Tâm thơ Mùa Giáng Sinh 2013 và Năm Mới 2014

Tâm thơ Mùa Giáng Sinh 2013 và Năm Mới 2014

Kính chúc quý Độc giả và Thân Hữu Website  “Kẻ Đi Tìm”

tràn đầy Hồng Ân Thiên Chúa, Năm Mới nhiều Sức Khoẻ và luôn Bình An.

Cách đây khoảng hai tuần Linh mục Trần Thiên Ân giảng tĩnh tâm tại Giáo Xứ

Đức Kitô Ngôi Lời Nhập Thể đã có nói ” Mỗi sáng khi chúng ta thức dậy, thấy đôi chân mình còn bước xuống giường được. Chính đó là Hồng Ân vì biết mình vẫn còn sống.”

Xin gởi đến các bạn hai câu thơ cũ ai cũng biết, nhưng cũng xin được  gởi lại một lần nữa  gọi là chia sẻ tâm tình Khen ngợi, Chúc tụng và Tạ Ơn Thiên Chúa:

” Tạ Ơn Trời mỗi sáng mai thức dậy,

Cho Con còn ngày nữa để yêu thương.”

” Vì Tất Cả Là Hồng Ân”

BBT

 

Giáo Hoàng kêu gọi chấm dứt tình trạng vô gia cư trên thế giới

Giáo Hoàng kêu gọi chấm dứt tình trạng vô gia cư trên thế giới
Giáo Hoàng Phanxicô khi đến Quãng trường Thánh Phêrô, ngày 04/09/2013

Giáo Hoàng Phanxicô khi đến Quãng trường Thánh Phêrô, ngày 04/09/2013

Reuters

Trọng Thành

RFI

Hôm nay 22/12/2013, theo AFP, bốn ngày trước lễ Giáng sinh Noel, Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi chính quyền các quốc gia trên toàn thế giới và các cơ quan dịch vụ xã hội « nỗ lực tối đa để mỗi gia đình có được một nơi ở ».

Trước hàng chục ngàn tín đồ Công giáo tập hợp tại quảng trường thánh Phêrô (Roma), trong một cuộc nói chuyện ngắn từ một cửa sổ của Cung Giáo Hoàng, người đứng đầu Vatican bất ngờ có những câu nói ngoài bài diễn văn chính thức : « Tôi nhìn thấy đằng kia, có dòng chữ lớn (trên một biểu ngữ) : Những người nghèo không còn có thể chờ đợi được nữa !… ». Những lời nói của Giáo Hoàng được công chúng hoan hô nhiệt liệt.

Vị Giáo Hoàng người Achentina nhấn mạnh thực trạng hiện nay : « Có bao nhiêu gia đình không có nơi ở ! Hoặc là họ chưa bao giờ có, hoặc họ bị mất nhà vì bao nhiêu lý do khác nhau. Gia đình và nơi ở luôn đi cùng nhau ! Rất khó để gây dựng một gia đình khi không có chốn nương thân ». Ông kêu gọi các chính quyền và các cơ quan dịch vụ xã hội hết sức nỗ lực để « mọi gia đình đều có một mái nhà ».

Giáo Hoàng Phanxicô nổi tiếng là người rất chú ý đến các vấn đề xã hội. Vào cuối cuộc nói chuyện, Giáo Hoàng hướng đến một nhóm gồm khoảng hàng chục người Ý tập hợp tại quảng trường thánh Phêrô để phản đối chính sách thắt lưng buộc bụng. Ông kêu gọi họ tránh bạo động và tham gia « đóng góp tích cực » bằng con đường « đối thoại và bảo vệ các quyền lợi hợp pháp ». Những người biểu tình bao gồm nhiều thành phần rất khác nhau, từ nhà buôn, nông dân, đến những người lao động bấp bênh hay sinh viên…, đã tập hợp tại Roma để bày tỏ thái độ chống chính sách kinh tế khắc khổ của Thủ tướng Enrico Lette. Tuy nhiên, họ đã không thành công trong việc huy động đông đảo người tham gia.

Cuối cuộc nói chuyện ngắn nói trên, Giáo Hoàng Phanxicô chúc tất cả « một kỳ Noel hy vọng, công bình và bác ái ».

 

Dọn đường cho bản án Trương Duy Nhất

Dọn đường cho bản án Trương Duy Nhất

Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2013-12-20

tdn-2-305.jpg

Blogger Truơng Duy Nhất, ảnh chụp trước đây.

Courtesy TDN Facebook

 

Hai tờ báo Công An Nhân Dân và Petrotimes cho đăng cùng lúc bài viết phân tích kết luận của cơ quan điều tra về các tội trạng của Trương Duy Nhất. Nếu đọc cả hai bài thì sẽ thấy rất rõ cả hai tờ báo đều nhận được thông tin từ một nguồn duy nhất đó là cơ quan điều tra của Bộ công an.

Những tội trạng mà cơ quan điều tra đưa ra để cáo buộc Trương Duy Nhất có thể gói gọn lại bốn điều: thứ nhất phê phán chính phủ, thứ hai thông tin sai lệch về hiện trạng kinh tế, xã hội của Việt Nam, thứ ba bác bỏ tính chất vinh quang của ngày 30 tháng 4, thứ tư đưa ra cái nhìn bi quan một chiều về hiện tình đất nước.

Những tội danh không thuyết phục

Bốn điều mà cơ quan điều tra đưa ra có lẽ chưa thể kết luận trước tòa án vì thiếu chứng cứ buộc tội. Phê phán chính phủ là một cái quyền của người dân miễn là hành động phê phán ấy dựa trên những sự thật chứng minh được. Hiến pháp không có điều khoản nào cấm sự phê phán ấy và vì vậy tòa án dựa vào chương điều nào để kết tội bị cáo?

“Khi ăn nhậu chúng tôi nói với nhau: thằng đó là đảng viên nhưng mà nó tốt! Tại sao chúng ta để quần chúng coi đảng viên là người xấu và người nào là người tốt thì đó là thực tế cá biệt?
-Ô. Nguyễn Văn Đực”

Về thông tin sai lệch hiện trạng kinh tế, xã hội Việt Nam xét trên bình diện pháp lý không cơ quan nào có quyền bắt giữ ông Trương Duy Nhất khi chưa có thông số kỹ thuật đáng tin cậy chứng minh ngược lại điều ông Nhất viết. Nếu cơ quan điều tra chỉ dựa vào số liệu của nhà nước cung cấp thì ông Nhất hoàn toàn có quyền đem các dữ liệu khác từ những định chế kinh tế, tài chánh của nước ngoài để chứng minh ngược lại, do đó giam giữ ông Nhất với tội danh này hoàn toàn là một hành động bất hợp pháp của chính phủ.

Chính quyền cũng không thể bắt giữ ông Trương Duy Nhất về quan điểm xem ngày 30 tháng 4 là ngày Quốc hận vì ngày chiến thắng này đã chia rẽ dân tộc nặng nề. Nếu giam giữ, cáo buộc hay kết án ông về quan điểm ấy thì có lẽ chính Thủ tướng Võ Văn Kiệt mới là người đáng bị xem xét hơn blogger Trương Duy Nhất. Khi Thủ tướng Kiệt nói câu “có triệu người vui thì cũng có triệu người buồn” trong ngày 30 tháng 4 thì chính vị thủ tướng này đã thừa nhận sự hận thù trong chính ngày ấy không nên tồn tại nữa. Trương Duy Nhất chỉ có thể bị kết án vì đã lập lại một câu nói nổi tiếng của ông Kiệt mà không xin giấy phép, thế thôi.

tdn-250.jpg

Bài viết phân tích kết luận của cơ quan điều tra về các tội trạng của Trương Duy Nhất trên báo Petrotimes hôm 15/12/2013. Screen capture.

Về cáo buộc ông Nhất đã có cái nhìn bi quan, một chiều hiện tình đất nước thì cơ quan điều tra đã đi quá xa khi tự tiện lập ra một tội danh hoàn toàn không có trong hiến pháp Việt Nam.

Trương Duy Nhất là một blogger, bài viết của ông có tính cách riêng tư, nếu nó được cộng đồng mạng chuyển tải hay chia sẻ nằm ngoài khả năng của ông. Hơn nữa công dân trong một nước nếu có than phiền, trách móc hoàn cảnh của xã hội họ đang sống thì cũng là chuyện bình thường vì từ những nhận xét ấy một chính quyền tốt sẽ có cơ hội điều chỉnh chính sách của mình cho phù hợp những yêu cầu của người dân.

Trong nhiều trường hợp, chính sự ca tụng, tô hồng những điều không có thật trong xã hội là viên thuôc độc bọc đường đối với những chế độ cộng sản trên thế giới từ những thập niên qua.

Ngôn ngữ dân gian trở thành trọng tội?

Riêng điều mà cơ quan điều tra kết tội ông đã dùng từ “Ông Thị trưởng” để ám chỉ một Trung ương Ủy viên cũng như câu nói đã trở thành truyển khẩu của dân gian: “thằng này đảng viên đấy nhưng hắn tốt, tốt lắm” thì có lẽ không tòa án nào có thể thụ lý tội danh châm biếm được.

Trong một cuộc họp doanh nhân với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tại thành phố Hồ Chí Minh vào tháng 7 vừa qua ông Nguyễn Văn Đực, Giám đốc công ty Bất động sản Đất Lành đã nói câu này:

“Ở ngoài dư luận người ta có câu chuyện vui rằng. Khi ăn nhậu chúng tôi nói với nhau: thằng đó là đảng viên nhưng mà nó tốt! Tại sao chúng ta để quần chúng coi đảng viên là người xấu và người nào là người tốt thì đó là thực tế cá biệt?”

“Cái điều 258 nó rất là mơ hồ, nó đã vi phạm, dẫm đạp lên điều 19 của Công ước quốc tế về Nhân quyền. Họ muốn dằn tiếng nói của phong trào tiếng nói tự do dân chủ trong nước.
-Ô. Trương Minh Đức”

Ông Đực chẳng những không bị bắt mà còn được tiếng là đã giúp cho Chủ Tịch nước biết thêm những gì mà dân chúng đang suy nghĩ về tư cách của đảng viên ngày nay.

Tất cả những lý lẽ cáo buộc vừa trình bày được gói gọn trong điều luật 258 để kết án nhà báo, blogger Trương Duy Nhất.

Nhà báo Trương Minh Đức, từng làm việc cho báo Tiền Phong, Pháp Luật và cũng là nạn nhân của điều 258 chia sẻ:

“Tôi cũng là nạn nhân của điều 258 trước đây, với bản án 5 năm tôi cũng chia sẻ với trường hợp của anh Trương Duy Nhất. Cùng một thời bị bắt với Trương Duy Nhất cũng có Phạm Viết Đào rồi Đinh Nhật Huy. Cái điều 258 nó rất là mơ hồ, nó đã vi phạm, dẫm đạp lên điều 19 của Công ước quốc tế về Nhân quyền. Họ muốn dằn tiếng nói của phong trào tiếng nói tự do dân chủ trong nước ở thời điểm đó. Nghị định 72 cấm đoán Internet, họ đưa vài người ra họ bắt dằn mặt tiếng nói dân chủ cũng như một cảnh báo.

Nói về tác nghiệp, báo chí khi đưa tin thì có tin đúng mà đôi khi cũng có tin sai lệch cũng có mình phải thừa nhận như vậy. Nhưng đối với những thông tin sai lệch thì nó phải có một tòa án để xét xử. Phải có bị cáo và phải có người bị hại thì mới gọi là họ vi phạm. Còn như khi mà họ xử tôi cũng vậy trong điều 258 thì tôi hỏi họ tôi là bị cáo còn ai la người bị hại thì họ không đưa ra được bằng chứng người bị hại là ai, rất là vô hình. Cái điều 258 chỉ đề bịt miệng tiếng nói của người làm báo thôi.”

Rò rỉ thông tin từ nội bộ?

Trước đây ít lâu nhà báo Phạm Chí Dũng từng công tác trong bộ máy an ninh suốt 16 năm cũng đã nếm trải điều 258 một thời gian nhưng nhìn vụ án Trương Duy Nhất với cái nhìn khác. Phạm Chí Dũng cho rằng Trương Duy Nhất bị bắt vì đã đưa thông tin nhạy cảm về đại hội đảng với vấn đề nhân sự.

Blogger Huỳnh Ngọc Chênh, cây viết của tờ Thanh Niên trong nhiều năm chia sẻ quan điểm này:

“Trước đây anh Phạm Chí Dũng có viết một bài nói rằng anh Trương Duy Nhất bị bắt xuất phát từ những nguồn tin, tức là anh Nhất đã nắm được những thông tin mà ở vị trí của anh ấy không thể nắm được phải do ai đó ở cấp rất cao rò rỉ thông tin. Tôi nghĩ rằng nhận xét đó của anh Phạm Chí Dũng là rất đúng. Hồi Hội nghị Trung ương đảng thì anh Nhất đưa ra nhiều thông tin rất là cập nhật, rất mau và cũng rất chính xác về chuyện bầu cử thay người vào Bộ chính trị. Tôi nghĩ có thể xuất phát từ chuyện đó người ta muốn biết ai cung cấp thông tin cho anh, theo suy nghĩ của tôi thì đó là lý do chính còn những điều nêu ra trong kết luận điều tra vừa rồi tôi thấy không có điểm nào thuyết phục được để mà cáo buộc ràng ảnh có tội được hết. Dĩ nhiên luật pháp Việt Nam mình dựa vào điều 258 thì rất chung chung và nó có thể bắt được mọi người vì vậy nếu đem điều 258 ra thì có thể cáo buộc anh Nhất tội này tội khác được.

Nghi vấn Trương Duy Nhất bị bắt vì đã rò rỉ nguồn tin tối mật dù sao cũng chỉ là nghi vấn vì nếu muốn kết án ông thì tội “tiết lộ bí mật nhà nước” đã có sẵn tại sao lại không áp dụng? Hay là Bộ chính trị sợ bứt dây động rừng có thể nổ ra hàng chục vụ Trương Duy Nhất khác?

Trước đây trong một lần phỏng vấn với người blogger nổi tiếng này chúng tôi được ông cho biết khi phải bỏ nghề làm báo để viết blog:

“Tất nhiên là có nhiều cái trăn trở chứ nhưng mà khi tôi quyết định có thể nói nhiều người không tin đâu. Tôi chuẩn bị điều này lâu lắm rồi vì vậy tôi rất nhẹ người chứ không có gì nặng nề lắm đâu. Quan điểm của tôi là thế này, tôi là người sinh ra với nghề cầm bút, nghề viết nên tôi muốn mình phải viết được điều gì cần phải viết.

Tôi có mấy chục năm làm báo rồi, có tới sáu thẻ nhà báo rồi. Tất nhiên khi nghỉ một cái nghề mà mình máu thịt với mình như thế thì cũng băn khoăn nhưng nặng nề thì không, bởi vì tôi chuẩn bị kỹ cho nó rồi. Tôi đã làm cho báo Công An Quảng Nam Đà Nẵng 8 năm. Tôi đi làm báo từ năm 1987 đến 31 tháng 12 năm 1994. Năm 1995 báo Đại Đoàn Kết mời tôi về làm phái viên thường trú tại miền Trung, từ đó đến nay chỉ hai tờ thôi.

Nhà báo, blogger Trương Duy Nhất dĩ nhiên biết sự nguy hiểm của mình phải gặp vì vậy sự chuẩn bị chu đáo nhất của ông trong trại giam là câu khẳng định trước nhân viên điều tra: không nhận bất cứ cáo buộc nào, có nghĩa là không chấp nhận một thỏa hiệp để mong được giảm án, tuy ông biết làm như vậy là chấp nhận mang thêm số ngày ngồi trong tù của ông trong thời gian tới.

 

Ý NGHĨA VIỆC GIÁNG SINH CỦA CHÚA GIÊSU

Ý NGHĨA VIỆC GIÁNG SINH CỦA CHÚA GIÊSU

(BÀI GIÁO LÝ CỦA ĐTC PHANXICÔ)

Tác giả: GLV. Phạm Xuân Khôi (chuyển ngữ)

“Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, đã liên hệ với loài người đến nỗi trở thành một người trong chúng ta, điều đó có nghĩa là bất cứ điều gì chúng ta làm cho anh chị em mình là chúng ta làm cho Ngưởi.”

Dưới đây là bản dịch bài Giáo Lý ĐTC Phanxicô ban hành ngày 18 tháng 12 năm 2013 trong buổi Triều Yết Chung được tổ chức tại Quảng Trường Thánh Phêrô.  Hôm nay nói về ý nghĩa của việc Chúa Giáng Sinh.

* * *

Anh chị em thân mến, chào anh chị em,

Cuộc gặp gỡ này diễn ra trong bầu không khí tinh thần của Mùa Vọng, được nên mãnh liệt hơn vì ở trong Tuần Cửu Nhật Giáng Sinh, chúng ta đang sống những ngày dẫn chúng ta đến Đại Lễ Giáng Sinh.  Vì vậy, hôm nay tôi muốn cùng anh chị em suy niệm về việc giáng sinh của Chúa Giêsu, ngày lễ của đức tin và đức cậy, là điều vượt quá sự bất ổn và bi quan.  Và đây là lý do cho niềm hy vọng của chúng ta: Thiên Chúa ở cùng chúng ta và Thiên Chúa vẫn còn tin tưởng chúng ta!  Nhưng chúng ta hãy suy nghĩ kỹ về điều này:  Thiên Chúa ở với chúng ta và Thiên Chúa vẫn tin tưởng chúng ta.  Thiên Chúa Cha này rất đại lượng!  Ngài đến để ở với loài người, lựa chọn Trái Đất như nơi cư ngụ của mình để được với loài người và để con người tìm thấy Ngài ở nơi mà họ sống những ngày tháng của mình trong niềm vui hay nỗi buồn.  Vì vậy, trần gian không còn chỉ là một “thung lũng nước mắt”, nhưng là nơi mà Thiên Chúa đã cắm lều, là nơi gặp gỡ giữa Thiên Chúa và loài người, là nơi của sự đoàn kết của Thiên Chúa với loài người.

Thiên Chúa muốn chia sẻ thân phận con người của chúng ta đến mức trở nên một với chúng ta trong con người của Chúa Giêsu, Đấng là Thiên Chúa thật và người thật.  Nhưng có một điều khác còn đáng ngạc nhiên hơn.  Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa nhân loại đã không được thực hiện trong một thế giới lý tưởng, an bình, nhưng trong thế giới thật này, được đánh dấu bằng rất nhiều điều tốt và xấu, được đánh dấu bằng những chia rẽ, sự dữ, nghèo đói, áp bức và chiến tranh.  Người đã chọn để sống trong thực trạng của lịch sử của chúng ta, với tất cả gánh nặng của những giới hạn và những thảm trạng của nó.  Khi làm như thế Người đã chứng minh khuynh hướng thương xót vô hạn và đầy tình thương dành cho con người.  Người là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta.  Anh chị em có tin điều này không?  Chúng ta hãy tuyên xưng điều này: Chúa Giêsu là Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta! Chúa Giêsu là Thiên Chúa luôn luôn ở với chúng ta và mãi mãi ở cùng chúng ta trong sự đau khổ và lo buồn của lịch sử.  Việc ra đời của Chúa Giêsu là một sự tỏ lộ rằng Thiên Chúa là tự mình “đứng về phía” loài người một lần mà thôi là đủ để cứu chúng ta, để nâng chúng ta lên từ bụi đất của những khốn khổ, những khó khăn và những tội lỗi của chúng ta.

Từ đó có “món quà” vĩ đại là Hài Nhi ở Bethlehem:  Người đem đến cho chúng ta năng lực tinh thần, một năng lực giúp chúng ta không bị chìm trong những công việc khổ cực của mình, trong tuyệt vọng của mình, trong những nỗi buồn của mình, bởi vì đó là một năng lực sưởi ấm và biến đổi tâm hồn.  Thực ra, việc ra đời của Chúa Giêsu mang đến cho chúng ta Tin Mừng là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và cách riêng, và không những Thiên Chúa chỉ làm cho chúng ta biết tình yêu này,  mà Người còn ban nó và thông truyền nó cho chúng ta!

Từ việc vui mừng chiêm ngắm mầu nhiệm Con Thiên Chúa sinh ra cho chúng ta, chúng ta có thể lấy rút ra hai điều để suy nghĩ.

Điều thứ nhất là nếu trong ngày Lễ Giáng sinh, Thiên Chúa không tỏ mình ra là một Đấng ở trên cao và thống trị vũ trụ, nhưng là một Đấng tự hạ mình, ngự xuống đất, nhỏ bé và nghèo nàn, điều đó có nghĩa là để được giống như Người, chúng ta không được đặt mình ở trên người khác, nhưng thay vì thế thì chúng ta phải cúi xuống, hiến thân phục vụ, làm cho chúng ta thành nhỏ bé với những người bé nhỏ và nghèo khó với những người khó nghèo.  Nhưng thật là xấu khi anh chị em nhìn thấy một Kitô hữu không muốn cúi mình xuống, không muốn phục vụ.  Một Kitô hữu lúc nào cũng phô trương khắp nơi, là điều buồn nôn: người ấy không phải là một Kitô hữu, mà là kẻ ngoại đạo.  Một Kitô hữu phục vụ, tự hạ mình xuống.  Chúng ta hãy làm việc để chắc chắn rằng anh chị em của chúng ta không bao giờ cảm thấy cô đơn!

Hậu quả thứ hai: nếu Thiên Chúa, qua Chúa Giêsu, đã liên hệ với loài người đến nỗi trở thành một người trong chúng ta, điều đó có nghĩa là bất cứ điều gì chúng ta làm cho anh chị em mình là chúng ta làm cho Ngưởi.  Chính Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta rằng ai đã nuôi nấng, chào đón, thăm viếng, yêu thương một trong những người bé nhỏ nhất và nghèo khổ nhất giữa loài người, thì đã làm điều ấy cho Con Thiên Chúa.

Chúng ta hãy phó mình cho sự chuyển cầu từ mẫu của Đức Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ chúng ta để Mẹ giúp chúng ta trong Giáng sinh Thánh này, giờ đây đã gần, ngõ hầu nhận ra trên gương mặt của những người lân cận của chúng ta, đặc biệt là những người yếu đuối nhất và thiệt thòi nhất, hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người.

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ

http://giaoly.org/vn

ĐTC: Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng

ĐTC: Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng


Linh Tiến Khải

12/18/2013

Giáng Sinh là lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng. Nó cử hành biến cố Chúa Giêsu xuống thế làm người để sống với chúng ta trong lịch sử loài người, với tất cả gánh nặng các hạn hẹp và thảm cảnh của nó.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với các tín hữu và du khách hành hương tham dự buổi gặp gỡ chung tại quảng trường Thánh Phêrô sáng thứ tư 18-12-2013.

Vì buổi tiếp kiến diễn ra trong bầu khí thiêng liêng của mùa Vọng trở thành sâu đậm hơn nhờ tuần cửu nhật nên Đức Thánh Cha đã suy tư về ý nghĩa của lễ Giáng Sinh. Ngài nói:

Hôm nay tôi muốn cùng anh chị em suy tư về lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu, ngày lễ của sự tin tưởng và niềm hy vọng, vượt thắng sự bất ổn và bi quan. Và lý do niềm hy vọng của chúng ta là điều này: Thiên Chúa ở với chúng ta và vẫn còn tin tưởng nơi chúng ta! Anh chị em hãy nghĩ tới điều này: Thiên Chúa ở với chúng ta và vẫn còn tin tưởng nơi chúng ta! Thiên Chúa Cha thật là quảng đại.

Thiên Chúa đến ở với loài người, lựa chọn trái đất như nơi ở của mình để cùng sống với con người và để làm cho mình được tìm thấy tại nơi con người trải qua các ngày của mình trong niềm vui và trong khổ đau. Vì thế trái đất không chỉ còn là ”thung lũng nước mắt” nữa, mà là nơi chính Thiên Chúa đã cắm lều của Ngài, là nơi Thiên Chúa gặp gỡ con người và liên đới với con người.

Thiên Chúa đã muốn chia sẻ điều kiện làm người của chúng ta đến độ trở thành một với chúng ta trong con người của Đức Giêsu, là người thật và là Thiên Chúa thật. Nhưng còn có điều gì đó gây ngạc nhiên hơn nữa. Sự hiện diện của Thiên Chúa giữa loài người đã không được thực hiện trong một thế giới lý tưởng, tình tứ, nhưng trong thế giới thực sự này, bị ghi dấu bởi các chia rẽ, gian ác, nghèo túng, các chuyên quyền và chiến tranh. Ngài đã lựa chọn ở trong lịch sử của chúng ta như nó là, với tất cả gánh nặng của các hạn hẹp và các thảm cảnh của nó. Khi làm như thế Ngài đã chứng minh cho thấy một cách không thể vượt hơn được khuynh hướng xót thương và tràn đầy tình yêu của Ngài đối với con người. Ngài là Thiên Chúa ở với chúng ta; Đức Giêsu là Thiên Chúa ở với chúng ta. Anh chị em có tin điều này không? Tín hữu trả lời ”Có”. Chúng ta hãy cùng nhau tuyên xưng điều này: Đức Giêsu là Thiên Chúa ờ cùng chúng ta. Tất cả mọi người lập lại. Một lần nữa. Đó tốt lắm xin cám ơn anh chị em. Chúa Giêsu là Thiên Chúa ở cùng chúng ta, từ luôn luôn và sẽ mãi mãi ở với chúng ta trong khổ đau và khốn khó của của lịch sử.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha định nghĩa lễ Giáng Sinh như sau:

Lễ Giáng Sinh của Chúa Giêsu biểu lộ cho thấy Thiên Chúa đã đứng về phía con người một lần cho tất cả, để cứu vớt chúng ta, để nâng chúng ta dậy từ bụi đất của các nỗi bần cùng, khó khăn và tội lỗi của chúng ta. Từ đó phát xuất ra món quà vĩ đại của Hài Nhi Bếtlehem: một năng lực tinh thần giúp chúng ta không chìm sâu trong các mệt nhọc, thất vọng, buồn sầu của chúng ta; bởi vì nó là một năng lực sưởi ấm và biến đổi con tim. Thật thế việc sinh ra của Chúa Giêsu đem đến cho chúng ta một tin vui: đó là chúng ta được Thiên Chúa yêu thương vô cùng và một cách đặc biệt, và tình yêu này Ngài không chỉ làm cho chúng ta nhận biết, mà còn ban tặng và thông truyền nó cho chúng ta nữa!

Từ việc tươi vui chiêm ngưỡng mầu nhiệm của Con Thiên Chúa sinh ra vì chúng ta, chúng ta có thể rút tỉa ra hai điều.

Thứ nhất đó là nếu trong lễ Giáng Sinh Thiên Chúa không tự mạc khải như một người ở trên cao và thống trị vũ trụ, nhưng như Đấng tự hạ mình xuống trên trái đất bé nhỏ và nghèo nàn này, thì điều này có nghĩa là để giống như Ngài chúng ta không được ở bên trên các người khác, nhưng trái lại phải hạ mình xuống, để phục vụ, để trở nên bé nhỏ với những người bé nhỏ và nghèo với người nghèo. Thật là một điều xấu, khi thấy một Kitô hữu không muốn hạ mình xuống, không muốn phục vụ, một Kitô hữu vênh váo khắp nơi: thật là xấu có phải không? Người đó không phải là tín hữu Kitô, mà là một người ngoại giáo. Kitô hữu thì hạ mình và phục vụ. Chúng ta hãy làm sao để các anh chị em này không bao giờ cảm thấy cô đơn! Sự hiện diện liên đới của chúng ta bên cạnh họ không chỉ diễn tả bằng lời nói nhưng bằng sự hùng hồn của các cử chỉ cho thấy Thiên Chúa gần gũi tất cả mọi người.

Đề cập tới khía cạnh thứ hai Đức Thánh Cha nói:

Nếu qua Chúa Giêsu Thiên Chúa đã liên lụy với con người cho tới nỗi trở thành như một người trong chúng ta, thì có nghĩa là bất cứ gì chúng ta sẽ làm cho một người anh chị em, là chúng ta làm cho Chúa. Chính Chúa Giêsu đã nhắc cho chúng ta nhớ điều đó: ai cho ăn, lắng nghe, thăm viếng, yêu thương một trong những người bé nhỏ và nghèo nàn nhất là đã làm cho chính Con Thiên Chúa. Trái lại, ai khước từ, quên lãng, không biết tới một trong các người bé nhỏ và nghèo nàn nhất là đã bỏ quên và khước từ chính Thiên Chúa (x. Mt 25,35-46). Như thánh Gioan đã viết: ”Thật ra ai không yêu thương người anh em mà mình trông thấy, thì không thể yêu thương Thiên Chúa mà mình không trông thấy” (1 Ga 4,20).

Chúng ta hãy phó thác cho sự cầu bầu hiền mẫu của Mẹ Maria, Mẹ Chúa Giêsu và Mẹ chúng ta, để Mẹ giúp chúng ta trong lễ Giáng Sinh thánh gần kề này, nhận biết nơi gương mặt của tha nhân, đặc biệt của những người yếu đuối và bị gạt bỏ ngoài lề nhất, hình ảnh của Con Thiên Chúa làm người. Xin Mẹ Maria nâng đỡ chúng ta trong quyết tâm trao ban cho tất cả mọi người tình yêu thương, lòng tốt và sự quảng đại của chúng ta. Trong cách thế này chúng ta sẽ phản ánh và kéo dài ánh sáng của Chúa Giêsu, Đấng từ hang đá Bếtlêhem tiếp tục tỏa lan trong các con tim, bằng cách hiến tặng niềm vui và hòa bình, mà chúng ta ngưỡng vọng từ tận thẳm sâu con người chúng ta.

Sáng thứ tư 18-12-2013 đã có vài ca đoàn và ban nhạc ”Viva la Gente” của phong trào Tổ Ấm hát thánh ca Giáng Sinh và trình tấu chào mừng Đức Thánh Cha cũng như tạo bầu khí tươi vui cho buổi tiếp kiến.

Chào các tín hữu Đức Thánh Cha chúc mọi người những ngày hành hương sốt sắng, lễ Giáng Sinh và Năm mới tươi vui an lành và thịnh vượng.

Chào các tín hữu Ba Lan hiện diện tại quảng trường cũng như bên Ba lan và khắp nơi trên thế giới Đức Thánh Cha xin mọi người hãy nghĩ tới các người nghèo, người đói, người cô đơn, người vô gia cư, bị gạt bỏ ngoài lề xã hội, cũng như các nạn nhân của chiến tranh, đặc biệt là các trẻ em.

Ngài cũng đã chào nhiều người đau yếu ngồi trên xe lăn, ôm hôn vuốt ve và an ủi họ. Đức Thánh Cha khích lệ người trẻ tiến tới với mầu nhiệm Giáng Sinh với cùng các tâm tình đức tin và sự khiêm nhường của Mẹ Maria. Ngài cầu mong cho các anh chị em đau yếu kín múc được niềm vui và sự bình an mà Chúa Giêsu đem đến cho nhân loại. Đức Thánh Cha nhắn nhủ các cặp vợ chồng mới cưới chiêm ngưỡng Thánh Gia Nagiarét và noi gương các nhân đức của Thánh Gia.

Buổi tiếp kiến đã kết thúc với kinh Lậy Cha và phép lành tòa thánh Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Bài học của một linh mục trẻ

Bài học của một linh mục trẻ

chuacuuthe.com

VRNs ( 19.12.2013) – Sài Gòn- Có một câu nói rất ý nghĩa : « Việc học không bao giờ được coi là đủ, vì nó như dòng nước trên nguồn chảy mãi ra biển khơi….  Muốn học thì phải có trường, và không ngôi trường nào đầy đủ, sinh động, chân chính và cay đắng hơn ngôi trường này: Trường Đời… ». Ở góc độ truyền giáo, một cha giáo của tôi khẳng định : « Luôn có những bài học đắt giá dành cho những nhà truyền giáo từ chính những con người họ tiếp cận. Hay nói cách khác, nhà truyền giáo được sự tác động trở lại, hay được truyền giáo trở lại, từ chính những người mà họ phục vụ. » Tôi rất tâm đắc với những nhận định này vì đó là thực tế mà tôi cảm nhận.

Nếu luôn có đó một sự tác động hỗ tương trong mọi tương quan, thì với tư cách là người linh mục, tôi đón nhận quá nhiều bài học phục vụ từ chính những người dân tại giáo xứ. Tôi không muốn nêu tên cụ thể những con người được nói đến ở đây, bởi lẽ, trong mắt tôi, họ đã quá nổi tiếng trong lĩnh vực của họ.

* * *

Người đầu tiên dạy cho tôi sự hy sinh phục vụ là một cụ ông vóc người nhỏ nhắn, khuôn mặt hiền lành phúc hậu, ít nói hay cười và làm rất nhiều, mà lại làm toàn chuyện « độc ». Con cái cụ đã lập gia đình hết, trong nhà chỉ còn hai ông bà già, thành ra cụ có nhiều thời gian cho việc phục vụ của mình. Không giữ bất kỳ chức vụ gì trong giáo xứ nhưng cái cụ làm được cho giáo xứ thì, với tôi, quá nhiều. Điều quý giá ở nơi cụ là những việc cụ làm thường âm thầm ít người biết đến, và một khi đã quyết thì làm cho đến cùng, không nản chí, không buông xuôi. Mỗi khi có những công trình xây dựng nhà tình thương hay giúp đỡ một gia đình nghèo nào đó (cả người kinh và người dân tộc), cụ nhiệt thành không những bỏ công của của cá nhân mà còn khuyến khích con cái hy sinh giúp sức. Thậm chí có trường hợp gia đình nghèo neo đơn cần có chỗ trú thân, chính cụ lên kế hoạch vận động con cái cháu chắt của cụ. Cụ còn đi thuyết phục tôi và mọi người tham gia để gia đình đó có được cái nhà tươm tất. Tôi may mắn được gặp và cộng tác với cụ, đặc biệt trong việc xây dựng nhà tình thương cho bà con sắc tộc Êđê. Có một vài công trình chính cụ nhận phần xây cất. Quá tuyệt vời !

Sự chín chắn, từng trải của tuổi già, tấm lòng đại lượng của một kitô hữu, lòng nhiệt huyết cùng với sự khiêm tốn của một giáo dân như cụ quả thật đã có sức ảnh hưởng lớn trên tôi.

* * *

Nếu ai đến Châu Sơn mà muốn trải nghiệm cái nghèo về đủ mọi phương diện, hãy đến với những người mà tôi sắp kể đây. Và tôi nghĩ, một khi đã chứng kiến, tôi không tin là có một ai đó còn dám than thân trách phận với Chúa rằng sao để cho con nghèo, bởi đơn giản, không còn ai nghèo hơn những người này.

Những người tôi nói đến là một người mẹ chịu nhiều đau khổ để nuôi nấng người con gái hơn nửa thế kỷ bệnh tật nằm một chỗ trên giường bệnh. Suốt hơn năm mươi ba năm cứ âm thầm, cặm cụi như thế. Thời điểm tôi ở đó, người mẹ không còn đi lễ được vì sức yếu, nên tôi vẫn thường đến cho cụ rước lễ. Có những lúc bà cụ tâm sự : « Cha à, bây giờ con cứ mong cho nó chết trước con, chứ nếu con chết trước, không biết nó sẽ sống thế nào nữa. » Nhiều lúc cho cụ rước lễ, vào trong nhà mùi xú uế bốc lên nồng nặc, chịu không thấu. Người con gái thì vẫn nằm đó, hồn nhiên vô tư, cười cười nói nói mà không biết mình nói gì. Hai mảnh đời, hai thân phận cứ quấn chặt vào nhau mà sống. Một người thì ý thức được cái nghèo tận cùng của phận người, cái khắc nghiệt của cơm áo gạo tiền, cái quay quắt của bệnh tật, và vì thế, sống trong sự dày vò của nỗi khổ tâm. Còn người kia thì vô tư không chút mảy may nghĩ đến cái bất hạnh nhất có thể xảy đến : một ngày kia người mẹ có thể mất đi. Bởi không ai có thể (hay dám) hình dung cô sẽ thế nào khi không có mẹ.[1] Dù vẫn có những người xung quanh như con cái, dâu rể lo lắng đấy, rồi thỉnh thoảng cũng có những hội đoàn, nhóm này nhóm kia thương tình ghé thăm giúp đỡ chút quà mọn. Nhưng tất cả chỉ là sự trợ giúp tương đối nào đó thôi, làm sao cất khỏi họ gánh nặng của thân phận khắc nghiệt ? Đó thực sự là người nghèo về mọi phương diện, nghèo nhất, nghèo cùng cực ! Nhìn về quá khứ là hơn năm mươi ba năm chôn chân một chỗ, cái ăn cái mặc cứ phải cậy nhờ vào người khác mà không thể tự lo cho mình. Quá khứ là sống chung với bệnh tật, với mùi xú uế mà không có cách nào để thoát ra. Còn hiện tại ? Thưa là nụ cười ngây ngô hồn nhiên của người con gái hơn năm mươi ba tuổi đầu, suốt ngày không thoát ra khỏi được cái giường của riêng mình. Hiện tại là khuôn mặt đầy nếp nhăn với cặp mắt u buồn của người mẹ già, là sự cam chịu đầy tức tưởi trước nghịch cảnh. Thế còn tương lai? Tôi nhớ lại câu nói đau đớn của cụ già, xem ra nghịch lý, nhưng là một nghịch lý hoàn toàn logich với tâm hồn của người mẹ : « … Con muốn nó chết trước con … ».

Đứng trước hai người phụ nữ ấy, bỗng thấy mình quá đầy đủ, quá sung sướng. Tôi cảm thấy những khó khăn trở ngại mà mình gặp phải thật ra đâu là gì so với những gì mà hai người phụ nữ ấy đang gánh lấy. Đứng trước họ, chợt nhận ra mình đã quá hoang phí về mọi thứ được ban : tiền bạc, thời gian, cơ hội, tương quan con người …. Phải duyệt xét cuộc sống để sống tốt hơn trong sự khó nghèo, phải trân trọng với tất cả những gì được ban để sống cho xứng đáng. Cuộc đời của hai người phụ nữ nghèo ấy thực sự đã để lại cho tôi quá nhiều bài học !

* * *

Bài học thứ ba tôi học được là tính tự lập và vượt khó từ một cô bé. Qua đến nước Pháp, bài học này trở nên quý giá vô cùng khi mà tôi phải tự xoay xở hết mọi chuyện trong cuộc sống của mình. Có lẽ phải mở ngoặc để giải thích một chút. Ở Việt Nam, người giáo dân thương mến các cha và sẵn sàng giúp đỡ cho các « đấng ». Nhiều người sẵn sàng đi mua máy móc, vật dụng, quần áo … cho các ngài. Nhiều người giáo dân có chuyên môn trong lĩnh vực của mình như tin học, điện gia dụng, giấy tờ hành chính … sẵn sàng giúp các cha miễn phí (vì giúp các đấng ai nỡ lòng lấy tiền). Đến một lúc, cha chỉ biết việc đạo, còn đụng đến việc đời thì cha hơi lúng túng. Qua đến Pháp, tất cả đều phải tự lập, phải tự xoay sở tất tần tật. Cũng phải mất một thời gian làm quen với chuyện đó. Nhưng may mắn đã có một chút kinh nghiệm nhờ học được từ môi trường Châu Sơn nên không bị điêu đứng.

Ngày đầu tiên tôi gặp cô bé mà tôi học hỏi ấy là trong buổi phát quà cho các em học sinh giỏi của giáo xứ trong dịp đầu năm học. Cô gái ấy bị khuyết tật nặng toàn thân dẫn đến tình trạng từ cách đi đứng đến nói năng diễn tả rất khó khăn. Theo như tôi được biết, ngoài bố mẹ của cô bé thì những người khác phải rất khó khăn mới có thể hiểu được điều cô bé nói. Nhưng như người ta thường nói, Thượng Đế rất công bằng, người lấy của người ta cái này thì sẽ ban lại cho cái khác để cuộc sống được quân bình. Cô bé khuyết tật ấy rất thông minh sáng dạ và viết lách thuộc hàng xuất sắc. Học giáo lý luôn luôn có bằng khen và phần thưởng. Nghe đâu cô bé có lúc cũng đã đoạt giải học sinh giỏi văn của thành phố Buôn Ma Thuột. Nhưng có một điều đặc biệt hơn, cô bé luôn tìm cách để sống tự lập, cố gắng giới hạn ở mức thấp nhất sự làm phiền người khác. Nghe mẹ cô kể : bé luôn luôn tự mình lo việc vệ sinh cá nhân, súc miệng đánh răng, di chuyển trong nhà … và nhiều việc khác. Chỉ những khi đi xa như đến trường học hay đến nhà thờ, thì mới phải để bố chở đi.

Cách đây bốn năm, bất hạnh ập đến khi người thân yêu gần gũi nhất của cô bé là ông bố đột ngột qua đời ở tuổi còn rất trẻ. Chỗ dựa lớn nhất bỗng dưng bị cái chết cướp đi. Hụt hẫng và trống rỗng ! Đau khổ và cay đắng ! Chúa lại thinh lặng đến mức lạnh lùng trong biến cố đau thương. Mọi người nghẹn ngào nhìn cô bé khóc đến nỗi không còn sức mà khóc, không còn nước mắt mà tuôn. Gánh nặng cuộc đời trở nên trĩu nặng hơn trên đôi vai gầy.

Nhưng nỗi đau như con thú dữ đã không đủ sức quật ngã con người đầy nghị lực ấy. Cô gượng dậy trên sự mất mát, can đảm đối diện với bất hạnh và từng bước chế ngự nó. Nghe đâu vài tháng sau khi bố mất, cô bé quyết xin mẹ vào Sài Gòn theo học một khoá tin học và chụp ảnh. Rồi từ từ cũng thành nghề. Lâu lâu hỏi thăm tin tức lại thấy tình hình cô bé sáng sủa hơn. Cô đã có thể phụ mẹ bán xăng, bàng hàng tạp hoá, có lúc cũng mở nghề làm thiệp đám cưới. Có người thương giúp cho cái máy photocopy, cũng mở dịch vụ photo giấy tờ cho học sinh của ngôi trường gần đó. Một ngày kia tôi đến thăm cô và gia đình. Thật bất ngờ, cô còn làm thêm cả nghề chụp ảnh thẻ lấy ngay. Tôi thắc mắc làm sao chụp ảnh với đôi tay lúc nào cũng run lẩy bẩy thế. Cô cười : « Cha cứ thử. Con chụp cho cha. » Rồi cô chụp thật. Không những làm được, mà còn làm rất đẹp là đàng khác. Thật là đáng khâm phục !

Cô bé không đầu hàng số phận. Luôn luôn có ở đó ý chí vươn lên, tìm kiếm mọi cơ hội và nắm bắt nó. Đúng hơn cô tìm cách tạo cơ hội cho mình. Cái cô đạt được về phương diện vật chất, qua các công việc cô làm, có lẽ không là gì so với những người khác, nhưng giá trị cuộc đời cô thì thật là đáng để học hỏi : đó là một hình mẫu về ý chí tự lập và tinh thần vượt khó, vượt qua số phận để vươn lên và tồn tại. Cuộc đời cô thực sự là một bài học đắt giá cho tôi.

*************

Những người thầy của tôi trong « trường học Châu Sơn » là những con người bình dị như thế đấy. Dĩ nhiên còn rất nhiều những con người khác nữa mà vì giới hạn bài viết tôi không thể kể ra. Những bài học ấy tôi vẫn cứ phải nghiền ngẫm và áp dụng từng ngày. Tạ Ơn Chúa.

JB. Hồ Quang Lâm, dcct

Chúng ta phẫn nộ để làm gì?

Chúng ta phẫn nộ để làm gì?

Mẹ Nấm (Danlambao)Chúng ta phẫn nộ khi thấy trẻ con bị đánh, người dân bị án oan 10 năm vì bức cung, người lao động nghèo bị bóp cổ, tham nhũng tràn lan trong xã hội… Và chúng ta phẫn nộ trong im lặng bởi nó chưa đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta bằng mắt thường. Và mọi thứ cứ lặng lẽ trôi qua như một ấm nước sôi sùng sục rồi trở nguội, không có gì thay đổi. Vậy thì chúng ta phẫn nộ để làm gì?…

Khắp các mặt báo tràn ngập thông tin về việc hai cô bảo mẫu ở Thủ Đức (Sài Gòn) bạo hành trẻ mầm non.

Các phóng viên báo Tuổi Trẻ đã kiên trì theo dõi khá lâu để có một đoạn phóng sự khiến dư luận phẫn nộ.

Trên mạng xã hội hàng loạt status và comment đòi phải trừng trị hai bảo mẫu kia thật nghiêm minh.

Phản ứng thường thấy của những người lớn khi trẻ con bị bạo hành đó là đòi đánh đập, xé xác, bắt những con người dã man kia phải hứng chịu những hình phạt như họ đã làm với con trẻ.

Phản ứng khác hơn một chút có người đưa ra giải pháp khác là nên đưa con đến các nhà trẻ tốt hơn, tin tưởng hơn với giá cao hơn.

Vấn đề chúng ta cần bình tĩnh xem xét nghiêm túc rằng đây không phải là lần đầu tiên vấn nạn trẻ mầm non bị bạo hành nhức nhối trên mặt báo.

Đã có bao nhiêu lần bạo hành xảy ra, đã bao nhiêu lần trẻ con bị ngược đãi?

Hành vi sử dụng bạo lực để nuôi dạy trẻ của mẹ con bà Quản Thị Kim Hoa đã bị phóng viên Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Nai ghi hình và phát sóng vào ngày 15/1/2008, gây bức xúc dư luận cả nước. Kết quả mức án 18 tháng tù giam có làm giảm đi nạn bạo hành trẻ mầm non không?

Xin thưa là không.

Mới nhất là ngày 16/11/2013, cháu bé 18 tháng tuổi Đỗ Ngọc Long đã bị bảo mẫu Hồ Ngọc Nhờ xách ngược lên doạ khi cháu không chịu ăn và làm té xuống sàn, sau đó lại bị đạp liên tiếp vào bụng dẫn đến tử vong.

Chúng ta phẫn nộ, chúng ta sục sôi khi đọc tin nhưng chúng ta ngồi im để sự phẫn nộ ấy trôi qua như một tiếng chặc lưỡi.

Chưa bao giờ chúng ta – những người lớn, những người đã, đang và sẽ làm cha làm mẹ nghĩ đến việc lên tiếng để yêu cầu phải có thay đổi từ hệ thống giáo dục – nguồn gốc chính dẫn đến tình trạng rối ren và ảnh hưởng đến tương lai của con cái chúng ta.

Xem xét kỹ lại các tình huống đã xảy ra những vụ bạo hành thương tâm, đa phần là ở các nhà trẻ tư, nơi có nhiều công nhân nghèo xa quê sinh sống.

Chúng ta – những người lớn, chưa một lần nghiêm túc nghĩ đến việc lên tiếng để bảo vệ quyền lợi của thế hệ tương lai.

Năm 2008, báo Sài Gòn Tiếp Thị có đăng bài “Khi sữa mẹ còn chảy ròng ròng trên ngực áo” (1) của nhà báo Trung Hồ. Và đến nay lời đề nghị “Thưa ông bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo, xin hãy ra ngay một lệnh buộc các trường mầm non nhận ngay các cháu kể từ bốn tháng tuổi, khó khăn nếu có sẽ cùng tìm ra cách giải quyết” của nhà báo này đã rơi vào quên lãng.

Đã có lúc nào chúng ta, những người lớn nghĩ rằng mình sẽ phải lên tiếng để yêu cầu các cơ quan chức năng phải nghiêm túc giải quyết vấn đề nhận giữ trẻ ngay khi các bà mẹ kết thúc giai đoạn nghỉ thai sản quay lại làm việc chưa?

Chúng ta phẫn nộ vì sự tàn ác của các bảo mẫu nhưng có lúc nào chúng ta thật sự quan tâm đến việc các khu công nghiệp có công nhân nghèo xa quê phải có các nhà trẻ được đăng ký và giám sát chặt chẽ bởi hệ thống công quyền chưa?

Có nhiều cha mẹ quan tâm đến chất lượng và sự quản lý đào tạo ở các nhà trẻ của các cơ sở tôn giáo nhưng ít biết rằng các cơ sở này rất khó khăn khi muốn cấp phép hoạt động bình thường như bao cơ sở khác. Và chúng ta sẽ phải làm gì nếu muốn lựa chọn những trường học như thế này cho con cái chúng ta?

Chúng ta phẫn nộ để làm gì? Cần bao nhiêu lần chúng ta phẫn nộ nữa để chấm dứt tình trạng bạo hành trẻ mầm non?

Chính chúng ta – những người lớn cũng có lỗi vì không bảo vệ được trẻ em khỏi sự bạo hành này.

Chúng ta phẫn nộ mỗi ngày khi có sự việc xảy ra, nhưng lại chấp nhận sống chung với nguyên nhân gây ra sự phẫn nộ ấy chỉ vì nó chưa đụng chạm đến con em mình. Đó là một hình thức dạy dỗ con em chúng ta trở nên ích kỷ với cuộc sống xung quanh.

Chúng ta phẫn nộ khi thấy trẻ con bị đánh, người dân bị án oan 10 năm vì bức cung, người lao động nghèo bị bóp cổ, tham nhũng tràn lan trong xã hội… Và chúng ta phẫn nộ trong im lặng bởi nó chưa đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta bằng mắt thường.

Và mọi thứ cứ lặng lẽ trôi qua như một ấm nước sôi sùng sục rồi trở nguội, không có gì thay đổi. Vậy thì chúng ta phẫn nộ để làm gì?

Đã đến lúc đừng để sự phẫn nộ của chúng ta dần trở nên một phản ứng bình thường và vô cảm nếu chúng ta muốn mọi thứ thay đổi thật sự.

Mẹ Nấm

danlambaovn.blogspot.com

Nỗi đau cuối đời của ông Lê Hiếu Đằng

Nỗi đau cuối đời của ông Lê Hiếu Đằng

Phạm Nhật Bình

Gửi cho Diễn đàn BBC từ Hoa Kỳ

Thứ ba, 17 tháng 12, 2013

Ông Lê Hiếu Đằng đã lên tiếng tuyên bố rời bỏ hàng ngũ Đảng Cộng sản Việt Nam

Tin ông Lê Hiếu Đằng đang trải qua những giờ phút lâm chung đang làm cho nhiều người rất buồn.

Có nhiều lý do để buồn, nhưng có lẽ nỗi buồn lớn nhất là vì cảm được những điều đau lòng nơi một người nhiều tâm huyết như ông Đằng trong những năm tháng cuối đời.

Không đau lòng sao được khi vào những năm tháng cuối đời lại phải thừa nhận một sự thật phũ phàng.

Đó là biết bao hy sinh đóng góp của mình và rất nhiều đồng đội lại chỉ góp phần tạo ra một tầng lớp thống trị mới, còn khắt khe và tàn bạo hơn cả thời kỳ thực dân Pháp đô hộ.

Thêm vào đó, cái gọi là “chế độ ngụy quyền” mà ông và nhiều đồng đội đã từng cố gắng lật xuống cho bằng được để xây dựng chủ nghĩa xã hội, lại là chế độ nhiều nhân bản, yêu nước, và có khả năng xây dựng mọi mặt xã hội hơn thể chế cộng sản chuyên chính hiện nay rất nhiều.

Trong suốt gần 40 năm qua, nhân dân tiếp tục sống trong đói nghèo suốt từ thời toàn trị sang đến thời mở cửa; và sống với các giá trị con người mà nhân loại đã xác định từ lâu.

Chỉ có giai cấp cai trị là thay đổi từ sướng ít trong thời toàn trị lên sướng nhiều và cực giàu trong thời mở cửa.

Không đau lòng sao được khi sau bao công sức đóng góp, đến cuối đời ông chỉ thấy đất nước càng ngày càng bế tắc và thụt lùi.

Thụt lùi so với cả nước Miến Điện nghèo nàn, lạc hậu.

Sau 40 năm bóp chết sức sống của đất nước và vì thế không còn sức chống trả hiểm họa mất chủ quyền vào tay Bắc Kinh, giới độc tài quân phiệt Miến, chưa hề vỗ ngực là “đỉnh cao trí tuệ loài người”, cũng còn biết đặt vận mạng đất nước họ lên trên hết. Họ gấp rút chọn con đường dân chủ để đưa đất nước thoát hiểm.

Đến cả nước Campuchia, một nước từng bị kéo về tận thời cộng sản nguyên thủy dưới tay Pol Pot và thường bị Hà Nội coi như chư hầu, cũng đã qua mặt Việt Nam trên con đường dân chủ hóa.

Miến Điện được chào đón trên trường quốc tế sau thay đổi dân chủ

Nỗi đau của ông Lê Hiếu Đằng cùng những đảng viên còn tâm huyết và tự trọng càng lớn khi họ tự nhận ra chính mình cũng phải lãnh một phần trách nhiệm trước tình trạng từng mảng chủ quyền đất nước đang biến mất dần.

Từ những cánh rừng đầu nguồn ở biên giới phía Bắc đến vùng Tây Nguyên mang tính chiến lược quân sự đến các vùng biển đảo nhiều tài nguyên đều đã bị giới lãnh đạo của ông Đằng xem là những vùng “đã mất rồi” và nay chỉ phản đối lấy lệ trước mắt dân chúng mà thôi.

Đó là chưa kể hàng trăm những khu hoàn toàn biệt lập của “công nhân” Trung Quốc trên khắp nước Việt, đặc biệt tại những vùng hệ trọng chiến lược, cứ tiếp tục mọc lên trước sự làm ngơ hoặc tiếp tay của giới cầm quyền.

Những ước hẹn với Bắc Kinh trong Hội nghị Thành Đô năm 1990 sẽ giao chủ quyền Việt Nam từng bước và hoàn tất vào năm 2020 (đúng thời hạn 30 năm) không chỉ còn là cơn ác mộng nữa nhưng đã trở thành một phần hiện thực rất lớn rồi.

‘Muốn lo cho nước’

Nhưng khó ai hiểu hay tin được những nỗi dằn vặt trên nếu không có những bước chân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc của ông Lê Hiếu Đằng năm 2011 và các phát biểu của ông từ đó, đặc biệt là bức thư tính sổ đời mình trên giường bệnh vài tháng trước đây.

Từ sự cảm thông với tấm lòng chân thành của ông, người ta bắt đầu thấy đây là một tấm gương can đảm đáng quí phục.

Và càng đáng quí phục hơn nữa khi có những đảng viên cao cấp hơn ông nhiều, biết rõ hơn ông nhiều về các nguy cơ cho đất nước và vai trò tác hại của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhưng vẫn không dám lên tiếng hay có một hành động nào xứng đáng, chỉ vì bổng lộc cá nhân và quyền lợi chế độ ban phát cho con cháu họ.

Biết thời giờ của mình không còn nhiều, ông Lê Hiếu Đằng đã nhắn gởi các đảng viên cộng sản Việt Nam khác:

“Lẽ ra bây giờ phải đoàn kết nhau lại để đấu tranh, phải có dũng khí, nếu ai cũng sợ cho bản thân mình, sợ cho bản thân gia đình mình thì đất nước sẽ ra thế nào, đất nước này ai lo?”.

“Nếu ai cũng sợ cho bản thân mình, sợ cho bản thân gia đình mình thì đất nước sẽ ra thế nào?”

Ông Lê Hiếu Đằng

Ông cũng bộc bạch với bạn hữu trong giới trí thức:

“Bao giờ cũng vậy, xã hội nào cũng vậy, thời kỳ nào cũng vậy, nhân sỹ trí thức phải đi đầu, phải giương cao ngọn cờ đấu tranh, phải dũng cảm, đừng có sợ.”

Nhưng liệu những lời kêu gọi tha thiết của ông Lê Hiếu Đằng có rơi vào khoảng không im lặng đáng sợ không? Đặc biệt, thế hệ đảng viên cùng thời với ông Đằng có còn ai chia sẻ những dằn vặt lương tâm này không?

Ngày nay, tại các nước cộng sản Đông Âu và Liên Xô cũ, nhiều đảng viên cộng sản thời đó đang bị chính thế hệ con cháu họ nhìn với ánh mắt khinh bỉ.

Những đảng viên ấy từng bảo vệ và bám lấy các chế độ cộng sản để hưởng lợi lộc cho đến những ngày tháng chót, bất kể sự tàn phá của các chế độ này đối với đất nước và dân tộc họ.

Ngay cả những lời của các cựu đảng viên này ngày nay chỉ trích các chế độ độc tài cũ cũng chẳng ai muốn nghe vì đã quá trễ và vì thế càng trở nên nham nhở.

Liệu cảnh ấy có lại xảy ra tại Việt Nam trong tương lai không?

Nhìn vào xu thế của nhân loại và ngay tại vùng Đông Nam Á, rõ ràng thời giờ không còn nhiều.

Và có lẽ nay là thời điểm thích hợp nhất để những đảng viên cộng sản Việt Nam – những người còn muốn giữ lại thanh danh và liêm sỉ đối với bản thân, đối với thế hệ con cháu, và đối với dân tộc – chọn con đường công khai rời bỏ đảng vì vừa chính mình vừa vì đất nước.

Đừng để đến khi quá muộn.

Những con người đáng kính trọng như Dương Quỳnh Hoa, Nguyễn Hộ, Trần Độ, Trần Xuân Bách…những Huỳnh Nhật Tấn, Huỳnh Nhật Hải, Phạm Quế Dương, Vi Đức Hồi, Phạm Đình Trọng, Nguyễn Chí Đức, Nguyễn Ngọc Diễm Phượng, … và nay Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đắc Diên đã chọn con đường danh dự đó.

Tuổi hưu và phúc lợi ở Mỹ

Tuổi hưu và phúc lợi ở Mỹ

Bùi Văn Phú

17.12.2013

Sau hơn ba thập niên sinh sống và làm việc ở Mỹ, thỉnh thoảng anh em, bạn bè gặp nhau chúng tôi cũng bàn đến chuyện tương lai về hưu sẽ sống ra sao hay sống ở đâu.

Như ở mọi nơi trên thế giới, sau thời gian làm việc đóng góp cho xã hội, người dân Mỹ đến tuổi già cũng phải nghỉ hưu. Nhìn lại quá khứ rồi hướng về tương lai thì thấy nếu một người ra đời làm việc năm 25 tuổi, là khi mới tốt nghiệp đại học, đến 65 tuổi thì đã có 40 năm làm việc, khi đó là tuổi được hưởng trọn số lương hưu là tiền của chính mình và chủ đã đóng vào quỹ an sinh xã hội trong thời gian lao động.

Thực ra một người lao động Mỹ khi vừa bước vào tuổi 50 đã nhận được thư mời tham gia hội AARP (American Association of Retired Persons) – Hiệp hội người Mỹ Hưu trí – dù thời gian phải tiếp tục làm việc vẫn còn ít nhất 15 năm trước khi chính thức nghỉ hưu.

Thành lập từ năm 1958, AARP hiện có gần 40 triệu hội viên trên toàn quốc. Hội viên đóng lệ phí 16 đô là một năm và sẽ thường xuyên nhận được tạp chí với nhiều thông tin liên quan đến chính sách và sức khoẻ của lớp người ở tuổi 50 hay cao hơn. Hội cũng vận động hành lang cho quyền lợi của người đã nghỉ hưu hay sắp sửa. Là hội viên, khi thuê xe, đặt phòng khách sạn, mua các loại bảo hiểm còn được giảm giá ít nhiều.

Rất ít người Mỹ về hưu ở tuổi 50 và ngay cả tuổi 55 hay 60 cũng còn ít. Trừ người thật giầu hay những ai là công chức thành phố, tiểu bang, liên bang, là thành phần cảnh sát, cứu hỏa hay giáo chức với quỹ hưu bổng riêng và có thể nghỉ hưu sau 25, 30 năm trong những nghề đó.

Theo Sở Thống kê Dân số, tuổi hưu trung bình của người Mỹ là 62 và thời gian sống hưu là 18 năm.

Về tiền hưu trí, quỹ an sinh xã hội chỉ cho lãnh sớm nhất khi 62 tuổi. Một người về hưu ở tuổi đó thì còn phải tự lo bảo hiểm y tế trong ba năm nữa cho đến 65 tuổi là lúc được đăng ký vào chương trình bảo hiểm y tế của chính phủ dành cho người cao tuổi, tức Medicare. Vì vậy, dù 62 tuổi nhưng nhiều người vẫn còn đi làm để có bảo hiểm sức khoẻ từ nơi làm việc, nếu không phải tự bỏ tiền ra mua thì một tháng có thể phải chi cả nghìn đô cho một người, mà nếu chỉ có lương hưu duy nhất là tiền an sinh xã hội thì sẽ không đủ chi tiêu.

Ngân sách quỹ an sinh xã hội và y tế của liên bang là do chính tiền của người lao động đóng vào và do chính phủ quản lí. Hiện nay thuế Medicare ở mức 2.9% số lương, cá nhân đóng một nửa, chủ đóng một nửa. Cũng như thuế cho quỹ an sinh xã hội là 12.4% và người đi làm đóng một nửa, tức 6.2%, chủ chịu một nửa.

Thuế an sinh xã hội có giới hạn, chỉ đóng đến mức lương 113,700 đô cho năm 2013, tăng lên mức 117 nghìn cho năm 2014 và tiếp tục tăng đến 165,600 vào năm 2022. Số lương cao hơn những mức nêu trên không phải chịu thuế này. Còn thuế y tế Medicare không có giới hạn mức lương.

Như thế chính phủ lúc nào cũng thu hai khoản tiền thuế, tổng cộng là 7.65% từ lương công nhân. Những ai làm chủ cơ sở thương mại hay làm việc riêng cho chính mình thì phải đóng gấp đôi, vừa là thợ vừa là chủ, tức 15.3% tổng số thu nhập. Không thể trốn vào đâu được. Các chủ nhân không làm kế toán rõ ràng cho các khoản thuế này sẽ bị phạt nặng.

Dưới thời Tổng thống Bill Clinton, ông bổ nhiệm một phụ nữ vào nội các, trước khi được Thượng viện phê chuẩn thì báo chí phanh phui sự việc bà này đã có mướn người giúp việc trong nhà nhưng không khai và không đóng thuế an sinh xã hội cho người làm, như thế là phạm luật khiến bà phải rút lui khỏi chức vụ được đề cử.

Ngân sách hiện tại của quỹ an sinh xã hội đang cạn dần vì thành phần trẻ vào đời làm việc ít đi, trong khi đó số người già càng nhiều và càng sống lâu, trung bình đến 81 tuổi cho phụ nữ và 76 cho nam giới. Trước đây cứ 4 người đi làm đóng thuế để trả cho một người nghỉ hưu, nay con số này xuống còn 2.5 và theo một ước tính của cơ quan nghiên cứu Quốc hội, đến năm 2033 quỹ chỉ còn đủ để trả 77% tiền hưu của người được hưởng.

Số tuổi để hưởng trọn vẹn phúc lợi tài chánh khi về hưu ngày càng tăng lên. Trước đây là 65 tuổi cho những ai sinh năm 1938 trở về trước. Luật mới qui định người sinh từ năm 1943 đến 1954 thì tuổi hưu là 66, từ 1955 đến 1959 mỗi năm tăng lên hai tháng tuổi hưu. Sinh sau năm 1960 thì đến 67 tuổi mới được hưởng lương hưu trọn vẹn. Nếu nghỉ hưu non vào năm 62 tuổi, tiền an sinh xã hội chỉ được khoảng 70% so với lương về hưu đúng tuổi. Cùng với việc tăng tuổi hưu, thuế an sinh xã hội và thuế y tế Medicare cũng tăng lên.

Theo Tổ chức Hợp tác Kinh tế và Phát triển (OECD), số người Mỹ ở tuổi từ 65 đến 69 vẫn còn làm việc là 20%, so với Anh 10%, Đan Mạch 9%, Na Uy và Thụy Sĩ 7% trong khi Đức, Hà Lan 3% còn Pháp, Ý chỉ có 1%.

Hiện nay phúc lợi an sinh xã hội trung bình cho một người Mỹ nghỉ hưu là 1230 đô la một tháng. Dù không còn nợ nhà, nhưng số tiền này cũng khó đủ cho một người sống riêng biệt vì các khoản chi tiêu bao gồm thực phẩm, điện nước, xăng dầu, bảo trì xe, thuế nhà đất. Vì thế chính phủ còn có phụ cấp SSI – Supplemental Security Income, người Việt thường gọi là tiền già hay tiền bệnh – phụ cấp tiền thuê nhà, giảm giá điện ga cho người nghèo.

Trong thực tế ngày nay, với tiền an sinh xã hội không thôi, nhiều người cao niên chỉ đủ sống. Vì thế trong lúc còn làm việc chính phủ khuyến khích tiết kiệm thêm bằng cách bỏ tiền vào các quỹ 401(k) hay IRA. Với quỹ 401(k) có khi chủ nhân cũng đóng góp thêm vào cho công nhân và có giới hạn vài trăm đô một tháng. Số tiền tiết kiệm sinh lời và sẽ không bị đánh thuế, nhưng không được rút ra cho đến năm 60 tuổi hay cao hơn để chi tiêu lúc về hưu.

Hiện nay, một cặp vợ chồng bắt đầu về hưu năm 2013 vào tuổi 65 hay cao hơn thì mỗi tháng một người lãnh khoảng 2500 đô tiền an sinh xã hội. Nếu nợ nhà đã trả hết, với 5 nghìn đô là dư tiêu trong một tháng cho hai người. Ốm đau, thuốc men có chính phủ lo.

Với số tiền đó thì có thể bàn đến việc nghỉ hưu ở một nước ngoài. Nhưng trở ngại duy nhất là Medicare vì dịch vụ y tế này chỉ cung cấp cho cư dân sống tại Mỹ. Sống ở nước khác, phải tự mua bảo hiểm y tế riêng ở nơi đó. Vì thế nhiều người Mỹ nếu quyết định nghỉ hưu ở nước ngoài họ thường chọn nơi có mức sống rẻ, hệ thống y tế tốt hay những nơi gần Hoa Kỳ, như nam Mỹ và các đảo quốc trong vùng biển Caribbean, phòng có gì khẩn cấp cũng chỉ vài giờ bay là đã về lại Mỹ để được chăm sóc y tế.

Một khảo sát mới đây của InternationalLiving.com xếp hạng mười nơi tốt cho người Mỹ và Canada nghỉ hưu là Ecuador, Panama, Malaysia, Mexico, Costa Rica, Uruguay, Colombia, Spain, Thailand và Malta.

Nhiều người Mỹ gốc Việt làm việc đã gần 40 năm, nay nghỉ hưu cũng có khả năng tài chính để ra nước ngoài sống, nhưng về Việt Nam có thể khó vì xa xôi và nhất là điều kiện y tế chưa tốt cho tuổi già.

Với một số người Việt cao tuổi ở Mỹ chuyện về Việt Nam sống còn là điều không thể vì đang nhận phúc lợi xã hội và y tế qua chương trình phụ cấp của chính phủ dành cho người già. Khi nhận phụ cấp thì chỉ có thể ra nước ngoài chơi ít tuần, còn nếu ở lâu các khoản trợ cấp sẽ bị cắt.

Bạn bè chúng tôi trong lứa tuổi sấp xỉ 60 cũng đã bắt đầu nghĩ đến chuyện hưu và cũng có đề nghị nếu vào nhà tập thể cho người cao tuổi thì cũng tìm nơi sống chung để chiều chiều lai rai nhậu, đàn hát bên nhau cho vui những lúc cuối đời.

SỐNG GIỮA THẾ GIAN MÀ KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN

SỐNG GIỮA THẾ GIAN MÀ KHÔNG THUỘC VỀ THẾ GIAN

G. Tuấn Anh.

Một linh mục lo việc linh hồn cho các bệnh nhân HIV kể rằng: “Mặc dù rất siêng lần hạt mân côi và tôn kính đặc biệt Đức Maria, tôi chưa một lần diễm phúc được Mẹ hiện ra. Nhưng khi xức dầu cho một bệnh nhân mà căn bệnh ở giai đoạn cuối, thấy thái độ người bệnh thay đổi một cách tích cực so với những ngày trước, vị linh mục hỏi nguyên nhân và người bệnh cho biết, tối qua đã thấy và nói chuyện với Đức Mẹ”.

Theo thời gian, nếu điểm lại những lần Đức Maria hiện ra ở La Vang, Lộ Đức, Fatima,    . . . chúng ta sẽ thấy, tiêu chuẩn chọn lựa được đón ân phúc hiện ra của Mẹ thường là những trẻ em, những kẻ nghèo khổ, khốn cùng và khiêm nhường. Các thuộc tính này là một trong những cơ sơ để chúng ta nhận ra các tiên tri giả, thật.

Cách chọn lựa của Đức Maria không là khó hiểu, vì chính Thiên Chúa cũng tuyển chọn con người với các tiêu chí ấy khi mạc khải hay tỏ lộ các hồng ân. Điển hình trong mầu nhiệm giáng sinh, các con người được chọn để tham dự hay chứng kiến ân phúc này gồm: bác thợ mộc Giuse, cô thiếu nữ vô danh Maria, ba nhà chiêm tinh ở phương đông và các mục đồng ở Belem.

Mầu nhiệm Giáng sinh làm sáng tỏ phần nào quan điểm của Thiên Chúa với danh vọng và tiền tài- hai giá trị mà thế gian cho là báu vật. Và trong khi con người trông chờ một đấng cứu thế theo nghĩa của loài người, thậm chí có thể phục vụ cho cả mục đích của con người, nghĩa là một đấng quyền cao, chức trọng thì Đức Giêsu bảo rằng: “Thế thì anh em xem gì? Một người mặc gấm vóc lụa là chăng? Kìa những kẻ mặc gấm vóc lụa là thì ở trong cung điện nhà vua” (Mt 11, 8). Cuối cùng, hang đá lạnh lẻo, nghèo hèn được chọn làm nơi Đấng Cứu thế giáng sinh.

Danh vọng và tiền tài là một trong các tiêu chí tìm kiếm của cả đời người. Nhưng bàn về danh vọng, Chúa Giêsu lại dạy rằng: “Vua của các dân thì lấy quyền mà thống trị dân, và những ai cầm quyền thì tự xưng là ân nhân. Anh em thì không như thế, trái lại, ai lớn nhất trong anh em, thì phải nên như người nhỏ tuổi nhất, và kẻ làm đầu thì phải nên như người phục vụ” (Lc 22, 26). Về tiền bạc, Chúa Giêsu phán: “Thầy còn nói cho anh em biết, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào Nước Thiên Chúa.” (Mt 19, 24). Lối giảng dạy này thật sự gây náo động, xung đột trong suy nghĩ nhiều người.

Tìm kiếm tiền tài, danh vọng thường gắn liền với cái tôi, và con đường ấy khó dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa, vì Ngài mong đợi chúng ta quên đi cái tôi to lớn của bản thân. Chúa Giêsu bảo: “Ai yêu quý mạng sống mình, thì sẽ mất; còn ai coi thường mạng sống mình ở đời này, thì sẽ giữ lại được cho sự sống đời đời.” (Ga 12, 25)

Suy niệm về mầu nhiệm Giáng sinh, về phương cách Thiên Chúa tuyển chọn con người hợp tác với Ngài, về lời truyền dạy của Đức Giêsu trong 3 năm rao giảng, một lần nữa khẳn định rằng: Thiên Chúa, Đấng tạo dựng nên con người giống hình ảnh Thiên Chúa, luôn mong muốn, con rắn xấu xí hay cám dỗ, phải bị khuất phục bởi hình ảnh của Ngài trong bản thân mỗi chúng ta. (Trong khi đó, con người lại muốn một Thiên Chúa có những tư duy như con người. Thuộc tính kiêu ngạo từ thuở hồng hoang xem chừng quá khó để con người dứt bỏ nó).

Những gì thuộc về thế gian, thuộc về con rắn quỉ quyệt, thì không thuộc về Thiên Chúa. Và những gì thuộc về Thiên Chúa thì xa lạ với thế gian. Chúa Giêsu bảo các môn đệ rằng: Nếu thế gian ghét anh em, anh em hãy biết rằng nó đã ghét Thầy trước. Giả như anh em thuộc về thế gian, thì thế gian đã yêu thích cái gì là của nó. Nhưng vì anh em không thuộc về thế gian và Thầy đã chọn, đã tách anh em khỏi thế gian, nên thế gian ghét anh em.” (Ga 15, 18).

Lạy Chúa, chúng con biết rằng, để sống giữa thế gian mà không thuộc về thế gian, chỉ có thể được nếu chúng con được Ngài yêu thương và chăm sóc, vì không có Ngài, chúng con chẳng làm được điều gì.

CHÚA ĐẾN Ở ĐÂY VÀ NGAY BÂY GIỜ

CHÚA ĐẾN Ở ĐÂY VÀ NGAY BÂY GIỜ

Trần Mỹ Duyệt

Mỗi lần nghe hoặc nói đến hai chữ “Chúa đến”, phản ứng đầu tiên của nhiều người là nghĩ ngay đến biến cố của hơn 2000 năm trước tại cánh đồng Belem, vào một đêm Đông lạnh lẽo. Ngày đó, Ngôi Hai Thiên Chúa mặc xác phàm, giáng trần làm người. Nhưng nếu nhìn biến cố này với cặp mắt và suy tư mang mầu sắc tôn giáo, thì biến cố ấy được tin là qua việc hạ sinh, Ngôi Hai Thiên Chúa đã đến để giải thoát nhân loại khỏi tội, khỏi ách thống trị của Satan. Ngài đến để giao hòa nhân loại với Thiên Chúa.

Nhìn và suy ngắm việc Chúa đến bằng cặp mắt đức tin, thì biến cố này không chỉ dừng lại ở hành động suy diễn, và nhắc lại những gì đã xẩy ra tại cách đồng Belem trước đây. Đúng hơn, đó là lời nhắc nhở ta rằng Chúa không chỉ đã đến, mà Ngài đang đến, và sẽ đến: Ngài đến ở đây và ngay bây giờ.  Tư tưởng này sẽ giúp ta hiểu rõ hơn việc Chúa đến có liên quan gì với ta, và làm cách nào biến cố ấy lại trở thành biến cố giải thoát ta khỏi vòng nô lệ tội lỗi, và đem lại cho ta ánh sáng và ơn cứu độ.

“Chúa đến ở đây và ngay bây giờ”. Ta có thể căn cứ vào ý nghĩa của việc Ngài giáng trần để liên kết với mầu nhiệm Nhập Thể và Cứu Độ. Đồng thời hướng ta về với sự hiện diện của Ngài trong đời sống của chính mỗi người qua những giai đoạn được gọi là những thời khắc Chúa đến:

Chúa đến qua Mầu Nhiệm Nhập Thể.

Chúa đến qua những Bí Tích.

Chúa đến qua giờ chết.

Chúa đến trong ngày Quang Lâm.

Chúa đến qua Mầu Nhiệm Nhập Thể: Đây là những gì mà nhân loại đang nô nức chuẩn bị mừng ngày kỷ niệm. Hơn 2000 năm trôi qua, biến cố Belem vẫn được nhắc đến hằng năm.

Như những tổ phụ của Do Thái xưa, họ đã mỏi mòn trông chờ Chúa đến, nhưng khi Ngài đến thì lại không ai thèm để ý và đón tiếp. Chính vì thế, Ngài đã phải hạ sinh trong một cái chuồng chăn súc vật ngoài thành Belem. Nhân loại ngày nay chuẩn bị đón mừng kỷ niệm Chúa đến cũng bằng một thái độ tương tự. Đối với phần đông, Giáng Sinh chỉ là một lễ hội, mà ý nghĩa tôn giáo đã hầu như bị coi thường, quên lãng.

Chúa đến qua những Bí Tích: Đối với người Kitô hữu, việc Chúa Giêsu hiện diện và ban ơn qua các Bí Tích là hành động “đến” của Ngài với mỗi nguời chúng ta. Do quyền năng, và tình yêu Chúa hằng ngày, hằng giờ, và hằng phút vẫn đến với con người và từng người qua đời sống ân sủng nhờ các Bí Tích.

Qua Bí Tích Thánh Tẩy, Ngài đến với ta,  rửa sạch tội ta, và đem ta vào với ân sủng của Ngài. Nhờ đó ta được làm em của Ngài, làm con Cha trên trời. Thật ra, nếu không được rửa sạch tội khiên, được tháp nhập vào Thân Thể Mầu Nhiệm của Ngài, ta dù có đón mừng kỷ niệm cuộc giáng trần của Ngài, vẫn không được đón nhận vào đoàn con của Ngài, và được thông phần hạnh phúc nước trời.

Để ban cho ban sức mạnh, sự khôn ngoan, ơn can đảm, và những ơn huệ cần thiết khác giúp ta sống đời Kitô hưu cách trưởng thành, Chúa đã đến với ta quan Bí Tích Thêm sức.

Rồi mỗi lần ta đáp lại ơn gọi của Ngài, là một lần Chúa lại đến và lại mời gọi ta. Ngài gọi ta làm chứng nhân Tin Mừng bằng đời sống tu hành, tận hiến. Hay Ngài gọi ta cộng tác với Ngài trong việc tạo dựng, và làm đẹp cho cuộc sống bằng ơn gọi hôn nhân, gia đình. Hoặc Ngài gọi ta vào những ơn gọi, bậc sống riêng biệt khác.

Nhưng khi ta yếu đuối, sa ngã, lỡ lầm, Ngài lại đến để an ủi, nâng đỡ, và tẩy sạch ta qua Bí Tích Hòa Giải. Ở đó, Ngài giang rộng vòng tay đón ta, và tha thứ, phục hồi ơn gọi làm con Thiên Chúa cho ta.

Nhất là hàng ngày, hàng tuần bạn đến với Ngài trong Thánh Lễ, ở đó, Ngài nuôi ta bằng Lời Ngài, và Mình Máu Thánh Ngài. Trong Thánh Thể, Ngài nhắc lại với ta lời Ngài đã nói khi xưa: “Thầy ở cùng các con mọi ngày cho đến tận thế”. Ngài đến, và đồng bàn với ta như Ngài đã đến và ăn tại nhà Phêrô, Gia Kiêu, và nhà của chị em Maria, Mattha, và Lazarô. Ta có thấy mình trở thành hãnh diện và diễm phúc lắm không? Cái đặc ân mà ở thời Ngài, ít người được hưởng.

Và khi ta dọn mình, chuẩn bị bước vào một cuộc hành trình mới, cuộc hành trình đi về vĩnh cửu thì Ngài lại đến để an ủi, để tăng thêm sức mạnh, và nhất là để giúp ta vững tin rằng Ngài luôn luôn ở đó bên ta. Bí Tích Xức Dầu chính là sự xuất hiện gần gũi, đầy tin tưởng nhất để giúp ta nhận ra tình Ngài, sự có mặt của Ngài trước giờ lâm chung.

Chúa đến qua giờ chết: Dù là người có tín ngưỡng hay không có tin ngưỡng, ta cũng sẽ nhận ra điều này, đó là không ai hết, không phải do thần chết đã gọi ta, đã bắt ta, đã cất mạng sống ta, nhưng là do chính Thiên Chúa đã dùng cách ấy để đem ta ra khỏi thế gian này. Để đem ta lại gần Ngài, và để ta ở với Ngài trong đời sống vĩnh cửu. Đức Tin dậy ta như thế, và ta cần phải tin như thế.

Nếu cuộc đời này là một bể khổ, thì cái chết là cần thiết để đưa ta ra khỏi bể khổ ấy. Thiên Chúa là Thiên Chúa tình thương. Ngài không muốn nhìn ta mãi bơi lội trong bể khổ này.

Nếu cuộc đời là một hành trình đi về viên miễn, thì Chúa đến đưa ta về nơi hạnh phúc ấy. Qua cái chết, ta sẽ nhận rõ hơn gương mặt yêu dấu của Ngài.

Chúa đến ngày Quang Lâm: Đây là những gì Đức Tin dậy: “Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại. Tôi tin hằng sống”. Đây là lần xuất hiện cuối cùng và là lần xuất hiện vinh quang của Ngài trước mặt toàn thể nhân loại từ tạo thiên lập địa cho đến ngày ấy. Bạn và tôi chúng ta đều có mặt trong ngày ấy để đón Ngài. Tuy nhiên, tùy vào niềm tin, tùy vào cuộc sống, và tùy vào cái chết của mỗi cá nhân, mỗi người có một thái độ đón tiếp khác nhau.

Ngày hôm ấy, ta sẽ được nhìn lại một cách rõ ràng, chi tiết hơn tất cả thời gian mà Chúa đến với ta. Mỗi thời điểm ấy mang tín hiệu, lời mời gọi, hay sứ vụ gì? Số phận của ta tuy đã được quyết định trong ngày chết, nhưng hôm nay chỉ là một lần nữa cái số phận ấy được công bố cho toàn thể nhân loại biết, để cho thấy ta là ai, Thiên Chúa là ai trong cuộc đời ta, và thái độ ta đón rước Ngài như thế nào.

“Chúa đến ở đây và ngay bây giờ”. Thiên Chúa là Đấng làm chủ thời gian, Ngài là Nguyên Thủy và Cùng Đích. Việc Ngài đến với nhân loại, với mỗi người chúng ta không bị lệ thuộc vào thời gian. Nó luôn luôn là một hiện diện trước mặt và ngay bây giờ. Chuẩn bị mừng Mầu Nhiệm Giáng Trần, là dịp để ta suy nghĩ về sự hiện diện và có mặt của Ngài trong cuộc đời mỗi người. Ngài là Thiên Chúa giáng trần, nhưng là một Emmanual – Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúa đã đến. Ngài đang đến. Và Ngài sẽ đến. Hãy sẵn sàng chờ đợi và đón tiếp Ngài.

Chúa đến ở đây và ngay bây giờ. Chuẩn bị mừng Mầu Nhiệm Giáng Trần, là dịp để ta suy nghĩ về sự hiện diện và có mặt của Ngài trong cuộc đời mỗi người. Ngài là Thiên Chúa giáng trần, nhưng là một Emmanual – Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Chúa đã đến. Ngài đang đến. Và Ngài sẽ đến. Hãy sẵn sàng chờ đợi và đón tiếp Ngài.

CHỈ SỐ LÀM NHÓI LÒNG NGƯỜI !

CHỈ SỐ LÀM NHÓI LÒNG NGƯỜI !

Tác giả: Lm. Anmai, C.Ss.R.

Ở trong nhà chăn ấm nệm êm sẽ chẳng bao giờ thấy được cảnh nghèo người khổ quanh ta. Cứ bước chân ra đường, ta sẽ bắt gặp biết bao nhiêu hình ảnh của những người nghèo.

Người nghèo đó chẳng phải là ai xa lạ. Người nghèo đó có thể là chính người thân ruột thịt của ta, người bà con của ta, người hàng xóm của ta và ắt hẳn họ cùng dòng máu đỏ da vàng của ta.

Nơi chốn đô thị ồn ào và sầm uất, ta ít nhận ra những người nghèo bởi lẽ ra đường nơi phố thị ai cũng mặc đẹp, đi xe sang và làm những công việc mang tính đầu óc, trí tuệ. Có chăng ta bắt gặp được số ít người bán vé số, bán hàng rong … Họ là ai ? Họ là những người xa quê, họ là những người phải bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để tìm về những đô thị lớn để sống phận “di dân”.

Cũng không khó hiểu lắm khi những thành phố lớn, đặc biệt là Thủ Đô và Sài Thành phải đón nhận số lượng di dân đến mức báo động. Vì sao họ phải bỏ quê để đi lên thành thị sống ? Bởi lẽ họ không còn cách nào khác để tìm kế sinh nhai.

Thời gian không dài nhưng cũng không quá ngắn để sống ở vùng Phú Thọ – Hưng Hóa còn in đậm trong trí của tôi khi dân ở đó không tìm ra đâu công ăn việc làm. Một số người lên rừng để cạo dầu chai. Công việc phải thức thật sớm bởi lẽ khi nắng lên thì không làm được nữa. Nhìn những bàn tay nứt nẻ vì bị dầu chai ăn khi họ lên chịu Lễ mà nhói lòng.

Hỏi ra thì thu nhập của họ đổi ra không đủ mua được một đô la.

Những người có hoàn cảnh thì đành phải ở lại nhà quê để sống với mức sống như thế. Những người khá hơn thì họ tìm cách để thoát khỏi quê nghèo tìm hướng sống. Cái nghèo đã bám víu mảnh đất Phù Lao – Phú Thọ – Hưng Hóa này.

Mới đây, trên quãng đường ngắn từ Huế ra La Vang, tôi lại chứng kiến hình ảnh của những con người nghèo. Những ngày mưa phụn lạnh giá nhưng người làm nông ở vùng này phải tìm cách quấn áo mưa hay những mảnh ni-lông tự chế sao cho ấm người để kịp ra đồng cày cấy. Không còn cách nào khác họ phải dầm sương như thế để kiếm sống qua ngày. Cái nghèo như ôm chầm cuộc đời của họ.

Nhìn thoáng qua với những tòa nhà cao ngất, với những chiếc xế hộp trị giá đến chục tỷ chạy bon bon trên đường và những nhà hàng cửa hiệu lộng lẫy thì thấy vui với một đất nước đang trên đà phát triển. Đúng thật là phát triển nhưng khi nhìn lại những con số thống kê thì thật đau lòng và choáng !

Cuối năm 2013 này, GDP bình quân đầu người tính bằng USD ước đạt 1.900 USD.

Nhìn con số này, thoạt tiên là mừng vì thấy thu nhập đầu người bình quân đến cả ngàn đô la. Thế nhưng, một sự thật phủ phàng và đau đớn là hiện nay ở Việt Nam có tới 17 triệu lao động vẫn nằm ở mức thu nhập dưới cận nghèo và chỉ đạt chưa đến 2 USD/ngày.

Đang khi đó thì Đại hội Đảng lần thứ XI đề ra mục tiêu GDP bình quân đầu người tính bằng USD theo tỷ giá hối đoái đến năm 2015 đạt 2.000 USD.

Với những thành quả như thế, dĩ nhiên người ta hết sức lạc quan khi dự đoán rằng mục tiêu này dễ đạt vì lẽ GDP bình quân đầu người tính bằng USD trong năm 2013 đang tiến tới mốc 1.900 USD.

Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) ngày 12/12 cho biết, hiện còn khoảng 17 triệu lao động Việt Nam có thu nhập quá thấp, không vượt lên trên chuẩn nghèo 2 USD/ngày (khoảng hơn 40 ngàn đồng/ngày).

Dân số Việt Nam như hiện nay, có khoảng 23 triệu người khác đang sống mấp mé trên ngưỡng chuẩn nghèo và rất dễ tái nghèo khi xảy ra khủng hoảng kinh tế.

Nhìn thấy con số biết nói 40 ngàn đồng thu nhập của mỗi ngày, chẳng lẽ ta không quặn lòng sao ?

40 ngàn đồng, ở mảnh đất Sài Thành, chắc có lẽ được 1 tô phở Anh ở đường Kỳ Đồng. Ở những tiệm khác có thể giá còn cao hơn nữa chứ không dừng lại ở cái giá 40 ngàn.

40 ngàn đồng hiện nay làm được gì ? Và con số những người thu nhập như thế này không chỉ ở con số một vài hay chục nhưng lên đến 23 triệu người nghèo.

Mỗi ngày, người dân kiếm được thu nhập như thế thì thử hỏi đời sống của họ sẽ như thế nào và đi về đâu. Ăn không đủ ăn nữa chứ đừng nói gì đến mặc, học hành, y tế … Có nằm mơ chắc họ cũng không bao giờ dám nghĩ đến chuyện giải trí.

Nhìn vào cuộc sống, khoảng cách giàu nghèo ngày càng cách biệt rõ nét.

Có những ngôi biệt thự giá từ chục tỷ đến hàng trăm tỷ.

Có những chiếc xe sang từ vài tỷ đến chục tỷ.

Và, có những người chỉ mơ có cuộc sống bình dị với mức thu nhập đủ sống nhưng nào giấc mơ đó có thực.

Không phủ nhận chuyện đất nước phát triển nhưng số người nghèo và quá nghèo sao còn nhiều quá. Làm sao cho họ có lối thoát để họ sống đúng mức là một người bình thường đây ?

Những ngày cận Tết đang đến. Có những gia đình đang, đã và sẽ tìm cho mình những kỳ nghỉ xa và dài, thậm chí ở ngoài nước nhưng ngược lại cũng còn đó nhiều và rất nhiều gia đình đang chạy ăn từng bữa và lo lắng cho cuộc sống.

Và, hình ảnh những người xa quê lại phải lao đao vất vả cho hành trình về thăm quê lại hiện ra. Người xa quê có tiền về thăm quê cũng là diễm phúc bởi lẽ có nhiều người ngậm ngùi ở lại đất khách vì không đủ khả năng về quê.

Hình ảnh của những người nghèo, những người di dân xa quê lại cứ hiện về rõ nét hơn trong những ngày tháng cuối năm.

Làm sao cho họ thoát nghèo, làm sao cho họ được sống với mức sống bình quân với tư cách là người hơn đây ?

Anmai, CSsR