NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC – Phạm Tín An Ninh

Kimtrong Lam   Lương Văn Can 75.

Nhà văn Phạm Tín An Ninh

Trong hình là hai vợ chồng nhà văn Phạm Tín An Ninh và sáu đứa con tại Trại Hawkins Road, Singgapore sau khi vượt biên thoát khỏi Việt Nam trong thập niên 80. Nhà văn Phạm Tín An Ninh vừa là huynh trưởng vừa là chiến hữu với tôi cùng màu cờ sắc áo trong quân đội VNCH. Bà xã anh Phạm Tín An Ninh tên Trương Thu Thức là bạn học cùng lớp cùng trường thời trung học tại trường Trần Bình Trọng Ninh Hoà với tôi . Nhìn hình thấy bà bạn của mình mới bây lớn mà có tới sáu đứa con cao gần ngang vai thật là đáng nể . Chắc trong thời chiến tranh đơn vị của anh bị việt cộng pháo kích quấy rối ngủ không được nên mới nhiều con như thế. Tại hạ xin bái phục bà bạn của mình

Nhà văn Phạm Tín An Ninh là tác giả của những tác phẩm : Ở Cuối Hai Con Đường – Rừng Khóc Giữa Mùa Xuân – Sau Cuộc Biển Dâu rất nổi tiếng nơi hải ngoại. Trong những câu chuyện anh viết giống như thể anh đang bơi giữa dòng sông đầy cánh lục bình . Anh quơ tay gom lại nhưng vì hai tay ngắn quá nên vẫn còn nhiều đám lục bình trôi dật dờ quanh đây nên sức anh gom không xuễ . Tôi bắt gặp những niềm đau man mác của chính tôi giống như là tất cả những uẩn khúc trong lòng được anh thấu hiểu mặc dù truyện của anh được kết nối từ những mãng sống trôi trên dòng đời của chính anh

Mời quý bạn đọc bài viết mới nhất của anh viết về Na Uy quê hương thứ hai của mình

NA UY – NHỮNG DẤU CHÂN LƯU LẠC
Phạm Tín An Ninh

Như vậy là tôi sẽ phải rời xa Na-Uy, đất nước đã cưu mang tôi và sẽ còn mãi in đậm những dấu chân tôi trong cả một quãng đời hơn 30 năm lưu lạc? Cũng như tâm trạng của những ngày tìm cách vượt biên, rời khỏi Việt Nam, nơi chôn nhau cắt rốn, câu hỏi này đã làm tôi ưu tư trằn trọc nhiều đêm, như sắp phải cắt đi một phần máu thịt ràng buộc với chính sự sống của mình.

Sau bậc trung học ở Na-Uy, bốn đứa con lần lượt được học bổng sang Mỹ du học từ năm 1990. Có việc làm sau khi tốt nghiệp, nên ba cháu đã chọn ở lại đây lập nghiệp và trở thành công dân Mỹ, mong muốn bảo lãnh cha mẹ, khi về hưu, sang sống với các cháu những năm cuối đời, và với khí hậu ấm áp của vùng biển Cali sẽ làm người già đỡ căn bệnh đau nhức các khớp xương khi mùa đông Bắc Âu mang cái lạnh trở về. Mấy năm nay, sau khi về hưu, chúng tôi cũng chỉ sang Cali ở với các con sáu tháng mùa đông, còn sáu tháng mùa hè về lại với Na-Uy. Vậy mà trong những ngày mùa đông nắng ấm Cali, tôi vẫn da diết nhớ về Na-Uy với cả khung trời ngập đầy tuyết trắng, những hàng cây trước nhà, vào đêm Giáng Sinh, đóng băng, trở thành những cây thủy tinh lung linh dưới ánh đèn đường. Tôi nhớ cả cái không khí yên bình tĩnh mịch và những người bản xứ láng giềng tốt bụng. Nhiều lúc tôi ngồi bất động, thả hồn về Na-Uy, tìm lại từng dấu chân lưu lạc của mình.

Hơn ba mươi năm trước, khi phải đành lòng bỏ lại quê hương, bao nhiêu người thân và mồ mả cha mẹ ông bà, ra đi trên chiếc thuyền đánh cá mong manh, cũng như rất nhiều người, tôi không hề nghĩ là mình sẽ đến một đất nước xa lạ có tên Na-uy. Cái tên Norway, Norvège, tôi chỉ nhớ loáng thoáng qua phim The Vikings mà tôi đã xem qua lúc còn đi học, và cái giải Nobel Hòa Bình năm 1973 trao lầm cho Kissinger – Lê Đức Thọ, đã từng gây cho tôi cái ác cảm với đất nước xa xăm lạ lẫm này. Đặc biệt, năm 1978, khi đang ở tù ngoài Yên Bái, nhân một ngày lễ lớn của Cộng sản, tổ tù chúng tôi được phát một hộp thịt cá voi. Thấy ngoài hộp thiếc có ghi “Made in Norway”, bọn tôi càng ghét thêm cái tên này, vì nghĩ đó là một quốc gia thân Cộng

Chiếc thuyền nhỏ chở theo 52 người, gần một nửa là đàn bà và con nít, ra khơi hai ngày thì gặp bão. Cả bầu trời phủ kín mây đen. Những ngọn sóng bạc đầu từ trên cao phủ xuống, như muốn nuốt chửng con thuyền nhỏ mong manh. Mệnh số 52 con người chỉ còn biết phó thác cho trời nước mênh mông. Bóng tối tử thần bủa vây khắp phía. Con thuyền bây giờ như cánh bướm nhỏ rơi giữa dòng thác lũ, chìm xuống ngoi lên tả tơi, thoi thóp. Chưa khi nào con người lại quá nhỏ bé và bất lực trước thiên nhiên như lúc này đây. Người điều khiển chiếc thuyền là anh bạn tù, một sĩ quan Hải Quân trước 75. Dù từng làm hạm trưởng, giàu kinh nghiệm hải hành, nhưng bây giờ chỉ còn biết cố giữ cho chiếc thuyền không nằm ngang để bị sóng đánh vỡ. Khả năng đó trong lúc này đã là một điều tuyệt vời, nhưng lại quá nhỏ nhoi trước sức mạnh của phong ba. Đám thanh niên thi nhau tát nước tràn vào liên tục có lúc gần ngập cả con thuyền. Chỉ sau một ngày đêm, tất cả đều mệt lã, đuối sức. Mọi người chỉ còn biết nhắm mắt, miệng lâm râm lời cầu nguyện. Bất ngờ có người hét lên và chỉ ra phía trước mặt. Tất cả nhốn nháo nhìn về hướng ấy. Một cái gì to lớn màu đỏ chói chập chờn xuất hiện giữa trùng khơi sóng gió. Mới đầu chỉ thấy mấy cái bồn lớn, tưởng như những cây trụ cao to trong một ngôi chùa vĩ đại, cho mọi người cái cảm giác như đang ở trên một thế giới nào đó, huyễn hoặc, mơ hồ. Khi nhận ra chiêc tàu thật lớn, ai cũng thầm nghĩ là có điều gì màu nhiệm được Thượng Đế gởi đến để cứu vớt chúng tôi trong cơn khốn nguy tuyệt vọng.

(Tàu chở dầu Høegh Grandia cứu vớt chúng tôi trên biển Đông)

Chiếc tàu mang cái tên với vài mẫu tự rất lạ (Høegh). Có người nghĩ là chữ Nga. Nhưng trong hoàn cảnh này dù là tàu nước nào, cũng phải sống trước đã. Nhưng khi chúng tôi cố gắng cho thuyền đến gần tàu, thì họ lại tránh ra xa. Bao lần như vậy làm chúng tôi thất vọng và thầm oán trách. Nhưng cuối cùng chiếc tàu ngừng hẳn lại, hụ còi làm dấu hiệu cho thuyền chúng tôi chạy đến. Khi chiếc thuyền con cặp vào thành tàu cao chót vót, một số thủy thủ trên tàu thòng những chiếc thang giây và đu mình xuống để bồng những đứa con nít hoặc cõng trên vai những người đàn bà yếu mệt lên tàu. Một số khác, có cả vài người đàn bà, đứng trên thành tàu, đưa tay đón lấy từng người. Chúng tôi đã nhận ra đây phải là những con người từ tâm, đến từ một quốc gia giàu lòng nhân đạo.

Tôi và anh bạn Hải Quân là hai người cuối cùng lên tàu. Khi nói chuyện với vị thuyền phó, được biết chiếc tàu này thuộc Vương Quốc Na-Uy (Kingdom Of Norway) và đang trên hải trình công tác chở dầu từ Nhật sang Singapore. Và cơn bão chỉ mới bắt đầu. Trận bão chính khuya nay mới tới. Nếu tàu không vớt, chắc chắn chúng tôi không thể nào sống sót qua đêm nay. Ông cũng cho biết sở dĩ ông không cho chiếc thuyền nhỏ của chúng tôi lại gần khi tàu lớn đang chạy, vì lo ngại thuyền sẽ bị nhận chìm bởi sóng từ chiếc tàu lớn tạo ra, nên ông phải cho tàu dừng hẳn lại trước khi cho chúng tôi cặp vào

Chúng tôi đem tặng cho ông thuyền trưởng chiếc hải bàn, nói lời cám ơn và để làm kỷ niệm. Ông đưa hai chúng tôi ra sàn tàu để chứng kiến và từ biệt chiếc thuyền con, khi ông cho nhận chìm bằng cách cho rú mạnh máy tàu. Đứng nghiêm đưa tay chào vĩnh biệt, lòng chúng tôi thật bùi ngùi, khi nghĩ là chiếc thuyền mong manh ấy đã đưa chúng tôi vượt bao sóng gió, từng chạm mặt với tử thần, nhưng cuối cùng tất cả chúng tôi đã được an bình để tới bến bờ, còn chiếc thuyền thì lại bị nhận chìm vào đáy của đại dương . Và cũng kể từ giờ phút ấy, hai tiếng Na-Uy gắn liên với phần đời còn lại của chúng tôi

Sau khi tắm rửa xong, đám đàn ông con trai thì được phát cho những bộ quần áo kaki màu vàng của thủy thủ, phụ nữ thì những chiếc áo blue trắng của các cô y tá. Còn đám con nít thì được áo thun đủ màu và quần short. Chúng tôi được đưa xuống các phòng ngủ nghỉ ngơi, và chiều hôm đó được ăn một bữa cơm Tây thịnh soạn. Vị thuyền trưởng cho biết là sẽ đưa chúng tôi sang gởi tại trại tị nạn Singapore, và cho mỗi người được gởi ba cái điện tín về ba địa chỉ khác nhau để báo tin cho gia đình. Ông còn cho biết thêm, trước đây chiếc tàu này do ông làm hạm trưởng cũng đã từng cứu vớt bốn chiếc thuyền tỵ nạn từ Việt Nam. Đọc danh sách những thuyền nhân trong bốn chiếc thuyền này, hầu hết phát xuất từ miền Tây, chúng tôi không nhận ra có người quen biết.
Hai ngày đêm trên tàu với chúng tôi là cả một thiên đường. Mặc dù bên ngoài, cơn bão cấp sáu nhiều lúc làm con tàu lắc lư, nhưng trên tàu chúng tôi cảm thấy thật yên ả hạnh phúc. Chúng tôi được bác sĩ khám bệnh, cấp thuốc, ăn uống thịnh soạn Đám con nít có quà, bắt đầu đừa giỡn, vui chơi.

Đêm cuối cùng, ông thuyền trưởng mong muốn có một buổi cơm chung với tất cả thủy thủ trên tàu cùng những người tỵ nạn. Chúng tôi thành lập một tổ nhà bếp. Họ cung cấp mọi thực phẩm theo yêu cầu. Một bữa ăn với thực đơn hoàn toàn Việt Nam. Vừa thích thú vừa cảm động.

Sau hơn hai ngày đêm, tàu cặp vào cảng Singapore. Tất cả thủy thủ đoàn đứng thành hai hàng dài từ đài chỉ huy xuống tận cầu tàu, bắt tay và ôm từng người chúng tôi tiễn biệt. Nhiều người đã bật khóc. Tôi vừa cảm động vừa đau đớn trong lòng. Cảm động vì phải chia tay những ân nhân của mình, nhưng đau đớn vì nghĩ họ là những người xa lạ, không cùng ngôn ngữ, màu da màu tóc, mà đã cứu vớt, hết lòng yêu thương lo lắng cho chúng tôi, trong lúc những người anh em cùng một nhà lại thẳng tay đàn áp hành hạ đuổi xô chúng tôi đến bước đường cùng, đến nỗi phải đánh đổi cả mạng sống để bỏ nước ra đi. Nếu không có chiếc tàu Na-Uy này cứu vớt, chắc chắn 52 người chúng tôi đã bỏ mình trên biển khơi, cũng giống như hàng trăm ngàn người bất hạnh khác, không một ai hay biết.

Chúng tôi được gởi vào trại tị nạn Hawkins Road, một doanh trại cũ của quân đội Anh tại Singapore. Tòa đại sứ Na-Uy tại đây đến thăm nom, chăm sóc và gởi hai cô giáo thiện nguyện đến để sinh hoạt và dạy ngôn ngữ Na-Uy. Sau ba tháng, chúng tôi được chuyển sang trại chuyển tiếp Bataan ở Phi Luật Tân. Trại chia ra 9 Vùng. Riêng Vùng I được dành cho những người được tàu Na-uy vớt, và hầu hết sẽ đi định cư tại Na-Uy. Ông Đại sứ Na-Uy tại Phi Luật Tân thường xuyên đến thăm nom giúp đỡ chúng tôi. Có lẽ không có một vị đại sứ nào hiền lành, phúc hậu, và bình dị như ông đại sứ Na-Uy này. Một toán cô thầy giáo được chọn lọc, từ Na-Uy sang để dạy tiếng Na-Uy cũng như hướng dẫn chúng tôi về lịch sữ, địa lý, văn hóa, tập quán và nhiều hiểu biết khác về xã hội và đất nước này. Một số người tỵ nạn được chọn ra, học riêng thêm một số giờ, để làm phụ giảng và thông dịch.Tôi là một trong vài người may mắn được chọn

(Ông Đại Sứ – bà Bộ Trưởng Xã Hội và bà Giám Đốc Sở Tỵ Nạn NaUy đến thăm viếng chúng tôi tại Bataan -Philippine)

Sau tám tháng, chúng tôi lần lượt được đưa sang định cư chính thức tại Na-Uy. Gia đình tôi lúc ấy có 10 người, gồm vợ chồng tôi, 6 đứa con và 2 đứa cháu, đến phi trường Fornebu Oslo vào buổi chiều cuối hè. Trời nắng đẹp. Chúng tôi được hai người đàn bà thuộc văn phòng Thư ký Tỵ nạn và Phòng Xã Hội kommune Skedsmo, địa hạt nơi tôi đến định cư, đón chúng tôi tại khu nhận hành lý của phi trường. Khi bước ra cổng, tôi được một số phóng viên báo chí và đài truyền hình phỏng vấn. Hai người đàn bà mời gia đình chúng tôi đến ăn tại một nhà hàng Tàu. Khi về đến nhà, bất ngờ chúng tôi thấy các phóng viên lúc nãy đang chờ trước cổng. Căn nhà rộng, loại rekkehus (townhouse) hai tầng, có cả sân trước sân sau được trồng hoa và lát cỏ, trang bị đầy đủ nội thất, có cả một TV mới và trong tủ lạnh đầy đủ thức ăn nước uống. Các phóng viên mời chúng tôi vào phòng khách, vừa uống cà phê vừa để họ quay phim, chụp hình và phỏng vấn. Họ hỏi về nhiều đề tài, đặc biệt là chiến tranh Việt Nam và chuyện tù đày, khổ ải của người miền Nam sau ngày VNCH thất thủ vào tay Cộng Sản, cùng cảm tưởng khi đến Na-Uy. Với mớ vốn liếng tiếng Na-Uy và cả tiếng Anh ít ỏi, tôi cố gắng trình bày và chỉ hy vọng họ hiểu được những điều chính yếu mà mình muốn nói. Trước khi từ giả, mọi người đều cảm động ôm lấy chúng tôi cùng với những lời chúc tốt lành cho một đời sống mới. Tôi rất ngạc nhiên, khi bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa chúng tôi một xâu chìa khóa, và trao cho chúng tôi tờ giấy chủ quyền ngôi nhà, mà bà cho biết kommune đã đứng ra mượn tiền mua trước, và họ sẽ trả mọi thứ tiền cho đến khi nào chúng tôi đi làm và có khả năng tự trả được. (Vì họ được mượn từ quỹ gia cư của chính phủ nên tiền lời rất thấp)

Buổi tối, cơm nước xong, cả nhà quây quần trước cái TV. Thằng con trai lớn ra điều mới học được văn minh, bấm tới bấm lui tìm đài. Cả đám bất ngờ nhìn thấy dung nhan của mình trên màn ảnh. Thì ra chương trình phóng sự. Họ đang kể về gia đình chúng tôi: “những công dân mới của Na Uy, mà ông bố đã từng ở tù nhiều năm, giống nhiều người Na Uy bị nhốt trong các trại cải tạo của Đức quốc xã, cái thời Hitler làm mưa làm gió ở Âu Châu, và đã can đảm dắt theo mấy đứa con nhỏ vượt đại dương trên một chiếc thuyền đánh cá mong manh”. Nghe họ ca ngợi mình mà tôi xấu hổ. Dù gì tôi cũng là kẻ bỏ nước tha phương, với họ ít nhiều gì cũng là một cành tầm gởi. Còn chuyện vượt biển, vượt biên, đến bước đường cùng thì ai cũng phải liều mạng thế thôi, chứ có hàng triệu người còn can đảm gấp vạn lần tôi. Nhiều người đi bằng đường bộ, trèo núi, băng rừng, lội suối, bơi sông, qua Cam Bốt, Thái Lan, sống chết với bọn hải tặc, để vài năm sau mới đến được Singapore. Và dĩ nhiên đã có biết bao nhiêu người chẳng bao giờ tới bến.

Khi cả nhà ngủ vùi sau hai ngày di chuyển mệt nhọc (từ trại Bataan đến Manila và từ Manila đến Na-Uy), tôi một mình xuống ngồi ở phòng khách, suy nghĩ thật nhiều về những tháng ngày sắp tới, ưu tư cho chính bản thân mình và nhất là đám con nhỏ dại, sẽ lớn lên và chấp nhận xứ sở xa lạ này như một quê hương mới. Nước mắt tôi bỗng trào ra khi nghĩ đến quê nhà, hồi tưởng một quá khứ có quá nhiều biến đổi thăng trầm và mất mát, dù đã xa khuất sau lưng, nhưng chắc chắn mãi mãi không thể nào mờ nhạt. Tôi cũng nghĩ tới thân phận của những người bạn tù còn ở lại,rồi cuộc đời sẽ không biết ra sao. Thầm cầu mong cho họ sẽ gặp được nhiều may mắn.

(Ngày mới đến thị xã Skjetten – thuộc Kommune Skedsmo -NaUy)

Hôm nay, cả gia đình tôi đang ở trên một đất nước tận vùng Bắc Âu xa lạ để gầy dựng lại cuộc đời. Các đứa con thơ dại sẽ lớn lên ở đây. Tất cả sẽ bắt đầu học ngôn ngữ mới, tập quán mới. Tôi thực sự đã mất quê hương. Tất cả, nếu có còn chỉ nằm sâu một nơi nào trong tâm tưởng. Nhưng chúng tôi may mắn được đất nước này mở rộng vòng tay, để được nhận nơi đây làm quê hương mới. Cái diễm phúc ấy hy vọng sẽ xoa dịu vết thương còn đang đau đớn trong lòng, mà tôi biết sẽ mãi mãi không bao giờ lành được. Sáng hôm sau, bà trưởng phòng tỵ nạn trở lại thăm chúng tôi, dắt theo hai người đàn bà khác, mà bà giới thiệu là đến từ phòng giáo dục và phòng xã hội Thị Xã. Hai người sẽ đến thăm gia đình tôi thường xuyên trong hai tuần, để lo việc học hành cho các con, đưa chúng tôi đi khám bệnh, làm răng và sắm sửa thêm những gia dụng theo nhu cầu. Bà đưa tôi đến một ngân hàng gần nhà, mở cho tôi một trương mục, bỏ vào đó tiền ăn và mọi khoản chi tiêu dành cho gia đình chúng tôi trong hai tháng đầu. Sau đó, bà sẽ gởi tiếp, nhưng bà dặn bất cứ khi nào cần cứ ra rút tiền. Và nếu tiền hết vì bà chưa kịp gởi vào, ngân hàng này sẽ phải ứng trước theo giao ước của bà.

Thêm một điều rất may mắn cho tôi. Thời gian ở trại tị nạn, tôi đã được các thầy cô giáo dạy riêng thêm ngôn ngữ Na-Uy để giúp làm phụ giảng và thông dịch, nên khi sang Na-Uy tôi đã có một ít vốn liếng tiếng Na-Uy, dù chưa thông thạo lắm. Ngày đầu tiên khi chúng tôi cùng một số gia đình tỵ nạn khác được bà Trưởng Phòng Tỵ Nạn đưa đến Phòng Cảnh Sát Ngoại Kiều Thị Xã để được phỏng vấn làm thủ tục di trú. Vào giờ chót người thông dịch không đến được, nên tôi đã tình nguyện đứng ra giúp. Không ngờ đó lại là một cơ hội cho tôi sau này. Tôi được giới thiệu theo học khóa “Ngôn ngữ Mùa Hè” tại Đại Học Oslo. Sau đó được làm thông dịch cho Văn Phòng Xã Hội và Phòng Cảnh Sát, và được gởi theo học một khóa tài chánh kế toán trong 13 tháng, mà đa số học viên là những công chức hoặc nhân viên của các phòng sở, công ty gởi đến. Biết thân phận là người tị nạn, nên tôi cố gắng hết sức để theo kịp, nên khi mãn khóa nhận được chứng chỉ với số điểm ưu hạng.

Khi cả nhà đang hái dâu ở vùng Drammen, vừa tiêu khiển vừa kiếm thêm tiền gởi vể Việt Nam giúp cha mẹ vợ, bà cô, cùng một số bạn tù ngày trước, tôi nhận được thư của kommune thu nhận tôi làm việc tại Kommune Kasseren (Phòng Tài Chánh Thị Xã) trong một năm. Công việc thật nhàn nhã, nên tôi được phép đi làm thông dịch thêm theo yêu cầu của các cơ quan khác và được nhận thêm tiền trả riêng. Đặc biệt việc di chuyển đều được dùng Taxi do cơ quan ấy đài thọ. Có những ngày chẳng có việc gì làm, tôi lại ngồi đọc sách để học thêm ngôn ngữ mới. Sau một năm, tôi nôp đơn xin theo học và làm trong ngành Ngân hàng Bưu Điện (Postbanken) cho đến ngày về hưu

(Ba đồng nghiệp thân thiết nhất tại Postbanken – Anita – Reidun và Guldhaug)

Đến Na-Uy tôi mới biết đây là một Vương quốc có dân số chỉ hơn bốn triệu rưởi, nhưng đời sống khá cao và giàu lòng nhân đạo. Gia đình tôi được chăm lo đủ thứ. Tiền phụ cấp hằng tháng quá đầy đủ. Với chúng tôi có thể nói là thừa thãi. Ngay sau khi học xong, tôi được việc làm. Khi đi học vẫn được nhận đủ lương lại còn thêm phụ cấp. Vơ tôi được đi học thêm ngôn ngữ tại một trường trung học dành cho người lớn và sau đó học nghề tại trung tấm huấn nghệ dành cho người tỵ nạn, và ngay sau khi học xong cũng cnhận dược việc làm chuyên môn về điện tử tại Siemens, một công ty lớn của Đức. Lương bỗng hằng tháng của hai vợ chồng cộng lại chỉ hơn một nửa số tiến trợ cấp trước kia. Phòng Xã Hội có nhã ý giúp chúng tôi thêm vì có đông con, nhưng chúng tôi từ chối vì thấy đã đủ trả mọi chi phí cho đời sống gia đình. Điều thú vị hơn, đất nước này gồm rừng núi, sông hồ thơ mộng và quanh năm tĩnh mịch, thích hợp với những người cần sự yên tĩnh để chữa nhiều vết thương trong lòng còn đang đau đớn như tôi.

Mùa đông đầu tiên, khi tuyết bắt đầu rơi trắng bầu trời, chúng tôi được cấp áo quần, dụng cụ trượt tuyết, và có người đến dạy các con tôi trượt tuyết. Sau một năm, trong một kỳ thi dành cho tuổi thiếu niên, cậu con trai út của tôi được lãnh cúp hạng nhất, trở thành cậu bé trượt tuyết có tiếng trong vùng.Sau đó, chúng tôi còn được biết thêm, Nauy là quốc gia thường chiếm nhiều huy chương vàng nhất tại các Thế Vận Hội Mùa Đông.

(Huy Vinh trượt tuyết giỏi nhất giải thiếu nhi và em gái Ngọc Quỳnh)

Định cư được hơn ba năm. Lúc kinh tế gia đình và việc học hành của mấy đứa con tạm ổn định, hơn nữa các con đã lớn cần một ngôi nhà rộng rãi có đủ phòng ốc hơn, chúng tôi quyết định mua một ngôi nhà lớn nằm dưới thung lũng nhỏ Harabakken, bên bờ sông Nitelva yên tĩnh, bên kia sông là cánh đồng cỏ mênh mông tiếp giáp với núi rừng. Cái khung cảnh có mang một chút hình dáng và màu sắc quê nhà giúp tâm hồn tôi yên ả hơn mỗi khi thấy lòng trăn trở, nhung nhớ một điều gì. Những lúc buồn, tôi ngồi hằng giờ trong bao lơn nhìn ra cánh đồng và rừng núi phía xa xa, để ngỡ là quê hương mình như đang ở phía bên kia triền núi đó. Và cũng chính nơi đây, tôi đã bắt đầu tập tễnh cầm bút viết lại cuộc đời mình, thế hệ mình, cuộc chiến bất hạnh và cuộc tang thương dâu biển mà cả miền Nam Việt Nam đã trải qua.

Ở đất nước bé nhỏ này và với số người Việt tị nạn khi ấy khoảng 10.000 người, nhưng có một số nhà văn, nhà thơ tiếng tăm: Nguyễn Thị Vinh, Dương Kiền, Hoài Mỹ, Nguyễn Hữu Nhật, Tâm Thanh, Khánh Hà, Cung Vĩnh Viễn, Nguyễn Văn Thà… Bán ngôi nhà cũ của kommune mua giúp lúc ban đầu mới đến, chúng tôi may mắn lời được một khoản tiền đủ để trả hơn một nửa số tiền mua ngôi nhà mới. Ngôi nhà này nằm ở một kommune khác. Khi vừa dọn về nhà mới được hai tuần, tôi nhận được một Ngân Phiếu Trả Tiền (Utbetalingskort) gởi từ Phòng Xã Hội của kommune cũ, cấp cho tôi một số tiền gần bằng 10 tháng lương của tôi lúc ấy. Tôi ngạc nhiên, vì số tiền khá lớn nên nghĩ là có điều gì nhầm lẫn. Cầm tấm Ngân Phiếu Trả Tiền, tôi đến gặp ông Trưởng Phòng Xã Hội. Ông cho biết đó là món tiền mà Sở Tỵ Nạn cấp để lo cho gia đình tôi, nhưng kommune không chi tiêu hết cho chúng tôi, vì con đông nên không đủ phòng ốc và đồ dùng ở ngôi nhà cũ, hơn nữa chúng tôi đã đi làm quá sớm sau khi đến Na-Uy, nên ông quyết định gởi cho chúng tôi để sắm sửa cho ngôi nhà mới. Đã vậy ông còn xin lỗi, vì đã không lo lắng đủ cho chúng tôi trong thời gian mới tới. Tôi bắt tay ông từ giã mà trong lòng cảm thấy ngậm ngùi, khi nghĩ là ở trên quê hương mình bây giờ biết tìm đâu ra những công chức chính quyền thanh liêm và giàu tấm lòng như thế?

(Ngôi nhà mới dưới thung lũng Harabakken-NaUy)

Trong thung lũng nhỏ này chỉ có bốn ngôi nhà. Ngoài gia đình tôi, một gia đình người bản xứ, còn có gia đình người Thụy Điển và một gia đình người Đức. Tất cả những người láng giềng này rất tốt bụng, sau này đều trở thành những người bạn thân thiết của gia đình tôi.

Gần 30 năm làm việc, tôi may mắn được sắp xếp làm ở những chi nhánh rất gần nhà. Được hưởng bậc lương tính theo thâm niên từ khi bắt đầu làm việc tại Việt Nam. Hầu hết những đồng nghiệp người bản xứ đều luôn thân tình, giúp đỡ. Điều làm tôi cảm phục hơn là sự thành thật và tin tưởng lẫn nhau của họ. Công việc mỗi ngày liên quan tới tiền bạc. Có thời gian mấy năm tôi được giao cho trách nhiệm thủ quỹ. Vào những ngày trước Giáng Sinh hay thời điểm trả thuế, số tiền trong tủ sắt lên đến nhiều chục triệu kroner. Mới đầu, tôi rất ngạc nhiên, khi giao một số tiền lớn cho mỗi kasse (quày), mà họ chẳng bao giờ kiểm lại. Có khi, một vài cô cậu sinh viên làm thêm vào các ngày thứ bảy, hay ngày lễ, làm mất đến mấy chục ngàn, họ vẫn không bị la rầy hay đuổi việc. Chúng tôi được học và dặn dò, nếu có cướp (cho dù biết vũ khí là đồ giả), hãy luôn làm theo yêu cầu của kẻ cướp, đừng bao giờ có ý chống lại. Nhưng điều này chưa hề xảy ra. Họ rất quý sinh mạng con người. Không phải như dưới chế độ Cộng Sản trên quê tôi, sính mạng con người chẳng khác gì cỏ rác!

(Giáng sinh trước khi ba cháu lớn đi du học Mỹ)

Trong gần 30 năm làm việc, tôi chưa hề thấy những ông “sếp” nặng lời với bất cứ một nhân viên nào cho dù khi họ làm sai, thất thoát ít nhiều tiền bạc. Chỉ cần viết một đôi dòng giải thích là đủ. Ngược lại, đôi lần, trong các buổi họp, tôi thấy một vài nhân viên lại khiển trách “sếp” chỉ vì một đôi điều không được hài lòng. Phải nói, đây là một quốc gia có tinh thần dân chủ cao độ. Tôi nhớ mãi chuyện vợ chồng ông chủ tịch quốc hội bị nhân viên quan thuế phi trường Oslo chặn lại và buộc nộp tiền phạt khi hai ông bà đi công cán ở nước ngoài về, và bà vợ mang trên tay một chiếc nhẫn hột xoàn quên khai báo. Một bà bộ trưởng quốc phòng, mặc bộ quân phục khi đến thăm binh sĩ Na-Uy đang tham gia chiến trường khói lửa A Phú Hãn, bị nhiều quân nhân phê phán, bảo bà không phải là quân nhân, nên không có quyền mặc quân phục. Bà đã phải lên truyền hình chính thức xin lỗi. Tôi nghĩ chẳng có quốc gia nào dân chủ hơn . Điều này làm tôi rất hãnh diện để được trở thành công dân của đất nước này. Và biết đến khi nào mới có được trên quê tôi?

Sau bậc trung học, bốn đứa con của chúng tôi muốn sang Mỹ du học. Khi được một đại học ở Mỹ chấp nhận, tất cả đều được chính phủ Na-Uy cấp học bổng đủ để trả học phí, tiền bảo hiểm và di chuyển, đến bậc Cao Học.Vợ tôi làm công nhân cho một công ty điện tử. Có lẽ vì nhiều năm chỉ làm một động tác, nên vai cánh tay phải bị đau nhức. Bác sĩ xí nghiệp cho nghỉ một năm có lương để điều trị và sau đó được một hội đồng giám định y khoa quyết định cho nghỉ vĩnh viễn với hưu bệnh. Lại được công ty bảo hiểm của xí nghịệp bồi thường một số tiền sai biệt so với lợi tức hằng tháng trước đó .

(Cháu trưởng nam Phạm Hoàng Minh và cháu gái út Phạm Ngọc Quỳnh sau khi tốt nghiệp Đại học)

Bây giờ, tuổi đã già, nhìn lại quá khứ thăng trầm khốn khó, nhớ lại từng bước chân lưu lạc, lòng tôi bùi ngùi xúc động. Quê hương vẫn còn mịt mờ xa, khốn đốn trong bàn tay cai trị của bọn người CS không còn nhân tính. Mai này, tôi cũng sẽ gởi lại trên quê hương thứ hai này nắm xương tàn, hướng đầu về cố quốc mà tạ tội cùng núi sông tiên tổ.

(Các cháu trai – gái đã trưởng thành và có gia đình riêng)

Những đứa cháu nội, ngoại của chúng tôi sinh ra và lớn lên ở Na-Uy, dù không có một kỷ niệm nhỏ nhoi nào với Việt Nam. nhưng vẫn mãi có những ràng buộc máu thịt, bởi cha ông là người Việt. Dù nói được tiếng Việt, nhưng các cháu không thể thấy gần gũi với quê cha đất tổ. Nhiều lúc tôi thấy chạnh lòng khi nghĩ rồi các thế hệ sau này càng lúc càng xa dần nguồn cội. Nhưng tôi cũng tự an ủi mình, vì các cháu lớn lên, nhận đất nước này là quê hương, sẽ cố gắng chăm chỉ học hành để vừa đóng góp phần trách nhiệm, nghĩa vụ của mình, vừa trả cái ơn cưu mang từ những ngày đầu thời ông bà cha mẹ lưu lạc đến đây. Quan trọng hơn, sẽ học tấm gương những người Do Thái, nối tiếp công việc dang dở của cha ông, góp sức đấu tranh cho no ấm tự do trên quê hương tiên tổ.

(3 cháu nội nhỏ nhất trong ngày Quốc Khánh NaUy 17-5)

Xin cám ơn Na-Uy, đất nước xa xôi, lạnh lẽo, nhưng rất nồng ấm tình người. Nơi in đậm mãi những dấu chân lưu lạc của tôi và cả gia đình. Đã cho chúng tôi, nhất là các con cháu tôi, một tương lai tốt đẹp như hôm nay, mà nếu còn ở lại trong nước sẽ phải khốn cùng dưới chế độ phân biệt đối xử của chinh quyền Cộng Sản. Xin cám ơn Na-Uy, nơi mà tất cả những người Việt tỵ nạn đến đây sung sướng và hãnh diện để được nhận là quê hương thứ hai của mình sau ngày phải đành lòng bỏ nước ra đi.

Một ngày buồn cuối tháng 4, sau đúng 38 năm lưu lạc.

Phạm Tín An Ninh

PHÓNG SỰ UKRAINE

Oanh Vy Lý

PHÓNG SỰ UKRAINE

Tóm tắt: Ở Kharkiv, Vladimir Putin đã “giải phóng” hàng nghìn người khỏi mạng sống và ngôi nhà của họ

Tay Yulia Rebenko đầy máu; và không giống như Lady Macbeth, cô ấy không bị ảo giác. Tốc độ suy nghĩ nhanh nhẹn đã cứu cô sinh viên tâm lý năm nhất này khỏi cái chết: cô chạy từ bếp vào phòng tắm ngay khi nghe thấy những tiếng động lớn đầu tiên.

Vào thời điểm vụ pháo kích tiến đến căn hộ của cô trên phố Shakespeare vào chiều ngày 26 tháng 5, xuyên qua những cây lạc và rơi xuống bên ngoài cửa sổ nhà cô, thì Rebenko vẫn còn cách vụ nổ hai bức tường. Cô vẫn còn sống với những vết cắt nhỏ. Ít nhất chín người khác đã bị đưa vào nhà xác.

Dina Kirsanova, nhân viên bán hàng tại một quầy bán sữa gần ga tàu điện ngầm 23 tháng 8, mục tiêu chính của các cuộc không kích, đã nhìn thấy ít nhất 15 tên lửa trên bầu trời. Cô nói, các lực lượng phòng không đã chặn được hầu hết chúng, ngăn chặn thiệt hại lớn hơn về nhân mạng: “Nó còn hơn cả tàn nhẫn. Không có vị trí quân sự nào ở đây. Chỉ là những con người giản dị, cố gắng tồn tại ”.

Các cuộc tấn công mới đây vào Kharkiv diễn ra như một phần của giai đoạn thứ hai của cuộc chiến. Sau khi rút lui khỏi thủ đô Kyiv và một số thành phố ở phía bắc khác trong tháng 4, Nga tập trung lại các đơn vị quân đã bị thương vong nặng nề và tập trung nỗ lực vào phía đông.

Cuộc giao tranh bùng phát dữ dội nhất đang diễn ra ở tỉnh Luhansk, một phần của khu vực Donbas, nơi Nga đang hy vọng giành quyền kiểm soát Severodonetsk và Lysychansk, những thị trấn cuối cùng có quy mô hợp lý mà Nga vẫn chưa chiếm được ở vùng này và bao vây quân Ukraina.

Nhưng Nga dường như cũng đang bị đẩy lùi xa hơn về phía bắc. Trong một chuyến công du hiếm hoi bên ngoài Kyiv, Tổng thống Volodymyr Zelensky đã đến thăm Kharkiv và quân đội trong khu vực vào ngày 29 tháng 5.

Do đó, thành phố thứ hai của Ukraina, một thành phố đáng tự hào, gan dạ, dành cho tầng lớp lao động, phải đối mặt với một tương lai không chắc chắn nhất. Bởi vì thành phố này chỉ cách Nga 40 km, ít người nghĩ rằng Kharkiv có thể đứng vững trước một cuộc xâm lược.

Trong trường hợp này, xe thiết giáp của Nga đã tiến đến ranh giới thành phố rộng lớn này chỉ trong vòng ba ngày đầu tiên của cuộc chiến. Nhưng sự kết hợp giữa tinh thần chống cự kiên cường và sự miễn cưỡng của Moscow trong việc sử dụng đủ số quân cần thiết để bao vây thành phố này đã khiến Kharkiv bằng cách nào đó vẫn sống sót. Vào giữa tháng 5, Ukraina phản công và chiếm lại một số ngôi làng ở phía bắc và đông bắc Kharkiv.

Nhiều người bắt đầu hy vọng cuộc sống bình thường có thể xảy ra; một số thậm chí đã bắt đầu quay trở về nhà. Thực tế tỏ ra là tệ hơn họ tưởng tượng. Các khu vực phía bắc của thành phố vẫn nằm trong tầm bắn của pháo binh tầm xa của Nga, và cuộc tấn công trên phố Shakespeare đã chứng minh điều đó. Quân Nga cũng đang đào hào, củng cố vị trí của họ và sẽ khiến việc đẩy lùi họ trở lại rất khó khăn.

Thống đốc Oleh Synyehubov cho biết cuộc chiến giành Kharkiv có vẻ như sẽ không kết thúc sớm. “Chúng tôi hiểu rằng chiến tranh không phải là câu chuyện diễn ra trong một tháng và chúng tôi sẽ cần phải sống trong thực tế mới này.” Cuộc sống riêng của thống đốc đã bị hủy bỏ; Synyehubov đã không có văn phòng kể từ khi một tên lửa hành trình của Nga bắn trúng trụ sở của ông vào tháng Ba. Ông gặp phóng viên để trả lời phỏng vấn tại một địa chỉ bí mật, chỉ được liên lạc vào phút cuối.

Synyehubov nói rằng chỉ hơn một nửa trong số 1,5 triệu người của Kharkiv đã rời đi. Tất cả những người ở lại đều dễ bị tổn thương do máy bay phản lực, tên lửa và pháo binh của Nga; họ nên ở nhà trừ khi họ có nhu cầu khẩn cấp phải ra đường. Một số người dường như đang chú ý đến lời khuyên này.

Nhưng những người khác cố chấp phớt lờ nó. The Ditch, một quán bar cocktail cách phố Shakespeare 2km, tiếp tục lên kế hoạch mở cửa trở lại sau ba tháng bất chấp các cuộc tấn công tên lửa mới. Daria Taran, người phục vụ và đồng sở hữu quán này cho biết: “Pháo kích không còn khiến chúng tôi khó chịu nữa. Chúng tôi biết một tên lửa có thể có tên của chúng tôi trên đó. Nhưng đó là số phận.”

Tại khu chợ Barabashova khổng lồ của thành phố, từng là trái tim của thương mại tại Kharkiv, nhưng giờ hầu như chỉ còn là đống đổ nát cháy xém, một vài chủ cửa hàng đã dám mở cửa trở lại. Iryna Petrovna đã bắt đầu bán lại bình chứa và chảo kim loại. Nhưng hàng trong kho của cô là hàng Trung Quốc và với việc các cảng của Ukraina đang bị Nga phong tỏa, cô biết mình khó có thể mua được hàng mới. “Chúng tôi rất sợ hãi, nhưng chúng tôi có thể làm gì khác? Chúng tôi cần phải làm việc”.

Ở cửa hàng bên cạnh, Sergei Ivanov đang tìm kiếm trong một mớ đồ sứ vỡ và mảnh đạn với hy vọng tìm được thứ gì đó để bán. Anh kể là mình đã mua hai container đĩa sứ trị giá cao từ Pháp để bán trong Ngày Phụ nữ 8 tháng 3. “Đó là những đồ xa xỉ. Hãng Luminarc.” Không rõ hai nhà kinh doanh trên có thể tìm thấy khách hàng ở đâu. Những người bán hàng khác ở chợ đang thu dọn đống đổ nát.

Timur, một người đàn ông với đôi mắt xanh thẳm và hơi thở nồng nặc mùi rượu, dẫn chúng tôi đến đống tên lửa Grad của Nga mà anh lấy được từ cuộc tấn công cuối cùng vào ngày 17/5. Người thợ xây cũ này cho biết anh ta được trả 500 hryvnia (17 đô la) một ngày cho việc này. Anh nói, tiền đó không đủ cho việc nuôi hai đứa con, nhưng hiện tại không có nhiều việc ở Kharkiv.

Chợ Barabashova nằm ở một đầu của quận Saltivka rộng lớn — một khu rừng các nhà lắp ghép chắc chắn do Liên Xô xây dựng. Do chúng ở vị trí phía bắc thành phố nên các tòa nhà này đã hứng chịu phần lớn pháo kích của Nga.

Nó từng được gọi là quận Matxcơva, nhưng giống như nhiều tên khác theo chủ đề Nga, đã được đổi tên vào tháng Năm. Ở những khu vực an toàn hơn của thành phố, mọi người đang quay trở lại, nhưng chỉ về rồi lại ra đi.

Cư dân đang quay trở lại để lấy đi bất cứ tài sản nào họ có thể lấy đi trước khi nó trở thành khan hiếm: tranh, ti vi, tủ lạnh, máy điều hòa không khí, phụ kiện nhà vệ sinh. Alla Yaroslavtseva, 57 tuổi, đi ra từ đống đổ nát cháy đen của nhà số 80 phố Natalii Uzvii, nơi bị bắn thủng một phần giữa, cầm trong tay một số ảnh và đồ kỷ niệm.

Yaroslavtseva không nghĩ rằng bà sẽ trở lại đây lần nữa. Bà nói rằng bà đã làm việc cả đời mình để mua đứt căn hộ của mình với hy vọng có thể để lại nó cho các con. “Bây giờ tôi phải bắt đầu lại vì Thế giới Nga chết tiệt đã quyết định đến và giải phóng tôi. Giải phóng khỏi cái gì chứ? Giải phóng tôi khỏi căn hộ của tôi sao?”

Sự tức giận của bà Yaroslavtseva là minh chứng cho sự thay đổi ở một thành phố mà nhiều người Ukraina cho rằng có thiện cảm với nước Nga. Hàng loạt người ở đây đang chuyển từ nói tiếng Nga sang nói tiếng Ukraina, mặc dù rõ ràng điều đó không đến một cách tự nhiên. Bohdan, một tài xế đến từ Saltivka, cho biết: “Tôi muốn con trai mình kinh tởm khi nghe thấy tiếng Nga, nhưng điều này rõ ràng là không thực tế.

Đối với Serhiy Zhadan, một tác giả và nhà thơ nổi tiếng ở đây, người vẫn ở lại mặc dù có khả năng là mục tiêu của các đội tấn công của Nga, các giả định luôn là sai. Bản sắc khu vực mạnh mẽ và sở thích ngôn ngữ có ý nghĩa hơn nhiều so với các bộ phận của họ, ông nói. “Người Nga cũng nghĩ rằng họ sẽ được người dân tặng hoa, và họ cũng không hiểu chúng tôi.” Ông nói rằng khi thành phố Kharkiv nhìn về tương lai của nó, cảm giác đoàn kết trong một bi kịch chung đã mang lại một chút hy vọng. Nhưng với việc pháo kích và chết chóc vẫn là hiện thực trong tương lai gần, người dân địa phương sẽ cần một tư duy “kiểu Israel” để tồn tại.

“Nước Nga sẽ không tự biến mất. Chúng tôi phải làm quen với việc sống chung với một gã hàng xóm điên rồ”.

FB CÙ TUẤN

– dịch từ The Economist.

TRẦN GIAN MỘT KHÚC

Lê Hoàng Nam

TRẦN GIAN MỘT KHÚC

Con người ta sinh ra, ai thoát khỏi: sinh, lão, bệnh, tử?

Sinh, Trụ, Hoại, Diệt là định luật của tạo hóa, không có cách chi thay đổi được. Cây cối đâm chồi nẩy lộc vào muà xuân, xanh tốt sum suê trong mùa hè, lá héo vàng vào mùa thu, đến mùa đông thì lá vàng rơi rụng, chỉ còn trơ trụi cành cây. Rồi tới mùa xuân năm sau, cây lại đâm chồi nảy lộc. Cái chu kỳ sinh, trụ, hủy, diệt cứ tiếp nối nhau, không ngừng nghỉ.

Ðời người là bể trầm luân, cõi thế gian đầy những ưu tư phiền não. Vạn vật đều bị chi phối bởi luật vô thường. Vừa mới sinh ra cất tiếng khóc oa oa chào đời. Rồi lớn lên, bước vào đời với bao nhiều mộng đẹp. Thoắt một cái, mái tóc đã điểm sương, mắt đã mờ, lưng đã mỏi, hai chân đã chậm chạp. Rồi cuối cùng, là hai tay buông xuôi, đi vào lòng đất, bỏ lại trên thế gian tất cả các thứ mà cả đời phải bôn ba vất vả mới làm ra được.

Ðời người như giấc mộng. Người ngoại quốc cũng có câu: “Life is too short”. (cuộc đời quá ngắn ngủi). Thế mà, con người ta khi còn sức khỏe thì mãi mê kiếm tiền, lo củng cố địa vị, danh vọng, không có thì giờ để hưởng đời đúng nghĩa.

Cũng ít ai sửa soạn tâm tư để đón nhận những cái vô thường của tuổi già. Ðến khi mái tóc đã điểm sương, da đã nhăn, mắt đã mờ, chân đã chậm thì mới giật mình, rồi buồn phiền, thất vọng, nuối tiếc. Khi đó, bao nhiêu tiền của cũng trở thành vô dụng. Ăn uống thì phải kiêng thứ này, cữ thứ kia vì đường lên cao, cholesterol lên cao. Ăn đồ cứng không được vì hàm răng cái rụng, cái lung lay. Ði chơi xa thì không dám vì sức khỏe kém, đầu gối đau nhức. Nghe nhạc, xem phim cũng không được vì tai đã nghễnh ngãng, mắt đã kèm nhèm.

Người Việt Nam mình vốn cần kiệm, chăm làm, chắt bóp để có của ăn của để. Làm việc thì liên miên quên cả cuối tuần, bất kể ngày lễ hay ngày Tết. Làm thì nhiều, mà ít dám vui chơi hưởng thụ như người Âu Mỹ. Suốt đời cặm cụi, nhịn ăn nhịn mặc, để dành, mua cái nhà cái cửa để một mai khi chết thì để lại cho con cháu. Sống như vậy quả là thiệt thòi.

Người xưa đã nói:

Một năm được mấy tháng xuân,

Một đời phỏng được mấy lần vinh hoa.

Và:

Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng chơi

Bo bo giữ lấy của trời làm chi.

Bẩy mươi chống gậy ra đi,

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi.

Con người có tham vọng, có nhu cầu nên mới bon chen. Suốt đời cứ miệt mài lo tìm kiếm những thứ vô thường mà quên mất chữ “nhàn”. Những thứ vô thường này là nguyên nhân đưa đến lo âu, căng thẳng, mất ăn, mất ngủ. Và nếu kéo dài có thể đưa đến bệnh tâm thần.

Ông Cả ngồi trên sập vàng,

Cả ăn, cả mặc, lại càng cả lo.

Ông bếp ngồi cạnh đống tro,

Ít ăn, ít mặc, ít lo, ít làm.

Ðời người sống mấy gang tay,

Hơi đâu cặm cụi cả ngày lẫn đêm.

Hoặc là:

Ăn con cáy, đêm ngáy o..o,

Còn hơn ăn con bò, mà lo mất ngủ.

Người xưa tuổi thọ kém, ngay tới vua chúa cũng chỉ sống tới khỏang 50 tuổi. Tới 60 tuổi đã ăn mừng “lục tuần thượng thọ”. Còn tới 70 tuổi, thì thực là hiếm hoi. Bởi vậy mới có câu: “nhân sinh thất thập cổ lai hy” (tức là, người ta có mấy ai mà sống được tới 70).

Ngày nay, nhờ khoa học tiến bộ. Con người được sống trong điều kiện vật chất vệ sinh, và thoải mái hơn. Những phát minh của ngành Y, Dược đã giúp nhân loại vượt qua được các bệnh hiểm nghèo mà người xưa kêu là bệnh nan y như bệnh lao, bệnh phong cùi, bệnh suyễn. Ngày nay người ta sống tới 80, 90 tuổi không phải là ít. Tuy nhiên sống lâu chưa phải là hạnh phúc. Hạnh phúc là luôn cảm thấy vui vẻ, yêu đời, biết tận hưởng cuộc sống. Muốn vậy thì cần phải giữ cho thân tâm được an lạc.

Tâm thân an lạc là biết vui với những cái trong tầm tay của mình, chấp nhận những điều mình không thể nào tránh khỏi. Sống hòa hợp vui vẻ với mọi người xung quanh, không chấp nhất, tỵ hiềm. Lớn tuổi thì không làm ra tiền, nhưng cũng may, ở những nước tân tiến đều có khoản tiền trợ cấp cho người già để có thể tự lực mà không cần nhờ cậy vào con cháu. Các cụ già nên mừng vì sang được xứ này, thay vì ấm ức với số tiền quá khiêm nhượng, không thể tiêu pha rộng rãi như bạn bè. Già thì phải chịu đau nhức, mắt mờ, chân chậm, đừng nên than thân trách phận, cau có, gắt gỏng, đã không làm được gì hơn mà còn tạo sự áy náy, thương cảm cho những người xung quanh.

Ở đời mỗi người một cảnh, vui với cảnh của mình, không suy bì, thèm muốn, ganh ghét với những người xung quanh.

Biết đủ thì đủ (Tri túc, tiện túc hà thời túc).

Người ta bảo trên 60 tuổi, mỗi ngày sống là một phần thưởng cho thêm (bonus) của Thượng Ðế.

Vậy:

Hãy nên vui vẻ, tận hưởng những ân sủng mà không phải ai cũng có được. Ðời sống của mình vui tươi hay buồn thảm là tùy thuộc vào thái độ của mình đối với cuộc sống.

Gia Nguyễn chia sẻ từ Ngô Phan Lưu 

“Còng lưng hay Gù Lưng Mà Sống!”- TẠP GHI HUY PHƯƠNG

Van Pham

 

 

 

 

 

 

 

 

 

“Còng lưng hay Gù Lưng Mà Sống!”- TẠP GHI HUY PHƯƠNG

Nhà Thờ Đức Bà tại Paris, Pháp (Notre Dame de Paris) trong đại tác phẩm của Victor Hugo có một nhân vật là “Thằng Gù Nhà Thờ Đức Bà”. Bây giờ ở Việt Nam, rất ít người bị gù lưng vì cố tật mà thảy đều bị gù lưng vì thời đại, chẳng qua là vì cúi lưng, lom khom quá độ, lâu ngày biến thành tật, mà không ai biết mình đang bị gù lưng.

Cô Nguyễn Phương Mai là phó giáo sư tiến sĩ chuyên ngành giao tiếp và quản trị đa văn hóa, hiện đang giảng dạy tại Đại Học Khoa Học Ứng dụng Amsterdam, Hòa Lan, cho rằng cô chưa mất niềm tin vào tương lai của chính mình ở Việt Nam, nhưng cô lại nói:

– “Nếu quay trở lại Việt Nam sống và hàng ngày phải đối mặt với những cái khó khăn, những điều chướng tai gai mắt, phải gù lưng mà sống thì chưa chắc tôi đã về, nghĩa là tôi cũng lại mất niềm tin!”

Vậy ai là những người phải “gù lưng mà sống” trong xã hội này?

Dù không sợ, người ta phải khom lưng xuống để tỏ ra mình biết sợ, để được sống còn, sống yên và sống hèn….

Trong đoản văn “Người việt nam hèn hạ” của một người trẻ tuổi có tên Phan Hân (chữ việt nam không viết hoa), đã mô tả xã hội bây giờ là một “cuộc chiến đó là rình mò, là theo dõi, là cấm cản, là kiểm duyệt, là vu cáo, là bắt bớ, là dùi cui, là tù đày, là chết không lý do, là bị bịt miệng tại tòa, là con cháu theo lời lãnh đạo cầm gậy gộc ra ngoài đồng ức hiếp ông bà cha mẹ chòm xóm của mình vì họ đang giữ đất!”

Ai cũng mong có “một ngày yên ổn làm ăn, không bị cán bộ thuế đến nhũng nhiễu, không bị cảnh sát giao thông thổi phạt kiếm ăn, không bị đội dân phòng rượt đuổi, không bị ông chủ đẩy vào toa-lét để sờ soạng, không bị cắt tiền tăng ca, không bị cho ăn cơm thiu ngộ độc, không bị bệnh đột ngột phải vào bệnh viện nằm gầm giường chờ chết…

Vậy thì còn ai dám đứng thẳng?

Cũng có người không biết mình còng lưng, vì nhìn chung quanh, lưng ai cũng còng. Ở đâu cũng nhìn thấy thái độ của kẻ đi xin (dân) và người có quyền ban phát (đảng-chính quyền.) Cái đáng là mình được quyền làm, quyền có thì lại là một thứ ân huệ, mà trong đất nước này ân huệ ban từ trên xuống, cũng không bao giờ ai cho không mà được trả bằng tiền, quà cáp, sức lực và cả nhân cách của con người.

Nhất nhất điều gì người dân cần làm đều phải qua tay nhà cầm quyền, cũng phải xuống xã xin con dấu, như người dân cần vay tiền ngân hàng, trẻ con sinh ra làm giấy khai sinh, hồ sơ đi làm ăn xa, gia đình hộ nghèo đi bệnh viện giải phẫu, xuống xã nhận tiền “hộ nghèo…”

Có hai thứ “còng lưng,” một là còng lương để tồn tại, như lời Nguyễn Tuân: “Tôi sống được là nhờ biết sợ!” Hai là còng lưng vì “sưu cao thuế nặng.” Không khác gì thời thực dân, phong kiến mà ông Lê Văn Cuông – cựu đại biểu Quốc Hội cũng xót xa: “…Mùa sưu thuế hãi hùng ở Hậu Lộc cho thấy đang có sự xuất hiện trở lại của bộ phận cường hào, ác bá thời phong kiến ở nông thôn trong thời kỳ văn minh.”

Nông dân tên Dương, ở Nam Đàn, tỉnh Nghệ An cho biết trong vụ thu hoạch Hè Thu vừa qua gia đình anh phải nộp tất cả 20 loại thuế, trong đó có những loại thuế, phí nhà nước cũng như tỉnh không quy định mà chính quyền huyện, xã lại đề ra và bắt dân phải nộp kiểu “phép vua thua lệ làng.”

Nặng nhất là khoản xây dựng nông thôn mới, mỗi người phải đóng gần 1 triệu/1 năm. Đó là đóng góp nghĩa địa, thu thủy lợi, trả công bảo vệ hoa màu, quỹ thiếu niên nhi đồng, quỹ văn hóa làng-thể thao, quỹ khuyến học, quỹ điện sáng nhà văn hóa, quỹ an ninh xã hội, quỹ an ninh thường xuyên làng, quỹ chữ thập đỏ… Nhiều thứ đóng rõ ràng là phi lý.

Báo chí Việt Nam kể một câu chuyện người dân khốn khổ: “…do không đóng đủ tiền giao thông nông thôn, một chị nông dân đã bị chính quyền thôn, xã đến cưỡng bức bắt con bò mới mua để cày ruộng, sau đó bán cho người khác. Con chị đó đến ngăn thì bị họ đánh, phải đi bệnh viện.”

Ở Hải Lộc, Hậu Lộc “có gia đình còn bị ‘tổ công tác đặc biệt’ bốc mất mấy tấm ván canh.” Tấm ván canh là gỗ mua sẵn dành cho người già chết thì đóng quan tài. Cái thời 31 năm về trước, trương tuần của “Cái đêm hôm ấy… hôm gì?” chỉ trấn lột thóc, để lại cái áo quan cho mẹ nhà văn Phùng Gia Lộc, xem ra vẫn còn nhân đạo hơn bọn cường hào mới bây giờ lấy cả tấm ván canh lo hậu sự của người già.

Thời này trâu bò ra đồng ăn cỏ, vịt xuống ao rỉa cá cũng phải thuế. Bọn cầm quyền nghĩ cách thu thuế, “nhổ lông sao cho vịt khỏi kêu.” Rồi đây đến cái điện thoại cầm tay cũng phải đóng thuế. Việt Nam hiện có 72,300,000 cái cell phone, đứa nào nghĩ ra chuyện “nhổ lông vịt” này quả là siêu đẳng.

Ra đường thì có công an giao thông thổi còi kiếm ăn mỗi ngày, tài xế đi xa thì có B.O.T. chặn đường thu “mãi lộ,” lưng thằng dân chất chồng bao nhiêu thứ thuế, không gù mới là chuyện lạ.

Có con đi học, xin còng lưng thêm tí nữa! Cho con đến trường là một nỗi khổ của cha mẹ phải đóng hàng chục thứ “phí.”

“Mức đóng góp đầu năm dành cho khối học sinh lớp 1 hơn 7.5 triệu đồng với 22 khoản thu: tiền bán trú, tiền ghế, tiền áo đồng phục, tiền sách mua nhà trường, tiền kỹ năng sống, tiền chữ thập đỏ, tiền quỹ đội, tiền học tiếng Anh, tiền quỹ hội cha mẹ học sinh, tiền xã hội hóa giáo dục, tiền ngoại khóa, tiền vệ sinh nhà trường, tiền trông trẻ (dạy buổi chiều,) tiền hỗ trợ nhà bếp, tiền giấy kiểm tra, tiền vệ sinh lớp học, tiền quỹ lớp, tiền phô tô, tiền máy chiếu, tiền điều hòa, tiền bảo hiểm y tế…”

“Lên đến lớp 4, lại thêm các loại tiền đóng: Tiền xã hội hóa, tiền bảo trì máy tính, tiền quỹ hội cha mẹ, tiền thuê trực nhật, tiền vệ sinh trường, tiền nước uống, tiền giấy vệ sinh, tiền hoạt động ngoại khóa, tiền bổ sung đồ dùng bán trú, tiền học buổi chiều và hỗ trợ trông trưa, tiền học kỹ năng sống, tiền quỹ lớp, tiền chữ thập đỏ, tiền quỹ đội, tiền giấy thi… Nhiều gia đình không chịu nổi phải cho con nghỉ học.”

Không biết chính phủ sinh ra để làm gì, và thu thuế để phục vụ ai? Thu thuế để xây dựng đảng, như thế đảng càng mạnh, thì dân càng phải gù lưng hơn nữa! Những ai làm ăn, kinh doanh dưới chế độ Cộng Sản chắc đã biết chuyện nhịn nhục, nói cười cho qua chuyện để chúng ta cùng có lợi, đôi khi phải quên cả nhân cách của mình, có tiền bạc rủng rỉnh, nhưng đêm nằm nghĩ lại có hổ thẹn hay không?

Trong một xã hội, buổi sáng ra khỏi nhà, gặp thằng công an khu vực, trong lòng khinh nó, mà cũng phải chào hỏi. Đến sở làm việc với thằng thủ trưởng dốt nát, tham ô, phe cánh, kinh tởm mà cũng phải thưa dạ, bác cháu, anh em. Buổi chiều không muốn đi nhậu mà cũng phải làm ra vẻ sốt sắng, chén chú, chén anh, cho ra phe mình. Cái thời buổi “thẳng thắn, thật thà, thương thua thiệt,” ai mà dám đứng thẳng lưng, đôi khi phải sống giả dối, quên mình, nên cái lưng gù xuống lúc nào không hay!

Vậy mà người ta không biết quý khi được sống trong một xã hội, mà thấy cái lưng mình còn thẳng!

 HOA QUẢ THỨ 7: Trung Tín – Cha Vương

 HOA QUẢ THỨ 7: Trung Tín – Cha Vương

Chúc bạn ngày nghỉ lễ Memorial Day thật zui zẻ và an lành nhé. Đừng quên cầu nguyện cho những linh hồn của những người đã hy sinh bảo vệ quốc gia Hoa Kỳ và nền tự do mà bạn đang tận hưởng.

Cha Vương

Thứ 2: 30/05/2022

TIN MỪNG: Phúc thay người biết kiên trì chịu đựng cơn thử thách, vì một khi đã được tôi luyện, họ sẽ lãnh phần thưởng là sự sống Chúa đã hứa ban cho những ai yêu mến Người. (Gc 1,12)

HOA QUẢ THỨ 7: Trung Tín— Trung tín là sự hiện hữu đúng với con người và sự việc. Bạn giữ vững lập trường cho dù khó khăn xảy đến. Sự trung tín là niềm tin vững mạnh được thử thách theo thời gian. Bạn dấn bước lên đường và sẽ tiếp tục hành trình ấy dù có khi bạn muốn dừng lại hoặc bị phân tâm.

SUY NIỆM: Bạn có biết không? Mọi ơn lành và mọi phúc lộc hoàn hảo đều do từ trên, đều tuôn xuống từ Cha là Đấng dựng nên muôn tinh tú; nơi Người không hề có sự thay đổi, cũng không hề có sự chuyển vần khi tối khi sáng. (Gc 1;17) Đối Chúa không gì thay đổi nhưng lòng người lại hay đổi thay vì Ngài là Chân lý, đồng thời Ngài cũng là Tình Yêu. Vì là Tình yêu, Ngài muốn thông ban chính mình cho bạn ; Ngài yêu thương bạn, vì thế Ngài  không muốn lường gạt ai cả. Lòng trung tín của Thiên Chúa phải trở thành nền tảng cho đời sống của người Ki-tô hữu. Xã hội ngày nay đang đương đầu với căn bệnh “giả dối, dối trá”. Con người tìm đủ mọi thủ đoạn đề tìm lợi tức cho riêng mình.  Căn bệnh này đang được báo động ở vị trí đỏ. Điều này nhắc nhở cho bạn về sự rất cần thiết của lòng trung tín, không những đối với Chúa mà còn đối với tha nhân nữa. Trong đời sống xã hội, lòng trung thành với lời cam kết rất quan trọng: sự bền vững của các mối tương quan đặt nền tảng trên sự trung thành của mỗi phần tử. Điều này đòi hỏi những nghĩa vụ hỗ tương. Mình phải có nghĩa vụ trung thành với điều đã cam kết, và phải cư xử thế nào để người khác có thể tin tưởng vào mình . Đồng thời, bạn cũng hãy tin tưởng nơi người khác, dựa trên lòng thành thực và tốt lành của họ. Thái độ này sẽ nảy sinh ra một sức mạnh nội tâm để giúp bạn đứng vững với lập trường của mình trước những khó khăn và thử thách trong đời.

LẮNG NGHE: Đừng sợ các nỗi đau khổ ngươi sắp phải chịu: này ma quỷ sắp tống một số người trong các ngươi vào ngục để thử thách các ngươi; các ngươi sẽ phải lâm cảnh gian truân trong vòng mười ngày. Hãy trung thành cho đến chết, và Ta sẽ ban cho ngươi triều thiên sự sống. (Kh 2,10)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, xin giúp con biết lắng nghe tiếng gọi của lương tâm chân chính để con sống trung thành với Chúa, trung thành với lề luật, trung thành với những quyết định mà con đã lựa chọn trong ơn gọi làm Kitô hữu, xin cho con biết đáp lại lời mời gọi của Chúa: “Hãy từ bỏ mọi sự, vác thập giá đi theo Chúa”.

THỰC HÀNH: Một người trung tín không bao nói xấu bạn mình sau lưng người khác. Tránh nói xấu hôm nay nhé.  

From: Đỗ Dzũng

Bộ trưởng Trần Hồng Hà “hô biến” sân vận động và cánh đồng thành “bể chứa nước”?

Bộ trưởng Trần Hồng Hà “hô biến” sân vận động và cánh đồng thành “bể chứa nước”?

Mai Bá Kiếm

30-5-2022

TP.HCM: SÁNG KIẾN CHỐNG NGẬP BẰNG LU!

Năm 2019, PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân – đại biểu HĐND TP.HCM, hiến kế khi trời mưa, mỗi nhà hứng một lu nước sẽ góp phần làm giảm ngập cho TP.HCM. Mạng xã hội có dịp châm biếm, cười bể bụng vì sặc nước!

Sau đó, PGS.TS Hồng Xuân thanh minh thanh nga với Tuổi Trẻ: “Tôi dùng từ ‘cái lu’ vì muốn nhấn mạnh ở khía cạnh tri thức bản địa, theo phương diện dân gian, nhưng mọi người lại đẩy câu chuyện quá xa. Vì các chuyên gia JICA (Nhật) cho rằng nếu TP.HCM vận động mỗi hộ gia đình xây một bể chứa nước 1m3 sẽ góp phần làm giảm ngập”!

Bà Hồng Xuân chuyền “trái banh sáng kiến” sang JICA, tăng thể tích từ lu lên bể 1 mét khối. Tiếc quá, phải chi bà Xuân đề nghị mua lu từ năm 2015, thì năm 2016, TP.HCM không khởi công xây đê bao diện tích 570km2 và các cống ngăn triều ở hữu ngạn sông Sài Gòn, tốn 10.000 tỷ đồng mà vẫn trễ hẹn 4 năm, chưa hoàn thành!

Sau khi xây đê chống ngập xong, Sài Gòn sẽ không ngập trong nhiều thế kỷ, nhưng ở thiên kỷ sau, Sài Gòn sẽ giống y Hà Nội. Đáy sông Sài Gòn và Đồng Nai, Soài Rạp sẽ bị bồi lắng như sông Hồng (đáy sông Hồng cao bằng mặt đường Hà Nội).

BỂ CHỨA VÀ HỆ THỐNG THOÁT NƯỚC MƯA THI CÔNG KHI KHỞI ĐẦU ĐÔ THỊ HÓA!

Khoảng năm 1993, TP.HCM tổ chức Hội thảo về “Nhà ở và môi trường” tại Dinh Thống Nhất. Một TS của Singapore cho biết, cuối thập niên 1960, Singapore thi công hạ tầng đô thị, với hệ thống mương hở thoát nước mưa, nắp bằng lưới thép (thoát nước nhanh và nhiều hơn hố ga thu nước). Nước mưa được gom về các bể chứa lớn, lọc thành nước sinh hoạt, và hệ thống cống kín thoát sinh hoạt, cũng được lọc thành nước tưới.

Khi người dân muốn xây nhà phải xin phép Cục thoát nước trước. Cục thoát nước sẽ cho mật độ xây dựng và cốt cao trình theo từng lưu vực dốc hay phẳng. Mục đích phải chừa đủ đất để nước mưa thẩm thấu xuống lòng đất, và cốt cao trình sẽ không cản dòng nước mưa chảy trên bề mặt. Sau khi Cục Thoát nước cấp các tiêu chí thoát nước, Cục Xây dựng mới cấp phép xây dựng.

THĂNG LONG NGÀN NĂM LẤY SÂN VẬN ĐỘNG VÀ CÁNH ĐỒNG LÀM BỂ CHỨA?

Khác với Singapore trẻ trung, xây bể chứa ngầm từ lúc đô thị hóa. Thăng Long đắp đê sông Hồng chống ngập từ thời Hai Bà Trưng! Đến thời Pháp, họ xây dựng Hà Nội còn chừa mấy trăm hồ lớn tích nước. Nay, nhiều hồ bị san lấp, lấn chiếm, mặt đường Hà Nội bằng đáy sông Hồng. Việc xây các bể chứa ngầm tích nước mưa và dùng cho mùa khô như Nhật là cực khó và tốn kém!

Vậy mà, bộ trưởng Tài – Môi Trần Hồng Hà, nói dễ như trở bàn tay: “Lấy sân vận động, trường học, cánh đồng làm bể chứa“. Theo “quy luật nước chảy về chỗ trũng”, các sân vận động phải thấp hơn mặt đường Hà Nội, thì nước mới tự chảy về đó được!

Các cánh đồng đương nhiên thấp hơn mặt đường, nhưng học sinh lớp 8 cũng biết theo “nguyên tắc bình thông nhau” mực nước trên các con đường sẽ bằng với mực nước trên cánh đồng, thì cánh đồng đã là bể chứa rồi?

Hà Nội và Tokyo “không cùng hàm lượng” về tri thức, khoa học, kỹ thuật, tài chính… mà ông Trần Hồng Hà vẫn khoái so sánh nhau: “Trong trường hợp thời tiết cực đoan hơn nữa thì phải có phương án xây dựng hệ thống để trữ nước. Như Nhật Bản có khu vực ngầm được bố trí, gọi là hầm chứa lớn ở dưới, vừa giữ lượng nước, vừa dự trữ nước để khi hạn hán thì sử dụng tưới cây.

Hoặc tại các trường học, sân vận động, cánh đồng, nếu có thể điều chỉnh van trong hệ thống để dẫn nước vào những nơi này, trở thành nơi chứa nước tạm thời để tránh ngập cho những nơi xung yếu”. Đọc đoạn cuối này, tôi biết ông Hà không hiểu “quy luật nước chảy về chỗ trũng” và “nguyên tắc bình thông nhau”!

Nước Mỹ nhiều súng quá! (VOA)

Nước Mỹ nhiều súng quá!

26/05/2022

Vụ thảm sát tại Uvalde là vụ án mạng trong trường học nặng nề nhất sau vụ tàn sát 20 học sinh tiểu học ở Sandy Hook, tiểu bang Connecticut năm 2012.

Nhưng chỉ có ở nước Mỹ họ có thể mua súng dễ dàng. Sau sinh nhật đủ 18 tuổi, Ramos đã đi mua hai khẩu súng máy AR-15. Nước Mỹ có 332 triệu dân, với 400 triệu khẩu súng trong tay tư nhân.

Trong năm 2021, cảnh sát Anh bắn chết hai người, cảnh sát Mỹ bắn 1,055 người, theo tuần báo The Economist. Số người chết chênh lệch như vậy – dù dân số Mỹ chỉ đông gấp bốn lần – vì phần lớn cảnh sát Mỹ phải đương đầu hoặc lo lắng họ đang phải đương đầu với những thường dân mang súng. Trong năm 2020, 45,000 người Mỹ chết vì súng; nhiều hơn số người chết vì tai nạn xe hơi. Số các vụ sát nhân ở Mỹ cao gấp 4, 5 lần ở các nước tiên tiến khác. Ở nhiều tiểu bang trong nước Mỹ, xin một con chó về nuôi bị nhiều luật lệ kiểm soát hơn là mua súng.

Mười ngày sau vụ Payton Gendron vào một siêu thị bắn chết 10 người da đen ở Buffalo, New York, Salvador Ramos dùng một khẩu súng tự động AR-15 vào một lớp học ở Uvalde (đọc là Yu Van Đi), Texas, bắn chết 19 học sinh lớp 4 và 2 cô giáo. Nhiều xác trẻ em nằm chất đống trên nhau. Cả hai thủ phạm đều 18 tuổi. Khoảng 30 phút trước khi ra tay, Ramos đã viết trên mạng báo trước sẽ bắn bà ngoại rồi đi bắn ở một trường tiểu học. Bà cụ may mắn chỉ bị thương.

Nhiều vụ bắn giết ở Mỹ không được mấy người chú ý. Theo tin Reuters cũng trong ngày 24 tháng 5, ba học sinh một trường tiểu học ở Washington D.C. bị thương vì súng bắn. Ngày hôm trước, ba học sinh trung học ở Philadelphia cũng may mắn thoát chết như vậy. Tuần trước, ba vụ nổ súng trong lễ bế giảng tại các trường ở tiểu bang Michigan, Louisiana và Tennessee. Từ đầu năm đến nay gần như ngày nào cũng xảy ra một vụ bắn giết, tổng công 137 lần, so với 249 vụ trong cả năm ngoái.

Salvador Ramos không tìm giết người vì kỳ thị chủng tộc như Payton Gendron. Cậu hận đời vì lớn lên luôn luôn bị bạn bè chế nhạo về tật nói lắp, đi học bị bắt nạt, không thể chịu được cả bà mẹ mình, sống với ông bà. Khắp thế giới không thiếu gì những thanh niên bất mãn với đời như vậy. Không ai có thể biết trước và ngăn cản được họ không hành động giết người để tự sát. Nhưng chỉ có ở nước Mỹ họ có thể mua súng dễ dàng. Sau sinh nhật đủ 18 tuổi, Ramos đã đi mua hai khẩu súng máy AR-15. Nước Mỹ có 332 triệu dân, với 400 triệu khẩu súng trong tay tư nhân.

Đây là vụ án mạng trong trường học nặng nề nhất sau vụ tàn sát 20 học sinh tiểu học ở Sandy Hook, tiểu bang Connecticut năm 2012. Năm 2018, 17 học sinh trung học bị giết ở Parkland, Florida. Năm 2017, 26 người bị bắn chết trong một nhà thờ ở Sutherland Springs, Texas… Năm nay, một người đàn ông 68 tuổi vào một nhà thờ ở Laguna Woods, California, bắn chết một tín đồ đang dự lễ. Năm 2018, một học sinh 17 tuổi vào một trường trung học ở Santa Fe, Texas giết 10 người. Năm sau, 23 người bị bắn chết trong một cửa hàng Walmart tại El Paso, Texas.

Hội Súng Toàn Quốc (NRA) luôn luôn bảo vệ quyền mua súng. Mỗi năm bầu cử quốc hội họ chi tiêu hàng triệu mỹ kim vận động cho các nhà chính trị cùng quan điểm. Họ nhắm triệt hạ các người muốn hạn chế việc bán súng, bằng cách moi móc các chuyện khác trong cuộc đời các ứng cử viên mà không cần nói gì đến súng.

Hội NRA và những người ủng hộ súng vẫn biện minh rằng “Súng không giết người! Người giết người!”

Nhưng nếu trong tay dân Mỹ không có sẵn súng thì không nhiều người bị bắn chết như vậy. Những kẻ trộm cắp không có súng thì khó giết người. Vợ chồng cãi cọ cũng không gây nên án mạng nếu không có sẵn súng. Có súng, người ta tự tử dễ dàng hơn. Các vụ sát nhân ở Mỹ cao gấp 4, 5 lần các nước tiên tiến khác.

Nước Mỹ cần áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, như các nước khác. Ai mua một khẩu súng đều phải được giấy phép, sau khi điều tra lý lịch. Mua một khẩu súng phải được ghi danh, gia hạn hàng năm, như khi mua xe hơi. Tư nhân không cần phải mang súng, nhất là loại súng tự động giết hàng loạt.

Ở Anh quốc, sau vụ bắn chết 16 người ở Hungerford năm 1987 bằng súng AK-47 của Trung Cộng, cả nước kinh hoàng. Năm sau, Thủ tướng Margaret Thatcher đã ủng hộ một đạo luật cấm các loại súng tự động. Một vụ tàn sát 16 học sinh và thầy giáo ở Scotland bằng súng ngắn năm 1996 đưa tới các luật lệ gắt gao hơn. Chính phủ đã mua lại hàng chục ngàn khẩu súng của tư nhân. Từ năm 2005, sau khi lên cao nhất, số vụ bắn giết đã giảm bớt.

Ở Australia, sau khi 35 người bị giết ở Tasmania bằng súng AR-15 năm 1996, chính phủ John Howard đã hợp tác với các tiểu bang hạn chế quyền sử dụng súng tự động. Trong một năm, họ đã mua lại 650,000 khẩu súng; từ đó các vụ bắn chết người cũng giảm.

Tại New Zealand năm 2019, hai giáo đường Hồi Giáo bị bắn, 51 người thiệt mạng. Thủ tướng Jacinda Ardern kêu gọi và toàn thể quốc hội thông qua đạo luật cấm tất cả các loại súng tự động. Trước đó, trong dân số 5 triệu người có 250,000 giữ súng.

Tháng Tư năm 2020, một người Canada mặc giả đồng phục cảnh sát bắn giết 22 người trong 13 tiếng đồng hồ tại tỉnh Nova Scotia. Thủ tướng Justin Trudeau đã ban hành lệnh cấm 1,500 loại súng máy, kể cả AR-15.

Nhưng với thế lực rất mạnh của Hội Súng Toàn Quốc NRA, nước Mỹ khó lòng kiểm soát súng chặt chẽ như các nước khác.

Ngày Thứ Sáu này, NRA sắp họp đại hội ở Houston, Texas. Cựu Tổng thống Donald Trump và ông Thống đốc Greg Abbott sẽ tới dự. Các vị khách quý này có thể yên tâm đọc diễn văn. Vì cơ quan Mật Vụ có nhiệm vụ bảo vệ các vị cựu tổng thống, sẽ kiểm soát phòng họp bằng máy đo từ tính (magnetometers). Và họ đã ra lệnh cấm không ai được mang súng vào hội trường, những loại súng bắn tia laser, bắn hơi cay và kể cả súng đồ chơi của trẻ em. Người tham dự cũng không được mang túi đeo vai.

Nếu các trường học đều được kiểm soát kỹ như vậy, hy vọng số học sinh bị bắn giết sẽ giảm bớt.

Ngay sau vụ tàn sát ở Uvalde, Steve Kerr, nhà dìu dắt đội bóng rổ Golden State Warriors, đã lên tiếng, trước trận chung kết với đội Mavericks, Dallas. Theo nhật báo The Wall Street Journal, Kerr kêu gọi Thượng viện Mỹ hãy thông qua dự luật hạn chế quyền mua súng. Dự luật này đã bị ngâm tôm sau khi Hạ viện thông qua và chuyển lên từ năm ngoái. Nhưng Thượng viện Mỹ cần 60/100 lá phiếu ủng hộ, mà 50 nghị sĩ Cộng Hòa đều không đồng ý. Steve Kerr đã gọi đích danh Nghị sĩ Mitch McConnell, thủ lãnh khối thiểu số ở Thượng viện: “Tôi xin hỏi ông Mitch McConnell, quý ông còn tiếp tục đặt tham vọng chính trị lên trên mạng sống của trẻ em, của các cụ già đến bao giờ?”

Một ngày sau vụ tàn sát ở Uvalde, Đức Giáo Hoàng Francis ở xa xôi cũng phải kêu gọi: “Chúng ta phải cam kết với nhau không để cho thảm cảnh này diễn ra nữa. Đã tới lúc chúng ta phải lên tiếng chấm dứt việc buôn bán súng.”

TỪ VỤ KITTEST VIỆT Á, SOI VÀO GỐC VẤN ĐỀ -Chu Mộng Long

Lê Vi

TỪ VỤ KITTEST VIỆT Á, SOI VÀO GỐC VẤN ĐỀ

Chu Mộng Long

Khi Bộ Công an khởi tố vụ án Kittest Việt Á, tôi chỉ hình dung, nhiều lắm thì tóm vài nhân vật điển hình. Nay vụ án lan rộng đến hầu hết các tỉnh thành. Cứ đà này, không chừng phải có nhà tù riêng cho vụ án?

Nhiều người hả hê, riêng cá nhân tôi thật sự đau buồn. Không phải cái đau buồn do “tính nhân văn” hay sự đau xót cho nhiều “tinh hoa” bị nướng trong lò. Tôi đau buồn vì có truy quét hết 64 tỉnh thành liên quan đến Việt Á cũng chưa phải là nhổ tận gốc cái mầm cặn bã trong tinh thần của những kẻ đã quen “ăn không chừa thứ gì”, theo lời bà Phó chủ tịch Doan.

  1. Tôi bắt đầu bằng câu chuyện thật. Tất nhiên, mọi chuyện thật có ý nghĩa phổ quát đều có tính ngụ ngôn. Thời tôi học cấp 2, một lần đi học về ngang qua một ngõ ở một làng nọ, bọn học trò chúng tôi hè nhau bắt một con gà và bị kiểm điểm đến mức suýt bị đuổi học. Đói, chúng tôi tham ăn là có. Thời đó, chỉ tưởng tượng ăn thịt gà đã thấy ngon. Nhưng chúng tôi không dám bắt khi thấy con gà đi lạc giữa đường. Chỉ khi thầy giáo đi cùng đường thách: “Tụi mày bắt được con gà này mới giỏi. Bắt được đem về nhà tao, tao cho nhậu một bữa!” Thầy mà bảo như ra lệnh, mẹ nó, sợ gì không bắt? Thế là chúng tôi ném sách vở sang vệ đường, và hò nhau bắt. Nhưng khi vừa tóm được con gà thì chủ nhân xuất hiện và tóm chúng tôi. Bất ngờ, thầy giáo mắng chúng tôi và đưa chúng tôi về trường kiểm điểm. Thế là có khai thầy giáo ra lệnh thì cũng chẳng ai tin…
  2. Bây giờ các bạn hình dung về vụ án Việt Á. Nếu không có ai đó hô hào, rằng trong đại dịch, so với toàn cầu, ta là hình mẫu chống dịch, là cường quốc kittest, là cường quốc vaccine thì đã không có dự án khoa học về kittest, về nghiên cứu vaccine. Lại có chỉ tiêu thúc bách, rằng phải kịp thời, khẩn trương, nếu không có sự thúc bách như vậy thì đã không có chuyện chỉ trong vòng mấy tháng, dự án đã phải nghiệm thu. Và lại, nếu không có danh hiệu, huân chương trao gấp gáp để cổ động, thì đã không có sự tự tin đến mức, không làm kịp, thậm chí không làm ra được thì làm giả để đối phó. Hậu quả là cứ nhập của người rồi biến thành của ta để ra sản phẩm và tiêu thụ sản phẩm. Trong không khí bừng bừng của tinh thần diệt dịch, nếu có ý kiến hoài nghi thì có thể bị trấn áp, chụp mũ ngay lập tức. Vậy thì hậu quả tiếp theo, như cái đám trẻ con của chúng tôi trên kia, mẹ nó, sợ gì không thi đua tiêu thụ cho hết sản phẩm mà chủ trương đã đặt ra? Ăn hoa hồng chỉ là chuyện nhỏ, chuyện thường ngày, có xảy ra điều gì thì cái anh chủ trương, giống như anh thầy trên kia, gánh chịu trách nhiệm chứ?

Tôi đồng cảm sâu sắc với các cán bộ khi bị tóm đã bưng mặt khóc hu hu, vì cũng như khi tham gia bắt con gà, chúng tôi cũng từng bưng mặt khóc như vậy.

  1. Từ vụ Việt Á, tôi cứ hình dung có vô số Việt Á trong tất cả các ngành. Ở đây tôi chỉ dám nói về giáo dục, lĩnh vực mà tôi có 30 năm ở trong chăn. Tôi chỉ kể những sự vụ điển hình, còn lại các bạn tự suy rộng ra.

Không biết ở đâu ra có sự áp đặt công chức, viên chức, đặc biệt là giáo viên các cấp phải đạt chuẩn tiếng Anh? Sự đòi hỏi từ trên trời rơi xuống này thúc giục các trung tâm, các trường đại học ào ạt tổ chức thi và cấp chứng chỉ. Vậy là chỉ trong một thời gian ngắn, không cần một lộ trình đào tạo, bồi dưỡng bài bản, bất chấp nhu cầu công việc và xã hội, hầu hết tất cả các công chức, viên chức, đặc biệt là giáo viên, có ngay chứng chỉ tiếng Anh theo yêu cầu để nộp vào hồ sơ. Trong khi, theo tôi biết, đa số một chữ tiếng Anh bẻ làm đôi cũng không biết. Thử tính toán số tiền thu được từ cách thi cử kiểu này là bao nhiêu so với phi vụ làm đề tài và chi hoa hồng của Việt Á?

Các loại đào tạo liên thông, đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ, kể cả các loại văn bằng chứng chỉ khác như Tin học, Chính trị, giữ, nâng hạng ngạch đều có tình trạng tương tự. Cứ trên hô với chủ trương và chỉ tiêu nào đó thì dưới ứng rất kịp thời, bất chấp chất lượng. Bằng cấp, chứng chỉ được sản xuất nhiều hơn giấy lộn nơi bãi rác. Tôi hình dung, hồ sơ về bằng cấp, chứng chỉ ở xứ này là một bãi rác khổng lồ gây ô nhiễm các công sở.

Sự vụ nổi bật gần đây, khi Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trương làm nghiên cứu sinh, ứng cử Phó giáo sư, Giáo sư, kể cả xếp hạng đại học, phải có bài báo quốc tế. Chuyện gì xảy ra khi có chủ trương này? Thì báo chí vừa phanh phui có hàng trăm bài báo đăng trên các Tạp chí giả mạo, viết thay, viết thuê bài báo đấy! Nhiều trường đại học trích quỹ thưởng hàng trăm triệu đồng cho những bài báo như vậy để cổ vũ… gian lận. Bây giờ sự vụ đổ vỡ, không thấy ai chịu trách nhiệm, trong khi trò gian lận này còn khủng hơn Việt Á.

Bộ Công an thử một lần sờ vào các công trình khoa học lưu trữ từ trung ương đến địa phương với hàng triệu công trình, số tiền chi hàng ngàn ngàn tỉ, xem tính chất khả thi đến đâu? Đó là tôi chưa nói đến các dự án cải cách giáo dục, gọi là cải cách nhưng hiệu quả thế nào so với số tiền chi hàng ngàn tỉ?

  1. Cần nhìn thẳng vào sự thật ở xứ này. Khi cái gì không thể làm được bằng năng lực thì đều có thể mua được bằng tiền. Các chủ trương, chỉ tiêu đưa ra bất chấp năng lực thực tế, bất chấp nhu cầu xã hội thì chỉ có thể đối phó gian dối. Giáo viên không có thời giờ học tiếng Anh, nhưng khi yêu cầu bắt buộc phải có chứng chỉ tiếng Anh thì họ chỉ có thể chạy chứng chỉ tiếng Anh. Nghiên cứu sinh, ứng cử viên Phó giáo sư, Giáo sư không có khả năng viết bài báo quốc tế, nhưng khi buộc phải có bài báo quốc tế thì họ chỉ có thể chạy bài báo quốc tế, hoặc làm giả…

Điều này đã thành hệ thống trong giáo dục. Trên sao thì dưới vậy. Chỉ tiêu 90, 99% học sinh khá và giỏi hay đậu tốt nghiệp, thì bằng mọi giá sẽ có ngay, bất chấp học sinh có năng lực thực hay chỉ là danh hiệu giả!

Người ta chỉ nhìn thấy cái lợi của thành tích để khoe như khoe hàng mã mà không thấy được tác hại chết người của cuộc chạy đua không phải bằng năng lực mà bằng tiền này. Khỏi cần phải nói lại, rằng bệnh thành tích kích thích sự hám danh, hám lợi trong tâm lý của dân, làm rối loạn và lũng đoạn xã hội của giới có tiền, có quyền. Ở đây, tôi gọi là “tác hại chết người” vì cái trò này từng gây chết người thật. Đọc tài liệu và nghe các nhân chứng kể về cải cách ruộng đất, chúng ta nhớ xem từng có bao nhiêu người chết oan vì chủ trương và chỉ tiêu đưa ra trong đấu tố địa chủ? Nhà người ta chỉ có con bò và vài sào ruộng công cũng xếp vào địa chủ cho đủ chỉ tiêu thì đúng là họ phải chết vì chỉ tiêu và thành tích!

Quay lại chuyện bắt gà thời trẻ con của chúng tôi. Người ta đã xử lý đám trẻ con của chúng tôi vì trực tiếp bắt con gà, trong khi ông thầy hô hào, xúi giục kia thì lại được xem là có công và khen thưởng. Cứ tình hình như vậy thì có tạo ra hàng triệu cái lò cũng không thể đốt hết được rác!

Chu Mộng Long

Đảng quên mất “khúc ruột ngàn dặm” Lê Thị Trang Đài

Đảng quên mất “khúc ruột ngàn dặm” Lê Thị Trang Đài

Jackhammer Nguyễn

29-5-2022

Tân dân biểu Lê Thị Trang Đài. Nguồn: Website nhân vật

Tháng 5 này, tin vui đến với cộng đồng người Việt Nam tại hải ngoại và có thể ở trong nước nữa, là bà Lê Thị Trang Đài, một người Úc gốc Việt đắc cử, trở thành dân biểu liên bang Úc. Bà là người Việt đầu tiên ở Úc đắc cử vào vị trí này.

Chiến thắng của bà Đài (tên trên giấy tờ ở Úc của bà là Dai Le) lại còn có ý nghĩa hơn nữa, khi bà là một ứng cử viên độc lập, không dựa vào bộ máy và thế lực của hai đảng chính trị lớn ở Úc là đảng Lao Động (Labor) và đảng Tự Do (Liberal). Bà Dai Le thắng cử ở khu vực có đông người châu Á, trong đó có nhiều người gốc Việt cư ngụ.

Sau khi đọc tin tức cùng nhiều bình luận trên báo chí Úc về bà Dai Le, tôi tìm đọc tin tức từ báo chí Việt Nam trong nước, do Đảng Cộng sản Việt Nam quản lý, xem họ viết gì. Thường thì các tờ báo lớn đều có một mục đại loại như là Người Việt năm châu, Kiều bào khắp nơi… Thế nhưng, không có một dòng nào nói về bà Dai Le cả!

Còn nhớ, hồi ông Cao Quang Ánh trở thành người Việt đầu tiên trở thành dân biểu liên bang Mỹ, báo Việt Nam trong nước cũng có đôi bài về ông. Thường là khi có người Việt thành công ở đâu đó, trong lãnh vực nào đó, thì báo Việt Nam trong nước có bài. Mà không chỉ những nhân vật khoa học gia, doanh nhân… kể cả các chính trị gia (hoàn toàn khác với giới chính trị của Đảng Cộng sản) cũng được nhắc tới.

Thế sao họ lại không nhắc tới bà Dai Le nhỉ?

Xem kỹ tin tức, tôi đoán là có thể có hai nguyên nhân. Thứ nhất, bà Dai Le là người từng vận động cho lá cờ vàng ba sọc đỏ của nước Việt Nam Cộng hòa, tức là miền Nam Việt Nam trước năm 1975, được công nhận là lá cờ đại diện cho cộng đồng người Việt tại Úc, mà nhà cầm quyền Việt Nam hiện nay ghét cay ghét đắng lá cờ này.

Lý do thứ hai có thể là bà Dai Le thắng cử, sau vụ tháu cáy của ngài đương kim thủ tướng Việt Nam, Phạm Minh Chính. Ông Chính nói với một số người gọi là “kiều bào” tại bờ đông nước Mỹ rằng “thành công của đồng bào Việt Nam tại Mỹ cũng là thành công của đường lối đối ngoại của Đảng và nhà nước Việt Nam” (sic).

Cú tháu cáy của ông Chính dữ dội quá, gây ra phản ứng cũng dữ dội. Một quan sát của BBC Việt ngữ cho thấy, nhóm người Mỹ gốc Việt trung lưu giận dữ, nói ông Chính thấy sang bắt quàng làm họ, rằng chính do đảng Cộng sản Việt Nam giam cầm đày đọa những người Việt Nam Cộng hòa sau năm 1975, để họ phải bỏ nước ra đi, vất vả mưu sinh nơi xứ người. Nay họ thành công thì lại nhào vô nhận vơ.

Cũng theo BBC, những người Mỹ gốc Việt trung lưu này không phải là những người chống cộng cực đoan, họ hiếm khi tham gia các cuộc biểu tình chống các quan chức Việt Nam, cũng ít tham gia vào các hội đoàn chống cộng hải ngoại.

Cú tháu cáy của ông Chính làm cho họ bực mình, đánh thức tinh thần chống cộng truyền thừa từ cha mẹ thuyền nhân, hay tù cải tạo. Lợi bất cập hại quá!

Có lẽ vì thế, sau cú tháu cáy ấy, cơ quan tuyên giáo, vốn chỉ huy toàn bộ báo chí trong nước, ra lệnh phải im lặng chuyện bà Dai Le trúng cử dân biểu Úc chăng? Chứ chẳng lẽ một người vận động cho lá cờ vàng lại là một thành công của Đảng sao!

Cũng có thể ông Chính không tháu cáy mà là ông Chính tưởng thật, rằng người Việt ở Mỹ chỉ toàn là những người ngày xưa phản chiến cả, và bây giờ thì toàn là du học sinh từ trong nước qua. Một sự hiểu sai như vậy vẫn thường xuyên xảy ra ở những chế độ có các cá nhân có quyền sinh quyền sát trong tay. Họ được thủ hạ nói về những điều họ muốn nghe, và thế là họ tưởng thật. Nếu điều này đúng trong trường hợp ông Phạm Minh Chính thì chắc ông giận lắm.

Nhưng tôi nghiêng về khả năng ông Chính tháu cáy hơn.

Chúng ta thấy rằng du học sinh từ Việt Nam sang Mỹ ngày càng đông, đa số họ không muốn trở về nước. Rồi người Việt trong nước đi định cư theo diện sum họp gia đình, kể cả những người có gốc gác từ thời mồ ma “miền Bắc xã hội chủ nghĩa”. Những người này ảnh hưởng rất mạnh từ “nền giáo dục” hồng hồng chuyên chuyên của đảng cộng sản. Bên cạnh đó, tầng lớp thuyền nhân, cựu tù cải tạo ở Mỹ ngày càng ít đi. Thế cho nên đảng cộng sản Việt Nam, thừa thắng xông lên, tung ra cú tháu cáy của thủ tướng Chính, cho nó oai, tạo nên một dư luận (narrative) mới, rằng thì là hơn hai triệu người Việt là con dân của … Đảng cả.

Thế nhưng, thế hệ con cháu các thuyền nhân và cựu tù cải tạo, hiện là nòng cốt của cộng đồng người Mỹ gốc Việt, chứ không phải nhóm … “Việt kiều yêu nước” ngày xưa, mà cũng không phải là nhóm du học sinh từ Việt Nam. Mà con cháu của những người phản chiến ngày xưa, hay là những du học sinh ở lại Mỹ ngày nay, chắc gì thân tình với Đảng! Những người lớn lên trong lòng xã hội cộng sản có khi chống cộng còn dữ dội hơn những người con cháu thuyền nhân và tù cải tạo, vì họ hiểu rõ chế độ ấy xã hội ấy.

Bởi thế, tôi nghĩ rằng cú tháu cáy của ngài thủ tướng Việt Nam đã thất bại.

Nhưng sao lại phải tháu cáy nhỉ? Nếu ngài thủ tướng thật lòng mong muốn người gốc Việt ở Mỹ hướng về quê cũ, chỉ cần ngài đàng hoàng là được. Đàng hoàng là gì? Là đừng bắt bỏ tù dân chúng trong nước vô cớ, đừng giả dạng bầu cử để cầm quyền… và dĩ nhiên là đừng tháu cáy.

Một việc mà tôi nghĩ cũng là việc đàng hoàng mà ngài thủ tướng nên làm là, viết lại lịch sử Việt Nam như nó đã từng như thế. Tức là sau năm 1975, Đảng bắt nhốt hàng trăm ngàn người và đày họ vào các trại tù khổ sai không án với cái tên mỹ miều là “cải tạo”, và rằng có cả trăm ngàn người Việt bỏ mình trên biển trong cuộc tháo chạy khỏi đất nước.

Ngài thủ tướng cứ viết trung thực đi, “sợ mẹ gì”!

CÙNG NHAU SUY GẪM… Khi Ta Già Đi

Van Pham

CÙNG NHAU SUY GẪM….

Khi Ta Già Đi

Có đến những Trung tâm hay Viện Dưỡng Lão thường xuyện, tận mắt chứng kiến, tiếp xúc với những người cao tuổi sống trong đó. Và nếu có cơ hội nói chuyện với họ để rồi chợt nghĩ đến một ngày ta già đi, ta sẽ tự nhủ với mình rằng:

Khi ta già đi, ta sẽ không lo nghĩ mấy cái chuyện bao đồng của con cháu 3 đời như cha mẹ ta thường lo lắng. Bởi con cháu đứa nào cũng có cuộc sống riêng của nó, ta cần sự tĩnh lặng để thư thái, nghỉ ngơi và cứ để mọi thứ thuận theo quy luật tự nhiên của cuộc sống.

Khi ta già đi, ta sẽ không nhắc nhở con cháu về một điều gì đó quá cũ, rót vào tai chúng mãi một câu chuyện xa xưa, hay dặn dò chúng những điều hết sức lạc hậu. Cho dù nói nhiều, hay ít thì con cháu nó vẫn cho rằng, đó chỉ là lý lẽ vớ vẩn của người già.

Khi ta già đi, ta học cách buông tay, ta chẳng cần phải nghĩ ngợi những người trẻ mỗi ngày nó lướt qua đời ta một cách nhẹ nhàng như thế nào, ta chỉ mong mình đủ sức để tự nấu một món ăn thật nhừ, đủ sức để tự tắm rửa hàng ngày. Ta cũng không câu nệ mọi ngóc ngách trong nhà đều phải tinh tươm sạch sẽ, mà chỉ chú ý đến sức khỏe của bản thân mình, nhằm giảm bớt áp lực cho con cháu khi phải chăm sóc ta.

Khi ta già đi, ta cũng mong trời thương, nằm xuống, nhắm mắt một phát là đi ngay. Bởi ta đã nhìn thấy nhiều cảnh đau lòng xảy ra khi con cái chăm sóc cha mẹ già. Có nhiều chuyện bấy lâu nay ta cứ nghĩ nó chỉ có trong văn học thời hiện thực phê phán. Nhưng không, nó vẫn được diễn ra trong cuộc sống thường nhật.

Mà nghĩ đi rồi cũng nghĩ lại, thực ra thì con cái ai cũng muốn tốt và có hiếu với cha mẹ cả thôi. Nhưng khi bố mẹ trở thành gánh nặng hàng ngày, nhiều ngày thì tình cảm sẽ mai một dần đến mức không còn thấy thương yêu nữa, chỉ còn thấy chịu đựng, thấy khổ sở, nhất là con rể hoặc con dâu và các cháu, những người không trực hệ, không được ông bà trực tiếp đẻ ra.

Và khi ta già đi, ta muốn chẳng nợ nần gì nhau trong cuộc đời này, chỉ cần được an yên, bởi ta nghĩ bất cứ ai, cho dù một thời trẻ hoài bão, ngang dọc, vội vã, và rồi cũng đến lúc già, chỉ cần hai chữ an yên là đủ rồi.

Ở đời đau nhất thằng không điếc,

Nghe lắm biết nhiều khổ lỗ tai.

Chuyện chó tha đi, mèo cõng lại,

Ngàn năm viết mãi, viết mòn tay.

Bùi Văn Bảo 

HOA QUẢ THỨ 6: Từ Tâm—Lòng thương người-Cha Vương

 HOA QUẢ THỨ 6: Từ Tâm—Lòng thương người

Chúc bình an đến bạn và gia đình. Nguyện xin hồng ân của Thiên Chúa tuôn đổ trên bạn như mưa hôm nay. Hãy cầu nguyện cho nhau nhé.

Cha Vương

CN: 29/05/2022

TIN MỪNG: Vậy nếu anh em vốn là những kẻ xấu mà còn biết cho con cái mình của tốt của lành, phương chi Cha trên trời lại không ban Thánh Thần cho những kẻ kêu xin Người sao?” (Lc 11,13)

HOA QUẢ THỨ 6: Từ Tâm—Lòng thương người. Phát sinh do lòng nhân hậu (nhân từ) trong lời nói và trong việc làm, nó được nảy sinh từ tâm hồn đạo đức, từ nếp sống chính trực, “mến Chúa và yêu người”.

SUY NIỆM: Trong đoạn Tin Mừng của Thánh Luca 6, 36 Chúa Giê-su dạy:  “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ”. Đây là bài học coi thì dễ nhưng lại rất khó bởi vì không thước tấc nào có thể đo nổi lòng người được. Vậy thời xưa mới có câu: “dò sông dò biển dễ dò, nào ai lấy thước mà đo lòng người”. Nếu con người đối xử với nhau với lòng nhân từ như Chúa thì thế giới này sẽ hiền hoà yên ả. Có câu chuyện được kể về Mahatma Gandhi, một nhà ái quốc Ấn độ, lúc con nhỏ, ông sang Anh quốc học nghề luật sư và nhờ đó có dịp tiếp xúc với Kitô giáo. Ông đọc Phúc âm thường xuyên, đặc biệt ông thán phục bản Hiến chương tám mối phúc thật và lấy đó làm nguồn cảm hứng cho đường lối bất bạo động của ông trong việc giành lại độc lập cho dân tộc mình. Tuy nhiên, có lần ông đã tâm sự với người thân tín rằng dù thán phục Giáo lý của Chúa Kitô, nhưng ông không thể trở thành kẻ tin Chúa, vì ông thấy nhiều Kitô hữu không sống tám mối phúc thật của Chúa. Ông nói: “Tôi yêu mến Chúa Kitô, nhưng tôi không thích người Kitô. Nếu họ giống như Chúa Kitô thì dân Ấn độ chúng tôi đã trở thành Công giáo cả rồi”. Nhận xét của Mahatma Gandhi trên đây là một lời cảnh cáo về ơn gọi và trách nhiệm của mỗi người Ki-tô hữu. Là người Kitô hữu, bạn phải sống như Chúa Kitô, phải có những tâm tình từ bi, nhân hậu và yêu thương như Ngài. Ước mong bạn hãy mở cửa tâm hồn để xin ơn Chúa Thánh Thần ban cho bạn lòng thương người (hoa quả từ tâm) để mọi người nhận biết bạn là con cưng của Chúa nhé.

LẮNG NGHE: “Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. Anh em đừng xét đoán, thì anh em sẽ không bị Thiên Chúa xét đoán. Anh em đừng lên án, thì sẽ không bị Thiên Chúa lên án. Anh em hãy tha thứ, thì sẽ được Thiên Chúa thứ tha. Anh em hãy cho, thì sẽ được Thiên Chúa cho lại. Người sẽ đong cho anh em đấu đủ lượng đã dằn, đã lắc và đầy tràn, mà đổ vào vạt áo anh em. Vì anh em đong bằng đấu nào, thì Thiên Chúa sẽ đong lại cho anh em bằng đấu ấy.” (Lc 6, 36-38)

CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa Thánh Thần, chỉ lối cho con, hướng dẫn con, hỗ trợ con, an ủi con, cho con biết việc phải làm, xin ra chỉ thị cho con để con “đem уêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nới lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm, đem tin kính vào nơi nghi nan chiếu trông cậу vào nơi thất vọng, để con rọi ánh sáng vào nơi tối tăm đem niềm vui đến chốn u sầu.”

THỰC HÀNH: Cái rễ của lòng của bạn đang cắm vào đâu vậy? Thế gian hay Thiên Chúa? Quyết tâm từ bỏ một thói quen xấu và tập rèn luyện một nhân đức mới để sống tốt lành hơn.

From: Đỗ Dzũng

Tuẫn Tiết – Tưởng Năng Tiến

Tuẫn Tiết – Tưởng Năng Tiến

Bên Thắng Cuộc phát hành cuối năm 2012, và được bỉnh bút Nguyễn Hùng (BBC) liệt kê là một trong “mười chuyện nổi bật” nhất trong năm. Cùng lúc, biên tập viên Mặc Lâm (RFA) cũng nhận xét rằng “cuốn sách đang gây sôi nổi cho cư dân mạng cả trong và ngoài nước” và đã khiến cho “người đọc ngỡ ngàng” vì “cái nhìn” của tác giả – một người sinh trưởng “từ bên kia” chiến tuyến :

“Trong chương 1, Ba mươi Tháng Tư, Huy Đức đặt một tiểu tựa khiến người đọc ngỡ ngàng. Họ ngỡ ngàng vì biết tác giả là người trưởng thành từ bên kia nhưng dùng hai chữ Tuẫn Tiết đặt cho câu chuyện của các tướng lãnh bên này tự kết liễu đời mình trong ngày chế độ sụp đổ.

Các tướng lãnh như Lê Văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Phạm Văn Phú, Lê Nguyên Vỹ hay Đại tá Đặng Sĩ Vinh lần lượt kết liễu đời mình trước sự chứng kiến của thuộc hạ hay vợ con dưới cái nhìn của Huy Đức là một sự tuẫn tiết…

Một điểm quan trọng nữa, Huy Đức viết: ‘Nhưng đấy vẫn chưa phải là những phát súng cuối cùng của cuộc chiến tranh. Nhiều quân nhân vô danh vẫn tìm đến cái chết trong những ngày sau đó.”

Mãi đến bốn mươi sáu năm sau, độc giả của nhật báo Người Việt – số phát hành vào hôm 6/12/2021 – mới có dịp biết đến tên tuổi của một số “quân nhân vô danh” này qua bài viết (“Những Anh Hùng Tuẫn Tiết Trong Ngày Tàn Cuộc Chiến Tại Việt Nam”) của ký giả Vann Phan :

“Ngoài ‘Ngũ Hổ Tướng’ ra, còn có các sĩ quan khác cùng các hạ sĩ quan trong Quân Lực VNCH và Cảnh Sát Quốc Gia đã chọn cái chết để đền nợ nước trước, trong và sau ngày 30 Tháng Tư, thay vì đầu hàng quân Cộng Sản…

Còn một số quân nhân thuộc nhiều binh chủng khác nhau trong Quân Lực VNCH thì đã tự sát tập thể để khỏi rơi vào tay quân địch, bằng cách cùng nhau mở lựu đạn hoặc đồng loạt nổ súng vào đầu nhau trong biến cố 30 Tháng Tư, 1975, thật vô cùng bi tráng.”

Nỗi “bi tráng vô cùng” này đã được nhà văn Cao Xuân Huy ghi nhận bằng đôi mắt ráo hoảnh, cùng những câu chữ trần trụi và khô khốc : 

“Lại có rất nhiều người tự tử. Bây giờ họ không tự tử từng người, từng cá nhân mà họ tự tử tập thể. Không rủ, không hẹn và hầu như họ đều không quen biết nhau trước hoặc có quen biết đi nữa, bạn bè đi nữa họ cũng không thể nhận ra nhau trước khi cùng chết với nhau một lúc. Dòng người chúng tôi đang chạy, một người tách ra ngồi lại trên cát, một người khác cũng tách dòng người ra ngồi chung, người thứ ba, người thứ tư, người thứ năm nhập bọn, họ ngồi tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.”

Cựu quân nhân Nguyễn Hữu Luyện bình luận: “Khi một binh nhì kê súng vào đầu mình để bóp cò, người ấy chỉ có một nguyên nhân uất hận được bộc lộ qua khí phách của quân nhân QLVNCH. Do đó, hành động tự sát của anh binh nhì nói lên cái khí phách tột đỉnh và tấm lòng son sắt vô song …”

Khí phách cùng tấm lòng sắt son của những người lính trận – buồn thay – vẫn thường bị lãng quên, nhất là khi họ thuộc bên thua cuộc :

“… những người lính chết trận và mất tích ở phía VNCH, chính thể đã sụp đổ vào tháng 4/1975, ít được biết tới và nhiều lúc đã trở thành đề tài cấm kỵ tại Việt Nam thời hậu chiến. Bị chính quyền mới ghẻ lạnh, đồng minh Mỹ lãng quên, các quân nhân VNCH tử trận chỉ được người thân, đồng đội cũ tưởng nhớ và kiếm tìm.” (Bùi Thư. “Hành Trình Tìm Hài Cốt Lính VNCH: 39 Năm, Anh Em Nằm Dưới Nền Đất Lạnh.” BBC – 28.04.2020)

Ở vào hoàn cảnh của những kẻ thuộc phe bại trận thì việc thu nhặt hài cốt hay tìm kiếm những nấm mồ vô thừa nhận của bạn đồng đội – tất nhiên – chả dễ dàng chi,  và cũng không mấy khi có được kết quả như mong đợi. Tuy thế, thỉnh thoảng, vẫn có những sự kiện ấm lòng :

  • Ngày 19 tháng 4 năm 2022, FB Dominic Pham cho biết thêm một tin vui: “Người dân Vũng Liêm, Tam Bình, Vĩnh Long đã đào được hài cốt người lính VNCH, với tấm thẻ bài:  Nguyễn Văn Hài SQ 50/680.585LM A RH+. Hài cốt của anh đã được đưa vào Chùa. Xin vui lòng gọi 038 663 3049, 093 284 8449 để biết thêm chi tiết.”
  • Hôm 15 tháng 03 năm 2022 , trên trang FB Tìm Hài Cốt Chiến Sĩ VNCH cũng cho biết một tin mừng khác, đã được thực hiện từ 10 năm trước. Xin lược thuật : 

Ngày 19-08-2011, ba cựu quân nhân VNCH đã đến Thị Xã Bà Rịa-Vũng Tàu vì nghe nơi đây có bốn ngôi mộ không bia của đồng đội, nằm trong vườn nhà ông Hai Lì – một cán bộ địa phương… Ông Hai Lì kể:

“Tôi là dân Gia Đình Cách Mạng, mấy Ông Rằn Ri này gan lì lắm, mấy Ổng chống đến cùng dù có lệnh đầu hành của Tổng Thống Dương Văn Minh 30-04-1975, mấy Ổng chiến đấu cho đến trưa 01-05-1975 rồi cùng nhau tự sát và chính tôi là người chôn cất mấy Ổng, giấy tờ từng Ông tôi bỏ vào một cái hộp chôn theo các Ông.”

Công việc bốc mộ được tiến hành, tất cả mọi người cùng hồi hộp chờ đợi từ nhát cuốc đầu tiên chạm vào ngôi mộ, sau đó hé lộ dần những hình hài của Các Anh đã chôn vùi nơi đây hơn 36 năm dài đằng đẵng…không Quan Tài, mà cũng chẳng có PONCHO bọc xác, chẳng còn gì với cát bụi thời gian, ngoài những mảnh xương tàn,quần áo đã mục nát …

Chúng tôi cố tìm những mảnh giấy tờ đã được chôn theo Các Anh sau khi đã lượm lặt từng khúc xương còn sót lại, rồi cho vào từng hũ sành, ghi tên Các Anh, gởi vào Chùa và cầu xin cho Các Anh được siêu thoát khỏi chốn dương trần đầy khổ đau, tủi nhục này và điều mong muốn mãnh liệt nhất là thân nhân Các Anh sớm tìm gặp lại Các Anh sau bao năm dài vắng bặt tin tức…

Tất cả mọi người cùng ứa lệ mừng vui khi tìm được những tấm thẻ bài, giấy tờ, tên tuổi Các Anh …và đây là những vị Anh Hùng của chúng ta:

– Ngôi mộ thứ nhất: Có Thẻ Bài tên TRƯƠNG VI CỬ SQ: 75/115.815.
– Ngôi Mộ thứ hai: có Thẻ Bài tên VÕ QUANG HẰNG SQ: 68/123.320.
– Ngôi Mộ thứ ba: (gồm có 02 người) trong đó Một Vô Danh không Thẻ Bài. Người có Thẻ Bài tên: TRẦN VĂN HÀ SQ: 67/824.827.

Sau khi Bốc mộ xong, chúng tôi đã đem 04 hũ cốt gởi Chùa Báo Ân. Địa chỉ: Khu Công Nhân, Thị Trấn Ngãi Giao, huyện Châu Đức, Bà Rịa-Vũng Tàu. Còn các Di Vật và giấy tờ liên quan kể trên, chúng tôi nhờ MĐ Đẹp giữ. Nếu tình cờ Quý Vị nào hoặc ai đọc được tin tức này hoặc cần biết thêm chi tiết cụ thể, xin vui lòng liên lạc theo số Phone, dưới đây: Nguyễn Văn Thành ĐT: 01645462458 hay
Lê Văn Đẹp ĐT: 01684118839.

Dù không phải là kẻ vô thần, tôi là một người vô đạo (hay khô đạo) bất kể đạo gì! Tuy thế, những dòng thông tin muộn màng (ghi trên) về bạn đồng đội vẫn khiến cho tôi cảm thấy có đôi chút an tâm và vô cùng an ủi.

Xin cảm ơn Trời, Đất, Chúa, Phật, Thánh Thần… Xin cảm ơn tất cả mọi người đã không ngại công khó, đã lập đài tưởng niệm, đã cải táng, đã lập mộ (cùng khói nhang ấm áp) cho những kẻ thuộc bên thất trận – dù chúng tôi đã không chu toàn được trách nhiệm bảo quốc an dân.

Tưởng Năng Tiến

05/2022