TỪ BÀN TAY TRẮNG

TỪ BÀN TAY TRẮNG

Ngày Phê rô đổi đời là ngày ông đang gặp thất bại.  Chúa can thiệp vào đời ông, ông có chút thành công.  Rồi Chúa lại bảo ông bỏ lại thành công đó cho đời, để nghe theo lời gọi mới.  Phêrô phân vân, “đâu là thành công thật?”

Cuộc đời Phêrô  xoay quanh con thuyền, sóng nước.  Nước có lúc bình yên, biển có ngày sóng gió.  Đời ông cũng nổi trôi như sóng nước.  Có ngày cá vào đầy lưới, ông vui.  Ngày cá đi vắng, ông buồn.  Ông không nắm chắc liệu cá có bơi qua thuyền mỗi ngày như mọi ngày?  Sống trong cái bấp bênh của may rủi là thân phận con người.  Ông có thể tính toán giỏi, nhưng ông không đọc được hết tâm tư của sóng nước.  Ông cũng chẳng hiểu những chuyến đi thầm lặng của loài cá.  Ông sống chờ thời.

Rồi một ngày, ông lên bờ với bàn tay trắng.  Ông buồn vì thất bại.  Nhưng buồn hơn là thấy đồng nghiệp của mình đang thành công, mà mình thì thất bại.  Phúc Âm kể, những người chài lưới khác đang đi rửa lưới.  Có cá vào nhiều nên mới đi rửa lưới.  Còn lưới Phêrô sạch, không cần rửa!  Ông ngồi nhìn con thuyền trống rỗng, nghĩ đến ngày mai bấp bênh.  Ông ngồi ngậm nghĩ, giá mà tối hôm qua ông thả lưới ở một vùng nước khác, có lẽ sẽ không đến nỗi tệ như hôm nay.  Giá như ông theo đám đông để thả lưới, thì có lẽ cũng kiếm được mớ cá như bao nhiêu người khác.  Bao nhiêu tâm trạng “giá mà” vẫn thường quanh quẩn trong tư tưởng mỗi khi thất bại.

Nếu nhìn chung quanh ai cũng đều thất bại, thì có lẽ Phê rô không buồn nhiều.  Còn tất cả thành công, mà mình thất bại thì buồn lắm.  Mặc cảm cá nhân thường ngăn cản những nụ cười tươi.  Chung quanh ông, có nhiều ánh mắt vui của thành công.  Còn trong ánh mắt Phêrô có ánh nhìn xa xăm.

Tôi gặp trong dòng đời nhiều ánh mắt như Phêrô, và tôi yêu mến họ.   Những ánh mắt buồn vì thất bại trong tình yêu, trong hôn nhân, và trong nghề nghiệp.  Ngay cả trong Giáo Hội, những người thất bại ít có tiếng nói, họ đứng bên lề của đời sống phục vụ.  Thinh lặng, kiên nhẫn, và đợi chờ.  Lối đi nào cũng có những khúc quanh của nó.   Lắm khi những khúc quanh cuộc đời khiến người ta ngại tìm một lối đi mới.

Câu chuyện vui của một Cha xứ kể làm tôi nhớ mãi.  Một buổi sáng Chúa Nhật, bà mẹ đến gọi con trai.

–        Steven, dậy đi lễ.

Steven nghe tiếng gọi, nhưng anh phản ứng.

–  Không, con không muốn đi.  Đi lễ một mình buồn.  Hơn nữa, chẳng mấy ai ở nhà thờ ưa con.   Rồi anh kéo mền phủ kín đầu.  Người mẹ kiên nhẫn nhưng dứt khoát.

–  Có ba lí do con phải đi lễ hôm nay.  Thứ nhất, hôm nay là Chúa Nhật, lễ buộc. Thứ hai, con đã ngoài bốn mươi tuổi rồi.  Và thứ ba, vì con la Cha Xứ.  Dậy nhanh lên con, sắp trễ rồi !

Thất bại làm con người tê liệt, không muốn vươn xa hơn.  Phêrô cũng ngại ngần như thế.  Ông nhìn con nước trong veo nhưng lòng đầy nghi nan, tương lai ảm đạm.  Bất lực.  Ông ngồi chờ thời.  Rồi ánh bình minh lên cao, có bước chân người tìm đến.  Chúa nhìn thuyền Phêrô trống trải, còn ánh mắt ông thì vẫn xa xăm.

Có tiếng nói bên tai, “Cho tôi mượn chiếc thuyền.”  Lời đề nghị thân tình làm ông ngạc nhiên.  Lâu nay có ai mượn thuyền của ông bao giờ.  Phúc Âm kể:

Một hôm, đám đông chen lấn nhau đến sát bên Người để nghe lời Thiên Chúa, mà Người thì đang đứng bên bờ hồ Ghennêxarét.  Người thấy hai chiếc thuyền đậu dọc bờ hồ, còn những người đánh cá thì đã ra khỏi thuyền và đang giặt lưới.  Ðức Giêsu xuống một chiếc thuyền, thuyền đó của ông Simôn, và Người xin ông chèo thuyền ra xa bờ một chút.  Rồi Người ngồi xuống, và từ trên thuyền Người giảng dạy đám đông.  Giảng xong, Người bảo ông Simôn: Chèo ra chỗ nước sâu mà thả lưới bắt cá”.  Ông Simôn đáp: “Thưa Thầy, chúng tôi đã vất vả suốt đêm mà không bắt được gì cả.  Nhưng dựa vào lời Thầy, tôi sẽ thả lưới”.  Họ đã làm như vậy, và bắt được rất nhiều cá, đến nỗi hầu như rách cả lưới.  Họ làm hiệu cho các bạn chài trên chiếc thuyền kia đến giúp.  Những người này tới, và họ đã đổ lên được hai thuyền đầy cá, đến gần chìm.  Thấy vậy, ông Simôn Phêrô sấp mặt dưới chân Ðức Giêsu và nói: “Lạy Chúa, xin tránh xa con, vì con là kẻ tội lỗi!”  Quả vậy, thấy mẻ cá vừa bắt được, ông Simôn và tất cả những người có mặt ở đó với ông đều kinh ngạc.  Cả hai người con ông Dêbêđê, là Giacôbê và Gioan, bạn chài với ông Simôn, cũng kinh ngạc như vậy.  Bấy giờ Ðức Giêsu bảo ông Simôn: “Ðừng sợ, từ nay anh sẽ bắt người như bắt cá.  Thế là họ đưa thuyền vào bờ, rồi bỏ hết mọi sự mà theo Người.”

Mượn thuyền là để đưa thuyền ra khơi.  Chúa mượn thuyền Phê rô, Chúa mượn thuyền đời tôi.  Những con thuyền cũng có lần ngại ngùng xuống nước.  Rồi một lời đề nghị thả lưới trái quy luật, khó chấp nhận, bởi vì không ai có hy vọng lưới cá ban ngày, nhất là khi nắng đã lên.  Cá chỉ xuất hiện nhiều trong đêm.  Nắng càng lên cao, cá càng lặn sâu.  Thả lưới ban đêm mà vẫn trắng tay, nay lại còn có lời yêu cầu thả lưới ban ngày!  Sóng nghi nan trỗi dậy trong lòng.  Phép lạ hiếm xảy ra trong cuộc đời chài lưới nhiều kinh nghiệm.  Càng thấy mình có kinh nghiệm, càng khó tin lời người khác chỉ bảo.

Rồi từ bàn tay trắng xen lẫn nghi nan, có phép lạ xảy đến.  Phép lạ thứ nhất là lòng Phêrô thay đổi.  Chưa bắt được cá, nhưng lòng biết lắng nghe là đã mở lối cho nhiệm mầu.  Ông để Chúa vào thuyền đời mình.  Con thuyền lâu nay ông tự lèo lái, chẳng cần ai.  Nay ông  thất bại, ông bắt đầu hoài nghi cả chính mình.  Cái hay của Phêrô là nhẹ nhàng chấp nhận, “Thôi Chúa cứ dùng, chứ con nản chí lắm rồi.”  Sẵn lòng để Chúa dùng con thuyền đời mình, là bắt đầu đón nhận nhiều sự lạ.  Chuyện lạ của mẻ cá được bắt đầu từ một thái độ mở lòng, dù nó xen lẫn chút nghi nan.

Cái đẹp của niềm tin là nó được đan quyện trong những giây phút hoài nghi.  Tin mà không có chút hoài nghi có thể là một niềm tin tinh tuyền, nhưng cũng có khi nó lại là một niềm tin non trẻ, chưa trải nghiệm sóng gió.  Tin mà xen lẫn cả nghi nan, mới thấy rõ Ơn Trời nhiệm mầu.  Chúa biết Phêrô hoài nghi, nhưng vẫn can thiệp để biến hoài nghi trở thành niềm tin tưởng.  Vì thế, cảm thông cho những giây phút chán nản trong đời của một ai đó là bắt đầu dìu nhau bước vào ánh sáng của niềm tin.

Thay Đổi Giá Trị Sống

Phêrô choáng ngợp trước thành công vật chất quá lớn.  Chúa của ông lúc này vẫn là Chúa của ban ơn, Chúa của vật chất, và Chúa của nguồn thành công.  Ông vui vì được làm bạn với Chúa, người cho ông quyền lợi, cho ông lợi nhuận.  Ông vui vì từ nay ông không còn sợ kinh nghiệm trắng tay.  Rồi ông sẽ lên bờ rao giảng cho đồng nghiệp, “Hãy theo Chúa đi, rồi sẽ trúng lớn!”  Giá trị cuộc sống của Phêrô cho đến lúc này vẫn chỉ là cá.

Chúa cho Phêrô cá, nhiều lắm, nhưng lại yêu cầu ông từ bỏ nó.  Phêrô ngỡ ngàng, “sao Chúa cho con, rồi lại bảo con từ bỏ?”  Đây là bài học sâu thăm thẳm trong hành trình gọi mời. “Sao Chúa cho con thành công rồi Chúa bảo con bỏ nó đi?”  Rồi sâu trong ký ức, Phêrô lại nghe tiếng nói lúc Chúa mượn thuyền.  Lần lắng nghe trước đã làm nên điều kỳ diệu, nên ông muốn tiếp tục lắng nghe.  Chúa mách bảo với ông, “cá nhiều thì vẫn là cá. Cá không làm cho anh trở thành người.  Bám mãi với cá, đời anh sẽ thoang thoảng với mùi tanh của cá.  Nếu anh muốn làm người, hãy đi theo Đấng đã nhập thể làm người.”

Theo Đấng đã nhập thể làm người là bắt đầu thay đổi giá trị sống: là để Chúa đi vào con thuyền đời mình hơn là tự lèo lái, là khám phá thành công vật chất, địa vị, nghề nghiệp, công danh, quyền lực, ngay cả địa vị trong tôn giáo, chỉ là phương tiện để hướng đến giá trị vĩnh cửu hơn là bám víu vào đó như là cứu cánh, rồi để bước chân lên bờ tìm đến những mảnh đời bị lãng quên.  Có khi những mảnh đời bị lãng quên đó có mặt ngay trong chính gia đình, trong giáo hội, hay lang bạt giữa chợ đời mênh mông

Trong một thoáng giây choáng ngợp, Phêrô chợt hiểu, thành công thật không phải là kết quả, nhưng là hành trình đáp trả lời mời gọi để đi tìm kiếm con người.  Ông bỏ lại phía sau những gì đã đón nhận: con thuyền, mẻ cá, chiếc lưới, chút thành công vội vàng, và cả biển khơi cả cuộc đời gắn bó để theo Đấng đã làm người và mong sao cho mỗi người được trở thành người hơn.

Lạy Chúa, xin cho con hiểu rằng, thất bại lớn nhất không phải là những lần thua cuộc trong chợ đời, nhưng là những lần không đáp trả lời mời gọi từ trên cao, và nhất là khi không sống đúng với cái hình ảnh mà Thiên Chúa muốn con trở thành.  Hôm nay, khi ánh bình minh lên cao, con cũng thấy bước chân của Ngài đi ngang qua con thuyền đời con, con thuyền cũng nhiều lần thất bại trắng tay.  Xin cho con hiểu, mỗi một lần thất bại, là mỗi lần con cần tập khám phá ý nghĩa của thất bại trong ánh sáng của Phúc Âm.  Mỗi một lần thành công, cũng xin cho con hiểu rằng, thành công là quà tặng.  Giữ mãi quà tặng cho riêng mình mà không sinh lợi cho nước Chúa, thì thành công ấy chỉ giống như mẻ cá của Phêrô, có rồi mất theo dòng sông cuộc đời.

Nguyễn Thảo Nam

http://tinvahyvong.blogspot.com/

From: langthangchieutim & Anh chị Thụ Mai gởi

 

Sự hấp dẫn vượt bực của ĐGH Phanxicô tại Vatican

Sự hấp dẫn vượt bực của ĐGH Phanxicô tại Vatican

Nguyễn Long Thao

1/2/2014

VATICAN 02/01/14.- Tin của Reuters cho biết trong vòng 9 tháng qua, tính từ tháng 3 năm 2013 đến cuối tháng 12 năm 2013, số khách tham dự các nghi lễ với Đức Giáo Hoàng Phanxicô tại tòa thánh Vatican đã vượt quá con số 6.6 triệu người. Trong khi đó, suốt năm 2012 chỉ có 2.2 triệu người đến tham dự các nghi lễ của Đức Giáo Hoàng danh dự Bêneđictô XVI.

Vatican cho biết số liệu 6.6 triệu trên đây dựa theo số vé đã phát ra cho khách hành hương trong các dịp có sự hiện diện của ĐGH như các thánh lễ trọng, các buổi triều yết chung và riêng. Đồng thời cũng dựa theo con số ước tính số người tham dự các buổi triều yết hàng tuần của ĐGH dành cho công chúng tại quảng trường thánh Phêrô. Trong các buổi triều yết hàng tuần, khách hành hương không cần vé mời tham dự.

Các con số trên đây không bao gồm số người tham dự các nghi lễ ĐGH cử hành tại Assisi, Lampedusa ở Ý. Riêng tại bờ biển Copacabana ở Rio de Janeiro vào ngày 28 tháng 7 năm 2013 đã có hơn 3 triệu người tham dự ngày cuối cùng của Đại Hội Giới Trẻ Thế Giới.

Theo ký giả của thông tấn xã Reuters, sở dĩ đông đảo người đến Vatican để được nghe và diện kiến ĐGH Phanxicô là vì ngài có phong cách cởi mở, đơn sơ, thân thiện, khó nghèo và đặc biệt chủ trương của Ngài là cải cách Giáo Hội để Giáo Hội gần gũi với người nghèo và ít lên án.

Tưởng cũng nên nói thêm, vào các ngày Chúa Nhật, thường có trên 100,000 người đến quảng trường Thánh Phêrô để đọc kinh truyền tin với ĐGH. Do vậy cảnh sát Ý đã phải đóng cửa đại lộ dẫn đến Vatican để có thể chứa hết số khách hành hương.

Riêng tại Hoa Kỳ, chúng tôi ghi nhận trong những tháng gần đây, không ngày nào trên các cơ quan truyền hình, báo chí là không có bản tin liên quan đến ĐGH Phanxicô, đến nỗi tạp chí Esquire, chuyên viết chuyện những người lừng danh trong giới điện ảnh nghệ thuật đã bình bầu ĐGH Phanxicô là người đàn ông mặc quần áo đẹp nhất trong năm.(Pope Francis Is Best Dressed Man Of 2013, Says Esquire Magazine)

NHÂN LOẠI MỚI

NHÂN LOẠI MỚI

Tác giả: TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Lễ Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa

Ds 6, 22-27; Gal 4, 4-7; Lc 2, 16-21

Tám ngày sau khi sinh, Chúa Giêsu được dâng vào đền thờ, chịu phép cắt bì và được đặt tên theo luật Do thái. Đối với người Do thái, tên là người. Vì thế việc đặt tên có ý nghĩa quan trọng. Giêsu có nghĩa là Thiên-Chúa-cứu. Chúa Giêsu là Thiên Chúa. Con người không thể sinh ra Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa tự nguyện làm con loài người. Nhờ đó Đức Mẹ trở thành Mẹ Thiên Chúa. Sinh ra Chúa Giêsu, Đức Mẹ sinh ra một nhân loại mới để cứu nhân loại cũ do bà Evà sinh ra, đã hư hỏng vì tội lỗi.

Đức Mẹ sinh ra nhân loại mới. Bà Evà sinh ra nhân loại cũ. Nhân loại cũ được sinh ra từ đất thấp. Thiên Chúa muốn nâng con người lên trời cao. Nhưng đất thấp lôi kéo con người chìm xuống. Vì thế con người đã từ địa vị con cái  rơi xuống thân phận nô lệ. Trái lại, Đức Mẹ sinh ra một nhân loại mới. Nhân loại mới sinh xuống từ trời cao. Chúa Giêsu là Adam mới, từ trời hạ mình xuống để nâng con người lên. Giải thoát khỏi tình trạng nô lệ. Phục hồi địa vị làm con Thiên Chúa.

Đức Mẹ sinh ra Chúa Giêsu do lời chúc phúc. Bà Evà sinh con do lời chúc dữ. Sau khi hai ông bà nguyên tổ phạm tội, Thiên Chúa đã tuyên án cho bà Evà: “Ta sẽ làm cho ngươi phải cực nhọc thật nhiều khi thai nghén; ngươi sẽ phải cực nhọc lúc sinh con” (St 3, 16). Trái lại, Đức Mẹ sinh ra Chúa Giêsu do lời chúc phúc như lời thiên sứ: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng”. Và bà thánh Êlizabeth nói: “Em được chúc phúc hơn mọi người phụ nữ, và người con em đang cưu mang cũng được chúc phúc” (Lc 1, 42).

Đức Mẹ sinh con bởi phép Chúa Thánh Thần. Bà Evà sinh con do xác thịt. Như lời Thiên Chúa nói: “Ngươi sẽ thèm muốn chồng ngươi” (St 1, 16). Trái lại, Đức Mẹ sinh con bởi phép Chúa Thánh Thần. Như lời thiên thần truyền: “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà. .. vì thế Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa” (Lc 1, 35). Nếu nhân loại cũ được sinh ra theo xác thịt thì nhân loại mới được sinh ra “không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa” (Ga 1,13).

Đức Mẹ quảng đại sinh ra người con quên mình. Bà Evà ích kỷ sinh ra Ca-in là đứa con ham hố. Vì muốn chiếm vị trí trung tâm, nó đã đẩy em là Abel ra vùng ngoại vi. Loại trừ em. Giết chết em. Trái lại, Đức Mẹ quảng đại sinh ra một người con quên mình. Chúa Giêsu là người anh cả, từ bỏ vị trí trung tâm, đi ra vùng ngoại biên nghèo khổ. Người tự hiến mạng sống, để đưa chúng ta là đàn em trở lại vị trí trung tâm, trong cung lòng Thiên Chúa.

Đức Mẹ mở lòng đón nhận sinh ra một thế giới huynh đệ. Bà Evà đóng kín vào bản thân, sinh ra những đứa con chia rẽ bất hòa. Tháp Babel khiến cộng đồng nhân loại tan rã. Trái lại, Đức Mẹ mở lòng đón nhận, nên đã sinh ra Chúa Giêsu là nhân loại mới sống chan hòa tình huynh đệ. Đón tiếp mục đồng là những người nghèo khổ. Đón tiếp ba vua là những người xa lạ. Để tất cả trở thành anh em một nhà.

Đức Mẹ vâng phục sinh người con hiếu thảo. Bà Evà phản loạn sinh ra những đứa con bất hiếu, chối bỏ Thiên Chúa là Cha. Trái lại, Đức Mẹ vâng phục nên đã sinh Chúa Giêsu là người con hiếu thảo. Nhờ  luôn vâng phục thánh ý Chúa Cha, Chúa Giêsu qui tụ  người muôn nước sống hài hòa dưới mái nhà Cha chung trên trời. Và nhờ đó ta được hưởng hạnh phúc với Chúa như lời thư Galát: “Vậy anh em không còn phải là nô lệ nữa, nhưng là con, mà đã là con thì cùng là người thừa kế, nhờ Thiên Chúa”.

Ngày đầu năm ta mong ước những điều mới mẻ. Nhưng thế giới chỉ đổi mới khi có những con người mới. Điều quan trọng là bản thân ta đổi mới. Chính vì thế Giáo hội cầu bình an và đặt năm mới trong bàn tay Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.

Như xưa Mẹ đã sinh ra Chúa Giêsu, khởi đầu nhân loại mới, nay xin Mẹ cũng sinh lại chúng ta. Để chúng ta trở nên con người mới. Vượt thoát những tầm thường ti tiện của đất thấp, để được sinh lại thanh thoát từ trời cao. Thoát khỏi lời chúc dữ để được sinh lại tràn đầy ân sủng do lời chúc phúc. Thoát khỏi ràng buộc của xác thịt nặng nề để được sinh lại trong Thần Khí tự do.

Con người mới theo khuôn mẫu Chúa Kitô sẽ biết quảng đại cho đi. Biết ra đi đến những miền ngoại biên, gặp gỡ những anh em bị loại trừ, đưa con người trở về vị trí trung tâm. Con người mới sẽ biết mở lòng đón nhận mọi anh em dù khác biệt. Xây dựng thế giới thành một gia đình thân thương, biến thế giới thành một mái nhà chung bình an hạnh phúc. Mọi người trở thành anh em con cùng một Cha trên trời.

Như thế nhân loại được đặt trong bàn tay Thiên Chúa. Và thế giới được chúc phúc như lời Chúa hứa trong sách Dân số: “Chúc như thế là đặt con cái Israel dưới quyền bảo trợ của Ta, và Ta, Ta sẽ chúc lành cho chúng”. Đó chính là nhân loại mới. Đó chính là trời mới đất mới. Đó chính là niềm bình an hạnh phúc ta mơ ước.

Lạy Chúa Giêsu Hài Đồng, Chúa sinh xuống trần để mở ra kỷ nguyên mới. Xin cho con biết sinh lại thành con người mới. Để góp phần xây dựng thế giới an bình hạnh phúc trong tình huynh đệ chân thành. Amen.

Tác giả: TGM. Jos Ngô Quang Kiệt

Nhìn lại năm 2013

Nhìn lại năm 2013

Chuacuuthe.com

VRNs (02.01.2014) – California, USA – Năm 2013 đã khép lại với nhiều diễn biến. Sống trong thời đại lớn mạnh của mạng xã hội, nhân loại đã đón nhận quá nhiều biến cố xảy ra, chưa kịp thẩm thấu thì nhiều sự kiện khác lại dồn dập ập đến. Do đó làm công việc điểm lại tình hình đã xảy ra trong năm 2013 không phải là công việc đơn giản trước hàng ngàn sự kiện đã đi vào ký ức của nhân loại.

THẾ GIỚI 2013

Trước hết, điểm qua tình hình thế giới, có mấy biến cố sau đây được coi là nổi bật vì  thu hút khá nhiều sự chú ý của truyền thông quốc tế.

Thứ nhất là Siêu bão Haiyan đổ bộ Phi Luật Tân: Cơn bão chết người ập vào Phi ngày 8 tháng 11 có quy mô mạnh nhất kể từ siêu bão Tehlma năm 1991. Bão Haiyan đổ bộ vào quần đảo với sức gió lên tới 272km/h (nhanh hơn 32km/h so với sức gió tâm bão Katrina) khiến sóng biển cao tới 6 thước ập vào bờ, cướp đi hơn 5 ngàn sinh mệnh và làm cho 2 triệu người sống cảnh màn trời chiếu đất. Trong nỗ lực cứu giúp các nạn nhân của trận bão Haiyan tại Phi Luật Tân, Cộng đồng người Việt tại Hải ngoại và một số Bloggers Việt Nam đã đóng góp một số hiện kim đáng kể qua các buổi văn nghệ, dạ tiệc gây quỹ. Đây là một nghĩa cử nhằm cảm tạ ơn cứu giúp của chính quyền và nhân dân Phi trong cuộc chiến tự vệ tại Miền Nam trước năm 1975 và cứu giúp thuyền nhân Việt Nam sau năm  1975.

Thứ hai là cựu tổng thống Nam Phi Nelson Mandela qua đời: Ông Nelson Mandela qua đời ở tuổi 95 vào ngày 5/12 tại nhà riêng  ở Houghton, Johannesburg, Nam Phi, sau một thời gian dài chống chọi với căn bệnh viêm phổi. Ông được Tổng thống Obama đánh giá là người “nắm giữ lịch sử trong tay và hướng nhân loại đến sự công bằng”. Có hơn 100 nguyên thủ quốc gia và các nhân vật quan trọng trên thế giới đã đến tham dự tang lễ của ông.

14010204

Thứ ba là chính quyền Morsi của Ai Cập bị giải thể: Sau những bất lực hòa giải với phe đối lập, ngày 3 tháng 7, Tướng, Abdul Fatah el-Sisi, đại diện quân đội Ai Cập đã tuyên bố rằng quân đội đã phế truất Tổng thống Mohamed Morsi, người được bầu lên sau 1 năm cầm quyền kể từ khi chính quyền độc tài Mubarak bị sụp đổ. Ông Morsi thuộc nhóm Huynh Đệ Hồi Giáo đã quá vội vã uốn nắn Ai Cập đi theo con đường Hồi Giáo khiến cho phe đối lập chống đối và bị quân đội truất phế sau những cuộc biểu tình lan rộng trên toàn quốc.

Thứ tư là chính biến tại Thái Lan: Sau khoảng ba năm tương đối ổn định, tình hình Thái Lan đã trở nên sôi động khi chính quyền Thủ tướng Yingluck Shinawatra của đảng Pheu Thai cho thông qua một đạo luật ân xá tất cả các đảng phái cũng như các cá nhân liên quan đến các vụ bạo động đường phố và bị bắt giữ kể từ năm 2004. Phe đối lập cho rằng đạo luật ân xá này nhằm giúp cho cựu Thủ tướng Thaksin đang lưu vong, là anh trai của Thủ tướng Yingluck, có cơ hội quay trở lại chính truờng Thái Lan. Đại diện phe đối lập là Phó Thủ tướng Suthep Thaugsuban của đảng Dân Chủ đã chỉ huy các cuộc biểu tình với mục tiêu rõ rệt là lật đổ chính quyền của nữ Thủ tướng Yingluck. Trước tình thế này, Thủ tướng Yingluck đã tuyên bố giải tán quốc hội và tổ chức tổng tuyển cử vào ngày 2 tháng 2 năm 2014 nhưng phe đối lập tẩy chay không tham gia cuộc bầu cử.

Thứ năm là Iran đối thoại với Hoa Kỳ: Nhân dịp đến Nữu Uớc tham dự Hội nghị thường niên của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào tháng 9, Tổng thống Hassna Rouhani được bầu lên tại Iran hồi tháng 6 đã có cuộc điện đàm lịch sử với Tổng thống Obama, chấm dứt 3 thập niên đối nghịch.  Cuộc điện đàm dài khoảng 15 phút do Tổng thống Rouhani đề xướng diễn ra trước khi phái đoàn Iran rời Nữu Ước mà trọng tâm chính xoay quanh nỗ lực đạt được một thỏa thuận về vấn đề hạt nhân. Hai tháng sau, Iran đã đi tới một thỏa thuận sơ bộ với Mỹ và một số cường quốc khác (Iran và nhóm P5+1 (gồm Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Trung Quốc và Đức) về kiểm soát chương trình hạt nhân để đổi lấy việc dỡ bỏ lệnh cấm vận kinh tế.

Thứ sáu là vụ Edward Snowden tiết lô bí mật tình báo Hoa Kỳ: Edward Snowden, cựu nhân viên cơ quan an ninh Hoa Kỳ (NSA) đã trở thành tâm điểm của dư luận thế giới trong nhiều tháng q         ua khi tiết lộ về chương trình thu lén của tình báo Hoa Kỳ đối với các quốc gia đã tạo một sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ với nhiều quốc gia đồng minh. Theo tiết lộ của Snowden, toàn bộ hệ thống máy chủ của các tập đoàn truyền thông lớn như Verizon, Microsoft, Google, Facebook, Apple, Yahoo, PalTalk, Skype, YouTube… đã bị cơ quan an ninh quốc gia (NSA) trực tiếp xâm nhập nhằm kiểm tra các đoạn phim, ảnh, tư liệu của người sử dụng, kể cả công dân Mỹ và công dân các nước khác trên thế giới. Chương trình này được NSA gọi tên là “PRISM” bắt đầu tiến hành từ năm 2007. Quan hệ Mỹ – Nga đã trở nên xấu đi kể từ khi Mạc Tư Khoa chấp nhận cho Snowden tỵ nạn chính trị tại Nga.

Thứ bảy là Trung Quốc tuyên bố lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên biển Hoa Đông: Đúng 1 năm sau khi Tập Cận Bình lên nắm quyền tại Trung Quốc vào mùa Thu năm 2012, Bắc Kinh đã đơn phương tuyên bố thành lập vùng nhận dạng phòng không trên vùng biển Hoa Đông, bao trùm lên không phận quần đảo Senkaku đang tranh chấp với Nhật Bản khiến cho tình hình Đông Á trở nên căng thẳng. Nhật Bản, Hoa Kỳ và Nam Hàn đều lên tiếng phản đối và  cáo buộc hành động này của Trung Quốc là “leo thang thành chiến tranh khu vực”. Tuy nhiên, theo đánh giá chung của dư luận thế giới thì tuyên bố của Trung Quốc mang tính hù dọa nhiều hơn là thực chất vì khả năng kiểm soát của không lực Trung Quốc còn rất yếu kém so với Nhật Bản, Hoa Kỳ.

Thứ tám là biến động bất ngờ bùng nổ tại Campuchia: Những cuộc biểu tình rầm rộ có lúc lên đến hàng chục ngàn người diễn ra liên tục trên đường phố Campuchia vào đầu tháng 12 đã thu hút sự quan tâm của thế giới về khả năng vươn lên của phe đối lập sau 3 thập niên bị kiểm soát độc quyền của đảng Nhân dân do Thủ tướng Hun Sen lãnh đạo. Cuộc biến động khởi đi từ khi đảng Cứu Nguy Dân Tộc do ông Sam Ramsy lãnh đạo chống lại kết quả bầu cử Quốc hội Campuchia vào tháng 7 và đòi mở một cuộc điều tra độc lập về cuộc bầu cử. Thủ tướng Hun Sen đã bác bỏ yêu cầu này khiến cho 55 dân biểu tân cử của đảng Cứu nguy dân tộc đã không chịu nhận ghế trong Quốc hội 123 đại biểu. Họ muốn ông Hun Sen phải từ chức và tổ chức một cuộc bầu cử thứ hai vào năm tới. Ông Hun Sen cũng đã bác bỏ cả hai yêu cầu này.

Đảng Cứu nguy dân tộc đã tổ chức các cuộc tụ tập và tuần hành hàng ngày ở thủ đô Phnom Penh, thu hút đủ thành phần trong xã hội từ công nhân viên chức chán ngán với mức lương thấp, cho đến người dân bình thường ê chề vì tham nhũng, những nhà sư Phật giáo lên tiếng chống lại các cấp cao hơn trong giáo hội dễ dãi với đảng cầm quyền, và các công nhân dệt may phẫn nộ trước thông báo của chính phủ nâng mức lương tối thiểu từ 80 lên 95 Mỹ Kim một tháng. Rốt cuộc là ngày 30 tháng 12 vừa qua, ông Hun Sen chấp nhận cuộc đối thoại với ông Sam Ramsy để giải quyết cuộc khủng hoảng vào ngày 2 tháng 1 năm 2014.

Nhìn qua những sự kiện tiêu biểu nói trên, nếu loại bỏ đi những biến cố do thiên tai xảy ra như trận bão Haiyan đổ bộ lên Phi Luật Tân hay những biến động mang tính chất khu vực như  tại Ai Cập, Thái Lan, Campuchia và sự ra đi của cựu Tổng thống Neson Mandela, chúng ta thấy rằng có ba biến cố thế giới đáng quan tâm vì có tầm ảnh hưởng kéo dài vào những năm trước mặt.

1/ Việc Edward Snowden tiết lộ những thông tin mật của tình báo Hoa Kỳ phải nói là nó làm sứt mẻ không những uy tín mà còn là sự tin tưởng của các nước đối với sự lãnh đạo của Hoa Kỳ trong thời gian tới về mặt an ninh và chống khủng bố. Nếu Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới suốt trong gần 7 thập niên qua nhờ vào sức mạnh kinh tế và quân sự thì những tiết lộ của Snowden có tính cách hủy diệt niềm tin và làm cho Hoa Kỳ ngày bị suy yếu về thế lãnh đạo của mình.

2/ Việc Iran có những dấu hiệu hòa hoãn với Hoa Kỳ khi ký hiệp định sơ bộ về kiểm soát vũ khí hạt nhân là một tiến bộ đáng ca ngợi vì qua hiệp định này, sẽ mở ra những cuộc đối thoại giữa Iran và Hoa Kỳ cũng như các quốc gia Tây phương để tìm kiếm những giải pháp hòa bình cho vùng Trung Đông nói chung, và nhất là giải quyết những xung đột trong khối Hồi giáo. Nếu giải quyết được bài toán Iran, Tổng thống Obama có thể rảnh tay hơn ở Trung Đông để đẩy mạnh chiến lược xoay trục về Á Châu Thái Bình Dương mạnh mẽ hơn trong những năm tới.

3/ Việc Trung Quốc đưa ra tuyên bố vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) trên vùng biển Hoa Đông là một nhu cầu của ông Tập Cận Bình nhằm chứng tỏ sức mạnh của Bắc Kinh đối với Tokyo trong vụ tranh chấp quần đảo Senkaku. Nhưng quyết định của Trung Quốc đã mở đường cho Hoa Kỳ tiến vào vùng Đông Á cũng như tái phối trí lực lượng quân sự trên vùng biển Thái Bình Dưong mà không bị bất cứ chống đối nào. Nhất là vào lúc mà những động thái xảy ra tại Bắc Triều Tiên qua việc thanh trừng thượng tầng lãnh đạo nằm ngoài khả năng hiểu biết của Trung Quốc.

VIỆT NAM 2013

Điểm qua tình hình Việt Nam, so với nhiều năm trước đây nhờ vào sự phát triển của mạng truyền thông “lề trái” đã giúp cho nhiều biến cố xảy ra được loan tải nhanh chóng, khiến cho Hà Nội không kịp ém nhẹm. Năm 2013 đã có một số sự kiện xảy ra trên các mặt của xã hội từ vụ làm giả hài cốt liệt sĩ, vụ phát giác án oan 10 năm của ông Nguyễn Thanh Chấn, vụ cháy nổ cây xăng tại Hà Nội, vụ chính quyền đổ 30 ngàn tỷ đồng cứu bất động sản, vụ bác sĩ thẩm mỹ viện Cát Tường ném xác nạn nhân xuống sông để phi tang cho đến những vụ mang tính chính trị như vụ sửa đổi hiến pháp 1992, vụ bắt giữ hai Blogger Trương Duy Nhất và Phạm Viết Đào, vụ xét xử 14 thanh niên Công Giáo và Luật sư Lê Quốc Quân, vụ ông Trương Tấn Sang đi thăm Trung Quốc và Hoa Kỳ. Nhưng đáng chú ý nhất có thể tạm nêu ra một số sự kiện như sau:

Thứ nhất là vụ CSVN sửa đổi và thông qua bản hiến pháp 1992: Sau gần 1 năm vận động sự góp ý của dư luận về bản sửa đổi hiến pháp 1992 vào đầu năm 2013, Ban soạn thảo hiến pháp nói rằng họ đã tu sửa đến 4 lần và đã trình cho Quốc hội CSVN thông qua vào ngày 28 tháng 11, trong đó có 2 đại biểu không bỏ phiếu. Hiến pháp lần này tuy vẫn giữ nguyên chế độ chính trị độc đảng nhưng được bổ xung một số điểm mới nhằm củng cố bộ máy cai trị của chế độ, đó là: (a) dành hẳn một Chương đề cập về Quyền Con Người để xoa dịu dư luận trong nước và quốc tế trước những lên án về vi phạm nhân quyền; và (b) nâng vai trò Chủ tịch nước nhiều quyền hạn hơn để cân bằng quyền lực của Thủ tướng trong lúc vai trò Tổng bí thư đảng càng lúc càng lu mờ đối với hệ thống nhà nước.

Tuy nhiên điểm đáng nói của việc sửa đổi hiến pháp năm 2013 chính là tạo ra những chấn thương trong nội bộ đảng CSVN với 3 hệ quả đáng chú ý: 1/ Sự yếu kém của lãnh đạo CSVN qua những phát biểu bất nhất về vấn đề góp ý sửa đổi khiến cho dư luận lên án gay gắt và coi thường tư cách lãnh đạo của các ủy viên bộ chính trị; 2/ Nội bộ đảng phân hóa với hai khuynh hướng giữ và bỏ điều 4 hiến pháp và từ đó nảy sinh hiện tượng kêu gọi bỏ đảng để lập đảng đối lập với đảng Cộng sản Việt Nam qua sự kêu gọi của ông Lê Hiếu Đẳng; 3/ Sự góp ý về nội dung bản hiến pháp, nhất là về điều 4 hiến pháp, đã tạo ra một làn sóng phê phán đảng CSVN trong hàng ngũ trí thức, cựu cán bộ, góp phần rất lớn cho việc liên kết hàng ngũ những người yêu chuộng tự do dân chủ làm nền tảng cho sự xuất hiện xã hội dân sự tại Việt Nam.

Thứ hai là sự xuất hiện nhiều đoàn thể xã hội dân sự trong năm 2013: Nếu năm 2006 đánh dấu sự liên kết các nỗ lực cá nhân để hình thành khối 8406 thì hơn 7 năm sau, sự xuất hiện hàng loạt các đoàn thể tự phát như Hội anh em dân chủ, nhóm Blogger Việt Nam, Hội phụ nữ nhân quyền, nhóm chức sắc tôn giáo, Hội bầu bí tương thân, Diễn đàn xã hội dân sự …là những tập hợp tuy mang những hình thức khác nhau nhưng có chung một chủ đích là xây dựng những nhóm quần chúng nằm ngoài sự chi phối của chính quyền. Đây là một nhu cầu và cũng là diễn tiến phải đến khi xã hội Việt Nam chuyển mình để có những thay đổi rốt ráo hơn trong lúc chính quyền bất lực trước những vấn nạn của đất nước, cùng lúc lại cố kiềm hãm để duy trì sự độc tôn cai trị.

Sự ra đời của xã hội dân sự đã đưa đến hai hiện tượng đáng chú trọng trong năm 2013: 1/ Tinh thần đấu tranh và bảo vệ cho nhau đã thể hiện rõ nét khi có một số Blogger bị bắt thì những người còn lại nỗ lực báo động và tranh đấu cho đến khi những Blogger bị bắt được tự do, kéo nhau đi thăm tù, hoặc hàng trăm người tham gia biểu tình bên ngoài đường phố phản đối phiên tòa phi lý đang xét xử sinh viên Phương Uyên hay Luật sư Lê Quốc Quân đang diễn ra; 2/ Mở rộng sự nối kết giữa những người trong và ngoài đảng CSVN, bày tỏ những quan tâm chung về dân chủ, về đa nguyên chính trị, về chấm dứt độc tài và phê phán các sai lầm của lãnh đạo một cách công khai, rầm rộ, bất chấp những trấn dáp, trù dập của chế độ.

14010206

Thứ ba là vụ Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua đời: Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ra đi ở tuổi 103 vào lúc 18 giờ 09 phút ngày 4 tháng 10 tại bệnh viện quân đội 108 ở Hà Nội sau nhiều năm phải sống nhờ vào sự chăm sóc đặc biệt của bệnh viện. Sự ra đi của ông Giáp đã để lại sự thương mến của nhiều người dân ở Miền Bắc vốn sống trong bối cảnh bưng bít về giai cấp lãnh đạo kéo dài trong nhiều năm. Trong ngày tiễn đưa ông, hàng chục ngàn người đã sắp hàng trên đường phố để tiễn đưa ông. Các nhà hoạt động trong nước coi hiện tượng đông đảo người dân đến viếng linh cữu và tiễn đưa ông Giáp đã nói lên sự bực tức của họ đối với chế độ hiện hành. Mặc dù Tướng Giáp có công dựng đảng cùng thời với ông Hồ Chí Minh; nhưng Tướng Giáp đã không được trọng dụng hay nói khác hơn là không được kính trọng bằng các ông Trường Chinh, Phạm Văn Đồng. Một phần có thể do những kèn cựa phe nhóm trong nội bộ cấp lãnh đạo; nhưng về bản chất thì ông Võ Nguyên Giáp không phải là con người năng động nên dù ông sống lâu, nhưng không đóng góp gì nhiều cho đất nước Việt Nam ở vào giai đoạn cuối cuộc đời.

Thứ tư là vụ Sinh Viên Nguyễn Phương Uyên được trả tự do: CSVN qua phiên tòa sơ thẩm tòa án Long An vào ngày 16 tháng 5, đã xử sinh viên Phương Uyên 6 năm tù giam và Đinh Nguyên Kha 8 năm tù giam về tội tuyên truyền chống chế độ mà thực chất chỉ là tham gia biểu tình chống Trung Quốc. Kết quả vụ án đã tạo ra sự bất mãn tột độ trong dư luận Việt Nam và thế giới. Một số trí thức đã khởi xướng cuộc vận động chữ ký với một kiến nghị gửi ông Trương Tấn Sang yêu cầu hủy bỏ bản án phi lý đối với Phương Uyên và Đinh Nguyên Kha. Trong chuyến viếng thăm Hoa Kỳ vào cuối tháng 7, ông Trương Tấn Sang cũng đã bị Tổng thống Obama đặt vấn đề về trường hợp Phương Uyên và nhiều tù nhân chính trị khác. Vì thế, trong phiên tòa phúc thẩm ngày 16 tháng 8, tòa án Long An đã thả sinh viên Phương Uyên ngay tại tòa, Đinh Nguyên Kha giảm còn 4 năm tù giam.

Thứ năm là vụ ông Lê Hiếu Đằng tuyên bố ra khỏi đảng CSVN: Ông Lê Hiếu Đằng là luật gia, Phó chủ nhiệm Hội đồng Tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban Trung ương Mặt Trận Tổ Quốc, nguyên là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tại Sài Gòn. Tính đến năm 2013, ông Đằng đã tham gia đảng CSVN đúng 45 năm. Ông Lê Hiếu Đằng là một trong những người đi đầu trong phong trào biểu tình chống Trung Quốc và là người đầu tiên ký tên vào kiến nghị 72 trong đợt sửa đổi Hiến Pháp 2013. Tháng 8 năm 2013, trong bài viết “Suy nghĩ trong những ngày nằm bịnh”, ông Lê Hiếu Đằng đã công khai nói lên những suy nghĩ của mình. Ông Lê Hiếu Đằng cho rằng đảng CSVN hiện nay đã phản bội lý tưởng cách mạng, phản bội nhân dân, phản bội những người góp phần xây dựng nên chế độ, trong đó có ông, cũng như việc cần thiết phải dân chủ hóa, xây dựng thể chế đa đảng để cứu đất nước thoát khỏi tình thế nguy cấp hiện tại. Ông kêu gọi đảng viên CSVN từ bỏ đảng và thành lập chính đảng mang tên đảng Dân chủ xã hội chẳng hạn.

Bài viết của ông Lê Hiếu Đằng đã tạo một số những phản ứng khác nhau trong dư luận Việt Nam và quốc tế. Vào ngày 4 tháng 12, ông Lê Hiếu Đằng đã công bố bản tuyên bố từ bỏ đảng CSVN vì theo ông, “Đảng Cộng sản Việt Nam bây giờ không còn như trước mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân”. Đồng cảm trước sự tuyên bố của ông Lê Hiếu Đằng, Tiến sĩ Phạm Chí Dũng và Bác sĩ Nguyễn Đắc Diên cũng đã công bố tâm tư từ bỏ đảng CSVN khiến cho lãnh đạo CSVN phải viết một số bài vở xuyên tạc nhằm trấn an nội bộ đảng.

Thứ sáu là vụ CSVN xét xử hàng loạt vụ án liên quan đến điều 79: Trong năm 2013, CSVN đã đưa ra xét xử hàng loạt các vụ án tập thể dưới cái gọi là “âm mưu lật đổ chế độ” theo điều 79 Luật hình sự. Đầu tiên là hai ngày 8 và 9 tháng 1, CSVN đưa ra xét xử 14 thanh niên Công giáo và Tin lành tại Thành Phố Vinh với tổng số mức án lên đến 84 năm tù giam và quản chế sau khi mãn tù. Hai tuần lễ sau từ ngày 28 tháng 1 đến ngày 1 tháng 2, CSVN đã đưa ra xét xử 22 người trong một tổ chức tôn giáo có tên là Công án Bia Sơn tại Phú Yên cũng với tội danh lật đổ chính quyền theo điều 79 Luật hình sự. CSVN đã kết án ông Phan Văn Thu, người đại diện Công án Bia sơn tù chung thân, còn 21 người còn lại bị kết án từ 13 đến 20 năm. Cũng tại Phú Yên, ngày 11 tháng 9, Tòa án Phú Yên đã đưa ông Ngô Hào ra xử với cáo buộc là âm mưu lật đổ chế độ với bản án 15 năm tù giam.

Đặc biệt là qua sự vận động của Giáo sư Luật Weiner thuộc Viện Đại học Stanford, Hoa Kỳ đã đưa vụ án xét xử phi lý đối với 14 Thanh niên Công giáo lên Ủy Ban Điều Tra về Bắt giữ Tùy tiện của Liên Hiệp Quốc, do Cao Ủy Nhân Quyền LHQ thành lập để có yêu cầu điều tra và phán quyết. Kết quả là đầu tháng 12/2013, Ủy ban nói trên đã đưa ra phán quyết rằng việc bắt giữ và kết án 14 thanh niên công giáo là tùy tiện. Ủy Ban kêu gọi trả tự do cho 14 thanh niên ngay lập tức, hoặc bản án phải được xem xét lại bởi một tòa án độc lập.

Thứ bảy là Nguyễn Tấn Dũng đọc diễn văn tại Diễn Đàn Đối thoại Sangri La: Ngày 31 tháng 5, ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng CSVN, có bài diễn văn đọc tại Diễn Đàn Đối Thoại Sangri La Tân Gia Ba đưa ra một số quan điểm mà theo nhiều nhà bình luận cho rằng Hà Nội đã có một số thay đổi quan điểm về Hoa Kỳ. Trong bài phát biểu, ông Dũng ám chỉ Trung Quốc “đã có những đòi hỏi phi lý, những hành động trái với luật pháp quốc tế, mang tính áp đặt và chính trị cường quyền.” Trong khi đó, ông Dũng đã chính thức đề cao Hoa Kỳ bên cạnh Trung Quốc là hai cường quốc có vai trò và trách nhiệm lớn nhất trong khu vực Á Châu và Thế Giới. Cũng trong bài phát biểu, ông Dũng nói rằng Hà Nội muốn tạo dựng quan hệ đối tác chiến lược với 5 cường quốc trong Hội đồng bảo an Liên Hiệp Quốc là Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Trung Quốc và Nga. Trong 5 cường quốc này, CSVN chỉ chưa xúc tiến quan hệ đối tác chiến lược với Hoa Kỳ mà thôi.

Các nhà bình luận cho rằng, bài phát biểu của ông Dũng cho thấy là trong tình huống hiện nay, bộ chính trị CSVN muốn mở rộng quan hệ với Hoa Kỳ để tránh bớt sức ép từ phía Bắc Kinh. Tuy nhiên đa số lãnh đạo Hà Nội vẫn còn coi Hoa Kỳ là thế lực thù địch đang tìm cách lật đổ thể chế cộng sản bằng “diễn biến hòa bình” nên các trao đổi vẫn còn nằm trong khuôn khổ thăm dò, chưa thực sự tiến hành như hai phía đã cam kết hợp tác toàn diện qua các bản Thông cáo chung, đặc biệt là Tuyên bố chung 9 điểm giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Trương Tấn Sang hồi cuối tháng 7.

Qua một số biến cố xảy ra tại Việt Nam, chúng ta thấy rằng ba biến cố liên quan đến: 1/ Sửa đổi hiến pháp 1992; 2/ Xuất hiện một số đoàn thể xã hội dân sự; 3/ Tuyên bố bỏ đảng CSVN của các ông Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đắc Diên sẽ tiếp tục có những tác động lên tình hình năm 2014 và 2015,  nhất là vào những chuẩn bị đại hội đảng CSVN kỳ XII vào tháng 1 năm 2016. Một số những diễn biến bao gồm:

1/ Hiến pháp mới sẽ áp dụng từ đầu năm 2014, qua đó vai trò Chủ tịch nước của ông Trương Tấn Sang sẽ thay đổi với nhiều quyền lực hơn để cân bằng quyền hạn bên phía chính phủ do ông Nguyễn Tấn Dũng lãnh đạo, làm mưa làm gió từ năm 2006 đến nay. Cả hai ông Sang và ông Dũng đều là những nhân vật sáng giá để nắm giữ ghế Tổng bí thư đảng sau khi ông Nguyễn Phú Trọng về hưu vào đầu năm 2016, nên cả hai sẽ tranh giành thế chủ đạo về nhân sự và quyền lực của mình để tiếp tục nắm quyền trong 5 năm tới. Trong cuộc chạy đua này, một trong hai người sẽ phải bị loại và vì thế mà xung đột thượng tầng sẽ xảy ra gay gắt giữa phe ông Sang và phe ông Dũng trong 2 năm tới.

2/ Sự xuất hiện các đoàn thể xã hội dân sự trong năm 2013 sẽ ngày một phát triển và mở rộng địa bàn hoạt động vì CSVN khó có thể ngăn chận, ngoại trừ Bộ công an dàn dựng ra một số sự kiện ngụy tạo để kết án nhóm này, hội kia là có âm mưu lật đổ chế độ, dựa theo điều 79 Luật hình sự để kết án. Nhưng trong bối cảnh có nhiều Tổ chức phi chính phủ thế giới chú ý theo dõi những ứng xử của Hà Nội trong tư cách thành viên Hội đồng nhân quyền Liên Hiệp Quốc và vụ đàm phán gia nhập TPP, khiến cho CSVN phải thận trọng trong việc tung ra những trấn áp các sinh hoạt của xã hội dân sự.

3/ Tuyên bố ra khỏi đảng của ông Lê Hiếu Đằng, Phạm Chí Dũng và Nguyễn Đắc Diên đã buộc các đảng viên đảng CSVN khác phải suy nghĩ về thân phận của chính họ. Nói cách khác là kể từ ngày 4 tháng 12 vừa qua, hơn 70% khối đảng viên thầm lặng, mang ít nhiều sự bất mãn về tình hình suy thoái của đảng và đất nước hiện nay, sẽ phải suy nghĩ về tương lai của chính họ để có những chọn lựa phù hợp. Nếu số đông không rời bỏ đảng hàng loạt như ông Lê Hiếu Đằng kêu gọi thì số đông này cũng sẽ âm thầm rút lui, không tham gia sinh hoạt đảng và chờ đợi ngày quật khởi từ  số đông quần chúng bất mãn.

***

Tóm lại, trong số những biến cố thế giới xảy ra trong năm 2013, vụ án cựu nhân viên tình báo Edward Snowden tiết lộ những thông tin mật của NSA đã làm đối với các quốc gia đồng minh của Hoa Kỳ sẽ có tác động tiêu cực lâu dài, làm sứt mẻ không những uy tín mà còn niềm tin vào Hiệp Chủng Quốc rất lớn. Hoa Kỳ sẽ phải vất vả đối phó và lấy lại niềm tin từ các nước ít nhất là trong 5 năm tới.

Trong khi đó, vụ sửa đổi hiến pháp vừa qua tại Việt Nam đã cho chúng ta thấy một hình ảnh tiêu biểu của lãnh đạo CSVN. Đó là bất tín, bất nhất trong lời hứa tôn trọng những góp ý của nhân dân, giữ chặt quyền lực bằng mọi giá, và bộ chính trị cố loay hoay tô vẽ bộ mặt nhân quyền qua việc đưa hẳn một chương về quyền con người và tái phối trí bộ máy quyền lực để thích ứng với nhu cầu mới của tình hình. Tuy nhiên, mọi thủ thuật sửa đổi hiến pháp để tạo dáng vẻ dân chủ đã bị phản tác dụng nặng nề, tạo thêm những phẫn nộ trong đảng và quần chúng, đồng thời đưa tới một hệ quả quan trọng, đó là tạo đà, thêm trớn cho khuynh hướng đòi dân chủ vươn cao. Phong trào dân chủ tại Việt Nam sẽ có những bước đột phá trong năm 2014 mà đích nhắm chính là sự phát triển rộng khắp của các đoàn thể xã hội dân sự dưới nhiều hình thức, và hiện tượng thoái đảng, bỏ đảng CSVN sẽ nở rộ trong nhu cầu thành hình một bối cảnh đa nguyên của đất nước.

Lý Thái Hùng

Tận dụng thời gian

Tận dụng thời gian

Chuacuuthe.com

VRNs (03.01.2013) – Sài Gòn – Năm cũ qua, năm mới tới. Chúng ta không biết năm mới sẽ ra sao, và nhiều người không biết dùng 365 ngày như thế nào.

Khi còn trẻ, Lm Marcos Gonzalez, quản xứ Thánh Gioan Chrysostom ở Inglewood (California, Hoa Kỳ), đã thấy phía trên chiếc đồng hồ lớn có khắc chữ “Tempus Fugit” – La ngữ nghĩa là “thời giờ trôi qua”, như Việt Nam nói: “Thời giờ thấm thoắt thoi đưa, nó đi đi mãi có chờ đợi ai”.

Lm Marcos Gonzalez cho biết: “Khi tôi hỏi mẹ tôi điều đó là chữ gì, mẹ tôi nói là THỜI GIỜ TRÔI QUA. Tôi ngạc nhiên và hỏi nghĩa là gì. Bà nói: ‘Cuộc đời ngắn ngủi, hãy dùng mỗi ngày cho tốt’. Từ đó, tôi luôn ghi nhớ”.

Lời khuyên đó là lời nhắc nhớ chúng ta mỗi khi năm mới khởi đầu. Tận dụng thời gian Chúa dành cho chúng ta phải là ưu tiên số một.

14010212

Lm James Kubicki, Dòng Tên, người phụ trách trang web ApostleshipOfPrayer.org, nói: “Điều quan trọng nhất đối với chúng ta là nhận biết rằng thời gian là điều quý giá nhất mà chúng ta có, chúng ta sống trong thời gian, thế nên khi chúng ta sử dụng thời gian là chúng ta dùng điều quý giá nhất”. Chúng ta nên tự vấn: “Tôi có đang dùng thời gian đúng như Chúa muốn không?”

Lm Jay Finelli, quản xứ Thánh Linh ở Tiverton, R.I., quản lý trang iPadre.net, nói: “Khi chúng ta trẻ, chúng ta nghĩ mình còn nhiều thời gian. Nhưng thời gian như cát, nó rơi qua các kẽ ngón tay của chúng ta”.

Mặc dù kỹ thuật có thể dùng làm công cụ để học tập, truyền bá Phúc âm và giao tiếp, chúng ta cũng có thể lãng phí thời gian vào các thiết bị hiện đại. Sự thật là nếu chúng ta không nghỉ ngơi và sống cầu nguyện và cân nhắc xem điều gì Chúa muốn, chúng ta chỉ để cho ngày tháng trôi qua mà không dùng thời gian đúng Ý Chúa.

Tác giả Thánh vịnh đã cầu nguyện: “Xin dạy chúng con đếm tháng ngày mình sống, ngõ hầu tâm trí được khôn ngoan” (90:12). Chúng ta cần nhìn vào cuộc đời mình trước, nhất là đời sống tâm linh. Chúng ta đang làm gì cho cuộc đời mình để sống với Thiên Chúa và Đức Kitô? Dành thời gian cho Chúa phải là ưu tiên. Nhưng chúng ta lại thường đặt Ngài ở cuối cùng. Chúng ta thực sự nên dành thời gian cho Chúa vì chúng ta muốn dùng thời gian cho Ngài vì sự sống đời đời.

Dành thời gian cho Chúa là thế nào? Pia de Solenni viết nhận xét trên trang PiadeSolenni.com thế này: “Đó là làm cho Thánh lễ là trung tâm của đời sống. Chúng ta nên coi Thánh lễ là trung tâm điểm và là kiểu mẫu cho cuộc đời mình. Bất cứ điều gì xảy ra trong cuộc đời chúng ta, chúng ta nên coi đó như diễn biến trong Thánh lễ. Nếu chúng ta có một ngày tồi tệ hoặc một ngày hạnh phúc, chúng ta có thể coi đó là đau buồn hoặc vinh quang trong Thánh lễ. Cuộc sống và Thánh lễ không là hai thế giới riêng biệt”.

Lm Finelli đề nghị thêm những cách dành thời gian sống với Chúa Giêsu, chẳng hạn như đọc Kinh thánh, lần Chuỗi Mân Côi, lần Chuỗi Lòng Chúa Thương Xót, đọc sách hạnh các thánh, đọc sách đạo đức,… Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu là tấm gương sáng về việc dùng thời gian một cách khôn ngoan, “Con Đường Nhỏ” của Chị là một triết lý sống.

Đó là cách làm mọi thứ, dù là việc nhỏ nhất, nhưng vẫn làm vì yêu mến Thiên Chúa. Theo đó, chúng ta cũng sử dụng thời gian như vậy. Mọi khoảnh khắc trong cuộc đời chúng ta nên sống vì yêu mến Thiên Chúa. Việc gì cũng trở nên có giá trị nếu làm vì yêu mến Chúa, vì Nước Trời, vì sống đức tin: Cầu nguyện, làm việc nhà, mưu sinh, học tập, vui chơi, giải trí, nghỉ ngơi, ngủ,…

Chúng ta có thể sống trong sự thánh thiện, và chúng ta sẽ càng ngày càng nhận biết qua mỗi khoảnh khắc quý giá mà chúng ta có để dâng lên Thiên Chúa.

Lm Gonzalez cho biết: “Lúc cuối đời, nhiều người đã hối tiếc vì không cầu nguyện đủ, không dành đủ thời gian cho Chúa, không dành thời gian cho con cái, cha mẹ hoặc người thân. Đó là những điều hối tiếc vì chúng ta không dùng đúng thời gian mà Chúa dành cho mình.

Ngày hôm nay, ngay lúc này, hãy nhìn lại chính mình và cố gắng khắc phục trước khi quá muộn: Thời gian thắm thoắt thoi đưa, nó đi đi mất chẳng chờ đợi ai. Thiên Chúa vẫn đang kiên trì chờ đợi chúng ta, hãy dành thời gian cho Ngài.

Bậc đáng kính Giám mục Fulton Sheen (tác giả viết nhiều sách hay) khuyên nhủ: “Không bao giờ chúng ta không có thời gian để suy niệm; người ta càng ít nghĩ về Thiên Chúa thì càng có ít thời gian cho mình. Thời gian để làm điều gì đó tùy vào cách chúng ta đánh giá. Suy nghĩ là cách xác định việc dùng thời gian; thời gian không khống chế chúng ta suy nghĩ! Vấn đề tâm linh không bao giờ là vấn đề thời gian, mà là vấn đề suy nghĩ. Không đòi buộc nhiều thời gian để chúng ta nên thánh, mà chỉ cần yêu mến nhiều”.

JOSEPH PRONECHEN

TRẦM THIÊN THU (Chuyển ngữ từ NCRegister.com)

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2013 do Bauxite Việt Nam chọn

Mười phát ngôn ấn tượng nhất Việt Nam trong năm 2013 do Bauxite Việt Nam chọn

clip_image001 (1)Nguyễn Phương Uyên: Tôi yêu Tổ quốc, nhưng xin đừng đánh đồng với Đảng”.
(2)Luật gia Lê Hiếu Đằng: Khi ra khỏi Đảng, tôi được tự do đấu tranh bảo vệ chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ nhân quyền và dân quyền; bảo vệ môi trường. Đó là những vấn đề thiết thực cho con người, vì con người đối với người Việt, chứ còn cái thứ chủ nghĩa xã hội rất là mơ hồ”. clip_image003
clip_image004 (3) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:Đến hết thế kỷ này không biết đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện ở Việt Nam hay chưa”. 

(4) Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng:Xem ai có tư tưởng là muốn bỏ Điều 4 Hiến pháp không, phủ nhận vai trò lãnh đạo của đảng không? Muốn đa nguyên đa đảng không?Muốn ‘tam quyền phân lập’ không?Hả?Muốn ‘phi chính trị hóa quân đội’ không? Người ta đang có những quan điểm đấy! Đưa cả lên phương tiện thông tin đại chúng nữa.Thì như thế là suy thoái chứ còn gì nữa, chỉ ở đâu nữa nào?Tham gia đi khiếu kiện, biểu tình, ký đơn tập thể… thì nó là cái gì?! Cho nên các đồng chí quan tâm xử lý cái này”.

(5) Phó Chủ tịch Nước Nguyễn Thị Doan:

Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, biết kế thừa những tinh hoa dân chủ của các Nhà nước pháp quyền trong lịch sử và đã, đang phát triển lên tầm cao mới, khác hẳn về bản chất và cao hơn gấp vạn lần so với dân chủ tư sản”.

clip_image006
clip_image008 (6) Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc Nguyễn Văn Thơ:

”Chính sách nhất quán của Việt Nam là coi trọng phát triển quan hệ hữu nghị, tăng cường hợp tác toàn diện với Trung Quốc. Chúng ta không có hai lòng”.

(7) Cáo trạng của Viện Kiểm sát tỉnh Long An:

Khẩu hiệu “Tàu khựa hãy cút khỏi Biển Đông” của sinh viên Nguyễn Phương Uyên là có “nội dung không hay về Trung Quốc”.

clip_image010
clip_image012 (8) Đại sứ Việt Nam tại Triều Tiên Lê Quảng Ba:

Bao giờ ta có thể làm được như họ? [Triều Tiên]”.

(9) Bộ trưởng Y tế Nguyễn Thị Kim Tiến:

Tăng viện phí là thành tựu y tế”.

clip_image014
clip_image015 (10) Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Bắc Son: Báo chí nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một phương tiện thông tin truyền thông thiết yếu của đời sống xã hội, là cơ quan ngôn luận của các tổ chức Đảng, Nhà nước, tổ chức xã hội; là diễn đàn của nhân dân. Như vậy có thể khẳng định rằng, trong xã hội ta không có báo lá cải”.

 

Hiện tượng Phanxicô, vị Giáo hoàng làm xoay chuyển thế giới

Hiện tượng Phanxicô, vị Giáo hoàng làm xoay chuyển thế giới

Đức Giáo hoàng Phanxicô được đám đông tín hữu nồng nhiệt chào đón lại Rio de Janeiro, Brazil hôm 22/07/2013.

Đức Giáo hoàng Phanxicô được đám đông tín hữu nồng nhiệt chào đón lại Rio de Janeiro, Brazil hôm 22/07/2013.

REUTERS/Ricardo Moraes

Thụy My

RFI

Mới cách đây chưa đầy một năm chưa ai biết đến, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã trở thành một nhân vật được đông đảo người trên thế giới mến chuộng, thậm chí đã tạo nên một làn sóng ái mộ, dù là người Công giáo hay ngoại đạo. Nhật báo Le Figaro nhận xét, ngay cả Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị trước đây cũng không tạo được vầng hào quang toàn cầu nhanh chóng như thế.

Le Figaro đã bắt đầu bằng từ tiếng Tây Ban Nha « fenomenal» (phi thường). Đây không phải là lời bình về một bàn thắng của đội bóng đá Achentina, mà là tiếng nói từ trái tim của nhiều người trên hành tinh dành cho Đức Giáo hoàng Phanxicô, nhân vật đã thu hút đông đảo người trên thế giới chỉ trong vòng chín tháng.

Chín tháng, hãy còn quá ngắn ngủi để trở thành Giáo hoàng. Nhất là tại Vatican, nơi các vị Giáo hoàng tập sự thường phải mất nhiều năm trời trong bộ máy Tòa Thánh. Giáo hội tìm kiếm một làn gió mới trong thiên niên kỷ mới, và Mật nghị Hồng y hôm 13/3 đã chọn ra một vị Hồng y Mỹ latinh vô danh, nay đã trở thành thần tượng được nhiều người ngưỡng mộ.

Đức Giáo hoàng Phanxicô, 77 tuổi, tuổi cao và sức lại yếu do đã bị cắt bỏ một thùy phổi vào năm 21 tuổi, đã từng bị loại một lần trong Mật nghị Hồng y năm 2005 một phần cũng vì lý do « sức khỏe không tốt ». Nay ngài đã chứng minh ngược lại, một cách hết sức ngoạn mục. Hôm 4/12 tại Roma, vị Hồng y thân tín người Honduras của ngài là Oscar Maradiaga đã nhận xét : « Đó là một ngọn núi lửa ». Tuy vậy Đức Giáo hoàng Phanxicô hôm 4/7 tại Sardaigne vẫn khẳng định : « Tôi không phải là Tarzan ! »

Nhà truyền giảng tin mừng thích thêm vào chất hài hước, những câu nói độc đáo trong những thông điệp của mình. Nhưng ngài tìm cách làm giảm bớt sự cuồng nhiệt của đám đông, của hàng triệu người đã xa rời Giáo hội, đang trông đợi rất nhiều ở ngài vào cuối một năm khá âm u. Chưa có một Giáo hoàng nào kể cả Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị được thế giới ngưỡng mộ đến thế, với sự nhiệt thành như thế.

Nhân vật « tỉnh lẻ » siêu năng động, vừa huyền ảo vừa thực tiễn lần lượt ghi nhiều bàn thắng, làm đầy các hội trường, thu hút vô số ống kính truyền hình, hoàn toàn tương phản với người tiền nhiệm. Dư luận – cho đến nay rất thiện cảm – hoàn toàn có thể đổi chiều. Nhưng sau chín tháng trở thành Giáo hoàng, « hiện tượng Phanxicô » lại càng sôi nổi hơn.

Nhân vật của năm, một trong những người quyền lực nhất thế giới

Sự thừa nhận có thể coi là ngoạn mục nhất đến từ tạp chí Time uy tín của Mỹ. Ngày 11/12, Time đã chọn Đức Giáo hoàng Phanxicô là « Nhân vật của năm 2013 ». Đây là vị Giáo hoàng thứ ba được vinh dự này kể từ năm 1927, năm mà Time bắt đầu chọn lựa các nhân vật trong năm. Đức Giáo hoàng đầu tiên được trao danh hiệu này là Giáo hoàng Gioan XXIII, người đã tổ chức Công đồng Vatican II, và tiếp đó là Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô đệ nhị, nhưng phải chờ đến tận năm 1994, tức là 16 năm sau khi ở ngôi vị Giáo hoàng, trong khi Giáo hoàng Phanxicô mới cách đây một năm còn chưa được ai biết đến. Time nhận xét : « Điều quan trọng ở Giáo hoàng Phanxicô là Ngài đã nhanh chóng thu hút nhiều triệu người trước đây đã không còn hy vọng nào nơi Giáo hội ».

Hôm 30/10, Đức Giáo hoàng Phanxicô cũng được tạp chí Forbes của Mỹ xếp vào hàng thứ tư trong danh sách các nhân vật quyền lực nhất thế giới, chỉ sau nguyên thủ các nước Nga, Mỹ và Trung Quốc. Một nhà ngoại giao nhiều kinh nghiệm ở Roma nhận xét : « Người ta không còn lắng nghe Đức Giáo hoàng tiền nhiệm là Benedicto 16. Với Đức Giáo hoàng Phanxicô, Giáo hội lại được coi là một trong những tổ chức có ảnh hưởng lớn nhất. Các nguyên thủ quốc gia lại quan tâm đến Vatican ».

Ngày 2/10, Tổng thống Mỹ Obama công khai tuyên bố « vô cùng ấn tượng » bởi vị Giáo hoàng. Một tháng trước đó, Thủ tướng Đức Angela Merkel, vốn có cha là một mục sư Tin Lành, đã tuyên bố bà là « fan » của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Còn Tổng thống Pháp François Hollande tuy không hào hứng mấy với cuộc hội kiến Giáo hoàng Benedicto 16, nay đã đến gõ cửa Vatican. Ủy ban châu Âu cũng không ngoại lệ : hôm 13/12 đã trao cho Giáo hoàng Phanxicô giải Người truyền thông toàn cầu của năm 2013.

Đặc biệt tạp chí uy tín của cộng đồng người đồng giới The Avocate hôm 16/12 đã dành cho trang nhất cho Đức Giáo hoàng Phanxicô với câu nói nổi tiếng của ngài : « Tôi là ai mà phán xử ? »

Công ty Mỹ The Global Language Monitor chuyên thu thập thông tin trên internet cho biết cái tên được sử dụng nhiều nhất trên mạng bằng tiếng Anh trong năm 2013 là « Pope Francis » (Đức Giáo hoàng Phanxicô). Tương tự, đây là chủ đề được thảo luận nhiều nhất của 1,2 tỉ người sử dụng Facebook trong năm nay.

Ngài cũng thành công trên mạng Twitter : tài khoản của Đức Giáo hoàng tại Twitter có đến 11 triệu người theo dõi, gấp bốn lần so với người tiền nhiệm. Vatican ước tính mỗi một tweet (tin nhắn Twitter) của ngài có ảnh hưởng đến “ít nhất 60 triệu người” vì được truyền đi hầu như vô tận.

Một làn sóng ái mộ chưa từng thấy, được khẳng định với hai cuộc thăm dò dư luận mới đây tại Hoa Kỳ. Thăm dò thứ nhất do Wall Street Journal và kênh truyền hình NBC tổ chức, công bố hôm 11/12, cho biết 57% người Mỹ có ấn tượng tích cực về Đức Giáo hoàng Phanxicô. Kết quả một cuộc thăm dò khác của Washington Post và kênh truyền hình ABC công bố cùng ngày loan báo tỉ lệ này là 64%, và nói thêm, chưa bao giờ ý kiến tích cực đối với Giáo hội Công giáo lại cao như thế : đến 62%.

Tại Ý, hiện tượng Phanxicô có thể thấy rõ qua số lượng người tham dự các buổi lễ ngày thứ Tư hàng tuần tại Quảng trường Thánh Phêrô, từ 30 đến 60.000 người, gấp bồn lần so với trước đây. Bưu điện của quốc gia nhỏ nhất thế giới này bị tràn ngập với hai ngàn lá thư mỗi ngày gởi riêng cho Đức Giáo hoàng Phanxicô, chưa kể đến thư điện tử. Nhiều tín đồ để lại số điện thoại, hy vọng một ngày nào đó sẽ nhận được một cuộc gọi từ người đứng đầu Giáo hội Công giáo. Cơ quan du lịch thành phố Roma ghi nhận số khách từ châu Mỹ latinh đến viếng Tòa Thánh tăng 20% trong năm 2013, trong khi đây là năm ảnh hưởng nặng nề nhất từ khủng hoảng.

Cơn sốt mộ đạo bất ngờ

Nhưng đối với Giáo hội, lại có một ngạc nhiên khác : đó là cơn sốt mộ đạo bất ngờ. Một nghiên cứu xã hội học tiến hành với 250 linh mục Ý và được công bố vào tháng 11 cho biết gần phân nửa ghi nhận « hiện tượng Phanxicô », với sự gia tăng đáng kể số người đi lễ. Ở cấp quốc gia, kết quả này cho phép các nhà xã hội học khẳng định : « Nếu phân nửa các giáo xứ chịu ảnh hưởng của ‘hiện tượng Phanxicô’, có thể nói hàng trăm ngàn người đã bắt đầu trở lại nhà thờ ».

Khuynh hướng này, theo người chủ trì nghiên cứu là Massimo Introvigne « không những không giảm đi mà ngày càng mạnh mẽ hơn ». Đức Giám mục Giovanni d’Ercole nhận thấy : « Đức Giáo hoàng Phanxicô đã gây xúc động và truyền đi nhiệt huyết, đặc biệt đối với những người đã xa rời việc đạo. Họ đi xưng tội nhiều hơn và quay lại với nhà thờ ».

Theo Le Figaro, đây là khuynh hướng toàn cầu chứ không chỉ tại Ý quốc. Tại Anh, trong tháng 11 số người thường xuyên đến các giáo xứ tăng 20%, với nhiều « con chiên lạc » quay lại sau nhiều năm vắng bóng. Tương tự, Tây Ban Nha và Achentina có tỉ lệ người năng đi lễ tăng 12%…

Rất nhiều trẻ sơ sinh được sinh ra tại Ý trong năm nay đã được đặt tên là Phanxicô, đây là cái tên được chọn lựa nhiều nhất trong năm 2013. Vị Giáo hoàng nổi tiếng cũng đã được đưa vào bảo tàng sáp ở Roma, và dưới dạng tượng trang trí máng cỏ Giáng sinh trong các hang đá Ý.

Một huyền thoại đã được hình thành, nhưng người làm nên huyền thoại không hề quan tâm. Phát ngôn viên của ngài là Cha Lombardi khẳng định : « Đức Giáo hoàng Phanxicô không tìm kiếm sự nổi danh cũng như thành công. Ngài chỉ thực hiện nhiệm vụ loan báo Tin mừng Phúc âm, để bày tỏ tình yêu của Thiên Chúa đối với mọi người trên Trái đất ».

Phanxicô, Giáo hoàng “perestroika” ?

Time chọn Đức Giáo hoàng làm nhân vật của năm 2013

NHÓM NGƯỜI CẦU NGUYỆN ĐẶT TAY

NHÓM NGƯỜI CẦU NGUYỆN ĐẶT TAY

Maria Nguyễn .

Tôi là một con chiên trung bình, tuy nhiên  tôi không thích những kiểu cách hành đạo quá lố, Thiên Chúa của tôi là vị Chúa trong cung thánh, uy nghi và cao cả. Thiên Chúa của tôi hiện diện trong các buổi lễ trang nghiêm, nghi lễ càng hoành tráng chừng nào càng tốt như cách suy nghĩ thông thường của các tín hữu công giáo. Do đó, tôi không thể nào chấp nhận được cách hành đạo của một vài người, họ hay cầu nguyện ở mọi nơi, thậm chí khi vào phòng restroom cũng có thể cầu nguyện, đang tắm trong tình trạng con người nguyên thủy,  không có một mảnh vải che thân  mà lại đi có cái  hành vi gọi là  cầu nguyện ! Cũng như bao nhiêu người khác tôi cho rằng đã có sự thái quá trong cách hành đạo như vậy.  Tôi cho rằng đó là những kiểu sốt sắng không phải lúc , không phải nơi.

Khi thấy trong Giáo Xứ, có những người thuộc Nhóm Thánh Linh cầu nguyện giơ tay, cầu nguyện bằng cách hát thì tôi thấy lạ kỳ làm sao . Nhất là có những người, cả ngày lẩn thẩn , lâm râm cầu nguyện mà quên đi cả bổn phận hàng ngày của mình là phải làm việc nuôi thân,  chăm sóc con cái, tôi cho đó là một sự thái quá. Đó là chưa kể, họ còn đặt tay cầu nguyện , trông kỳ lạ , không bình thường,

Số là, tôi có một  người Bạn trong Nhóm Thánh Linh, có lần anh đề nghị cùng cầu nguyện chung , tôi cắt ngang liền, “ Em không cần cầu nguyện… như vậy”. Lại một lần khác, anh đưa cái CD Nhạc Ca ngợi  để bỏ trong xe nghe lúc đi làm, tôi trả lời thẳng “ Em không có thói quen nghe nhạc Đạo trên xe”.

Tuy thế , tôi không phải là một người ác cảm với các việc  đạo đức, tôi sinh hoạt trong một nhóm nhỏ chia sẻ lời Chúa, cứ vào khoảng một tháng rưỡi, hai tháng vào đêm thứ bẩy  sau lễ  thì chúng tôi sinh hoạt một lần , chúng tôi họp nhau tại nhà của một thành viên , đọc Lời Chúa , liên hệ sự soi chiếu của Lời Chúa khi xưa vào trong cuộc sống gia đình với các vấn nạn, thời sự của hôm nay. Sau đó chúng tôi hát hai, ba bài cảm tạ và ca khen Chúa. Phần chia sẻ kinh nghiệm sống Lời Chúa khá là sinh động, Anh bạn Thánh Linh khi phụ giúp cho lớp học RCIA , ( Lớp Khai Tâm Kitô Giáo cho người lớn) đã nói về các kinh nghiệm của Anh Chị Em Tân Tòng theo Chúa, có những Anh Tân Tòng cầu nguyện rất đơn sơ mà được Chúa nhận lời, chẳng hạn như có một Anh thợ nề nọ khi lát gạch bồn hoa không được vì bồn đúc quá méo mó, sần sùi, anh quì xuống tại chỗ và giao nó cho Cha Trời: “ Cha tính sao đi, chứ con bí rồi đó” , rồi sau đó, đứng lên, Anh  bắt tay vào việc, Anh làm ro ro  mà không còn bị trở ngại gì nữa! Rồi đến một chị Tân Tòng bị  bịnh suy nhược thần kinh và nỗi sợ hãi vô cớ ám ảnh Chị đến độ muốn phát điên , phát dại, sau khi Chị cầu nguyện ăn năn và  xin Chúa ban bằng an thì bịnh tình thuyên giảm hết ngay trong đêm. Điều đánh động tôi nhất là gương hy sinh của Anh Chị Em Tân Tòng,  Họ không theo Chúa trong suông sẻ, trong sự dễ dàng như chúng tôi, họ theo Đạo Chúa , vốn là tôn giáo khác biệt ở ngay trong nhà,  hậu quả là có khi họ bị gia đình từ bỏ, phản đối và có trường hợp cá biệt của một chị nọ bị chồng lấy cớ “ không cùng tôn giáo “ và ly dị, rồi đuổi Chị ra khỏi nhà, anh ta  về Việt Nam cưới vợ nhí, chị còn bị các con cái về hùa với Chồng chị mà phớt lờ hoàn cảnh của Chị. Tất cả các bất hạnh cũng không đủ để Chị từ bỏ Chúa cùng với niềm bình an và vui tươi sâu thẳm của Chúa và Lời của Ngài gieo vào lòng Chị… Tôi quan tâm đến các câu chuyện này vì chồng tôi cũng là một Tân Tòng.

Trong các buổi chia sẻ Lời Chúa , mỗi người đã nói lên các khó khăn trong gia đình mình để cùng nhau xét mình sửa đổi và cầu nguyện cho nhau, tôi thì có các khó khăn với mẹ chồng , tôi cũng băn khoăn với thói hút thuốc lá làm nguy hại đến sức khỏe của chồng tôi. Chúng tôi xin Chúa giúp đỡ để tôi  biết yêu mến kính trọng mẹ chồng, Xin Chúa giúp chồng tôi bỏ hút thuốc lá

Trong các buổi nhóm như thế, sau phần chia sẻ của ăn tinh thần, chúng tôi cũng chia sẻ bữa ăn vật chất và vui vẻ trò chuyện đến thật khuya đêm thứ bẩy trước khi chia tay ra về. Theo ngày tháng, cùng với các buổi chia sẻ Lời Chúa ở trong nhóm nhỏ của tôi,  khi nghe Anh Thánh Linh này chia sẻ thì lòng tôi nóng cháy lên và tôi thích cầu nguyện, tâm sự với Chúa nhiều hơn, mỗi khi có dịp vui , buồn , khó khăn trong đời sống.

Tôi bắt đầu dâng cho Chúa các khó khăn của mình và trông cậy Chúa trong lòng biết ơn và vâng phục cho dù tôi ra trường đã năm năm, mà không tìm ra “job” làm đúng với bằng cấp mà tôi có, lương bổng khá thấp. Tôi cứ trông cậy rồi ra Chúa sẽ an bài cách tốt đẹp nhất cho đời mình nếu tôi chấp nhận và tin tưởng nơi Người,  giống như trường hợp của các Anh Chị Em Tân Tòng kể trên. Thậm chí, chọn một môn để học thêm sau đại học tôi cũng thăm dò và nhờ Chúa hướng dẫn, sau khi lần mò , tôi cho rằng Chúa muốn tôi đừng đổi nghề nhưng cứ tiếp tục theo học nghành cũ và lấy bằng CPA. Đây là bằng chuyên môn cho người làm nghề kế toán, khó thi đậu bằng này, tỉ lệ đậu ngay lần đầu chỉ có 50% .

Đến ngày thi lấy bằng CPA , sau khi đã cố gắng học và nỗ lực nhiều , tôi theo cách của Anh Thánh Linh khuyên, trước giờ thi tôi đặt tay trên bài thi và nhân danh tên cực quyền năng của Chúa Giê Su Kitô để cầu xin không những ơn khôn ngoan, minh mẫn và trí nhớ mà còn cầu xin  cho mọi sự tốt đẹp, suông sẻ cho tôi vốn là một con cái của Đức Chúa Trời.  Có lẽ , CPA là điều tốt cho tôi nên Chúa đã cho tôi đâu ngay trong lần đầu, rồi một tuần sau , Chúa cho tôi được có job mới , tôi được việc làm mới,  được  chọn  bởi ba hãng trong đó có một hãng chuyên về làm kế toán thuê cho các công ty. Chúa nhân từ cho tôi nhiều quá , từ chỗ khổ sở tìm job và phải làm job không đúng mức , nay Chúa cho tôi được cơ hội  chọn lựa đến 3 chỗ làm mới với mức lướng tăng lên gấp hơn hai lần so với lương cũ. Chúa của tôi thật là giầu có và độ lượng.

Điều xảy ra tiếp theo là , ngay trong ngày được tin tôi có bằng CPA, chồng tôi đã hứa bỏ thuốc lá và Chúa đã giúp Anh làm được điều này,  dù trước đó Anh đã có hứa làm mà chưa làm được. Anh đã bỏ thuốc lá được hơn tám tháng .

Chúa đã thay đổi tôi, Ngài làm cho tôi trở nên hiền hòa hơn và biết yêu quí , kinh trọng mẹ chồng hơn xưa nhiều , xin Chúa tiếp tục dậy dỗ cho tôi. Chúa cũng cho các con tôi ngoan ngoãn và học hành giỏi giang. Tôi còn một ước nguyện nữa dâng lên cho Chúa đó là lòng ước ao sau này sẽ có một cháu đi tu để chúng tôi có dịp bày tỏ lòng biết  ơn Chúa và làm sáng danh Ngài.

Không biết từ lúc nào , tôi đã lây thói quen cầu nguyện chung với nhau , tay trong tay. Một ngày nọ , tôi bị ho khúc khắc hoài , cơn ho kéo dài đã 4 tuần mà không trị dứt được, thấy tôi ho,  anh Bạn trong Nhóm Thánh Linh đã đề nghị cùng nắm tay cầu nguyện chung với một người bạn nữa, Cả ba chúng tôi nắm tay cao và dâng tâm tư lên Chúa, chúng tôi thưa với Chúa:

–          Lậy Chúa Giê Su yêu kính , con ca ngợi tình yêu kỳ diệu của Ngôi Lời Cứu độ. Con ca tụng tên cực thánh Giê Su mà trời , đất , âm phủ đều phải bái phục và nhất nhất tuân theo. Nhân danh Tên Cực Thánh của Chúa ta truyền cho bệnh ho phải tan biến, các bộ phận liên quan, cũng như lá phổi phải trở lại tình trạng lành mạnh, hoạt động bình thường làm tấn ích cho con cái Đức Chúa Trời.

Khi chúng tôi cầu nguyện xong thì  các cơn ho không còn thấy nữa , Chị bạn cùng cầu nguyện với  tôi cũng bị ho kéo dài đã 3 tuần về sau cho biết , Chúa kính yêu đã chữa cho chị khỏi ngay kể từ giờ khắc đó. Còn phần tôi, thì khỏi lúc đó , nhưng về khuya thì còn hơi  ho một chút . Đến sáng ngày hôm sau thì không còn ho nữa.

Từ ngày vào nhóm Chia sẻ, nhờ Ca Ngợi và Lời Chúa,  Tôi không những được  lợi ích về mặt tinh thần, tấn tới trong sự hiểu biết và yêu mến kính sợ Chúa mà còn được Chúa ban thêm cho về vật chất nữa. Cảm tạ Chúa đã mở mắt cho tôi thấy sức mạnh rất diệu kỳ của  Ca Ngợi và Lời Chúa.

Tôi biết sự thờ phượng mà Chúa yêu thích phải là sự thờ phượng trong tâm hồn của mình , dành tất cả ý chí, suy tư và tấm lòng cho Chúa chứ không phải nghi thức rình rang hay những gì chỉ có bề ngoài. Đời thờ phượng luôn cần phải tuân theo sự hướng dẫn chu đáo của chân lý thâm sâu vốn có trong Lời Chúa:

Nhưng giờ sẽ đến – và là ngay bây giờ – những kẻ thờ phượng đích thật sẽ thờ phượng Cha trong Thần khí và sự thật vì Cha chỉ muốn gặp thấy những kẻ thờ phượng Người như thế.” ( Gioan 4: 23)

Tôi không còn ác cảm với Nhóm Thánh Linh nữa , có lẽ một ngày nào đó tôi sẽ cùng tham gia ca ngợi Chúa trong một kỳ tĩnh tâm Thánh Linh. Nay tôi biết là Đức Thánh Cha cũng rất yêu mến các nhóm Thánh Linh và từng là tuyên úy của Thánh LInh ở nước của Ngài.

 

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA

ĐIỀU KIỆN ĐỂ ĐÓN TIẾP CHÚA

joseph angel

Ngày 17 tháng 12 vừa qua, ta đã đọc bài Phúc Âm nói về gia phả Đức Giêsu, trong đó Chúa Giêsu sinh bởi dòng dõi vua Đavít.  Hôm nay, Phúc Âm lại trình bày cho ta một gốc tích khác của Người: Chúa Giêsu sinh ra bởi Đức Maria do quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Phải chăng thánh sử Matthêu mâu thuẫn khi đưa ra hai gốc tích khác nhau như thế?

Thánh sử Matthêu không mâu thuẫn, nhưng khi trình bày cho ta hai gốc tích khác nhau của Chúa Giêsu, thánh sử có một dụng ý thần học.  Chúa Giêsu là Thiên Chúa, nên việc thụ thai phải do quyền năng của Chúa Thánh Thần.  Nhưng Chúa Giêsu cũng là người nên phải sinh ra bởi một con người. Thiên Chúa ban Con Một cho loài người.  Đức Maria đã đại diện loài người lãnh nhận.  Nhưng quyền năng Chúa Thánh Thần tác động trên Đức Maria chỉ diễn ra trong riêng tư, âm thầm.  Chính thánh Giuse đưa Chúa Giêsu ra công khai khi nhận Ngài vào dòng tộc Đavít.  Qua trung gian của thánh Giuse, Chúa Giêsu đã chính thức gia nhập gia đình nhân loại, trong một đất nước, trong một dân tộc, trong một dòng họ.  Tên tuổi của Người được ghi trong lịch sử của dân tộc, của dòng họ, của gia đình. Vận mệnh của Người gắn chặt với dân tộc, dòng họ, gia đình ấy.  Người thực là Emmanuel, là “Thiên Chúa ở với chúng ta”.

Nhờ đâu mà thánh Giuse và Đức Maria được diễm phúc là những người đầu tiên, đại diện nhân loại tiếp đón Đấng Cứu Thế.  Qua bài Phúc Âm Truyền Tin và bài Phúc Âm hôm nay, ta thấy thánh Giuse và Đức Maria có những đặc điểm sau đây.

1) Các Ngài có tâm hồn khiêm nhường sâu xa.

Đức Maria là một thiếu nữ có tâm hồn khiêm nhường.  Từ nhiều thế kỷ qua, lời sấm về Đấng Cứu Thế vẫn được truyền tụng trong dân Do Thái.  Thiếu nữ nào cũng mong được làm mẹ Đấng Cứu Thế.  Đó là một hạnh phúc, một vinh dự không chỉ cho cá nhân mà còn cho cả gia đình, cho dòng họ, cho đất nước.  Vậy mà khi nghe thiên thần loan báo tin làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria chỉ khiêm tốn thưa: “Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời thiên thần truyền.” Khi bà Êlisabeth ca tụng Ngài, Đức Maria đã đáp lại: “Vì Chúa đã đoái thương phận tôi tớ thấp hèn.  Người nâng cao những người bé nhỏ.” Đức Maria nhận ra sự thật là: Nếu Ngài được ơn Chúa ban thì không phải vì công trạng của mình, nhưng do lòng từ bi thương xót của Chúa.  Vì khiêm tốn, nên Đức Maria âm thầm ghi nhớ tất cả mọi việc Chúa làm, mọi lời Chúa phán.  Ghi nhớ để suy gẫm trong lòng.  Càng suy gẫm lại càng thêm khiêm nhường.  Càng khiêm nhường lại càng kín đáo.

Thánh Giuse cũng có tâm hồn khiêm nhường không kém.  Đọc Phúc Âm, ta có cảm tưởng là thánh Giuse luôn tự rút lui vào trong bóng tối.  Ngài luôn sống âm thầm khiêm tốn trong công việc tầm thường của thợ thuyền.  Sự khiêm tốn ấy đặc biệt thể hiện trong bài Phúc Âm hôm nay.  Khi biết tin Đức Mẹ đang mang thai Đấng Cứu Thế, thánh Giuse đã âm thầm bỏ đi.  Ngài không dám tự cho mình cái vinh dự được làm cha Đấng Cứu Thế.  Ngài không dám chiếm hữu quyền làm cha của Thiên Chúa. Ngài không dám mạo nhận công việc của Chúa Thánh Linh.  Ngài là người công chính vì khiêm tốn sống đúng thân phận của mình.  Ngài là người công chính vì trả lại cho Thiên Chúa những gì thuộc về Thiên Chúa.

2) Các Ngài mau mắn vâng lời Thiên Chúa.

Các Ngài có chương trình cho đời sống.  Chương trình ấy được suy nghĩ kỹ lưỡng vì được thực hành nghiêm chỉnh.  Đức Maria khấn giữ mình đồng trinh.  Thánh Giuse muốn sống âm thầm trong bóng tối.  Nhưng khi nghe biết thánh ý Thiên Chúa các Ngài đã mau mắn xin vâng, bỏ dở chương trình riêng tư, chuyển hướng cuộc đời để thi hành thánh ý Thiên Chúa.  Đức Maria đã thưa “xin vâng” bất chấp những đau khổ, khó khăn đang chờ đón.  Thánh Giuse đã mau mắn vâng lời dù thánh ý Thiên Chúa chỉ mơ hồ giữa bóng đêm dày đặc, trong một giấc mộng lãng đãng mơ hồ.

Vì Chúa, các Ngài đã từ bỏ ý riêng mình.  Vì Chúa, các Ngài đã thay đổi toàn bộ đời sống.  Thay đổi quyết liệt.  Từ bỏ dứt khoát.  Vâng lời mau mắn.

Thái độ của các Ngài rất gần với thái độ của Chúa Giêsu.  Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ tự hạ mình thẳm sâu.  Dù là Thiên Chúa, Người đã không đòi cho mình quyền được ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã tự hạ làm một người bé nhỏ nghèo hèn.  Người luôn vâng lời Đức Chúa Cha, vâng lời cho đến chết trên thập giá.

Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu.  Giống nhau thì tìm đến nhau.  Chúa Giêsu xuống trần trong một thái độ khiêm hạ và vâng phục thánh ý Chúa Cha đã tìm được nơi cư trú tâm đắc nơi Đức Maria và thánh Giuse, hai tâm hồn khiêm nhường và tuyệt đối vâng lời.

Lạy Chúa Giêsu bé nhỏ, bây giờ thì con đã hiểu biết phải dọn một máng cỏ như thế nào cho Chúa. Chúa muốn con khoét một hang sâu khiêm nhường trong lòng con, trải trên đó những sợi cỏ vâng lời mau mắn.  Như thế con sẽ được hạnh phúc đón tiếp Chúa, Đấng rất khiêm nhường và rất vâng lời. Amen!

TGM Ngô Quang Kiệt

Đức cha JEAN CASSAIGNE (1895 – 1973)

Chân dung linh mục Việt Nam: Đức cha Jean Cassaigne

Đức cha JEAN CASSAIGNE (1895 – 1973)

Vị tông đồ truyền giáo cho anh chị em dân tộc Kơho

và sáng lập Trại phong Di Linh

Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc

Trong bản tường trình năm 1920, Đức cha Victor Quinton Giám mục Giáo phận Sài Gòn đã nói đến ý định truyền giáo cho người dân tộc trên cao nguyên Djiring – Langbiang. Nhưng công cuộc truyền giáo này chỉ thực sự bắt đầu khi Đức cha Dumortier đặt cha Jean Cassaigne, một linh mục thuộc Hội Thừa sai Paris đến Di Linh năm 1927. Đức cha Dumortier viết trong bản tường trình năm 1927 như sau:

“Chúa Quan Phòng đã sắp đặt cho tôi một vị tông đồ như ý để khởi sự công cuộc truyền giáo cho người dân tộc. Tôi thấy cha Cassaigne được chuẩn bị tốt để chịu được gian khổ thiếu thốn. Vừa khi biết chương trình truyền giáo của tôi, cha Cassaigne đã tình nguyện và bày tỏ niềm vui khôn tả khi nghe tôi công bố việc bổ nhiệm ngài vào công cuộc này”.

Thứ tư ngày 20-10-1926, cha Cassaigne lên đường đến thí điểm truyền giáo Di Linh. Ngài đi từ Sài Gòn đến Phan Thiết, rồi từ Ma Lâm lên cao nguyên Di Linh. Nhưng gặp mưa bão càn quét vùng cao nguyên làm con đường từ Ma Lâm lên Di Linh hư hại nặng cho nên ngài phải trở về Sài Gòn.

Cho đến ngày 24-1-1927, cha Cassaigne mới có thể từ Đà Lạt chính thức đến nhận thí điểm truyền giáo Di Linh. Toà Giám mục Sài Gòn đã chuẩn bị cho ngài một căn nhà mua lại của ông Ngô Châu Liên để làm cơ sở lập thí điểm truyền giáo.

Ngay trong buổi chiều đầu tiên đến vùng đất Di Linh, cha Cassaigne đã nhìn thấy những người dân tộc lặng lẽ nghi ngại đi ngang qua nhà ngài. Ngài đã nhìn thấy những anh chị em dân tộc được trao phó cho ngài, cả một cánh đồng truyền giáo rộng lớn đang chờ đợi ngài. Để có thể gặp gỡ những người dân tộc rụt rè nhút nhát trước những người xa lạ, cha Cassaigne khởi sự bằng cách học nói tiếng của họ, một ngôn ngữ quá mới mẻ và không có chữ viết. Cha Cassaigne đã phải mày mò ký tự từng chữ trong ngôn ngữ của họ. Công việc này đã cuốn hút vị thừa sai trẻ đầy nhiệt huyết. Vì thế, vào tháng 12-1929 cha Cassaigne đã xuất bản Từ điển Pháp – Kơho – Việt, đây là cuốn từ điển đầu tiên hình thành chữ viết cho ngôn ngữ Kơho, một công trình rất đáng trân trọng vì góp phần giữ gìn bản sắc dân tộc và phát triển cho người dân tộc Kơho.

Tháng 12-1937 cha Cassaigne xuất bản cuốn: Phong tục tập quán người dân tộc Kơho, đây cũng là một công trình đầu tiên nghiên cứu về người Kơho, một công trình giúp cho cha Cassaigne có thể hiểu và gặp gỡ được với những người dân tộc và từ đó nói về Chúa cho họ. Năm 1938 cha cho xuất bản tập Giáo lý cho người Kơho.

Chính nhờ việc hiểu được ngôn ngữ và phong tục tập quán Kơho, cha Cassaigne đã thực sự trở thành người khai phá, trở thành Ông tổ của công cuộc truyền giáo cho người dân tộc, và cha đã thành công trong việc đem Ơn Cứu Độ đến cho rất nhiều người dân tộc thuộc các buôn làng trong miền Cao nguyên Di Linh – Langbiang.

Hoa trái của công cuộc truyền giáo là vào chiều ngày áp lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, 7-12-1927, cha Cassaigne đã rửa tội cho bà Ka Trut, một bệnh nhân phong cùi thường xuyên nhận sự giúp đỡ của cha. Bà Maria Ka Trut qua đời ngày 20-12-1927 và được an táng ngày 22-12-1927 tại nghĩa trang của người dân tộc Di Linh.

Tin Mừng của Chúa đã được người dân tộc đón nhận vì họ cảm nghiệm được tình yêu Chúa qua những hành vi bác ái yêu thương của cha Cassaigne. Họ đã thực sự nhận ra cha Cassaigne yêu thương họ qua việc ngài yêu thương đón nhận và nuôi dưỡng những anh chị em phong cùi của họ, những con người bất hạnh vì gia đình và buôn làng sợ hãi bị lây nhiễm đã xua đuổi họ vào trong những khu rừng vắng để họ chết dần chết mòn trong nỗi đau thể xác và tinh thần.

Ngày 17-2-1929, cha Cassaigne đã quy tụ những người bệnh nhân phong cùi và thành lập Trại Phong Di Linh. Ngài đã xây dựng Trại Phong thành một gia đình ấm cúng che chở những bệnh nhân phong cùi bất hạnh để cho cuộc đời của họ được yên ủi sớm tối có nhau.

Giám mục phong cùi của người phong cùi

Nhưng cuộc sống của cha Cassaigne sắp thay đổi một cách bất ngờ. Ngày 20-2-1941, ngài nhận được một bức điện tín khiến ngài buồn bã. Thật là bất thường khi nhìn thấy ngài trong trạng thái này, đến nỗi người ta phải dò hỏi ngài! “Họ đã tấn công dồn dập bắt tôi làm giám mục”, ngài càu nhàu trả lời. Quả thật, Đức Giám mục Sài Gòn vừa qua đời năm vừa rồi và Tòa Thánh trong thời kỳ khó khăn này, tìm một người để kế vị và đã chọn vị linh mục của người phong cùi. Vị thừa sai phải rời bỏ Di Linh. Sự chia ly rất đau lòng cho cả hai phía: anh em Thượng và nhất là những bệnh nhân phong cùi mất người cha của họ; vị linh mục phải xa con cái ngài. Dù vậy vị thừa sai không do dự vâng lời Tòa Thánh với đức tin và lòng can trường. “Tôi là kẻ từng mơ thành một thừa sai tầm thường. Tôi, kẻ đã coi sự nghèo khó của mình là niềm hãnh diện và niềm vui, lại trở thành một hoàng tử của Giáo Hội. Nhưng, dù người ta sẽ thay y phục và chỗ ở của tôi, song chẳng ai thay được con người chất phác nơi tôi”. Khẩu hiệu “Bác Ái và Yêu Thương” do ngài chọn đã nói lên điều đó rất nhiều.

Ngày 24-6-1941, ngay từ 7 giờ sáng, chuông các nhà thờ Sài Gòn đồng loạt đổ vang, báo tin lễ tấn phong Đức cha Cassaigne. Nghi lễ diễn ra ở Nhà Thờ Chính Tòa. Đám đông ken dày: có những bạn bè đến từ khắp nơi… và những anh em Thượng đi thành đoàn đại diện. Các anh em Thượng bận y phục ngày lễ; họ làm khách tham dự thấy vui thích, mặc dù nhiều người An Nam tỏ ra khó chịu trước cảnh tượng ấy. Nghi lễ phụng vụ dài, quá dài đối với anh em Thượng. Họ liền rời chỗ để đi tham quan tháp chuông. Khi ra khỏi Nhà Thờ Chính Tòa và bị đám đông xô lấn khiến họ hoảng sợ, họ liền trèo lên cây cao để nhìn đám rước. Đức cha Cassaigne mỉm cười khi nhìn thấy họ.

Tân Giám mục bắt tay vào công việc. Đó là một con người đơn sơ. Lối vào Tòa Giám mục rộng mở tự do và bất cứ ai cũng có thể gõ cửa văn phòng của ngài. Các nhân chứng ngày nay vẫn còn nhớ lại đã thấy ngài đi xe đạp hoặc xe Vespa thăm các khu nghèo ở Sài Gòn. Ngài rong ruổi khắp địa phận rộng lớn của ngài.

Ngày 19-12-1954, vào dịp kỷ niệm thụ phong linh mục của ngài, Đức cha Cassaigne dâng Thánh Lễ Tạ Ơn. Nhưng trong khi cử hành Thánh Lễ, ngài thấy trên mặt da mình, chỗ phía trên cổ tay một chút, có một vết đỏ hồng màu rượu. Khi Thánh Lễ kết thúc, ngài lấy một cái kim châm vào chỗ ấy: hoàn toàn không cảm thấy đau! Ngài hiểu đó là bệnh phong cùi. “Linh mục dâng hiến tế Thánh Thể, cũng phải trở thành hy vật”, sau này ngài sẽ viết như thế. Công việc vất vả sáu tháng vừa qua đã làm cho các bộ phận cơ thể ngài vốn mệt mỏi, lại bị suy yếu, đến nỗi bệnh phong cùi nằm phục từ lâu, nay phát tác.

Đức cha Cassaigne giữ bí mật tin này, chỉ cho các bề trên của ngài biết. Thuốc điều trị do các bác sĩ cho, đã làm ngài suy kiệt. Sẽ phải mau chấm dứt thôi! Vết hồng lan rộng gấp đôi. Ngày 5-3-1955, ngài viết cho cha bề trên Hội Thừa sai Paris: “Tôi xin cha cho phép tôi nộp đơn từ chức sang Tòa Thánh và rút lui về Trại Phong Di Linh, bên cạnh những con cái mà tôi yêu thương nhất và Chúa quyền uy, với lòng nhân ái vô biên, đã cho tôi được nên giống như họ”.

Lời cầu xin của ngài được chấp thuận và Tòa Thánh bổ nhiệm một giám mục kế vị ngài, Đức cha Simon-Hòa Nguyễn Văn Hiền, được tấn phong trong Nhà Thờ Chính Tòa của ngài, ngày 30-11-1955. Ngày 2-12-1955, Đức cha Cassaigne trở về Di Linh.

Từ đây, Đức cha dành trọn cuộc đời còn lại để sống giữa những người con cái để âm thầm yêu thương và phục vụ Trại Phong Di Linh. Tháng 2-1973 Đức cha bị ngã gẫy xương bên đùi phải, và chính vì vết thương này mà ngài phải trải qua gần 8 tháng liệt giường. Bên giường bệnh, Đức cha nói với người nữ tu chăm sóc ngài và một số bệnh nhân thay phiên trực: “Suốt 47 năm dài (1926–1973), cha đã sống giữa các con, đã sống tại Việt Nam này và đã dâng hiến tất cả cho các con. Giờ đây cha không còn tiếc gì về sự dâng hiến toàn diện ấy. Việt Nam chính là quê hương thứ hai của cha, bởi vì Chúa muốn như vậy. Khi về với Chúa, cha vẫn ở với các con, các con đừng lo…”

Thứ bảy ngày 20-10-1973, Đức cha bắt đầu trở bệnh nặng với những cơn đau khiến phải phải thốt lên: “Tôi đau đớn lắm, tôi đau đớn quá”. Mười ngày trôi qua, vào lúc 10g00 đêm ngày 30-10-1973, Đức cha lãnh nhận bí tích Xức dầu lần cuối do cha sở họ Di Linh và rạng sáng hôm sau Đức cha đã được Chúa gọi về hồi 1g25. Đức cha được an táng bên nhà nguyện Trại Phong ngày 5-11-1973.

Chứng từ

Cha Phanxicô Darricau, một linh mục MEP, đã viết về sự kiện Đức cha Cassaigne trở lại Trại Phong Di Linh như sau: “Ngài đã về và đã được đón tiếp trọng hậu, tôn kính. Nhưng nhà chưa xây ngay được nên ngài đã đến ở chung với tôi tại Ka-la, cách Trại Phong hai cây số. Nhà xứ của tôi nhỏ, không cung cấp nổi cho ngài một căn phòng riêng. Ngài cũng không muốn lấy phòng của một đồng nghiệp. Chúng tôi lấy tấm màn ngăn phòng ăn làm đôi, một bên là giường nhỏ của ngài, một bên là cái bàn ăn. … Suốt trong sáu tháng, chúng tôi có niềm vui được sống chung với nhau. Sau đó ngài tới sống tại căn nhà dành riêng cho ngài ở Trại Phong. Nhưng trưa nào ngài cũng về Ka-la dùng bữa với tôi, khẩu phần có khá hơn trong trại. … Bao nhiêu sức lực còn lại ngài dành để phục vụ Trại Phong. Sức ngài giảm nhiều so với trước kia, do những đau đớn của căn bệnh…”

Cha Christian Grison, người quản nhiệm cuối cùng của Trung tâm Thượng Di Linh (từ 1965 đến 1975), người đã gần gũi với Đức cha Cassaigne trong mười năm cuối cùng của ngài tại Trại Phong Di Linh, đã viết về Vị Tông đồ người phong cùi như sau: “Tôi được phúc sống mười năm gần Đức cha Cassaigne, vì thời gian đó tôi phụ trách xứ đạo Thượng tại Di Linh. Tôi đã chứng kiến tình cảm ưu ái mà ngài khơi dậy khi ngài trở nên nhỏ bé với những kẻ nhỏ bé, trở nên phong cùi với những người phong cùi. Sự mến phục người ta dành cho ngài đó, không bao giờ ngài sử dụng vì lợi ích riêng của mình; tất cả được hướng về sự cứu trợ cho người phong cùi. Mối quan tâm duy nhất của ngài, tôi có thể nói là nỗi ám ảnh đối với ngài cho đến khi ngài chết, đó là tìm nguồn tài trợ cho Trại Phong…”

Ngày 26-7-2007, bà Maria Nguyễn Thị Lệ, sinh năm 1938 tại Bắc Ninh đã đến viếng mộ Đức cha và để lại chứng từ: “Tôi sinh sống tại khu phố III (ấp Tân Xuân) thị trấn Di Linh từ năm 1975 đến 1983. Tôi bị bệnh thấp khớp và đặc biệt là bị đau buốt dây thần kinh tọa. Một bác sĩ cho biết bệnh tôi rất khó chữa, nhưng tôi cũng kiên trì chịu đựng và chỉ uống một số thuốc đau nhức thông thường nên chỉ giảm đau chốc lát, vì nghèo không có tiền đi bệnh viện. Năm 1983 tôi bị những cơn đau dữ dội, lết đi không nổi, đau đớn đến độ chán nản thất vọng vì bệnh tật, đau khổ vì hoàn cảnh nghèo khổ cơ cực, bữa no bữa đói… Dầu vậy, tôi không bỏ Chúa, cố gắng bước đi chậm chạp, đau buốt với một bàn chân bị sưng tấy nặng nề. Khoảng tháng 6 năm 1983, sau giờ chầu Thánh Thể ban chiều, tôi đến trước tượng Đức cha Cassaigne ở cuối nhà thờ vừa khóc vừa than vì sự đau đớn, nghèo nàn của mình và tôi thưa với Đức cha: Cha ơi, thương con, kẻo con chết vì con đau đớn quá, con nghèo khổ chẳng có tiền chữa bệnh, con chỉ muốn chết cho yên, con xin Đức cha cầu xin Chúa và Đức Mẹ cất bệnh đau đớn cho con, nếu đẹp lòng Chúa và Đức Mẹ; còn nếu không, thì xin Đức cha thêm sức cho con để con chịu đựng cơn bệnh này cho nên. Từ từ, ngày qua ngày, con cảm thấy sự đau buốt giảm dần, và sau một thời gian con khỏi bệnh hẳn, đi đứng bình thường. Cuối năm 1983 con bỏ Di Linh về Đắc Nông với gia đình người con để làm ăn, cho đến nay là được 24 năm con lành bệnh. Con xin tạ ơn Chúa, tạ ơn Đức cha Cassaigne. Con, Maria Nguyễn Thị Lệ”.

Một chứng từ khác do bác sĩ K’Đỉu chia sẻ bên phần mộ Đức cha Cassaigne trong đêm canh thức dịp lễ Giỗ năm 2007: “Dân gian thường nói: Không có mợ, chợ cũng đông! Nhưng với Trại Phong chúng con nói chung và bản thân con nói riêng, trải qua kinh nghiệm của cuộc sống, con đã nhận ra rằng: nếu không có sự hiện diện của Đức cha Jean Cassaigne thì có lẽ không có Trại Phong Di Linh và chắc chắn cũng không có con trên cuộc đời này. Nhưng nhờ tình yêu thương của Đức cha, ba mẹ con đã can đảm sống với căn bệnh đáng sợ mà còn được hạnh phúc vì được làm con Chúa.

Khi Đức cha ra đi về với Chúa, thì con mới được 5 tuổi, với thời gian đó và tuổi thơ, con chưa biết Đức cha được bao nhiêu. Nhưng càng ngày qua các biến cố của cuộc đời, con đã nhận ra từng bước bàn tay yêu thương quan phòng của Chúa dìu dắt chúng con, như lời Đức cha đã hứa: Trên thiên đàng, cha sẽ biết được nhiều, biết rõ hơn về nhu cầu của chúng con; cha sẽ cầu nguyện đắc lực và nhiều hơn gấp bội cho chúng con.

Với ngọn đèn rực sáng đức tin và tình bác ái mà Đức cha đã thắp sáng bằng sự dâng hiến tất cả cho Chúa và cho chúng con, và với lời cầu bầu của Đức cha bên cạnh Chúa mà con đã nhận được biết bao hồng ân trong cuộc sống: được dạy dỗ nuôi nấng, được yêu thương chăm sóc, và được học hành như bao người khác, có thể nói còn hơn nhiều người khác nữa. Nhờ tình thương và hồng ân của Đức cha, nhờ những người đã tiếp nối vòng tay yêu thương của Đức cha và nhờ những ân nhân xa gần mà ngày hôm nay, có thể nói được, là con đã thành đạt trong cuộc sống, có chỗ đứng trong xã hội: con đã là bác sĩ chuyên khoa ngoại, điều vượt ra ngoài mơ ước của con.

Đây là cảm nghiệm của riêng con, xin được chia sẻ như một chứng từ về tình yêu thương mà Đức cha cố dành cho chúng con”.

GP Đà Lạt

xem thêm: VỊ GIÁM MỤC CỦA NGƯỜI PHONG CÙI

ĐỨC CHA JEAN CASSAIGNE : “ÔNG CỐ” GIÁM MỤC CÙI

Cha Của Những Người Cùi Di Linh

Cha Của Những Người Cùi Di Linh

Lòng nhân ái và gương hy sinh của Đức Cha Jean Cassaigne chăm sóc những bệnh nhân bị phong cùi tại Trại Cùi Di Linh, Việt Nam.

“Có đau mới hiểu người đau và biết thương họ nhiều hơn”.

Khi Giám Mục Jean Cassaigne từ trần tại Di Linh, Trung Tưóng Dương Văn Minh và Trung Tướng Nguyễn Khánh , đương kim Quốc Trưởng và Thủ Tướng VNCH  dự lễ cầu hồn Đức Cha tại Vương Cung Thánh Đường Saigon và truy tặng Đệ Ngủ Đẳng Bảo Quốc Huân Chương cho vị Đức Cha đáng kính này.

GIÁM MỤC JEAN CASSAIGNE
MỘT NGƯỜI PHÁP MANG TRÁI TIM VIỆT

Năm 1914, chiến tranh Pháp-Đức bùng nổ, Jean phải đầu quân tham chiến, đến năm 1918 được thưởng huy chương Anh Dũng Bội Tinh và từ chối mọi đề nghị hôn nhân. Năm 1920, Jean từ bỏ mọi vướng mắc thế sự, dâng hiến cuộc đời tại Chủng Viện Thừa Sai Hải Ngoại Paris ( Missionnaires Étrangères de Paris – MEP ) để nối gót các Thừa Sai đã ra đi vì Chúa. Năm 1925, ông thụ phong Linh Mục. Năm 1926, khi có tên trên danh sách 8 vị Thừa Sai được cử đi các nước Viễn Đông: Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản, Lào, Linh Mục Cassaigne đã chọn Việt Nam, đất nước thân yêu của Giám Mục Đắc Lộ ( Alexandre de Rhodes ) để dừng chân.
Theo tài liệu của bác sĩ Gerard Chapuis, một người Pháp gốc Việt ngày 5.5.1926, tàu cập bến Sàigòn, cha Cassaigne được dưa về Cái Mơn học tiếng Việt, chọn tên tiếng Việt là Gioan Sanh. Sau đó, ông được Giám Mục Địa Phận Sàigòn Dumortier cử đến vùng rừng núi Di Linh, noi có nhiều người K’Ho. Lúc này bệnh phong đang hoành hành nơi đây. Một lần, cha Gioan đi tìm thăm bệnh nhân, gặp rất nhiều người bệnh nặng, thân xác héo tàn; từ đó ông quyết tâm dựng một mái nhà để chăm sóc những người bất hạnh này. Ông kêu gọi các bệnh nhân từ trong rừng đến đây cùng chung sống. Với sự hỗ trợ của nhiều người quen, ông mở được một nhà phát thuốc, băng bó, chữa trị cho các bệnh nhân. Lần ấy, ông cũng bị bệnh sốt rét rừng hành hạ, phải về Pháp chữa trị trong 9 tháng.

Ngày trở lại Di Linh, công việc ngày càng nhiều, làng phong thêm con cháu, ông kêu gọi các Nữ Tu Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn giúp ông chia sẻ số phận bạc bẽo của các bệnh nhân phong và ba Nữ Tu đã hết lòng cùng ông chăm sóc bệnh nhân. Ông thường khuyên các Nữ Tu trẻ mới tiếp xúc với bệnh nhân “Họ quá đau khổ, đừng làm hay có cử chỉ gì khiến họ đau khổ hay buồn tủi thêm. Họ là những người đáng quý, đáng thương và tha thứ, phải băng bó cả hai vết thương cùng một lúc, thể xác và tinh thần”.

Ông kể lại rằng, ngày đầu mới băng vết thương cho người cùi, vì chưa quen nên ông đã suýt ói mửa. Ông đã chạy vội vào lùm cây bên cạnh, nói là đi đại tiện. Ói xong lau mặt, ông trở ra tiếp tục băng bó. Làm như vậy để cho người cùi bớt tủi hổ vì thấy mình dơ bẩn. Ông rất mực thương yêu bệnh nhân, người giàu có hay nghèo đều đối xử như nhau, không quở mắng hay nặng lời với bất cứ bệnh nhân nào.
Một hôm vào dịp Tết, có hai anh say rượu đánh nhau, ông đến can, nhưng bị một anh xô té. Ông đứng dậy, cười tươi vỗ vai anh ta không chút giận hờn. Sợ rằng các Nữ Tu biết sẽ quở trách anh ta, ông đã giữ kín chuyện này. Sau này, có người kể lại cho một Nữ Tu. Sơ đã hỏi ông và ông trả lời: “Đâu có gì đáng trách với người bệnh hoạn tật nguyền. Con đừng để ý nữa. Cha muốn vậy. Tội cho cả cha lẫn họ.”
Lần khác, một bệnh nhân bị một Nữ Tu quở trách nặng lời vì đã phạm lỗi. Cha Cassaigne nghe thấy, liền lên tiếng trách sơ trước mặt bệnh nhân. Sau đó ông đi tìm xin lỗi sơ và nói: “Hôm qua cha trách con, cốt ý để cho bệnh nhân đừng tủi, mặc dầu con đã làm phải. Cha đến xin con đừng buồn. Chúng ta không thể làm Chúa Giêsu buồn thì cũng đừng làm cho người cùi buồn. Vì họ là con Chúa, là hình ảnh Chúa Cứu Thế đau khổ trên thập giá”.

Ba Nữ Tu người Việt tận tụy, trở thành cánh tay đắc lực giúp ông điều hành làng phong là các sơ Céleste Joséphine và Angélique. Cha Cassaigne hay nói với các Nữ Tu: “Cha là người Pháp, nhưng có trái tim Việt Nam”.

Ngày 24.12.1945, cha Cassaigne đột ngột được tin Tòa Thánh Roma bổ nhiệm ông làm Giám Mục Giáo Phận Sàigòn nên đành phải từ biệt những con người bệnh tật và mảnh đất ông yêu thương nhất. Thế rồi, như một định mệnh, ngày 26.3.1943. Ông đọc phiếu kết quả xét nghiệm xác nhận ông bị nhiễm vi trùng Hansen ( bệnh phong ). Ông cười nói: “Đây là quà mừng lễ quan thầy của tôi”. Ông nói với những người đang lo lắng ở xung quanh: “Không phải bị mà là được về Di Linh với đoàn con ! Có đau mới hiểu người đau và biết thương họ nhiều hơn”.
Sau khi gửi thư cho Đức Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam và Tổng Quyền Hội Thừa Sai Paris xin từ chức trở về Di Linh, đến năm 1954, cha Cassaigne được toại nguyện “hồi hương” về Di Linh. Năm 1970, các bệnh cũ của ông trở nặng, sốt rét, cột sống bị gặm nhấm và đau dạ dày. Cuối tháng 10 năm 1971, xương dùi của ông bị gãy và ông không rời khỏi giường được nữa. Nhiều người muốn đưa ông về Pháp chữa trị, nhưng ông đã từ chối: “Tôi là người Pháp nhưng trái tim tôi là của người Việt Nam. Tôi muốn sống trong đau khổ và chết nơi đây. Việt Nam là quê hương của tôi”. Cha Cassaigne qua đời vào ngày 30 tháng 10 năm 1973. Ông được an táng cạnh Nhà Thờ, gần tháp chuông, giữa đàn con đáng thương của mình, đúng theo nguyện vọng sâu xa của ông.

Trong quyển sách “Lạc Quan Trên Miền Thượng” viết về cha Cassaigne, cha Giuse Phùng Thanh Quang đã kể lại chi tiết cuộc đời và công việc phục vụ của ông. Trong phần kết, cha Giuse đã viết: “Những ai được may mắn sống gần gũi với Đức Cha đều thường được dịp nghe Ngài nói: “Đời tôi chỉ có 3 ước nguyện: Tôi ao ước được đau khổ vì Chúa và vì người anh em – Tôi ao ước được đau khổ như vậy lâu dài, suốt đời và được vững lòng chịu đựng – Tôi ao ước được an nghỉ giữa bầy con cái phong cùi của tôi”.

Bác sĩ Gérard Chapuis cho biết thêm: từ năm 1972, ở cuối Nhà Thờ Đức Mẹ Fatima Bình Triệu, Người ta thấy có bức tượng một Giám Mục tay trái cầm Thánh Giá, tay phải ôm ngang vai một người cùi, dưới chân trái có một em bé khỏe mạnh, cả 3 đầu ngước mắt lên trời cao. Dưới bệ tượng có ghi: Đức Cha Gioan Cassaigne. Ngày nay, bức tượng không còn nữa, nhưng trên bức tường ngoài hiên của Nhà Thờ, có gắn nhiều bảng ghi: “Tạ ơn Đức Giám Mục Gioan Sanh”. Điều đó chứng tỏ Gioan Cassaigne Sanh vẫn còn sống mãi trong lòng người Việt.
Nếu một hòn đảo xa xôi ngàn trùng như Molokai đã hãnh diện vì có cha Damien Tông Đồ Người Hủi thì Giáo Dân nước Việt lại càng hãnh diện hơn vì có một Đức Cha Gioan Sanh phong cùi, tôi tớ của người hủi.

Trên thực tế, từ ngày 11.4.1929, làng phong được chính thức công nhận và được trợ cấp. Ngay từ những ngày đầu, số người bị bệnh phong tập trưng đã lên đến 21 người. Đến thàng 4 năm 1931, làng có một nhà nguyện nhỏ làm nơi cầu nguyện và Thánh Lễ đầu tiên được cử hành ngày 15.3.1936. Sang năm sau, làng được dời lên đồi (chỗ hiện nay) có kỹ sư người Pháp vẽ kiểu cho cả Nhà Thờ và tháp chuông. Ngày 22.5.1952, nhằm lễ Thăng Thiên, khánh thành làng phong mới, ngày càng nhiều, làng phong thêm con cháu, ông kêu gọi các Nữ Tu Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn giúp ông chia sẻ số phận bạc bẽo của các bệnh nhân phong và ba Nữ Tu đã hết lòng cùng ông chăm sóc bệnh nhân. Ông thường khuyên các Nữ Tu trẻ mới tiếp xúc với bệnh nhân “Họ quá đau khổ, đừng làm hay có cử chỉ gì khiến họ đau khổ hay buồn tủi thêm. Họ là những người đáng quý, đáng thương và tha thứ, phải băng bó cả hai vết thương cùng một lúc, thể xác và tinh thần”.

Trần trung Sáng
Kiến Thức Ngày Nay

CHÚA ĐÃ SINH RA

CHÚA ĐÃ SINH RA

Lm. Vĩnh Sang, dcct.

Ngày lễ mừng Chúa Giáng Sinh đã gần kề, khắp nơi trang hoàng hoa đèn rực rỡ, phố phường vui nhộn, các nhà thờ tưng bừng với những lễ hội, những chương trình mừng lễ Giáng Sinh, các hội đoàn công giáo nhộn nhịp với các chương trình sinh hoạt và vui chơi. Đó là hình ảnh ở các thành phố lớn, nơi có nhiều phương tiện và tài chánh để thực hiện. Còn các vùng thôn quê và vùng sâu vùng xa thì sao ?

Năm trước (2012), tôi lên vùng cao nguyên phía tây đất nước, chia sẻ mục vụ với anh em tôi vào dịp Giáng Sinh. 12g00 trưa 24/12, ba anh em linh mục chúng tôi có bữa cơm trưa với một vài em dân tộc sống chung nhà, thực đơn là đĩa rau rừng luộc, chấm với nước mắm từ 1 cái đầu con cá kho đi kho lại một tuần rồi. Nghỉ trưa xong, một em người dân tôc đưa tôi lên đường lúc 16g00, bắt đầu hành trình dâng lễ đêm cho 3 điểm, rồi sẽ đi ngược trở lại dâng lễ sáng cũng ba điểm đó.

Ba điểm dâng lễ, một điểm có ngôi nhà nguyện nhỏ bằng tôn vách gỗ, một điểm là sân nhà một gia đình có đạo, sân không mái, một điểm ở giữa môt khu đất trống trong làng, không điểm nào có nhà vệ sinh, không điểm nào có tòa giải tội. Đứng ở gốc cây giải tội, rồi tế nhị đi tìm gốc cây khác để đi vệ sinh! Kể từ bữa cơm 12g00 ngày 24/12, sáng hôm sau 25/12 trở về đến Trung tâm lúc 9g00, bếp hoang lạnh vì các anh em kia đi dâng lễ ở các điểm khác xa hơn vẫn chưa về.

Chúng ta chỉ biết một vùng nhỏ, những vùng khác thì sao ? Không khác tí nào, có khi còn nghèo hơn, khó khăn hơn. Là người Kitô hữu chúng ta sẽ nghĩ gì trước sư chênh lệch lớn lao ấy, chúng ta có yên ổn để lên tiếng quảng bá về một máng cỏ trong thơ văn, trong nhạc kịch, trong ánh đèn muôn màu muôn sắc ? Ngày lễ Giáng Sinh năm nay Đức Giáo Hoàng Phanxico sẽ đi đâu, thăm ai, và dâng lễ ở đâu? Tuần Thánh vừa rồi ngài vào nhà tù thăm tù nhân trẻ, rửa chân cho tù nhân trẻ, thậm chí hôn những bàn chân đó một cách cung kính. Ngay trong Giáo Hội chúng ta không được phép để sự giàu nghèo phân cách chúng ta quá đáng như vậy. Câu chuyện người giàu có và ông Lazaro nghèo khổ vẫn là một câu chuyên nhắc nhớ chúng ta về một sự công bằng Chúa mong muốn. Giàu có không là cái tội, tội ở chỗ sống giàu có mà quên người nghèo khó bên mình. Chúa là Đấng nhân từ vô cùng nhưng Chúa cũng là Đấng công bằng vô cùng.

Sẽ là bài thánh ca tuyệt hảo, sẽ là một bài giảng sâu sắc, sẽ là một hang đá ấm cúng, sẽ là một cộng đoàn Kitô hữu đầy ánh sáng, sẽ là một chứng từ mặn muối nồng men khi chúng ta, kẻ đang sinh sống ở những thành phố giàu có dư đầy phương tiện, tìm đến chia sẻ với những nơi nghèo khổ, lạnh lẽo những ngày mùa đông rét mướt. Hãy bớt đi những ánh đèn giăng giăng đầy phố, để gởi đến những căn lều tối tăm tồi tàn một vài anh lửa đêm đông. Hãy bớt đi những đĩa đồ ăn thừa bứa, để gởi đến những mâm cơm chỉ có ngô (bắp) muối với rau rừng. Tôi đã có dịp gặp các anh chị em “dân oan” ở vườn hoa Mai Xuân Thưởng – Hà Nội, mời anh em một bữa cơm có thịt, họ đã bị khó chịu ngay sau đó vì không quen ăn thịt, mấy ngày sau họ chỉ xin ăn cơm với muối vì đã quen như vậy, có cơm là quí rồi vì quanh năm chỉ có ngô (bắp) mà thôi.

Người ta đã biến ngày lễ Giáng Sinh trở thành ngày hội vui chơi của xã hội, người có lòng tin phải biết dừng lại để không bị cuốn vào làn sóng tục hóa như vậy. Sự thánh thiêng của Mầu Nhiệm Con Chúa làm người bị loại mất, còn lại chỉ là sự xa hoa, hào nhoáng của thế gian. Máng cỏ là máng cỏ thật chứ không phải là biệt thự giàu sang, Thiên Chúa làm người thật và làm người trong cảnh khó nghèo, chia cái nghèo với nhân loại. Chúng ta phải làm sao để thông truyền Tin Mừng một cách trung thực.

Lm. Vĩnh Sang, dcct.

20/12/2013