CÓ THỰC CHÚA SẼ ĐẾN KHÔNG ?

CÓ  THỰC CHÚA SẼ ĐẾN KHÔNG ?

Phan Sinh Trần

Đã bao lần mùa Vọng , mùa Noel đến rồi đi, sau  ngày lễ, ngày kỷ niệm thì rồi mọi sự  lại trôi vào lãng quên.

Có khi, Bạn tự hỏi rằng, tôi có thấy sự an vui nào của Chúa tồn tại mãi đâu? Buồn thay, có khi ngay trong ngày Noel, tôi không thấy Chúa An lành viếng thăm mà chỉ có tin buồn, ngày Noel lại là lúc có bão tuyết hoặc lốc xoáy lớn, như năm 2012 ở NewYork, Maine, Alabama … Mỹ,  làm chết 6 người. Tệ hơn nữa, đã có một Tsunami vào ngày Giáng sinh năm 2004 làm mất đi 150 ngàn người ở khu vực Phi Châu và Nam Á. Ở những nơi này, Chúa có đến trong ngày lễ Giáng Sinh không?

Thực ra thì câu hỏi cần đặt ngược lại là: “ Chúng ta có biết đón Em bé Giê Su nguồn gốc của an bình trong ngày Giáng Sinh không?”  Nếu chúng ta có Chúa thì Thiên Nhiên, Ma quỉ, Ác nhân có làm gì hại được hồn ta không?  Nếu có Chúa thì các tai ương có làm ta nao núng không ?

Trong bài tin mừng Chúa Nhật thứ hai mùa Vọng, Tiên Tri Ysaia minh định:

  • · Điều đặc biệt của Nước Thiên Chúa là Bình An Tuyệt đối và An ninh tuyệt đối “ Sẽ không còn ai tác hại và tàn phá” Khi đó, mọi động thái chiến tranh, vũ lực, bạo lực hoàn toàn tan biến, vào thời điểm khi mà gươm đao,  được tiên tri Ysaia  tiên báo, sẽ bị đúc thành liềm hái.
  • · Khi được Chúa tể trị thì vạn vật sẽ được đổi mới, biến đổi từ hung dữ thành hiền từ , từ hư hoại thành bất tử (Roma 8: 21b) .
  • · Điều đặc biệt của Nước Chúa là ở đó Danh Chúa được tôn kính và có sự hiểu biết về Chúa cách tỏ tường.

Trong một thế giới rối loạn và tai ương, ta càng cần có Chúa để lòng luôn an tĩnh trước mọi thách đố, sóng gió, bão bùng. Vào sống trong Nước Thiên Chúa rất khó mà rất dễ để đạt được , chỉ cần làm theo Lời Chúa rồi Chúa sẽ ban Thần khí giúp ta có được bảo đảm cho một đời sống tốt lành, bằng an, luôn vui tươi trong tâm hồn. Làm sao để “sống” trong Nước Trời do Chúa cai trị, ta cần thực thi lời khuyên của thánh Gioan Tiền hô :

  1. 1. Sám hối. “Hãy hối cải, vì Nước Trời đã gần bên .”
  2. 2. Hãy sửa mình để đón Chúa đến. “ Hãy dọn đường Chúa. Hãy bạt lối người đi”…
  3. Đón Chúa Giê Su và để cho Chúa tẩy rửa tâm hồn trong Chúa Thánh Thần và lửa.

“ Ngài sẽ thanh tẩy các ngươi trong Thánh Thần và lửa ” (Mattheu 3:1-11)

  • Rửa trong Chúa Thánh Thần thì sẽ nên tạo thành mới ngay từ bây giờ ở đời này.
  • · Và nhận lửa yêu thương, sốt mến từ bây giờ ở đời này.

Xin đan cử một điển hình của việc áp dụng sám hổi, dọn đường và được rửa trong Chúa Thánh Thần của Chị Huỳnh Nh.

Chị Nh , trước đây làm thư ký ở Hạ Nghị Viện Việt Nam Cộng Hòa, đến ngày 30 tháng 4 , 1975 cả gia đình người Anh của Chị Nh bị tan nát và ly tán, Chị phải đem các cháu đi về quê, đi mót lúa nuôi các cháu, chị đói khổ đến mức chỉ còn cân nặng có 36 ký lô. Khi đó, chị van vái : Ông Trời, nếu có thật thì một là cho chị chết cho đỡ khổ, hai là giúp cho Chị kiếm đủ gạo nuôi cháu qua cơn đói năm 1978. Sau đó ít lâu Chị liều chết nhiều lần mang các cháu đi vượt biên, cực khổ. Khi qua đến Mỹ Chị lại tiếp tục làm thợ hớt tóc nuôi các cháu ăn học cho đến thành nghề. Thế mà, khi đã đủ lông cánh thì các cháu lại cậy tài và tham tiền, chúng đuổi Chị ra khỏi nhà, căn nhà mà chính Chị đã tần tảo và mua cho chúng ở. Lòng tan nát, chị gần như bị quị vì kiệt sức, lòng buồn bã, oán hận làm chị bị đủ mọi bệnh: nghẹn thở , tim nhồi máu, phù, đau bao tử, liệt chân … Điều may là , ngày nọ Chị có được cơ hội tìm hiểu về Chúa , học hỏi Lời Chúa và tin Chúa , nghe theo Lời thánh Gioan “dọn đường cho Chúa “, Chị tha thứ cho các cháu của mình, vừa khi Chị quyết định không chấp, không trách, không than thở nữa thì tình yêu và bằng an của Chúa bao phủ Chị, làm cho chị thôi không mất ngủ, bệnh tật biến mất dần, Chị tiếp tục làm ăn ở tuổi 65, hơn thế nữa , sức mạnh  hòa giải của Chúa,  tự nhiên làm cho các cháu dần hối hận, và chúng mời Chị Nh quay về mái nhà xưa. Chuyện xẩy ra đã 6 năm, nay thì Chị 71 tuổi , bằng an và vui tươi hang hái, Chị vẫn làm chứng hung hồn về sức mạnh của Lời Chúa cho khách hàng trong tiệm hớt tóc của Chị trên đường Bellaire, Houston, Texas. Chị không chỉ làm chứng cho Chúa bằng chuyện đời mình mà còn làm chứng về sức mạnh Đức Tin khi ta dựa vào Lời Chúa hứa qua việc cầu nguyện cho bệnh nhân khách hàng. Đủ mọi người được chị cầu nguyện đã khỏi bệnh: Anh Mỹ Đen ung thư ruột thời kỳ cuối, Bà Mễ bị ung thư phổi đã di căn lên não, Ông đàu bếp nhà hàng bị tai biến mạch máu não , co rút cả 10 ngón tay, Bác thư ký bị thấp khớp mãn tính làm teo cơ …rất nhiều người được chữa lành ngay trong một thời gian ngắn vài ngày hoặc khỏi tức khắc và hầu hết bệnh nhân đã tin vào tình yêu quyền năng của Chúa. Chị kết luận, nếu mình dọn đường cho Chúa thì Chúa sẽ đến, Chúa sẽ mau chóng đáp trả lòng mong ước của mình một khi mình dám làm theo Lời mời của Chúa trong Tin Mừng .

Bạn đã có sức mạnh của Lời Chúa trong đời mình chưa, nếu chưa thì tôi và Bạn cùng cảm nghiệm điều đó ngay trong mùa Vọng này, có hai điều để làm, một là  ta đi làm hòa và xin lỗi từng người mà mình đã làm mất lòng để xem bình an vô tận của Chúa có đổ đầy tâm hồn mình không ? hai là ta gạt bỏ tất cả các đam mê hằng làm giặc trong lòng mình dù đó là về sắc dục, tiền tài, danh tiếng hay bất cứ sự mê hoặc nào khác, để xem Tình yêu của Chúa Hài Đồng có làm nóng cháy tim mình không . Đó là cách ứng nghiệm từ xa xưa cho mọi người muốn gặp gỡ Chúa và vào nước Chúa. Đó là cách mà thánh Gioan kêu gọi “ hãy dọn đường cho Chúa đến”

Quyền năng, Sức mạnh vô cùng phong phú và mãnh liệt  của Lời Chúa chỉ có thể thi thố ra khi chúng mình thực thi một cách sẵn lòng sau khi cương quyết chọn lựa , không chút nghi ngại. Sự tự do của con người , quan trọng là ở đây, khi mà ta quyết chọn lựa đi theo Tin Mừng bằng cách thực hành Lời Chúa khuyên dạy để có được mãnh lực thay đổi trong thế giới riêng tư của mình và hơn nữa ra thế giới chung quanh ta. Khi đó , Tsunami, Động đất cũng không làm ta lo sợ nữa.

Hiến pháp 2013 làm đảng viên cao cấp nhận ra bản chất của đảng CSVN

Hiến pháp 2013 làm đảng viên cao cấp nhận ra bản chất của đảng CSVN

VRNs (05.12.2013) – Sài Gòn – Hôm qua, tại Sài Gòn, ông Lê Hiếu Đằng đã ra Tuyên bố bỏ đảng CSVN. Ông viết:

“Tôi tên LÊ HIẾU ĐẰNG là ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố 1công khai ra khỏi đảng CSVN vì:

ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.

Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi.

Ngày 04.12.2013

Lê hiếu Đằng”

Hình chụp bản viết tay này đăng lại t72 trang blog Xã hội dân sự

Hình chụp bản viết tay này đăng lại t72 trang blog Xã hội dân sự

Ông Lê Hiếu Đằng là luật gia, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, dân chủ và Hòa bình Việt Nam, Nguyên Tổng thư kí Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định, nguyên Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam ở TP HCM. Ông là một trong các “lãnh tụ” sinh viên trước đây trong phong trào đấu tranh tại Sài Gòn và các đô thị Miền Nam trước 1975, thành viên Ban chấp hành Tổng hội sinh viên Sài Gòn và ĐH Luật Khoa.

Đánh giá về xã hội và chính trị VN trước khi tuyên bố ra khỏi đảng CSVN, ông Lê Hiếu Đằng đã từng viết trong bài Suy nghĩ trong những ngày nằm bệnh …: “Có thời gian từ 1975 đến 1983 tôi là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Về phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác-Lê nin mà tôi hiểu được có một điều cơ bản là cơ sở hạ tầng (bao gồm cơ sở xã hội, cơ sở kinh tế, v.v.) như thế nào thì phản ảnh lên thượng tầng kiến trúc như thế đó. Sau một thời gian dài Đảng và nhà nước Việt Nam nhận chìm các tầng lớp nhân dân Việt Nam từ Bắc chí Nam dưới chế độ quản lý kinh tế bao cấp, đi ngược lại tất cả qui luật tự nhiên, cop-pi mô hình kinh tế của Liên bang Xô viết và Trung Quốc cộng sản 100%. Dân chúng đói kém rên xiết. Các đợt cải tạo tư sản X1, X2 đã làm tan nát biết bao gia đình, làm dòng người vượt biên ngày càng nhiều và biết bao gia đình phải chết tức tưởi trên biển”.

Sau đó, cũng ở bài viết này, ông Lê Hiếu Đằng đã phân tích sự bất ổn và phi lý của một thể chế chính trị độc đảng đang làm đất nước càng ngày càng tệ hại hơn, từ đó, ông kêu gọi một số đảng viên CSVN, mà theo ông là có tâm huyết với dân tộc cùng nhau lập một đảng mới: “Vậy tại sao chúng ta hàng trăm đảng viên không tuyên bố tập thể ra khỏi Đảng và thành lập một Đảng mới, chẳng hạn như Đảng Dân chủ xã hội, những Đảng đã có trên thực tế trước đây cho đến khi bị ĐCS bức tử phải tự giải tán? Tại sao tình hình đã chín mùi mà chúng ta không dám làm điều này vì chủ trương không đa nguyên đa đảng chỉ là chủ trương của Đảng chứ chưa có một văn bản pháp lý nào cấm điều này? Mà nguyên tắc pháp lý là điều gì luật pháp không cấm chúng ta đều có quyền làm. Đó là quyền công dân chính đáng của chúng ta. Không thể rụt rè, cân nhắc gì nữa. Đây là một yếu tố sẽ làm cho xã hội công dân, xã hội dân sự mạnh lên, không có thế lực nào ngăn cản được. Đây là cách chúng ta phá vỡ một mảng yếu nhất của một nhà nước độc tài toàn trị hiện nay”.

Sau khi bài viết này được công bố, tức thời xuất hiện ba dòng suy nghĩ chính: một là ông Lê Hiếu Đằng là con chim mồi, để nhử những ai muốn “nổi loạn” lòi ra cho công an bắt; hai là những người hồ hởi tỏ ra ủng hộ, với suy nghĩ đảng mới đã được chuẩn bị công phu, và đây là lúc nó bắt đầu hoạt động; bà là để đợi xem. Số này đông hơn cả.

Những người hiểu rõ bản chất và bối cảnh của đảng CSVN hiện nay biết rõ, các lãnh đạo CSVN hiện nay không dám làm phép thử, vì sự giương oai nếu có ở đâu đó tại Việt Nam trong thời gian qua là sự huy động toàn lực lượng, chứ không phải tự nơi cũng đủ sức làm sự kiện lớn để đe dọa dân chúng như diễn tập ở Nghệ An lúc đang diễn ra Hội nghị TW 8 vừa qua, hay tại Hà Nội, trước lúc đảng CSVN ép QH thông qua HP 2013. Nên giả thuyết chim mồi không đủ sức đứng. Nhưng cũng thực tế, những gì ông Lê Hiếu Đằng suy nghĩ và viết ra chỉ là những suy nghĩ ban đầu của ông chứ chưa hề có một tổ chức đảng nào đã chuẩn bị sẵn sàng. VRNs được biết, ngay sau đó, có những người đã tự nguyện góp sức một tay cho ông thì ông đã tỏ ra mệt và không đủ sức làm việc lớn đó.

Hôm qua, với Tuyên bố rời khỏi đảng CSVN, nhưng người theo dòng suy nghĩ thứ ba có thêm thông tin để tiếp tục “đợi xem”.

Sự việc ông Lê Hiếu Đàng ra Tuyên bố ngay sau khi QH thông qua bản HP 2013 hôm 28.11 vừa qua vừa lạc hậu, vừa bảo thủ độc tôn, vừa xa lạ với lợi ích quốc gia dân tộc, có thể chính là giọt nước tràn ly, thúc đẩy ông Lê Hiếu Đằng phải nói ra về đảng mà ông đã theo suốt 40 năm: “ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân”.

PV. VRNs

 

SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚNG TA

SỰ SỐNG LẠI CỦA CHÚNG TA

(BÀI GIÁO LÝ 24 VỀ KINH TIN KÍNH CỦA ĐTC PHANXICÔ)

 

Tác giả: GLV. Phạm Xuân Khôi (chuyển ngữ)

“Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại, Chúa Giêsu vẫn còn sống lúc này…. Và nếu Chúa Giêsu vẫn còn sống, anh chị em có nghĩ rằng Người sẽ để mặc cho chúng ta chết mà không cho sống lại không?”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 4 tháng 12 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ngài tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về kinh Tin Kính nói về Sự Sống Lại của Chúng Ta.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em!

Hôm nay một lần nữa tôi trở lại với lời xác quyết “Tôi tin xác loài người (ngày sau) sống lại.” Đây là một chân lý không đơn giản, và không mấy hiển nhiên, bởi vì, đời sống của chúng ta bị chìm đắm trong thế giới này, nên không dễ mà hiểu được những thực tại của tương lai.  Nhưng Tin Mừng soi sáng chúng ta: sự sống lại của chúng ta gắn liền với việc Phục Sinh của Chúa Giêsu, Người đã sống lại từ cõi chết và là bằng chứng rằng có việc kẻ chết sống lại.  Vì vậy, tôi muốn trình bày một số khía cạnh liên quan đến sự liên hệ giữa việc Phục Sinh của Đức Kitô và sự sống lại của chúng ta.  Người đã sống lại, Người đã sống lại và chúng ta cũng sẽ sống lại.

Trước hết, chính Thánh Kinh chứa đựng một con đường đi đến đức tin trọn vẹn về sự sống lại của kẻ chết.  Điều này được diễn tả như là đức tin vào Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa của toàn thể con người – linh hồn và thân xác – và như là đức tin vào Thiên Chúa giải thoát, Thiên Chúa trung thành cùa giao ước với dân Ngài.  Ngôn sứ Edêkiel, trong một thị kiến, nhìn ngắm những ngôi mộ của những người bị lưu đầy được mở ra và những bộ xương khô sống lại nhờ việc thông ban sự sống của một thần khí ban sự sống.  Thị kiến này bày tỏ hy vọng vào “sự sống lại của dân Israel” trong tương lai, có nghĩa là vào sự tái sinh của một dân đã bị đánh bại và hạ nhục (x. Ed 37:1-14).

Chúa Giêsu, trong Tân Ước, hoàn tất mạc khải này, và liên kết đức tin vào sự sống lại với chính Người khi nói: “Thầy là sự sống và sự sống lại” (Ga 11:25).  Thực ra, Chính Chúa Giêsu sẽ làm cho những ai tin vào Người được sống lại trong ngày sau hết.  Chúa Giêsu đến giữa chúng ta, đã làm người giống như chúng ta trong mọi sự ngoại trừ tội lỗi; và bằng cách này, Người đã đem chúng ta đi với Người khi trở vể với Chúa Cha.  Người, Ngôi Lời Nhập Thể, đã chết cho chúng ta và đã sống lại, ban cho các môn đệ Chúa Thánh Thần như là một bảo chứng của sự hiệp thông trọn vẹn trong Nước vinh quang của Người mà chúng ta đang tỉnh thức chờ đợi.  Sự mong đợi này là nguồn gốc và lý do của niềm hy vọng của chúng ta, một hy vọng, nếu được vun xới và bảo vệ – niềm hy vọng của chúng ta, nếu chúng ta vun xới và bảo vệ nó – nó sẽ trở thành ánh sáng để chiếu soi lịch sử cá nhân của chúng ta và lịch sử của cộng đồng.  Chúng ta hãy luôn luôn nhớ rằng: chúng ta là những môn đệ của Đấng đã đến, đến mỗi ngày và sẽ đến trong ngày sau hết.  Nếu chúng ta có thể biết rõ về thực tại này, chúng ta sẽ ít bị mệt mỏi vì đời sống hàng ngày, ít bị giam hãm trong phù du và sẵn sàng bước đi với một quả tim đầy lòng thương xót trên con đường cứu độ.

Một khía cạnh khác: sống lại nghĩa là gì? Sự sống lại của tất cả chúng ta sẽ xảy ra trong ngày sau hết, vào ngày tận thế, do sự toàn năng của Thiên Chúa, Đấng ban sự sống lại cho thân xác chúng ta, làm cho hồn xác tất cả hợp lại với nhau nhờ quyền năng Phục Sinh của Chúa Giêsu.  Đây là giải thích cơ bản: bởi vì Chúa Giêsu đã sống lại, thì chúng ta cũng sẽ sống lại; chúng ta hy vọng vào sự sống lại vì Người đã mở cánh cửa cho sự sống lại này cho chúng ta.  Và sự biến đổi này, sự biến hình này của thân xác chúng ta được chuẩn bị trong cuộc đời này bằng một mối liên hệ với Chúa Giêsu trong các Bí Tích, đặc biệt là Bí Tích Thánh Thể.  Chúng ta biết rằng trong cuộc sống này, chúng ta được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu của Người, thì chúng ta sẽ sống lại như Người, với Người và qua Người như Chúa Giêsu đã sống lại với thân xác của Người, nhưng không trở về với một cuộc sống trần gian, vì vậy chúng ta sẽ sống lại với thân xác chúng ta, là thân xác được biến đổi thành thân xác vinh quang.  Nhưng đây không phải là một lời nói dối!  Điều này đúng.  Chúng ta tin rằng Chúa Giêsu đã sống lại, Chúa Giêsu vẫn còn sống lúc này.  Nhưng anh chị em có tin rằng Chúa Giêsu vẫn còn sống không?  Và nếu Chúa Giêsu vẫn còn sống, anh chị em có nghĩ rằng Người sẽ để mặc cho chúng ta chết mà không cho sống lại không?  Không! Người đang chờ chúng ta, và vì Người đã sống lại, quyền năng Phục Sinh của Người sẽ làm cho tất cả chúng ta sống lại.

Một yếu tố cuối cùng: trong cuộc đời này, chúng ta có trong mình một sự thông phần vào việc Phục Sinh của Đức Kitô.  Nếu thật sự là Chúa Giêsu sẽ cho chúng ta sống lại trong ngày tận thế, thì cũng thật sự rằng, theo một bình diện nào đó, chúng ta đang sống lại với Người.  Sự sống đời đời đã bắt đầu lúc này, nó bắt đầu trong suốt cuộc đời, đó là hướng về thời điểm của sự sống lại cuối cùng.  Và thực ra, chúng ta đã sống lại, qua Bí Tích Rửa Tội, chúng ta được kết hợp trong cái chết và sự Phục Sinh của Đức Kitô và thông phần vào sự sống mới, chính là sự sống của Người.  Cho nên, trong khi chờ đợi ngày sau hết, chúng ta có nơi chính mình một hạt giống của sự sống lại, như bảo chứng về sự sống lại trọn vẹn mà chúng ta sẽ nhận như gia nghiệp.  Cũng vì lý do này mà thân xác của mỗi người chúng ta là tiếng vang của cõi vĩnh hằng, và phải luôn luôn được tôn trọng; và đặc biệt là sự sống của những người đau khổ phải được tôn trọng và yêu thương, ngõ hầu họ cảm thấy được sự gần gũi của Nước Thiên Chúa, là tình trạng của sự sống đời đời mà chúng ta đi đến.  Suy nghĩ này cho chúng ta hy vọng: chúng ta đang hành trình hướng về sự sống lại.  Thấy Chúa Giêsu, gặp Chúa Giêsu: đây là niềm vui của chúng ta!  Tất cả chúng ta sẽ cùng nhau – không ở đây nơi quảng trường, nhưng cách khác – hân hoan với Chúa Giêsu.  Đây là cùng đích của chúng ta!

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

http://giaoly.org/vn

ĐỨC MARIA SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

ĐỨC MARIA SỐNG TÂM TÌNH MÙA VỌNG

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Một ngày đẹp trời kia, ở cái vườn nọ có cái tên là Ê-đen có hai vợ chồng đang sống trong an bình hạnh phúc bỗng dưng hóa trần truồng …

Không gian, thời gian, con người và sự kiện đó nhiều người biết đến qua câu chuyện ghi lại trong sách Sáng Thế.

Thiên Chúa là vị Thiên Chúa tuyệt hảo. Thiên Chúa tạo dựng trời đất, muôn vật muôn loài và Ngài đã tạo dựng nên con người giống hình ảnh của Ngài. Hơn thế nữa, nét đẹp của tấm lòng Thiên Chúa đó là :

Chúa cho con người chẳng thua kém thần linh là mấy,

ban vinh quang danh dự làm mũ triều thiên,

cho làm chủ công trình tay Chúa sáng tạo,

đặt muôn loài muôn sự dưới chân:

Nào chiên bò đủ loại,

nào thú vật ngoài đồng,

nào chim trời cá biển,

mọi loài ngang dọc khắp trùng dương. (Tv 8, 6-9)

Nhưng, hỡi ôi, hai ông bà nguyên tổ đã không đủ tỉnh thức đủ để nhận ra tình thương bao la của Thiên Chúa. Hai ông bà đã khước từ, đã đánh đổ tình thương đó. Và, ngay lúc ông bà phạm tội, tình yêu Thiên Chúa vẫn dẫy tràn trên cuộc đời của hai ông bà. Ta bắt gặp tình thương đó ở sách Sáng Thế, chương 3, 14.15 : Đức Chúa là Thiên Chúa phán với con rắn: “Mi đã làm điều đó, nên mi đáng bị nguyền rủa nhất trong mọi loài súc vật và mọi loài dã thú. Mi phải bò bằng bụng, phải ăn bụi đất mọi ngày trong đời mi. Ta sẽ gây mối thù giữa mi và người đàn bà, giữa dòng giống mi và dòng giống người ấy; dòng giống đó sẽ đánh vào đầu mi, và mi sẽ cắn vào gót nó.”

Dòng giống được Thiên Chúa tuyển chọn, yêu thương đó sẽ là dân riêng của Ngài và sẽ chiến thắng con rắn dữ xưa, chiến thắng kẻ thù mưu ma chước quỷ xưa trong vườn Địa Đàng. Dòng giống Thiên Chúa tuyển chọn ấy có tên là Israel.

Qua dòng chảy lịch sử cứu độ, ta thấy Israel là một dân sống bằng hy vọng bởi vì họ đã ra đời, đã dựng nước, đã sống dựa trên một lời hứa của Thiên Chúa làm nền tảng. Lời hứa mà Thiên Chúa đã hứa với tổ phụ Abraham được nhiều lần lặp lại bằng cách này hay cách khác với các con cháu của ông : “Ta sẽ làm cho ngươi nên một dân tộc hùng mạnh, sẽ ban cho ngươi một miền đất phì nhiêu làm quê hương, Ta sẽ chúc phúc cho ngươi và con cháu ngươi, và qua ngươi, Ta chúc phúc cho các dân tộc khác. Ta sẽ là Chúa của các ngươi và các ngươi sẽ là dân riêng của Ta”.

Lời hứa mà Thiên Chúa hứa với Abraham đã được long trọng lặp lại nhiều thế kỷ sau với vua Đavít qua miệng Ngôn sứ Nathan. Ngôn sứ nói rằng Thiên Chúa sẽ cho xuất hiện từ dòng dõi nhà vua một người con; người con này sẽ là vị Cứu Tinh, Người sẽ tái lập vương quốc Đavít và sẽ trị vì mãi mãi.

Trải qua biết bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời, lịch sử của dân tộc Israel cũng vậy. Ta thấy có những thời Israel cực thịnh nhưng cũng có những lúc cực suy và có những lúc rơi vào hoàn cảnh bi đát gần như tuyệt vọng. Trong nỗi thất vọng nhưng có một niềm hy vọng vẫn lóe lên trong cuộc đời của họ. Niềm hy vọng của Israel như là sợi chỉ đỏ chạy xuyên suốt qua dòng lịch sử. Họ luôn luôn quay về với Lời Hứa của Chúa để tìm lẽ sống cho mình, nhất là những khi cùng đường tuyệt vọng. Và Chúa luôn luôn tỏ ra rất trung thành với lời hứa, có điều là lắm khi đường lối của Người theo rất lạ lùng, khó hiểu.

Sống dưới ách nô lệ của Ai Cập, dân Do Thái vẫn ngóng trông, vẫn mong đợi ngày giải phóng suốt mấy trăm năm. Thế rồi Thiên Chúa đã sai Môsê đến làm vị cứu tinh của họ.

Vừa bước chân ra khỏi Ai Cập, dân Do Thái lại ngóng chờ được vào chỗ định cư, nơi có sữa và mật chảy thành suối như lời hứa.

Niềm hy vọng của dân Do Thái không dừng lại ở đất hứa. Khi vừa đặt chân đến đất hứa rồi, họ vẫn chưa hết chờ mong vì vẫn chưa được như lòng sở nguyện. Sau những thế kỷ lập quốc khá hùng mạnh, đến lúc họ lại bị nước mất nhà tan và bị bắt đi lưu đầy ở Babylon, năm 586 trước công nguyên. Nơi chốn lưu đày họ lại mong lại chờ, và Chúa  đã sai vua Kyrô nuớc Ba Tư đưa họ về quê cha đất tổ và tái thiết lại Đền Thờ. Đền thờ cuối cùng bị phá huỷ là vào năm 70 thời tướng Lamã Titus. Dân Israel lại rơi vào ách thống trị của đế quốc Rôma. Và họ lại chờ mong một vị cứu tinh mới.

Nhìn lại niềm hy vọng của Do Thái, ta thấy niềm hy vọng của họ chỉ gói ghém, chỉ hạn hẹp, chỉ được giới hạn ở cái nhìn của phàm tục, của vật chất, của hư danh dẫu rằng quá nhiều lần cũng như quá nhiều ngôn sứ nhiều lần dạy họ phải mở rộng cái nhìn vật chất hẹp hòi đó. Các ngôn sứ đã hướng họ nhìn và trông mong Đấng Cứu Độ trần gian chứ không phải đấng đến để làm cho họ được vinh quang với cái vẻ bên ngoài.

Thiên Chúa cũng đã thử thách dân Do Thái nhiều lần và nhiều cách. Có lúc niềm tin vào Đấng Cứu Độ trần gian bừng lên mạnh mẹ nhưng rồi cũng có những người chán nản thất tín bất trung. Nhiều đại họa đến với dân và làm cho dân nản chí nản lòng.

Trong số những người Do Thái chờ đợi trong niềm tin, hy vọng trong niềm cậy trông đó nổi lên khuôn mặt hết sức dễ thương đó chính là Đức Trinh Nữ Maria.

Maria (Miryam), một tên rất phổ biến, giống như tên Mai, Lan, Cúc, Trúc trong giới phụ nữ Việt Nam ta. Giả như Maria sinh ra ở Việt Nam, Maria sẽ mang một cái tên hết sức gần gụi Trần Thị …, Đặng Thị … Đơn giản là như thế. Về quê quán, Đức Maria là người làng Nazareth (Lc 1, 26), một làng rất tầm thường như về sau ông Nathanael một môn đệ Đức Giêsu đã nhận xét: “Từ Nazareth làm sao có cái gì hay được?” (Ga 1, 46).

Mẹ đã đến thế gian, Mẹ đã đi vào trần gian, Mẹ được sinh hạ bởi tình yêu, bởi huyết nhục của GioaKim và Anna.

Cũng như bao nhiêu người nữ khác nói riêng và như bao nhiêu người Do Thái, Mẹ Maria cũng trông chờ Đấng Cứu Độ trần gian đến. Giản đơn, qua lịch sử, ta thấy Đức Trinh Nữ Maria là ai: là một thiếu nữ Do thái, hết lòng mong đợi ơn cứu chuộc dân tộc của mình. Ngày ngày, Maria lên Đền Thờ cầu nguyện và nghe Lời Chúa. Maria đã sống niềm hy vọng vào Đấng Cứu Độ trần gian từ độ còn xuân. Maria luôn luôn nghiền ngẫm Thánh Kinh để rồi Maria nhớ lại lời Chúa đã dùng ngôn sứ Nathan mà thề hứa với vua Đavít xưa.

Và rồi, cũng bỗng đến ngày kia, giờ kia, không phải là cái giờ đại họa đến cho con người khi ông bà nguyên tổ phạm tội mà đến cái giờ con người được hưởng hồng phúc, được hưởng ơn cứu độ. Giờ ấy chính là giờ sứ thần truyền tin cho Maria.

Hoàn toàn bất ngờ, hoàn toàn không hiểu, hoàn toàn ngạc nhiên. Chẳng bao giờ Maria nghĩ đến lời ngôn sứ ngày xưa lại rơi vào cuộc đời của mình. Chuyện “không thể” được đầu tiên là làm sao mình có thể sinh con được vì đã quyết “không biết đến chuyện vợ chồng” để sống trọn vẹn cho một mình Thiên Chúa mà thôi?

Thế nhưng, bình tĩnh để nghe sứ thần giải thích rằng “đối với Thiên Chúa, không có gì là không thể làm được”, Maria đã khiêm nhường thưa lại: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1,38).

Niềm hy vọng của Maria được nung nấu, được nuôi dưỡng trong tâm tình tỉnh thức, chờ đợi và đặc biệt nhất đó là hoàn toàn khiêm hạ để đón Ơn Cứu Độ trần gian đến trong đời của Mẹ. Nếu như Mẹ không tỉnh thức, không suy niệm lời Chúa, không hoàn toàn bỏ ngõ đời mình cho Thiên Chúa, cho Thánh Ý Thiên Chúa thì Đấng Cứu Độ trần gian sẽ không đến với Mẹ.

Với tâm tình đó, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người trong lòng Đức Trinh Nữ. Và thế là Đức Maria khiêm nhường đã trở thành thánh mẫu của Thiên Chúa.

Ta bắt gặp Đức Maria đã sống hết sức mạnh mẽ niềm hy vọng chờ mong ơn cứu độ của dân tộc mình. Hơn thế nữa, Mẹ đã trở thành dụng cụ đặc biệt Chúa dùng để thực hiện ý định cứu độ vì Mẹ là một tâm hồn nghèo khó, khiêm nhường, tuyệt đối tin tưởng và gắn bó trọn vẹn vào Thiên Chúa.

Sống Mùa Vọng, Giáo Hội đặt chúng ta lại trong thái độ khao khát chờ mong Chúa đến cứu độ chúng ta.

Ta chờ ai, mong ai, đón ai đến trong cuộc đời của ta ?

Bài học của dân Do Thái ngày xưa dẫu là xưa nhưng vẫn là bài học còn rất mới và rất tốt cho mỗi người chúng ta. Đôi khi, ta cũng lầm đường lạc lối là hy vọng, chờ mong, đạt được những cái gì hạn hẹp trong cái đợi, cái mong của vật chất, của hạ giới chứ không về thượng giới, về Ơn Cứu Độ.

Nếu chúng ta cứ lầm lũi chờ đợi vật chất, danh vọng, quyền lực, lợi lộc trần gian ta sẽ đánh mất cái cảm thức của chờ đợi Đấng Cứu Thế. Và với tâm tình đó, ta sẽ không khiêm hạ đủ như Mẹ Maria để đón Đấng Cứu Độ trần gian vào đời mình như bao nhiêu người đã đánh mất Ơn Cứu Độ.

Ta hãy thức tỉnh và đặc biệt hơn cả là hãy noi gương Đức Maria: ý thức mình là kẻ nghèo khó khiêm nhu, sống phó thác vào Chúa. Và cũng cần lắm là noi gương của Mẹ sẵn sàng để cho Chúa sử dụng vào công cuộc cứu độ của Người đang thực hiện cho bản thân chúng ta và cho toàn thế giới.

Anmai, CSsR

VỌNG MÙA HỒNG ÂN

VỌNG MÙA HỒNG ÂN

Lịch phụng vụ một lần nữa dẫn đưa chúng ta trở lại cuộc hành trình vào thuở ban đầu, khi mà mọi người đang mong chờ Vị Cứu Tinh.  Hành trình bắt đầu đồng nghĩa với hành trình nhìn lại chính mình. Lắm khi ta tự hỏi sao cứ phải bắt đầu khi mà ta đã đi quá xa so với điểm bắt đầu ấy?  Phải, vì ta đã đi quá xa nên bây giờ cần nhìn lại và trở về để tìm lại đường hướng thuở ban đầu và để biết ta đang đi đúng hay sai.  Thành thử ra, có thể nói rằng mùa vọng là mùa của hồng ân.

Bất cứ ai biết nhìn lại mình thì sẽ cảm được mùa hồng ân này.  Nhìn lại để thấy mình rõ hơn.  Nhìn lại để biết mình đang ở đâu trong cuộc đời này.  Nhìn lại để xem thử cuộc sống của mình có thật sự khao khát Chúa không?  Nhìn lại để thấy cuộc đời mình cần Vị Vua Cứu Thế đến cỡ nào.  Quả thật, cuộc đời ta tựa hồ như con thuyền trôi nổi trên đại dương trần thế.  Lắm khi nó đi ngang qua vùng trời bình yên của đại dương.  Nhưng cũng lắm khi con thuyền ấy bị bão táp, phong ba… Sau mỗi lần như thế, con thuyền hư hao, cần được sửa chữa để tiếp tục hành trình cuộc đời.  Vì thế, mùa vọng mời gọi con thuyền đời ta nên nghỉ ngơi và tự duyệt xét lại chính mình và thấy được những sai sót, những lỗ hổng của con thuyền nhằm có đủ sức bước đi trong một năm Phụng Vụ mới.

Mùa hồng ân càng có ý nghĩa khi ta không chỉ biết nhìn lại mà còn hành động.  Biết được những chỗ hư hao của con thuyền là một chuyện, nhưng ta có muốn sửa nó không lại là chuyện khác.  Thánh Gioan Tẩy Giả mời gọi chúng ta hãy sửa lối cho thẳng để Người đi (Mt 3,3).  “Sửa lối” là động từ diễn tả hành động, nghĩa là không phải chỉ ngồi đó tự đấm ngực, khóc lóc, kêu than, mà hãy tự đứng dậy, đảm đương những sai sót của mình và khắc phục nó.  Thuyền đời của mỗi người cần được sửa chữa cụ thể, rõ ràng thì mới có thể có đủ nghị lực, lòng can đảm và sẵn sàng đối mặt với bão táp ở tương lai.

Mùa hồng ân còn mời gọi mọi người hãy để Chúa làm trung tâm đời mình.  Tư thế của một người mong chờ Chúa đến là tư thế của hy vọng, của sự giải thoát.  Người sống trong niềm mong chờ luôn khắc khoải mau đến thời điểm mong chờ.  Lúc đó, mọi mong chờ sẽ vỡ òa trong cõi lòng sâu thẳm nơi lòng người hy vọng.  Thế nên, người chờ mong Chúa đến cũng luôn sống trong niềm hy vọng ấy và trong bất cứ mọi hành động của đời thường đều hướng về Chúa.

Xin hãy để Vị Cứu Tinh làm cầu nối giữa ta với Chúa Cha trong những giờ phút nhìn lại mình.  Xin hãy để Đấng Thiên Sai dẫn ta đến hành động đích thực trong việc sửa sai.  Xin hãy mang Chúa về lại trong đời sống của mỗi người chúng ta.

Quốc Đạt, S.J.

From: langthangchieutim & Anh chị Thụ Mai gởi

CÁI CHẾT CỦA CHÚNG TA

CÁI CHẾT CỦA CHÚNG TA

( BÀI GIÁO LÝ 23 VỀ KINH TIN KÍNH CỦA ĐTC PHANXICÔ)

Tác giả: GLV. Phạm Xuân Khôi (chuyển ngữ)

“Nếu chúng ta mở cửa đời sống và con tim của chúng ta cho anh chị em mình, thì ngay cả cái chết  của chúng ta cũng sẽ trở thành một cánh cửa giới thiệu chúng ta vào Thiên Đàng.”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 27 tháng 11 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay ngài tiếp tục chu kỳ Giáo Lý về kinh Tin Kính nói về Cái Chết của Chúng Ta và chúng ta phải chuẩn bị thế nào.

* * *

Anh chị em thân mến,

Chào anh chị em và chúc mừng vì anh chị em vì can đảm ở quảng trường này trong sự lạnh lẽo.  Tôi khen ngợi anh chị em rất nhiều.

Tôi muốn kết thúc loạt bài giáo lý về “Kinh Tin Kính”, được ban hành trong Năm Đức Tin, bế mạc Chúa Nhật tuần trước.  Trong bài giáo lý này và những bài giáo lý tiếp theo tôi muốn nói về chủ đề sự sống lại của thân xác, theo hai khía cạnh như được trình bày trong Sách Giáo Lý của Hội Thánh Công Giáo, tức là sự chết và sống lại của chúng ta trong Đức Chúa Giêsu Kitô.  Hôm nay tôi sẽ suy niệm về khía cạnh thứ nhất, “sự chết trong Đức Kitô.”

1. Thường trong chúng ta, có một cách nhìn sai lầm về cái chết.  Tất cả chúng ta đều quan tâm đến cái chết, và nó chất vấn chúng ta một cách sâu xa, đặc biệt là khi nó chạm đến gần chúng ta, hoặc khi nó chạm đến những trẻ em, những người không thể tự vệ, một cách mà đối với chúng ta là “xấu xa”.  Tôi luôn luôn tự hỏi: tại sao trẻ em phải chịu đau khổ?  Tại sao trẻ em phải chết?  Nếu cái chết được hiểu là chấm dứt tất cả mọi sự, thì nó thật đáng sợ, khủng khiếp, và biến thành một đe mối dọa phá vỡ mọi mơ ước, mọi quan điểm, mọi liên hệ và làm gián đoạn mọi con đường.  Điều này xảy ra khi chúng ta coi cuộc sống của như như một khoảng thời gian bị giới hạn giữa hai thái cực: sinh và tử, khi chúng ta không tin vào một chân trời vượt trên cuộc sống hiện tại; và khi chúng ta sống như thể không có Thiên Chúa.  Quan niệm này về cái chết là điều điển hình của tư tưởng vô thần, là tư tưởng giải thích cuộc đời như việc chúng ta hiện diện trên thế gian là một sự tình cờ, và đang đi về phía hư vô.  Nhưng cũng có một chủ nghĩa vô thần thực tiễn, đó là một lối sống chỉ vì tư lợi và chỉ sống cho những điều trần tục.  Nếu chúng ta để cho cái nhìn sai lầm về cái chết này bắt giữ, chúng ta sẽ không có sự lựa chọn nào khác hơn là che giấu cái chết, chối từ nó, hoặc tầm thường hoá nó, ngõ hầu nó không làm cho chúng ta sợ hãi.

2. Tuy nhiên, trước giải pháp sai lầm này, “quả tim” con ngưởi – lòng ước ao sự vô tận của nó, mà mỗi ngưởi chúng ta đều có, lòng khao khát cõi vỉnh hằng của nó, cũng ở trong mỗi ngưởi chúng ta – nổi loạn.  Như thế, ý nghĩa Kitô giáo của cái chết là gì?  Nếu chúng ta nhìn vào những giây phút đau đớn nhất của cuộc đời mình, khi chúng ta bị mất một người thân yêu – cha mẹ, một người anh em, một người chị em, vợ, chồng, một đứa con, một người bạn – chúng ta nhận ra rằng, ngay cả trong thảm trạng của sự mất mát, ngay cả khi bị tan nát bởi việc bị chia cách, một xác tín nảy sinh trong trái tim rằng tất cả mọi sự không thể nào là hết, rằng những điều tốt đã được cho đi và nhận được không phải là vô ích. Có một trực giác mãnh liệt trong chúng ta bảo chúng ta rằng cuộc sống của chúng ta không kết thúc với cái chết.

Việc khao khát sự sống này đã tìm thấy câu trả lời thực tế và đáng tin cậy của nó trong sự Sống Lại của Chúa Giêsu Kitô.  Sự Sống Lại của Chúa Giêsu không những chỉ cung cấp cho chúng ta sự chắc chắn về đời sống sau khi chết, mà còn soi sáng những mầu nhiệm về cái chết của mỗi người chúng ta.  Nếu chúng ta sống kết hợp với Chúa Giêsu, trung thành với Người, chúng ta sẽ có thể đối diện với việc đi qua của cái chết với niềm hy vọng và sự thanh nhàn.  Thật vậy, Hội Thánh cầu nguyện: “Nếu sự chắc chắn rằng mình phải chết làm anh chị em buồn phiền, thì anh chị em được an ủi bởi lời hứa về trường sinh”.  Đây là một lời cầu nguyện rất đẹp của Hội Thánh!  Một người có khuynh hướng chết theo cách mà người ấy sống.  Nếu cuộc đời của tôi là một cuộc hành trình với Chúa, một con đường tín thác vào lòng thương xót vô hạn của Người, tôi sẽ được chuẩn bị để chấp nhận giây phút cuối cùng của cuộc đời dưới thế như sự phó thác dứt khoát và tin tưởng vào đôi bàn tay đón chào, trong khi chờ đợi để chiêm ngưỡng Thánh Nhan Người tận mặt.  Đây là điều đẹp nhất có thể xảy ra cho chúng ta: chiêm ngưỡng tận mặt Thánh Nhan xinh đẹp của Chúa, để nhìn thấy Người như Người là, xinh đẹp, đầy ánh sáng, tràn đầy tình yêu, đầy dịu dàng.  Chúng ta đi đến cùng đích này: nhìn thấy Chúa.

3. Trong bối cảnh này, chúng ta có thể hiểu được lời mời gọi của Chúa Giêsu là luôn luôn sẵn sàng, tỉnh thức, vì biết rằng cuộc đời dưới thế này được ban cho chúng ta để chuẩn bị cho đời sau, là đời sống với Cha trên trời.  Và vì thế, có một cách chắc chắn: chuẩn bị tốt cho cái chết, bằng cách gần gũi Chúa Giêsu.  Đó là sự an toàn:  Tôi chuẩn bị mình cho cái chết bằng cách ở gần Chúa Giêsu.  Anh chị em đang gần Chúa Giêsu như thế nào?  Bằng cầu nguyện, các Bí Tích và cũng qua việc thực thi bác ái.  Chúng ta hãy nhớ rằng Người hiện diện trong những người yếu đuối và thiếu thốn nhất.  Chính Người đã đồng hóa Mình với họ, trong dụ ngôn thời danh về Phán Xét Chung, khi Người nói: “Vì Ta đói, các con đã cho Ta ăn, Ta khát, các con đã cho Ta uống, là một người lạ, các con đã tiếp đón Ta, trần truồng, các con đã cho Ta mặc, đau ốm, và các con đến thăm Ta, ở tù, các con đã đến với Ta…. Tất cả những gì các con đã làm cho một trong những anh em này của Ta, là các con đã làm cho Ta” (Mt 25:35-36,40 ).  Vì vậy, một cách an toàn là để phục hồi ý nghĩa của việc bác ái Kitô giáo và chia sẻ huynh đệ là chăm sóc những vết thương về thể chất và tinh thần của những người lân cận của chúng ta.  Sự đoàn kết trong việc cảm thông đau khổ và truyền hy vọng là tiền đề và điều kiện để thừa kế Vương Quốc được chuẩn bị cho chúng ta.  Những người thực hành lòng thương xót không sợ chết. Hãy suy nghĩ về điều này: những người thực hành lòng thương xót không sợ chết!  Anh chị em có đồng ý không?  Chúng ta cùng nhau lập lại câu này để không quên nó được không?  Những người thực hành lòng thương xót không sợ chết. Và tại sao họ lại không sợ chết?  Tại vì họ nhìn vào nó trong những vết thương của anh chị em, và khắc phục nó với tình yêu của Đức Chúa Giêsu Kitô.

Nếu chúng ta mở cửa đời sống và con tim của chúng ta cho anh chị em mình, thì ngay cả cái chết  của chúng ta cũng sẽ trở thành một cánh cửa giới thiệu chúng ta vào Thiên Đàng, quê hương hồng phúc của chúng ta, nơi mà chúng ta đang hướng về, với lòng khao khát được sống muôn đời với Cha chúng ta, với Chúa Giêsu, Đức Mẹ Maria và các Thánh.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

http://giaoly.org/vn

NIỀM TIN VÀ LỜI ĐÁP

NIỀM TIN VÀ LỜI ĐÁP

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R

2 Mcb 7, 1.20-27.29; Rm 8, 31b-39; Lc 19, 23-26

Chẳng ai can đảm để chết cho người mình yêu cả. Nói lý thuyết thì rất hay nhưng trong thực tế lại khác, đó là điều giằng co nhất trong đời của con người, bởi lẽ con người ai cũng mong muốn giữ gìn, bảo tồn cái thân xác của mình. Nói như thế nhưng vẫn có những người can đảm bước ra pháp trường để đón nhận cái chết một cách vui vẻ. Tại sao ? Bởi vì những người đó đã tin vào Đấng đã sinh ra mình, làm chủ cuộc đời mình.

Trang sách Macabê khá quen thuộc mà chúng ta nghe, chúng ta thấy kể câu chuyện về một gia đình của bà mẹ và bảy đứa con khá quen thuộc. Chỉ vì cưỡng lại luật của vua Antiôkhô là phải ăn thịt heo mà trong luật Môsê cấm nên họ đã phải bị xử. Lần lượt từng người con của bà mẹ này đã phải chịu án tử. Con bà chịu án tử quả là điều ta đáng khâm phục nhưng cũng không quên được lòng quả cảm của người mẹ.

Bà là người ta đáng phải khâm phục. Nhìn bảy đứa con chết trong một ngày nhưng bà vẫn tin tưởng, chịu đựng vì bà trông cậy và tin tưởng nơi Thiên Chúa. Bà còn nhắn nhủ các con như thế này : “Mẹ không rõ các con đã thành hình trong lòng mẹ thế nào. Không phải mẹ ban cho các con hơi thở và sự sống. Cũng không phải mẹ sắp đặt các phần cơ thể cho mỗi người trong các con.23 Chính Đấng Tạo Hoá càn khôn đã nắn đúc nên loài người, và đã sáng tạo nguồn gốc muôn loài. Chính Người do lòng thương xót, cũng sẽ trả lại cho các con hơi thở và sự sống, bởi vì bây giờ các con trọng Luật Lệ của Người hơn bản thân mình.”

Bà còn khuyên các con của mình rất chân thành, tha thiết : “Con ơi, con hãy thương mẹ: chín tháng cưu mang, ba năm bú mớm, mẹ đã nuôi nấng dạy dỗ con đến ngần này tuổi đầu. Mẹ xin con hãy nhìn xem trời đất và muôn loài trong đó, mà nhận biết rằng Thiên Chúa đã làm nên tất cả từ hư vô, và loài người cũng được tạo thành như vậy.29 Con đừng sợ tên đao phủ này; nhưng hãy tỏ ra xứng đáng với các anh con, mà chấp nhận cái chết, để đến ngày Chúa thương xót, Người sẽ trả con và các anh con cho mẹ.”

Đỉnh điểm niềm tin của gia đình này là bà đã chết theo cùng các con của mình để tuyên xưng niềm tin, niềm hy vọng và niềm trông cậy vào Thiên Chúa.

Niềm tin vào Thiên Chúa khởi đi từ Cựu Ước điển hình như mẹ con nhà Macabê mà hôm nay chúng ta nghe lại, mường tượng lại. Niềm tin vào Thiên Chúa đó không dừng lại ở Cựu Ước hay gia đình nhà Macabê mà qua Tân Ước và trải dài cho đến ngày hôm nay.

Các môn đệ là những người đầu tiên nghe và tin theo Chúa. Các ngài đã đổ máu đào mình ra để minh chứng niềm tin của mình vào Thầy Chí Thánh Giêsu. Đặc biệt, chúng ta còn nhớ hình ảnh của Stêphanô – vị tử đạo tiên khởi – đã đổ máu mình ra để tuyên xưng đức tin. Dòng máu tử đạo đổ ra và đã lan tràn không chỉ gói gọi ở Giê rusalem mà đến tận cùng trái đất.

Hạt giống đức tin cũng đã được gieo trên quê hương đất nước hình chữ S thân thương này. Dĩ nhiên cũng đi theo con đường của Tin Mừng là khi Tin Mừng được loan báo thì có người này người kia không đón nhận. Không chỉ không đón nhận mà còn chống đối, mà còn cấm cách, mà còn ngăn cản những ai đi gieo hạt giống ấy.

Khi hạt giống Đức Tin đã chọn cánh đồng Truyền Giáo Việt Nam “làm quê hương thứ hai rồi”, thì dĩ nhiên không còn gì có thể cản ngăn đồng lúa Việt Nam trổ bông thơm ngát. Tuy nhiên lịch sử Giáo Hội bao giờ cũng được viết bằng những dòng mực đẫm máu của các Anh Hùng Tử Ðạo. Các ngài đã sống cao thượng và biết hy sinh tính mạng vì Ðức Tin, thật xứng đáng để Thánh Vịnh (125,6-7) ngợi ca:

“Ai nghẹn ngào ra đi gieo giống, mùa gặt mai sau sẽ khấp khởi mừng.

Họ ra đi, đi mà nức nở, mang hạt giống vãi gieo

Lúc trở về, về reo hớn hở, vai nặng gánh lúa vàng”.

Theo sử liệu, hạt giống đức tin đã được gieo rắc trên quê hương đất nước chúng ta với sự hiện diện của một thừa sai là giáo sĩ Inikhu vào năm 1533. Công cuộc truyền giáo mới ở trong giai đoạn khởi đầu mà đã bị thử thách nặng nề với cái chết vì đạo của chân phước Anrê Phú yên vào năm 1644. Từ đây Giáo hội Việt nam phải trải qua nhiều thời kỳ chịu bách hại, có lúc đẫm máu, qua các thời đại các vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, đặc biệt với nhóm Văn Thân.

Nhà cầm quyền thời đó đã dùng mọi hình phạt dã man để khủng bố tinh thần các thánh Tử đạo Việt nam, nhưng các Ngài đã anh dũng chịu đựng vì Chúa. Không có hình phạt nào có thể tách rời các Ngài ra khỏi tình yêu của Chúa.

Những hình phạt mà các Thánh Tử Đạo phải chịu là :

– Bá đao : bị lý hình dùng dao cắt xẻo từng miếng thịt trên thân thể cho dù 100 miếng. Cách chết này có một vị.

– Lăng trì : chặt chân chặt tay trước khi bị chém đầu. Cách chết này có 4 vị.

– Thiêu sinh : bị thiêu sống. Chết cách này có 6 vị.

– Xử trảm : bị chém đầu. Chết cách này có 75 vị.

– Xử giảo : bị tròng dây vào cổ và bị lý hình kéo hai đầu dây cho đến chết. Cách chết này có 22 vị.

– Chết rũ tù : bị tra tấn, hành hạ đủ cách đủ kiểu, rồi bị bỏ đói cho tới khi kiệt sức và chết gục trong tù. Chết cách này có 9 vị.

Giai đoạn lịch sử thời 117 thánh Tử Đạo Việt Nam kéo dài đúng 117 năm, tính từ hai vị tử đạo tiên khởi 1745 (thánh Phanxicô Federich Tế và Matthêu Liciniana Đậu) đến vị cuối cùng 1862 (thánh Phêrô Đa), qua các triều đại vua Lê – chúa Trịnh, Tây Sơn và triều Nguyễn (Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức).

Gương anh hùng của các Thánh Tử đạo Việt nam thôi thúc chúng ta hãy theo gương các Ngài để biết tử đạo trong đời sống hằng ngày. Nếu ngày nay chúng ta không phải trải qua tử đạo như các bậc tiền nhân thì chúng ta có thể chấp nhận tử đạo trong đời sống thường nhật của chúng ta bằng cách sống lời mời gọi của Chúa qua trang Tin mừng hôm nay : “Ai muốn theo Ta, phải từ bỏ mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Theo Chúa là phải từ bỏ mình, chấp nhận mọi gian nan khốn khó, vâng theo thánh ý Chúa, sống trọn cuộc sống Kitô hữu để làm chứng cho Chúa. Đó là chúng ta đang trải qua cuộc tử đạo tuy âm thầm nhưng đòi hỏi nhiều hy sinh, nhiều cố gắng trường kỳ. Nếu không phải đổ máu ra mà làm chứng cho Chúa thì chúng ta có thể làm chứng theo lời nói của thánh nữ Têrêsa Hài đồng: “Ơn gọi tôi ở trong Giáo hội là yêu mến”.

Máu Tử Đạo của các thánh tại Việt Nam mời gọi mỗi người chúng ta nhìn lại niềm tin của mình. Lời đáp trả niềm tin này không phải chỉ một lần là xong nhưng là lời mời và lời đáp trong từng giây từng phút của cuộc đời. Tôi đang chọn Chúa hay tôi chọn tôi? Và nếu tôi chọn Chúa, tôi đã làm gì để chứng minh cho lựa chọn của mình? Chọn lựa của chúng ta hôm nay, có thể không đòi chúng ta phải đổ máu để làm chứng cho Chúa không kém phần gian khó. Đứng trước những bất công, ta có can đảm dám bênh vực, hay ta sợ phiền hà rồi im lặng? Trước một trận bóng đá, một bộ phim hay, một giấc ngủ ngon, một lời rủ đi chơi của bạn bè và tiếng mời gọi của Chúa để đến phụng thờ Chúa qua các bí tích ta chọn điều gì?

Ước gì, nhờ lời cầu bầu của các thánh Tử Đạo tại Việt Nam và nhất là sức mạnh của Thánh Thần Chúa, chúng ta đủ sức thực hiện những chọn lựa của mình. Nhờ đó, vào ngày sau hết, tất cả chúng ta sẽ cùng được đoàn tụ với cha ông chúng ta như lời hứa của Chúa Giêsu: “Ai phục vụ Thầy, thì hãy theo Thầy, và Thầy ở đâu, kẻ phục vụ Thầy cũng sẽ ở đó”.

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Khoan Dung

Khoan Dung


Truyện xưa kể lại rằng, một buổi tối một vị thiền sư già đi dạo trong thiền viện, chợt trông thấy một chiếc ghế dựng sát chân tường nơi góc khuất. Đoán ngay ra đã có chú tiểu nghịch ngợm nào đó làm trái quy định vượt tường trốn ra ngoài chơi, nhưng vị thiền sư không nói với ai, mà lặng lẽ đi đến, bỏ chiếc ghế ra rồi quỳ xuống đúng chỗ đó.

Một lúc sau, quả đúng có một chú tiểu trèo tường vào. Khi đặt chân xuống, chú tiểu mới kinh ngạc khi phát hiện ra dưới đó không phải là chiếc ghế mà là vai thầy mình, vì quá hoảng sợ nên không nói được gì, đứng im chờ nhận được những lời trách cứ và cả hình phạt nặng nề. Không ngờ vị thiền sư lại chỉ ôn tồn nói :“Đêm khuya sương lạnh, con mau vào thay áo đi”. Sự khoan dung của vị thiền sư già đã khiến chú tiểu suốt đời không quên được bài học đó.

Người xưa dạy: Rộng lớn nhất thế giới là đại dương, rộng lớn hơn cả đại dương là bầu trời, rộng lớn hơn cả bầu trời chính là lòng người.

Sự khoan dung, nếu được dùng đúng chỗ và đúng lúc thì còn có tác dụng mạnh mẽ hơn sự trừng phạt, bởi nó tác động rất mạnh đến nhận thức mỗi con người. .

Thậm chí, khoan dung với người cũng chính là khoan dung với mình, giải thoát mình khỏi những sự giận dữ, căm tức, hận thù, tranh chấp… nhờ đó mà cân bằng được cuộc sống của mình.

From: thunhannct & Thụ Mai

 

LÀM SAO TIN CHÚA MÀ VẪN KHÔNG MẤT LÒNG MẾN ĐỨC PHẬT?

LÀM SAO TIN CHÚA MÀ VẪN KHÔNG MẤT LÒNG MẾN ĐỨC PHẬT? (TRUYỀN GIÁO NGÀY NAY):

Nguyễn Ngọc Phú Đa

Reeng… reeng… reeng…!!!“Alô! Tôi là… xin nghe!” “Ồ, chào cậu, mình là Bản đây. Chiều mai rảnh không, mời ông bạn đi ăn cơm với gia đình mình nhé. Có chuyện rất cần bạn chia sẻ tâm tình”. Tôi coi lịch và thấy không có gì cản trở, nên nhận lời. “Mai mình sẽ đến vào lúc 18h nha”.

Đó là một cú điện thoại của một người bạn thân gọi đến từ Đồng Nai. Vợ chồng anh chị ở ngoài bắc, nhưng vào trong nam lập nghiệp làm ăn.

Đúng hẹn, tôi đến nhà anh bạn lúc 18h ngày hôm sau. Gặp tôi, vợ chồng anh bạn đon đả, tay bắt mặt mừng, mời tôi vào nhà uống nước. Sự thân thiện của anh chị vốn là bản chất đã có từ lâu. Tôi thấy quý anh chị và các cháu vì tính hồn nhiên, chân thành của họ. Ngồi một chút, anh nói với tôi:

“Bản có vợ chồng thằng bạn cũng thân lắm, nhưng chỉ tội hơi buồn vì vợ nó là đạo Công Giáo, còn chồng lại theo đạo Phật. Ngày chúng nó lấy nhau làm phép chuẩn thôi[1]. Khi ấy, hai bên ai cũng đồng ý, nhưng khi có con rồi, các cháu cũng chuẩn bị đến tuổi đi học, nên 2 vợ chồng thấy lo. Lo là vì sau này không biết giáo dục các cháu theo tôn giáo nào! dựa vào giáo lý Đức Phật hay Chúa Giêsu để định hướng cho chúng nó, nên mỗi khi đụng đến vấn đề này, là vợ chồng cãi nhau. Mình là bạn thân với chúng nó, Bản thấy thế, nên cũng buồn. Lát nữa mình có mời vợ chồng nó đi ăn cùng, thấy thuận tiện,  muốn thầy chia sẻ với vợ chồng nó một chút để làm sao cho chúng nó dung hòa, nếu không Bản nghi đổ vỡ lắm!”.

Nhìn đồng hồ, tôi thấy 19h rồi, và thế là tôi cùng vợ chồng anh Bản chạy đến nơi chúng tôi sẽ ăn tối cùng nhau.

Vừa mới dựng xe xong, quay sang thì thấy vợ chồng anh đó cũng tới. Chúng tôi vào bàn ăn, và công việc đầu tiên là phần làm quen. Anh Bản lần lượt giới thiệu tôi với mọi người và ngược lại. Qua giới thiệu, chúng tôi tỏ vẻ thân thiện với nhau ngay từ giây phút ban đầu.

Sau đó, chúng tôi cùng nhau ăn cơm, và đến khoảng giữa bữa, vợ của anh bạn, chị Tuyết, chị là người Công Giáo, lấy anh Bình là người Phật Giáo. Vì biết tôi là thầy tu, nên chị chủ động gợi chuyện: “Thưa thầy, con rất muốn chồng con phải theo đạo Công Giáo! Nhưng anh không chịu và ngược lại, anh cũng bắt con theo Phật Giáo! Thầy nghĩ sao và cho chúng con lời khuyên”. Tôi hỏi lại chị: “Tại sao chị yêu cầu anh phải theo đạo Chúa?”. Chị trả lời: “Tại vì gia đình con theo Chúa từ nhiều đời nay rồi, với lại con thấy Chúa tốt lành quá, bỏ Ngài, con thấy có tội… và nhất là con sợ mất linh hồn lắm thầy ạ!”. Tôi quay sang hỏi anh: “Anh Bình! Anh có muốn theo Chúa không?”. Anh trả lời: “Con làm sao theo được! Nhà con sùng Phật nhất làng đó! Bác bên bố và cậu bên mẹ là Hòa Thượng trụ trì những chùa lớn ở ngoài bắc. Còn em trai của con là sư thầy, đang trụ trì một chùa bên quận 8, gia đình con như thế, làm sao con có thể bỏ Đức Phật để đi theo Chúa được”. Nghe đến đây, tôi đáp lời: “Anh ạ, tôi không bảo anh bỏ Đức Phật và đi theo Chúa đâu, chị đây cũng vậy thôi, nhưng có khi chị diễn tả hơi chân thành và đơn sơ, nên anh hiểu chưa đúng đấy thôi”. Lúc đó, anh hỏi lại tôi: “Vậy theo thầy, con phải hiểu và làm thế nào?”. Tôi nói: “Trước tiên, tôi thấy Đức Phật là một đấng rất đáng kính. Ngài đã dám chấp nhận từ bỏ con đường giàu sang nhung lụa chốn triều đình, và đã nhất quyết bỏ lại tất cả khi đã giác ngộ ra chân lý ‘đời là bể khổ’ và ngài đã tìm ra con đường để giải thoát. Con đường ấy được thể hiện trong triết lý ‘Tứ diệu đế’, ‘Thập nhị nhân duyên’ và ‘Bát chính đạo’. Qua đó, ngài cũng mời gọi mọi người đi theo con đường mà ngài đã tìm ra để đạt được hạnh phúc. Đức Phật thật tốt. Tuy nhiên, khi được học trò hỏi: ‘Thưa thầy, Chân Lý ở đâu?’ Ngài đã không tự nhận mình là Chân Lý, nhưng âm thầm chỉ tay lên Trời. Như vậy, ta hiểu, Đức Phật không tự coi mình là Chân Lý, mà Ngài đã chỉ lên Trời, Chân Lý ở trên đó! Ngài đóng vai trò là người dẫn đường để đưa người ta đến gần Ông Trời, gặp được Ông Trời và được ở với Ông Trời là Chân Lý tuyệt đối. Vì thế, với người Công Giáo, chúng tôi rất mến Đức Phật, bởi vì ngài cũng như chúng tôi là tin Ông Trời, Thượng Đế, Đấng Tạo Hóa. Tuy có nhiều cách gọi khác nhau, nhưng  những tước hiệu đó, bên chúng tôi gọi Ngài qua một tên chung là Thiên Chúa”. Nghe đến đây anh tỏ vẻ đắc trí. Nhưng anh hỏi tiếp: “Bây giờ làm thế nào để con theo Chúa mà không bỏ Đức Phật? Bởi vì con thương và thấy tội Đức Phật quá. Con cũng thấy có một số người khi đã tin theo một tôn giáo khác, thì ngay lập tức, họ quay lưng lại với Đức Phật! Thậm chí, họ coi Đức Phật rất tầm thường, nếu không muốn nói là báng bổ ngài. Nếu mà thầy bắt con cũng như họ là con nhất quyết không theo đạo Chúa đâu!” Tôi bảo anh: “Anh theo Chúa thì đúng rồi, bởi vì Chúa là Đấng dựng nên trời đất, muôn vật, muôn loài, trong đó có loài người và cũng có cả Đức Phật luôn. Anh theo Chúa thì được cả Chúa và cũng có luôn Đức Phật. Nhưng anh phải hiểu là Chúa thì chúng ta tôn thờ Ngài, bởi vì nhờ Ngài, thì mọi sự mới hiện hữu trên trần gian này. Còn Đức Phật thì chúng ta tôn kính ngài như các bậc hiền nhân, như các thánh bên Công Giáo! Được chứ?”. Đến đây, tôi nhận thấy anh Bình tỏ vẻ hài lòng và thuận theo cách giải thích của tôi và có thiện cảm với đạo Công  Giáo. Tôi nói thêm: “Nếu anh theo đạo Chúa, mà anh quay lưng với Đức Phật thì không thể được”.

Đến đây, tôi nhớ lại trong buổi học về môn đối thoại liên tôn, cha giáo nói: “Anh em khi đến chùa, mình vẫn có thể thắp hương vái Đức Phật để tỏ lòng tôn kính ngài, vì điều này không ảnh hưởng gì đến niềm tin của ta, nhưng lại còn thể hiện nét đẹp rất nhân văn. Tuy nhiên, nếu vì hành vi thắp hương của ta cho Đức Phật mà gây hiểu lầm nơi những người chung quanh và ta ngầm hiểu là họ nghĩ đây là hành vi tôn thờ Đức Phật thì không nên, vì chúng ta được phép tôn kính ngài chứ thờ là thờ một Thiên Chúa mà thôi”.

Rồi trong đầu tôi cũng hiện lên câu chuyện của cha Piô Ngô Phúc Hậu, một nhà truyền giáo nổi tiếng và rất thành công tại các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Khi ấy, ngài cũng gặp phải trường hợp gần giống như vậy, đó là một bà cụ xin theo đạo Công Giáo, bà theo đạo Chúa vì thấy ông cha nói về Chúa hay quá, nhưng khi Rửa Tội xong, bà cứ buồn và thấy thương Đức Phật! Lúc đó bà hỏi cha Piô: “Cha ơi, tôi theo đạo Phật từ nhỏ. Tôi thương Đức Phật quá. Bây giờ tôi theo Chúa, cha cho tôi giữ bàn thờ Đức Phật nha!” Cha Hậu đang trầm ngâm, thấy vậy, bà tiếp lời: “Đức Phật tốt lắm ông cha ạ. Tôi thương ngài lắm”. Sau đó cha Hậu đánh liều bảo bà: “Bà cứ thương Đức Phật đi. Tôi cũng thương ngài nữa, nhưng mà Chúa thì để trong lòng kiếng, chỗ quan trọng, còn Đức Phật là hiền nhân thì để ở kế bên Chúa, thấp hơn Chúa, bà chịu không?”. Bà vui mừng và sẵn sàng đón nhận đề nghị của Cha Hậu. Hôm sau, cha Hậu lên trình Đức Cha về sự việc này, Đức Cha nói: “Được lắm! Cha có sáng kiến hay”[2]. Cứ thế, dần dần người dân Miền Tây theo đạo Công Giáo khá đông, và ngày nay, họ sống hài hòa giữa các tôn giáo với nhau trong lối hiểu, trong cách nói, và trong việc tham gia những công ích chung[3].

Thực vậy, Đức Kitô đã chết cho mọi người. Vì thế, “…ta phải tin chắc rằng Chúa Thánh Thần hằng ban cho mọi người khả năng tham dự vào mầu nhiệm Vượt Qua theo một cách thức mà chỉ duy một mình Thiên Chúa biết” (Gs 22e). Thần Khí sẽ đưa tất cả về với Đức Kitô, vì thế, mọi người đều có khả năng hướng về Đức Kitô[4]. Quả thật, các đạo dẫn đến Đường là Đức Kitô, qua “luật ghi khắc trong lương tâm” (x. Rm 2, 15) cần phải được mọi người tôn trọng.

Mong thay ngày nay, với người Công Giáo, chúng ta cần có cái nhìn đối thoại hơn với Đạo Phật cũng như với các tôn giáo khác, cần  hiểu đạo Phật và giáo lý của ngài, ta sẽ dễ dàng có một cái bắt tay thân thiện để cùng nhau thăng tiến đời sống tâm linh cho con người.

Tinh thần này cũng được Hội Đồng Giám Mục Việt Nam định hướng qua thư chung 2003, trong đó có đoạn viết: “Thăm viếng thân hữu các thành viên tôn giáo bạn. Việc thăm viếng các thành viên tôn giáo bạn và nhất là thăm viếng các gia đình cũng như cá nhân ngoài công giáo là trình bày Phúc Âm một cách cụ thể. Thăm viếng để chúc mừng khi vui, an ủi khi buồn, nâng đỡ khi gặp hoạn nạn là những trang Phúc Âm sống động giúp anh chị em ngoài công giáo nhận rõ chân dung Chúa Giêsu Cứu Thế và hiểu biết đạo Chúa một cách chính xác hơn. Trao đổi với người ngoài công giáo về một đề tài chung. Từ đó, chúng ta nhận ra trong thời đại ngày nay, việc đối thoại có ý nghĩa rất quan trọng, sẽ dẫn đến thông cảm, hiểu biết và tôn trọng nhau hơn” [5].

Có được cái nhìn như thế, thì còn đâu trong tâm tưởng một thái độ kỳ thị, coi thường và quay lưng lại với nhau nữa.

Thật mong thay!

Sài gòn, kỷ niệm lễ các thánh tử đạo Việt Nam, 17-11-2013

Nguyễn Ngọc Phú Đa


[1] “PHÉP CHUẨN” là phép của giáo quyền chuẩn chước để được thành hôn với nhau, giữa một người đã chịu phép Rửa Tội và một người chưa được Rửa Tội. Tháo cởi luật trong một trường hợp riêng biệt.

[2] Xc. Lm. Piô Ngô Phúc hậu, Nhật Ký Truyền Giáo, “Đức Phật Mến Yêu” truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013, trên: http://nguoisamarinhanhau.com/diendan/cac-bai-viet-cong-giao/nhat-ky-truyen-giao-duc-phat-men-yeu/

[3] Xc. ĐGM Stêphanô Tri Bửu Thiên khai mạc Hội ngộ Liên tôn 2013, truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2013, trên: http://tgpsaigon.net/video/20131105/23754

[4] Một số nhà thần học nói về một yếu tố hiện sinh siêu nhiên (supematural existential), là một “yếu tố thuộc về Đức Kitô” (christic existential).

[5] Thư chung HHGM VN 2003, số 11

ĐỪNG SỢ NGÀY TẬN THẾ !

ĐỪNG SỢ NGÀY TẬN THẾ !

Phan Sinh Trần

Ai trong chúng ta không hãi hùng, khiếp sợ khi nghĩ đến những khó khăn, gian nan chờ đón con người trong những ngày gần đến tân thế. Không sợ sao được khi mà chỉ một cơn động đất kèm theo sóng thần Tsunami ở lòng Ấn độ dương vào năm 2004, nó đã có sức mạnh tương đương 23 ngàn quả bom nguyên tử nổ ở Hiroshima, các đợt sóng thần đổ vào bờ, có khi cao tới 15 mét đánh vào 11 quốc gia trải dài từ Phi Châu tới Á Châu làm 150 ngàn người chết.

Sách Lu ca cho biết khi gần đến Ngày Tận Thế thì sẽ có các điềm sau đây :

Dân này sẽ nổi dậy chống lại dân kia, và nước này sẽ chống với nước nọ. Sẽ có những cuộc động đất lớn mọi nơi; sẽ có ôn dịch đói khát, những hiện tượng kinh khủng từ trên trời và những điềm lạ cả thể. Nhưng trước những điều đó, người ta sẽ tra tay bắt bớ, ức hiếp và nộp các con đến các hội đường và ngục tù, điệu các con đến trước mặt các vua chúa quan quyền vì danh Thầy; các con sẽ có dịp làm chứng (Luca 21, 10-13)

Thú thực với các Bạn, tôi đã rất lo cho con cháu của mình khi nghĩ đến Ngày Tận Thế mà chúng phải chịu đựng, khi tôi nhìn thấy ngay từ thời kỳ này của mình, có biết bao nhiêu là những điên loạn, trong xã hội hôm nay, khi mà mọi thứ đều đang xuống cấp và tan rã ra từng mảnh kể cả những giá trị vĩnh viễn như : tình yêu, gia đình, hiến dâng, và sự thánh thiện bên trong lòng tòa thánh Roma của Giáo Hội nữa. Đó là chưa kể đến những tội lỗi khủng khiếp như thiếu nữ phá thai giết hơn 1.5 triệu thai nhi một năm ở Việt Nam, nếu tính theo tỉ lệ giết trong 1000 dân thì vào loại cao nhất trên thế giới, giết nhiều gấp ba lần Trung Quốc, giết nhiều gấp gần bốn lần Mỹ . ( Nguồn : Alan Guttmacher Institute report). Cả một thế giới rối loạn phải không ?

Nhưng mà… khi tôi đến với Lời Chúa, Được Chúa dây dỗ qua Lời của Ngài, dần dần, ta sẽ có cái nhìn rất khác về ngày Tận Thế, nhưng trước hết xin hãy nói về các an ủi của Chúa dành cho ta trong thời mạt vận trước đã:

  • o Tội lỗi càng nhiều thì ơn tha thứ và thánh hóa càng tra`n ngập hơn nữa, tuy chưa bao giờ con người phạm tội nhiều như bây giờ nhờ các phương tiện văn minh thí dụ như thanh niên xem phim sex dễ như bật máy tính lên, nhưng chúng ta cũng được an ủi khi mà chưa bao giờ việc làm chứng cho Chúa, việc truyền giáo qua Internet lại dễ dàng như bây giờ. Trang mạn Facebook tên là “Mỗi ngày với Chúa Jesus” là địa chỉ mạng có nhiều người đến tìm hiểu và đối thoại nhất trên Internet. Twitter của Đức Thánh Cha cũng rất được ái mộ với 10 triệu người đọc trong một thời gian ngắn và còn tiếp tục gia tang mãnh liệt.
  • o Càng nhiều người bỏ Đạo chẳng hạn như tại Pháp chỉ còn dưới 5% đi nhà thờ thì lại càng có nhiều Tín Hữu sốt sắng và yêu mến Chúa. Chưa bao giờ mà ơn Thánh hóa của Chúa Thánh Linh đầy dẫy và có thể thấy nhan nhản khắp nơi như thời này. Nhìn ra chung quanh, đâu ta cu~ng thấy có những người yêu mến Chúa quá đỗi, họ chầu Thánh Thể và Nghe Lời Chúa qua Kinh Thánh ngày đêm không ngưng nghỉ, có một hứng khởi kỳ lạ trong đời sống của Anh Chị Em này. Niềm vui của Chúa qua nụ cười đơn sơ và rạng rỡ của họ là điều ai cũng thấy. Thứ niềm vui có thể lây lan cho bất kỳ ai gặp họ ! Lời cầu nguyện của họ rất tha thiết và thường được Chúa nhận lời.

Kinh Thánh nói: “Sẽ xảy ra trong những ngày sau hết, Thiên Chúa phán:Ta sẽ đổ Thần khí Ta trên mọi xác phàm. Và con trai, con gái các ngươi sẽ tuyên sấm, thanh niên của các ngươi sẽ thấy thị kiến, kẻ già lão trong các ngươi sẽ chiêm điềm mộng” ( CVTD 2:17).

Không thể kể hết các điển hình, nào là bác trên 70 tuổi đi làm chứng về Chúa ở những vùng Cao Nguyên hẻo lánh nhất, làm cho nhiều người tin yêu Chúa, nào là bà già 90 tuổi lập điểm truyền giáo ở Cà Mau với hàng mấy trăm tín hữu mới, họ đã đến và đi theo Chúa lúc đầu vì được Chúa chữa lành và sau đó vì yêu mến Chúa, nào là một em thiếu niên ngoại đạo, tin Chúa rồi làm cho cả nhà tin yêu Chúa, nào là đại đức Thích Nhật Huệ bỏ các bạn sư tăng, bỏ Chùa mà đi theo Chúa, và trỏ thành một dũng sĩ yêu mến Chúa , nào là chiến dịch một triệu người nhịn ăn 40 ngày để ăn năn và cầu thay cho nước Mỹ và nhân loại… Đã có biết bao nhiêu người trở nên những giọt nước trong giòng thác cứu độ của Chúa.

  • o Chưa bao giờ mà lòng tham tiền và lệ thuộc vật chất lại đến mức tệ hại như thời đại chúng ta, nó xảy ra ngay cả tại các quĩ đầu tư lớn nhất, uy tín nhất và làm cả thế giới rơi vào suy thoái năm 2008. Nhưng cũng chưa bao giờ có tiền lệ trong lich sử nhân loại, người khôn ngoan nhất về chứng khoán và giầu nhất nhì thế gian lại dùng toàn bộ tài sản của mình để mua nước Trời qua cách bố thí cho người nghèo. Đó là ông Warren Buffet, ông còn nói thêm “giá mua nước Thiên đàng là rẻ”. Ông tỷ phú Bill Gate cũng thuộc loại dành gần hết tài sản của mình cho quĩ người nghèo này.

* Thử thách càng nhiều thì ơn Chúa càng nhiều, Cha trời không để chúng ta đơn độc, vô vọng trong cuộc chiến thử thách với Ma quỉ. Sách Tông Đồ Công Vụ 2:20-21, đã trích lời tiên tri Ê dê ki en là: “Mặt trời biến thành tối tăm,và mặt trăng sẽ thành máu, trước khi đến Ngày vĩ đại huy hoàng của Chúa. Và sẽ xảy ra là mọi kẻ kêu Danh Chúa sẽ được cứu”. Bạn biết đó, Chúa yêu chúng ta biết bao! Người chết cho chúng ta được sống, không có lý gì Ngài sẽ bỏ mặc chúng ta. Không có gì có thể tách chúng ta ra khỏi lòng mến của Thiên Chúa. “Vì chưng các sự thống khổ của Ðức Kitô tràn đến trên chúng tôi thế nào, thì nhờ Ðức Kitô, sự an ủi chúng tôi cũng được đầy tràn thể ấy” ( IICor1:5)

* Đừng sợ thử thách vì bản thân thử thách tạo nên thực đức, tạo nên lòng cậy trông cao độ, thánh Phaolo, các Tín hữu tiên khởi đều trải qua thử thách sống còn và có kinh nghiệm này :

* Quả vậy, hỡi anh em, chúng tôi không muốn để anh em không hay biết về nỗi gian truân đã xảy đến cho chúng tôi ở Tiểu Á. Thật chúng tôi đã phải khốn khó ê chề đến cực độ, quá sức mình, bí đến đỗi không trông sống nổi. 9 Nhưng trong thâm tâm, chúng tôi đã đành phận với án tử rồi, để chúng đừng còn nương cậy vào mình, nhưng là vào Thiên Chúa, Ðấng làm cho kẻ chết sống lại. (IICorinto 1:3-7)

* Thời sau hết là dịp tốt để ta tuyên xưng đức tin và giặt áo mình trong máu tử đạo. Tình yêu cao hơn hết là tình yêu có thể vượt thắng sự sợ hãi vì cái chết. Chúa đã nói “Đừng sợ” , Chính Đức Chúa Thánh Linh sẽ giúp ta thực hiện trọn vẹn hy tế này.

Trong thử thách ta hãy hướng về ánh sáng Thiên Đàng, biết rằng ta đang trên đường về nhà Cha nơi an bình vĩnh hằng, nơi ta sẽ được chiêm ngắm đấng vô cùng đẹp đẽ mà mình trông mong bấy lâu trong niềm vui thiên thần của sự Ca Ngợi.

Mời Bạn cùng chiêm ngắm niềm vui được tử đạo của một vị tiền nhân.

Ngày 12-9-1845, Cha Giuse Maria Diaz Sanjurjo, người Tây Ban Nha, từ Macao đặt chân tới Yên Trì và đến địa sở của Cha Rivas rồi tới nơi trú ẩn của Ðức Cha Hermosilla. Sau cùng ngày 17-12 Cha đến nhiệm sở Lục Thủy là chủng viện hiện có Cha Marti và Alcazar. Tại đây cha học tiếng Việt và được đặt tên là An, vì cha đến vào lúc đạo Công Giáo không bị bắt bớ. Nhiệm vụ của Cha là đào tạo các chủng sinh lên chức linh mục…

Tuy nhiên từ khi có tầu Pháp đến gây hấn năm 1856 thì thái độ của quan thượng đổi hẳn, ông triệt để thi hành lệnh cấm Đạo và giết tín hữu của triều đình. Tỉnh Nam Ðịnh lại là nơi có nhiều cơ sở đạo của các cha dòng Ðaminh cũng như hội thừa sai Paris.

Ngày lễ Thăng Thiên, 21-5-1857 quân lính trên tỉnh về bao vây Bùi Chu bắt được Ðức Cha An và mấy vị quí chức, đóng gông giải về tỉnh.

Ðức Cha bị tra khảo ghê gớm lắm nhưng cương quyết chỉ tuyên xưng đức tin Công Giáo nên bị các quan giam vào trong ngục không ai được đến thăm. Trong hai tháng, một linh mục đã trá hình đến ban bí tích cho đức cha ba lần. Ban ngày đức Cha phải đeo gông và xích, ban đêm phải cùm chân, nhưng trong thư gửi cho các bạn, đức Cha viết: “Tâm thần tôi vui sướng và hy vọng được đổ máu mình hòa lẫn với máu châu báu của Chúa Cứu Thế đã đổ ra trên Calvario tẩy sạch các tội khiên. Tôi trông cậy vào lời cầu nguyện của anh em để được ơn can đảm và bền chí đến cùng. Tôi biết không còn sống được bao lâu, nhưng với những thương tích đẫm máu tôi thấy thời gian thật lâu dài. Tôi trông mong Thiên Chúa dùng những đau đớn này để tẩy sạch mọi tội lỗi của tôi“.

Trong khi có tin đồn đức Cha sẽ phải giải về Huế và bị trục xuất về Âu Châu, ngài viết cho cha bề trên dòng: “Xin Thiên Chúa thương xót đến tôi và đến địa phận mà cho tôi được đổ máu ra vì lòng yêu mến Ðức Chúa Giêsu rất nhân ái mà người ngoại đạo khinh rẻ một cách mù quáng. Tôi rất vui mừng và bình an chờ đợi giây phút lưỡi gươm đưa ngang cổ tôi và linh hồn tôi sẽ thoát bỏ xích xiềng và thân xác hay hư nát mà bay thẳng vào lòng lân tuất của Ðấng tạo dựng nên tôi. Thế nhưng tôi rất thất vọng và sợ hãi phải đem về Huế và bị trả về Âu Châu. Tôi phó thác tuân theo ý định quan phòng của Chúa, tôi thương cho anh em còn phải gặp nhiều gian lao. Chớ gì Thiên Chúa dùng máu của tôi để làm bảo chứng hòa bình. Hãy can đảm và tín thác vì bàn tay Chúa không bị thu ngắn mãi“.

Các quan lớn tỉnh Nam Ðịnh đã hội nhau và định án “ … Sau khi đã cẩn thận xem xét chúng tôi quyết định rằng tù nhân phải chém đầu ở nơi cao để mọi người xem thấy, sau đó xác phải ném xuống sông, như thế khắp nơi biết được lệnh Vua thẳng nhặt“.Vua Tự Ðức đã phê vào bản án .

Lính đeo gông vào cổ rồi dẫn Ngài ra nơi xử. Ðức cha giữ vẻ mặt tuơi cười, một tay đỡ gông một tay nâng xích, tới pháp trường, lính đứng thành hình vuông chung quanh đức Cha, quan lãnh binh đứng ở ngoài, quan phó đứng bên cạnh. Người ta trải chiếu xuống đất và đặt một tấm vải to, ba bộ áo Ngài vẫn mặc ở trong tù, một cái gối để đức Cha ngồi lên trên rồi họ trói tay lại ở đàng sau lưng. Ðức Cha chìm đắm trong cầu nguyện. Lính dựng cọc sau lưng, lấy giây thừng quàng chung quanh ngực rồi bụng và cột vào cọc. Quan chỉ huy hỏi xem mọi sự đã sẵn sàng chưa và khi biết mọi sự đã xong, quan lãnh binh cho lệnh chém sau tiếng trống. Nhưng mới sau tiếng trống thứ hai, tên lý hình đã chém một nhát đầu rơi khỏi cổ, rớt xuống tấm vải. Quan lãnh binh truyền tung đầu lên không, tức thì tên đao phủ nắm râu mà tung lên cao cho rơi xuống đất rồi lượm lên bỏ vào thúng, cắt giây thừng cho xác ngả xuống chiếu. Sau cùng lý hình lấy xác và cả đất nhuộm máu đỏ đem buông xuống sông. (nguồn: http://nguoitinhuu.com/martyrs/tudao43.html)

Tình yêu Thiên Chúa đã giúp Đức Giám Mục An, Maria Diaz Sanjurjo, vượt qua thử thách lớn nhất đời mình , đó là cuộc hành hình và cái chết chém đầu . Tình yêu của Ngài lớn hơn sự chết nhờ noi gương Đức Chúa Giê Su.

Xin cho chúng con luôn có niềm vui và tình yêu nơi Chúa Giê Su kính yêu!

Phan Sinh Trần

CHỨNG TÁ

CHỨNG TÁ

Ông kể với tôi:

<Tôi đau rất nặng, người ta đưa tôi vào bệnh viện, không ai chăm sóc tôi cả ngoài một chị y tá, chị tỏ ra rất tốt và tận tình giúp đỡ tôi.  Chị là mẫu người làm việc hết lòng, không vụ lợi.

Tôi thấy chị rất kiên nhẫn và dịu dàng với bệnh nhân, ngay cả bệnh nhân khó tính nhất vẫn nhận được nụ cười của chị.  Chị không biết pha trò làm cho bệnh nhân vui nhưng chị lại rất ngọt ngào khiến bệnh nhân được an ủi và cảm thấy cái đau được thoa dịu…

Một đêm kia, trời đã rất khuya, tôi thấy chị quỳ gối im lặng trong phòng tôi và nhìn ra cửa sổ.

Tôi hỏi: “Chị quỳ làm gì thế?”.

Chị trả lời: “Tôi cầu nguyện cho ông, xin Chúa chữa lành thể xác cũng như tinh thần cho ông.”

Chỉ một câu ngắn đó thôi đủ làm cho tôi, là người bấy lâu không biết Chúa, bây giờ được biết Chúa.  Tôi thấy Chúa nơi người chị y tá ấy.  Giữa những đau khổ thể xác và cô đơn tinh thần, nhờ sự săn sóc đầy tình người và những lời cầu nguyện đầy yêu thương của chị y tá ấy, tôi đã gặp Chúa.

Và đó là lý do và động lực thúc đẩy tôi theo đạo Công-giáo.>

Gương sáng và tình yêu thương là bằng chứng cho người ta nhận ra Thiên Chúa.

Có nhiều người không bao giờ thấy chúng ta cầu nguyện sốt sắng ở nhà thờ, vì họ có đạo đâu mà đến nhà thờ, nhưng họ thấy cách chúng ta biểu lộ tình thương với họ hay với những người chung quanh mà họ nhận ra Thiên Chúa của tình yêu.  Nếu chúng ta sống thực sự yêu thương thì không ai đánh giá sai lầm về đạo Chúa, khi chúng ta chứng minh tình yêu bằng đời sống tốt thì chúng ta thực sự trở nên những người bạn tốt của nhau và là con cái Thiên Chúa.

Mẹ Têrêxa Calcutta đã định nghĩa về một nhà truyền giáo như sau: “Đó là một tín hữu Kitô say mê Chúa Giêsu đến độ không có một ước muốn nào khác hơn là làm cho mọi người nhận biết và yêu mến Ngài”. Mẹ Têrêxa không chỉ làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giêsu bằng những lời nói suông, nhưng Mẹ nói về Chúa Giêsu, Mẹ tỏ bày gương mặt của Chúa Giêsu bằng chính cuộc sống yêu thương phục vụ của Mẹ.  Do đó, truyền giáo thiết yếu đối với Mẹ Têrêxa là dùng cả cuộc sống của mình để làm cho người ta biết và yêu mến Chúa Giêsu, truyền giáo không chỉ là rao giảng một giáo lý mà thiết yếu là chia sẻ một cuộc sống yêu thương.

Giáo dân đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền giáo.

Vai trò làm men, làm muối, làm ánh sáng, làm chứng nhân giữa đời.  Bởi vì giáo sĩ không sống chân bùn tay lấm nơi đồng ruộng với những nông dân; giáo sĩ không gồng gánh theo những người buôn bán đi vào đầu đường xó chợ; giáo sĩ không đầu tắt mặt tối làm việc trong những cơ xưởng, nhà máy, công trường…  Nhưng chính những giáo dân nhà nông, những giáo dân buôn bán, những giáo dân công nhân… có nhiệm vụ đem Chúa đến cho anh em mình nơi đồng ruộng, chợ búa, xí nghiệp, nhà máy… nghĩa là những nơi mà giáo sĩ không có mặt và không thể đi đến, thì giáo dân sẽ đóng vai trò chủ chốt và chủ động.  Bởi đó, không những giáo dân đóng vai trò yểm trợ cho giáo sĩ mà còn đóng vai trò chính yếu, thay thế cho giáo sĩ trong những nơi hay những hoàn cảnh đó.

Như vậy cách truyền giáo tốt nhất và có hiệu quả nhất vẫn là đời sống gương mẫu, đời sống Công giáo đích thực, đời sống thể hiện tình yêu thương của chúng ta.   Vì vậy, chúng ta hãy nắm lấy những cơ hội đi lại đây đó, khi thi hành công tác, khi làm ăn sản xuất, khi xê dịch thăm viếng… để nói hay làm chứng về Chúa qua lời nói, thái độ và cách đối xử đầy tình yêu thương của chúng ta.

From: Thiên Kim & Nguyễn Kim Bằng

NẾU CHÚA GỌI CON VỀ …

NẾU CHÚA GỌI CON VỀ …

Nếu bạn tin rằng bạn phải chết, rằng có một cõi đời đời, rằng bạn chỉ có thể chết một lần, và nếu [lúc bạn được Chúa gọi về] bạn có sai lầm lỗi, lầm lỗi ấy sẽ là mãi mãi, không thể sửa chữa lại được, tại sao bạn lại không biết lựa chọn để bắt đầu ngay bây giờ là làm tất cả với sức lực của mình để bảo đảm một cái chết tốt? – Thánh Alphonsus di Liguori.

Cái chết là một điểm dừng mà tất cả chúng ta ai cũng sẽ đến, và ai ai cũng biết điều đó, thế nhưng chúng ta lại làm tất cả để gạt nó sang một bên.  Chúng ta sợ nó đến nỗi chúng ta tìm mọi cách, thậm chí ngay cả mê tín dị đoan để thay đổi định mệnh của mình, tất cả để trốn tránh cái chết.  Thậm chí có nhiều nơi người ta mê tín đến nỗi đành lòng hạ danh giá của người con dâu đã có thai khi rước dâu về nhà bằng cách rước dâu vào ngõ sau để ngăn ngừa cái chết trong gia đình.  Đúng là một lối suy nghĩ ngớ ngẩn.  Sự chết là gì đối với mỗi người chúng ta mà tại sao chúng ta lại sợ nó đến như vậy?  Còn tệ hại hơn nữa là khi biết mình sợ cái chết mà còn dùng nó để lấn át và lấy quyền hành trên người khác. Thật sự chúng ta có bao giờ nhìn lại cái chết và tự hỏi nó có ý nghĩa gì đối với mỗi người chúng ta?  Có bao giờ chúng ta mang nỗi sợ hãi ấy vào cầu nguyện xin Chúa dạy cho chúng ta biết sự thánh thiêng của cái chết, để rồi chúng ta không lạm dụng nó cũng như không để nó làm chủ đời mình một cách ngớ ngẩn không?

Chúng ta thường nói “Sống gửi thác về”, nhưng trên thực tế con người chúng ta không thật sự đón nhận hành trình đi về đó.  Chúng ta chưa nhìn cái chết như là một cái gì đó thánh thiêng để rồi chúng ta biết đón nhận nó như là một ân huệ quý báu Chúa ban.  Nếu chúng ta biết đón nhận, chúng ta mới biết nhìn sự chết như là một người bạn thân luôn đồng hành với mình trên mọi ngóc nghách của cuộc sống. Thật sự nó là như vậy.  Cái chết chẳng bao giờ rời ta và luôn theo ta như hình với bóng cho đến khi chúng ta được Chúa gọi về.  Cái “Chết” như là một người bạn đồng hành thiêng liêng luôn thúc đẩy chúng ta hướng đến sự hoàn hảo và tinh tuyền của tạo dựng và cái giá cứu chuộc của Con Một Thiên Chúa.  Qua đó sự “Chết” sẽ giúp chúng ta chọn cách sống cho mỗi một hơi thở trong cuộc đời.

Chúng ta nhìn lại cuộc đời của Chúa Giêsu khi xưa Ngài sống mọi giây phút trong cuộc đời làm người với Thiên Chúa Cha.  Nhưng khi phải đối diện cái chết, Ngài cũng tỏ ra sợ hãi trong cái yếu đuối của một con người, và Ngài đã xin các môn đệ ở với Ngài.  Nhưng sau khi vật lộn với sự yếu đuối đó, Ngài đã chọn đối diện cái chết của Ngài với Thiên Chúa Cha và Ngài đã xin uống chén đắng đó theo ý Cha Ngài (cf. Lc 22:42).  Khi Chúa Giêsu đón nhận cái chết theo ý Cha Ngài, Ngài đối diện với những gì sẽ tới (bắt bớ, sỉ nhục, đánh đòn, vác thập giá, và đóng đinh) trong bình an.  Hơn nữa, trên thập giá Ngài đã chọn để được chết ở trong tay Cha Ngài, “Lạy Cha Con xin phó hồn con trong tay Cha” (Lc 23:46). Nếu Chúa Giêsu là người cho chúng ta thấy chúng ta có thể đối diện với sự chết trong tâm tình tin yêu và phó thác, mỗi ngươi chúng ta cũng được mời gọi để xin ơn để bắt chước Ngài.

Như vậy thì mỗi buổi sáng thức dậy, chúng ta hãy xin ơn để được đồng hành với người bạn đời “Chết”, và xin Chúa dùng bạn “Chết” để nhắc nhở chúng ta phải sống với Chúa hôm nay như thế nào hầu chúng ta biết sẵn sàng đáp lại khi Ngài hỏi ta, “Con ơi, con đang ở đâu và đang làm gì?”, và chúng ta có thể trả lời với Ngài rằng, “Con đang ở trong sự hiện diện của Cha”.  Lắm lúc chúng ta nghĩ là chúng ta chỉ có thể ý thức được rằng chúng ta đang sống trong sự hiện diện của Chúa khi chúng ta đọc kinh, cầu nguyện, hoặc tham dự thánh lễ, nhưng đó chỉ là một phần cuộc sống của chúng ta.  Chúng ta có thể chọn để ở trong sự hiện diện của Chúa trong mọi nơi mọi lúc.  Chẳng hạn như chúng ta chọn để lo lắng và chú ý đến con cái và người thân, hơn là để mình bị thu hút vào TV, ngay cả khi mọi người đang cùng ngồi coi TV chung với nhau.  Hãy để ý đến những tâm tình khó chịu, không muốn rời TV khi ai đó đang cần sự giúp đỡ của ta, và xin ơn để được đáp trả nhu cầu của người thân trong yêu thương hơn là bị bắt buộc.

Vì nếu chính lúc này, Chúa gọi chúng ta về và hỏi, “Tâm tình con đang ở đâu với Cha?” thì câu trả lời sẽ tùy thuộc vào lựa chọn của mình trong lúc ấy.  Câu trả lời đó có thể là “Con đang kiềm chế sự khó chịu của con để con được nhìn thấy và phục vụ Chúa trong người thân”, hay là “Con đang thật sự cảm nhận ra tình thương của Chúa dành cho con qua người bạn” hay là “Con đang mệt mỏi bực bội vì đứa con của con không cho con ngồi yên để coi TV” hay là “Con đang ngồi coi bộ phim không tốt cho lứa tuổi của các con của con, nhưng vì con chưa có biết hy sinh và nhà chỉ có một cái TV nên con cứ để cho các con của con cùng coi” hay là “Con đang giận đội banh kia tại vì chúng chơi dở mà con đang bị thua độ.”  Câu trả lời nào là câu trả lời của mỗi người trong giờ phút linh thiêng ấy?

Trong phong tục Á Đông của chúng ta cũng thường hay dùng cái chết để đoạt lấy quyền hành trên người khác, hay làm khuất đi những gì chúng ta không muốn nhìn thấy.  Những người trẻ đang yêu thì dùng cái chết để đe dọa, để đòi hỏi được chiều chuộng hay muốn được lấy người kia làm sở hữu.  Còn những bậc cha mẹ lớn tuổi thì dùng cái chết để bắt con cái làm theo những gì mình muốn để xoa dịu nỗi âu lo hay xấu hổ của mình khi mình không còn một cách khuyên bảo nào khác.  Có những bậc cha mẹ muốn thấy con cái mình lập gia đình trước khi mình chết để cho mình cảm thấy được yên thân và an tâm, và dùng sự gần đất xa trời để cố tình đẩy con mình vào một tình cảm mà mình cảm thấy không có ổn.  Và cũng có những cha mẹ dùng tuổi tác già nua của mình để bắt con cái phục tùng và làm như ý mình muốn.  Ở đây chúng ta không nói là mình không nên lo lắng cho con cái, nhưng chúng ta cũng nên dâng sự lo lắng và xấu hổ của mình cho Chúa.  Chúng ta xin ơn để nhận ra rằng trước khi con mình là con của mình, con mình đã là con của Chúa, và khi mình muốn cho con mình được tốt đẹp hoàn hảo thì Chúa là Đấng Sinh Thành còn muốn cho đứa con của Ngài được tốt đẹp và hoàn hảo gấp bội.

Ước gì mỗi người chúng ta biết ngồi lại và suy tư về cái chết với Chúa, và xin Ngài dạy cho chúng ta ý nghĩa và sự thánh thiêng của sự chết, để qua sự hiểu biết đó chúng ta biết chọn sống mỗi giây phút với Ngài hầu chúng ta cũng được ngồi trong lòng Tổ Phụ Abraham như anh Larazô nghèo khó trong câu chuyện “Người phú hộ và anh Larazô” ở Luca chương mười sáu.

Củ Khoai

From: ngocnga_12