S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Sơn Nam

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến – Sơn Nam

Trong cuốn Một Mảnh Tình Riêng, do nhà Văn Nghệ (VN) xuất bản năm 2000, Sơn Nam tâm sự : “Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi cây số đường giao thông hồi đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng qua hai con sông đầy sóng gió… Lâu năm lắm mẹ tôi với về quê thăm xứ một lần, tình trạng này tôi thử hư cấu, qua truyện ngắn ‘Gả Thiếp Về Rừng’… Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhất là qua sông Cái Lớn.”

Muốn biết chuyện làm dâu nơi xa, hồi đầu thế kỷ trước, gian nan và khó khăn ra sao, xin đọc vài đoạn (chính) trong truyện ngắn này :

“Câu chuyện xảy ra tại rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, đâu cũng vào khoảng năm 1939 … tháng chạp năm đĩ, nhà ông Cả treo bông kết tuội để gả con, giữa tiếng dị nghị của bao chàng trai tơ ở rạch Bình Thủy.

Cô Út về làm dâu đất Cạnh Đền.

Hai năm qua.

Ba năm qua…

Chuyến đầu, đôi vợ chồng về thăm ông Cả bà Cả, đèo theo một đứa con gái nhỏ… sổ sữa dễ thương.

Chuyến sau họ về, lại thêm một đứa gái và một đứa thứ ba nữa đang nằm trong bụng mẹ.

Hai ông bà quá đỗi vui mừng.

Nhưng liên tiếp mấy năm sau họ bặt tin, ngày Tết ngày giỗ cũng chẳng về. Lo ngại quá! Có chuyện gì xảy ra bất lành không?

Hai ông bà muốn xuống Cạnh Đền thăm con nhưng ngại mình già sức yếu, đường xa xôi, phải vượt qua sông Cái Lớn. Nằm đêm, lắm khi bà khóc lóc mà trách ông:

– Tôi nói muỗi rừng ăn thịt hai đứa nó rồi. Xứ gì mà muỗi kêu như sáo thổi. Không đau bịnh rét thì cũng chói nước lớn bụng mà chết… Hồi đó ông cãi tôi, nhớ không?

“Ông Cả vô cùng buồn bực. Nhứt là khi nghe con nít chòm xóm hát đưa em:

Má ơi đừng gả con xa,

Chim kêu vượn hú, biết nhà má đâu?

Suốt tháng ngày, ông chống gậy đi quanh quẩn bên gốc tre già ở mé sông, mắt mịn mỏi nhìn bóng dáng các ghe thương hồ qua lại.

Trời đất nào phụ kẻ có lòng như ông!

Mãi đến buổi trưa đó, có chiếc ghe chèo chậm chậm ngang bến. Chồng trước mũi hỏi vợ sau lái:

– Phải chỗ cây mù u này không? Cậu Quỳnh nói nhà bên vợ ở đâu đây.

Chị vợ đáp:

– Không chừng… Đúng quá, cách ngã ba, qua hai cây cầu khỉ, nhà ngói có vườn quít.

Anh chồng ngó tới ngó lui, cãi lại:

– Mình mới qua một cây cầu. Chèo tới trước chỗ cây cấu khỉ, đằng kia kìa, họa may…

Ông Cả cố gom tất cả sức già, la lớn:

– Ở đây nè, bà con ơi! Nhà vợ thằng Quỳnh ở đây nè…

Ghe đậu lại. Hai vợ chồng nọ được mời lên ăn cơm với thịt gà tại bộ ván gõ giữa nhà ông Hương cả. Trong đời, họ chưa bao giờ được hân hạnh lớn như vậy! Ông Cả, bà Cả, người lối xóm xúm lại hỏi nhiều câu quá. Họ bối rối, trả lời vắn tắt:

– Dạ, vợ chồng cậu Quỳnh mạnh khỏe. Nhờ trời sanh được sáu đứa con. Bốn đứa sau đều là con trai.

Bà Cả mừng quýnh:

– Úy! Bộ con Út đẻ năm một sao? Con nhỏ đó thiệt giỏi!

Khách trả lời:

– Dạ, đẻ năm một. Đứa ăn thôi nôi, đứa lôi đầy tháng. Mẹ tròn con vuông. Hồi tôi đi đây, cô Út gần nằm chỗ một lần nữa. Thưa ông bà, miệt dưới ai cũng vậy. Như vợ chồng cháu đây có tám đứa con.

– Sao vậy cà? Sao vậy cà? Ở dưới cỡ này ra sao mà thiên hạ “đẻ nhiều quá vậy?

Khách ngượng nghịu, chập sau mới nói:

– Dạ ở miệt dưới muỗi dữ lắm. Chạng vạng là cả nhà, vợ chồng con cái rút vơ mùng… nói chuyện. Ít ai đi đâu.

Ai nấy phá lên cười to. Đến lúc bấy giờ, ông Cả bà Cả mới hiểu thêm một sự bí mật quan trọng của tiếng ‘muỗi kêu như sáo thổi’ ở Cạnh Đền. Nó làm hại sức khỏe con người. Nhưng nó gắn bó mối tình chồng vợ hơn ở xứ không có muỗi.

Để đánh trống lảng, ông nói:

– Ừ! Phải vậy mới được. Xứ mình cần có dân đông để tạo lập thêm ruộng vườn, khai phá đất hoang.

Bà Cả nóng ruột:

– Anh chị đây có nghe vợ chồng nó nhắn chừng nào đem mấy đứa cháu ngoại của tôi về cho biết mặt?

Khách trả lời:

– Dạ không nghe. Con cái lũ khũ cả bầy, chắc vợ chồng cậu Quỳnh khó đi xa. Năm rồi mùa màng thất bát, ai cũng lo tay làm hàm nhai để nuôi con. Sông Cái Lớn mấy năm nay lại thêm sóng gió bất thường.

Bà thở dài, nói như rên siết:

– Nhớ mấy đứa nhỏ quá. Ông ơi! Hồi đó ông cãi tôi…

Ông Cả im lặng, nghĩ đến cái ngày gần đất xa trời của mình. Nó không còn bao xa nữa. Ngày đó, ai phị giá triệu, ai rinh quan tài? Nhìn bụi tre già dưới bến mà ông tủi thân: Măng non mọc kề bên gốc. Phận ông có khác; con gái, con rể và đám cháu ngoại ở chốn xa xôi kia làm sao được gần gũi để ông thấy mặt lần đầu – và cũng là lần chót – khi ông tàn hơi. Nước mắt muốn tươm ra, ông cố dằn lại. Ông hiểu đời ông chưa tới mức đen tối, còn chút ánh sáng lập lòe trong tương lai vô biên vô tận:

– Ờ… ở dưới nó có lập vườn chưa? Lát nữa, anh chị chịu khó chở về giùm cho vợ chồng con Út một gốc tre Mạnh Tông để làm giống. Chừng thấy măng non cận gốc già, mấy đứa cháu của tôi luôn luôn nhớ ông ngoại bà ngoại nó trên Bình Thủy.

Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Ðể cho nước mạnh dân còn” (*).

Truyện “Gả Thiếp Về Rừng” lấy bối cảnh rạch Bình Thủy, làng Long Tuyền, tỉnh Cần Thơ, vào khoảng năm 1939 – 40, khi tôi chưa ra đời. Ba mươi năm sau, lúc tôi đủ lớn để đọc và yêu thích Sơn Nam thì ghe thuyền gắn máy (đuôi tôm) đã chạy ngang dọc tá lả khắp sông rạch miền Nam.

Thế hệ của chúng tôi khó mà hiểu được nỗi “gian truân” của một người con gái lấy chồng xa nhà (cỡ) … năm mươi cây số! Dù vậy, tôi vẫn cứ mến thương hết sức cái tình của Sơn Nam dành cho lớp người tiên phong, đi khai khẩn miền cực Nam của quê hương.

Cùng với Sơn Nam, nhà văn Bình Nguyên Lộc cũng ghi lại nhiều tình cảm sâu đậm của mình đối với những lưu dân. Trong truyện ngắn “Rừng Mắm” của ông, có đoạn đọc mà muốn ứa nước mắt:

“Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra hàng mấy ngàn thước. Phù sa là đất bùn mềm lủn và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưởng nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia cây mắm sẽ ngã rạp. Giống tràm lại nối ngôi mắm. Rồi sau mấy đời tràm, đất sẽ thuần, cây ăn trái mới mọc được.

Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:

Ông với lại tía của con là cây mắm, chân giẫm trong bùn. Ðời con là tràm, chân vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ là xồi, mít, dừa, cau.

Ðời cây mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như là lính ngồi mặt trận vậy mà. Họ ngã gục cho kẻ khác là con cháu của họ hưởng”.

Đã bao nhiêu đời tràm, bao nhiêu đời mắm ngã rạp, bao nhiêu thế hệ phải chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út … nhưng quê hương mỗi lúc một lụn bại hơn, chứ không giàu mạnh thêm – như kỳ vọng của Sơn Nam hay Bình Nguyên Lộc. Và vì nghèo đói, cảnh chia ly xẩy ra mỗi ngày một nhiều.

“Hiện nay, ở Nam Hàn, trên bất kỳ nhật báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo:’Người già, người muốn tái hôn, người khuyết tật đều có thể kết hôn với những trinh nữ xinh đẹp ở Việt Nam … Thậm chí những quảng cáo này còn liệt kê ưu điểm của con gái VN như “xuất giá tòng phu”, “tôn trọng người già, thờ cúng tổ tiên đến bốn đời”, “dáng người đẹp nhất thế giới”, “giữ gìn trinh tiết và chung thủy với chồng” (Bán tuần báo Việt Luận, số 2063, phát hành từ Sydney ngày 28/04/2006).

Chuyện “lấy chồng xa” của phụ nữ VN đã trở thành kỹ nghệ, ở mức “đại trà” – theo như tin của nguyệt san Khởi Hành, số 134, phát hành từ California, tháng 4 năm 2006 :

“Cảnh sát Cam Bốt mới khám phá một tổ chức bán các bé gái Việt Nam tại một khu phố ở Nam Vang. Các em cho biết đã được chở từ quê nhà vùng nông thôn miền Nam qua biên giới trong những thùng sắt dùng trở hàng xuất cảng.

Những chuyện tủi nhục xót xa như thế đã xẩy ra (thường xuyên) từ mấy thập niên qua. Trong thời gian này, Sơn Nam vẫn cặm cụi cầm bút và vẫn in ấn đều đều. Tác phẩm mới nhất của nhà văn, có tên là Bình An, tập cuối trong bộ hồi ký của ông, và được giới thiệu là “cuốn sách đề cập đến những biến đổi lớn lao của Sài Gòn kể từ ngày giải phóng miền Nam 30/04/75 đến nay”.

Dù không phải là thầy bói, tôi vẫn biết chắc rằng, trong cả bốn tập hồi ký của Sơn Nam sẽ không có một dòng chữ nào – nửa dòng cũng không – viết về những em bé Việt Nam bị “gả” đi xa, “trong những thùng sắt dùng chở đồ xuất cảng” như thế.

Tập Hương Rừng Cà Mau, trong đó có truyện “Gả Thiếp Về Rừng”, được mở đầu bằng một bài thơ của (chính) Sơn Nam, có đoạn như sau:

Trong khói sông mênh mông,
Có bóng người vô danh
Từ bên này sông Tiền
Qua bên kia sông Hậu
Mang theo chiếc độc huyền
Ðiệu thơ Lục Vân Tiên
Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả

Cái gì đã giết chết tinh thần “kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” nơi Sơn Nam như thế? Ông đâu có chức quyền gì như Huy Cận hay Tố Hữu để mà sợ mất? Ông đâu có đụng chuyện với “cách mạng”, vào thời “Nhân Văn Giai Phẩm” mà hoảng hốt đến độ bị bắt ăn bánh vẽ nhưng vẫn phải làm bộ khen ngon – như Chế Lan Viên? Ở tuổi 80, Sơn Nam còn ngại gì nữa mà không (dám) nói lên đôi lời phải/quấy với bọn giặp cướp – đang tụ họp ở làng Ba Đình, Hà Nội – trước khi nhắm mắt?

Trong một chế độ “không cho phép ai được có một thái độ thứ ba” thì sự im lặng của Sơn Nam cũng chỉ là chuyện … bình thường thôi sao? Thời phải thế, thế thời phải thế chăng ? Cả đống tu sĩ, nhân sĩ, văn sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ, bác sĩ – ở trong nước cũng như hải ngoại – đều giữ thái độ tương tự, trước việc phụ nữ VN bị gả bán như nô lệ, chứ đâu có riêng chi nhà văn Sơn Nam. Với thời gian – rồi ra – cả dân tộc Việt sẽ quen dần hết với mọi chuyện xấu xa tồi tệ, và có thể chấp nhận tất cả những tội ác một cách thản nhiên thôi.

Nghĩ cho cùng, có lẽ, đây chỉ là chuyện nhỏ và là chuyện (riêng) của cá nhân tôi với Sơn Nam. Chỉ vì lúc thiếu thời tôi yêu thích, quí mến ông ấy quá nên mới đặt thành vấn đề và cứ băn khoăn mãi.

Cho đến sáng nay, qua Tuổi Trẻ Online, tôi tình cờ tìm ra được lý do khiến cho Sơn Nam đã bỏ rơi cái quan niệm sống “lộ kiến bất bình vung đao bạt tụy” – của Lục Vân Tiên – trong con người Nam Bộ của ông.

 “Ngày 7-3, tổng công ty du lịch Sài Gòn khánh thành tượng chân dung nhà văn Sơn Nam tại làng du lịch Bình Quới 1 (Thanh Đa), để ghi nhận đóng góp của ông đối với nền văn hóa phương Nam”

Úy trời đất, quỉ thần, thiên địa (mèng đéc) ơi, như vậy là Sơn Nam đã bị hóa đá rồi – chớ còn khỉ gì nữa! Hèn gì, ông không còn nghe được tiếng dân kêu ai oán ở rừng U Minh Hạ. Ông cũng không còn bận lòng gì nữa về số phận gian truân của những người đồng hương đi lấy chồng xa – dù là xa nhà đến năm ngàn (hoặc hơn) chứ không phải chỉ là năm mươi cây số – và sang sông (tập thể) bằng tầu chở hàng, trong thùng container, thay vì bằng một chuyến đò ngang hay đò dọc.

Khi bàn về số phận của một số những người cầm bút ở miền Nam – bị cấm viết sau tháng 4 năm 1975 – nhà văn Võ Phiến gọi họ là những “tài năng bị chôn sống”. Sơn Nam (của tôi) dù được cho phép tiếp tục cầm viết, vẫn bị chôn sống như thường – bằng một hình thức khác, nhẹ nhàng hơn, vậy thôi. Thôi, vĩnh biệt Sơn Nam!

Tưởng Năng Tiến – 2006

(*) Sách được in lại (và in lậu) tại hải ngoại, tuyệt nhiên không có ghi một chi tiết nào về nhà xuất bản hay năm xuất bản. Nguyên tập truyện Hương Rừng Cà Mau của Sơn Nam có thể đọc được qua website Đặc Trưng. Riêng truyện “Gả Thiếp về Rừng”, nơi web site này, thiếu một đoạn cuối như sau: “Phật Trời thiêng liêng xin phù hộ chứng giám! Từ bao nhiêu thế kỷ rồi, trên đất nước mình luống chịu cảnh sinh ly như ông Cả, như cô Út. Để cho nước mạnh dân còn.”

Nhân cơ hội này, người viết cũng xin được ngỏ lời ghi ân nhóm chủ trương Đặc Trưng vì đã sử dụng tài liệu trong thư viện nhỏ (“trên không”) của quí bạn nhiều lần.

Chế độ Tự do của Đài Loan xứng đáng được chúng ta hỗ trợ!

Chế độ Tự do của Đài Loan xứng đáng được chúng ta hỗ trợ!

Bởi  AdminTD

WELT

Bình luận của Clemens Wergin, TBT về chính sách đối ngoại của báo Welt 

Vũ Ngọc Chi, chuyển ngữ

2-8-2022

Du khách Đài Loan Nancy Pelosi được nữ tổng thống Đài Loan Thái Anh Văn tiếp đón ở Đài Bắc. Nguồn: Taiwan Presidential Office / REUTERS

Chủ tịch của Hạ viện Hoa Kỳ, Nancy Pelosi đã tới Đài Loan hôm thứ Ba, như một phần của chuyến viếng thăm châu Á. Trung Quốc trước đây đã cảnh báo về chuyến thăm viếng của bà Pelosi tới nước này.

Ví dụ về Nga cho thấy: Thái độ hèn nhát đối với các quốc gia hung hăng chỉ làm cho họ có hành vi hung hăng hơn nữa. Do đó, các chính trị gia phương Tây nên lấy Nancy Pelosi làm ví dụ – và trong tương lai cũng nên tới Đài Loan trong các chuyến đi thăm viếng châu Á.

Thời điểm đến thăm của Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ, Nancy Pelosi, ở Đài Loan, thật ra không thuận tiện lắm. Bởi vì trong lúc cuộc chiến của Nga chống lại Ukraine làm căng thẳng các quốc gia phương Tây và các doanh nghiệp của họ, chúng ta không cần thêm một cuộc xung đột mới với Trung Quốc. Còn thì, Pelosi về cơ bản là đúng: Nền dân chủ Đài Loan xứng đáng được sự hỗ trợ của chúng ta. Và chúng ta không thể cho phép Trung Quốc có quyền phủ quyết về cách chúng ta hoạch định mối quan hệ của mình với đảo quốc này.

Trên thực tế, phương Tây đã bị mắc kẹt trong khuôn khổ gò bó của chính sách một Trung Quốc, đã khiến Bắc Kinh có thể cô lập Đài Loan gần như hoàn toàn. Sau cuộc đàn áp ở Hồng Kông bởi Bắc Kinh, rõ ràng là một sự thống nhất của Trung Quốc đại lục và Đài Loan không thể diễn ra chừng nào một hệ thống đàn áp độc tài còn nắm quyền lực ở Bắc Kinh.

Trung Quốc đã không giữ lời hứa qua văn bản của mình đối với Hồng Kông cho phép một quốc gia và hai hệ thống. Việc này cũng nên có hậu quả cho mối quan hệ của chúng ta với Đài Loan. Điều này không có nghĩa là hoàn toàn từ bỏ ý tưởng rằng có thể có sự thống nhất tại một thời điểm nào đó. Tuy nhiên, điều đó có nghĩa là chúng ta phải nhận ra rằng, nó không thể xảy ra với chế độ Bắc Kinh hiện tại. Và trong thời gian đó, Đài Loan nên có quyền được đối xử như một quốc gia bình thường.

Đài Loan với tinh thần tự do và hướng về Phương Tây luôn xứng đáng được hưởng sự đoàn kết của chúng ta. Đó là lý do tại sao chúng ta không nên bị ấn tượng bởi các chiến thuật đe dọa hung bạo thông thường của Bắc Kinh. Giống như Nga ở châu Âu, Trung Quốc ở châu Á ứng xử thô kệch. Và như ví dụ về Nga đã chỉ ra, thái độ hèn nhát chỉ làm cho bọn lưu manh có thêm cư xử hung hăng hơn.

Do đó, các chính trị gia phương Tây nên có thông lệ trong tương lai tới Đài Loan khi đến thăm viếng châu Á. Bởi vì càng nhiều người tới, các chuyến thăm như vậy trở thành đương nhiên hơn – và chiến thuật đe dọa của Trung Quốc càng ít có hiệu quả.    

GIÁO HỘI KHÔNG PHẢI AN TOÀN TRONG TƯ TƯỞNG BẢO THỦ

Võ Ngọc Ánh

GIÁO HỘI KHÔNG PHẢI AN TOÀN TRONG TƯ TƯỞNG BẢO THỦ

Đức Giáo Hoàng vừa có chuyên tông du đến Canađa.

Khác với những chuyến đi đến các quốc gia khác của Đức Giáo Hoàng, đây là chuyến đi thể hiện sự xin lỗi của Giáo hội Công giáo vì những điều đã xảy ra trong quá khứ.

Vì tư tưởng thực dân, cộng tác với chính quyền, những người trong Giáo hội đã góp phần diệt chủng văn hóa truyền thống của người bản địa Canađa.

Lúc đó những con người trong Giáo hội cùng tư tưởng thực dân khai hóa như nhà cầm quyền lúc đó.

Hay đó là tư tưởng hòa theo sức mạnh quyền thế?

Đây là một bài học quý giá, trong một kinh nghiệm đau thương.

Nhìn vào hôm nay, nhiều người Công giáo vẫn còn bảo thủ, cực đoan trong các vấn đề xã hội.

Thiên Chúa đòi hỏi mỗi người tin vào Ngài cùng cộng tác vào công trình sáng tạo của Ngài. Người có đạo cần biết trăn trở với Giáo hội trong tương lai.

Hắn không thích xưa bày nay bắt chước. Làm vậy có sao đâu. Đây không phải là cách phát huy giá trị truyền thống, văn hóa.

Xã hội đã thay đổi, Giáo hội đang không thể đứng một chổ chỉ vì lý do truyền thống, trói buộc, xưa nay vậy… Giáo hội đi về phía trước trên nền tảng của Lời Chúa và phát huy cái đẹp trong truyền thống.

Hắn nhìn thấy Giáo Hoàng hiện nay là con người của sự thánh thiện, một Vatican rất mở… Nhưng tại nhiều quốc gia, giáo phận, nhà dòng, giáo xứ, người tin đạo thì không hẳn vậy.

Đang có rất nhiều người trong Giáo hội chỉ thấy sự an toàn, được tôn trọng ở những tư tưởng bảo thủ. Họ đang đề cao, ủng hộ các quốc gia, đảng phái, lãnh đạo có tư tưởng bảo thủ.

Họ dùng Lời Chúa giải thích theo điều mình muốn, chứ không phải trăn trở, cùng cộng tác để Giáo hội đẹp hơn, hòa nhập, hòa nhã hơn.

Không thể nhân danh đức tin để loại bỏ người khác.

Đừng để trong tương lai, sẽ có một vị Giáo Hoàng lại xin lỗi vì những điều bảo thủ mà người có đạo nhân danh hôm nay.

Thiên Chúa trao cho con người quyền tự do, xin đừng nhân danh đức tin để trói buộc người khác. Hãy để cho mỗi người tự chịu trách nhiệm của mình trước mặt Thiên Chúa.

Hắn không thích sự lạm dụng tôn giáo trong các vấn đề xã hội.

Võ Ngọc Ánh

Hội Thánh nhìn thế nào về những tôn giáo khác?-Cha Vương

Hội Thánh nhìn thế nào về những tôn giáo khác?

Một ngày an lành vui tươi trong Chúa nhé. Đừng quên cầu nguyện cho nhau và cho sự hiệp nhất giữa các tôn giáo.

Cha Vương

Thứ 3: 03/8/22

GIÁO LÝ: Hội Thánh nhìn thế nào về những tôn giáo khác? Hội Thánh tôn trọng tất cả những gì là tốt lành và chân thật trong các tôn giáo khác. Hội Thánh thừa nhận mọi giá trị và bênh vực cho quyền tự do tôn giáo được coi như quyền cơ bản của con người. Tuy nhiên, Hội Thánh biết rằng Đức Giêsu Kitô là Đấng Cứu độ duy nhất của cả nhân loại. Chỉ mình Người “là con đường, là sự thật, và là sự sống” Ga 4:16. (YouCat, số 136)

SUY NIỆM: Người đang kiếm tìm Thiên Chúa là bạn gần gũi với Kitô hữu; Các người Hồi giáo còn đặc biệt hơn vì là thành phần trong nhóm bà con họ hàng, giống như Do thái giáo và Kitô giáo, là một tôn giáo thờ một thần. Những người Hồi giáo thờ Thiên Chúa tạo hóa và coi ông Abraham là tổ phụ của họ trong đức tin. Theo sách Coran, Chúa Giêsu là một tiên tri lớn và đức Maria Mẹ Người là mẹ của tiên tri. Hội thánh dạy rằng mọi người, không do lỗi của họ, mà đã không biết Chúa Kitô và Hội thánh, nhưng thành thực tìm Chúa và sống theo tiếng lương tâm, đều được cứu rỗi đời đời. Trái lại, ai đã biết Chúa Giêsu Kitô là con đường, là sự thật và là sự sống mà không đi theo Người, người đó sẽ không tìm được ơn cứu độ bởi các con đường nào khác. Câu nói “Ở ngoài Hội thánh không có ơn cứu độ” có nghĩa như vậy. (YouCat, số 136 t.t.)

❦ Tự do tôn giáo là quyền của mọi người được theo lương tâm mình đã chọn hoặc thực hành tôn giáo của mình, thừa nhận tự do tôn giáo không có nghĩa là thừa nhận mọi tôn giáo đều giống như nhau cũng như đều chân thật như nhau.

LẮNG NGHE: Vì phàm ai thi hành ý muốn của Cha tôi, Đấng ngự trên trời, người ấy là anh chị em tôi, là mẹ tôi.” (Mt 12:50)

 CẦU NGUYỆN: Lạy Chúa, khi dựng lên con người, Chúa đã đặt để trong lòng mỗi người một lương tâm đó là “tiếng nói của Thiên Chúa “ và là cung thánh của Thiên Chúa nơi lòng người, xin cho con biết lắng nghe và gặp gỡ Chúa  thường xuyên trong mọi lời nói, tư tưởng, và hành động để sống xứng đáng là con ngoan của Chúa.

THỰC HÀNH: Như bạn đã biết lương tâm con người xuất phát từ Thiên Chúa, mời bạn hãy tập nhìn nhận những gì tốt lành và chân thật trong các tôn giáo khác mà tôn trọng họ.

From: Đỗ Dzũng

ĐỪNG BẢO HOÀNG HƠN HOÀNG ĐẾ

Võ Ngọc Ánh

ĐỪNG BẢO HOÀNG HƠN HOÀNG ĐẾ

“Nhân phiên tòa “Thích Nhật Từ ngu như con bò” đang rềnh rang các trang mạng xã hội mấy ngày nay, bỗng nhớ đên một vụ án khác mấy thế kỷ trước

***

Dưới thời trị vì của Hoàng đế Alexander Đệ Tam, có một anh lính quèn tên là Oreshkin vào quán nhậu. Xỉn quắc cần câu, Oreshkin mất kiểm soát và bắt đầu chửi bới, gây sự ẩu đả. Mọi người cố gắng xoa dịu anh ta và chỉ vào chân dung của Alexander Đệ Tam bảo rằng:

– Có hoàng đế ở đây, chớ làm bậy.

Oreshkin xỉn quá rồi, nên chỉ ảnh hoàng đế bảo:

– Sợ quái gì lão ấy! Ta là ta nhổ toẹt vào mặt lão!

Ngay lập tức Oreshkin bị bắt giam, khởi tố và chuẩn bị mang ra xử vì tội “Chống Hoàng đế” theo điều 117 bộ luật Đế chế, mức hình phạt cao nhất đến 20 năm tù.

Đọc hồ sơ vụ án, Hoàng đế Alexander Đệ Tam đặt bút phê hồ sơ:

“Từ nay về sau nghiêm cấm treo ảnh ta trong bất kỳ quán rượu nào.

Chấm dứt vụ án. Thả Oreshkin ra. Xóa bỏ điều 117 bộ luật Đế chế.

Bảo với Oreshkin là ta cũng nhổ toẹt vào mặt hắn.

Đúng bậc đế vương quân tử!”

Copy từ Nhất Lục

NGỌN NẾN KHÔNG CHÁY!

Kẻ Đi Tìm

NGỌN NẾN KHÔNG CHÁY!

Nhà thơ nổi tiếng người Nga Gamzatovich Gamzatov có câu nói nổi tiếng: “Nếu bạn bắn vào quá khứ bằng súng lục, thì tương lai sẽ bắn vào bạn bằng đại bác”. Hãy từ bỏ nỗi đau của quá khứ để cuộc sống tươi đẹp hơn, bạn không thể nào sống mãi với quá khứ để rồi ảnh hưởng đến những người xung quanh. Trong câu chuyện “Ngọn nến không cháy”, nỗi buồn của người cha vì mất con vô tình làm cho cô bé không thể lên thiên đàng vì nước mắt quá thương con của ông.

Trong thành phố nọ có hai cha con sống với nhau rất vui vẻ, hạnh phúc. Một hôm, đứa bé gái chẳng may mắc một căn bịnh hiểm nghèo và ra đi mãi mãi. Người cha quá đau khổ, tuyệt vọng, quay lưng lại với tất cả mọi người. Ông chẳng thiết tha gì với cuộc sống nữa. Ông tự nhốt mình trong phòng và khóc mãi.

Một hôm, người cha ngủ thiếp đi và ông mơ thấy một giấc mơ kỳ lạ. Trong giấc mơ, ông gặp một đoàn người rước đèn. Tất cả ngọn đèn đều lung linh toả sáng, trừ ngọn đèn của đứa bé cuối. Đứa bé ấy cầm một ngọn nến không được thắp sáng. Nhìn kỹ hơn, ông nhận ra đứa bé ấy chính là đứa con gái bé bỏng của mình.

Ông tiến lại gần và hỏi con rằng: “Tại sao nến của con lại không cháy?” Bé gái đáp rằng: “Con đã cố lắm nhưng không được cha à! Mỗi lần con thắp lên ngọn nến thì những giọt nước mắt của cha lại dập tắt hết ngọn nến của con”.

Đến đó thì người cha choàng tỉnh. Từ đó, ông lấy lại thăng bằng, lại sống vui vẻ, giúp đỡ mọi người xung quanh bởi ông không muốn những giọt nước mắt của ông lại dập tắt ngọn nến hy vọng của con ông.

***

Nước mắt chỉ có thể xoa dịu phần nào chứ không thể làm tan biến hoàn toàn nỗi mất mát lớn lao. Hãy cứ khóc khi bạn cần, nhưng hãy đứng lên vững vàng bạn nhé! Bởi ngoài kia, đâu đó, ở một nơi nào đó, người thân của bạn đang nhìn bạn mỉm cười.

Người đứng đầu, đôi khi phải đứng vững mà run, thì người dưới mới bớt khủng hoảng, thoái thác.

Con cái biết dựa vào đâu nếu không phải là cha mẹ. Niềm tin cậy của chúng không thể là người ngoài.

Con cái sẽ nghe từng câu, nhìn từng cử chỉ và việc làm của cha mẹ để tin, nghe và theo.

Con cái sẽ dựa vào bức tường vững chắc là cha mẹ mà sống an vui, nên chúng sẽ hoang mang, sợ hãi, thất vọng khi thấy cha mẹ không còn cứng rắn nữa.

Con cái sẽ bị gục ngã nặng nề gấp nhiều lần, nếu thấy cha mẹ bị suy sụp tinh thần.

Con cái dựa vào hướng dẫn của cha mẹ để nhìn đến một tương lai tươi sáng, dù khó khăn mấy cũng cố vượt qua. Nếu cha mẹ khi gặp đau thương mà bỏ cuộc thì chúng mất hết sức sống, nghị lực và hy vọng để chiến thắng bản thân cũng như nghịch cảnh.

Con người có thể mất mọi sự, nhưng hy vọng thì không thể đánh mất. Vì hy vọng là tia sáng cuối cùng còn lại để con người cố trườn mình qua vũng lầy cuộc đời. Và tin rằng ngày mai tốt hơn, sau cơn mưa trời lại sáng, sông có khúc người có lúc…

Mong sao mọi bậc phụ huynh luôn là chỗ dựa an toàn nhất của con cái, để tinh thần, tâm trí, lương tâm và lòng đạo đức, lòng hiếu thảo của chúng luôn được phát triển mạnh mẽ.

Ước rằng, mỗi cha mẹ luôn chỉ cho con cái thấy được ý nghĩa cuộc đời, và giúp chúng đạt được lý tưởng chúng. Nguyện xin mỗi cha mẹ giúp cho con cái biết cách để sống, sống tốt, sống có ích, để trở thành người của kiến tạo hoà bình và yêu thương, tha thứ và nhân từ…

Sưu tầm

***

Chấm này nối tiếp chấm kia, ngàn vạn chấm thành một đường dài.

Phút này nối tiếp phút kia, muôn triệu phút thành một đời sống.

Chấm mỗi chấm cho đúng, đường sẽ đẹp.

Sống mỗi phút cho tốt, đời sẽ thánh.

Ðường hy vọng do mỗi chấm hy vọng.

Ðời hy vọng do mỗi phút hy vọng.

ĐHY Nguyễn Văn Thuận

Tầm văn hóa nào?

Tầm văn hóa nào?

Lưu Trọng Văn

TS Nguyễn Trúc Lê, Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – ĐHQGHN cầm quyền trượng màu mè, khoác áo thụng như cha đạo La Mã dẫn đầu các sinh viên tốt nghiệp trong Lễ trao bằng các cử nhân “kinh bang tế thế” tương lai.

Là một tiến sĩ tốt nghiệp ở Anh, từng giảng dạy kinh tế tại Anh và VN, từng tốt nghiệp các chứng chỉ chính trị cao cấp, mới hay kiến thức giỏi giang về kinh tế, chính trị của thầy Trúc Lê chưa đủ độ tin cậy về thước đo tầm cao văn hoá.

Nếu thực sự đạt cái tầm ấy thầy Trúc Lê phải thấy bộ đồ mình khoác, tràng hạt mình đeo, quyền trượng mình cầm là thứ hình thức lai căng?

Tại sao không nghĩ ra nghi thức tốt nghiệp khác sinh động, bình dị mà có ý nghĩa hơn?

Gã gợi ý nhé.

Tổ chức lễ trao bằng tốt nghiệp cho các cử nhân kinh tế ở một làng quê nghèo nào đó để cho các ông chủ, bà chủ doanh nghiệp tương lai, hay các các chuyên viên kinh tế tương lai thấy mình cần phải làm gì cho Đồng bào và Đất nước.

Ông hiệu trưởng khi trao bằng có thể mời những người Dân một nắng hai sương cùng đứng bên mình trao bằng như trao quyền trượng, gửi gắm một hy vọng, một ước mơ, thậm chí một sứ mệnh.

Sao nhỉ?

Đất nước cần lắm những tấm lòng thực sự, không diêm dúa, màu mè của các nhà đào tạo nhân tài hơn bao giờ hết.

Gỗ càng xấu, càng phải tốt nước sơn.

Chất lượng đào tạo càng xuống, càng vẽ vời cầu kỳ, lòe loẹt, diêm dúa y phục tốt nghiệp hòng che mắt công chúng, bù đắp khiếm khuyết.

Nhưng các cụ bảo rồi, chiếc áo không làm nên thày tu. Mà y phục này của thày trò nom mới thộn làm sao!

Võ Văn Tạo

 

L.T.V.

HỌC CÁCH TẬN HƯỞNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA

HỌC CÁCH TẬN HƯỞNG SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA

Lm. Minh Anh, Tgp. Huế

“Giải tán họ xong, Ngài lên núi cầu nguyện một mình”.

Theo Mark Twain, “‘Nửa đầu’ cuộc đời bao gồm khả năng tận hưởng mà không có cơ hội; ‘nửa cuối’ cuộc đời bao gồm cơ hội mà không có khả năng tận hưởng!”. Nhưng theo một nhà tu đức, “Tốt nhất, dù là ‘nửa đầu’ hay ‘nửa cuối’, bạn hãy ‘học cách tận hưởng sự hiện diện của Chúa!’”.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay nói đến việc ‘học cách tận hưởng sự hiện diện của Chúa’; nói cách khác, học cách cầu nguyện, “dù là ‘nửa đầu’ hay ‘nửa cuối’ cuộc đời!”. Nhưng thật thú vị, bên cạnh đó, Lời Chúa còn nói đến cô đơn! Cô đơn và cầu nguyện thường đi liền nhau. Ai biết ở lại trong Thiên Chúa, phó mình cho Ngài, người ấy không bao giờ cô đơn, bởi luôn có Chúa đồng hành.

Tin Mừng tiết lộ, sau khi giải tán đám đông, Chúa Giêsu một mình lên núi để cầu nguyện. Ngài sẵn sàng rời bỏ sự phấn khích, thán phục của dân chúng dành cho ‘người đãi bánh’ thần kỳ; Ngài tìm nơi cô tịch hầu có thể một mình tâm sự với Cha. Ở trong im lặng mà không có người khác, có thể nhanh chóng dẫn đến một sự cô đơn nhất định và nội tâm thì trống rỗng; và người ta có thể cảm thấy bị thôi thúc muốn tìm bất cứ một ai đó, bất cứ một thứ gì đó để gây mê cho bản thân khỏi cảm giác đau đớn khi phải ở một mình! Nếu đó là điều xảy ra cho bạn và tôi, thì chúng ta cần kiên trì cầu nguyện nhiều hơn; và biết rằng, nỗi đau từ sự im lặng này vẫn có thể ‘hoá lành’ khi bạn và tôi tập ở lại trong Chúa và ‘học cách tận hưởng sự hiện diện của Chúa’.

Tin Mừng cho biết, Chúa Giêsu đi cầu nguyện từ chiều đến suốt đêm; và rạng sáng, các môn đệ gặp sóng gió trên biển hồ. Ngài hiện đến trấn an họ, họ tưởng là ma; Ngài lên tiếng, “Hãy yên tâm. Thầy đây, đừng sợ!”. Phêrô đáp, “Lạy Thầy, nếu quả là Thầy, xin truyền cho con đi trên mặt nước mà đến cùng Thầy”. Đôi khi, nỗi sợ về việc phải im lặng khi cầu nguyện của chúng ta lại còn lớn hơn nỗi sợ của Phêrô khi thấy Thầy đi trên nước. Tại sao? Chúng ta đã quá quen với việc bầu
bạn với người khác, gặp gỡ, trò chuyện, ăn uống… chúng ta không có ‘khả năng’ ở một mình, chúng ta sợ phải rời xa ‘những tiện nghi’ này dù chỉ trong thời gian rất ngắn để đi cầu nguyện. Vậy hãy tập từ bỏ ‘những tiện nghi’ vốn có thể đã ‘thành nếp’; hay buồn hơn, phát xuất từ một lối sống ‘văn hoá nhàn rỗi!’. Hãy bắt đầu từ hôm nay, học lại cầu nguyện, học làm rỗng tâm hồn, để Chúa Kitô có thể đổ đầy vào đó tình yêu và sức mạnh của Ngài!

Tin Mừng còn cho biết, “Khi cả hai đã lên thuyền thì gió yên biển lặng”. Một khi cùng Chúa Giêsu “lên thuyền”, tức là một khi quyết tâm ôm lấy việc cầu nguyện im lặng, tập trung, thì nỗi sợ hãi của chúng ta cũng sẽ lặng yên như gió biển. Bài đọc Giêrêmia hôm nay cũng nói lên điều tương tự: Israel trở về với Chúa, và Ngài làm lại tất cả; Ngài tha thứ, trấn an; Ngài ở cùng, “Bấy giờ các ngươi sẽ là dân Ta, và Ta sẽ là Thiên Chúa các ngươi”. Thánh Vịnh đáp ca cũng nói lên niềm vui có Chúa hiện diện đó, “Chúa sẽ xây dựng lại Sion, sẽ xuất hiện quang vinh rực rỡ!”.

Anh Chị em,

“Giải tán họ xong, Ngài lên núi cầu nguyện một mình”. Chúa Giêsu nêu gương cho chúng ta, hãy biết tìm đến Chúa Cha sau một ngày sống. Và ngay những giây phút chăm chú trò chuyện với Cha trong tĩnh mịch của canh khuya, ánh mắt và con tim của Chúa Giêsu vẫn không rời các môn đệ. Thấu cảm nỗi khổ chống chọi với biển giả của họ, Ngài đến cứu giúp. Cũng thế, Chúa Giêsu không bao giờ ‘thôi nhìn’ chúng ta, Ngài hiện diện với chúng ta qua người thân, qua gia đình, bạn bè, qua những người nghèo và cả những người chúng ta không thích. Thế nên, ‘học cách tận hưởng sự hiện diện của Chúa’ trong thinh lặng và ngay cả trong sự ồn ào phải là một điều gì đó thường xuyên nơi chúng ta. Thi thoảng, bạn và tôi cần trầm mình, ngỏ lời mời Chúa Giêsu bước lên ‘thuyền lòng’ mình, bình an và niềm vui sẽ ùa vào. Và như thế, chúng ta sẽ hưởng nếm hạnh phúc thiên đàng ngay tại chốn này; vì lẽ, ở đâu có Giêsu, ở đó có thiên đàng!

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con sẽ bước đi vững v
àng trên con đường Chúa chỉ cho, dù là ‘đi trên nước’; con không lệch sang phải, không quẹo sang trái, vì con tin, có Chúa đồng hành bên con!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

From: Kim Bang Nguyen

Ta Hay Chê Rằng Cuộc Đời Méo Mó, Sao Không Vo Tròn Nó Tự Trong Tâm?

GÓC SUY GẪM…

Ta Hay Chê Rằng Cuộc Đời Méo Mó, Sao Không Vo Tròn Nó Tự Trong Tâm?

Mỗi người như chiếc bánh xe lăn trên đường đời. Khi xe di chuyển khó, ta cần kiểm tra xem có phải lốp bị xịt hơi hay bị kẹt thắng không? Xịt hơi rồi thì bơm căng lại, Kẹt thắng thì sửa & thay bố thắng mới, xe sẽ lại chạy bon bon.

Cái tâm này cũng vậy, cần bơm đầy chính khí, bồi bổ thiện lương, gia cố thêm lòng nhẫn nại, nỗ lực vươn lên như chồi non tìm ánh sáng.

Hai dòng thơ trong bài “Tự sự” của Nguyễn Quang Hưng:

“Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

Sao ta không tròn ngay tự trong tâm”

Hai câu thơ có nội hàm thật sâu sắc, mỗi người với trải nghiệm cuộc đời khác nhau, cảnh giới tinh thần khác nhau sẽ có cảm nhận và lý giải khác nhau. Bởi vậy, sẽ khó có một “đáp án tiêu chuẩn” nào cho câu thơ nêu trên.

Tôi đọc được hai câu thơ này đúng vào lúc cuộc đời biến động, bản thân đang đứng trước thử thách, khổ nạn to lớn dường như khó lòng vượt qua. Vì thế, tôi không khỏi cảm khái mà viết ra vài dòng suy nghĩ nông cạn, mong sẻ chia cùng người tri kỷ.

Hai câu thơ đặt trong bức tranh toàn cảnh của một bài thơ sinh động, xanh tươi mà thấm đẫm triết lý nhân sinh:

“Dù đục dù trong, con sông vẫn chảy

Dù cao dù thấp, cây lá vẫn xanh

Dù người phàm tục hay kẻ tu hành

Vẫn phải sống từ những điều rất nhỏ.

Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

Sao ta không tròn ngay tự trong tâm

Đất ấp ôm cho mọi hạt nảy mầm

Những chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng.

Nếu tất cả đường đời đều trơn láng

Chắc gì ta đã nhận ra ta

Ai trong đời cũng có thể tiến xa

Nếu có khả năng tự mình đứng dậy.

Hạnh phúc cũng như bầu trời này vậy

Không chỉ dành cho một riêng ai”.

(Nguyễn Quang Hưng)

Hai câu thơ dường như là điểm sáng, kết tinh của toàn bài. Trước, là bức tranh cuộc đời muôn vẻ, “dù đục dù trong”, “dù cao dù thấp”, trắc trở nhấp nhô. Và sau, là hình ảnh tươi mới đầy hy vọng của hạt giống nảy mầm từ lòng đất, “chồi non tự vươn lên tìm ánh sáng”. Hai câu thơ như một sự tự vấn, bản lề của sự đổi thay:

“Ta hay chê rằng cuộc đời méo mó

Sao ta không tròn ngay tự trong tâm

Nó đặt ra sự tương phản giữa “méo” và “tròn”, giữa “cuộc đời” và cái “tâm” con người.

Dường như với bất kỳ ai trên cõi đời này, cuộc đời đều có những “méo mó” theo cách này hay cách khác. Ở đâu, lúc nào, với ai, ta đều có thể gặp phải chuyện không như ý.

Từ chuyện “vĩ mô” như tham nhũng cửa quyền, môi trường ô nhiễm, giao thông hỗn loạn… đến chuyện “vi mô” như món ăn trưa nay quá mặn, con cái không vâng lời, hay bỏ lỡ một món hời nào đó…

Nhân sinh có khổ sẽ có vui, có đắng cay ắt có ngọt bùi, ai làm người cũng phải có đắng cay.

Có một người vợ than phiền với bạn mình rằng chồng của cô quá ham chơi, chẳng chăm lo gì đến việc nhà cửa con cái. Cô ngưỡng mộ bạn mình vì chồng cô này rất yêu vợ thương con, cuối tuần nào cũng ở nhà. Ai ngờ, người bạn nói rằng cô ấy chỉ mong chồng mình chịu khó đi ra ngoài mở mang đầu óc, để bản thân cô có chút không gian riêng…

Mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh. Lúa ở ruộng nhà người khác thường xanh hơn, con người thường mơ ước những thứ không thuộc về mình mà không biết rằng nếu ở trong hoàn cảnh đó, họ cũng sẽ phiền não như vậy.

Bởi vì phiền não khởi nguồn từ ham muốn, dục vọng. Nếu ta không có dục vọng hưởng thụ ăn uống, thì cơm rau nước lã cũng ngon như mỹ vị cao lương.

Nếu ta không có dục vọng đối với tiền bạc, thì sự lên xuống của cổ phiếu hay sổ xố đâu thể động lòng ta được?

Và nếu ta chẳng màng quan tâm sĩ diện của bản thân, thì lời đàm tiếu thị phi của người đời chỉ như mây trôi gió thoảng…

Vậy thì hỡi những tấm lòng thiện lương trong thiên hạ, lo gì cuộc đời không phúc thọ đủ đầy, chỉ e rằng lòng ta chưa đủ lương thiện mà thôi!

Sưu tầm…

Andrew Yang tuyên bố thành lập đảng thứ ba ở Mỹ

Andrew Yang tuyên bố thành lập đảng thứ ba ở Mỹ

July 31, 2022

WASHINGTON, DC (NV) – Tỷ phú Andrew Yang, từng là ứng cử viên tổng thống của đảng Dân Chủ, vừa cùng một số nhà lãnh đạo chính trị độc lập và Cộng Hòa thành lập một đảng chính trị mới, theo UPI.

Ông Yang, bà Christine Todd Whitman (cựu thống đốc Cộng Hòa, New Jersey), ông David Jolly (cựu dân biểu Cộng Hòa, Florida) đã công bố thành lập đảng Forward thông qua một bài báo trên The Washington Post ngày 27 Tháng Bảy.

Cựu ứng cử viên Tổng Thống Mỹ Andrew Yang. (Hình: Michael M. Santiago/Getty Images)

“Chủ nghĩa chính trị cực đoan đang xé toạc đất nước chúng ta và hai đảng lớn không thể giải quyết được cuộc khủng hoảng này. Đó là lý do chúng tôi, những người ở đảng Dân Chủ, Cộng Hòa, và độc lập, cùng xây dựng một đảng chính trị mới thống nhất đa số người Mỹ,” họ viết.

Forward là sự kết hợp của đảng Forward Party mà ông Yang thành lập năm ngoái với Republican Renew American Movement và Serve America Movement của ông Jolly.

Họ tuyên bố Mỹ cần một đảng chính trị có phương pháp tiếp cận ôn hòa hơn trước vấn đề súng đạn, biến đổi khí hậu, và phá thai.

“62% người Mỹ mong muốn đảng thứ ba xuất hiện, một con số cao kỷ lục. Họ có thể nhận thấy các nhà lãnh đạo của chúng ta đang không làm tròn trách nhiệm,” ông Yang nói trên CNN’s New Day ngày 28 Tháng Bảy.

Ông Yang là một doanh nhân, từng thất bại trong cuộc đua giành ghế tổng thống vào năm 2020 và thị trưởng thành phố New York năm 2021. Khi đó, ông tham gia tranh cử với tư cách thành viên đảng Dân Chủ.

Bà Whitman giữ chức thống đốc từ năm 1994 đến năm 2001. Bà cũng từng là quản trị Cơ Quan Bảo Vệ Môi Trường (EPA), tương đương bộ trưởng nội các, dưới thời cựu Tổng Thống George W. Bush.

Ông Jolly từng là dân biểu từ năm 2014 đến năm 2017. Năm 2018, ông chỉ trích cựu Tổng Thống Donald Trump và tuyên bố rời đảng Cộng Hòa. (V.Giang) [đ.d.]

Xót ruột, sốt ruột nào đủ?

Xót ruột, sốt ruột nào đủ?

Lưu Trọng Văn

4.400 tỉ tiền của Dân, mà Dân lại đang rất nghèo, ở Thái Nguyên, chỉ còn là đống sắt rỉ.

Thủ tướng Phạm Minh Chính thẫn thờ đứng trước hoang tàn tệ hại ấy thốt lên: Xót ruột! Sốt ruột!

Nhà báo Đào Tuấn, người theo dõi “trận đánh”này kể lại:

“Năm 2007, Tập đoàn Khoa học Công nghệ và Thương mại Luyện kim Trung Quốc (MCC) thắng thầu tại dự án trị giá 3.800 tỉ này. Theo hợp đồng: hơn 160 triệu USD, là giá trọn gói không thay đổi. Nhưng chỉ vài tháng, bọn Tàu quay xe, đòi “điều chỉnh“ thêm 138 triệu USD, đòi kéo dài thời gian thực hiện hợp đồng EPC.

Và 11 tháng sau khi ký hợp đồng, sau khi được thanh toán tới 95% tiền mua sắm thiết bị với giá trị hơn 4.400 tỉ, MCC vẻ vang kéo quân về nước mà ko phải làm gì, và để lại một đống sắt vụn đúng nghĩa.

Suốt từ bấy, 4.400 tỉ giải ngân vẫn nằm đó, thù lù một đống”.

Trong khi đó Đất nước của 100 triệu Dân đang và sẽ rất cần thép. Một nền kinh tế sẽ què quặt nếu công nghiệp cốt lõi là thép đì đẹt.

Làm sao mà không xót ruột với sốt ruột?

Năng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam được Bộ Công Thương nhìn nhận là khá thấp khi phần lớn các nguyên liệu đầu vào để sản xuất thép phải nhập khẩu.

Bên cạnh đó, vẫn tồn tại nhà máy có công suất nhỏ, thiết bị lạc hậu, tiêu tốn năng lượng và nguy cơ về môi trường.

Bên cạnh đó, ngành thép của Việt Nam cơ bản phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu nước ngoài như: quặng sắt, thép phế liệu, than mỡ luyện cốc, điện cực graphite… nên khi giá các nguyên liệu đầu vào biến động sẽ làm giá thép thành phẩm trong nước cũng phải điều chỉnh theo thị trường thế giới.

Làm sao mà không xót ruột với sốt ruột?

Theo dự báo sơ bộ, tổng nhu cầu thị trường các ngành chế tạo của Việt Nam giai đoạn đến năm 2030 có thể đạt tới 310 tỷ USD. Trong đó, nhu cầu thị trường từ cơ khí phục vụ công trình công nghiệp là 120 tỷ USD; cơ khí phục vụ xây dựng, nông nghiệp, chế biến là 15 tỷ USD; thiết bị tiêu chuẩn là 10 tỷ USD; giao thông đường sắt là 35 tỷ USD; tàu điện ngầm là 10 tỷ USD và ô tô là 120 tỷ USD.

Đây sẽ là thị trường rất lớn cho ngành thép trong nước, đặc biệt là các loại thép chế tạo, thép hợp kim chất lượng cao phục vụ các ngành công nghiệp chế tạo, vốn là phân khúc hiện nay Việt Nam chưa tự chủ được trong sản xuất thép nội địa.

Vậy mà cả một công trình xây dựng nhà máy thép – quả đấm sắt 25 năm nay trở thành sắt… rỉ.

Làm sao mà không xót ruột với sốt ruột?

Nhưng thưa thủ tướng lẽ nào chỉ xót ruột và sốt ruột?

Trong đêm 27.7 tưởng niệm các liệt sĩ đã ngã xuống cho Hoà bình của Dân tộc, thủ tướng đã bật khóc, thì không thể chỉ “xót ruột và sốt ruột” được nữa, lúc này Dân tộc cần, yêu cầu, thậm chí buộc thủ tướng phải tỏ thái độ mạnh mẽ hơn.

Vâng, quá rõ ràng, chỉ xót ruột và sốt ruột chưa đủ. Phải căm giận, phẫn nộ. Căm giận, phẫn nộ những kẻ khốn nạn mất nhân tâm đã gây nên, đồng loã, tiếp tay cho “trận đánh” thảm bại này.

Có thể nói công trình nhà máy thép mở rộng Thái Nguyên là một thảm bại của Việt Nam trước bọn Trung Hoa Đỏ với cái lưỡi sói bẩn thỉu, tham lam, lừa đảo của chúng.

Nguyên do chính của thảm bại đau đớn nhục nhã này là do một lũ quân tướng đầu sỏ trực tiếp điều khiển “trận đánh” đã phản bội Dân tộc.

Thưa bác cả Trọng, bọn chúng chính là thế lực thù địch mà bác hay nhắc đến chứ đâu?

Chúng chỉ vì túi tham của mình đã tiếp tay cho bọn Trung Hoa Đỏ ăn cướp tài sản của Dân Việt, tàn phá Đất nước Việt mà không cần tiếng súng.

Bài học ở Thái Nguyên đó là cuộc xâm lược của Trung hoa đỏ không chỉ ở Biển Đông mà từ lâu đã kéo vào mọi ngóc ngách của nền kinh tế Đất nước và trắng trợn huỷ diệt nó.

Chưa trắng mắt hay sao?

Lời khuyên của gã với thủ tướng:

Không thể phục hồi được đống sắt rỉ với công nghệ phủi ở Thái Nguyên đâu. Thép là công nghiệp hiện đại gắn sống còn với môi trường. Phục hồi đống sắt rỉ ấy với công nghệ cũ sẽ phải trả giá cho môi trường rất lớn. Chi bằng đấu thầu bán hết đống phế liệu ấy đi, liên kết với các nhà đầu tư công nghiệp thép hàng đầu thế giới xây dựng tổ hợp thép hàng đầu thế giới cho Đất nước.

Cái khó nhất là làm sao ngăn cho được bọn đầu trâu mặt ngựa phản bội Dân tộc nhan nhản, không cho chúng tiếp tục luồn lách điều hành các dự án kinh tế trọng điểm của Đất nước đây?

Khó! Quá khó! Nhưng Lịch sử Dân tộc đã chứng minh:

Dễ trăm lần không Dân cũng chịu.

Khó vạn lần Dân liệu cũng xong.

Dân- Dân chủ hoá bộ máy điều hành Đất nước, sẽ đủ sức để chọn đúng người tài đức và tống cổ bọn bất tài, bất nhân.

L.T.V.

SỐNG HƯỚNG VỀ CUỘC ĐỜI MAI SAU

 SỐNG HƯỚNG VỀ CUỘC ĐỜI MAI SAU (CHỦ NHẬT 18 C)

Phó Tế: Nguyễn Sỹ Bạch

Ông bà và anh chị em thân mến, cả ba bài đọc hôm nay giúp chúng ta suy nghĩ về cuộc đời của mình để chọn cách sống cho cuộc đời mai sau.

Trong bài đọc một, tác giả sách Giảng Viên khi suy tư về sự khôn ngoan, về kinh nghiệm, về những bấp bênh của cuộc đời và về cái chết như một sự thật không tránh được nên đã thốt lên rằng “Phù vân, quả là phù vân. Phù vân, quả là phù vân. Tất cả chỉ là phù vân.”

Trong bài đọc hai, thánh Phaolô khuyên tín hữu phải chọn cách sống cho cuộc đời mai sau, nghĩa là phải tìm những sự trên trời và mặc lấy Đức Kitô ngay trong lúc này bởi vì cái chết không còn là bế tắc nữa, bởi vì Đức Kitô đã đánh bại thần chết rồi và bởi vì Ngài đã đem lại sự sống đời đời như là lời hứa chứa chan hy vọng rồi!

Trong bài Tin Mừng, vì thương con người, Chúa Giêsu đã không nhận làm quan tòa xét vụ chia gia tài giữa hai anh em, vì thương con người, Ngài đã thấy rõ lý do đằng sau của việc đòi chia gia tài sẽ làm cản trở cho cuộc sống mai sau, vì thương con người nên đã cảnh giác rằng: Anh em hãy con chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam (ham muốn), không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”

Vậy trước khi tìm hiểu tham lam ham muốn và những hình thức của nó gây cản trở cho đời sống mai sau để rồi tìm kiếm những phương thuốc trị bệnh tham lam ham muốn, chúng ta cần xác tín của cải hay những gì chúng ta có đến từ đâu.

1- CHÚA GIÊSU KHÔNG CHỐNG LẠI NHỮNG AI CÓ CỦA CẢI.  

Trước hết, của cải và những vật chất kể cả những khả năng chúng ta có được hay gia tài của mỗi chúng ta là do Chúa ban.  Mỗi chúng ta luôn cần xác tín và cảm tạ Chúa từng giây phút về những gì chúng ta có. Một khi đã trao ban, Chúa không chống lại những của cải, những khả năng đó. Chống sao được khi tất cả đến từ Ngài, tất cả là ân sủng Ngài ban để giúp chúng ta đạt đến đời sống hạnh phúc mai sau. Vậy thái độ hay cách sống nào cản trở cho đời sống mai sau.

2- THAM LAM – HAM MUỐN DƯỚI NHIỀU HÌNH THỨC.

Qua bài Tin Mừng, cái cản trở không phải là gia tài, nhưng là lòng tham lam ham muốn. Chia gia tài theo phong tục xã hội là điều hầu như hiển nhiên. Nhưng ở đây, Chúa hiểu được lòng tham lam của cải làm con người tranh dành, kiện cáo.  Nhân dịp này, để người đòi chia gia tài hiểu và để bao người khác không quá bám víu hoặc chỉ quan tâm đến của cải, vì của cải có thể là một cản trờ nguy hại cho đời sống mai sau, Chúa Giêsu nói với dân chúng: “Anh em hãy coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam (ham muốn), không phải vì dư giả mà mạng sống con người được bảo đảm nhờ của cải đâu.”    

Tham lam hay ham muốn, có nhiều thứ và mang nhiều hình dạng khác nhau hoặc có ý thức hay không ý thức.  Ở đây, tham lam núp bóng dưới hình thức của việc đòi công bằng, như người đòi chia gia tài.  Hay chẳng hạn, chúng ta thường nghe một số người phàn nàn về chương trình trợ cấp xã hội giúp những người kém may mắn vì nhiều lý do khác nhau.  Họ lẫm bẩm rằng “Tôi đã làm việc, đã trả thuế suốt đời.  Tại sao chính phủ chi tiền của tôi cho những người lãnh trợ cấp ngồi chơi xơi nước mà không phải làm gì cả !”  Điều phàn nàn nghe như là phàn nàn vì vấn đề công bằng, nhưng lại là một sự tham lam, ham muốn dưới hình thức khác, hình thức của ích kỷ.  

“Anh em hãy coi chừng, phải giữ mình khỏi mọi thứ tham lam… là lời Chúa cảnh báo trước, nên để làm sáng tỏ hơn thế nào là tham lam cho người đòi chia gia tài hiểu, cũng như cho mỗi chúng ta, Chúa Giêsu đưa ra thêm câu chuyện người phú hộ nhờ ruộng nương sinh hoa lợi nên nghĩ đến việc phá những cái kho kia để xây những kho lớn hơn hầu tích trữ tất cả thóc lúa và của cải vào đó.  Chúng ta nghĩ xem ông ta đã làm điều gì sai?  Ông chẳng làm điều gì sai trái cả !  Có thể ông đã vất vả lao công, làm việc chân chính và thâu hoạch kết quả nên cần tích trữ để hồn ông đáng được nghỉ ngơi, ăn chơi cho đả.  Ai chẳng có quyền như thế. Một số sau khi sống ở đất nước này, đã thành công trong thương trường và cũng đã/đang làm như thế. Cũng bình thường thôi. Nhưng chỉ có một điều người phú hộ không hay biết là nội trong đêm ông sẽ mất mang sống thì của cải sẽ về tay ai.  Ông quên mất điều đó hay không ý thức hoặc nghĩ chết cũng còn lâu lắm chăng! Ông không nhớ lời tác giả sách Giảng Viên đã coi “Tất cả là phù du” sao !  Còn chúng ta, chắc chắn khi suy tư về cuộc đời, chúng ta làm sao quên được sách Gióp đã ghi “Thân trần truồng tôi sinh từ lòng mẹ, tôi cũng trở về trần truồng” ! Chúa Giêsu nói hãy coi chừng là như thế.

Vì tham lam hay ham muốn ẩn núp dưới nhiều dạnh thức khác nhau, có khi thấy được có khi không và có khi cũng không muốn thấy.  Cái tham lam hay ham muốn ở đây là lòng ích kỷ.  Xã hội này với muôn vàn khuyến dụ làm mờ mắt chúng ta như đã làm người phú họ mù. Mù vì ích kỷ nên ông không nhìn xa hơn chính mình.  Trong câu chuyện ngắn gọn ông nhà giàu hay phú hộ đã dùng đi dùng lại chữ MÌNH đến 4 lần, chữ mình đồng nghĩa với chữ tôi: mình phải làm gì, mình sẽ làm thế nầy, của cải mình, mình bây giờ ê hề của cải…

Vì ích kỷ, ông không thể nhìn xa, nhìn ra ngoài, nhìn cao hơn thế giới của ông.  Quả thực, Chúa dặn dò phài coi chừng là coi chứng cách nhà phú hộ, cách của một số chúng ta sống không phù hợp với đời sống mai sau là như thế.  

Có một cuộc đàm thoại giữa một chàng thanh niên và một ông lão hiểu đời như sau.  Chàng nói: tôi sẽ học buôn bán. Ông lão hỏi: Rồi sao nữa?- Tôi sẽ mở hiệu buôn.  Rồi sao nữa?  -Tôi sẽ dựng nên cơ nghiệp lớn.  Rồi sao nữa?  -Tôi sẽ về già, về hưu, sống bằng tiền bạc của tôi. Rồi sao nữa?   Nói đến đây, anh ta chợt thốt lên: Ờ có lẽ một ngày kia tôi sẽ chết! – Ông lão hỏi tiếp: Rồi sao nữa?

Câu hỏi Rồi sao nữa như là một thức tĩnh cho người thanh niên và cho tất cả cho chúng ta.  Chúng ta tự đặt câu hỏi cho chính mình: “Tôi hiện đang làm chủ những gì tôi có hay những gì tôi có đang làm chủ tôi, làm chúa của tôi.” Của cải chỉ là một thôi, chúng ta còn những thứ ham muốn khác nữa như tự kiêu, địa vị, quyền hành, v.v.. Nếu trả lời được thì chúng ta nhận ra ngay mình đang ở thế giới nào.  Hạ giới hay thượng giới.  Tất cả những gì thuộc hạ giới đều sẽ qua đi, còn những gì thuộc thượng giới -ở ngoài chúng ta- sau cái chết, thì có sự sống vĩnh cữu. Người phú hộ trong câu chuyện đang lo tương lai của mình ở hạ giới.  

3- NHỮNG PHƯƠNG THUỐC TRỊ THAM LAM

Vậy đâu là cách sống cho tương lai mai sau, đâu là những phương thuốc giúp điều trị hay chữa lành tham lam, ham muốn, ích kỷ. Thánh Phao lô nói trong bài đọc hai.  “Những gì thuộc về hạ giới trong con người: gian dâm, ô uế, đam mê, ước muốn xấu và tham lam; mà tham lam cũng là thờ ngẫu tượng.”  Ngẫu tượng là một loại chúa ở trần gian, được tôn thờ có khi đến độ đam mê như tiền của, sắc dục, như quyền hành và như cái tôi là tất cả vũ trụ. Cái thế giới bên kia cái chết là thượng giới. Thánh Phao lô khuyên: “Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc về thượng giới, chứ đừng chú tâm về những gì thuộc về hạ giới.”  Những gì thuộc về thượng giới là khiêm tốn, yêu thương, bác ái, tha thứ, hy sinh, quyên mình v.v... Đó là những phương thuốc giúp diệt trù tham lam, ham muốn.  Đó là những thứ giàu sang trước mặt Chúa, còn những của cải, khả năng, sức khoẻ, v.v… tất cả chỉ là phù vân, là chóng qua như bài đọc một nhấn mạnh. Mà phù vân thật, bởi vì khi đã chết thì mang được gì theo đâu. Dân tộc Tây Ban Nha nói một câu sâu sắc như sau: “Vải liệm ngưòi chết không bao giờ có túi.” Phải, đâu có chi mang theo được mà may túi làm gì! Vậy chúng ta cùng sống tinh thần khó nghèo đi – dù giàu hay chưa có lương thực ngày mai – bởi vì cái chết công bằng với mọi người.

Hôm nay chúng ta cầu xin được vui hưởng những gì Chúa ban, và nhận ra lòng thiện hảo của Chúa qua tài năng, sức khoẻ, của cải và những gì chúng ta đang có.  Chúa biết chúng ta CẦN có những điều đó cho cuộc sống và để nhờ đó đến gần Ngài.  Tuy nhiên, nếu chúng ta quá QUAN TRỌNG HÓA hay bám chặt, dính chặt với những gì chúng ta đang có, những cái đó sẽ gây phản ứng nghịch lại nơi chúng ta.   Châm ngôn La mã ví tiền bạc khác nào nước biển, càng uống càng khát.  Lúc đã khát rồi, chúng ta không còn nghe tiếng mời gọi khẩn cấp của Chúa, không còn sáng suốt để thấy nhu cầu đói khổ của anh em, lúc đó chúng ta đảo lộn ưu tiên của cuộc sống, lúc đó chúng ta từ từ đánh mất sự sống mai sau của chúng ta.

 Thánh Phao lồ trong thư gởi tín hữu Ephêsô khuyên rằng: “Vì thế, anh em hãy cởi bỏ con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối” (Thật đau đớn cho những ai đang bị các ham muốn lừa dối).

Phó Tế: Nguyễn Sỹ Bạch