Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

Chân dung Mẹ Têrêsa Calcutta

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

Đăng bởi lúc 2:13 Sáng 8/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (08.09.2013) – Sài Gòn – Chân phước Mẹ Têrêsa Calcutta cả đời đấu tranh cho giá trị nhân phẩm của những con người nghèo khổ nhất, đã nêu gương luân lý làm cầu nối các khoảng cách về văn hóa, giai cấp và tôn giáo. Một con người có vóc dáng nhỏ bé nhưng lại có trái tim “cực đại” và đầy lòng nhân ái. Bà nói: “Ngay cả những người giàu cũng khao khát tình yêu, muốn được quan tâm, muốn có ai đó thuộc về mình”.

Cha mẹ của bà là người Albani. Bà sinh ngày 26-8-1910 tại Shkup (nay là Skopje), thuộc Cộng hòa Nam Tư (Macedonia), trước đó là Yugoslavia, với tên “cúng cơm” là Agnes Gonxha Bojaxhiu. Bà là con út trong 3 người con. Lúc bà 7 tuổi, cha của bà bị giết, nên bà quan tâm chính trị. Tuổi thiếu niên, bà là thành viên của nhóm bạn trẻ trong giáo xứ, gọi là nhóm Tương tế Tôn giáo (Sodality), dưới sự hướng dẫn của một linh mục Dòng Tên, bà cảm thấy quan tâm việc truyền giáo. Lúc 17 tuổi, bà gia nhập Dòng Nữ tử Loreto ở Ai-len, một dòng chuyên về giáo dục, rồi bà được gởi tới Bengal năm 1929 để vào nhà tập. Bà chỉ lõm bõm tiếng Anh nhưng vẫn khấn lần đầu, với tên dòng là Têrêsa (chọn theo tên của Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu).

Đến năm 1950, nữ tu Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái (Dòng Thừa sai Bác ái, Missionaries of Charity). Bà nhận Giải Nobel Hòa bình năm 1979 và nhận Giải Bharat Ratna (भारत रत्न, nghĩa là “Viên Ngọc Ấn Độ”, giải thưởng cao nhất của Ấn Độ dành cho người dân) năm 1980. Trước đó, năm 1962, bà đã được chính phủ Ấn trao giải Padma Shri. Trong những thập niên kế tiếp bà được trao tặng các giải thưởng lớn như Giải Jawaharlal Nehru về Hiểu biết Quốc tế năm 1972.

Trong thời kỳ Ấn Độ bị người Anh đô hộ (British Raj), trường Loreto nhận rất ít người Ấn, đa số là người Hindu Bengal, con gái các gia đình có thế lực ở Calcutta, nhưng đa số giáo viên vẫn là các nữ tu gốc Ai-len. Nữ tu Têrêsa không thuộc Dòng Nữ tử Loreto nữa nhưng thi thoảng bà vẫn về thăm. Bà dạy ở các trường nữ khác trong 3 năm trước khi (như bà nói) “theo Chúa đến với người nghèo khổ”. Theo các nữ sinh nói, sự gián đoạn đó không hoàn toàn thân thiện, ít là phần các nữ tu Dòng Loreto.

Hình ảnh nữ tu Têrêsa nhỏ bé, với tấm khăn choàng sari (trang phục của phụ nữ Ấn) xõa xuống vai và lưng, bước đi trên đường đá đỏ, trông thật giản dị và khiêm nhường. Bà luôn có một hoặc hai nữ tu choàng sari đi theo. Bà là con người kỳ lạ của thế kỷ XX. Có thể bà “khác người” vì chúng ta không thấy nữ tu nào choàng sari như vậy. Nhưng đó là thói quen của nữ tu Têrêsa vùng Calcutta, bà “quên” mình là người Albani để hòa nhập và hoàn toàn nên giống các phụ nữ Ấn.

Chính phủ đã “ầm ĩ” chống truyền giáo nhưng chưa bao giờ làm khó các nữ tu truyền giáo.

Đầu thập niên 1950, các học sinh không có đạo ở Nhà Loreto đã nghi ngờ ý định của Mẹ Têrêsa trong việc giúp đỡ các trẻ em đường phố hoặc trẻ mồ côi. Bà đang cứu vớt chúng để “dụ” đưa chúng vào đạo Công giáo? Cứ hai tuần một lần, Mẹ Têrêsa nói chuyện để vận động phụ nữ không phá thai và bảo vệ sự sống. Dự định của Mẹ Têrêsa là chăm sóc những người bệnh ở thời kỳ cuối, những người đến Đền Kalighat để được chết gần “thánh địa”. Mẹ Têrêsa không mong kéo dài sự sống cho họ, nhưng buồn về tình trạng nhơ uế và cô độc của họ trong thời gian cuối đời. Mẹ Têrêsa quan ngại về tỷ lệ tử vong và ám ảnh về cách chết của họ, ngược với quan niệm của người Hindu về sự tái sinh và sự chết là được giải thoát khỏi maya.

Mẹ Têrêsa lập một trại phong (Leprosarium) ở ngoại ô Calcutta, trên khu đất do chính phủ cấp. Bà là người lý tưởng hóa hơn là người lập dị. Người phong cùi bị coi thường không chỉ ở Calcutta mà ở khắp Ấn Độ, đến vài xu lẻ cũng không ai muốn bố thí cho họ. Ai cũng sợ bị lây nhiễm. Từ đó, người ta cũng có ánh mắt không thiện cảm với Mẹ Têrêsa.

Từ năm 1970, Mẹ Têrêsa trở nên một nhân vật nổi tiếng thế giới với các hoạt động nhân đạo cứu giúp người nghèo và những người sống trong hoàn cảnh tuyệt vọng, một phần cũng nhờ cuốn sách và bộ phim tư liệu tựa đề “Something Beautiful for God” (Điều tốt đẹp dành cho Chúa) của Malcome Muggeridge.

Bà không chỉ là nhà truyền giáo, mà còn là một “lương y” tận tình chăm sóc người phong cùi. Cách dấn thân của bà đã thay đổi người dân Calcutta, chính các nữ tu Dòng Loreto cũng trở lại tìm bà.

Dân Calcutta rất quý mến Mẹ Têrêsa. Các chị em ở trường nữ Loreto hồi thập niên 1970 đều trở nên các bà vợ tốt, có địa vị trong xã hội và tình nguyện hoạt động xã hội theo ý định của Mẹ Têrêsa, nhất là vì trại phong. Những năm sau, Mẹ Têrêsa rất tin tưởng những phụ nữ tốt nghiệp trường Loreto.

Số phận những người vận động luân lý dễ bị tổn thương vì các thay đổi của thói đạo đức giả hoặc tùy tiện của các chiến dịch. Những kẻ gièm pha đã kết tội Mẹ Têrêsa là phóng đại cảnh nghèo khổ của dân Calcutta. Mẹ Têrêsa luôn phải phải đấu tranh, dù vẫn bị người ta chỉ trích nhưng hoạt động của bà không suy giảm. Thậm chí bà còn thành công và cảm hóa chính những người đã nghi ngờ hoặc những người ghen ghét bà. Chính Mẹ Têrêsa đã thay đổi nhiều trái tim, đó là phép lạ thực sự vĩ đại.

Mẹ Têrêsa nói: “Ở Tây phương có sự cô đơn, điều mà tôi gọi là bệnh-phong-của-Tây-phương. Bằng nhiều cách, nó còn tệ hơn người nghèo của chúng tôi tại Calcutta. Tôi không bao giờ từ chối một đứa trẻ nào, không bao giờ, dù chỉ một”.

Năm 1950, cũng là năm Mẹ Têrêsa lập Dòng Truyền giáo Bác ái, ĐGH Piô XII đã phê chuẩn dòng này. Mẹ Têrêsa cũng đã từng có những lần sang thăm Việt Nam, chính Gx Thanh Đa (giáo hạt Gia Định, Saigon) đã được vinh dự đón tiếp Mẹ.

Vì tuổi cao sức yếu, Mẹ Têrêsa qua đời ngày 5-9-1997, sau hơn nửa thế kỷ phục vụ những người cùng đinh trong xã hội trong đức ái của Chúa Giêsu. Mẹ Têrêsa được ĐGH Gioan Phaolô II tôn phong chân phước ngày 19-10-2003.

Lạy Chân phước Têrêsa, xin ban cho chúng con trái tim nhân hậu như Mẹ để chúng con yêu thương mọi người, nhất là những người nghèo khổ, những người bị ruồng bỏ, những người bị ngược đãi,… Chúng con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa cứu độ của chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Kinh cầu Chân phước Mẹ Teresa Calcutta

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp con truyền bá hương thơm của Ngài tới mọi nơi con đến. Xin đổ vào linh hồn con tràn ngập tinh thần và tình yêu của Ngài. Xin làm thấm nhuần và sở hữu con hoàn tòn để cả cuộc đời con là ánh sáng của Ngài. Xin chiếu sáng con và ở trong con để mỗi linh hồn con giao tiếp đều có thể cảm nhận sự hiện hữu của Ngài trong linh hồn con. Xin để các linh hồn nhìn lên và không còn thấy con nữa mà chỉ thấy Chúa Giêsu. Xin ở lại với con và con sẽ bắt đầu tỏa sáng như Ngài tỏa sáng, tỏa sáng để thành ánh sáng cho người khác. Amen.

+ Kinh cầu này dùng làm Tuần Cửu Nhật kính nhớ CP Mẹ teresa Calcutta từ 27-8 tới 5-9.

(http://catholicism.about.com/od/dailyprayers/qt/Daily-Prayer-Of-Mother-Teresa.htm)

TRẦM THIÊN THU chuyển ngữ

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu

Trần-Đăng Hồng, PhD

image

Hiện nay, năm 2013 nước Việt Nam giàu hay nghèo? Câu hỏi được trả lời trong bài đọc “So sánh GDP đầu người của Việt Nam với vài nước Á Châu cuả tác giả Trần-Đăng Hồng, PhD.

image

Ngày nay, người Việt nào cũng biết là Việt Nam còn nghèo. Chữ “giàu” hay “nghèo” chỉ diễn tả tình trạng định tính chung chung, ta không biết được giàu hay nghèo ở mức độ nào, vì vậy cần phải định lượng bằng con số để có thể so sánh dễ dàng.

Để so sánh mức sống (living standards) giữa các vùng hay quốc gia, các nhà kinh tế xử dụng chỉ số GDP đầu người (GDP per capita). GDP (Gross Domestic Product) là tổng sản phẩm nội địa tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ hay quốc gia trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. GDP đầu người là số trung bình (bình quân) của GDP toàn quốc chia cho dân số. Để so sánh mức sống giữa các quốc gia, GDP đầu người phải được chuyển đổi theo cùng một hệ thống tiền tệ, US Dollar (US$). Tuy nhiên, mức sống tùy thuộc vào giá cả và hối xuất của mỗi quốc gia, để chính xác hơn, tính GDP đầu người theo sức mua tương đương (Purchasing Power Parity, PPP) trên cơ sở chênh lệch giá cả hàng hóa ở nước đó so với giá cả hàng hóa tương tự ở Hoa Kỳ.

Từ năm 2010, báo chí cho biết GDP toàn quốc của Trung quốc rất lớn, khoảng $5880 tỉ cho năm 2010, vượt qua Nhật Bản ($5470 tỉ), và nay đứng hàng thứ 2 sau Hoa Kỳ. Tuy đứng thứ 2 thế giới, nhưng mức sống của người Tàu còn rất nghèo so với người Nhật, vì GDP đầu người của Trung quốc chỉ $7.500 trong lúc của Nhật là $34.000 (4,5 lần cao hơn Trung quốc), chưa kể đến sự chênh lệch quá lớn giữa người nghèo và người giàu ở Trung quốc

Dựa vào chỉ số GDP công bố cho thời gian một hai thập niên qua, chúng ta biết Việt Nam hiện nay còn rất nghèo, nhưng không biết nửa thế kỹ trước Việt Namgiàu hay nghèo. May mắn, mới đây (2012), cơ quan Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF, International Monetary Fund) công bố chỉ số GDP đầu người cho 185 quốc gia, bắt đầu từ năm 1960 (1).

Vì không phải là chuyên gia về chính trị kinh tế, người viết bài này không dám lạm bàn về nguyên nhân hay chánh sách kinh tế. Phần này để bạn đọc tự tìm hiểu (hay đã hiểu). Thiển giả chỉ trình bày lại các dữ kiện khô khan của số liệu do WB và IMF cung cấp bằng các biểu đồ dễ dàng theo dõi hơn.

Việt Nam năm 1960

image

Biểu đồ 1. So sánh GDP (US$) đầu người giữa vài quốc gia Á châu năm 1960 (Vẽ từ tài liệu 1)

Theo biểu đồ 1, vào thời điểm 1960, trong số 10 quốc gia Á châu, Việt Nam Cộng Hòa (VNCH, South Vietnam, 223$) có GDP đầu người đứng sau Singapore (395$), Malaysia (299$), Philippines (257$), nhưng nhiều  hơn Nam Hàn (155$), hơn gấp đôi Thailand (101$), gấp 2,4 lần Trung quốc (92$), gấp 2,7 lần Ấn độ (84$), và gấp 3 lần Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (North Vietnam, 73$).

Trong thời gian từ 1954 đến 1975, năm 1960 là năm VNCH có nền kinh tế huy hoàng nhất. Vào năm này VNCH xuất cảng (xuất khẩu) tổng cộng 84 triệu US$, gồm 2 sản phẩm chánh là cao su (40 triệu US$) và gạo (27,7 triệu US$).  Riêng về xuất cảng gạo, năm 1960 là đỉnh cao nhất kể từ 1955 với khoảng 340.000 tấn, nhưng giảm dần sau đó, và từ 1965 Nam VN phải nhập cảng (nhập khẩu) 271.000 tấn, năm 1966 khoảng 434.000 tấn, và 1967 khoảng 749.000 tấn gạo (3). Tổng sản lượng quốc gia VNCH năm 1960 là 82 tỉ đồng VN, trong số này gồm có 4,481 tỉ đồng (5,5%)  là tiền viện trợ (3). Hối xuất chính thức trong đầu thập niên 1960 là 1US$ = 118 đồng Ngân Hàng Quốc Gia VN (VNCH, South Việt Nam), trong lúc hối xuất chợ đen năm 1968 là 235-245 đồng (3).

Cũng cần nhắc lại là thời điểm 1960, chiến tranh du kích đã phá hủy khá nhiều nền kinh tế ở nông thôn của Miền Nam, nhất là sản xuất cao su và lúa gạo. Theo tài liệu 2, từ 1955 đến 1961, chính phủ VNCH đã gia tăng đầu tư, nhờ vậy kỹ nghệ (công nghiệp) và nông nghiệp phát triển mạnh, nhưng sau 1961, các yếu tố trên bị suy giảm vì chiến tranh. Vì vậy, năm 1967, lợi tức đầu người (income per capita) Việt Nam Cộng Hòa giảm xuống 126 US$, trong lúc Thái Lan tăng lên 141 US$ (3).

Việt nam trước 1960

Câu hỏi là trước 1960, Việt Nam có nền kinh tế ra sao? Theo Anne Booth (2003), vì hậu quả của đệ nhị thế chiến và chiến tranh dành độc lập sau đó, cho tới năm 1960, vài nước Á châu như Indonesia, Miến Điện và Việt Nam vẫn chưa khôi phục lại GDP đầu người của thời tiền chiến.

Chẳng hạn, Miến Điện có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1929 có GDP cao hơn năm 1960 tới 68%. Riêng Việt Nam, đặc biệt là Nam Kỳ có thời kỳ kinh tế huy hoàng nhất là năm 1938, có GDP cao hơn năm 1960 là 69%. Vì Đệ nhị thế chiến (1939-1945) tiếp theo chiến tranh với Pháp (1945-1954) kinh tế Việt Nam kiệt quệ, suy giảm nặng nề, mải tới năm 1956 kinh tế mới bắt đầu tăng trưởng trở lại ở Miền Nam, và năm 1960 Việt Nam Cộng Hòa chỉ mới phục hồi được 60% của GDP đầu người của năm 1938 (4).

Như vậy, ở cuối thập niên 1930s, Việt Nam có một nền kinh tế hùng mạnh có hạng của Á Châu, chỉ đứng sau Nhật Bản, có lẻ ngang ngửa với Malaysia (lúc này Singapore còn là lãnh thổ của Malaysia), Philippines, và hơn hẳn các quốc gia khác như Thái Lan, Trung quốc, Triều Tiên, Ấn Độ và Indonesia.

GDP đầu người của Việt Nam và vài nước Á Châu từ 1980 đến 2011

Việt nam thống nhất lãnh thổ từ sau biến cố 30/4/1975. WB không có công bố số liệu GDP của Việt Nam trong 4 năm từ 1976 đến 1979. Vì vậy, ở đây chỉ trình bày từ năm 1980 cho tới nay (2011).

Biểu đồ 1 trình bày GDP đầu người của 7 quốc gia Á Châu  trong thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Trong thời gian 1980 – 2011, có 3 thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới gồm 1984-1986, 1997-2003 và 2008. Mỗi kỳ khủng hoảng phải mất vài ba năm mới phục hồi lại. Chẳng hạn cuộc khủng hoảng 1997, phải mất 6 -7 năm Singapore mới phục hồi, nhưng chỉ 1 năm với khủng hoảng 2008, trong lúc Nam Hàn với khủng hoảng năm 2008 tới nay mới phục hồi. Thái Lan, Indonesia, Philippines và Việt Nam coi như không bị ảnh hưởng gì (biểu đồ 1).

Theo biểu đồ 1, mọi quốc gia đều có tăng trưởng, nhưng với vận tốc tăng trưởng khác nhau. Nếu tính theo vận tốc tăng trưởng thì Singapore và Nam Hàn mạnh nhất, kế là Malaysia. Mặc dầu Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng cao hơn chút ít, nhưng mức khởi đầu quá thấp, nên Nam Hàn vẫn chưa thể nào bắt kịp vàSingapore vẫn còn tiếp tục dẫn đầu. Còn Việt Nam phát triển chậm nhất, vẫn ở vị trí chót trong số 7 quốc gia Á Châu nói trên (biểu đồ 1).

image

Biểu đồ 2. Biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 31 năm kể từ 1980 đến 2011.

Thay đổi vị thứ. Trong vòng 31 năm qua, Singapore vẫn giữ hàng đầu. Tuy nhiên, Nam Hàn nhảy hạng từ thứ 3 của năm 1980 lên hạng 2 vào năm 1985, và Malaysia tuột hạng từ 2 xuống  3. Philippines từ hạng 4 xuống hạng 6  trong lúc Thái Lan nhảy từ hạng 5 lên hạng 4 từ 1987, và Indonesia nhảy lên hạng 5 từ 2005. Việt Nam vẫn tiếp tục giữ hạng chót trong số 7 quốc gia nói trên.

Cách biệt GDP của vài quốc gia lân cận với Việt Nam.

Bảng 1. Số lần cách biệt GDP đầu người giữa một quốc gia đối chiếu với ViệtNam (tỉ số của GDP quốc gia đối chiếu/GDP của Việt Nam) ở hai thời điểm 1980 và 2011. Cột 4 là số lần gia tăng GDP của năm 2011/GDP của năm 1980 của một quốc gia. Cột 5 là số năm cần thiết để GDP tăng lên gấp đôi…

image

Theo Bảng 1, GDP đầu người  của Singapore nhiều 9,25 lần GDP của Việt Nam vào năm 1980, và chênh lệch tới 35,86 lần vào năm 2011. Thái Lan và Indonesiachỉ hơn Việt Nam chút ít vào năm 1980 (1,35 và 1,14 lần), nhưng nay Indonesiagấp 2,5 lần và Thái Lan gấp gần 4 lần Việt Nam.

Trong vòng 31 năm qua, GDP của Nam Hàn gia tăng 13 lần, tức chỉ cần 4,7 năm GDP tăng gấp đôi, Singapore 10 lần tức mỗi 6 năm GDP gấp đôi, Thái Lan 7,8 lần trong khi Việt Nam chỉ 2,7 lần, tức Việt Nam phải mất hơn 23 năm GDP mới tăng gấp đôi (Bảng 1). Như vậy, càng về sau Việt Nam càng tụt hậu.

Việt Nam có thể bắt kịp Thái Lan không?

Nhìn biểu đồ 2, chúng ta thấy là Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp được Philippines, Indonesia, Thái Lan, chứ đừng mơ tưởng bắt kịp Malaysia, Nam Hàn hay Singapore.

Để có thể tiên đoán chính xác, tác giả dựa vào số liệu do IMF cung cấp trong 10 năm qua (2002-2011) để vẻ lại mức tăng trưởng GDP đầu người cho mỗi quốc gia. Sau đó, dùng máy vi tính thử nghiệm các mô hình toán học để vẻ nhiều đường biểu diễn, rồi chọn một đường biểu diễn nào phù hợp có độ chính xác cao nhất. Kết quả cho thấy là các đường biểu diễn cho các quốc gia trình bày trong biểu đồ 3 có độ chính xác cao nhất (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho ViệtNam). Ở mỗi đường biểu diễn, chương trình toán học thống kê cũng cho một phương trình. Giải đáp bài tính lần lượt giữa hai phương trình của hai quốc gia để tìm ẩn số thời gian nơi hai đường biểu diễn gặp nhau, tức là thời kỳ GDP của quốc gia này bắt kịp một quốc gia khác.

image

Biểu đồ 3. Đường biểu diễn biến đổi chỉ số GDP đầu người (US$) của Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7) qua thời gian 10 năm từ 2002 đến 2011. Đường biểu diễn do chương trình toán học thống kê cho kết quả phù hợp với các số dữ kiện với độ chính xác rất cao (R2 từ 0.944 cho Malaysia và 0.988 cho Việt Nam).

Kết quả phân tích toán học bằng máy vi tính cho thấy đường biểu diễn tăng trưởng GDP đầu người của mỗi quốc gia không phải là một đường thẳng (linear) như mắt ta thấy, mà là một đường cong theo hình dạng của một cánh parabole (parabolic curve). Càng xa trục tâm 0, đường biểu diễn càng cong lên hơn, tức vận tốc tăng trưởng theo phương trình lũy tiến.

image

Biểu đồ 4. Đường biểu diễn tiên đoán GDP đầu người trong thời gian 50 năm tới (trục tâm 0 là năm 2013) cho Singapore (1), Nam Hàn (2), Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Tiên đoán dựa theo vận tốc tăng trưởng của thời gian 2002-2011 của biểu đồ 3.

Cần nhớ rằng ở thời điểm 0 (tức năm 2013), các quốc gia không khởi hành cùng ở mức 0, mà ở những vị trí khác nhau trên trục tung (Y). Chẳng hạn Việt Nam có tọa độ 1.660 US trong lúc Singapore ở tọa độ 50.899 US$, tức GDP hiện có của các nước này ở thời điểm 2013. Ngoài ra, vận tốc lũy tiến (độ cong) của mỗi quốc gia cũng đều khác nhau.

Theo tiên đoán của biểu đồ 4, Indonesia sẽ bắt kịp Thái Lan trong 23 năm tới (tức 2036) và kịp Malaysia vào 2095. Nam Hàn có vận tốc tăng trưởng lũy tiến chỉ hơn Singapore chút đỉnh nên Nam Hàn vẫn chưa bắt kịp trong thế kỷ 21.

Riêng phần Việt Nam, vì vận tốc gia tăng thấp hơn mọi quốc gia, nên tiếp tục ở hạng chót, không những không bắt kịp được nước nào mà càng ngày càng tụt hậu, càng nghèo nếu so với các nước trên.

Biểu đồ 5 trình bày dữ kiện cung cấp bởi IMF tiên đoán tăng trưởng GDP từ 2011 đến 2017, cũng xác định rằng Việt Nam sẽ không bao giờ bắt kịp các quốc gia nói trên, nếu vẫn tiếp tục tăng trưởng với cường độ hiện tại (vận tốc ban đầu = (1374 – 440)/10 = tức tăng thêm 93.4 US/năm).

image

Biểu đồ 5. Tiên đoán GDP đầu người do IMF  thực hiện cho thời kỳ 2011 – 2017 cho Malaysia (3), Thái Lan (4), Indonesia (5), Philippines (6) và Việt Nam (7). Vẽ từ tài liệu của IMF (1).

Vì vậy, muốn bắt kịp các nước nói trên, Việt Nam phải có vận tốc tăng trưởng ban đầu tăng cao hơn nữa, trước nhất để bắt kịp Philippines, sau mới tới Thái Lan.

Sau đây là các bài tính với giả sử rằng Việt Nam từ năm 2013 lần lượt đạt được vận tốc tăng trưởng GDP từ thấp lên cao, trước nhất bằng Philippines, rồi Thái Lan, rồi tới Indonesia, Malaysia, Singapore và Nam Hàn.


Nếu Việt Nam tăng vận tốc tăng trưởng GDP ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93,4 lên 133 US$/năm), Việt Nam vẫn tiếp tục tụt hậu, vì vậy muốn bắt kịp Philippines phải có vận tốc tăng trưởng cao hơn, càng cao hơn thì bắt kịp sớm hơn.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu và vận tốc lũy tiến (độ cong) bằng Indonesia hiện nay (ban đầu tăng thêm 259 US, tuy thấp nhưng lũy tiến tăng nhanh, xem đường cong ở biểu đồ 5), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2023, bắt kịp Thái Lan vào năm 2040, và bắt kịp Malaysia vào 2093.


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Thái Lan (tăng thêm 337,5 US$/năm, cao 3,6 lần hơn VN), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines trong 4,5 tới, tức giữa năm 2017, nhưng không bao giờ bắt kịp Thái Lan.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Malaysia hiện nay (tăng thêm 600 US/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào năm 2015, Indonesia vào 2019, Thái Lan năm 2028, nhưng không bắt kịp Malaysia, Nam Hàn và Singapore.

Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng của Nam Hàn hiện nay (tăng thêm 1583 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines và Indonesia vào năm 2014, Thái Lan năm 2017, Malaysia vào 2022, Singapore vào 2117 (104 năm nữa).


Nếu Việt Nam có vận tốc tăng trưởng bằng Singapore hiện nay (tăng thêm 2724 US$/năm), Việt Nam sẽ bắt kịp Philippines vào giữa năm 2014, Indonesia vào cuối 2014, Thái Lan năm 2018, Malaysia vào 2020, nhưng không bắt kịp Nam Hàn và Singapore.


Trên đây chỉ là giả thuyết, bởi vì muốn đạt được vận tốc tăng trưởng ban đầu bằng Philippines (tăng thêm từ 93 lên 133 US$/năm) cũng vất vả lắm rồi.

image

Ông Lý Quang Diệu và sách mới xuất bản đầu năm 2013 “Hãy cảnh giác với Trung Quốc”.

Qua ba thập kỷ nhiệm quyền của Lý Quang Diệu, Singapore từ một quốc gia đang phát triển nay đứng trong hàng ngũ những quốc gia phát triển nhất thế giới, mặc cho dân số ít ỏi, diện tích nhỏ bé và tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Lý Quang Diệu thường nói rằng tài nguyên duy nhất của Singapore là người dân và tinh thần làm việc hăng say của họ. Ông nhận được sự kính trọng của nhiều người Singapore, đặc biệt là những người lớn tuổi, họ luôn nhớ đến khả năng lãnh đạo của ông trong thời kỳ độc lập và tách rời khỏi Malaysia. Lý Quang Diệu vẫn thường được xem là nhà kiến trúc cho sự phú cường của Singapore ngày nay, mặc dù vai trò này có sự đóng góp đáng kể của phó thủ tướng, Tiến sĩ Goh Keng Swee, nhân vật chịu trách nhiệm xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore.

image

10 quốc gia có GDP đầu người dẫn đầu thế giới năm 2030 và 2040

Sau đây là danh sách của Citygroup công bố vào tháng 2/2011 tiên đoán về 10 quốc gia và lãnh thổ (như Hồng Kông) có GDP đầu người dẫn đầu thế giới vào năm 2030 và 2040 (1).

Theo bảng xếp hạng tiên đoán này, Singapore dẫn đầu thế giới, tiếp theo làNorway, Switzerland và Canada trong năm 2030 và 2040. Nam Hàn từ vị trí 9 năm 2030 sẽ lên vị trí 6 năm 2040, Hoa Kỳ tụt từ thứ 7 xuống thứ 9, trong lúc Hồng Kông không còn nằm trong danh sách “Top Ten” của năm 2040, mà thay thế bằng Anh quốc.

image

Tài liệu tham khảo

1.List of countries by past and future GDP (nominal) per capitahttp://en.wikipedia.org/wiki/List_of_countries_by_past_and_future_GDP_(nominal)_per_capita

2.Economy of the Republic of Vietnam

http://en.wikipedia.org/wiki/Economy_of_the_Republic_of_Vietnam

3. Timothy Hallinan (1969). Economic prospects of the Republic of Vietnam.www.rand.org/pubs/papers/2008/P4225.pdf

4. Tran Van Tho (2003). Economic development in Vietnam during the second half of the 20th century: How to avoid the danger of lagging behind. In: The Vietnamese Economy: Awakening the dorming dragon, ed. by Binh Tran Nam and Chi Do Pham, Routled Curzon, 2003, Chapter 2.

5. Anne  Booth (2003). The Burma Development Disaster in Comparative

Historical Perspective. SOAS Bulletin of Burma Research, Vol. 1, No., 1, Spring 2003, ISSN 1479-8484

Trần-Đăng Hồng, PhD

Cám ơn Anh Lê Khôi gởi

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

CHỈ CẦN CA NGỢI CHÚA RỒI ƠN LÀNH SẼ ĐẾN – II

Phan Sinh Trần. 09/2013.

1.Ca Ngợi Chúa có tác dụng chữa lành, bạn biết rồi nhưng mà Ca ngợi Chúa cũng có tác dụng chữa cho liệu pháp chữa lành nữa. Có bao giờ Bạn cầu nguyện cho ai đó theo yêu cầu của họ mà bị bế tắc không kết quả, chắc là cảm giác của Bạn khi đó rất là ngỡ ngàng và hoang mang nữa phải không? Chúng tôi cũng đã có kinh nghiệm này.

Vào năm 2009, Chị Maria M, một người rất nhân hậu và nhiệt thành trong Giáo xứ Lord Incarnation, Houston, Texas. Chị thường đi viếng kẻ liệt và khi bệnh nhân hấp hối.Chị sẽ ở với người sắp ra đi cho đến khi họ về với Chúa, cho dù thời gian là 2 ngày, 3 ngày hay 1 tuần, dù lâu bao nhiêu đi nữa, chị túc trực đọc Kinh Thánh cho bệnh nhân. Ngồi bên cạnh giường bệnh, Chị an ủi bệnh nhân rồi thầm thỉ lần hạt và cầu nguyện cho họ. Có khi Chị phải nghỉ làm để có giờ gần gũi kẻ hấp hối. Chị M đã nói, đó là giờ phút quyết định của đời người khi mà Quỉ sẽ dồn hết sức để cám dỗ, làm nản lòng, gieo nghi ngờ tình thương của Chúa nơi bệnh nhân, nó mong lôi kéo cho bằng được linh hồn này về hỏa ngục với nó, cho nên đây là lúc mà người sắp ra đi cần đến sự hỗ trợ của Thiên Thần bản mệnh, cần lời cầu bầu của Đức Mẹ của Các Thánh và của mình nhiều nhất.

Rồi một ngày nọ, điều không may đã xảy ra , Chị bị suy nhược thần kinh nặng vì đã bị chồng bỏ rơi và đi lấy vợ khác, chị bị mất ngủ, các bắp thịt và tay chân đều đau, bệnh tình càng ngày càng nặng đến độ chị không nhắc nổi tay, chân để đi làm. Chị sống rất cô đơn ở nhà có một mình thôi. Điều đáng lo là nếu Chị không đi làm được thì có thể Chị sẽ bị mất nhà vì không có tiền đóng Mortgage cho nhà băng, đó là chưa kể đến tình trạng một thân một mình không có ai săn sóc và giúp đỡ Chị !

Dĩ nhiên là Chị đã đến Nhóm Cầu Nguyện Thánh Linh và các Hội Đoàn quen biết để nhờ chúng tôi cùng cầu nguyện xin Chúa Giê Su chữa lành cho, chúng tôi cầu nguyện cho Chị đã mấy lần, tình trạng bệnh vẫn kéo dài theo thời gian, đã 8-9 tháng trôi qua. Cuối cùng thì Chị mất ngủ hoàn toàn, không ăn được gần như không đi lại được. Chúng tôi càng cầu nguyện thì bịnh tình của Chị càng nặng, đến độ tôi mắc cỡ mỗi khi nhìn thấy Chị từ xa, lòng tôi vừa thẹn thùng vừa cảm thấy mình vô duyên! Thật là bế tắc !

Rồi hôm đó, là buổi tĩnh tâm Thánh Linh trong Giáo Xứ, chúng tôi ca ngợi Chúa rất hứng khởi với nhứng bài hát ý nghĩa này:

…Lời ca vang cánh đồng bên muôn hoa tươi hồng, tôi vui mừng luôn trong Đức Chúa.

In moment like this, I lift up my hand, I lift up my soul to the Lord.

Shine Jesus shine, Lạy Chúa, Ánh Sáng của Tình Yêu Chúa đang chiếu tỏa trong bóng tối …

Trong buổi ca ngợi này, ai cũng cảm thấy tình thương và sự hiện diện của Chúa, chúng tôi được mạnh mẽ trong đức tin. Thật là đúng lúc, Chị Maria đã đến, xin chúng tôi đặt tay cầu nguyện để có đủ sức đi đến Bác Sĩ và gặp được “thầy hay, thuốc đúng”. Chúng tôi họp lại thành một vòng tròn nhỏ, lòng tin tưởng dứt khoát và mạnh mẽ, chúng tôi cùng đặt tay cầu nguyện, xin Chúa cất đi bệnh tật cho Chị trong danh yêu kính đầy quyền năng của Chúa Giê Su, chúng tôi cầu nguyện tha thiết trong lòng cảm phục sự đẹp đẽ, nhân từ và thương xót của Chúa kính yêu. Ngay khi đó Chúa đã cho Chị hết đau nhức toàn thân, và lúc sau, khi Chị đi đến phòng mạch, Bác Sĩ khám và khuyên Chị ngưng dùng thuốc vì không thấy cần thiết nữa. Cảm tạ Chúa, năm ngoái, tôi đã trông thấy Chị, vẫn tiếp tục giúp hội chợ Giáo Xứ, Chị tươi vui, nhẩy múa và đùa giỡn như một cô gái 18 và làm việc nhiều như một cô gái đôi mươi mà không biết mệt dù tuổi chị đã lớn hơn gấp đôi con số đó.

Ca ngợi Chúa đã đem lại cho chúng tôi sức mạnh và có thể chữa cho sự cầu nguyện yếu và lu mờ trước đó của Nhóm Tôi. Cũng có thể lý do khác nữa là Chúa dành đến ngày Ca Ngợi để ban quà cho con cái người và dậy dỗ chúng tôi về lòng kiên nhẫn, cậy trông . Ca Ngợi Chúa có thể gia tăng mạnh mẽ lòng Tin, Yêu Chúa vốn là Sức mạnh cho lời cầu nguyện được có kết quả. Ca ngợi Chúa làm cho chúng tôi nên mạnh mẽ trong cầu nguyện và được Chúa nhận lời.

2. Sự Ca Ngợi Chúa một cách hết lòng của mình có thể biến đổi tâm hồn của người khác cách lạ lùng. Điều này thì có lẽ nhiều người trong chúng ta đã có kinh nghiệm, nhất là nơi các Bà Mẹ khi họ ca ngợi Chúa và dâng trình con cái mình cho Chúa.

Cuối năm 2010, Nhóm chúng tôi có kỳ tĩnh tâm 3 ngày cuối tuần tại trung tâm tĩnh tâm Renewal Centre, Dickinson, Texas do Cha Giu Se Nguyễn Thiện Lãm hướng dẫn. Bước vào Thánh lễ, chúng tôi hân hoan ca ngợi Chúa với tất cả sự hưng phấn của tâm hồn, với tất cả sự tin tưởng và phó thác . Chúng tôi cảm thấy Chúa thật là gần mình, lòng thanh lắng một cách nhẹ nhàng và rất an vui, sôt sắng, chúng tôi biết Chúa đang hiện diện trong Thánh Lễ này và như đã có lần xảy ra, Chúa sẽ có quà cho chúng ta.

Đúng là như vậy! Đến phần truyền phép Mình Máu thánh Chúa, chúng tôi thấy Chúa đang làm việc với một Anh Thanh Niên khoảng 25, 27 tuổi, to cao , vạm vỡ, anh đang quì và run rẩy toàn thân, Anh rên rỉ và nhăn nhó… Khi Cha dâng lễ xong và chuẩn bị đặt tay cầu nguyện thì Anh đã ngã ra và được bình an trở lại, anh nghỉ ngơi trong Chúa và thầm thì với Chúa .

Sau đó một vài tuần , anh có đến Nhóm tôi trong tình trạng rất an vui và làm chứng cho Chúa. Anh H cho biết mình là một người trong một băng đảng qui tụ khoảng trên một tá thanh niên trong khu vực, băng này thành lập đã mấy năm, bắt đầu khi Anh còn đang đến trường ở bậc Trung Học, thấy có những thanh niên Mỹ đen ăn hiếp người khác, anh tụ họp bạn bè lại để đánh trả, rồi từ từ đã đi đến chỗ phạm vào các hành vi đánh lộn và thao túng khác. Anh bỏ nhà ra đi, sống với băng nhóm của mình, Anh cho biết đã trải qua đủ mọi tội và từng sử dụng mọi thủ đoạn, rành rẽ từng loại vũ khí, dao, súng, … Rồi đến hôm đó, nể Mẹ năn nỉ và liên lỉ cầu nguyện ngày đêm cho Anh với Chúa và Đức Mẹ nên Anh H đã đến buổi tĩnh tâm, anh tham dự cho có, nhưng mà dần dần thì thấy quan tâm hơn, trong lúc Mình Thánh Chúa hiện diện, Chúa bắt đầu chiếu lại cuốn phim “lich sử đời Tôi” của chính Anh cho Anh xem, trong đầu Anh H diễn lại theo tuần tự thời gian các diến tiến manh động, bạo lực, với cảnh nạn nhân của anh thiệt thòi ra sao, đau khổ đến mức nào, cảnh mất mát của gia đình, … tất cả đã làm cho Anh thật là hối hận và đau đớn đến nhỏ nước mắt. Anh xin lỗi Chúa và quyết tâm không lầm lỗi nữa. Chúa đã nghe, đã tha thứ và ban cho Anh ơn đổi mới trong Chúa Thánh Linh. Anh cho biết, từ ngày đó, anh xa lánh băng nhóm, dù bạn bè có năn nỉ và rủ rê Anh, lòng anh luôn vui và bằng an. Chúa còn làm cho anh say mê đọc Kinh Thánh ngày đêm, có khi thức đọc Kinh Thánh đến quá khuya mà không hay! Thật là ngộ nghĩnh vì trước đó hầu như không bao giờ Anh muốn đụng tới sách vở, dù chỉ một vài dòng cũng không. Trong đời Anh cả khi người thân ra đi anh cũng không thể khóc mà nay anh lại có lúc mủi lòng. Ca ngợi Chúa làm biến đổi lòng Người, Chúa đã ra tay ban ơn khi ta đang ca ngợi Chúa và hiệp nhất với Ngài, trước khi chúng ta kịp xin ơn thì Ngài đã ban ơn hoán cải và đổi mới cho đối tượng rồi. Từ hung dữ thành hiền lành, từ thờ ơ thành sốt sắng, từ tham lam thành thật thà , chân thành… Ca Ngợi Chúa Thật là tuyệt vời phải không thưa Bạn ?

Thực ra Ca ngợi còn có nhiều kết quả cho cả nhà Anh H. Trước hết là Mẹ của Anh, bà N cũng được ơn yêu mến, đổi mới nhờ bền tâm trong 2 năm trời, tiếp tục ca ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh của Giáo xứ. Rồi ơn đổi mới lan sang Mẹ Chồng khi bà tham dự các buổi Ca Ngợi Chúa cùng với con dâu, hai mẹ con trở nên yêu nhau thắm thiết như mẹ con ruột, đi đâu cũng có nhau như cặp uyên ương thật tâm đắc, sau đó, ơn đổi mới lan sang cho cả 3 người con trong nhà. Hiện nay, ơn đổi mới đang từ từ lan sang cho Chồng chị N . Tất cả bắt đầu từ sự Ca Ngợi Chúa trong Nhóm Thánh Linh và Cầu nguyện liên lỉ ở nhà.

Chúa cũng muốn ban ơn đổi mới cho gia đình Bạn nếu ta để hết lòng Ca Ngợi và Cầu Nguyện.

Tôi cho rằng Bạn biết bí quyết của sự Ca Ngợi là mặc lấy tinh thần đơn sơ, bé nhỏ của mình với Chúa và với Anh Em. Sự ca ngợi càng đơn sơ thì càng được Chúa yêu thích. Phần tôi cũng vậy, nửa đêm chợt thức giấc, nhớ đến Chúa Giê Su tôi thường hay thầm thì: “ Giê Su, thánh khiết của con, đầy lòng thương xót của con, gia tài của con. Con tôn thờ và cảm tạ Ngài”. Trong giờ phút kết hiệp với Chúa qua bí tích Thánh Thể, có lúc ta thảng thốt với Chúa: “Giê Su, (Chúa) là tất cả của con !”

Còn khi nào yêu Chúa quá thì sao ? Khi đó tôi và có khi một số trong các Bạn nữa phải không? Chúng ta sẽ nói đùa với Chúa, lời thì thầm, chỉ đủ cho một mình Chúa nghe mà thôi : “Cục vàng của con !!!”

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

CÁI NGUY HẠI CỦA PHƯƠNG PHÁP YOGA

Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt

Trung tuần tháng 12 năm 1989, Bộ Giáo Lý Đức Tin đã gửi cho các Giám Mục Công Giáo trên toàn thế giới một bức thư, lưu ý về việc suy niệm trong Kitô Giáo. Hiện nay có nhiều tín hữu Kitô dùng những phương pháp như nhập thiền, Yoga của các trường phái Ấn Giáo và Phật Giáo để giúp cầm trí cầu nguyện. Tuy nhiên vấn đề được đặt ra: khi thực hành phương pháp chiêm niệm của các tôn giáo Đông phương, các tín hữu Công Giáo đi tìm bầu khí thinh lặng, hay họ cũng tìm đến sự trống rỗng tuyệt đối, hoặc là tìm về cái ngã, cái tôi của mình?? Bởi vì bản chất của sự cầu nguyện hệ tại cuộc đối thoại với Chúa. Con người giữ im lặng ngõ hầu có thể lắng nghe và đáp lại Tiếng Chúa. Trong khi đó, một số phương pháp suy niệm theo các tôn giáo Đông phương chỉ nhằm tạo ra sự trống rỗng tuyệt đối, chứ không đả động gì đến việc gặp gỡ đối thoại với Thiên Chúa. Và đó chính là điều mà văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo của Bộ Giáo Lý Đức Tin muốn lưu ý. Sau đây là chứng từ của ông Christian Marie, tín hữu Công Giáo Pháp, về cái nguy hại của phương pháp Yoga. Ông viết:
Đọc xong văn kiện về Suy Niệm Kitô Giáo, tôi muốn bày tỏ vài thiển ý của riêng tôi. Yoga là một trong những phương pháp đông phương của thần bí triết học đang rất thịnh hành. Nhưng bên trong phương pháp này lại ẩn chứa một hiểm nguy mà ít người ngờ tới, nên tự để mình bị lôi cuốn vào vòng lừa đảo của nó.
Yoga là phương pháp khổ chế nhằm dẫn đưa tâm trí con người đến trạng thái của lương tâm tinh tuyền, của sự hiện hữu tinh tuyền. Đó là trạng thái mà con người ý thức về cái tôi của mình, nghĩa là về điều siêu việt hóa sự hiện hữu, trừu tượng hóa sự hiện hữu. Yoga khiến con người ý thức về cái ngã, cái vô thể, cái hòa lẫn trong khoảng không, bởi vì, nó không có chất thể, nghĩa là không có bản thể, không có một hiện hữu nào hết từ chính nó. Nói tắt một lời, Yoga trước tiên là một học thuyết của trạng thái trống không, một học thuyết của trống rỗng tuyệt đối. Mục đích tối hậu của Yoga là dẫn đưa linh hồn con người đến chỗ hòa lẫn, hiệp nhất với cái vô thể. Thế nhưng điều này không thể nào xảy ra được, do đó có thể kết luận rằng: Yoga là một phương pháp chỉ có thể thực hiện được với sự trợ giúp của các quyền lực quỷ dữ. Cái hiểm nguy là ở chỗ trạng thái tinh tuyền mà Yoga muốn đạt tới trở thành đối thủ của Thần Linh và nhường chỗ cho tên quỷ ngày xưa trong vườn địa đàng đã quyến rũ bà Evà rằng: “Các người sẽ trở thành những thần linh!”
Nói theo triết học thì Yoga được trình bày như một chối bỏ tất cả mọi hình thức của hữu thể. Và chính khi chối bỏ hữu thể cùng sự hiện hữu mà đồ đệ của trường phái Yoga phải đạt đến cái gọi là lương tâm tinh tuyền. Như thế Yoga là một loại triết học của vô thể. Để làm nổi bật ý tưởng này, xin trích dẫn vài tư tưởng của các triết gia đề cao chủ thuyết vô thể. Đó là ba nhà triết học hiện sinh vô thần nổi danh: Friedrich Nietzsche (1844-1900), người Đức; Jean Paul Sartre (1905-1980), người Pháp và Adolf Hitler (1889-1945), người Đức. Hitler còn là một tên độc tài khát máu. Nietzsche viết: “Tôi tuyên bố chỉ hư vô là vua có giá trị”. Còn Sartre thì nói: “Bởi vì tự chọn vô tôn giáo, vô tổ quốc, vô gia đình, nên tôi không đi về đâu hết”. Trong khi Hitler trơ trẽn tuyên bố: “Tại sao chúng ta lại ưu tư lo lắng về đạo lý tình yêu và về trách nhiệm luân lý? Tôi chống lại điều này và thay vào đó bằng học thuyết tối cao của hư không, và cái vô nghĩa hoàn toàn của cá thể, của thằng tôi”. Những câu tuyên bố như thế, phải chăng chỉ có thể xuất phát từ các đồ đệ của Satan?
Con rắn là loài xảo quyệt nhất trong mọi dã thú mà Thiên Chúa đã dựng nên. Nó hỏi người đàn bà: “Có phải thật Thiên Chúa đã dạy: các ngươi không được ăn quả cây nào trong vườn không?” Người đàn bà trả lời con rắn: “Chúng tôi được ăn các quả trong vườn, nhưng còn quả cây ở giữa vườn, thì Thiên Chúa đã phán: “Các con không được ăn, không được chạm tới, để khỏi phải chết”. Con rắn nói: “Không, ông bà sẽ không chết đâu, nhưng Thiên Chúa biết rằng, ngày nào ông bà ăn quả cây ấy, ông bà sẽ mở mắt ra, sẽ được nên như những vị thần, biết điều lành, điều dữ” (Sách Sáng Thế 3,1-5).
(“LE CHRIST AU MONDE”, 2/1992, trang 176-177).


(Sylvie là thanh nữ Pháp, 22 tuổi. Sau những tháng ngày mò mẫm tìm kiếm hạnh phúc trong hư vô lầm lạc, Sylvie đã hồng phúc gặp được Chúa GIÊSU, Đấng hiện hữu thực sự và Mẹ MARIA, Người Mẹ dấu ái của loài người). Sylvie kể lại cuộc hành trình tìm kiếm Thiên Chúa như sau. Cách đây 4 năm, Mẹ MARIA đã tìm đến gặp con trong chính cảnh khốn cùng cuộc đời con. Ngay từ tuổi thơ và suốt trong thời gian của tuổi dậy thì, tận sâu thẳm nội tâm, con luôn luôn khát vọng Thiên Chúa và mong mỏi gặp được Ngài.. Nhưng đáng buồn thay, con đã dại dột dùng những phương thế lầm lạc, đi theo những con đường giả dối. Thật ra con cũng bị bạn bè lôi cuốn một phần. Như bao người trẻ cùng lứa tuổi, con thích ca-vũ-nhạc-kịch và chạy theo bóng hình của một chàng trai!
Một buổi tối, người bạn gái hỏi con có muốn dự buổi thực tập ngồi thiền không. Cô bạn giải thích: “Đây là lối suy niệm siêu hình, hay đúng hơn, là kiểu ngồi thiền tìm kiếm hư vô”. Con tự nhủ: “Mình cứ thử xem sao. Biết đâu sẽ gặp được Thiên Chúa, thay vì đi đến nhà thờ!” Nghĩ thế nên con theo bạn dự buổi ngồi thiền. Người hướng dẫn buổi ngồi thiền là một phụ nữ. Bà nói với chúng con: “Suy niệm kiểu này sẽ mang đến cho con người sự điềm-tĩnh, sự tự-chủ, niềm bình-an, trở về với nguồn cội của tư tưởng và đạt được những sức mạnh phi thường, kể cả các bí thuật thần thiêng!” Lời giải thích nghe thật êm tai, đưa hồn giới trẻ chúng con vào cõi mộng .. Nếu chỉ ngồi thiền trong một thời gian không lâu mà đạt được những điều vừa nói, thì quả thật là quá hay và quá dễ! Chúng con phải ngồi thiền mỗi ngày hai lần và mỗi lần 20 phút. Trong vòng 20 phút đồng hồ, con phải ngồi yên và chỉ lập đi lập lại hai tiếng duy nhất là “hư-vô”. Ban đầu, con cảm thấy mình hạnh phúc và hớn hở với ý nghĩ: “Chắc hẳn rồi đây mình sẽ khám phá nhiều điều lạ lùng. Và biết đâu, mình chẳng khám phá được Thiên Chúa?” Nhưng rồi, thời gian qua đi cùng với việc thực hiện phương pháp ngồi thiền, con không hề khám phá ra ánh sáng. Trái lại, con cứ càng ngày càng chìm sâu trong bóng tối đen dày đặc! Thật là hãi hùng kinh khiếp. Cứ mỗi lần con ngồi yên nhắm mắt là đầu óc con quay cuồng giữa hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng! Sau 20 phút ngồi thiền, thể xác con có phần nghỉ ngơi chút ít, nhưng linh hồn con lại rơi vào lo âu sầu khổ và tràn đầy tuyệt vọng. Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi hai tiếng hư-vô .. hư-vô .. hư-vô! Và vì chỉ lập lại hai tiếng hư-vô nên con không còn cầu nguyện cùng Chúa GIÊSU và Đức Mẹ MARIA nữa. Trong khi đó hai tiếng hư-vô làm con khiếp sợ và chỉ muốn tìm cách trốn thoát.
Trong cơn khốn cùng, Mẹ MARIA đã giơ tay cứu vớt con. Trong phòng con có Bức Tượng Đức Mẹ nhỏ. Con thưa với Đức Mẹ: “Xin Mẹ đến giúp con!” Con chỉ nói với Đức Mẹ có thế thôi.. Cho đến một ngày, con gặp nhóm tín hữu Công Giáo đi hành hương. Họ cùng nhau lần hạt Mân Côi. Rồi họ nói về nhân đức khiêm-nhường, sự nghèo-khó và lòng trong-sạch. Đối với con, đây là điều hoàn toàn mới lạ, vì con nghĩ rằng, chả còn ai thực hành ba cái thứ nhân đức lỗi thời ấy nữa! Từ đó niềm hy vọng nhen nhúm trong lòng con. Con bắt đầu cầu nguyện với Đức Mẹ qua tràng chuỗi Mân Côi. Con dần dần lấy lại niềm an bình. Sau cùng con khóc vì cảm động, vì đã tìm thấy niềm vui, lòng trong trắng và tình yêu thương. Vâng, chính Đức Mẹ đã giúp con không còn sợ hãi Thiên Chúa nữa. Ngài không phải là Thiên Chúa hư-vô, nhưng là Thiên Chúa Hằng Hữu và đầy tràn tình thương..
Rồi con gặp một vị Linh Mục. Ngài giúp con lãnh nhận bí tích Hòa Giải và trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con. Thật là cuộc giải phóng tuyệt diệu! Con được tái sinh trong ơn thánh và tìm được hai vị Chủ Chăn dấu ái của cuộc đời con. Đó là Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA. Con thay thế hai tiếng hư-vô bằng lời Kinh dấu ái: Kính Mừng MARIA Đầy Ơn Phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
(Marie-Michel et Daniel-Ange, “Ce Jésus que tu cherches”, Le Sarment FAYARD, 1988, trang 118-120).

Chị Nguyễn Kim Bẳng gởi

Nghệ thuật làm giàu

Nghệ thuật làm giàu

Thiên Phúc
Nhïng béc £nh Ùng ¹p nh¥t cça cÙng Óng m¡ng (Ph§n 3)

Một ngày nọ, vua Nghiêu đi tuần thú đất Hoa, viên quan địa phương đất ấy ra nghênh đón và chúc vua rằng: “Xin chúc nhà vua sống lâu.” Vua Nghiêu nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan lại chúc: “Chúc nhà vua giàu có.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Viên quan chúc nữa: “Xin chúc nhà vua đông con trai.” Vua Nghiêu lại nói: “Đừng chúc thế!” Quan lấy làm lạ mới hỏi nhà vua: “Sống lâu, giàu có, đông con trai, ai cũng thích cả, sao nhà vua chẳng muốn?” Vua Nghiêu đáp: “Đông con trai thì sợ nhiều. Giàu có thì việc nhiều. Sống lâu thì nhục nhiều. Ba điều ấy không mang lại nhân đức nên ta từ chối.”

Viên quan tâu: “Nhà vua nói thế thực là bậc quân tử, nhưng trời sinh ra mỗi người phải có một việc. Nếu đông con trai, hãy cắt đặt mỗi người một nhiệm vụ thì có lợi chứ có gì mà sợ? Giàu có mà đem phân phát cho người nghèo thì còn công việc gì mà lo? Ăn uống có chừng mực, thức ngủ có điều độ, trong lòng thanh thản, thiên hạ tài giỏi thì vui cái vui của họ, trăm tuổi nhắm mắt về cõi trời. Một đời chẳng gây tai hoạ gì, hỏi có gì là nhục?”

***


Đứng trước tiền của, người ta có những thái độ rất khác nhau: Vua Nghiêu vì quá thận trọng chỉ nhìn thấy mặt trái của đồng tiền, nên của cải không sinh ích gì cho ông. Người phú hộ trong bài Tin Mừng hôm nay lại quá cậy dựa vào tiền của, nên khi thần chết bất ngờ đến thì tiền muôn bạc nén cũng không cứu được linh hồn ông. Duy chỉ có viên quan địa phương là có thái độ đúng mực về tiền bạc: Nếu giàu có thì đem chia sẻ cho người thiếu thốn. Đó chính là sứ điệp mà Chúa Giêsu muốn loan báo cho chúng ta hôm nay: Hãy dùng của cải đời này mà “làm giàu trước mặt Thiên Chúa.” (Lc 12,21). Đó chính là “nghệ thuật làm giàu” đích thực.

Trước mặt Thiên Chúa, chúng ta chỉ là những con người nghèo khó. Cho dù có xây bao nhiêu kho lẫm, bao nhiêu két sắt, bao nhiêu tài khoản ngân hàng, cũng chỉ là con số không. Chúng ta chỉ thực sự giàu có trước mặt Thiên chúa khi chúng ta dốc cạn kho cho người nghèo khó, mở hầu bao giúp kẻ khốn cùng. Chúa phán: “Hãy bán của chi mình đi mà bố thí. Hãy sắm lấy túi tiền chẳng bao giờ cũ rách, một kho tàng chẳng thể hao hụt ở trên trời, nơi trộm cắp không bén mảng, mối mọt cũng không đục phá.” (Lc 12,33).

Quả thật, một kho lẫm dù có được khoá chặt đến đâu cũng không ngăn cản được kẻ trộm, nhưng chỉ có những tài sản đích thực mà không ai có thể đánh cắp, chính là những tài sản thiêng liêng.

Thật ra, khi người giàu chia sẻ của cải cho kẻ nghèo, cũng chỉ là bổn phận của người quản lý mà thôi. Augier đã nói một câu chí lý: “Trong dự tính của Thiên Chúa, người giàu chỉ là viên thủ quỹ của người nghèo.” Vì thế, những ai “ê hề của cải, dư xài nhiều năm” mà “cứ nghỉ ngơi, cứ ăn uống vui chơi cho đã” (Lc 12,19) chính là những kẻ ăn cắp. Thánh Tôma Aquinô quả quyết: “Những người giàu đã đánh cắp của người nghèo khi họ tiêu xài phung phí những của cải dư thừa.”

Có thể nói, chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta thu lợi quá mức trên sức lao động của kẻ khác.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta giữ lại đồ đạc tiện nghi mà chẳng bao giờ dùng đến.

Chúng ta đánh cắp của người nghèo khi chúng ta ăn chơi, mua sắm như ném tiền qua cửa sổ.

Thánh Basilio không một chút ngần ngại nói với chúng ta: “Tấm bánh mà bạn giữ lại là của người đói khổ, chiếc áo mà bạn cất trong vali là của kẻ trần trụi.”

***


Lạy Chúa, Chúa để 80% của cải trên thế gian này vào tay 20% những người giàu có là để họ biết chia sẻ cho những người thiếu thốn, là để họ “làm giàu trước mặt Thiên Chúa”, chứ không phải để biến họ thành những kẻ đánh cắp.

Xin dạy chúng con chỉ nên giữ lại những gì cần thiết, và biết san sẻ hồng ân của Chúa cho mọi người, để thế giới này không còn cảnh bất công, nghèo đói, nhưng sẽ là một thế giới công bằng và yêu thương. Amen.

Thiên Phúc

From: ngocnga_12

Anh chị Thụ Mai gởi

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

Em còn nhỏ làm sao mà biết được

Đăng bởi lúc 5:00 Sáng 4/09/13

chuacuuthe.com

VRNs (04.09.2013) – Úc Đại Lợi – Suy niệm Lời Ngài đọc trong tuần thứ 23 Thường niên năm C 10.9.2013

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”

(dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Lc 14: 25-33

Với nhà thơ, làm sao biết được sự đời vì tuổi nhỏ. Nhỏ về tuổi, nhưng vẫn có nỗi khổ tâm riêng, rất oặn mình. Với nhà Đạo, tuổi đời của ai đó tuy có nhỏ, nhưng nếu người tuổi nhỏ biết lắng nghe và thực hiện lời Chúa, thì đời mình rồi cũng sẽ vui.

Lời Chúa hôm nay thánh Luca ghi, là Lời nhắn mọi người hãy từ bỏ giàu sang bạc tiền, của cải. Lời Chúa, vẫn là bí quyết để sống vui, sống đẹp, sống thanh thản như Ngài từng khuyên. Từ bỏ của cải/bạc tiền vẫn là chuyện dĩ nhiên. Dĩ nhiên, cho người tuổi nhỏ và dĩ nhiên cho cả người đi Đạo những biết phải bỏ rời cả mẹ cha và quá khứ, để theo Chúa.

Bỏ và rời, người nhỏ tuổi đôi lúc cũng chơi trò thương-ghét/ghét-thương cả mẹ cha đến độ khép kín cuộc đời lành, để mải miết với thú vui tạm bợ, sống lạc lõng. Lớp người tuổi nhỏ ở đâu cũng có, chẳng bao giờ mãn nguyện với hiện tại, nhưng vẫn kiếm tìm những thứ mới lạ và khác biệt, coi đó là lý tưởng cho riêng mình.

Lý tưởng mà người tuổi nhỏ hằng kiếm tìm bao giờ cũng đẹp, nhưng đôi khi vẫn là những thứ và những sự khó đối mặt để cùng sống. Những thứ và sự ấy, nhiều lúc kiếm tìm mãi vẫn không gặp, khiến người người chẳng biết đi hoặc đến nơi đâu mà tìm kiếm. Lắm lúc như có cảm giác mọi sự đã hiện diện trong con người mình mà không biết, nhưng lại cứ lùng tìm chiếm đoạt nó cho bằng được.

Người tuổi nhỏ có lý tưởng, tuy chưa đạt những thứ và những sự mình hằng ước, nên mới xác tín rằng: những thứ ấy luôn hiện hữu và nghĩ: mình được “phép” tận hưởng mọi thứ theo cách tưởng tượng. Và, vì chưa đạt được những gì mình tìm kiếm, nên người tuổi nhỏ vẫn tìm kiếm mãi. Kiếm và tìm, như thiên đường được báo trước. Cuối cùng, người người lại triển khai niềm tin riêng tư bằng quả quyết: chắc chắn có thiên đường. Đó là niềm tin. Là, xác tín của mọi người dù lớn nhỏ. Đó, là huyền-nhiệm tuy không định nghĩa được, nhưng ta vẫn muốn có, dù chưa gặp.

Trình thuật, nay đề cập chuyện “cởi bỏ” giàu sang, bạc tiền hiểu theo nghĩa rộng, tức: những thứ và những sự mà mọi người dù lớn/nhỏ vẫn cần rũ bỏ. Đó, chính là nỗi khó cho người tuổi nhỏ khi chưa đạt được những gì mình kiếm tìm. Chưa đạt, nên khó mà rũ bỏ. Tuy nhiên, Lời Chúa vẫn dạy mọi người cần rũ bỏ những gì là năng lượng chìm sâu trong quyết tâm đưa mình vào thứ gì khác lạ. Thứ gì khác, là khả năng suy nghĩ về sự sống; về cả khả năng vấn nạn mọi sự trong cuộc sống.

Đi vào cuộc sống, là kiếm tìm niềm tin. Kiếm tìm, một lý tưởng nào đó khiến người người thuộc mọi văn-hoá, lứa tuổi cũng như giai tầng xã hội đều thực thi trong xã hội. Xã hội ngoài đời gồm những vị trưởng giả cũng như giới nghèo/hèn ở cấp thấp vẫn kiếm tìm “thiên đường hạ giới” nơi cuộc đời. Kiếm tìm mãi, mới khám phá ra rằng: thiên đường mình tìm để sống không là chốn miền ao ước, mà là trạng huống sống có tình thương-yêu, giúp đỡ lẫn nhau. “Thiên đường hạ giới”, là diện mạo trần thế của niềm tin, chứ không là chốn vui chơi, sa đà.

Cuộc sống người Công giáo các thập-niên qua, nhiều người lại đã nhận ra rằng: dù vẫn tin, nhưng niềm tin của ta ra như còn mang tính chất của “người tuổi nhỏ”, dù đã lớn. “Tuổi có nhỏ”, nhưng bằng vào cách nhìn về Hội thánh như giấc mơ. Mơ, rằng: cả trong lý tưởng để sống cuộc sống “thiên đường hạ giới”, người người vẫn có nhiều hạn chế. Mơ, còn vì Hội thánh ta chẳng khi nào trưởng thành được nếu không thực hiện điều Chúa nhắc nhở.

Hội thánh ta sẽ chẳng thể nào tìm ra được “thiên-đường-cửa-hẹp” như Chúa nói, nếu không biết cởi bỏ tình huống khép kín, đóng khung, chia cách. Trái lại, nên hiệp thông, yêu thương, giùm giúp nhau. Yêu thương giùm giúp trên đường tìm kiếm cách-thế trưởng thành trong san-sẻ “thiên-đường-cửa-hẹp” có niềm tin sâu sắc. Nhiều thập-niên qua, người Công giáo vẫn cứ ngồi lì trong tình-huống rất “tuổi-nhỏ”, lại chưa đạt tình-trạng trưởng-thành của văn-hoá sự sống, rất đúng nghĩa. Sống, có tin và yêu thương lẫn nhau như người anh người chị cùng một cha, một mẹ.

Chín-chắn/trưởng thành, nằm trong hy-vọng cũng như niềm tin. Hy vọng và tin-yêu như tín-hữu cộng-đoàn tiên-khởi thời của thánh Luca từng sinh sống, dẫn dắt. Cộng-đoàn khi ấy cũng có yêu và có ghét. Yêu người cùng giòng giống, ghét đế quốc La Mã thời trước từng bách hại cộng đoàn mình. Tuy nhiên, cộng đoàn thánh Luca cũng đã kinh qua các giai đoạn khó sống, để rồi tỉnh thức trỗi dậy đi vào một thế giới khác biệt, quyết trở thành tín-hữu của Chúa, đã đổi mới. Thánh Luca tin tưởng điều ấy và tìm cách huấn-dụ dân con đồng Đạo đi vào “thiên-đường-cửa-hẹp”, Chúa muốn đi.

Cộng-đoàn Luca cũng kiếm tìm nhiều, đã nhận ra chân lý, nên thấy được rằng: muốn trở thành dân con đích thực của Chúa, ta đừng quá bận tâm vào chuyện kiếm tìm “thiên-đường-cửa-hẹp” mà làm gì. Bởi, trước khi ta tìm ra Chúa, thì Ngài đã tìm ta và thấy ta. Ngài đón nhận ta làm con của Ngài, ngay từ đầu. Đó, chính là huệ-lộc Chúa ban cho ta một cách nhưng-không. Ta chẳng cần kiếm hoặc tìm mà chỉ cần duy trì quà tặng bằng quyết tâm tin, yêu, hy vọng vào tình Chúa vẫn thương ban.

Huệ-lộc Chúa tặng ban, ta không có khả năng tự mình rút tỉa, nhưng đó là quà nhưng-không, Chúa biếu không ngay từ đầu. Huệ-lộc, biến thành thứ gì đó rất trừu-tượng trừ phi nó được Chúa tặng ban cho ta, không cần đến bàn tay ta dính vào. Điều tuyệt vời, là ở chỗ: quà ân-huệ “đã” được Chúa tặng ban cả vào lúc trước khi ta kiếm tìm nữa. Cũng như thể, ta cứ nghĩ: mình cần thứ ân-huệ-cộng-thêm cho những gì hiện giờ ta chưa có. Nếu nghĩ thế, ắt cho huệ-lộc đây chỉ là thứ quà cáp Chúa tặng ban sau khi suy đi nghĩ lại, chứ không phải từ đầu. Không. Không phải thế. Huệ-lộc Chúa ban không là quà tặng vào giai đoạn cuối đời, mà là quà tặng Chúa cưu mang, ngay từ buổi đầu.

Huệ-lộc cũng không là thứ gì đó chẳng ai trông chờ. Không là món nợ Chúa còn thiếu, nên mới trả cho ta. Quà Chúa tặng, không là phần thưởng Chúa hứa hẹn cho người sống tốt lành, hạnh đạo, chỉ một ít. Huệ-lộc, là quà có sẵn bên trong bản thể con người. Là người, ta đã được tặng ban huệ-lộc “nhưng-không” ở phần thâm-sâu của bản thể; nhờ đó, ta được thấy Chúa, ngay từ đầu. Bản thể “người”, tự thân, đã hàm-ngụ thứ khả-năng được thấy Chúa ngay từ lúc đầu. Đây không là văn/thơ, kịch bản đầy diễn-xuất, nhưng lại là cung-cách Chúa tạo-dựng nên ta. Chúa thẩm-thấu vào chính bản-thể “người” của ta, ngay từ đầu.

Nói cách khác, không phải là ta khởi đầu tìm Chúa khi tìm kiếm huệ-lộc; nhưng, Chúa đã sở đắc và tặng ban huệ-lộc cho ta trước. Chính Ngài yêu thương ta trước. Nên, đó chính là lý do khiến hữu-thể-tạo-vật-là-ta không chỉ mới vừa xuất hiện hoặc đang trên đường tìm kiếm, nhưng đã hiện hữu trong Chúa; đã được tìm thấy trong Chúa. Chúa và hữu-thể-tạo-vật-là-ta ở trong nhau, và với nhau. Ta hiện hữu ở đây là để cảm-tạ Chúa, ngay từ đầu, Ngài đã kiếm tìm ta và thấy ta, trong Ngài. Tóm lại, chính Chúa tìm ta trước vì Ngài thương ta ngay từ đầu và Ngài đã có ta trong bản-thể cao cả của Ngài. Đó chính là chân lý. Đó, mới là điểm son trong quan hệ giữa Chúa và ta.

Trong cảm nghiệm mối tương-quan mật thiết ấy, cũng nên ngâm lời thơ còn bỏ dở:

“Em còn nhỏ làm sao mà biết được,”

“ta oặn mình trong những khổ tâm riêng.”

Em còn nhỏ làm sao mà biết được,

Đời buồn hiu như lá rụng, ban đêm.”

(Nguyễn Tất Nhiên – Vài Đoạn Viết Ở Đinh Tiên Hoàng)

Viết đâu thì viết, đời người đâu nào đã buồn hiu vì lá rụng ban đêm. Đời người/đời ta vẫn không buồn dù ngày hay đêm, một khi đã biết và hiểu rằng Chúa đã có ta và ta đang ở trong Chúa, rất mừng vui.

Lm Nguyễn Đức Vinh Sanh

Mai Tá luợc dịch

‘Tội diệt chủng’ với quản giáo cộng sản Romania

‘Tội diệt chủng’ với quản giáo cộng sản Romania

Thứ ba, 3 tháng 9, 2013

Ông Visinescu không bình luận gì sau khi bị truy tố.

Công tố viên ở Romania truy tố một quản giáo thời cộng sản vì tội diệt chủng.

Tội danh với ông Alexander Visinescu là lần truy tố đầu tiên kể từ cuộc cách mạng 1989 dẫn đến việc tử hình lãnh tụ cộng sản Nicolae Ceausescu.

Ông Visinescu, 88 tuổi, có thể chịu án tù chung thân nếu bị tòa kết tội. Ông từng là trưởng trại giam Ramnicu Sarat từ 1956 đến 1963.

Bên công tố nói các tù nhân chính trị ở đó bị đánh đập, bỏ đói, và không được chăm sóc y tế.

Viện điều tra tội ác cộng sản của Romania (IICCMER) liệt ông này vào danh sách 35 viên chức mà họ xem là vi phạm nhân quyền.

Viện này nói chế độ nhà tù ở Ramnicu Sarat đem lại điều kiện “phi nhân đạo, dẫn đến cái chết của nhiều tù nhân chính trị”.

Hơn 600,000 người bị án tù chính trị ở Romania từ 1945 đến 1989, theo Viện Bảo tàng Nạn nhân Cộng sản của Romania.

Tại Romania đã xảy ra cuộc nổi dậy đẫm máu lật đổ chế độ cộng sản.

Nhà độc tài Nicolae Ceausescu và vợ bị kết tội diệt chủng năm 1989 trong một phiên tòa chóng vánh.

Họ bị hành quyết ngày 25/12 năm 1989.

Nhưng kể từ đó, Romania chưa kết tội một quản giáo thời cộng sản nào.

Đảng sẽ đưa đất nước về đâu?

Đảng sẽ đưa đất nước về đâu?

Thanh Quang, phóng viên RFA
2013-09-02

000_Hkg8860693-305.jpg

Bộ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Vương Nghị (P) và Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hà Nội ngày 05 Tháng 8 năm 2013.

AFP photo

Việc luật gia Lê Hiếu Đằng “Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh” để “tính sổ cuộc đời” và rồi đề xướng lập “Đảng của những người bỏ đảng” nhằm mang lại sinh hoạt chính trị cho đúng nghĩa, hình thành xã hội dân sự cũng như xúc tiến dân chủ hóa xã hội VN khiến, cho tới giờ, khoảng 20 bài viết trên báo lề đảng như Nhân dân, Quân đội Nhân dân, Công an Nhân dân, Đại Đòan kết, Saigòn Giải phóng…đồng loạt công kích.

Bất công khắp nơi

Lên tiếng với phóng viên Gia Minh, luật gia Lê Hiếu Đằng cho biết:

Có thể nói đầu tiên khi tôi đặt ra những vấn đề đó thì thật ra đó là những vấn đề đi vào yếu huyệt của đảng cộng sản, của chế độ; thành ra quí vị đó phản ứng hơi mạnh. Tôi nghĩ đó là điều tất nhiên thôi. Mà vấn đề đó là vấn đề cốt tử hiện nay bởi vì một xã hội phát triển bình thường phải có những đảng chính trị đối lập để giám sát, chế ước lẫn nhau. Điều đó là xu thế trên thế giới…Bất cứ chính quyền nào, cộng sản hay không cộng sản mà ‘một mình, một chợ’, không có giám sát của xã hội dân sự cũng sẽ trở thành hư đốn, lộng quyền và lạm quyền thôi…

Khi nhận thấy “hàng lô những nhà lý luận cung đình”, chuyên hay thời vụ, quy chụp ông Lê Hiếu Đằng là “thay lòng đổi dạ”, phản bội lại lý tưởng mà ông đã theo đuổi, thì blogger Hùynh Ngọc Chênh nêu lên câu hỏi rằng “Ai thay lòng đổi dạ?”.

Qua bài blog với tựa đề như vừa nói, nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh lưu ý rằng số bài viết chỉ trích luật gia Lê Hiếu Đằng thì nhiều nhưng “luận điệu phản biện thì giống hệt nhau, nghèo nàn và xơ cứng, đi lại cũng hô các khẩu hiệu: Con đường đi lên CNXH là chọn lựa duy nhất của dân tộc VN, đảng độc quyền lãnh đạo là tất yếu lịch sử, đảng đưa đất nước đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, xương máu của hàng triệu đảng viên (?) góp phần làm nên thắng lợi nên đảng đời đời độc quyền lãnh đạo là đương nhiên, dân chủ VN theo kiểu của VN…”. Vẫn theo blogger Hùynh Ngọc Chênh, các “tác giả lý luận cung đình” lề đảng ấy lại lặp lại cung cách của “dân nơi chợ búa” vẫn làm khi muốn “phản biện ” đối thủ của mình, đó là “thóa mạ, quy chụp, chửi bới về nhân thân cũng như động cơ của ông Lê Hiếu Đằng”.

000_Hkg8442283-250.jpg

Người nhà ông Đoàn Văn Vươn kêu oan cho ông trước TAND Hải Phòng hôm 02/4/2013. AFP photo

Sau khi  “thử hỏi lý tưởng mà ông Đằng đã theo đuổi suốt cuộc đời của mình, từ hồi trai trẻ còn cắp sách đến trường cho đến lúc gần đất xa trời, là gì ? Nhà báo Hùynh Ngọc Chênh cho biết đó là “đấu tranh chống bất công, chống áp bức, chống xâm lược nhằm xây dựng một đất nước Việt Nam độc lập, tự do, dân chủ, công bằng và hạnh phúc”, và blogger Hùynh Ngọc Chênh nêu lên vấn đề là “ai rời bỏ lý tưởng đó ? Đảng CS hay những người đã và sắp bỏ đảng như ông Lê Hiếu Đằng ?”. Tác giả hỏi tiếp rằng dưới sự lãnh đạo của đảng CS, nước VN thống nhất trong 38 năm qua đã có được những gì: Độc lập? Tự do? Dân chủ ? Hạnh phúc thực sự hay chưa ? Xã hội có công bằng không ? Và tòan dân có ấm no không ? Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh lưu ý:

Nhìn vào thực trạng đất nước hiện nay, ông Lê Hiếu Đằng đã đưa ngay câu trả lời. Đảng lãnh đạo hầu như lệ thuộc vào đảng Trung Quốc từ lý luận đến thực tiễn hành động. Đất nước thì bị đe dọa mất chủ quyền bởi vòng kim cô “4 tốt, 16 chữ vàng” để bị kẻ thù phương Bắc bao vây trên nhiều phương diện: Quân sự, ngoại giao, kinh tế và cả văn hóa nữa. Kinh tế thì suy sụp, xã hội thì đảo điên, áp bức bất công khắp mọi nơi, nạn tham nhũng thì càng ngày càng phát triển đến mức không còn cách để ngăn chặn…


“Từ trước đến nay đảng chưa hề có một lời xin lỗi với nhân dân về những sai lầm của mình. Từ đó, những người ấy nghi ngờ rằng đảng đã không còn đi trên con đường lý tưởng như ban đầu đã chọn lựa.
– Nhà báo Huỳnh Ngọc Chênh”

Điều gì đã đưa đất nước đi đến thực trạng như vậy? Ông Lê Hiếu Đằng cũng như nhiều trí thức nhân sĩ trong và ngoài đảng đều có chung một nhận định: Do đảng lãnh đạo đã liên tục mắc vào các sai lầm mà không hề đúc kết rút kinh nghiệm để sửa sai. Từ trước đến nay đảng chưa hề có một lời xin lỗi với nhân dân về những sai lầm của mình. Từ đó, những người ấy nghi ngờ rằng đảng đã không còn đi trên con đường lý tưởng như ban đầu đã chọn lựa.

Trong những ngày qua, một loạt những bài viết lề đảng “đấu tố” luật gia Lê Hiếu Đằng khiến blogger Phạm Đình Trọng liên tưởng đến “những bài viết rầm rộ, đồng loạt, tới tấp đánh Nhân Văn Giai Phẩm trên các báo ở miền Bắc hồi những năm 1956, 1957”, nó “sao giống khẩu khí, giọng điệu, giống cả thái độ quyền uy lấn lướt, giống cả sự hằn học nhỏ nhen, muốn làm sống lại cả không khí ngột ngạt, căng thẳng thời đánh NVGP đến thế”.

Hiện trạng đất nước

Nhà văn Phạm Đình Trọng nhận thấy trước kia, NVGP bị đánh theo “lệnh công khai phát ra từ chót vót trên cao” khi những “bài viết và nói nảy lửa” của “thi bá” Tố Hữu phát ra từ phát súng lệnh của “cung đình nhà Đỏ”, thì ngay lập tức, “các nhà nghiên cứu, các văn nghệ sĩ ào ào nhảy vào đánh túi bụi những mục tiêu đã được chỉ định. Đánh để cố tách xa mình ra khỏi NVGP, để bày tỏ lòng trung thành với đảng, để lập công với đảng nên không thiếu một tên tuổi nào, không sót một tờ báo nào trong cuộc đánh hội đồng này”.

Còn ngày nay, theo Đại tá Phạm Đình Trọng, chỉ có “dăm tờ báo với vài người viết tên tuổi lạ hoắc có thể coi là vô danh” mượn cớ đánh bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnhcủa ông Lê Hiếu Đằng để, qua đó, đánh phá luôn cả phong trào đấu tranh đòi dân chủ hóa đất nước. Nhưng nhà văn Phạm Đình Trọng nhấn mạnh rằng dù mức độ đánh phá có khác, qui mô và khí thế có khác, còn nội dung thì “hoàn toàn là sự tái hiện vụ Nhân Văn Giai Phẩm, vụ Xét Lại Chống Đảng trong quá khứ, là quyền uy độc tài đánh phá ngăn chặn đòi hỏi tự do dân chủ, là lực lượng chuyên chính về tư tưởng bảo vệ quyền uy, bảo vệ đặc quyền đặc lợi của Nhà nước đảng trị chống trả lại tiếng nói vì dân vì nước”.

Giữa lúc thời nay đang “sống lại cả không khí ngột ngạt, căng thẳng của thời đánh NVGP ”, nhà văn Phạm Đình Trọng cũng không quên cuộc đấu tố “địa chủ” trong chiến dịch cải cách ruộng đất diễn ra kiểu “cánh đồng giết người” như bên xứ Chùa Tháp, khi những kẻ đấu tố “càng tỏ ra sôi sục căm thù”, tìm cách vạch ra cho được nhiều “tội ác” của nạn nhân bị gán cho là “địa chủ” thì càng được đánh giá là có “giác ngộ giai cấp”, càng được đảng tin cậy, cất nhắc. Do đó, theo nhà văn Phạm Đình Trọng, người đấu tố phải cố “lên gân” lập trường giai cấp, phải “tưởng tượng ra đủ các tội vu oan giá họa làm cho một nông dân hiền lành chỉ nhờ biết tổ chức làm ăn, chịu khó cần cù khuya sớm và tằn tiện ki cóp mà có đủ ruộng cày cấy và có cuộc sống tạm đủ ăn cũng trở thành địa chủ cường hào gian ác phải nhận bản án tử hình”.
Nhà văn Phạm Đình Trọng nhận thấy bài viết “Suy Nghĩ Trong Những Ngày Nằm Bịnh” của ông Lê Hiếu Đằng chỉ là một sự tiếp nối tiếng nói NVGP nửa thế kỉ trước đòi tự do dân chủ thật sự cho quê hương mà thôi.

000_Hkg8867232-250.jpg

Hà Nội sau một trận mưa lớn hôm 08/8/2013. AFP photo

Đại tá Phạm Đình Trọng nhân tiện lưu ý rằng những nhà viết lịch sử đảng, những nhà lí luận, những cán bộ tuyên huấn của đảng suốt mấy chục năm qua đều “một giọng cường điệu hóa, anh hùng ca hóa công tích của đảng Cộng sản Việt Nam mà không chịu nhìn vào thực tế là những sai lầm liên tiếp trong quá khứ, tham nhũng không có điểm dừng trong hiện tại của đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi từ thảm họa này đến thảm họa khác”. Những thảm họa đó là:

“Thảm họa cải cách ruộng đất đánh sập từ gốc rễ đạo lí Việt Nam, đánh tan tác văn hóa làng xã tạo nên bản sắc văn hóa Việt Nam.”

Thảm họa Nhân Văn Giai Phẩm, thảm họa ngụy tạo ra vụ Xét lại chống đảng đã giam cầm, đầy ải, giết dần giết mòn những tài năng, tinh hoa nhất của dân tộc Việt Nam.”

Thảm họa cải tạo tư sản ở miền Bắc sau năm 1954, cải tạo tư sản ở miền Nam sau năm 1975 tước đoạt quyền làm chủ của những chủ tư sản biết tổ chức sản xuất kinh doanh tạo ra việc làm cho người lao động, tạo ra của cải cho xã hội… Cải tạo tư sản đã hủy hoại, xóa sổ cả một nền sản xuất công nghiệp tự chủ đang lớn mạnh của người dân, của đất nước.”

Thảm họa tập trung cải tạo thực chất là tù đày lực lượng ưu tú nhất của xã hội miền Nam cũng là tài sản con người của dân tộc Việt Nam, đẩy một nửa dân tộc Việt Nam ra khỏi vòng tay Mẹ hiền Tổ Quốc Việt Nam. Từ đó dẫn đến thảm họa thuyền nhân vùi xác hơn nửa triệu người dân Việt Nam dưới đáy biển.”


“Thảm họa Vinashin, Vinalines làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra đổ vỡ dây chuyền làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đẩy nền kinh tế đất nước vào khủng hoảng kéo dài, không thể cất mình lên nổi
– Đại tá Phạm Đình Trọng “

Thảm họa mất đất mất biển. Những mảnh đất mang hồn thiêng tổ tiên người Việt Nam, thấm đẫm máu nhiều thế hệ người Việt Nam, những tên đất chói lọi trong lịch sử Việt Nam đã bị Nhà nước Cộng sản Việt Nam cắt sang đất Tàu”!

Thảm họa khai thác bô xít Tây Nguyên tàn phá môi trường, tàn phá văn hóa Tây Nguyên, làm chảy máu lâu dài nền kinh tế đất nước. Dự án khai thác bô xít Tây Nguyên liên tục ngốn nguồn vốn lớn hàng chục ngàn tỉ, hàng trăm ngàn tỉ đồng của nền kinh tế đất nước nhưng không làm ra một đồng tiền lãi, không bao giờ có lãi ở thời hiện tại!”

Thảm họa Vinashin, Vinalines làm thất thoát hàng trăm ngàn tỉ đồng vốn ngân sách Nhà nước, tạo ra đổ vỡ dây chuyền làm cho hàng trăm ngàn doanh nghiệp phá sản, đẩy nền kinh tế đất nước vào khủng hoảng kéo dài, không thể cất mình lên nổi”.

Thảm họa tụt lại sau thế giới, lạc lõng với thế giới. Năm 1975 Thái Lan phải ngước nhìn lên sự phát triển của kinh tế, xã hội miền Nam Việt Nam thì nay Thái Lan phải ngoái lại phía sau nhìn sự ì ạch của kinh tế xã hội Việt Nam vì Thái Lan đã vượt xa Việt Nam vài chục năm rồi và càng ngày, Thái Lan càng bỏ xa Việt Nam”.

Nhà văn Phạm Đình Trọng nhân tiện cảnh báo rằng một đảng đã đưa dân tộc Việt Nam đi “từ thảm họa này đến thảm họa khác”, một đảng đã “cắt cả đất đai thiêng liêng của tổ tiên” cho phương Bắc, một đảng đang “lún sâu trong tham nhũng”, dùng bạo lực chuyên chính vô sản “bóp chết những tiếng nói chính đáng đòi tự do dân chủ”, “kìm hãm sự phát triển của xã hội, của đất nước”, thì, theo blogger Phạm Đình Trọng, “ đó là một tội ác! Những tội đó còn ghi khắc mãi trong lịch sử đau thương của đất nước này”.

LS Hà Huy Sơn qua bài “Hãy tuân theo quy luật để tồn tại và phát triển” khẳng định rằng “một nhà nước dưới sự lãnh đạo của một đảng thì nhà nước đó không bao giờ là nhà nước của mọi công dân”, hay nói cách khác, nó không phải là một nhà nước “ của dân, do dân, vì dân”, cả về nguyên lý lẫn thực tiễn.

Có lẽ trước tình cảnh như vậy, nhà thơ Lang Thang “cảm tác” thành vầng thơ:

Lúc nào đảng cũng thắng, dân thua

Thì hỏi đảng vì dân hay vì đảng?

AI HẠ MÌNH XUỐNG SẼ ĐƯỢC TÔN LÊN

AI H MÌNH XUNG S ĐƯC TÔN LÊN

 

Nếu cuộc đời là một bữa tiệc, hẳn có nhiều thực khách đã chọn chỗ nhất mà ngồi. Tôi chọn ngồi chỗ nhất vì tôi thấy mình quan trọng, tôi xứng đáng được hưởng vinh dự đó…

Tiếc thay, không có nhiều chỗ nhất trong bữa tiệc cuộc đời, nên người ta phải tranh giành nhau bằng mọi thủ đoạn để chiếm được và giữ được chỗ nhất cho mình.

Những cuộc tranh giành như thế đâu phải là điều xa lạ.  Chúng vẫn diễn ra nơi gia đình, trong cộng đoàn, trong nhóm, trong giáo xứ, giữa các quốc gia… Nơi nào có hai người ở với nhau là có thể có đụng chạm, vì chỉ có một chỗ nhất.

Giữa một thế giới tự cao tự đại, rồi xâu xé nhau, Đức Giêsu mời gọi chúng ta sống tự khiêm, tự hạ. Nhiều khi chúng ta hiểu sai về khiêm nhường.

–      Khiêm nhường không phải là khinh rẻ bản thân, cũng không phải là thụ động, không dám nhận trách nhiệm, trách nhiệm làm người ở đời và làm con Thiên Chúa.

–      Khiêm nhường lại càng không phải là một mặt nạ để lôi kéo sự chú ý của người khác: tôi hạ mình xuống để được tôn lên.

Abraham là một mẫu gương khiêm nhường.  Ông ý thức mình chỉ là tro bụi (Kn 18,27), nhưng ông đã dám mạnh dạn mặc cả với Đức Chúa về số người công chính, đủ để cứu thành Sôđôma.  Giêrêmia đã từ chối làm ngôn sứ, lấy cớ mình còn trẻ người non dạ (Gr 1,6). Nhưng khi ông dám nhận trách nhiệm Chúa trao, thì ông trở thành khiêm tốn và can đảm.

–      Nhiều người định nghĩa khiêm nhường là chấp nhận sự thật.  Nhưng chấp nhận sự thật là điều khó biết bao, vì sự thật đòi tôi xét lại cách sống.

–      Khiêm nhường là nhận biết thân phận thụ tạo của mình: những gì tôi có và cả con người tôi, đều bởi Chúa.

–      Khiêm nhường là đón nhận đời mình như quà tặng Chúa ban, và dâng lại đời mình cho Chúa như một quà tặng.

–      Khiêm nhường cũng là nhìn nhận sự thật về mình: tôi chưa hoàn hảo, tôi có nhiều giới hạn, tôi cần được tha nhân nâng đỡ, góp ý… Tha nhân ấy không phải chỉ là người trên tôi, mà còn có thể là người kém tôi hay chẳng ưa tôi.

Nơi lời chỉ trích, tôi gặp được khá nhiều sự thật.

Nếu tôi khiêm hạ trước người khác, tôi sẽ thấy được nhiều ưu điểm bất ngờ của họ.  Những ưu điểm này không phải là mối đe dọa cho tôi nhưng là quà tặng làm tôi thêm phong phú.

“Xin cho con biết con, xin cho con biết Chúa.”Càng biết, chúng ta càng khiêm nhường thẳm sâu. Thánh Phanxicô Borgia viết: “Tôi thực tâm muốn đặt mình ở dưới Giuđa, vì tôi đã thấy Đức Giêsu ngồi dưới chân anh ấy.

Nếu chúng ta chọn ngồi ở chỗ cuối, thì chỉ vì đó là chỗ ngồi quen thuộc của Đức Giêsu.

****************************************

Giữa một thế giới đề cao quyền lực và lợi nhuận, xin dạy con biết phục vụ âm thầm.

Giữa một thế giới say mê thống trị và chiếm đoạt, xin dạy con biết yêu thương tự hiến

Giữa một thế giới đầy phe phái chia rẽ, xin dạy con biết cộng tác và đồng trách nhiệm.

Giữa một thế giới đầy hàng rào kỳ thị, xin dạy con biết coi mọi người như anh em.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu tinh ròng, xin cho các Kitô hữu chúng con trở thành tình yêu cho trái tim khô cằn của thế giới.  Xin dạy chúng con biết yêu như Ngài, biết sống nhờ và sống cho tha nhân, biết quảng đại cho đi và khiêm nhường nhận lãnh.

Lạy Ba Ngôi chí thánh, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa ở sâu thẳm lòng chúng con, và trong lòng từng con người bé nhỏ.

Trích từ ‘Manna’

Đức Khiêm Nhường

Đức Khiêm Nhường

Khiêm tốn vẫn được coi là một đức tính tốt ở mỗi người. Điều đó ai cũng hiểu nhưng làm sao để có được đức tính ấy?.

Trên chuyến xe lửa chạy từ ngoại ô vào trung tâm thủ đô Pari. Trong toa xe, có một ông già ngồi bên cạnh một chàng sinh viên trẻ. Khi tàu xe chạy được một đoạn thì ông già từ tốn lấy ra trong túi một chuỗi hạt và chỉ ít phút sau ông đã chìm vào trong sự cầu nguyện. Anh sinh viên liếc nhìn tỏ ra khó chịu. Thời gian trôi đi, anh ta vẫn thấy ông già vẫn im lặng, thành kính, say mê lần hạt. Anh sinh viên khó chịu quá thốt lên: Này ông! Đến bây giờ ông vẫn còn tin vào sự vơ vẩn này ư?
Ông già từ từ nhìn lên và nhè nhẹ gật đầu: Vâng, tôi vẫn tin, nhưng còn anh? Anh sinh viên cười khoái trí và trả lời rằng: hồi nhỏ tôi cũng có tin, nhưng bây giờ làm sao tôi có thể tin được, khi khoa học đã mở mắt cho tôi khám phá ra những chân trời mới và cống hiến cho nhân loại với biết bao nhiêu điều tốt đẹp.
Ông già giơ tay ngắt lời anh sinh viên. Này anh, anh vừa nói là khoa học đã khám phá ra những chân trời mới, vậy anh có thể cho tôi biết chân trời mới ấy là thế nào không?

Anh sinh viên sôi nổi quả quyết: Vâng, nếu ông muốn biết, thì cứ cho tôi biết địa chỉ của ông, tôi sẽ gửi đến cho ông một cuốn sách. Khi đọc xong cuốn sách ấy, ông sẽ tức khắc bỏ những niềm tin vơ vẩn này đi ngay.
Ông già điềm tĩnh lấy ra tấm danh thiếp đưa cho anh sinh viên. Anh sinh viên đọc tấm danh thiếp, thoáng nhìn ông, bỗng ngượng tái mặt lẳng lặng bỏ sang toa khác. Bởi vì trên tấm danh thiếp của ông già chỉ ghi vỏn vẹn có mấy chữ: Louis Pasteur – Viện trưởng Viện Hàn lâm Khoa học Pari.

Mẫu chuyện này có thể mang lại cho chúng ta một triết lý và kinh nghiệm sống. Đồng thời, nó nói lên tính tự mãn của con người khi người ta quá đề cao về thành tụ của khoa học mà thiếu vắng niềm tin nơi Thiên Chúa. Câu ngạn ngữ cổ Hy Lạp viết:“Kiêu căng là đặc quyền của kẻ khờ dại”. Còn trong sách Huấn ca thì dạy rằng: ” Càng làm lớn, con càng phải tự hạ, như thế con sẽ được đẹp lòng Đức Chúa. Vì quyền năng Đức Chúa thì lớn lao: Người được tôn vinh nơi các kẻ khiêm nhường. Kẻ kiêu ngạo lâm cảnh khốn cùng và vô phương cứu chữa” (Hc 13,18-28).

Nối kết với bài Tin mừng hôm nay, Chúa Giê-su cũng đưa ra bài học rất thực tế về cách đối nhân xử thế. Ngài dùng dụ ngôn bữa tiệc để khuyên dạy dân chúng cần có thái độ khiêm nhường trong cách quan hệ xã giao. Thái độ này phù hợp với con cái Thiên Chúa trong mọi lãnh vực sinh hoạt. Bởi lẽ, có nhiều kẻ muốn được ngồi trên những hàng ghế vị vọng, muốn được người ta kính trọng, muốn trèo lên những vị trí hàng đầu. Đó cũng là cách thức mà người đời thường đánh giá về nhau qua địa vị, thành tích và ảnh hưởng xã hội về bản thân, họ tự cho mình là quan trọng, là bậc nhất, không ai có thể thay thế được.

Có lẽ, điều Chúa Giê-su nói với dân chúng không chỉ ở cái ghế ngồi, mà đằng sau cái ghế vị vọng đó còn có một ý nghĩa sâu xa hơn, đó là bữa tiệc của Nước Trời. Bữa tiệc mà mọi người được tham dự, thì sẽ không đánh giá qua địa vị và chức tước. Đối với Thiên Chúa, mọi người đều như nhau khi chúng ta ra khỏi đời này về bên Chúa thì sẽ có nhiều điều bất ngờ. Có khi một bà cụ già hiền lành, một kẻ ăn xin vô gia lại được đứng trước những kẻ vị vọng cao sang quyền quý… Điều quan trọng và cần thiết hơn là làm sao chúng ta được bước vào Nước Chúa, thì không còn là địa vị chức tước nữa, mà là thái độ của lòng khiêm nhường để nhận ra chân lý, nhận ra con người đầy khiếm khuyết và tội lỗi của chúng ta, vì Nước Trời không dành cho những kẻ kiêu căng tự phụ. Lời Chúa nói: “Phúc cho ai có lòng khiêm nhường vì Nước Trời là của họ”.

Cho nên, đức khiêm nhường không những được coi là một phẩm đức tốt mà còn là nền tảng của đạo đức, là cả một đạo lý. Với Lão Tử, khiêm tốn được khái quát lên thành cái “Đạo” của con người thông minh, cái đạo không thể thiếu trong xử thế. Lão Tử viết: “Kiêu Ngạo, ham muốn, nộ khí, ý nghĩ lệch lạc quá nhiều, chỉ có hại mà thôi”. Thật vậy, khi sống với người kiêu ngạo tự phụ, chúng ta sẽ thấy kẻ ấy chỉ lo cho bản thân mình, luôn tìm cơ hội để tiến chức, để được tán thưởng của người đời. Họ sợ thất bại, lo lắng sự đời đến chỗ giận dữ thái quá, ghen ghét, hận thù, và tìm cách hạ bệ người khác, cho mình là nhất, là hơn người, đó là một thái độ tự cao, tự đại của kẻ kiêu căng, nó đi ngược lại với đức khiêm nhường. Một thánh nhân đã từng nói: “Kẻ nào giàu có nhân đức mà thiếu đức khiêm tốn thì cũng giống như người cầm nắm cát đứng trước gió”.

Lạy Chúa, xin cho con đủ khiêm tốn để biết nhận ra con người thật của mình một cách chân thành và trung thực, đừng chạy theo sự giã dối và tự lừa dối mình. Xin cho con khiêm tốn đủ để đón nhận những điều tốt đẹp của người khác, cũng như những yếu đuối tội lỗi của mình. Nhất là bỏ đi tính kiêu căng tự phụ để trở nên con người hiền từ và khiêm nhường trước mặt Chúa và anh chị em con. Amen.

 

 

NGOẠI ÐẠO

NGOẠI ÐẠO

Lm Nguyễn Tầm Thường SJ

nguồn: Đài phát Thanh Chân Lý Á Châu

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Là người ngoại đạo sao lại tin có Chúa ngự trên cao? Ðã tin Chúa ngự trên cao là có đạo rồi. Nếu tin Chúa ngự trên cao mà vẫn ngoại đạo chỉ có nghĩa là có đạo mà không vào đạo thôi.

Nhiều người có đạo nhưng không vào đạo. Cũng như nhiều người vào đạo nhưng không có đạo. Thơ Nguyên Sa bảo rằng nắng Saigon tôi đi mà chợt mát vì em mặc áo lụa Hà Ðông. Cũng nắng Saigon tôi đi, nhưng sẽ chẳng chợt mát khi lòng tôi không có áo-lụa-em bay. Áo lụa cũng phơi bên sân hiền nhà ai. Dưới ngõ trúc cũng là áo lụa ai đi về. Cũng là áo lụa đó, nhưng vẫn là khác. Phải là áo-lụa-em bay lòng anh mới chợt mát.

Như thế, xem ra, cái gần gũi không gian có là gần mà vẫn là xa. Cái lòng mình chợt mát phải là cái gì thiêng liêng hơn, nó ở trong hồn ta chứ không ở ngoài ta. Nếu nó ở ngoài ta thì bất cứ áo lụa nào lòng tôi cũng chợt mát, bất cứ nắng nào cũng được chứ không phải nắng Saigon. Cái nắng Saigon, con đường Duy Tân lá đổ, hàng me già công viên, tự nó chỉ là me, là nắng, là lá đổ mà thôi cho những ai đi giữa Saigon mà không có Saigon với áo-lụa-em trong hồn mình. Còn ai có áo-lụa-em thì nắng là chợt mát, lá đổ là muôn chiều dư âm. Ðạo cũng thế, chỉ khi nào đạo ở trong tôi mới là có đạo, mới là “chợt mát”, là ơn cứu độ.

Thủa xưa cũng đã có một chuyện tình. Ngày đó, sau khi phạm tội, Ađam cùng Evà đi “trong địa đàng” nhưng vẫn là rũ úa giữa địa đàng. Như thế, “tôi ở trong địa đàng” vẫn là thống khổ, chỉ khi “địa đàng ở trong tôi”, lúc đó tôi mới “có địa đàng”, bấy giờ mới là gió lụa, mới là nắng hoa, mới là lòng mình chợt mát.

Nói về có đạovào đạo thì Phúc Âm có nhiều biến cố tường thuật về những người ngoại đạo nhưng lòng họ thì lại có đạo.

Một người ngoại đạo

Kết thúc cuộc đời rao giảng của Chúa là khúc đường vác thập giá lên Núi Sọ. Nếu Chúa vác không nổi mà chết trên đường đi thì hành trình cứu chuộc có dang dở không? Ðó là câu hỏi giả sử mà thôi. Thực tế, hành trình cứu chuộc đã không dang dở. Chúa đã không kiệt sức mà chết trên đường đi vì đã có người vác đỡ. Kẻ vác đỡ thánh giá là ông Simon, người xứ Kyrênê, ông là một người ngoại giáo (Lc. 23:26).

Một người ngoại giáo nữa

Trong quãng đời mục vụ của Chúa, Tin Mừng thánh Matthêu có kể câu chuyện đức tin của một người như thế này:

Khi Ngài vào Carphanaum, thì một viên bách quản đến gặp Ngài, van xin: “Thưa Ngài, tên hầu của tôi nằm liệt bất toại ở nhà, phải đau đớn dữ dằn.” Ngài nói: “Ta phải đến chữa nó?” Viên bách quản thưa lại: “Thưa Ngài, tôi không đáng được Ngài vào mái nhà tôi. Song Ngài hãy phán một lời mà thôi, thì tên hầu tôi sẽ khỏi, vì tôi đây tuy là thuộc hạ, thế mà có lính tráng dưới quyền tôi, tôi bảo người này: “Ði đi!” là nó đi; và bảo người khác: “Ðến!” là nó đến; tôi bảo tôi tớ của tôi: “Làm cái này” là nó làm”. Nghe vậy Ðức Kitô ngạc nhiên và nói với các kẻ theo Ngài: “Quả thật, Ta bảo các ngươi, ta chưa hề gặp được lòng tin lớn như thế nơi một người nào trong Israel” (Mt. 8:5-10).

Lại một người ngoại giáo nữa

Câu chuyện trên là chứng nhân của niềm tin. Câu chuyện dưới đây nói về tâm tình biết ơn, cũng lại là một người ngoài.

Nhằm lúc Ngài vào một làng kia, thì mười người phung hủi đón gặp Ngài. Ðứng đàng xa, họ gióng tiếng lên mà rằng: “Lạy Thầy Yêsu, xin thương xót chúng tôi!” Thấy vậy, Ngài bảo họ: “Hãy đi trình diện với hàng tư tế.” Và xẩy ra là trong lúc họ đi, thì họ đã được sạch. Một người trong bọn thấy mình được lành thì quay lại lớn tiếng tôn vinh Thiên Chúa, và sấp mặt dưới chân Ngài mà tạ ơn. Người ấy là một người Samari. Ðức Yêsu cất tiếng nói: “Không phải là cả mười người được sạch cả sao? Chín người kia đâu? Không thấy họ quay lại mà chúc vinh Thiên Chúa, trừ có người ngoại bang này?” (Lc. 17:11-18).

Rồi lại một người nữa ngoại giáo

Thánh Luca thuật lại câu chuyện như sau: “Một người ở thành Yêrusalem xuống Jêrico, giữa đường bị kẻ cướp bóc lột hết và đánh nhừ tử, đoạn chúng bỏ người ấy nửa sống nửa chết mà đi. Tình cờ một trưởng tế đi qua đấy, ông thấy người ấy song tránh một bên mà đi. Lại có một thầy Lêvi cũng qua lối ấy, thầy thấy người ấy song cũng tránh một bên mà đi. Một người Samari nọ, nhân đi đường, cũng đến nơi ấy, thấy thế thì chạnh lòng thương, tiến lại đổ dầu và rượu, ràng buộc thương tích người ấy, đoạn vực người ấy lên lừa của mình mà đưa đến quán trọ, và săn sóc người ấy (Lc. 10:29-37).

Thầy tư tế và Lêvi chẳng những là người trong đạo mà còn hơn nữa, họ là kẻ giảng về đạo. Họ ở trong đạo nhưng lại không có đạo. Kẻ sống đạo lại là người ngoại đạo.

Rồi những người ngoại giáo nữa

Vào đêm Chúa sinh ra, trên bầu trời Belem năm ấy có một vì sao lạ. Cả triều đình và bao nhiêu pho Kinh Thánh, với những kinh sư chuyên môn cắt nghĩa ngôn sứ, mà họ chẳng biết gì, họ phải đợi cho tới khi những kẻ ngoại giáo từ phương xa tới hỏi: Ðấng Cứu Thế đã sinh ra ở đâu? (Mt. 2:1-12). Trên bầu trời Belem năm ấy, vâng: Con là người ngoại đạo, nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

* * *

Lạy Chúa,

Nói về niềm tin thì các môn đệ khẳng định Thầy đâu có sống lại (Mc. 16:11, Yn. 20:25). Trong khi người có niềm tin mà tìm hết dòng dõi nhà Israel cũng không thấy lại là một người bên ngoài.

Kẻ vác đỡ thánh giá cho Chúa trên những bước chân xiêu té cuối đời cũng lại là người ngoại.

Nói về lòng biết ơn thì ít quá. Trong cái ít ỏi ấy lại cũng là một người bên ngoài.

Nói về lòng bác ái thương người thì cũng không phải là tư tế hay các vị chức sắc trong đạo mà lại là người Samari, một kẻ ngoại giáo.

Băn khoăn một chút thế nào là “người bên ngoài”, thế nào là “người bên trong”, thế nào là “ngoại đạo” và “có đạo”, con thấy một lần Chúa nói: “Ta bảo các ngươi, nhiều kẻ tự phương Ðông, phương Tây mà đến và được dự tiệc với Abraham, Isaac và Yacob trong Nước Trời, còn chính con dân trong Nước lại sẽ bị đuổi ra bên ngoài tối tăm” (Mt. 8:11-12).

Con không muốn là con dân trong Nước nhưng bị loại ra ngoài. Làm kẻ từ mười phương mà được Nước Trời thì vẫn tốt hơn. Nếu thế thì con phải hiểu ÐẠO là gì. Con phải băn khoăn thế nào là “vào đạo” và thế nào là “có đạo”. Trời chiều nay rộng quá, mênh mông như ÐẠO không bến bờ. ÐẠO mênh mông lắm, làm sao con có thể đem ÐẠO vào một định nghĩa chật hẹp được. Làm sao con có thể nhốt ÐẠO vào nhà thờ, vẽ chân dung ÐẠO bằng tờ giấy rửa tội. Ðã nhiều lần con loại bỏ những ai không cùng tôn giáo với con là người “ngoại đạo”.

Bỏ cái chật hẹp của lòng mình, con thấy ý nghĩa lời kinh kia quá đỗi thênh thang. Nếu những giải mây ngang đời trôi về vùng trời bao la không biết đâu là bờ bến thì ý nghĩa của lời kinh ấy cũng mênh mông không biết đâu là bến bờ. Lời kinh đó là:

Lạy Chúa, con là người ngoại đạo
Nhưng tin có Chúa ngự trên cao.

Lm Nguyễn Tầm Thường SJ
(Trích tập Con Biết Con Cần Chúa)

NHÂN ĐỨC ĐẦU TIÊN

NHÂN ĐỨC ĐẦU TIÊN

(Lm Phạm Quốc Hưng, CSsR)

 

Khi có người hỏi Thánh Augustinô: “Nhân đức đầu tiên con phải tập là nhân đức nào?” Thánh nhân trả lời: “Đó đức khiêm nhường!” Người ấy hỏi tiếp: “Nhân đức thứ hai là nhân đức nào?” Thánh nhân lập lại: “Đức khiêm nhường!” “Còn nhân đức thứ ba?” Thánh nhân vẫn nói: “Đức khiêm nhường!” Rồi ngài thêm: “Nếu anh tiếp tục hỏi về nhân đức ngàn lần, tôi vẫn cứ trả lời như thế. Vì khiêm nhường là sự thật, mà Thiên Chúa là sự thật nên ai thực sự có đức khiêm nhường là có Thiên Chúa ở cùng và có mọi nhân đức khác!” Nơi khác, thánh nhân quả quyết: “Không ai buớc vào Thiên Đường được nếu không nhờ đức khiêm nhường!”

Đức khiêm nhường, nhân đức đầu tiên và là mẹ mọi nhân đức mà Thánh Augustinô ân cần khuyên dạy chúng ta phải có để được cứu độ và nên thánh, là một trong những chủ đề dễ nhận thấy trong Phụng Vụ Lời Chúa hôm nay. Thật vậy, ngay trong bài đọc một, tác giả sách Huấn Ca đã ân cần khuyên nhủ mọi người, nhất là những ai làm lớn, phải có đức khiêm nhường và tránh tội kiêu ngạo, để được đẹp lòng Thiên Chúa và được Người chúc phúc: “Hỡi con, con hãy thi hành công việc con cách hiền hòa, thì con sẽ được người đẹp lòng Chúa quý trọng. Càng làm lớn, con càng phải hạ mình trong mọi sự, thì con sẽ được đẹp lòng Chúa, vì chỉ có một mình Thiên Chúa có quyền năng cao cả, và mọi kẻ khiêm nhường phải tôn vinh Chúa. Tai họa dành cho kẻ kiêu căng thì vô phương cứu chữa, vì mầm mống tội lỗi đã ăn sâu vào lòng chúng mà chúng không biết. Người thông minh suy ngắm trong lòng lời dụ ngôn, chăm chỉ nghe là kỳ vọng của người khôn ngoan” (Hc 3:19-21,30-31).

Rồi trong Tin Mừng hôm nay, khi dự tiệc tại nhà một vị thủ lãnh và nhận thấy những thực khách chọn chỗ nhất, Chúa Giêsu đã kể dụ ngôn về cách tham dự tiệc cưới và khuyên dạy mọi người: “Khi có ai mời ngươi dự tiệc cưới, ngươi đừng ngồi vào chỗ nhất, kẻo có người trọng hơn ngươi cũng được mời dự tiệc với ngươi, và chủ tiệc đã mời ngươi và người ấy, đến nói với ngươi rằng: ‘Xin ông nhường chỗ cho người này’. Bấy giờ ngươi sẽ phải xấu hổ đi ngồi vào chỗ rốt hết. Nhưng khi ngươi được mời, hãy đi ngồi vào chỗ rốt hết, để khi người mời ngươi đến, nói với ngươi rằng: ‘Hỡi bạn, xin mời bạn lên trên’. Bấy giờ ngươi sẽ được danh dự trước mặt những người dự tiệc. Vì hễ ai nhắc mình lên, sẽ phải hạ xuống, và ai hạ mình xuống sẽ được nhắc lên” (Lc 14: 8-11).

Một tác giả dựa vào Tin Mừng hôm nay ghi lại câu truyện sau: Có một người ghi nhớ lời Chúa Giêsu dạy trong Tin Mừng hôm nay và quyết tâm thực hành. Một hôm, anh được mời tham dự một bữa tiệc mà chính Chúa Giêsu là Vị Thuợng Khách. Khi vào phòng tiệc, anh tìm ngồi vào chỗ cuối rốt. Các khách mời lần lượt bước vào. Anh hồi hộp chờ mong, nhưng chẳng ai mời anh lên chỗ cao hơn cả. Cuối cùng Chúa Giêsu đã đến. Có một chỗ danh dự ở trên dành cho Người. Nhưng lạ thay, Người không ngồi vào chỗ ấy, nhưng Người tiến về phía anh. Anh ngỡ rằng Chúa sẽ mời anh lên chỗ gần Người. Nhưng không phải thế! Chúa Giêsu đến và chọn ngồi vào chỗ bên cạnh anh. Và anh đã hiểu: Chỗ rốt hết là chỗ Chúa Giêsu chọn cho chính Người, vì Người chính là Hiện Thân của Sự Thật và của Đức Khiêm Nhường!

Linh mục Cajetan Mary da Bergamo (1672-1753) đã bắt đầu tác phẩm Khiêm Nhường Trong Lòng của ngài với nhận xét sau: “Trong Thiên Đàng có nhiều vị Thánh không bao giờ làm việc bố thí, vì các ngài quá nghèo. Có nhiều vị Thánh không hề hãm mình phạt xác bằng ăn chay, vì cơ thể các ngài quá yếu đuối bệnh tật. Có nhiều vị Thánh không đồng trinh, vì các ngài ở bậc kết hôn. Nhưng trong Thiên Đàng không có vị Thánh nào mà không khiêm nhường cả. Thiên Chúa đuổi các thiên thần ra khỏi Thiên Đàng vì kiêu ngạo; vậy nên làm sao chúng ta có thể đòi vào đó mà không lo giữ đức khiêm nhường?” Đây cũng là điều đã được Thánh Augustinô xác định khi người nhận xét:  Kiêu ngạo biến thiên thần thành ma quỷ, và khiêm nhường biến con người thành thiên thần!”

Cha Bergamo viết thêm: “Chúa Kitô mời gọi chúng ta vào trường học của Người, không phải để học làm phép lạ, cũng không phải để học làm cho thế giới phải ngỡ ngàng bằng những việc kỳ diệu, nhưng để học trở nên khiêm nhường trong lòng như chính Người đã phán Các ngươi hãy mang lấy ách của Ta và hãy học cùng Ta, vì Ta dịu hiền và khiêm nhường trong lòng’ (Mt 11:29)”. Đây cũng chính là những lời của Chúa Giêsu mà Hội Thánh muốn chúng ta ghi nhớ khi cho lập lại trong phần tung hô Alleluia trong Phụng Vụ hôm nay.

Trong Kinh Magnificat, Đức Mẹ Maria cũng đã tuyên dương sự tuyệt đối cần thíêt và cao trọng của đức khiêm nhường khi Mẹ nói: “Chúa hạ bệ những ai quyền thế, Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường(Lc 1:52). Sự cần thiết và quan trọng của đức khiêm nhường còn được Đức Mẹ khẳng định khi Mẹ hiện ra với Thánh Faustina-Tông Đồ của Lòng Thương Xót Chúa- và dạy Chị rằng: “Nếu con muốn làm con gái hai lần của Mẹ, con phải có ba nhân đức: khiêm nhường, khiêm nhường, khiêm nhường, trong sạch và kính mến Chúa”.

Ghi nhớ lời dạy của Chúa Kitô, Thánh Phêrô-Vị Giáo Hoàng tiên khởi của Hội Thánh cũng đã ân cần khuyên nhủ những tín hữu đầu tiên phải thực hành đức khiêm nhường như sau: “Anh em hãy lấy đức khiêm nhường mà đối xử với nhau, vì Thiên Chúa chống lại kẻ kiêu ngạo, nhưng ban ơn hco kẻ khiêm nhường. Vậy anh em hãy tự khiêm tự hạ dưới bàn tay uy quyền của Thiên Chúa, để Người cất nhắc anh em khi đến thời Người đã định” (1Pr 5:5b-6).

Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII, trong Tâm Hồn Nhật Ký của ngài, cũng từng ghi nhận: “Tôi cần khiêm nhường và mến yêu. Nhưng có lẽ tôi cần khiêm nhường hơn, vì không thể có mến yêu thực sự ngoài sự khiêm nhường”. Thánh Têrêsa Hài Đồng Giêsu, Vị Thánh Sư của “đường thơ ấu thiêng liêng”, viết: “Tôi không biết mình có khiêm nhường không, nhưng tôi nhìn thấy sự thật trong mọi việc”.

Vì khiêm nhường là nhận biết và sống theo sự thật, nên chúng ta có thể noi gương Thánh Augustinô tập đức khiêm nhường bằng việc năng thưa cùng Chúa: “Xin cho con biết Chúa, xin cho con biết con.” Biết Chúa là Đấng tốt lành vô cùng, quyền năng và nhân hậu vô cùng, để ta yêu mến Chúa và theo Chúa. Biết mình chỉ là hư vô và hơn nữa còn là tội nhân để ta bỏ mình và sửa mình. Một lời nguyện tất rất quý giá và đẹp lòng Chúa giúp chúng ta ghi nhớ và thực hành đức khiêm nhường và gia tăng lòng sùng kính Thánh Tâm Chúa Giêsu là: “Lạy Đức Chúa Giêsu hiền lành và khiêm nhường trong lòng, xin uốn lòng con nên giống Trái Tim Chúa”.

Ave Maria, xin Mẹ dạy chúng con biết nỗ lực noi gương Chúa Giêsu Con Mẹ sống khiêm nhường để trở nên những người con yêu dấu của Mẹ. Amen.

From: hnkimnga &

Anh chị Thụ & Mai gởi