem bà chủ dạ ai. Không có ai. Thì ra bà chủ dạ khách hàng, điều mà tôi chưa từng thấy. Quay lại thấy nụ cười bà chủ, nụ cười khá giả tạo. Cả tiếng dạ cũng giả tạo nhưng với tôi là trên cả tuyệt vời.

Từ bé cho đến giờ tôi toàn thấy những bộ mặt lạnh lùng khinh khỉnh của các mậu dịch viên, luôn coi khách hàng như những kẻ làm phiền họ. Lâu ngày rồi chính khách hàng cũng tự thấy mình có lỗi và chịu ơn các mậu dịch viên. Nghe một tiếng dạ, thấy một nụ cười của các mậu dịch viên dù là giả tạo cũng là điều không tưởng, thậm chí là phi lí.

Tôi mua ba chục cái bút bi về làm quà cho bạn bè. Bà chủ lấy dây chun bó bút bi và cho vào túi nilon, chăm chút cẩn thận cứ như bà đang gói hàng cho bà chứ không phải cho tôi. Không một mậu dịch viên nào, cả những bà hàng xén quê tôi, phục vụ khách hàng được như thế, cái túi nilon gói hàng càng không thể có. Ai đòi hỏi khách hàng dây chun buộc hàng và túi nilon đựng hàng sẽ bắt gặp cái nhìn khinh bỉ, vì đó là đòi hỏi của một kẻ không hâm hấp cũng ngu đần. Giờ đây bà chủ tạp hóa Sài Gòn làm điều đó hồn hậu như một niềm vui của chính bà, khiến tôi sửng sốt.

Cách đó chưa đầy một tuần, ở Hà Nội tôi đi sắp hàng mua thịt cho anh cả. Cô mậu dịch viên hất hàm hỏi tôi, hết thịt, có đổi thịt sang sườn không? Dù thấy cả một rổ thịt tươi dưới chân cô mậu dịch viên tôi vẫn đáp, dạ có! Tranh cãi với các mậu dịch viên là điều dại dột nhất trần đời. Cô mậu dịch viên ném miếng sườn heo cho tôi. Cô ném mạnh quá, miếng sườn văng vào tôi. Tất nhiên tôi không hề tức giận, tôi cảm ơn cô đã bán sườn cho tôi và vui mừng đã chụp được miếng sườn, không để nó rơi xuống đất. Kể vậy để biết vì sao bà chủ tạp hóa Sài Gòn đã làm tôi sửng sốt.

Rời quầy tạp hóa tôi tìm tới một quán cà phê vườn. Uống cà phê để biết, cũng là để ra dáng ta đây dân Sài Gòn. Ở Hà Nội tôi chỉ quen chè chén, không dám uống cà phê vì nó rất đắt. Tôi ngồi vắt chân chữ ngũ nhâm nhi cốc cà phê đen đá pha sẵn, hút điếu thuốc Captain, tự thấy mình lên hẳn mấy chân kính. Không may tôi vô ý quờ tay làm đổ vỡ ly cà phê. Biết mình sắp bị ăn chửi và phải đền tiền ly cà phê mặt cậu bé hai mươi tuổi đỏ lựng. Cô bé phục vụ chạy tới vội vã lau chùi, nhặt nhạnh mảnh vỡ thủy tinh với một thái độ như chính cô là người có lỗi. Cô thay cho tôi một ly cà phê mới nhẹ nhàng như một lẽ đương nhiên. Tôi thêm một lần sửng sốt.

Một giờ sau tôi quay về nhà ông bác, phát hiện sau nhà là một con hẻm đầy sách. Con hẻm ngắn, rộng rãi. Tôi không nhớ nó có tên đường hay không, chỉ nhớ rất nhiều cây cổ thụ tỏa bóng sum sê, hai vỉa hè đầy sách. Suốt buổi sáng hôm đó tôi tha thẩn ở đây. Quá nhiều sách hay, tôi không biết nên bỏ cuốn gì mua cuốn gì. Muốn mua hết phải chất đầy vài xe tải. Giữa hai vỉa hè mênh mông sách đó, có cả những cuốn sách Mác – Lê. Cuốn Tư Bản Luận của Châu Tâm Luân và Hành trình trí thức của Karl Marx của Nguyễn Văn Trung cùng nhiều sách khác.

Thoạt đầu tôi tưởng sách từ Hà Nội chuyển vào, sau mới biết sách của Sài Gòn xuất bản từ những năm sáu mươi. Tôi hỏi ông chủ bán sách, ở đây người ta cũng cho in sách Mác – Lê à? Ông chủ quán vui vẻ nói, dạ chú. Sinh viên trong này học cả Mác – Lê. Tôi ngẩn ngơ cười không biết nói gì hơn. Với tôi lúc đó thật khác thường, nếu không muốn nói thật lớn lao. Tôi không cắt nghĩa được đó là gì trong buổi sáng hôm ấy.

Tôi còn ở lại Sài Gòn thêm 30 buổi sáng nữa, vẫn không cắt nghĩa được đó là gì. Nhưng khi quay ra Hà Nội tôi bỗng sống khác đi, nghĩ khác đi, đọc khác đi, nói khác đi. Bạn bè tôi ngày đó gọi tôi là thằng hâm, thằng lập dị. Tôi thì rất vui vì biết mình đã được giải phóng.

BÌNH AN GIỮA BÃO TỐ

BÌNH AN GIỮA BÃO TỐ

“Thầy đây, đừng sợ!”.

Một cụ già hấp hối thều thào với một người bạn, “Tôi như người đang chới với trong một chung cư yếu ớt, mục nát; gió đang làm nó chao đảo, và bão tố sắp xô nó đổ sập. Và tất cả những gì tôi có thể học được là, Chủ Nhà không có ý định sửa chữa! Thế nhưng, điều tôi cảm nhận là Chủ Nhà, Chúa của tôi, vẫn ở bên tôi, Ngài là ‘bình an giữa bão tố!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Ngài là ‘bình an giữa bão tố!’”. Phút hấp hối của cụ già kia tựa như bối cảnh của Tin Mừng hôm nay. Như cụ già đã trải qua, các môn đệ Chúa Giêsu cũng trải qua những giờ phút hãi hùng trong đêm tối giữa biển khơi đang nổi giận. Thế nhưng, tuyệt vời thay! Thầy của họ, Chúa của họ, vẫn xuất hiện đúng lúc, để kịp trấn an họ dù chỉ vỏn vẹn mấy lời, “Thầy đây, đừng sợ!”.

Lênh đênh giữa biển trong đêm, các môn đệ khác nào những người mù lạc lõng giữa hư không, chẳng có gì bao quanh; họ cảm nhận một sự trơ trọi vô bờ! Giữa những phút bàng hoàng ấy, Chúa Giêsu đã đến gần; Ngài hô to, “Thầy đây!”. Thật an ủi! Trải nghiệm của những ngư phủ này cũng là trải nghiệm của mỗi người chúng ta. Giữa một thế giới quay cuồng, tranh đua và chen chúc; thế nhưng, không ít lần, chúng ta cảm thấy chung quanh mình trống không, lắm lúc mỗi người cảm thấy đơn độc và lạc lõng. Dĩ nhiên, đây không phải là một cảm giác quá sức đối với một số người, nhưng nó thường là một trải nghiệm mà nhiều người đã phải trải qua ở mức độ này hay mức độ khác. Tin Mừng hôm nay tiết lộ, Chúa Giêsu, ‘bình an giữa bão tố’, luôn ở với chúng ta bất kể chúng ta ở đâu, bất kể chúng ta đối mặt với hoàn cảnh nào!

Trải nghiệm trên biển giữa bóng tối có nhiều dạng. Có lẽ cuộc sống của bạn tràn ngập hoạt động, nhưng bạn vẫn cảm thấy đơn độc; hoặc cuộc sống của bạn là nơi mà bạn không có nhiều người chung quanh và luôn cảm thấy cô lập. Hoặc bên ngoài, bạn có vẻ tự tin, có tất cả; nhưng bên trong, bạn đang chiến đấu sâu sắc với một nỗi cô đơn nhất định. Hoặc đôi khi, dòng nước trong tâm hồn bạn bị khuấy động bởi những cảm xúc không kiểm soát, khi niềm kiêu hãnh hoặc những ước mơ phù phiếm hay nhục dục dậy sóng… Những lúc ấy, chúng ta mất phương hướng và dường như chèo chống mấy cũng vô ích! Vậy mà, dù cho hoàn cảnh xảy đến thế nào, Chúa Giêsu vẫn muốn đến với chúng ta như đã đến với các môn đệ, để nói, “Thầy đây, đừng sợ!”.

Không chỉ cho mỗi người, Lời Chúa hôm nay còn đưa ra một hình ảnh tuyệt vời về thực tại của Giáo Hội qua các thời đại. Giáo Hội, con thuyền phải vượt qua những cơn gió trái chiều và bão tố; đôi khi nó có nguy cơ bị lật úp. Điều đã cứu con thuyền không phải là lòng can đảm và phẩm chất của thuỷ thủ đoàn, nhưng là sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, Ngài là ‘bình an giữa bão tố’. Bài đọc Công Vụ Tông Đồ hôm nay là một bằng chứng. Khi các tín hữu kêu trách lẫn nhau; giữa họ, có sự kỳ thị giữa người Hy Lạp và Do Thái. Nhờ lời cầu nguyện và khôn ngoan Thánh Thần ban cho, các phó tế đầu tiên ra đời; giông bão qua đi. Thánh Vịnh đáp ca thật ý nghĩa, “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!”.

Anh Chị em,

“Thầy đây, đừng sợ!”. Phận người mong manh, bao nhiêu điều khiến chúng ta đối mặt với sợ hãi; chiến tranh, thiên tai, đói khát, thất nghiệp, mất nước, vong thân, tệ nạn, cô đơn, ly dị… và cuối cùng là cái chết. Chúa Phục Sinh, nguồn bình an, nguồn sống và là nguồn hy vọng của nhân loại; nơi Ngài và chỉ trong Ngài, chúng ta tìm được sức mạnh đích thực để đối diện với mọi bất trắc của cuộc đời, kể cả cái chết, mà không sợ hãi. Bởi lẽ, ngay trong chính ‘huyệt mộ’ của cái chết, chúng ta vẫn gặp thấy Chúa của chúng ta ở đó. Nếu chúng ta tin và sống trọn niềm xác tín này, chúng ta là những người đang sống những lời của Chúa Giêsu, “Phúc cho ai không thấy mà tin!”. Ước mong sao, chúng ta nhận ra sự hiện diện của Chúa Phục Sinh, Đấng là ‘bình an giữa bão tố’ của cuộc đời mình; để từ đó, niềm vui và bình an của chúng ta không bao giờ mai một; đồng thời, chúng ta cũng sẽ là nguồn bình an cho những ai đang gặp bão tố!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, có Chúa, con sẽ an toàn qua ‘bờ bên kia’; có Chúa, bến bờ xa xôi của con, dường như ngắn hơn một chút, vì Chúa là ‘bình an giữa bão tố’ của thuyền đời con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

Bây giờ một con đường thoát hiểm có hấp dẫn đối với Putin chăng?

Bây giờ một con đường thoát hiểm có hấp dẫn đối với Putin chăng?

06:32 | Posted by BVN1

Opinion by David IgnatiusWashington Post, April 24, 2022

Google Translate dịch, Trần Ngọc Cư biên tập

Tổng thống Nga Vladimir Putin hôm thứ Hai đã chống chế với những người đến thăm Điện Kremlin rằng các đối thủ của ông đang cố gắng “giành chiến thắng trên chiến trường” và “hủy diệt nước Nga từ bên trong”. Lần đầu tiên, ông giản dị là không bị hoang tưởng.

Quyết tâm của phương Tây đang trở nên cứng rắn trong cuộc chiến Ukraine. Trong nhiều tháng, chính quyền Biden đã cầu xin Putin tìm “lối thoát” khỏi cuộc đối đầu. Giờ đây, mục tiêu được tuyên bố công khai của Hoa Kỳ là giúp Ukraine đánh bại Nga và vô hiệu hóa cỗ máy chiến tranh của Putin để nó không còn đe dọa các nước láng giềng trong tương lai.

Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Lloyd Austin, một người cẩn thận với lời nói của mình, đã tuyên bố rõ ràng hôm thứ Hai sau chuyến đi đến Kyiv để thúc đẩy sự kháng cự của Ukraine: “Chúng tôi muốn thấy Nga suy yếu đến mức không thể làm những điều mà họ đã làm trong việc xâm lược Ukraine. ” Austin đã lặp lại thông điệp đó hôm thứ Ba sau cuộc hội đàm với các đồng minh NATO ở Đức.

Đây là một chiến lược với khả năng mất còn rất cao –  những nỗ lực nhằm làm suy giảm sức mạnh một quốc gia khác bằng các biện pháp quân sự và kinh tế mà trước đây thường không có kết quả mấy – và tôi đã yêu cầu Nhà Trắng giải thích cặn kẽ các phát biểu trên. “Chúng tôi muốn Ukraine giành chiến thắng,” một phát ngôn viên của Hội đồng An ninh Quốc gia trả lời. “Chúng tôi dự định biến cuộc xâm lược này thành một thất bại chiến lược đối với Nga. Một trong những mục tiêu của chúng tôi là hạn chế khả năng Nga làm điều gì đó như thế này một lần nữa. “

Đánh giá của phương Tây khi họ siết chặt các đinh vít đã được Ngoại trưởng Antony Blinken tuyên bố thẳng thừng hôm thứ Hai: “Nga đang thất bại; Ukraine đang thành công ”. Điều đó chắc chắn đúng sau hai tháng chiến tranh đầu tiên, nhưng những ngày đẫm máu nhất của chiến dịch này có thể còn ở phía trước. Các câu hỏi đặt ra trong tương lai là liệu chiến lược gây áp lực có thành công trong việc làm tê liệt Putin hay không và với cái giá phải trả là bao nhiêu.

Quân đội Nga đã bị đánh trọng thương, cho đến nay. Đánh giá thiệt hại chính xác nhất mà tôi đã thấy đến từ Ben Wallace, Bộ trưởng Quốc phòng Anh. Ông cho biết trong một bài phát biểu hôm thứ Hai rằng 15.000 lính Nga đã bị giết, 2.000 xe bọc thép bị phá hủy và 60 máy bay trực thăng và máy bay chiến đấu bị bắn rơi. Wallace cho biết đội quân xâm lược khổng lồ của Nga gồm 120 tiểu đoàn đã bị tổn thất 25% sức mạnh chiến đấu. Đó là một đòn quật vào cơ thể nước Nga.

Một bức chân dung tổng hợp sơ sài về nhân mạng được thể hiện bằng những con số này đến từ Mediazone, một tập đoàn truyền thông độc lập của Nga. Các nhà nghiên cứu đã phân tích 1.744 báo cáo cụ thể về tổn thất nhân mạng của Nga. Họ nhận thấy những tổn thất nặng nề trong số lính tinh nhuệ như lính dù, lính thủy đánh bộ và lực lượng đặc biệt. Ít nhất 317 người chết được báo cáo là sĩ quan; 44 người có quân hàm từ trung tá trở lên. Những người lính đã ngã xuống với một đa số không tương xứng đến từ các vùng nghèo khó của Dagestan trên dãy núi Caucasus và Buryatia ở miền đông Siberia.

“Không bao giờ nữa” là câu thần chú của phương Tây trong cuộc chiến này, cũng giống như sau năm 1945. Để đánh bại Putin, Mỹ và các đồng minh NATO đang bơm vũ khí và đạn dược vào Ukraine với tốc độ đáng kinh ngạc. Nhưng chiến thuật thực sự quyết định sẽ là bóp nghẹt bộ máy chiến tranh của Nga thông qua các biện pháp trừng phạt kinh tế.

Sự bóp nghẹt kinh tế này chỉ mới bắt đầu, nhưng một quan chức chính quyền Biden đã mô tả một số hiệu quả ban đầu. Xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Nga đã giảm 80% so với một năm trước; các mặt hàng bị kiểm soát xuất khẩu đã giảm 99% giá trị. Tên lửa được dẫn chính xác dựa vào chip bán dẫn nước ngoài sẽ không được thay thế khi nguồn cung cấp cạn kiệt. Theo báo cáo của Ukraine, việc sản xuất xe tăng tại hai nhà máy của Nga đã dừng lại vì thiếu các bộ phận phụ tùng nước ngoài.

Một quan chức châu Âu nói với tôi rằng các nguồn thu nhập của Nga đang dần dần biến mất. Người mua đang tránh xa dầu của Nga trong các tàu chở dầu trên biển. Tình trạng chảy máu chất xám đang gia tăng. Theo báo cáo của một tập đoàn công nghệ Nga, 50.000 đến 70.000 chuyên gia máy tính đã rời khỏi nước, và 100.000 người nữa dự kiến sẽ rời khỏi đất nước vào tháng Tư. Quan chức này dự đoán rằng nền kinh tế Nga sẽ giảm 8,5% đến 15% trong năm nay.

Sức mạnh toàn cầu của Nga đang suy yếu theo nhiều cách khác. Các ứng cử viên của Matxcơva đã bị đánh bại trong tháng này trong cuộc bầu cử bốn cơ quan của Liên hợp quốc. Nga đã bị đình chỉ khỏi Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc. Liên minh Viễn thông Quốc tế đã từ chối các ứng cử viên Nga cho bốn nhóm nghiên cứu đánh giá các vấn đề truyền thông. Những giấc mơ về lãnh đạo công nghệ của Điện Kremlin đang chết dần trên các đồng bằng của Ukraine, cùng với những người lính của họ.

Đâu là những nguy cơ khi thương vong của Nga ngày càng tăng, sức ép kinh tế ngày càng thắt chặt, và Moscow dần mất đi sức mạnh xâm lược các nước láng giềng? Bộ trưởng Ngoại giao Nga Sergei Lavrov hôm thứ Hai cảnh báo rằng “Về bản chất, NATO sẽ gây chiến với Nga thông qua một nước ủy nhiệm” và ông ta nhắc đến nguy cơ xung đột hạt nhân. Ông nói: “Rủi ro này nghiêm trọng. Nó không nên bị đánh giá thấp.” Austin cho rằng luận điệu của Lavrov là “rất nguy hiểm và vô ích.”

Các siêu cường đôi khi thua  các cuộc chiến vì thiếu cân nhắc. Điều đó đã xảy ra với Hoa Kỳ ở Việt Nam và Afghanistan, và đó có thể là số phận của Nga ở Ukraine. Đoạn đường thoát hiểm chắc chắn phải trông hấp dẫn hơn đối với Putin bây giờ so với cách đây vài tháng.

D.I.

David Ignatius viết một chuyên mục đối ngoại hai lần một tuần cho tờ The Washington Post. Cuốn tiểu thuyết mới nhất của ông là “The Paladin.”

Nguồn: https://www.washingtonpost.com/opinions/2022/04/26/revised-american-strategy-on-ukraine-seeks-to-weaken-russia/

Ngày trở về của “người thua cuộc”- Cảm xúc 30 tháng 4- Lê Nguyễn.

Cảm xúc 30 tháng 4- Lê Nguyễn.

Ngày trở về của “người thua cuộc”

Người đàn ông râu tóc bạc phơ trong ảnh là Đại tá VNCH Nguyễn Công Vĩnh. 13 năm sau ngày chiến tranh kết thúc (1975-1988), ông từ trại cải tạo trở về theo chuyến xe lửa dừng lại ga Hòa Hưng, Sài Gòn.

Người vợ vẫn còn phảng phất nét xuân sắc một thời, duy chỉ có những chiếc răng đã rụng dần theo năm tháng chờ trông. Người con trai tóc ngã hoa râm đã nắm tay cha và khóc như một đứa trẻ. Nhiều người nhìn tấm ảnh này cũng đã khóc theo anh, như để chia sẻ nỗi đau ngút ngàn mà anh đã trải qua và niềm hạnh phúc mà gia đình anh đã tìm lại được sau những tháng năm đầy ác mộng. Dù sao “người thua cuộc” Nguyễn Công Vĩnh cũng còn có những năm tháng cuối đời được sống trong vòng tay thương yêu của gia đình. Nhiều người bạn tù của ông không có được diễm phúc này, họ vĩnh viễn gửi nắm xương tàn nơi đất lạ quê người như nhân vật trong bài thơ đầy cảm xúc dưới đây:

***

MẢ TÙ

Một đàn gọng vó chèo đò,

Dăm con nhái bén thập thò miệng hang.

Đầu thừa đuôi thẹo nghĩa trang,

Rào thưa nẻo tắt dọc ngang trâu bò.

Thanh minh còn thấy xanh ngô,

Mưa ngâu tháng bảy nhấp nhô nổi chìm.

Mộ phần chẳng thấy tuổi tên,

Dăm ba chữ số vạch trên ván thùng.

Hỏi “sao đắp chỉ lưng lưng”,

Rằng “nông choèn tiểu đất chừng ấy thôi”.

“Trẻ-già, trai-gái ngược xuôi ?”

“Đã nằm góc ấy chỉ người trại giam !”

Cỏ khâu ngoi nước úa tàn,

Kiếp người còn lại nhân gian chút này.

Chết rồi hết nợ sạch vay,

Nhúm xương tù tội biết ngày nào tha !

Sống thành nhân chết làm ma,

Ngậm ngùi kiếp nạn xót xa phận người.

Hương hoa – bẹ chuối thả trôi,

Biết rằng còn được luân hồi nữa chăng…

Nghĩa trang Phủ Lý, 2001

Thơ Nguyễn Thái Sơn

***

Đây có lẽ là một trong những bài thơ có tính nhân văn sâu sắc nhất về thân phận con người. Thật cảm kích khi lần đầu tiên có người thể hiện những cảm xúc tinh tế trước cảnh thê lương của ngôi mộ một người tù xa xứ, nép mình trong một góc nghĩa trang bị hoang phế giữa cái bộn bề của cuộc sống nhân gian, ngày Thanh minh tháng ba còn xanh mượt những hàng ngô mà tháng bảy đã nhấp nhô chìm nổi dưới những trận mưa rào.

Cỏ khâu ngoi nước úa tàn,

Kiếp người còn lại nhân gian chút này.

Chết rồi hết nợ sạch vay,

Nhúm xương tù tội biết ngày nào tha !

Người nghệ sĩ đáng trân trọng không phải là người chỉ biết ngẩng đầu lên, tụng ca ánh hào quang trên chiếc mũ triều thiên của đấng quân vương, mà là người biết cúi xuống, rung động và cảm thương từng số phận nghiệt ngã của những con người đã sống và chết đi trong sự lãng quên của người đời, như người tù nằm dưới ngôi mộ vô danh trong bài thơ này.

Càng cảm kích hơn khi chúng ta biết được rằng nhà thơ Nguyễn Thái Sơn từng là một bộ đội miền Bắc, cầm súng chiến đấu chống lại “bè lũ Mỹ-Ngụy” ở miền Nam. Tình cảm anh dành cho một “kẻ thù” cũ nay đã trở thành một nắm xương vô định thật đáng quý, nó nói lên một chuyển biến đáng mừng trong tâm thức những người Việt đã nhận chân được tính cách thiêng liêng của tình tự dân tộc, nghĩa đồng bào, vượt qua mọi giá trị phù phiếm khác của cuộc sống.

Quá khứ đau tủi của cả một dân tộc đã khép lại từ lâu, song nhiều vết thương vẫn chưa lành miệng. Chính vì thế, những cảm xúc chân thành của nhà thơ, dù rất đỗi bình thường, cũng có giá trị như một niềm an ủi tinh thần đáng quý đối với những “người thua cuộc” , nhất là vào mỗi 30 tháng tư hàng năm, khi âm vang “bài ca chiến thắng” cùng bao lời thóa mạ nổi lên như những nhát cứa vào lòng.

Con đường “hòa hợp hòa giải dân tộc” đích thực còn dài, lắm trắc trở, nhiều chông gai, đất nước vẫn còn cần rất nhiều những con người có tấm lòng nhân ái như Nguyễn Thái Sơn.

Bài của anh Lê Nguyễn.

GIÀY CSGT “DÍNH MẶT NGƯỜI DÂN”, DÂN ĐÃ PHẢI XIN LỖI CẢNH SÁT!!!

Xuân-Phương Nguyễn

CHUYỆN VÔ LÝ BẤT CÔNG NHƯNG CÓ THẬT Ở VIỆT NAM: GIÀY CSGT “DÍNH MẶT NGƯỜI DÂN”, DÂN ĐÃ PHẢI XIN LỖI CẢNH SÁT!!!

Phòng CSGT đường bộ – đường sắt (PC08) Công an TPHCM hôm 27/4 nói rằng đã trích xuất camera trong vụ một cảnh sát giao thông đội Bến Thành vật ngã và đạp giày vào thẳng mặt một người đàn ông đi xe cub, và khẳng định “lỗi là ở người dân” và người này đã được cho đi sau khi xin lỗi cán bộ.

Tuy nhiên, đoạn video được trích xuất từ camera an ninh này không được cơ quan thẩm quyền công bố hay cho báo chí xem.

Báo Pháp Luật TPHCM dẫn thông tin từ PC08 cho biết cảnh sát giao thông xuất hiện trong đoạn video là Đại úy Trần Xuân Chính, được giao nhiệm vụ chỉ huy điều khiển giao thông tại giao lộ Võ Văn Kiệt – Ký Con.

Đến 12 giờ 22 phút cùng ngày, khi đang dừng chờ đèn đỏ trên đường Võ Văn Kiệt thì Đại úy Trần Xuân Chính đã thực hiện nhắc nhở các phương tiện đi đúng hướng, không được rẽ trái vào đường Ký Con, lúc đó có một xe máy do nam thanh niên điều khiển không tuân thủ mà vẫn tiếp tục rẽ trái vào đường cấm.

Đại úy Trần Xuân Chính đã lái xe mô tô đặc chủng đuổi theo và dừng được phương tiện tại góc giao lộ Ký Con – Võ Văn Kiệt. Tại đây, Đại uý Chính thông báo lỗi và yêu cầu nam thanh niên xuất trình giấy tờ có liên quan để kiểm soát. Nhưng, theo Phòng PC08, người này không chịu xuống xe cố tình tăng ga bỏ chạy và đã tông vào người Đại uý Chính. Đại Úy Chính đã cảnh báo và yêu cầu chấp hành, tuy nhiên người này vẫn tiếp tục rồ ga cho xe húc mạnh vào người CSGT. Vì thế, CSGT Bến Thành đã phải kéo và quật ngã nam thanh niên xuống đường.

Sau đó, trong quá trình làm việc với tổ CSGT, nam thanh niên trình bày là có việc gấp của gia đình nên không làm chủ được bản thân, mất bình tĩnh dẫn đến việc không để ý biển báo, có thái độ và hành động không đúng với lực lượng CSGT.

Người này cũng đã xin lỗi Đại uý Chính và xin được thông cảm, bỏ qua để tiếp tục đi lo giải quyết việc gia đình, theo giải thích của PC08.

TUY NHIÊN, lời giải thích này trái ngược hoàn toàn với những gì đoạn clip do người dân quay lại và lan truyền trên mạng Internet và cũng không nhắc gì việc Đại úy Trần Xuân Chính đạp rất mạnh vào đầu của người đàn ông sau khi người này bị chính CSGT này vật ngã xuống đường.

https://youtu.be/lCxzC7MKc6Y

Nguồn: YouTube VT

KHÔNG NÊN GỌI 30/4 LÀ NGÀY GIẢI PHÓNG!

Nuong M Lam

Nam Phong

KHÔNG NÊN GỌI 30/4 LÀ NGÀY GIẢI PHÓNG!

Tôi sinh ra và lớn lên sau ngày 30/04. Trong khi phần lớn đất nước chìm trong khó khăn, hết cuộc chiến này đến cuộc chiến khác, trong khi phần lớn người dân thiếu ăn, thiếu mặc, đói khổ trong giai đoạn 1980-1990, thì tôi đã sống một cuộc sống đầy đủ và sung túc, vì ông bà tôi là những đảng viên cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ông tôi là một người chân thành và có niềm tin sâu sắc với lý tưởng cộng sản. Ông có một người chị ở phía bên kia, và sau này di tản sang Mỹ. Ông không bao giờ liên lạc với bà, và đó là nỗi ân hận lớn nhất trong những ngày cuối đời của ông.

Là một ‘hạt giống đỏ” tôi lớn lên với niềm tin chân thành về những gì được dạy dỗ, về lý tưởng cộng sản với hình mẫu Pavel Korchagin – Hình mẫu chuẩn mực cho mọi thiếu niên lớn lên dưới mái trường XHCN khi đó.

Vì vậy, sự kiện 30/04 đối với tôi và các bạn tôi khi đó là một cái gì đó rất đẹp, rất anh hùng, cũng rất vẻ vang. Với thế hệ chúng tôi, Việt Nam đã đánh bại siêu cường số 1 thế giới làm “chấn động năm châu. rung chuyển địa cầu”.

Nhưng sau sự kiện bức tường Berlin, mẹ tôi trở về Việt Nam (vì là con của cán bộ cao cấp, mẹ tôi và các bác, cậu của tôi đều lần lượt học ở Đông Đức, Liên Xô, Bungari…).

Với những gì đã được chứng kiến ở nước Đức và Đông Âu, mẹ tôi không tán đồng quan điểm với ông tôi. Mẹ tôi từng kể với tôi rằng, những người bạn Đức của bà nói rằng ”Mỹ là những người bạn tốt, cả thế giới muốn chơi với nó mà người Việt Nam mày lại đuổi nó đi.”

Bà kể cho tôi về những người Đức cộng sản và không cộng sản khi thống nhất đất nước đã ôm hôn nhau như thế nào. Bà kể về những người lính biên phòng Đông Đức đã tự sát chứ nhất định không bắn vào những người phía Đông muốn chạy sang phái Tây như thế nào.

Đó là bước ngoặt trong suy nghĩ của tôi! Mỹ mà tốt à? Tại sao người ở phía Đông lại chạy sang phía Tây chứ không phải ngược lại? Thế giới của tôi bắt đầu có nhiều màu sắc hơn, không còn chỉ có hai màu, cộng sản và phản động nữa.

Tôi bắt đầu tìm đọc những tác phẩm viết về ngày 30/04/1975. Đọc những tác phẩm bị coi là “phản động” ở Việt Nam. Các tác phẩm của Dương Thu Hương, Trần Độ, Vũ Thư Hiên, Nguyễn Gia Kiểng…

Thông tin từ những tác phẩm này đã khiến tôi mở to mắt. Ngày 30/04 làm gì còn người lĩnh Mỹ nào ở Sài Gòn. Vậy sao còn gọi là kháng chiến chống Mỹ? Sao có thể gọi là “giải phóng”?

Và tôi khóc thương cho số phận dân tộc Việt. Khóc thương cho hàng triệu người Việt ở cả hai phía đã ngã xuống trong cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”. Khóc thương cho cả triệu người Việt vĩnh viễn nằm lại gữa biển khơi.

Và tôi khóc thương cho lòng yêu nước nhiệt tình nhưng ngây thơ của người Việt đã bị các cường quốc lợi dụng. Đất nước trở thành bãi chiến trường. Người Việt trở thành sỹ tốt xung phong. Việt Nam thành bàn cờ, nhưng người chơi là người Nga, người Trung Quốc và người Mỹ không phải là người Việt. Một bên chiến đấu để “giải phóng” và “nhuộm đỏ thế giới”. Một bên chiến đấu để bảo vệ “thế giới tự do”.

“Đại thắng mùa xuân” và “giải phóng miền Nam”. Đât nước thành một đống đổ nát, hoang tàn. Trường Sơn thành một nghĩa trang khổng lồ.

Những người mẹ mất con. Khăn trắng trên đầu trẻ thơ. Và một hết thương hằn sâu trong lòng dân tộc. 47 năm rồi, bên chiến thắng vẫn ăn mừng, vẫn diễu binh, vẫn pháo hoa…bên kia vẫn là ngày quốc hận, ngày mất nước… vết thương dân tộc vẩn rỉ máu.

Một ngày nào đó, 30/04 trở thành ngày thống nhất, một ngày lễ cho cả dân tộc. Tổ quốc treo cờ rủ quốc tang cho những người đã ngã xuống ở cả hai phía.

Một tượng đài nhỏ thôi, giản dị thôi nhưng tinh xảo. Và một nghĩa trang của những người lính ở cả hai phía cho thế hệ trẻ có thể tỏ lòng thành kính cho những người đã ngã xuống vì dân tộc. Hy vọng là như thế!

Còn thống nhất lãnh thổ mà không thống nhất được lòng người thì có ích gì? Nhất là khi phương Bắc, kẻ thù truyền kiếp đang trỗi dậy. Bài học mất nước của Hồ Quý Ly còn đó.  

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Tuổi Già – Bài 7: Mẹ chồng và nàng dâu

ĐTC Phanxicô: Giáo Lý về Tuổi Già – Bài 7: Mẹ chồng và nàng dâu

Trọng kính Cộng đồng Dân Chúa,

Trong bài Giáo lý về mẹ chồng và nàng dâu chưa từng có này, chúng ta thấy vị giáo hoàng đương kim Phanxicô của chúng ta đã huấn dụ chúng ta rất thực tế và thấm thía ở những câu tiêu biểu chính yếu như sau:

Sách Rút, một viên ngọc quý của Kinh Thánh. Dụ ngôn Rút làm sáng tỏ vẻ đẹp của mối liên kết gia đình: được tạo nên bởi mối quan hệ vợ chồng, nhưng còn vượt xa nó….

Cuốn sách nhỏ này cũng chứa đựng một giáo huấn quý giá về giao ước của các thế hệ: là nơi tuổi trẻ chứng tỏ khả năng khôi phục lòng nhiệt huyết cho tuổi già; và tuổi già tái khám phá khả năng mở lại tương lai cho những người trẻ bị thương tích…

“Hãy nhìn lại mối quan hệ của bạn với mẹ chồng / mẹ vợ: đôi khi họ hơi đặc biệt, nhưng họ đã cho bạn tình mẫu tử của vợ / chồng bạn, họ đã cho bạn tất cả…

Tôi cũng muốn nói với các bà mẹ chồng / mẹ vợ rằng: hãy cẩn thận với cái lưỡi, vì cái lưỡi là một trong những tội xấu nhất của các bà mẹ chồng / mẹ vợ, vậy nên hãy cẩn thận

Rút đã chấp nhận mẹ chồng và làm cho bà sống lại. Và bà Na-ô-mi lớn tuổi chủ động mở lại tương lai cho Rút, thay vì chỉ biết hưởng thụ sự đỡ nâng của cô”.

Giờ đây, chúng ta hãy theo dõi toàn bài Giáo lý của ĐTC ở những cái links tùy nghi dưới đây

Tiếp kiến chung 27/04: Mẹ chồng – nàng dâu

DTCPhanxico-GiaoLyTuoiGia.Bai7.mp3   

https://youtu.be/5aMvX3wz0Ns 

bé tĩnh

From: daminhmariacaotantinh

Nước Mỹ Trong Tôi

Nước Mỹ Trong Tôi

Theo bản thống kê dân số của nước Mỹ năm 2010, hiện nay có 1,737,433 người Việt đang sinh sống trên nước Mỹ. Chúng ta những ai hiện nay đang sống, học hành, làm việc hay dưỡng già ở đây, đều đã trải qua một phần đời mình trên mảnh đất này, thường gọi là “tạm dung” nhưng thực tế là vĩnh viễn.

Từ biến cố 30 tháng 4 năm 1975, những đứa trẻ sinh ra lớn lên ở đây, ngoài huyết thống ra, chúng không khác gì những đứa trẻ Mỹ. Những người trung niên còn mang theo cả một thời thơ ấu và những kỷ niệm không quên từ nơi chôn nhau cắt rốn, nhưng vẫn lăn lộn với cuộc đời trên đất khách này để mưu sinh, có người thời gian sống với quê hương ngắn ngủi hơn là ở nơi quê người.

Tiểu bang California, nơi có nhiều người Việt sinh sống nhất đã rộng lớn bằng diện tích cả nước Việt Nam, nên cũng chưa có ai trong chúng ta tự hào đã đặt chân đến hết 50 tiểu bang của nước Mỹ, cũng như không ai dám nghĩ rằng mình hiểu hết những gì về nước Mỹ, dù đây chỉ là một nơi mới lập quốc hơn 300 (236 ?) năm. Có người cho Mỹ là anh chàng trẻ tuổi, xốc nổi, dại khờ, nhưng cũng có người công nhận nước Mỹ là ông cụ thâm trầm thường triển khai những bước đi tính toán trước cả trăm năm.

Ðối với những người già đã đến nơi này muộn màng, nhưng cả cuộc đời còn lại coi như sống chết với nước Mỹ, thường gọi là quê hương thứ hai, mà không bao giờ còn cơ hội trở về nằm trong lòng đất quê mẹ, nếu sự thực khốn nạn, chế độ Cộng Sản còn tồn tại trên quê hương vài ba mươi năm nữa.

Một người Việt về thăm lại quê hương, nơi họ đã từ bỏ tất cả để ra đi, lúc đặt chân trở lại nước Mỹ, cho rằng tâm hồn lại cảm thấy an toàn, nhẹ nhàng hơn như lúc về nhà.

Một người Việt xa quê hương đã lâu trở về Sài Gòn, có dịp vào Tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ, ông thú nhận khi nhìn những hình ảnh tổng thống hay ngoại trưởng của Hoa Kỳ, ông lại có cảm giác quen thuộc, an toàn hơn là những lúc lang thang ở Hà Nội nhìn hình lãnh tụ và quốc kỳ Cộng Sản. Ðó không phải là vong bản, mất gốc mà chế độ này đã nhân danh đất nước, tạo hận thù, kỳ thị, xô đẩy biết bao nhiêu người xuống biển, bỏ quê hương ra đi.

Gần như chúng ta không còn lệ thuộc gì với đời sống nơi quê nhà, ngoài những tình cảm sâu đậm trong máu huyết, làm cho chúng ta gần gũi với ngôn ngữ, đời sống Việt Nam, mà chúng ta có cảm tưởng đang dần dần tách rời, cho đến một lúc nào đó trở thành xa lạ. Phải chăng vì vậy, mà đã có những đứa con ngày trước trở về, xót xa nhận ra rằng, họ đang đi, đứng trên một đất nước xa lạ, không còn là của họ nữa.

Quê hương ngày nay chỉ còn là nơi thăm viếng mà không phải là nơi để trở về. Nước Mỹ đã là nơi quen thuộc chúng ta đang sống, có gia đình, nhà cửa, công việc, bà con, bạn bè, thì làm sao chúng ta lại không có những suy nghĩ, có những câu chuyện buồn vui, hay những trăn trở về nước Mỹ. Cách đây 38 năm, chưa lúc nào, chúng ta, những người dân ở một đất nước xa xôi bên vùng trời Ðông Nam Á, cách biệt nơi này đến nửa vòng trái đất, lại có ý nghĩ rằng, một ngày kia chúng ta sẽ đến đây, sống lâu dài nơi đây, sinh con đẻ cháu nơi này, để tạo ra một nhánh người Việt lưu vong. Ðời sau, còn giữ được ngôn ngữ, phong tục hay không, lại là một điều mà nhiều người khác đang trăn trở, lo âu làm sao để duy trì, gìn giữ!

Trong cái cộng đồng gần gũi, thân mật gắn bó này, với sách vở, báo chí, truyền thông, quán xá, chợ búa, tiệm buôn, món ăn thức uống, cả cái tên vùng đất hay bảng hiệu Saigon chúng ta mang theo, đôi khi gần như quên hẳn là chúng ta đang sống trên đất Mỹ. Cả cái bữa cơm, cá mắm, canh rau, đôi đũa, chén nước mắm ớt, có khác gì ở Việt Nam. Cả cái bàn thờ nhang khói, hình ảnh tổ tiên, ông bà, cành mai, chậu lan, những cô thiếu nữ, trẻ em mặc quốc phục lên chùa ngày Tết, hồi trống, tiếng pháo Mùa Xuân làm chúng ta quên mất là chúng ta đang sống thật xa quê nhà.

Ðiều tôi muốn nói ở đây là chúng ta thường quên chúng ta đang sống trên đất Mỹ.

Ông Khổng Tử của nước Trung Hoa có ví von: “Ở chung với người thiện như vào nhà có cỏ chi lan, lâu mà mà chẳng thấy mùi thơm, tức là mình cũng đã hóa ra thơm vậy.” Một kẻ vào vườn hoa lan đầy hương thơm, lúc đầu còn nhận ra mùi hương nhưng dần dà trở thành quen thuộc, trở thành bình thường, không còn thấy hương thơm, như kẻ tiểu nhân sống với người quân tử dần dần được cảm hóa lúc nào mà không hay biết.

Nước Mỹ có nhiều hương thơm như thế mà cảm giác chúng ta bị dung hòa lúc nào không hay đến nỗi không còn cảm nhận được mùi thơm nữa. Hương thơm đó là những điều tốt lành, thấm nhập vào con người chúng ta lúc nào chúng ta cũng không biết, không hề quan tâm hay nhận ra được sự khác biệt trước và sau.

Chúng ta học hỏi được ở nước Mỹ tính bảo vệ đời sống riêng tư, tôn trọng luật pháp, sống an hòa, sự tử tế và mối tương quan giữa con người và con người trong xã hội. Ðiều này không chỉ có ông Bá Dương (1920-2008), sau khi đi New York, Las Vegas hay San Francisco về, đã tường thuật lại trong cuốn “Người Trung Quốc Xấu Xí,” mà bất cứ người Việt Nam nào khi đi du lịch nước Mỹ về cũng nhận ra. Có người thắc mắc sao lái xe trên đường vắng vào một hai giờ sáng, gặp bảng “stop” cũng phải dừng lại, sao một đứa bé phải đi tìm cái thùng rác để vứt cái giấy kẹo nhỏ chỉ bằng hai ngón tay, sao ở đây xe hơi nhiều như thế mà không nghe một tiếng còi? Trong cái không khí dễ chịu, thanh thản, an lạc người ta cảm nhận ra khi bước chân trở lại một nơi, có một chút mỉa mai, không phải là quê nhà của mình.

Chúng ta bước đi từ môi trường tử tế, trong lành của miền Nam qua giai đoạn “thống nhất” để bước đến một xã hội hỗn loạn như hôm nay, khi mà con người tốt đẹp dần dà trở thành vô cảm, lừa lọc, gian trá, đạp lên nhau mà sống, để mưu tìm một đời sống ích kỷ cho riêng mình, mà không thấy đó là bất thường, bất nhân và vô loại. Thì chúng ta, trong xã hội này, cũng theo lời ông Khổng Tử: “Ở chung với người bất lương, như vào trong chợ cá ươn, lâu mà chẳng biết mùi hôi, vì mình cũng hóa ra hôi vậy!” Như người mới vào chợ cá, lúc đầu còn nghe mùi hôi tanh, dần dà quen thuộc, không còn nghe mùi tanh tưởi khó chịu nữa, như người quân tử sống với kẻ tiểu nhân, dần dần đồng hóa bởi cái xấu mà mình không hay biết. Thử hỏi một viên chức trong chế độ Cộng Sản Việt Nam hiện nay, xem những chuyện cường quyền áp bức, mạng sống của người dân xuống hàng súc vật, con người chỉ biết có đồng tiền và dục vọng, tráo trở, vô đạo lý hiện nay có là điều gì làm cho con người lạ lùng, khó chịu không? Hay đó là chuyện bình thường, thấy đã quen mắt, nghe đã quen tai, đầu óc đã xơ cứng, chai đá như khứu giác của con người ở lâu trong chợ cá, còn đâu phân biệt được mùi hôi nữa!

(*) Ðiều cuối cùng chúng tôi muốn nói là sự may mắn đã giúp ta có cơ hội không phải chỉ cho riêng mình mà cả con cháu đời sau, tránh khỏi được kiếp oan nghiệt, ra khỏi được cái chợ cá ấy, được sống trong cái “chi lan, chi thất” cái vườn lan thơm ngát, mà qua một thời gian chúng ta không còn cảm nhận được mùi thơm nữa, nhưng trên thực tế, mùi thơm đó vẫn hiện hữu.

Nhiều kẻ hãnh tiến vẫn cho rằng nước Mỹ nợ chúng ta mà quên rằng, món nợ của chúng ta, và cả con cháu đời sau đối với nước Mỹ thật khó lòng trả nổi.

Hãy CÁM ƠN bằng cách sống thật có ý nghĩa cho đời sống này!

Phi Phượng Nguyễn gởi

Việt Nam và Ukraine- dân tộc nào bất hạnh hơn?

Việt Nam và Ukraine- dân tộc nào bất hạnh hơn?

 LS Đào Tăng Dực (Danlambao) – Từ ngày 24 tháng 2 vừa qua, toàn thể nhân loại văn minh, trừ một số ít quốc gia trên thế giới trong đó có CSTQ và đàn em là CSVN, không ngừng lo lắng cho số mệnh của nhân dân Ukraine, khi nhà độc tài Vladimir Putin, xua gần 200,000 quân, với sự yểm trợ của hằng ngàn xe tăng, thiết giáp, trọng pháo, hỏa tiễn tầm xa, chiến đấu cơ và chiến hạm, tiến chiếm lãnh thổ của Ukraine trên 3 mặt trận:

  1. Miền Bắc tấn công thủ đô Kyiv với mục tiêu lật đổ chính quyền dân chủ thân tây phương của TT Volodymyr Zelenskyy và thành lập một chính quyền bù nhìn thân LB Nga
  1. Miền Đông tiến chiếm các trung tâm kỹ nghệ quan trọng
  1. Miền Nam hầu tạo ra một hành lang bao gồm các vùng Crimea, Donetsk, Luhansk và cả Odessa hầu ngăn chặn thông lộ ra Biển Hắc Hải của Ukraine.

Mục tiêu của chiến lược trên là chia cắt, hầu sát nhập lãnh thổ của Ukraine và biến nước này thành một chư hầu hoặc một cộng hòa của LB Nga như trong thời Liên Bang Xô Viết.

Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, những cuộc xâm lăng tương tự từ phương bắc đã thường xuyên xảy ra. Gần đây nhất là cuộc chiến tranh biên giới Việt- Trung năm 1979 đẫm máu, khi CSTQ xâm lăng Việt Nam dưới sự điều hướng của Đặng Tiểu Bình.

Sự thật khách quan là cả 2 dân tộc Việt và Ukraine đều bất hạnh.

Câu hỏi là dân tộc nào bất hạnh hơn?

Nhìn bề mặt thì rõ ràng là dân tộc Ukraine bất hạnh hơn vì các lý do sau đây:

Trước hết Ukraine có một nền văn hóa dân tộc lâu đời nhưng luôn bị Nga Sa Hoàng và sau đó bị Liên Bang Xô Viết thống trị. Chính vì thế Ukraine chỉ chính thức trở thành một quốc gia độc lập từ năm 1991 với sự sụp đổ của Liên Bang Xô Viết.

Các quốc gia Baltic nhỏ hơn như Latvia, Estonia và Lithuania, sau năm 1991, đã nhanh chóng tách rời khỏi quỹ đạo của LB Nga, gia nhận khối Liên Hiệp Âu Châu và NATO, trở thành những quốc gia phát triển và được sự bảo đảm quân sự. Ngược lại, giới lãnh đạo thời đó của Ukraine lại chọn lựa gắn liền số phận với LB Nga, giải giới võ khí nguyên tử và dung túng cho tham nhũng tràn lan trong hệ thống chính quyền.

Sự khác biệt vô cùng rõ rệt khi chúng ta so sánh GDP của các quốc gia liên hệ như sau:

Vào năm 2022, ước lượng là Latvia có GDP $21,489, Estonia $29,735 và Lithuania $22,412 mỗi đầu người, vì kinh tế của họ theo mô hình Tây Phương. Trong khi đó vì theo mô hình LB Nga, kinh tế của Ukraine có GDP năm 2021 là $4,380 tức khoảng 1 phần 6 của các quốc gia kia.

LB Nga, dưới sự lãnh đạo của nhà độc tài Putin, năm 2014 đã một lần xâm chiếm lãnh thổ của Ukraine tại bán đảo Crimea, các vùng Donetsk và Luhansh.

Trong cuộc chiến năm nay, tuy quân đội và nhân dân Ukraine chiến đấu anh dũng, dưới sự lãnh đạo của TT Zelenskyy và được toàn thể nhân loại văn minh ngưỡng mộ, nhưng sự tàn phá trên quê hương của họ vô cùng lớn lao. Ngoài những tổn thất về vật chất, những tổn thất về nhân mạng và tinh thần làm toàn thể nhân loại phải rơi nước mắt.

Như thế tại sao khi so sánh với Ukraine thì dân tộc Việt Nam vẫn bất hạnh hơn nhiều?

Trước hết, tuy thế hệ lãnh đạo hậu Liên Bang Xô Viết của Ukraine, vào các thập niên 90, thiếu sáng suốt, nhưng Ukraine luôn là một quốc gia trên đà chuyển tiếp dân chủ. Từ ngày độc lập cho đến nay, Ukraine trải qua rất nhiều sóng gió trong tiến trình dân chủ hóa. Họ đã kinh qua những cuộc bầu cử đa đảng nhưng nhiều gian lận, giữa 2 khuynh hướng chính trị thân Nga (như cựu TT Yanukovich) và thân Tây Phương (như cựu TT Yushchenko), cuộc các mạng Da Cam (Orange Revolution) năm 2004, sự tương tranh khốc liệt giữa hai phe thân Nga và thân Tây Phương và vấn đề tham nhũng tràn lan trong xã hội.

Cuối cùng, thì tiến trình dân chủ hóa ngày càng ổn định với sự lật đổ Yanukovich năm 2015 và sự đắc cử của đương kim TT Zelsnsky năm 2019.

Dưới sự lãnh đạo của TT Zelensky, Ukraine quyết tâm chuyển hướng định mệnh dân tộc về phía tây phương, tận diệt tham nhũng, canh tân quân đội và hoàn thiện các định chế dân chủ.

Trong khi đó, tuy bề mặt có vẻ ổn định, nhưng tiến trình dân chủ hóa Việt Nam hoàn toàn đình động. Những tiến bộ về định chế dân chủ phôi thai và xã hội dân sự tại miền Nam hoàn toàn bị CSVN dập tắt sau năm 1975. Mọi đối lập, tranh đấu cho dân chủ và nhân quyền bị đàn áp và tù đày triệt để.

Có thể nói rằng, nếu tiến trình dân chủ hóa là một tiến trình tiện tiến, thì những hạt giống dân chủ do miền Nam Việt Nam gieo vào tâm thức của dân tộc, đã bị CSVN diệt tận gốc rễ sau biến cố năm 1975.

Dân tộc Ukraine ít bất hạnh hơn dân tộc Việt Nam là vì TT Zelenskyy và những chính trị gia thế hệ của ông và các thế hệ tiền nhiệm, một mặt đã gieo hạt giống dân chủ vào tâm thức của dân tộc Ukraine, mặt khác họ đã tiến hành một sách lược ngoại vận khôn khéo, thu phục nhân tâm không những của giới lãnh đạo thế giới tự do, mà ngay cả quảng đại quần chúng tại các quốc gia này.

Khác biệt giữa Ukraine và Việt Nam là: tuy có những bất ổn bề mặt về chính trị, nhưng những bất ổn đó đưa đến sự ổn định chân chính trong một trật tự dân chủ nghiêm túc tại Ukraine. Chính phủ của TT Zelensky và quốc hội dân cử của họ thực sự là của dân, do dân và vì dân, không phải đảng cử dân bầu như tại Việt Nam.

Đó là chưa kể đường lối ngoại giao của CSVN đi ngược với lòng dân, đi ngược với toàn thể nhân loại văn minh và luôn đứng về phe của các chế độ độc tài từ LB Nga, đến CSTQ, CS Bắc Hàn và Iran, vốn là những chế độ đại diện cho tội ác của nhân loại.

Chính vì thế, khi bị ngoại xâm từ phương Bắc, thì TT Zelensky đã có thể huy động, không những toàn dân Ukraine trong nước từ phe chính phủ đến phe đối lập mà họ được cả thể giới ủng hộ.

Trong hoàn cảnh tương tự TBT Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN sẽ hoàn toàn bị cô lập và khinh bỉ.

Lý do dễ hiểu là vì đảng CSVN là đàn em trung thành của đảng CSTQ, đã vay nợ quá nhiều trong suốt chiều dài lịch sử, từ đàn anh bá đạo này. Đảng CSVN chính là nội thù mà CSTQ gài đặt trong lòng dân tộc.

Dân tộc Việt bất hạnh hơn Ukraine chính vì chưa diệt được nội thù, thì làm sao chống lại được ngoại xâm, một khi CSTQ tấn công?

Chính vì những lý do trên, khi nhìn tổng thể lịch sử của 2 dân tộc, thì Việt Nam, dưới bàn tay sắt và trí tuệ non kém của TBT Nguyễn Phú Trọng và đảng CSVN, còn bất hạnh hơn Ukraine nhiều.

 LS Đào Tăng Dực

danlambaovn.blogspot.com

30/4: Đài Trung Quốc nói ‘1.400 bộ đội Trung Quốc hy sinh ở Việt Nam’ – BBC News Tiếng Việt

BBC News Tiếng Việt 

Trong tám năm viện trợ Việt Nam chống Mỹ từ năm 1965 đến 1973, hơn 4.000 cán bộ và chiến sĩ bị thương và 1.400 chiến sĩ Trung Quốc đã hy sinh trên đất Việt Nam, truyền thông Trung Quốc đưa tin.

Đài phát thanh China Radio International, ban tiếng Việt, cho biết con số này trong bài báo ngày 28/4/2022.

Theo bài này, chỉ tính riêng từ năm 1970 đến năm 1972, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam hơn 300 xe tăng, còn cung cấp thiết bị đồng bộ đường ống dẫn dầu dài 3.000 km, 80.000 áo chống đạn

“Theo thống kê, vật tư quân sự Trung Quốc viện trợ cho Việt Nam bao gồm: súng, pháo, ô tô, xe tăng, máy bay, tàu chiến, đạn dược, quân phục, dầu mỏ, lương thực… trị giá khoảng 4,26 tỷ nhân dân tệ, có thể trang bị cho hơn 2 triệu binh sỹ Việt Nam,” bài báo cho hay.

30/4: Đài Trung Quốc nói ‘1.400 bộ đội Trung Quốc hy sinh ở Việt Nam’ - BBC News Tiếng Việt

BBC.COM
Trong tám năm viện trợ Việt Nam chống Mỹ từ năm 1965 đến 1973, hơn 4.000 cán bộ và chiến sĩ bị thương và 1.400 chiến sĩ Trung Quốc đã hy sinh trên đất Việt Nam, truyền thông Trung Quốc đưa tin.