CẦU NGUYỆN LÀ GÌ VÀ CẦU NGUYỆN CÁCH NÀO CHO ĐƯỢC ĐẸP LÒNG CHÚA ?

CẦU NGUYỆN LÀ GÌ VÀ CẦU NGUYỆN CÁCH NÀO CHO ĐƯỢC ĐẸP LÒNG CHÚA ?

Tác giả: Lm. PX. Ngô Tôn Huấn

Đây là câu hỏi cần được trả lời dưới ánh sáng của đức tin lành mạnh.

Đúng thế,  trước hết phải nói lại rằng cầu nguyện  là một nhu cầu tối thiết , không thể thiếu được trong  đời sống của người tín hữu nói riêng và của  Giáo Hội nói chung, vì chỉ có cầu nguyện mới đem ta lại gần Thiên Chúa, là Cha nhân từ  đầy yêu thương và muốn cho mọi người được cứu độ và nhận biết chân lý. ( 1Tm 2: 4)

Hơn thế nữa, cầu nguyện cũng để nói lên niềm tin có Chúa là Cha nhân từ, luôn lắng nghe mọi lời  con cái  loài người cầu xin và rộng lòng ban ơn cứu giúp, mặc dù không ai có công trạng hay xứng đáng khiến Chúa phải ban ơn đền bù. .Do đó, dù không xem thấy Chúa  bắng con mắt trần tục , nhưng càng siêng năng cầu nguyện thì  càng gia tăng niềm tin yêu  Chúa, yêu tha nhân và  dễ xa lánh tội lỗi, do ma quỷ xúi dục và gương xấu dịp tội đầy rẫy trong môi trường xã hội.

Trong cầu nguyện có phần cầu xin ( petition) để qua đó chúng ta  xin Chúa ban cho những ơn cần thiết hầu giúp  cho sự thăng tiến siêu nhiên và cho những nhu cầu chính đáng của thân xác như có công ăn việc làm tốt  để nuôi sống bản thân và gia đình, có sức khỏe tốt để sống và làm việc v.v

Chính vì sự cần thiết phải cầu nguyện và cầu xin mà Chúa Giêsu đã dạy các Tông Đồ xưa  như sau:

“ Thầy lá cây nho, anh  em là cành

Ai ở lại trong Thầy

Và Thầy ở lại trong người ấy

Thì người ấy sinh nhiều hoa trái

Vì không có Thầy

Anh  em chẳng làm  gì  được.” ( Ga 15: 5)

“ Không có Thầy anh  em chẳng làm gì được” có nghiã là nếu không có ơn Chúa phù giúp thì ta chẳng làm được gì hứu ích cho phần rỗi của mình, cũng như có đủ sức để vượt qua mọi khó khăn, gian nan  thử  thách để sống vui sống khỏe trong trần thế này.

Như vậy , cầu xin Chúa cho được bình an, có công ăn việc làm tốt,  và  có sức khỏe để sống và làm việc là điều chính đáng không có gì phải chê trách.

Liên quan đến đến việc chữa lành cho khỏi bệnh tật, chúng ta nhớ ngay đến việc  Chúa Giêsu,  khi đi rao giảng Tin Mừng cứu độ,  cũng đã chữa lành cho biết bao người phong cùi, câm điếc, mù què và bị quỷ ám, cũng như làm phép lạ để hóa bánh và cá ra nhiều cho hàng ngàn người đói ăn no nê. Chúa chữa lành  cho  các bệnh  nhân  nan y  để nói lên Người là Thiên Chúa và có thể làm những việc con người không thể làm được  như chữa lành cho những người đui mù, câm điếc và phong cùi,  là những bệnh nan y mà ngày nay  y khoa tân tiến cũng phải bó tay, nói chi cách nay trên 2000 năm. Chúa chữa cho họ được lành  cũng để nói lên lòng thương xót, cảm thông nỗi đau khổ của những người kém may mắn đó.

Tuy nhiên, mục đích của Chúa đến trần gian không phải chỉ để chữa lành cho thân xác con người mà chủ yếu là để chữa lành cho tâm hồn của cả nhân loại đang  bị vi trùng tội lỗi đục phá và đe dọa cho sự sống của linh hồn. Và đây chính là lý do  khiến Chúa Giêsu  đã hạ mình từ trời cao xuống trần gian làm Con Người  để hy sinh mạng sống mình làm giá chuộc  cho muôn người . ( Mt 20: 28)

Đó là lý do tại sao  Chúa đã không gọi và gom  tất cả những ai bị bệnh tật trong thân xác đến để chữa lành  hết cho họ mà chỉ chữa tượng trưng cho một số  nào mà thôi, trong khi Người dành phần lớn thì giờ  trong ba năm công khai rao giảng Tin Mừng Cứu độ để  kêu gọi mọi người hãy  “ sàm hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1 : 15)   và  hãy đi  qua cửa hẹp mà vào vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến giệt vong mà nhiều người  lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật  thì đưa đến sự sống , nhưng ít người tìm được lối ấy. ( Mt 7 : 13-14)

“ Vào qua cửa  hẹp và đường chật ” có nghĩa là phải khép mình chống lại những khuynh hướng xấu còn tồn tại trong bản năng để  yêu mến Chúa trên hết mọi sự và xa tránh tội lỗi vì chỉ có tội mới có thể  làm cho con người phải chết đời đời,  vì  xa cách Thiên Chúa là nguồn an vui , hạnh phúc vĩnh cửu.

Do đó, chúng ta cần ơn Chúa để thực thi những gì Người đã rao giảng hầu được cứu độ như lòng Chúa mong muốn. Như thế, cầu nguyện là nhu cầu tốt cần thiết cho mọi người tín hữu muốn thêm lòng yêu mến Chúa và có đủ sức để sống đức tin , đức cậy và đức mến cách nồng nàn  bao lâu còn sống trên trần gian này. Và như đã nói ở trên, cầu xin là một phần  quan trọng của cầu nguyện. Nhưng khi cầu xin Chúa ban cho bất cứ ơn gì thì chúng ta phải noi gương Chúa Kitô, khi Người cầu xin cùng Chúa Cha trước giờ bị trao nộp và tử nạn như sau:

Lậy Cha, nếu Cha muốn, xin cho Con khỏi uống chén này.Tuy vậy, đừng làm

Theo ý con, mà xin theo ý Cha. ( Lc 22: 42; Mt 26 : 39; Mc 14: 36)

Mặt khác, Chúa Giêsu cũng dạy các Tông Đồ xưa và tất cả chúng ta ngày nay  phải cầu xin Chúa Cha  nhân danh Chúa Con như sau :

Thật Thầy bảo thật anh  em: anh  em mà xin Chúa Cha điều gì

Thì Người sẽ ban cho anh  em nhân danh Thầy. “ ( Ga 16: 23)

Như thế, cầu nguyện và cầu xin theo  ý Chúa Cha,  nhân danh Chúa Con  là cách cầu nguyện đẹp lòng Chúa Cha  và chắc chắn được  Người ban  ơn  cho ta. Tuy nhiên, khi cầu xin bất cứ ơn gì, ta  phải tránh hai thái cực sau đây:

1- Trông cậy Chúa cách thái quá hay mù quáng.

Thí dụ  như không thận trọng lái xe mà cứ  tin có Chúa  che chở  để  lơ là khiến xẩy ra tai nạn. Xin Chúa gìn giữ  che chở khi đi đường  là  điều  tốt , nhưng về phần mình  vẫn  phải cố gắng  lái xe  cho cẩn thận,  tuân giữ luật lưu thông  để tránh tai nạn cho mình và cho người khác. Cũng vậy, không thể trông cậy có Chúa che chở  để  không đóng cửa nhà hay khóa xe  cẩn thận  khiến kẻ gian có thể đột nhập  ăn trộm và giết hại chủ nhà. Đặc biệt, khi đau ốm thì phải tìm thầy  thuốc,  và uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ ,  vì  chính qua các phương tiện con người này,  mà Chúa ban ơn  cho  bệnh nhân cầu xin cho được  lành khỏe. Như thế, ai đau yếu mà chỉ cầu xin cho được khỏe  mà không dùng những phương tiện cần thiết sẵn có  như thuốc men theo  y  khoa  thì  đó là trông cậy  Chúa cách mù quáng chứ không phải là sống đức tin, đức cây cách trưởng thành và  vững chắc..

Đây chính là tội mà tên quỷ đã càm dỗ Chúa Giêsu khi Người ăn chay trong rừng vắng.

Quỷ đã đưa Chúa lên một nơi cao và nói với Chúa : “ Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy đứng đây mà gieo mình xuống đi, vì có lời chép rằng : Thiên Chúa sẽ truyền cho thiên sứ gìn giữ bạn, và thiên sứ sẽ tay đỡ tay nâng cho bạn khỏi vấp chân vào đá. Bấy giờ Chúa Giêsu đáp lại : Đã có lời chép rằng : ngươi chớ thử thách Đức Chúa, là Thiên Chúa của ngươi. ( Mt 4 : 5-7;  Lc 4 : 12)

Như  vậy,  rõ ràng cho thấy là không được cầu xin và cậy trông Chúa mà không làm gì về  phần mình để công tác với ơn Chúa. Nghĩa là không thể khoán trắng cho Chúa làm hết mọi sự cho mình, mặc dù Chúa có  thể làm hết, nhưng Chúa vẫn  muốn ta phải  tỏ thiện chí và làm hết sức mình trong niềm cậy trông ơn Chúa phù giúp thì đó mới là trông cậy Chúa cách đẹp lòng Người để  đáng được  nhậm lời  ta cầu xin.. Nói rộng thêm nữa , công nghiệp của Chúa Kitô là quá đủ cho con người được cứu rỗi, nhưng nếu ai ỷ lại vào đây để cứ phạm tội, cứ sống theo thể gian và xác thịt thì chắc chắn Chúa không thể cứu người ấy được,  như Chúa đã nói rõ với các môn đệ Người  xưa kia như sau :

Không phải bất cứ ai thưa với Thầy : Lậy Chúa, lậy Chúa là được vào Nước Trời       cả đâu, nhưng chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy là Đấng ngự trên Trời mới được vào mà thôi. ( Mt 7: 21)

Sau nữa, cũng cần nói thêm là  ta không được trông cậy để cầu xin những ơn không cần thiết, không chính đáng và thiếu bác ái như :  xin cho có sức mạnh để hạ đo ván đối thủ trên võ  đài,   xin cho mình được buôn bán phát đạt, mặc dù hàng hóa của mình có nhiều món làm giả mạo , hay  thực  phẩm  mình  bán có pha chế chất độc hai  cho sức khỏe của thực  khách, hoặc xin cho   được  trúng số,  trúng “ cá độ” để  có nhiều tiền của danh vọng ở đời.   Đây  là những  nhu cầu  bất chính của lòng tham vô đáy,  thiếu bác ái và lương tâm ngay chính. Cần nói  lại là đấu võ ( boxing) là một trò chơi nguy hiểm mà Giáo Hội lên án vì có phương hại cho sự sống của mình và của người khác. Chúa sẽ không bao giờ ban những ơn không có ích cho phần hồn và phần xác của ai, cho dù người ta có  xin và trông cậy đến đâu thì cũng vô ích mà thôi.

2- Thiếu trông cậy khi cầu xin:

Ngược lại, nếu ta cầu xin Chúa điều gì mà không thực  sự  có lòng trông cậy thì cũng không đẹp lòng Chúa  vì  thiếu lòng trông cậy có nghĩa là thiếu tin tưởng vào lòng nhân hậu và cảm thông  của Chúa cho những nhu cầu chính đáng về  phần rỗi của linh hồn và cho một đời sống xứng hợp với nhân phẩm như có của ăn, áo mặc, nhà ở,  sức khỏe và bình an để sống và làm việc.

Tóm lại, cầu nguyện và cầu xin là nhu cầu tối cần cho mọi người tín hữu chúng ta, vì ta rất cần ơn Chúa để sống đức tin và sống xứng đáng  thân phận con người trong trần thế này. Nhưng khi cầu xin bất cứ ơn gì, – mà phải là ơn thực sự cần thiết cho hồn xác của mình hay cho người khác –   ta phải tránh hai thái cực nói trên. Nghĩa là không  được  cầu xin và trông cậy cách mù quáng như ốm đau mà không  cần y khoa chữa trị  dù  sẵn có tiền bạc,   mà chỉ cầu xin Chúa “ làm phép lạ” cho khỏi bệnh.  Hoặc chỉ  trông cậy Chúa  che chở  mà không chú ý lái xe khiến gây tai  nạn cho mình và cho người khác.. Hay  không chịu khó  học hành mà chỉ cầu xin cho được điểm cao và  thi đậu. Chúa không bao giờ “ làm phép lạ” cho những ai trông cậy cách mù quáng  như vậy.

Ước mong giải đáp trên thỏa mãn câu hỏi được đặt  ra.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

HÃY THẮP LÊN … MỘT QUE DIÊM


HÃY THẮP LÊN … MỘT QUE DIÊM

Một bữa tối tại vận động trường Los Angeles, Mỹ, một diễn giả nổi tiếng – ông John Keller, được mời thuyết trình trước khoảng 100.000 người. Đang diễn thuyết bỗng ông dừng lại và dõng dạc nói :
– Bây giờ xin các bạn đừng sợ! Tôi sắp cho tắt tất cả đèn trong sân vận động này.
Đèn tắt. Cả sân vận động chìm sâu trong bóng tối âm u. Ông John Keller nói tiếp :
– Bây giờ tôi đốt lên một que diêm. Những ai nhìn thấy ánh lửa của que diêm đang cháy thì hãy hô to “Đã thấy !”.
Một que diêm được bật lên, cả sân vận động vang lên: “Đã thấy !”.
Sau khi đèn được bật sáng trở lại, ông John Keller giải thích :
– Ánh sáng của một hành động nhân ái .. dù nhỏ bé như một que diêm .. cũng sẽ chiếu sáng trong đêm tăm tối của nhân loại .. y như vậy.
Một lần nữa, tất cả đèn trong sân vận động lại được tắt. Một giọng nói vang lên :
– Tất cả những ai ở đây .. có mang theo diêm quẹt, xin hãy đốt cháy lên !    Bỗng chốc cả vận động trường rực sáng.
Ông John Keller kết luận :
– Tất cả chúng ta cùng hợp lực nhau .. có thể chiến thắng bóng tối, chiến tranh, khủng bố, cái ác và oán thù .. bằng những đóm sáng nhỏ của tình thương, sự tha thứ và lòng tốt của chúng ta. Hoà bình không chỉ là .. môi trường sống vắng bóng của chiến tranh. Hòa bình không chỉ là .. cuộc sống chung không tiếng súng. Vì trong sự giao tiếp giữa người với người, đôi khi .. con người giết hại nhau .. mà không cần súng đạn, đôi khi con người làm khổ nhau, áp bức bóc lột nhau .. mà không cần chiến tranh.
Cách tốt nhất để xây dựng hòa bình .. là tăng thêm thật nhiều .. những hành động yêu thương và hảo tâm với đồng loại.
Những hành động yêu thương .. xuất phát từ lòng nhân hậu .. sẽ như những ánh sáng nho nhỏ của một que diêm.
Nhưng nếu mọi người cùng đốt lên .. những ánh sáng bé nhỏ, những hành động yêu thương .. sẽ có đủ sức mạnh để xua tan bóng tối của những đau khổ và cái ác.

S.T.

Các tượng đài XHCN dần dần bị sụp đổ

Các tượng đài XHCN dần dần bị sụp đổ

basam.info

GS Nguyễn Văn Tuấn

19-09-2014

Đọc trên RFI thấy có tin chính quyền Hungary đã quyết định hạ tượng Karl Marx ở khuôn viên đại học Corvinus (1). Thế là sau 25 năm sau ngày XHCN suy sụp, bức tượng của ông tổ XHCN bị hạ bệ theo cái chủ thuyết của ông luôn. Thật ra, không chỉ Marx, các tượng đài của những người cộng sản “tay tổ” như Lenin, Stalin đều đã bị hạ từ lâu.

Năm 1991, sau khi Liên Xô sụp đỗ một thời gian, hàng ngàn người tụ tập ở quảng trường Dushanbe (thủ đô của Tajikistan), và họ kéo sập tượng Lenin. Có người còn cực đoan đến đập sao cho đầu của tượng bị văng ra khỏi thân.

Cách đây không lâu, người dân Ukraina quyết định hạ tượng của Lenin, nhưng cách họ làm rất ư là bạo lực. Họ dùng xe cần cẩu kéo sập tượng. Khi tượng bị ngã, người dân tức giận không chịu tha mà còn lấy búa đập bức tượng.

Năm 2012, Mông cổ cũng quyết định hạ tượng Lenin (3). Lí do hạ bệ Lenin là vì, theo ông Thị Trưởng Bat-Uul Erdene, ông là người đề xướng cái chủ nghĩa đã giết chết gần 100 triệu người trên thế giới. Chẳng biết ông lấy con số này ở đâu, nhưng ông nói trước công chúng như thế. Bức tượng Lenin được đem đi đấu giá, với cái giá khởi điểm chỉ 300 USD! Sau Mông Cổ là Ukraina cũng giật sập tượng Lenin ở thành phố Kiev vào cuối năm 2013 (4).

Không chỉ giật sập tượng, nhiều nước Đông Âu và vùng Baltic còn cấm những biểu tượng cộng sản như búa liềm, ngôi sao năm cạnh. Các biểu tượng đó cùng với huy hiệu SS được xem là biểu tượng của chế độ độc tài vì Hungary có luật cấm trưng bày những biểu tượng ở nơi công cộng (5). Sau Hungary, Ba Lan cũng cấm các biểu tượng cộng sản.

Ở vài nơi, người cộng sản có thói quen đổi tên thành phố khi cách mạng của họ thành công. Trước đây, họ đổi tên thành phố Saint Petersburg thành tên của Lenin (Leningrad). Nhưng cái gì của Cesar phải trả về cho ổng: Năm 1991, chính quyền Nga đã quyết định xoá tên thành phố Leningrad và trả lại cái tên cũ là Saint Petersburg.

Điều trớ trêu là tượng đài của những người như Lenin, Stalin, Marx vẫn còn có hàng triệu người tôn sùng ở Á châu, dù những kẻ tôn sùng chẳng có liên quan văn hoá hay dân tộc gì với họ.

—-

(1) http://vi.rfi.fr/quoc-te/20140918-hungary-ha-be-tuong-cac-mac/

(2) http://articles.baltimoresun.com/2003-04-13/news/0304130226_1_lenin-large-statue-saddam-hussein

(3) http://www.bbc.co.uk/vietnamese/world/2012/10/121015_mongolia_lenin_legacy.shtml

(4) http://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%ADt_s%E1%BA%ADp_t%C6%B0%E1%BB%A3ng_Lenin_%E1%BB%9F_Kiev

(5) http://nhipcauthegioi.hu/modules.php?name=News&op=viewst&sid=3403

Nguồn: FB Nguyen Tuan

Biết ơn Lenin?

GS Nguyễn Văn Tuấn

12-12-2013

Bình luận về sự kiện dân Ukraina giật sập tượng Lenin một vị giáo sư sử học ở Việt Nam cho rằng đó là một hành động vô văn hoá. Ông còn nói thêm rằng người dân Việt Nam trân trọng và biết ơn Lenin vì ông ấy “đại diện cho ‘ý tưởng xây dựng xã hội tốt đẹp’ vốn là điều ‘cả thế giới mong muốn’.” Tôi cứ phân vân về hai ý này, vì nó không đúng với thực tế.

Câu làm tôi phân vân là người Việt Nam trân trọng và biết ơn Lenin. Đúng là có một số người mang dòng máu Việt mang ơn Lenin, không hẳn vì lí tưởng chủ nghĩa xã hội, mà vì lí do thực tế và “trần ai” khác. Những người trong đảng thì chắc là biết ơn ông Lenin. Đảng thì có trên 2 triệu người, cộng với thân nhân nữa thì chắc xấp xỉ 10 triệu người. Dân số Việt Nam là 90 triệu (tính chẵn) và đa số nghèo và chắc chẳng cần biết ông Lenin là ai cũng như chẳng có mang ơn gì ông ấy. Người Việt ở hải ngoại thì chắc chắn ghét ông ấy. Những người đau khổ vì những chính sách mang màu sắc đấu tranh giai cấp của ông ấy cũng chẳng muốn thấy tượng ông ấy ở VN. Như vậy, có thể ước tính rằng cứ 1 người biết ơn Lenin thì có khoảng 9 người không biết đến ông Lenin. Do đó, cụm từ “Người dân Việt Nam” e rằng quá cường điệu.

Còn nói rằng cả thế giới mong muốn lí tưởng XHCN theo kiểu đấu tranh giai cấp và định hướng CNCS thì tôi nghĩ chắc là đoán mò thôi. Cái chủ nghĩa đó đã dần dần hết đất sống, đã mất sức sống, đã gây ra bao nhiêu thảm hoạ cho thế giới và Việt Nam. Tôi nghĩ nếu làm thử một điều tra xã hội thì sẽ biết số người ủng bộ CHXH chẳng bao nhiêu đâu. Bên Âu châu dù có nơi vẫn có màu sắc XHCN, nhưng nói chung ai cũng nghi ngờ cái chủ nghĩa đó. Người ta có nghị quyết lên án chủ nghĩa cộng sản nữa. Bên Đông Âu, những nước theo XHCN cũ nay cấm không có các biểu tượng của CNCS (như cờ búa liềm chẳng hạn) xuất hiện nơi công cộng. Nhưng tôi đoán là chắc người dân có thể trưng bày mấy biểu tượng đó ở nhà (?)

Tôi có phần đồng ý là việc giật sập tượng là một hành động không đẹp, xét về mặt văn hoá. Nếu phán xét như vậy thì chúng ta cũng có thể nói người Việt cũng nhiều lần hành xử kém văn hoá. Sau năm 1975, biết bao nhiêu tượng của các nhân vật thời trước 1975 bị giật sập và phá tan hoang. Đường xá thì bị thay tên đổi họ. Những con đường mang tên các danh nhân lịch sử đới Trần, Lý, Lê, Đinh, v.v. vốn là di sản chung của dân tộc cũng bị nhường cho những người du kích và những người từng tham gia cách mạng. Những con đường mang tên lí tưởng đẹp và phổ quát (như Công Lí, Tự Do) đều bị thay bằng tên của những sự kiện mà không bao nhiêu người công nhận. Do đó, trách người Ukraina là “manh động” và kém văn hoá có lẽ không công bằng khi chính những người gắn bó với cái chủ nghĩa đó lại từng làm như thế.

Nguồn: FB Nguyen Tuan

Albania, điển hình của hòa hợp liên tôn

Albania, đin hình ca hòa hp liên tôn

Vũ Văn An

9/21/2014

Theo hãng tin AFP, cuộc du hành một ngày qua Albania của Đức Phanxicô hôm nay, 21 tháng Chín, nhằm đề cao nước này như một kiểu mẫu của hoà hợp liên tôn, giữa lúc ở Trung Đông đang có rối loạn và tại Âu Châu làn sóng bất khoan dung đang dâng cao.

Mặc dù Tòa Thánh lên tiếng ủng hộ các cuộc không kích của Hoa Kỳ tại Iraq để bảo vệ các Kitô hữu bị bách hại, Đức Phanxicô vẫn cố gắng lấy cuộc đối thoại giữa các tôn giáo làm “hòn đá góc” của triều giáo hoàng của ngài và luôn ra sức phản công lời kêu gọi sử dụng vũ lực bằng công thức hòa bình. Albania xiết chặt an ninh trước khi ngài tới, nâng báo động cảnh sát lên mức cao nhất và huy động cả lực lượng đặc biệt trên khắp xứ sở vì những lời cảnh báo cho rằng Nhà Nước Hồi Giáo Trị có kế hoạch tấn công nhà lãnh đạo Công Giáo này.

Cờ vàng trắng của Vatican bay phấp phới trên các lộ chính của Thủ Đô Tirana bên cạnh cờ đỏ với chim đại bàng hai đầu mầu đen của Albania, trong khi các chân dung lớn của các linh mục và nữ tu Công Giáo bị bách hại dưới thời Cộng Sản được giăng qua các phố. Cuộc du hành này sẽ là cuộc chạy đua 11 giờ trong đó, Đức Thánh Cha sẽ gặp Tổng Thống Albania là Bujar Nishani, cử hành thánh lễ tại Công Trường Mẹ Têrêxa ở Tirana, ăn trưa với các giám mục, chuyện trò với các nhà lãnh đạo tôn giáo và viếng thăm các cô nhi.

Đức Phanxicô trước đây từng cho biết ngài chọn xứ nghèo vùng Balkan này làm nơi đầu tiên ở Âu Châu để viếng thăm, thay vì một trong những xứ hùng cường khác, vì đây là một điển hình về một lãnh thổ nơi các tôn giáo thông thường hay đấu tranh với nhau ở nơi khác nhưng ở đây đã chung sống với nhau rất thành công.

Các chứng nhân của đức tin

Tháng Tám vừa qua, Đức Phanxicô cho biết: Albania đã thành công trong việc tạo ra một “chính phủ đoàn kết quốc gia gồm người Hồi Giáo, Chính Thống Giáo và Công Giáo, với một hội đồng liên tôn rất có ích và cân bằng” và nói thêm: sự hiện diện của ngài “sẽ là một cách nói với mọi người rằng: qúy vị xem, tất cả chúng ta đều có thể làm việc với nhau!”

Cuộc gặp gỡ kín cửa cao tường của ngài với các vị đứng đầu các cộng đồng tôn giáo khác sẽ bao gồm người Hồi Giáo, Chính Thống Giáo, Bektashi, Do Thái Giáo và Thệ Phản. Nhà lãnh đạo của 1.2 tỷ người Công Giáo thế giới muốn vinh danh những người từng chịu đau khổ dưới thời nhà độc tài Enver Hoxha, người, năm 1967, từng tuyên bố Albania là quốc gia cộng sản đầu tiên, và dưới thời ông ta cai trị, các linh mục và giáo sĩ Hồi Giáo đã bị bách hại và các nơi thánh bị san bằng.

Theo Đức Phanxicô, giữa các năm 1945 và 1985, 111 linh mục, 10 chủng sinh và 7 giám mục đã chết trong lúc bị giam giữ hay bị xử tử; gần 2,000 nhà thờ Chính Thống Giáo và Công Giáo bị tiêu hủy hay biến thành rạp hát, nhà hát và vũ trường. Ngài cho biết sự tái sinh đức tin Công Giáo sau cuộc bách hại ấy đã biến Albania thành một nơi “tôi cảm thấy nên tới thăm”.

Việc hồi sinh Đạo Công Giáo một phần nhờ Mẹ Têrêxa, là người đã sinh ra tại nơi nay là Macedonia nhưng có gốc Albania. Tại một xứ sở với dân số trẻ trung nhất Âu Châu, Tòa Thánh hy vọng sẽ tạo được một nguồn suối cho người tân tòng trên một lục địa đang bị chủ nghĩa duy tục kềm kẹp.

Đây sẽ là cuộc viếng thăm lần thứ hai của một vị giáo hoàng. Đức GH Gioan Phaolô II từng viếng thăm xứ này một năm sau ngày chủ nghĩa Cộng Sản sụp đổ năm 1992. Trong cuộc viếng thăm ấy, Đức Gioan Phaolô II đề cao các “chứng nhân của đức tin” và đã bổ nhiệm 4 tân giám mục trong đó có Đức Cha Michel Koliqi, lúc ấy đã 91 tuổi, người từng bị giam 21 năm.

An ninh chặt chẽ

Nước với 3 triệu dân này chắc chắn chờ mong được vị giáo hoàng nổi tiếng hỗ trợ trong cố gắng trở thành hội viên của Liên Hiệp Âu Châu.

Don Giergi Meta, phát ngôn viên của Giáo Hội Albania, nói với Đài Phát Thanh Vatican rằng “đây là một dấu hiệu mạnh mẽ và là một khích lệ để đẩy mạnh cố gắng của chúng tôi được hòa nhập vào Âu Châu”. Tòa Thánh vốn nhấn mạnh rằng mình không muốn gia tăng việc an ninh cho chuyến đi, nhưng bộ nội vụ Albania cho biết cảnh sát đã thiết lập 29 trạm kiểm soát tại trung tâm Tirana, nơi phần lớn các sinh hoạt của Đức Giáo Hoàng được dự trù, kể cả tại Công Trường Mẹ Têrêxa.

Một số quan sát viên Vatican sợ rằng Đức Phanxicô tự biến mình thành một mục tiêu khi lên tiếng chống lại tổ chức Nhà Nước Hồi Giáo Trị. Nhưng vị giáo hoàng người Á Căn Đình này, người không muốn gì khác ngoài việc được trà trộn vào đám đông, sẽ vẫn chỉ sử dụng chiếc xe mui trần mà ngài quen dùng ở Công Trường Nhà Thờ Thánh Phêrô.

Bất chấp là một nước nghèo nhất của Âu Châu, tháng rồi, Albania bắt đầu gửi vũ khí và đạn dược cho các lực lượng Kurd để họ đánh trả các chiến binh của Hồi Giáo Trị tại Iraq, vá các nguồn an ninh trong nước đã loại bỏ các nỗi sợ sệt về một cuộc tấn công của bọn khủng bố quốc nội.

Thuận và Nghịch

Thuận và Nghịch

Tác giả: Trầm Thiên Thu

Thuận và nghịch là hai trạng thái đối lập, trái ngược nhau. Trạng thái đối lập này có thể là tốt hoặc xấu, tùy trường hợp. Có những trường hợp thuận mà lại nghịch, gọi là thuận-lý-nghịch; có những trường hợp nghịch mà lại thuận, gọi là nghịch-lý-thuận.

Trong toán học có tỷ lệ thuận và nghịch. Nếu biết cặp giá trị tương ứng của hai đại lượng tỷ lệ thuận và một giá trị khác của đại lượng này, ta có thể tìm được giá trị tương ứng của đại lượng kia. Toán học cũng có quy tắc tam xuất đơn thuận và nghịch. Quy tắc tam xuất đơn thuận: Nếu A tăng N lần, B cũng tăng N lần (nhân với N). Quy tắc tam xuất đơn nghịch: Nếu A tăng N lần, B sẽ giảm N lần (chia cho N).

Khi nói về “tội phạm tới Chúa Thánh Thần”, loại tội không được tha cả đời này và đời sau, Chúa Giêsu có nói điều liên quan tình trạng thuận và nghịch: “Ai không đi với tôi là chống lại tôi, và ai không cùng tôi thu góp là phân tán” (Mt 12:30; Lc 11:23).

Giữa con người với nhau cũng có sự thuận và nghịch. Ở đây không có ý nói “theo phe” hoặc “chống lại” nhau, mà chỉ có ý đơn giản và bình thường. Đó là gì? Tuy không là thù địch, nhưng vẫn có người này “hợp” với người kia hoặc “không hợp” với người nọ. Hai người “hợp” nhau thì dễ nói chuyện, dễ thông cảm, dù không cần nói gì; ngược lại, hai người “không hợp” nhau thì rất khó nói chuyện và khó thông cảm, khoảng im lặng rất ngột ngạt. Nếu đối nghịch nhau thì “chiến tranh” rất dễ bùng nổ.

Người phàm với nhau mà đối nghịch đã là nguy hiểm rồi, huống chi là đối nghịch với Thiên Chúa. Ấy thế mà ngày xưa, dân chúng đã dám nói phạm thượng: “Đường lối của Chúa Thượng không ngay thẳng” (Ed 18:25). To gan và lớn mật hết sức, liều lĩnh thật, đâu kém gì Ông Bà Nguyên Tổ ngày xưa!

Thiên Chúa đặt vấn đề thẳng thắn: “Vậy hỡi nhà Ít-ra-en, hãy nghe đây: Phải chăng đường lối của Ta không ngay thẳng hay đường lối của các ngươi mới không ngay thẳng? Khi người công chính từ bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình. Nó đã thấy và từ bỏ mọi tội phản nghịch nó phạm, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết” (Ed 18:26-28). Ngài cũng đang chất vấn chúng ta như vậy, chắc hẳn chúng ta chẳng thể nói được nửa lời. Cái chết là thất bại lớn nhất của nhân loại, chính tội lỗi khiến chúng ta phải chết (Rm 5:12; Rm 5:21), chứ Thiên Chúa tốt lành không bắt chúng ta chết.

Dù chỉ là bụi đất (St 3:19), chẳng đáng chi cả, vậy mà phàm nhân chúng ta dám “chọc giận” Thiên Chúa, thậm chí còn dám phản nghịch Ngài (vì cứ phạm tội còn hơn cơm bữa). Tuy nhiên, Ngài không chấp “lũ trẻ con”, thế nên Ngài vẫn luôn nhớ đến và quan tâm (Tv 8:5), đồng thời còn kiên trì chờ đợi chúng ta hối lỗi: “Đối với các dân tộc khác, Chúa Tể nhẫn nại chờ đợi cho đến khi tội lỗi chúng ngập đầu mới trừng phạt; còn đối với chúng ta, Người không xử như thế” (2 Mcb 6:14). Quả là Lòng Chúa Thương Xót quá lớn lao, ngoài sức tưởng tượng của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta vẫn cứng đầu thì hết đường thoát: “Nếu các ngươi không chịu nghe Ta, thì Ta sẽ còn sửa phạt các ngươi gấp bảy lần vì tội lỗi của các ngươi” (Lv 26:18). Đáng sợ quá, lạy Thiên Chúa của chúng con!

Khôn sống, mống chết. Ước gì chúng ta biết khôn ngoan như tác giả Thánh Vịnh: “Lạy Chúa, đường nẻo Ngài, xin dạy cho con biết, lối đi của Ngài, xin chỉ bảo con. Xin dẫn con đi theo đường chân lý của Ngài và bảo ban dạy dỗ, vì chính Ngài là Thiên Chúa cứu độ con. Sớm hôm con những cậy trông Ngài, bởi vì Ngài nhân ái” (Tv 25:4-5). Cầu xin và muốn được Thiên Chúa nhậm lời thì phải biết chân thành sám hối. Đó là điều kiện có lợi cho chính chúng ta mà thôi, chứ đối với Chúa chẳng “xi-nhê” gì. Vâng, Thiên Chúa lúc nào cũng chờ đợi và luôn sẵn sàng nghe chúng ta nhận lỗi mà thân thưa: “Lạy Chúa, xin nhớ lại nghĩa nặng với ân sâu Ngài đã từng biểu lộ từ muôn thuở muôn đời. Tuổi xuân trót dại bao lầm lỗi, xin Ngài đừng nhớ đến, nhưng xin lấy tình thương mà nhớ đến con cùng. Chúa là Đấng nhân từ chính trực, chỉ lối cho tội nhân, dẫn kẻ nghèo hèn đi theo đường công chính, dạy cho biết đường lối của Người” (Tv 25:9).

Hứa thì phải chấn chỉnh cách sống với nỗ lực hết sức, chứ không chỉ hứa suông. Chúa biết chúng ta có họ hàng với Cuội nên “lẻo mép” mà “hứa lèo” lắm. Thực sự Ngài không chấp, nhưng Ngài lưu ý là chúng ta có nỗ lực hết sức hay không. Quả thật, “nếu Chúa chấp tội nào ai rỗi được” (Tv 130:3). Tuy nhiên, đừng “được đằng chân lân đằng đầu”, cũng đừng thấy Ngài nhân từ mà làm tới. Không khéo chúng ta lại lợi dụng lòng thương xót của Ngài đấy!

Biết sám hối chân thành là biết liên kết với Thiên Chúa. Biết mình “nghịch” thì cần chỉnh sao cho “thuận” với Ngài, càng sớm càng tốt. Thánh Phaolô khuyên: “Nếu quả thật sự liên kết với Đức Kitô đem lại cho chúng ta một niềm an ủi, nếu tình bác ái khích lệ chúng ta, nếu chúng ta được hiệp thông trong Thần Khí, nếu chúng ta sống thân tình và biết cảm thương nhau, xin anh em hãy làm cho niềm vui của tôi được trọn vẹn, là hãy có cùng MỘT cảm nghĩ, cùng MỘT lòng mến, cùng MỘT tâm hồn, cùng MỘT ý hướng như nhau” (Pl 2:1-2). Sống được như vậy là “nên một” theo ý muốn của Đức Kitô (Ga 17:21-23).

Thực tế chưa được như vậy, vì thế mà chúng ta phải nỗ lực hơn. Một lần nọ, ban chấp hành của một hội đoàn Công giáo (TGP Saigon) rủ tôi ăn uống chung, chỉ là để “cho vui” thôi. Tuy nhiên, chỉ sau khoảng 10 phút, tôi thấy người thì “vạch lá tìm sâu”, người thì “bới bèo ra bọ”, họ “căng thẳng” với nhau, tôi thấy bất lợi nên xin ra về. Thật đáng buồn! Bản chất con người luôn đề cao “cái tôi”, vì thế mà rất nguy hiểm, cần phải luôn cố gắng “đè nén” nó. Ngay cả khi chúng ta làm việc gì gọi là “vì Chúa”, thực ra chúng ta vẫn “vì mình” nhiều lắm, Chúa chẳng “xơ múi” gì đâu! Thánh Phaolô cũng đã từng cảnh báo: “Đừng làm chi vì ganh tị hay vì hư danh, nhưng hãy lấy lòng khiêm nhường mà coi người khác hơn mình. Mỗi người đừng tìm lợi ích cho riêng mình, nhưng hãy tìm lợi ích cho người khác. Giữa anh em với nhau, anh em hãy có những tâm tình như chính Đức Kitô Giêsu” (Pl 2:3-5). Khó lắm, vì thế mà luôn phải cố gắng “chết” triền miên!

Thánh Phaolô dẫn chứng cụ thể: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế. Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2:6-9). Chúng ta đã nghe đi nghe lại điều này nhiều lần rồi, thế nhưng đã mấy lần chúng ta “giật mình”, hay là cứ nghe tai này rồi qua tai kia? Chúng ta tội lỗi lắm, tội với Chúa và tội với tha nhân!

Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Ngôi Hai Thiên Chúa, Ngài có tất cả mọi sự, nhưng Ngài đã tự hạ đến tột cùng, vì thế mà Ngài xứng đáng được Thiên Chúa Cha siêu tôn: “Khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:10-11).

Nói tới tình trạng thuận và nghịch thì phải có hai đối tượng. Ví dụ: Đất trời có âm và dương, nam châm có âm và dương, nhân loại cũng có âm và dương (nữ và nam). Âm và dương là hai thái cực. Nhưng âm và dương là để hài hòa chứ không để đối lập nhau. Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đưa ra hai con người trái ngược nhau: Dụ ngôn hai người con. Một thuận, một nghịch. Đây cũng chính là “hai con người” hoặc “hai bộ mặt” trong mỗi chúng ta.

Một hôm, các thượng tế và kỳ mục hỏi vặn Chúa Giêsu về “quyền hành”. Chúa Giêsu thản nhiên kể chuyện rằng một người cha nọ có hai con trai. Ông bảo người con thứ nhất đi làm vườn nho, nhưng nó nói thẳng là “không đi”. Nó cãi ngay lập tức. Nhưng sau đó, nó hối hận nên lặng lẽ đi làm. Ông cũng đi bảo người con thứ hai đi làm. Nó ngoan ngoãn vâng lời ngay, nhưng rồi nó lại không đi.

Chúa Giêsu hỏi họ: “Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha?” (Mt 21:31a). Họ trả lời ngay: “Người thứ nhất” (Mt 21:31b). Giả sử Ngài trực tiếp hỏi chúng ta, chắc hẳn mỗi chúng ta cũng dễ dàng trả lời được như vậy. Không gì hóc búa! Và Chúa Giêsu nói với họ: “Tôi bảo thật các ông: những người thu thuế và những cô gái điếm vào Nước Thiên Chúa trước các ông” (Mt 21:31c). Mèn ơi! Nghe chi mà “sốc” quá chừng! Nhưng đó là sự thật, rất thật. Ngài biết họ đang ngẩn ngơ như chú Tàu nghe kèn, nên Ngài giải thích luôn: “Vì ông Gioan đã đến chỉ đường công chính cho các ông, mà các ông KHÔNG TIN ông ấy; còn những người thu thuế và những cô gái điếm lại TIN. Phần các ông, khi đã thấy vậy rồi, các ông vẫn không chịu hối hận mà tin ông ấy” (Mt 21:32).

 

Đức Giêsu đã xác định: “Ai yêu mến Thầy thì sẽ GIỮ lời Thầy. Cha Thầy sẽ yêu mến người ấy. Ai không yêu mến Thầy thì KHÔNG GIỮ lời Thầy” (Ga 14:23-24). Rất rõ ràng và mạch lạc, không khó hiểu, tất nhiên không ai có thể biện minh vì bất cứ lý do nào. Chữ YÊU ngắn gọn mà bao la quá đỗi! Có khi chúng ta là người con thứ nhất, có khi chúng ta lại là người con thứ hai. Lúc thuận, lúc nghịch. Biến hóa thất thường. “Cái tôi” to lớn và hung dữ lắm, do đó phải luôn cảnh giác với nó. Thánh Phaolô cũng đã cảm thấy lo sợ: “Tôi bắt thân thể phải chịu cực và phục tùng, kẻo sau khi rao giảng cho người khác, chính tôi lại bị loại” (1 Cr 9:27).

Như Thánh Gioan Tẩy Giả, ước gì mỗi chúng ta cũng luôn biết dẹp bỏ “cái tôi” và luôn tâm niệm: “Chúa phải LỚN lên, còn tôi phải NHỎ đi” (Ga 3:30), để Danh Chúa được tỏa sáng mọi nơi, để Nước Chúa hiển trị, và để Ý Chúa được thể hiện dưới đất cũng như trên trời.

Lạy Thiên Chúa, xin “giữ gìn chúng con như thể con ngươi, xin thương che chở chúng con dưới bóng Ngài” (Tv 17:8), và xin giúp chúng con biết “thuận” với mọi người và “nghịch” với tội lỗi, để chúng con xứng đáng là con cái của Ngài. Chúng con cầu xin nhân danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Đấng cứu độ chúng con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

“CẦN CHỨNG NHÂN HƠN CẦN THẦY DẠY”

“CẦN CHỨNG NHÂN HƠN CẦN THẦY DẠY”

Chiều nay tôi vừa dâng Thánh Lễ ở Nhà Thờ với một vị Giám Mục, hàng năm ngài vẫn trở về đây dâng lễ cầu nguyện cho một thầy trong nhà Dòng chúng tôi dù thầy qua đời đã 34 năm. Lý do để Đức Cha đích thân về là: ngày xưa, cuối thập niên 50 đầu thập niên 60, gia đình ngài sinh sống trong Giáo Xứ Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp của chúng tôi và ngài là một lễ sinh trong đội ngũ giúp lễ Nhà Thờ, mà thầy là vị phụ trách các Lễ Sinh.

Đức Cha rất quý mến thầy, một Tu Sĩ gương mẫu, hiền hòa và nhân hậu, ngài kể: “Không bao giờ thầy la mắng hay đánh chúng tôi”. Ngoài ra, ngài còn nói, truyền thống đạo đức của người Việt mình là tôn sư trọng đạo, “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy, tôn kính và biết ơn thầy là một nét đạo đức độc đáo của dân tộc chúng ta.

Sự hiện diện của Đức Cha còn có mục đích quy tụ các anh chị em ngày xưa cùng sinh hoạt chung với nhau, các anh chị nay đã lớn tuổi và bận rộn với những bổn phận riêng. Ngày họp mặt hằng năm nhân lễ giỗ của thầy luôn là cơ hội để mọi người gặp nhau, nâng đỡ nhau, chia sẻ những niềm vui nỗi buồn với nhau, củng cố đời sống Đức Tin, tình yêu mến và lòng đạo đức. Đây cũng là cơ hội để Đức Cha thi hành sứ mạng “làm thầy dạy”, đặc biệt giúp anh chị em đào sâu thêm Kinh Thánh. Ngài cũng muốn các buổi họp mặt có cả các con cháu của anh chị em để nối kết và truyền đạt tình thương.

Đức Cha nói với chúng tôi cứ để ngài dâng lễ chung với anh em một cách rất bình thường, không bày ra các lễ nghi đón tiếp, diễn văn, cờ quạt… Hãy tập trung vào Phụng Vụ và giúp anh chị em Giáo Dân sống Tin Mừng.

Ngôi Nhà Thờ và hang đá Đức Mẹ DCCT là những nơi khó quên trong ký ức của ngài từ thời thơ ấu. Những buổi đi Nhà Thờ, sinh hoạt chung với nhau, ca hát và học tập, những hình ảnh của tuổi thơ khó nghèo mãi mãi không bao giờ phai mờ.

Dạo ấy, hang đá Đức Mẹ là nơi bà mẹ trẻ góa bụa của ngài, mang trên vai gánh nặng 7 con thơ, vẫn thường lui tới cầu xin, con đầu 16 tuổi, đứa bé nhất đang ẵm trên tay. Bà nói gì với Mẹ Maria, ngài không biết, nói lâu lắm, ngài ngồi gần đó chờ mẹ mình cầu nguyện xong rồi theo mẹ về. Không biết bà cầu nguyện gì với Đức Mẹ, chỉ biết một điều khi người chồng ra đi, ông trăn trối xin bà ráng lo cho con cái ăn học nên người, đừng để đứa nào thất học.

Gánh nặng quá lớn cho người góa phụ trẻ, nghèo, thời cuộc tao loạn, chiến tranh triền miên, bà mẹ gồng gánh cuộc đời cùng với lời nguyện cầu thường xuyên bên hang đá Đức Mẹ. Bà đã đi hết cuộc đời với niềm tự hào đã hoàn thành được ý nguyện của ông.

Bây giờ mỗi lần về đây, không bao giờ Đức Cha quên dừng lại trước hang đá, tuổi thơ nghèo khổ, hình ảnh bà mẹ góa bụa với đứa con côi cút cầu nguyện lâu giờ trước Mẹ Maria, nỗi nhọc nhằn năm tháng lùa về, và nhất là sự an ủi trìu mến từ nơi người Mẹ hiền của Hội Thánh năm tháng vẫn nâng niu gìn giữ đàn con.

Giữa những bề bộn công việc, những lo toan cho Giáo Phận, những phức tạp trong xã hội, những liên đới trong Hội Thánh, những bổn phận của một Mục Tử, vị Giám Mục vẫn sống những nét hồn nhiên của con người, vẫn cố gắng gìn giữ những giá trị đạo đức xã hội, vẫn dừng chân nơi những cảm xúc ngọt ngào của riêng mình trong xác tín của Đức Tin, vẫn chăm chút các mối tương quan xưa cũ, vẫn quan tâm đến từng anh em dù là người nhỏ bé nhất.

Tôi viết lại nhưng hình ảnh này như ghi lại những cảm xúc rất chân thành, không muốn ca tụng, chỉ muốn khắc họa một chứng nhân nhỏ bé, một tấm gương còn tỏa sáng giữa một xã hội đảo điên…

Cuộc sống chúng ta hôm nay, như lời Đức Phaolô VI, luôn “cần chứng nhân hơn cần thầy dạy”…

Lm. VĨNH SANG, DCCT, 18.9.2014

Đèn Cù ‘giải ảo Hồ Chí Minh’

Đèn Cù ‘giải ảo Hồ Chí Minh’

Thứ bảy, 20 tháng 9, 2014

Cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh

Cuốn Đèn Cù của Trần Đĩnh là một ‘quả bom’ nổ vào những sự thực bị che đậy.

Cuốn sách ‘Đèn cù’ xuất bản ở hải ngoại của tác giả Trần Đĩnh đã ‘lột mặt’ của chế độ và nhiều huyền thoại cách mạng của Đảng Cộng sản ở Việt Nam theo nhà báo Bùi Tín từ Paris.

Trong khi đó, một sử gia trong nước, Vũ Quang Hiển, nói với BBC rằng cuốn sách ‘có hư cấu, xuyên tạc’.

Trao đổi với BBC hôm 20/9/2014, cựu Đại tá cộng sản, nguyên Phó Tổng biên tập Báo Nhân dân, Bùi Tín, cho rằng cuốn sách của Trần Đĩnh có tác động như một ‘quả bom’ đánh vào những gì mà chính quyền lâu nay muốn ‘che đậy, giấu diếm’.

Ông Bùi Tín nói: “Lột mặt, hay lật mặt cũng như thế, tức là những anh hùng hảo hớn ghi tên đường phố, thì rõ ràng người ta phải đánh giá lại, bởi vì cả một chế độ đánh giá những giá trị sai, cho nên bây giờ phải đánh giá lại tất cả những giá trị của từng người một bằng những nhận thức của mỗi người.

“Mỗi người có một cái đầu, có những suy nghĩ của mình, làm sao cho mỗi người có một suy tư độc lập, không bị ảnh hưởng.

“Do đó mà cuốn sách là quả bom, nổ từ những nhân vật cao nhất. Nói thẳng ra là tác phẩm của Trần Đĩnh cũng như cuốn hồi ký trăng trối của Trần Đức Thảo (Trần Đức Thảo – Những Lời Trăn Trối) là đụng đến ông Hồ Chí Minh.”

Theo nhà báo Bùi Tín, tuy tác giả viết một cách ‘nhẹ nhàng’, sự ‘đụng chạm’ vào các huyền thoại, thần tượng cách mạng của Đảng lại không phải là ‘nhẹ’.

Ông Bùi Tín là nhân vật bất đồng chính kiến đã nhiều năm tị nạn chính trị ở Pháp và nay là một nhà vận động cho dân chủ và nhân quyền của Việt Nam ở hải ngoại

“Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau”

Tác giả Trần Đĩnh

Ông Bùi Tín bình luận tiếp: “Ông viết một cách nhẹ nhàng, nhưng đụng mạnh lắm, có thể nói là cái phi thần thánh hóa, cái giải ảo, giải một lầm lẫn cực lớn, bởi vì người ta vẫn đề ra là ‘Học tập đạo đức của ông Hồ Chí Minh’, thế nhưng cuốn sách này, nói không nhiều lắm, nhưng chi tiết rõ đến như thế.

“Tức là ông Hồ Chí Minh cũng chuyên đóng kịch thôi. Ông Hồ Chí Minh nói không thể cải cách ruộng đất bắn chết người phụ nữ đầu tiên được, và đối với phụ nữ không thể đánh ngay cả bằng một nhánh hoa, thế mà chính ông bịt râu, ông dự cuộc đấu đó để mà đem bắn bà Nguyễn Thị Năm.”

Theo cựu Phó Tổng Biên tập Báo Nhân dân, bài ‘Địa chủ ác ghê’ được cố lãnh tụ của Đảng ký tên là CB, mà theo ông Tín: “lúc bấy giờ ở báo Nhân Dân, tất cả những bài nào đề chữ “CB” là “Của Bác”, là coi như thiêng liêng, là phải in ngay ở trang một, ở ngay dưới măng-séc, không được sai một dấu chấm, dấu phẩy nào”.

Nhà báo Bùi Tín nói: “Và ai cũng biết đấy là của bác, tức là của ông Hồ Chí Minh. Ông ấy viết bài ‘Địa chủ ác ghê’ kể tội bà Nguyễn Thị Năm một cách kinh khủng đến mức như thế và đưa ra bắn chết.

“Mà chính ông lại đi xem, đi dự cuộc đó, thế mà ông còn nói đạo đức là ông sẽ hứa với ông Hoàng Quốc Việt là sẽ can thiệp với cố vấn Trung Quốc để không thể bắn bà Năm được.”

‘Không ai phát hành’

Cố chủ tịch Hồ Chí Minh

Ông Trần Đĩnh có dịp gần cận nhiều lãnh tụ, cán bộ lãnh đạo của Đảng ở An toàn khu.

Trong một trao đổi gần đây với BBC, tác giả cuốn ‘Đèn Cù – Truyện tôi’ giải thích thêm với BBC vì sao cuốn sách đã phải xuất bản ở nước ngoài.

Ông Trần Đĩnh chia sẻ: “Tôi muốn nói rõ một điểm: tôi gửi in ở ngoài vì ở trong nước không ai in và phát hành cho tôi, không phải tại vì sách có nhiều bí mật. Hai lý do khác nhau.”

Về khả năng cuốn sách có thể được chấp nhận cho xuất bản ở Việt Nam hay không, nhà báo Bùi Tín nhận định: “Hiện nay thì chắc chắn họ không dám xuất bản rồi. Quyển sách của Trần Đĩnh và cuốn sách mới nhất của nhà triết học Trần Đức Thảo cũng thế, cuốn Hồi ký Trăng trối, là không thể xuất bản ở trong nước.

“Bởi vì nó đụng chạm ghê quá, bởi vì chế độ ở trong nước dị ứng với sự thật. Họ rất sợ sự thật. Cho nên những cuốn sách nói lên sự thật, tất cả là sự thật nguyên vẹn như thế thì họ không thể chịu được.

“Đây là quả bom rất mạnh nổ vào tất cả những lừa dối, những cái che dấu đấy, cho nên tôi thấy cuốn sách của Trần Đĩnh cũng như cuốn sách của Trần Đức Thảo là hai của quý của tự do, của những ngòi bút tự do, của những người có lương tâm trong sáng.”

“Tôi có đọc qua cuốn sách…, nhưng tôi không hào hứng, vì nhiều chỗ viết thô tục quá, không ra báo, không ra văn, cũng không ra lịch sử. Có cái gì đó bất mãn”

PGS. TS. Vũ Quang Hiển

Theo ông Bùi Tín, điểm đáng quý ở Trần Đĩnh là sau gần như cả đời phải làm phận ‘viết thuê’, viết ‘theo lệnh của trên’ nhưng vẫn giữ nguyên trong lòng được ‘sự thật’ để cống hiến trong cuốn “Đèn Cù”.

‘Xuyên tạc’

Hiện ở trong nước, báo chí và truyền thông chính thức chưa có bình luận, đánh giá chính thức về cuốn sách, thế nhưng trong một trao đổi với BBC, một sử gia chuyên về Lịch sử Đảng của Đại học Quốc gia Hà Nội nêu nhận xét:

“Tôi có đọc qua cuốn sách…, nhưng tôi không hào hứng, vì nhiều chỗ viết thô tục quá, không ra báo, không ra văn, cũng không ra lịch sử. Có cái gì đó bất mãn. Nhiều chỗ viết theo cái nghe được đâu đó, như kiểu vô tuyến truyền mồn, thông tấn xã vỉa hè; có hư cấu, xuyên tạc, bịa đặt”, Phó Giáo sư Vũ Quang Hiển nhận xét.

“Về khoa học thì không thể chấp nhận nhiều chỗ, ví dụ việc lập Đảng Cộng sản Việt Nam là do Quốc tế Cộng sản chỉ đạo. Hoàn toàn không phải, vì Quốc tế Cộng sản chỉ đạo thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, chứ không chỉ đạo thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam; đây là 2 vấn đề hoàn toàn khác nhau.

Tư liệu Đèn cù

Trần Đĩnh không hề ‘phiến diện, thiên kiến’ khi trình bày các sự thực lịch sử, theo ông Bùi Tín.

“Năm 1943 Quốc tế Cộng sản giải thể rồi, làm sao mà đến năm 1950 hay 1953 còn lãnh đạo cách mạng Việt Nam?”

‘Mặt tối, mặt sáng’

Hôm thứ Bảy, khi được hỏi liệu cuốn sách có nên đề cập tới những điều được cho là chi tiết đời tư của một số nhân vật, quan chức, cựu quan chức, lãnh đạo các cấp trong Đảng hay không, nhất là khi nhiều người trong số đó đã qua đời nên không thể có điều kiện tự bảo vệ hay biện minh, ông Bùi Tín nói:

“Tôi thấy rằng, những người lãnh đạo đối với quốc gia, thì không có gì có thể được coi là riêng tư được nữa hết. Tất nhiên có một nguyên lý là đời tư của người công dân thì không nên đụng đến. Tư là tư, công là công.

“Nhưng cũng có một quy luật nữa là gì: là những người lãnh đạo cao nhất, người ta có quyền đòi hỏi những người đó phải gương mẫu, cả trong cuộc sống chung, cuộc sống công và cuộc sống tư.”

“Tôi nghĩ rằng có nhiều cuốn sách, nhiều tác giả, mỗi tác giả có quyền tự mình đề cập đến cái mức nào, ví dụ như Trần Đĩnh, ông có nói rõ ông có những tôn trọng, quý hóa đối với ông Hồ Chí Minh cơ mà, ông cũng có cái coi ông Trường Chinh là bậc thầy cơ mà, chứ có phải là cách viết một chiều đâu”

Nhà báo Bùi Tín

Còn khi được hỏi liệu cuốn sách, có bị ‘phiến diện’, ‘thiên kiến’ chỉ nghiêng về ‘góc tối’, ‘u ám’ khi nói về chế độ, các lãnh tụ và nhiều cán bộ cốt cán, lãnh đạo của Đảng, nhà nước ở các cấp hay không, cựu Phó Tổng biên tập Báo nhân dân nêu quan điểm:

“Tôi nghĩ rằng có nhiều cuốn sách, nhiều tác giả, mỗi tác giả có quyền tự mình đề cập đến cái mức nào, ví dụ như Trần Đĩnh, ông có nói rõ ông có những tôn trọng, quý hóa đối với ông Hồ Chí Minh cơ mà, ông cũng có cái coi ông Trường Chinh là bậc thầy cơ mà, chứ có phải là cách viết một chiều đâu.

“Tất nhiên ông có quyền đưa ra những chi tiết tiêu cực, những mặt tối, nhưng mà ông cũng đưa ra những mặt sáng đấy chứ, và ông cho rằng ông đã viết những mặt sáng đã đủ rồi, bởi vì chính Trần Đĩnh là người đã viết lên cuốn Tiểu sử chính thức của ông Hồ Chí Minh.

“Chính ông là người đã viết ra và ông Hồ Chí Minh chữa lại, được in, coi như tài liệu chính thức về cuộc đời, tiểu sử chính thức, được dịch ra hơn mười thứ tiếng,” cựu Đại tá Bùi Tín nói với BBC.

Đứng đầu – đứng chót?

Đứng đầu – đứng chót?

Chuacuuthe.com

VRNs (20.09.2014) – Tin Mừng Chúa nhật 25TN Năm A – Mt 20,1-16a

Ở miền Bắc nước ta hiện nay, những nông dân/công nhân không có việc làm, thường ra đứng ở các ngã đường để chờ người cần mướn, đến gọi đi làm công việc cho họ.

Thời Chúa Giêsu, ở các chợ Do thái cũng có hoàn cảnh tương tự. Thế nên bài Tin Mừng hôm nay Thánh Matthêô tường thuật lại việc ông chủ vườn nho đi ra chợ, gọi các người đứng ở đó vào làm vườn cho ông.

Kể từ khi nước ta mở cửa “kinh tế thị trường”, các công ty/doanh nghiệp mọc lên khá nhiều. Trước khi làm ăn hoặc mua bán với công ty/doanh nghiệp, thường thì đối tác phải làm bản hợp đồng/thỏa thuận với chủ. Phần nhiều trong các hợp đồng/thỏa thuận của đôi bên, có những công ty/doanh nghiệp đưa ra những hợp đồng/thỏa thuận “tràng giang đại hải”, với những từ chuyên môn khó hiểu, thậm chí còn cố ý làm cho đối tác hiểu nhầm. Và nếu không xem kỹ bản hợp đồng/thỏa thuận, thì coi chừng: bút đã sa và gà… sẽ chết! Luôn luôn phần thiệt thòi thuộc về người làm công hoặc kẻ đi mua.

Còn trong bài Tin Mừng hôm nay, Chúa kể về ông chủ vườn nho cũng làm hợp đồng/thỏa thuận, nhưng đơn giản hơn nhiều: chỉ “thỏa thuận” bằng miệng. Tuy đơn giản là thế, nhưng rồi ông chủ đã trả tiền sòng phẳng theo như “thỏa thuận”, lại còn cho phần thêm với những người khác, phần lợi hơn thuộc về người làm công. Ở đây Chúa muốn nói đến lòng yêu thương, quảng đại của ÔNG CHỦ trên trời, nhất là đối với những người “thất nghiệp”, kẻ “đến sau”.

Nhưng cũng chính vì chỗ “cho thêm” này, đã làm cho những người làm vườn lúc “vừa tảng sáng” ganh tị. Và thế là họ “đâm ra ghen tức”.

Có chuyện kể rằng: Chị A và chị B cùng kinh doanh một mặt hàng, ở trong cùng một khu phố. Chị A thấy chị B bán đắt hàng chừng nào, thì chị càng ganh ghét chừng đó. Chị cứ ước mong sao mình phải giàu có, sung sướng hơn chị B mới thỏa lòng.

“Cầu được ước thấy”. Một hôm Bụt hiện ra bảo chị A: “Nghe nói con hằng ước ao giàu có sung sướng lắm phải không?” – “Dạ phải” – “Ta sẵn sàng ban cho con tất cả những điều con ước, nhưng chỉ với một điều kiện”. Chị ta mừng quá, nhanh nhảu: “Dạ thưa Bụt, điều kiện gì?” – “Đơn giản thôi, những gì con ước ta sẽ ban, nhưng cô B ở cùng phố với con sẽ được gấp đôi điều con ước. Thí dụ, nếu con ước được nhiều vàng bạc thì cô ta sẽ được gấp đôi số vàng bạc của con. Nếu con ước có nhà lầu, cô ta sẽ có 2 nhà lầu. Nếu con ước có xe hơi, cô ta sẽ được 2 chiếc….” Nghe vậy chị ta buồn lắm, không được, không thể được! Suy nghĩ mãi, nhưng rồi cuối cùng chị ta cũng đã nghĩ ra được một điều đắc ý và cười to! Đợi lâu, Bụt giục: “Ước gì thì nói mau lên kẻo ta đổi ý đấy!” – “Dạ thưa Bụt, con ước ngay đây” – “Ước gì?” – “Con xin Bụt cho con bị đui một mắt” (!)

Bụt há hốc miệng thật to, trợn tròng mắt và… hô biến.

Thiệt là…hết thuốc chữa!

Con người mình đa phần là thế! Chỉ muốn mình phải luôn luôn hơn người khác, không thể ai hơn được. Thậm chí, những người nghèo khổ, thất nghiệp “không ai mướn” như trong bài Tin Mừng hôm nay, được ông chủ “cho thêm” họ cũng tỏ ra ganh tị và ghen tức.

Lòng ganh tị và ghen tức, chỉ nghĩ cho mình mà thôi đã làm cho con người ra độc ác, phi nhân như câu chuyện vừa nêu. Người Việt mình có câu “Cái khó ló cái khôn”, còn ở câu chuyện trên: lòng ganh tị và ghen tức đã làm cho con người “ghen quá hóa ác nhân”!

Trở lại bài Tin Mừng, đặt vào vị trí của những nhân vật trong Dụ ngôn, bạn và tôi có cần phải suy nghĩ:

  • Nếu tôi là ông chủ, tôi có minh bạch, sòng phẳng, trả lương đầy đủ cho người làm công của tôi không? Tôi có lợi dụng quá đáng sức lao động của họ không? Tôi có biết rằng, nếu không có họ thì dù tôi có tài giỏi đến đâu, công ty/doanh nghiệp của tôi cũng không thể hoạt động được không? Tôi có lưu tâm, ưu tiên tuyển chọn những người nghèo đói, thất nghiệp, “không ai mướn” vì không có “hậu duệ, tiền tệ, quan hệ, trí tuệ” vào làm cho tôi không? Hay tôi làm ngược lại? Tôi có chủ trương gầy dựng một “quỹ xã hội” ở công ty/doanh nghiệp của tôi, để nhờ đó có thể “cho thêm” những công nhân có hoàn cảnh nghèo đói, thương tâm như ông chủ vườn nho đã làm hôm nay không?
  • Nếu tôi là người làm công, tôi có làm hết mình hết trách nhiệm vì đồng lương được trả không? Hay tôi ỷ mình vì vào làm “vừa tảng sáng”, “làm việc nặng nhọc cả ngày”, “bị nắng nôi thiêu đốt” nên cứ tà tà cách thụ động, miễn sao cuối tháng có lương đầy đủ là được? Ông chủ dưới đất, nhất là ÔNG CHỦ trên Trời lại càng “quý hồ tinh bất quý hồ đa” nên ông sẽ đối xử sòng phẳng, tôi có biết không? Tôi có tỏ ra ghen tức khi thấy ông chủ đối xử tốt với đồng nghiệp hơn tôi, chỉ vì họ nghèo khổ hơn tôi, làm việc cật lực hơn tôi với tinh thần trách nhiệm cao hơn tôi không?

Chúng ta – những người đã theo Chúa, phải sống làm sao để đừng rơi vào trường hợp như Chúa phải cảnh báo hôm nay:

Những kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu, còn những kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót”(Mt 20,16a) !

Đôi lúc chúng ta cũng đã từng tự hào mình là “đạo gốc, đạo dòng” và xem thường những anh em “đạo theo, đạo mới”. Coi chừng, câu nói trên Chúa dành cho chúng ta đấy!

Bạn và tôi, chúng ta có muốn phải bị xếp vào hàng cuối cùng không?

Micae Hữu Liên

Sài Gòn, còn hay mất?

Sài Gòn, còn hay mất?
September 14, 2014

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Mấy tuần này, hải ngoại xôn xao vì chuyện Sài Gòn sắp xóa Thương Xá Tax (hay Charner) trên đại lộ Lê Lợi, để xây một cao ốc 40 tầng với số tiền lên đến hàng trăm triệu đô la.

Chúng ta đã được xem nhiều bài báo và hình ảnh trong nước hàm ý tiếc nuối một cơ sở mang nhiều kỷ niệm của những người Sài Gòn thuở trước, nay sẽ không còn nữa. Một vị nữ độc giả gửi thư cho tôi yêu cầu tôi viết một bài và vận động làm sao để giữ lại được Thương Xá Tax, không bị phá bỏ. Quả là một yêu cầu quá đáng với thời thế và sức con người cũng như chúng ta nên xét lại sự suy nghĩ về chuyện mất, còn trong thế gian này. Ngay ở Sài Gòn, một số cư dân thành phố làm kiến nghị yêu cầu chính quyền ngưng ngay việc này, nhưng chắn chắn đây là những “lời nói gió bay.”

 

Những chiếc Vespa của Sài Gòn xưa nay được tân trang lại. (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Ngày 30 Tháng Tư, 1975, cả miền Nam sụp đổ, mất trắng vào tay Cộng Sản cũng không ai làm được gì để cứu vãn tình hình, bây giờ mất thêm một chuyện nhỏ trong câu chuyện lớn, là lẽ thường tình. Có người đã nói “mất nước là mất tất cả!” Chúng ta thường nghĩ rằng chúng ta đã mất Sài Gòn, mất tên, mất cả nhân dáng hình hài.

Chúng ta thật sự đã mất rất nhiều, không phải những chuyện nhỏ của Sài Gòn như chiếc Taxi Renault 4 CV sơn hai màu xanh trắng, chiếc xích lô máy nổ giòn giã, khói mù mịt trong đêm Sài Gon hay chiếc Velo Solex màu đen lượn lờ trên đường Nguyễn Huệ ngày cũ. Có người nhớ quán La Pagode, nhưng cũng có người nhớ đến một quán cóc cà phê nào đó, nhóm bếp lửa bập bùng vào lúc Sài Gòn chưa tỉnh ngủ. Có người nhớ đến tiếng lóc cóc của chiếc xe thổ mộ mang hoa và rau cải vào thành phố lúc hừng sáng, nhưng cũng có người nhớ mãi tiếng rao quà ngọt ngào của Sài Gòn ngày trước. Có người ra đi nhớ mãi những âm thanh của Sài Gòn ngày cũ nhưng cũng có người mang theo bao nhiêu hình ảnh của những góc phố, con đường, con kinh, bờ rạch. Chắc cũng có người nhớ đến mùi vị của Sài Gòn, ly nước mía Viễn Ðông ngọt ngào, miếng bò bía chấm tương đen, hay miếng mực khô đẫm chút tương đỏ cay đầu lưỡi.

Sài Gòn những ngày chiến tranh với những đêm thấy hỏa châu soi sáng một vùng nào đó ở ngoại ô, nghe ì ầm tiếng của đạn pháo vọng về, hay nghe tiếng xe cứu thương hụ còi tất tả trong đêm vắng. Rồi Sài Gòn với những ngày câm nín, tàn phai, chia lìa vội vã. Con mắt đèn xanh đỏ nhấp nháy thâu đêm, lo lắng, sầu muộn. Những điều này quả là quá đơn sơ, nhỏ nhoi trong cuộc sống như dòng sông mải miết chảy, không bao giờ dừng lại.

Phải chăng những cái gì mất đi chúng ta mới thấy tiếc nuối. Có người bỏ Sài Gòn ra đi vội vã, đẫm những dòng nước mắt, trên không phận hay trong dòng sông giữa hai bờ dừa nước. Cũng có người trở lại Sài Gòn lần đầu, con mắt đỏ hoe.

Nhưng có phải chăng bây giờ tất cả đã xóa mờ như vết thương đã thành sẹo, cát bụi đã chôn vùi, xóa hết vết tích của Sài Gòn ngày cũ.

Không! Sài Gòn hôm nay đã đổi tên, cái tên này, hiện diện trên những văn bản của chính quyền, nó sẽ chẳng bao giờ có chỗ đứng trong lòng người. Cái tên dài dòng này đã đảo lộn cách nói thông thường của người dân, ở Rạch Giá, Cần Thơ, người ta nói “lên thành phố,” trong khi nơi họ sống đã là “thành phố” rồi! Những công ty thương mãi, những dịch vụ, nhà hàng, không ai muốn phiền phức, ngớ ngẩn đến nỗi phải mang cái tên “bác” trên bảng hiệu.

Tôi thường gửi tiền về giúp bà con ở Sài Gòn nhưng tuyệt đối khi viết địa chỉ không dùng tên hiện nay, nếu ai có chê tên Sài Gòn xin trả lại tiền cho tôi. Nếu ba triệu người Việt ở hải ngoại khi viết thư, gửi tiền, điện thoại về nhà mà không dùng tên hiện nay thì Sài Gòn vẫn còn đó. Nếu cả nước vẫn gọi thủ đô của VNCH bằng cái tên ngày cũ thì đừng lo Sài Gòn mất.

Không phải như những đất nước khác, cả miền Nam yêu mến Sài Gòn, đó là cửa ngõ của những ngày ra đi và sẽ là nơi trở về. Chúng ta đã mang theo Sài Gòn trong cuộc hành trình bỏ nước ra đi, và ở mỗi nơi dừng chân mà chúng ta nhận là quê hương thứ hai, có những “Sài Gòn Nhỏ” được thành hình.

Cái tên mới kẻ trên những bích chương hay bảng hiệu màu đỏ máu sẽ còn tồn tại bao lâu nữa?

Thời sùng bái nhân vật Joseph Stalin, lãnh đạo của Liên Bang Xô Viết, từ năm 1925, thành phố Volgograd được đặt tên là Stalingrad. Khi chế độ Cộng Sản sụp đổ, thần tượng tiêu ma, thành phố Volgograd trở lại mang tên cũ từ năm 1956. Ðài VOA loan tin, ngày 10 Tháng Chín năm nay, Hội Ðồng Thành Phố Volgograd thông báo chấp nhận cho tên Stalingrad (chỉ) được dùng lại cho sáu ngày một năm vào các dịp kỷ niệm kết thúc Thế Chiến 2, nhưng cũng trong ngày này, tất cả báo Sài Gòn (Công An, Thanh Niên, Báo Mới…) lập lờ chạy tin Volgograd sẽ được phục hồi lại tên Stalingrad, để lừa dân Việt Nam, làm như hồn ma Cộng Sản ở các nước Ðông Âu đang bắt đầu đội mồ sống dậy!

Năm 1924, sau khi Lenin qua đời, Saint Petersburg được đổi tên thành Leningrad. Cùng với số phận Stalin, theo chế độ Cộng Sản, tượng Lenin cũng đã bị giật sập đổ nhào, và năm 1991, tên Lenin cũng đã được xóa bỏ để Saint Petersburg vẫn là Saint Petersburg ngày cũ.

B4INREMOTE-aHR0cDovLzQuYnAuYmxvZ3Nwb3QuY29tLy1EdkR2dWlqR0R1QS9Vc01zTnVWa1ZnSS9BQUFBQUFBQWI4SS9FaWNtclY0a2J2NC9zNjQwL0hUMjUuanBn

Thêm tượng Lenin ở Ukraine bị kéo đổ

Bốn mươi năm chưa phải là một thời gian dài, những thần tượng Karl Marx, Stalin, Lenin đã lần lượt bị sụp đổ chôn vùi ở các nước Cộng Sản đã tan rã, liệu những nhân vật Hồ Chí Minh, Mao Trạch Ðông, và chế độ Cộng Sản ở đây còn tồn tại được bao ngày?

Vài năm về trước, Linh Mục Nguyễn Hữu Lễ, một nhà hoạt động chính trị ở New Zealand, đã phát động phong trào “đòi lại tên Sài Gòn,” mà tôi cho là không cần thiết, vì khi chế độ Cộng Sản Việt Nam sụp đổ, không những cái tên Hồ Chí Minh đã bị xóa mà cái lăng ở Ba Ðình cũng bị san bằng.

Tuy hiện nay, một số người còn bám víu lấy cái hình tượng Hồ chí Minh “vĩ đại,” “ đạo đức,” để “học tập,” “noi gương,” nhưng qua thời gian, tượng đất đã tróc lột hết lớp sơn phết, đổ nát thành một đống bùn nham nhở, để cho dân tộc thấy rõ con người vô đạo, bất lương, khát máu đã đẩy dân tộc Việt Nam tới chỗ chết chóc, khốn cùng.

“Vĩ đại” vì sự thần hóa qua kinh nhật tụng Ðảng Cộng Sản, kiên cố trên hình thể “xi măng-cốt sắt,” Stalin, Lenin cuối cùng cũng đã bị lịch sử lật nhào úp mặt xuống bùn, thứ “xi măng-cốt tre” của những thần tượng Việt Nam thì đi đến đâu!

Trong tâm trạng thương nhớ Sài Gòn, trân trọng gọi Sài Gòn bằng “Người,” ông Nguyễn Ðình Toàn đã viết, “Ta mất Người như Người đã mất tên!” Ông tin tôi đi. Tên Sài Gòn vẫn còn, và Sài Gòn sẽ mãi mãi của chúng ta, không mất đâu!

httpv://www.youtube.com/watch?v=DLZ7pWtyLCY

Một Chút Hiểu Lầm

Một Chút Hiểu Lầm

RFA

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Một người thuộc giai cấp nào đó không có nghĩa rằng người đó đã có một khối tài sản nhất định. Điều đó càng đúng đối với chế độ cộng sản: sở hữu mang tính tập thể. Ở đây muốn trở thành chủ sở hữu hay đồng sở hữu thì cần phải len được vào hàng ngũ của bộ máy quan liêu chính trị.

Milovan DjilasGiai Cấp Mới

Thời gian gần đây, gần như là hằng đêm tôi đều mơ thấy mình vẫn đang sống trong một khung cảnh nào đó – ở Việt Nam. Cứ như thể là tôi chưa bao giờ rời khỏi đất nước này, dù chỉ một ngày.

Khỏi cần phải đọc Freud hay Jung gì ráo trọi, tôi cũng biết được rằng tự tiềm thức của mình đang có một thôi thúc khác – khác với sự chọn của ý thức từ bấy lâu nay – tuy sâu kín nhưng mạnh mẽ, cái sức mạnh của một định luật tự nhiên: lá rụng về cội! Nhờ thế, tôi (chợt) hiểu tại sao hai ông Phạm Duy và Nguyễn Cao Kỳ nằng nặc phải trở lại cố hương bằng mọi giá – kể cả cái giá phải “hy sinh” luôn tính tự trọng (tối thiểu) và lòng liêm sỉ.

Thường dân cỡ tui thì đi mới khó, chớ về thì dễ ợt. Chả sợ điều tiếng chi, và cũng khỏi ngại chuyện mấy chú công an canh chừng hay thăm hỏi gì. Chỉ ngặt có chút xíu (xiu) là tôi không biết rồi sẽ làm sao để mưu sinh, ở quê nhà.

Già cũng phải sống chớ bộ, cũng phải có nơi ăn chốn ở, phương tiện đi lại, và chăm sóc y tế tối thiểu – khi cần. Mà tui thì suốt đời không có đồng xu dính túi (tiền vừa tới tay là tui đã sài liền, hoặc cho mẹ nó rồi) nghề nghiệp thực dụng để có thể kiếm việc ở V.N cũng không luôn, còn thân bằng quyến thuộc thì toàn là những người khốn khó và thuộc thành phần… phản động không hà!

Mà cố hương (than ơi!) cho dù ở góc bể chân trời, hay châu lục nào chăng nữa thì cũng đều chia chung một định luật bất thành văn: không đâu, và không ai, hân hoan đón chào những kẻ trở lại với … hai bàn tay trắng. Thôi thì đành bỏ xác quê người, chớ về làm chi/cho má nó khi.

Tôi đã có dự tính nhẩy cầu Golden Gate thì có  tin vui giữa giờ tuyệt vọng, từ một giới chức cao cấp ở Việt Nam – Bộ Trưởng Chủ Nhiệm Ủy Ban Dân Tộc Giàng Seo Phử. Ông vừa hân hoan cho biết: “Bán vé số ở Việt Nam có thu nhập cao.”

Bán ngày không đủ phải tranh thủ bán ban đêm.

Ảnh và chú thích: Uyên Nguyên, RFA

Bán tin, bán nghi, tôi liền vào net tìm hiểu thêm và biết được rằng hiện nay (ở Việt Nam) bán vé số được coi là một nghề nghiệp đàng hoàng tử tế, của một giới người riêng biệt, không những có “thu nhập cao” mà còn có nhiều chuyện may mắn bất ngờ và rất thú vị nữa kià – theo như tường thuật của phóng viên Hữu Danh, báo Dân Việt:

Dư luận Long An đang xôn xao với thông tin một người bán vé số nghèo đưa cho khách 10 tờ vé số trúng thưởng 6,6 tỷ đồng để nhận lại 200 ngàn đồng tiền xổ số, dù khách chỉ “mua thiếu qua điện thoại.

Khoảng 16 giờ ngày 15.11, còn hơn 20 vé bị ế nên chị gọi điện thoại cho mối quen là anh Đỗ Ngọc Tuấn, 41 tuổi, ngụ khu phố 2, đường Bà Chánh Thâu, thị trấn Bến Lức, huyện Bến Lức – hành nghề chạy xe ba gác – nài nỉ mua dùm. Anh Tuấn đồng ý mua 20 tờ, gồm ba số khác nhau. Gọi là “mua” nhưng chỉ là nói qua điện thoại, anh Tuấn cũng chưa trả tiền.

Chiều cùng ngày, lốc vé 10 tờ của công ty XSKT tỉnh Bến Tre mang dãy số đuôi X91207 trúng đặc biệt 4 tờ, trúng an ủi 6 tờ. Nhiều đồng nghiệp bán vé số bảo người mua chưa trả tiền, coi như chưa mua và nói chị Lành toàn quyền định đoạt “số phận” 10 tờ vé số với trúng thưởng với giá trị lên đến gần 7 tỷ đồng này.

Tuy nhiên, chị Lành gạt phăng và cho rằng anh Tuấn là một trong những khách hàng thường xuyên mua vé số ủng hộ chị. Rất nhiều lần anh mua qua điện thoại và dù không trúng lần nào nhưng anh vẫn trả tiền sòng phẳng. Do đó, không thể vì tiền mà chị đánh mất chữ tín.

Ngay lập tức, chị bấm điện thoại gọi anh Tuấn đến quán cà phê để bàn giao số trúng. Cảm kích trước lòng tốt của người bán vé số, anh Tuấn đã tặng 1 tờ trúng giải đặc biệt cho người bán vé số nghèo.

Theo tìm hiểu của Dân Việt, vợ chồng chị Lành trước đây sống cùng mẹ ruột là bà Phạm Thị Thèm trong một căn nhà cũ nát rộng chỉ 27m2, dựng nhờ trên đất của một người thân ở xã Long Khánh A, huyện Hồng Ngự, Đồng Tháp.

Hai người anh trai của chị Lành, một người bị tâm thần, một chết sớm trong khi các chị dâu lại bỏ đi, để lại đến 6 đứa bé côi cút cho bà Thèm và chị Lành nuôi dưỡng. Do bà Thèm đau ốm liên miên lại không có đất sản xuất nên vợ chồng chị Lành đang tính tới phương án đưa đại gia đình lên Bến Lức hành nghề bán vé số.

Đoạn văn thượng dẫn có hai hạn từ mà tôi tự ý cho in đậm: “đồng nghiệp” và “phương án.” Chị Phạm Thị Lành là một con người cao cả, đã đành, và cái nghề bán vé số số hiện nay cũng đã tạo nên một giới người vô cùng cao qúi theo như ngôn ngữ đương đại của giới truyền thông hiện nay – ở Việt Nam – như vừa trích dẫn!

Họ “lập phương án” đi bán vé số đàng hoàng, chớ không phải bạ đâu làm đó đâu nha.  Họ cũng  gọi nhau là “đồng nghiệp” nữa đó (lịch sự hết biết luôn) nghe cứ y như cái cung cách xưng hô (qúi phái) của qúi vị bác sĩ hay luật sư ở giữa toà, hoặc ở giảng đường của trường đai học y khoa vậy.

Thiệt là quá đã, và … quá đáng!

Rõ ràng là cách mạng Việt Nam đã tạo ra thêm một … Giai Cấp Mới (nữa). Khác với giai cấp mới đỏ au – phát sinh cùng thời – những người bán vé số hôm nay dù hành nghề có “phương án” (cẩn thận) và vẫn thường gọi nhau là đồng nghiệp (tử tế) nhưng họ lại rất đen đủi, lam lũ và đông đảo hơn mức cần thiết rất nhiều.

Nếu đã có lúc dân Việt cứ bước ra ngõ là gặp anh hùng thì nay họ lại gặp những người chào mời vé số, theo như tường trình của  thông tín viên RFA:

Chỉ riêng thành phố Sài Gòn, lượng người bán vé số đông lên cả vài ngàn người, họ đến từ thập phương, cũng có người xuất thân là công nhân nhà máy, xí nghiệp, vì tai nạn lao động hoặc vì mất sức lao động, bệnh tật, phải nghỉ việc và chuyển sang bán vé số kiếm cơm độ nhật. Ngồi quán cà phê vỉa hè 58 – Trần Quốc Thảo, quận 1, trong vòng nửa giờ đồng hồ, đã đếm được 16 người bán vé số đến mời, già có, trẻ có, bệnh tật có, nhưng xót xa nhất vẫn là những em bé tuổi chưa đầy 15, học hành dở dang hoặc vừa đi học vừa bán vé số kiếm tiền phụ giúp cha mẹ.

Ngành kinh doanh vé số được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận…Trung bình, mỗi tỉnh có từ 20 đến 30 đại lý, mỗi đại lý có từ 30 dến 40 người đi bán, mỗi ngày, một đại lý tiêu thụ trung bình 2000 tờ vé, như vậy, doanh thu trung bình mỗi ngày là 600 triệu đồng.

Trẻ em bán vé số thay vì đến trường học.

Ảnh và chú thích: Uyên Nguyên, RFA

Với mức thu nhập bình quân mỗi ngày từ vài chục ngàn đồng cho đến một trăm ngàn đồng. Mức một trăm ngàn đồng là mức may mắn của người bán vé, hiếm khi họ kiếm được số tiền lãi này, vì để có nó, người bán phải bán được 100 tấm vé giá 10 ngàn đồng cho một ngày. Nhưng đây là con số rất khó đạt được, chỉ có những người bán vé cho ngày mai ngay trong buổi chiều hôm nay mới có cơ may kiếm được số lượng này.

Nghĩa là buổi sáng, họ thức dậy lúc 5h, ăn uống qua loa và lên đường, lang thang hết quán cà phê này sáng quán ăn nọ để chào mời vé số, 4 giờ chiều trả vé, lấy tiếp vé ngày mai đi bán cho đến 9 giờ tối. Đương nhiên, để kiếm được chén cơm, manh áo, họ phải chấp nhận sự khó chịu, thậm chí những lời thóa mạ của khách vì bị quấy rầy, mời mọc trong lúc đang ăn. Nhưng nếu nhìn kĩ, người bán vé số cũng không có cơ hội mời chào khác ngoài việc đi từ bàn ăn này đến bàn ăn khác hoặc từ bàn cà phê này đến bàn cà phê khác để mời.

Ngành kinh doanh vé số được đánh giá là ngành siêu lợi nhuận, chi phí in ấn một tờ vé số không bao giờ vượt tới mức giá 500 đồng, chi phí trả cho người phát hành vé số, từ đại lý cấp 1 cho đến người bán là 1.300 đồng, trong đó, đại lý được hưởng 3% trên giá vé số, người bán được hưởng 10%. Như vậy, tổng số tiền lãi công ty nhận trên một tờ vé số sẽ là 8.200 đồng. Trung bình, mỗi tỉnh có từ 20 đến 30 đại lý, mỗi đại lý có từ 30 dến 40 người đi bán, mỗi ngày, một đại lý tiêu thụ trung bình 2000 tờ vé, như vậy, doanh thu trung bình mỗi ngày là 600 triệu đồng, khấu trừ 13%, con số còn lại vẫn ở mức 492 triệu đồng.

Riêng về khoản tiền thuế đóng cho ngân sách nhà nước, con số này không ổn định và cũng không minh bạch do sự co giãn giữa mối quan hệ ăn chia, thân bằng quyến thuộc trong bộ máy cầm quyền và chỉ số thuế qui định đã được phù phép cho nhỏ lại… Cũng chính vì lẽ này, phần đông nhân viên và ban bệ trong ngành xổ số kiến thiết đều là đảng viên Cộng sản và có người thân làm quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước.

Tôi e rằng mình, cùng nhiều người khác, đã hiểu lầm câu nói (“bán vé số ở Việt Nam có thu nhập cao”) của ông Giàng Seo Phử. Khi phát biểu như trên, ông Bộ Trưởng chỉ có ý muốn đề cập đến những đại lý bán vé số của những người có “mối quan hệ ăn chia, thân bằng quyến thuộc trong bộ máy cầm quyền” thôi. Họ cũng “đều là đảng viên Cộng sản và có người thân làm quan chức cấp cao trong bộ máy nhà nước” hết trơn hết trọi. Chớ đâu phải là cái thứ thường dân dấm dớ, cỡ  tui,  cha nội!

Ảnh: Tuổi Trẻ Online

Thiệt là một sự hiểu lầm tai hại, chết người, chớ không phải giỡn. Mà đời về chiều, và đã đến nước này rồi thì tui cũng đành phải chết thôi. Thôi thì nhẩy mẹ nó xuống cầu Golden Gate, ở San Francisco, chết quách cho rồi. Chớ lặn lội về tới cố hương rồi đi chào mời vé số – từ  5 giờ sáng đến 9 giờ tối – chỉ để kiếm được vài ba Mỹ Kim thì chắc chỉ chừng hai ngày sau là tui sẽ nhẩy cầu Rồng, hay cầu Bình Lợi thôi hà.

Tôi chờ đợi lớn lên cùng giông bão

“Tôi chờ đợi lớn lên cùng giông bão,”

Hôm nay tuổi nhỏ khóc trên vai (2).

Tìm cánh tay nước biển,

Con ngựa buồn lửa trốn con ngươi!”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – Bài Ngợi Ca Tình Yêu)

(Mt 5: 21-24)

Trần Ngọc Mười Hai

Ca-từ ở bài này, nghe qua thấy cũng hơi vô lý, đến là thế. Nhưng nghe đi nghe lại nhiều lần, vẫn thấy lạ. Lạ hơn cả, là khi bần đạo đây nghe người trẻ Anthony Trần chia sẻ vào đêm nhạc Hát Cho Nhau ở Sydney hôm ấy, ngày 5/7/2014, nói rõ như sau:

“Qua các tài-liệu em đọc được, thì khoảng năm 1972, tổng thống Ngô Đình Diệm có mời một nhà nghiên-cứu âm-nhạc và cũng là nhạc-trưởng nổi tiếng ở nước ngoài đến Việt Nam xem có nhận-xét gì về nhạc Việt không. Ông có nói: “Nếu ta coi nhạc Việt như những món ăn dọn trên bàn tiệc, thì dường như người Việt mình chỉ thích ăn các món khai vị chứ không muốn chờ món chính. Trong khi các món khai vị hoặc ăn chơi, chỉ để đưa về món ăn chính, tức: trong âm-nhạc, ta phải tiến lên tầm mức có những giai-điệu khó-khăn hơn, cao vút hơn như một số giòng nhạc của thế-giới đang tiến tới.

Nhận-xét này, lúc ấy, có một số nghệ-sĩ đã thử-nghiệm, trong đó có nhạc-sĩ Phạm Đình Chương, hoặc nhạc sĩ Cung Tiến hay ai khác…cũng đã thử. Riêng, “Bài Ngợi Ca Tình Yêu” là nhạc-bản được phổ từ thơ Thanh Tâm Tuyền, và tiếp đó là bài “Dạ Tâm Khúc” cũng của ông đã ra đời trong chiều-hướng như thế. Tuy nhiên, loại nhạc khó hát và khó nghe như loại nhạc cổ-điển không được ưa-chuộng cho lắm, thế nên sau đó, nhạc sĩ Phạm Đình Chương đã ngưng, thôi không sáng-tác loại nhạc này nữa, chỉ còn mỗi nhạc sĩ Cung Tiến là vẫn tiếp tục với các bài như: Mắt Biếc, Thuở Làm Thơ Yêu Em, Hoàng Hạc Lâu… Và, dường như nay ít ai để ý đến những sáng-tác về sau của nhạc-sĩ Cung Tiến, theo chiều-hướng này nữa…” (trích lời dẫn của Anthony Trần Đàm Việt Quốc về khuynh-hướng sáng-tác loại nhạc khó, ở thời trước)

À thì ra, là như thế. Như thế nghĩa là, việc ca ngợi tình-yêu của mỗi người và mọi người, đâu thể nào giống cùng một kiểu. Không chỉ mỗi giới nghệ-sĩ mới thấy khó thế thôi ư? Thế còn, nhà Đạo ta mỗi khi ngợi-ca Thiên-Chúa-Là-Tình-Yêu, thì thế nào? Có khó lắm không? Hoặc, có bỏ cuộc giữa đường như nhạc sĩ Phạm Đình Chương vào thời đó? Trả lời cho câu này, bần đạo thấy còn khó hơn là viết nhạc theo giai-điệu khúc-mắc, rối bời, như vừa nói .

Thôi thì, ta cứ coi nhạc-bản ở trên tuy khó khăn, lăn tăn nhưng hãy cứ nghe thêm câu tiếp:

“Đất nước có một lần tôi ghì đau thương trong thân thể,
Những giòng sông, những đường cày, núi nhọn.
Những biệt ly, những biệt ly rạn nứt lòng đường.
Hút chặt mười ngón tay, ngón chân da thịt
Như người yêu, như người yêu từ chối vùng vằng.
Những giòng sông, những đường cày, núi nhọn.”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

Đấy! Hỡi bạn và tôi, ta đều thấy đấy: cái khó, nó không nằm ở giòng nhạc có giai-điệu lạ, nhưng khó hơn cả, là ở chỗ: ý/lời của bài thơ tự-do mà nhà thơ Thanh Tâm Tuyền, đã cố đặt ra thế. Thi-sĩ Thanh Tâm Tuyền có cố ý không, ta hãy cứ nghe thêm một đoạn nữa, hạ hồi sẽ hiểu:

“Những biệt ly, những biệt ly rạn nứt lòng đường.
Tôi chờ đợi cười lên sặc sỡ,
la qua mái ngói thành phố ruộng đồng,
Bấu lấy tim tôi thành nhịp thở
Ngõ cụt đường làng cỏ hoa cống rãnh
Cây già đá sỏi bùn nước mặn nồng chảy máu tiếng kêu.”

(Phạm Đình Chương/Thanh Tâm Tuyền – bđd)

À thì ra, tình-yêu con người ở ngoài đời, chỉ thấy toàn những: “khóc trên vai”, rồi lại: “tôi ghì đau-đớn trong thân-thể”. Và dễ nể hơn nữa, người nghệ-sĩ còn hát thêm câu: Những biệt ly, những biệt-ly rạn-nứt lòng đường”, rồi lại: “Bấu lấy tim tôi, thành nhịp thở”, hoặc: “sỏi bùn nước mặn, nồng chảy máu tiếng kêu”. Chao ôi, những ngôn và ngữ ở đời, rất thi ca.

Thế còn, ngữ-ngôn nhà đạo độ này ra sao? Nhà Đạo, cũng có những lời thơ hoặc lời thư đậm nét tâm-tư như đấng thánh nhân-hiền từng tỏ lộ:

“Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí,

hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến,

thì cũng chẳng ích gì cho tôi.4

Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu,

không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,5

không làm điều bất chính,

không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù,6

không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.7

Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.8

Đức mến không bao giờ mất được.”

(1Cor 13: 3-8)

Vâng. Thế đó, là khẳng-định của đấng thánh nhân-hiền, cột trụ của Hội thánh. Và đây là: ý/lời nhà Đạo ở đời thường, cũng không khác mấy? Và, một câu hỏi khác: Đâu là lập-trường người đi Đạo, khi vinh-thăng “Lòng mến” vẫn có cái gì đó, khá độc đáo, chân-phương, bình dị như đời người đi Đạo, thôi.

Để hỗ-trợ tư-tưởng này, thiết-tưởng cũng nên quay về với ý/lời của người trẻ khác tên là Emma Quinn ở báo Úc, như sau:

“Đôi lúc, tôi trộm nghĩ: ta cũng nên để ra đôi chút cố-gắng mà làm điều hay/điều phải cho phải lẽ. Như bậc mẹ cha này khác ở đây đó, từng lo-lắng/đắn đo nhiều chuyện, hoặc như các cô/cậu học-trò ngoài “lề phải”; hoặc như thiếu-nữ tuy còn nhỏ cũng đã ưu-tư/khắc-khoải, nên mới “ới gọi” Đức Thánh Cha Phanxicô giúp cô vượt lên trên lớp sóng phủ đầy những thách-đố trong đời mình, bằng lá thư sau đây. Trước nhất, là thư một bà mẹ còn rất trẻ có tên là Janice, như sau:

Trọng kính Đức Thánh Cha,

Con đang sống trong tình-trạng tuyệt-vọng, nên cần người chỉ dạy, cho con.  Con có đứa con gái ở độ tuổi 14, 15 thôi, nhưng cháu đã bắt đầu khó bảo. Đêm nào, cháu cũng bỏ nhà ra phố chợ mà đàn đúm, vui chơi với lũ bạn choai choai tại các hộp đêm, của nguời lớn. Hết nhảy nhót, hát hò thâu đêm suốt sáng, rồi còn say sưa, chè chén, hút sách. Áo quần cháu mặc nay cũng biết theo đuôi chúng bạn cứ là: hở hang, lỗ mãng đến mắc cở, chẳng còn biết coi ai ra gì. Con nghĩ, nay như cháu đã đi trệch đường rày rồi, không còn biết thế nào là “công dung ngôn hạnh”, nữa Đức Cha ơi…

Con chẳng hiểu sao cháu lại ra nông nỗi thế. Con cũng không biết thế nào mới gọi là theo đúng chức-năng người mẹ. Xin Đức Cha giúp con với!

Ký tên,

Janice ở Úc

Và, lời thư hồi-đáp, cũng không hiểu từ ai đó, có những điểm để ta xét, rất như sau:

Janice thân mến,

Tuổi niên-thiếu vẫn là tuổi đời đầy khó khăn. Nhưng, những khó-khăn như thế sẽ không kéo dài suốt đời, đâu. Ta đây, vẫn thường bảo nhiều người, rằng: tuổi “teen” rồi cũng trôi mau và sẽ được gìn-giữ ở vườn thú cùng loài khác, cho đến khi chúng qua được thời-kỳ nổi-loạn của tuổi đang lớn. Nghiêm-túc hơn, đây là lúc để con bước ra khỏi khu vực thoải mái mà giáp mặt với con gái mình. Hãy giữ lằn ranh ngăn-cách tuy có thiết-lập rõ qui-luật nhấn mạnh và củng-cố nhiều về hệ-quả, nhưng vẫn khích-lệ hành-xử cách đúng-đắn. Hãy nhớ: con là một người mẹ, trước khi là bạn của con gái cưng của mình.

Cần hơn cả, là con phải tạo sự thân-mật gần gũi giữa con và các con của con. Hãy luôn để mắt đến con gái mình xem cháu thường giao-du nơi nào và rồi, sẽ cho cháu thấy rõ là con vẫn hỗ- trợ cháu. Hãy để nhiều thì giờ ra với con gái của con, có lẽ cũng nên chọn môn giải-trí nào đó mà cả hai mẹ con cùng chung vui, thêm phần  gần gũi thân-thương/mật-thiết, như: tập thể-dục chung với nhau, cùng nhau nấu ăn/mua sắm, vv. Phải can đảm giáp mặt/đối đầu với những vấn-đề gai góc, mọi sự rồi cũng sẽ qua đi, nhưng chúng vẫn đáng để con bỏ công ra mà thực-hiện quyết-tâm vào lúc này. (Xem Emma Quinn, Ask Papa Frank, Australian Catholics số Spring 2014, tr. 12-13)

Và, thêm thư khác, cũng gửi đến Đấng-bậc Bề Trên cao tít, như sau:

“Trọng kính Đức Thánh Cha,

Trong lớp của con, có nhỏ bạn nọ từng bị đám học-trò cùng lớp cứ bắt nạt/chọc ghẹo suốt ngày này qua tháng nọ. Từ lúc đó, cô không còn dám lân-la gần-gủi một ai, hết. Không chỉ có mỗi thế, bọn kia ngày càng lấn-át bắt chẹt cô ta đủ điều. Tệ đến độ, cô ta không còn muốn đến trường nữa. Con đây, nhiều lúc cũng tự hỏi: không biết có nên xen vào chuyện người khác hay không? Hay là, tốt hơn hết, mình cứ im lặng/làm ngơ để khỏi bị liên-lụy. Cha có ý-kiến gì giúp bọn con không?

Nay kính,

Joe.

Và thư trả lời, cũng từ đâu đó, chắc gì của Đức thánh là Cha Phanxicô, như sau:

Joe thân mến,

Thật ra thì, cuối cùng rồi cũng có 3 chọn-lựa để con suy-tính. Nhưng ba chọn-lựa này đều đòi hỏi con phải can-đảm hơn lên, và nhất là con phải có nghị-lực mới có thể vượt thắng được chuyện ấy. Thật ra thì, chẳng có giải-pháp dễ ăn giả như con thật tình muốn chấm-dứt chuyện bắt nạt ở trường-học, hết.

Trong ba chọn lựa này, thì thứ nhất là: “chính mình ra mặt đối đầu với chuyện bắt nạt và đứng về phía nạn-nhân. Đây không là vị-thế dễ làm, đối với những người cả nể hoặc dễ ngất xỉu, bởi nó là công-việc rất đáng ngại. Đây, cũng không là phương-cách quay lại làm hại hoặc tỏ ra dữ-tợn với người chuyên bắt nạt trẻ nhỏ, nhưng là tạo cho nạn-nhân có tiếng nói vươn cao mà vượt thoát.

Chọn lựa thứ hai, là: hãy cứ lẳng lặng đi báo cho thày/cô hoặc người lớn nào đó đáng tin cậy về trường-hợp người bạn cùng lớp/cùng trường đang bị bọn xấu bắt nạt đủ điều. Nghĩa là: con cũng cứ ra tay hành-động, nhưng hành-động của con là dám vượt lên trên vấn-đề bức-bách đang xảy đến.

Chọn-lựa khác nữa, là: mời người bị bắt nạt tức nạn-nhân ngồi xuống với con vào giờ ăn trưa. Hai cái đầu vẫn hơn một khối óc để ta giáp mặt với những kẻ chuyên bắt nạt người yếu thế. Được nhiều người chung quanh hỗ-trợ, sẽ càng bổ-sức cho bạn ấy niềm tự tin và từ đó, càng làm cho ta yên chí rằng: bạn vẫn còn có những người thương yêu mình trong cuộc đời.

Và có lẽ, ngay cả việc quyết đẩy lùi/loại bỏ chuyện bắt nạt/làm khó ra khỏi môi-trường mình sinh-hoạt đến thế nào đi nữa, cũng hãy nhẹ nhàng nói lên tiếng nói hoặc mời người nào ngoại-cuộc đi vào vòng yểm-trợ mà con cần đến, hầu có can-đảm mà giải-quyết.

Chúc con thành công.

Và lại có trường-hợp khác cũng khó khăn, tiêu-biểu để ta xem xét:

Trọng kính Đức Thánh Cha Phanxicô,

Con hiện có cảm-giác là: gia-đình con đang có cái gì đó đã đổi-thay. Chừng như quan-hệ giữa ba mẹ con rày đã khác. Ngay giữa Ba con và con, nay cũng đã có đấu-tranh như chưa bao giờ. Gia-đình con không còn ra ngoài trời hoặc tìm nơi giải trí/giải khuây, vui thú nữa. Tối nào, trong nhà con cũng thấy mọi người ngồi trước cái hộp truyền thanh/truyền-hình, cứ lặng như tờ, đôi lúc chỉ lẩm bẩm vài câu chúc nhau ngủ ngon, thế thôi. Con chỉ muốn cho gia-đình trở lại như trước. Có thể nào, với tư-cách là gia-đình, bọn con làm được gì để giải-quyết chuyện này không, thưa Đức Cha?

Ký tên

Con của Cha,

là Mary.

Và sau đây là thư hồi-âm, âm-thầm nhưng rõ nét, cũng chẳng biết từ ai, nữa;

“Mary thân mến,

Có can-đảm lắm, con mới nhận ra là gia-đình của con đang có vấn-đề!

Có một số việc mà con có thể cứ thử làm để gia-đình con trở lại như khi trước. Trước hết và trên hết, tất cả mọi người trong nhà con cần giao-tiếp với nhau theo cách nào đó cho tốt đẹp. Hãy ngồi xuống mà tỏ-bày quan ngại của con và đề-nghị một nơi để nói chuyện cho an-toàn, thoải mái. Con cần lòng quả-cảm để bày-tỏ tính chân-phương, thật thà, bởi đó là tính-chất rất sống còn hầu tạo cho gia-đình mình thấy được sự cần-thiết trong quan-hệ. Thế nên, hãy đưa mọi chuyện lên mặt bàn mà đặt thành vấn-đề.

Hãy tìm cách bảo-bọc và chấp-nhận các khác-biệt của nhau. Tất cả chúng ta đều có quan-niệm và tầm-nhìn khác biệt nhau về mọi sự. Có thể, chúng ta cũng sẽ không đồng ý với nhau về nhiều thứ, nhiều sự, thế nên ta cứ phải mở rộng lòng ra với những khác-biệt ấy.Sao cả nhà không đặt ra một kế-hoạch ra khỏi nhà mà đi chung với nhau? Hãy tái tạo sao đó để sự vui tươi trở lại với cuộc sống gia-đình. Hãy thử rủ nhau đi ra rạp xem phim, đi du-ngoạn ngoài trời, cùng đạp xe đạp, tập-luyện ngoại-hình. Những việc như thế, sẽ nhắc nhở mọi người trong gia-đình là: tại sao con thương gia-đình và tiếc nuối cái bầu khí tốt đẹp trong gia-đình biết là chừng nào!

Nếu chuyện này vẫn chưa giải-quyết được, thì điều hay nhất cho gia-đình con là: tìm một chuyên-gia nào đó có tay nghề  để giúp đỡ. Đôi lúc, ta cũng cần có người ngoài xem xét sự thể ở mọi việc bằng một cái nhìn khác-biệt. Dĩ nhiên, đây là bước nhảy khá táo-bạo và lớn lao, vì nó đòi ta phải có mức độ can-đảm thật lớn lao. Gia đìng quan-trọng là thế, nên cũng xứng-đáng để ta cùng nhau tìm cách giải-quyết các vấn-đề chung cùng nhau, của nhau.

Chúc con và gia-đình thành-công tốt đẹp.

Người cha vẫn ở xa, nên không làm gì được cách cụ-thể.” (xem Emma Quinn, bđd ở trên)

Theo như nội-dung/bài bản của những bức thư trần-tình/hội-ý giống như trên, đã cho thấy: người đi Đạo thời hôm nay, dù còn trẻ hay đã hết trẻ rồi, vẫn có vấn-đề về sự chín-chắn, trưởng-thành làm người lớn. Làm người lớn, thật ra không khó cho lắm, nhưng nó vẫn có những qui-tắc hoặc luật-lệ qui-định để, nếu ta không theo nổi hoặc không thích làm thế, sẽ thấy khó thực hiện.

Mới đây, bạn đạo ở nhiều nơi có gửi về nhắc nhở bần đạo đôi ý-kiến của đấng bậc vị-vọng trong nhà Đạo từng ghi chú về qui-luật trở thành người lớn như sau:

“Làm người lớn có nghĩa là gì?

Người lớn đây, đang học cách lãnh trách-nhiệm về đời mình. Người lớn cứ học-hỏi rồi nói: “Chính tôi đã làm điều đó” hoặc “Tôi có sơ-xuất nên mới làm thế!” hoặc “Tôi thật rất sai!” Người lớn, không là người cứ trách-móc người khác về vấn-đề hỏi rằng: “tôi đang ở vị-thế nào, trong cuộc sống?”

Người lớn, không là người cứ bỏ nguyên ngày ra làm việc rồi cười hi hí về chuyện này/chuyện khác. Người lớn lãnh trách-nhiệm về những gì mình và cần để mắt hầu tự kiểm soát rồi tiến về phía trước.

Người lớn không dùng người khác mà yểm-trợ cho bản-ngã của mình đang sa-sút.

Người lớn, là người biết để ý đến người khác để rồi chúc mừng cùng hỏi thăm và khẳng-định mà không cần đến việc hướng câu chuyện về phía mình. Ngay cả những người luôn phỉ-báng chính mình, cũng làm được những việc như thế bằng nỗ-lực chú-tâm vào chính mình họ.

Người lớn, là người nới rộng hành-vi của mình đặt lên người khác. “Nếu tôi không đạt đích-điểm bằng dự-án của tôi, thì làm sao tôi có thể gây ảnh-hưởng lên các thành-viên khác trong đội-ngũ mình?”

Người lớn, là người biết chú-tâm đến thời-khoá-biểu của người khác, thay vì cứ liên-tục đi trễ rồi còn bảo: tôi coi trọng việc tôi làm hơn việc các anh chị cứ chờ tôi”.

Người lớn, là người quyết làm đến cùng, nên mới nói với người khác: “Tôi sẽ gọi điện cho anh/chị”. “Tôi sẽ nhớ anh/chị trong lời cầu”. “Tôi sẽ mang trả cuốn này, ngay lập tức”.

Anh em có làm thế đến cùng được không?

Mọi người có biết là: khi ta hứa gọi điện cho ai, tức là dứt-khoát ta sẽ gọi cho họ, đúng thế không?

Có ai biết rằng khi ta nói: “Nào, anh em mình cùng đi ăn trưa đi!” tức mình nói một cách nghiêm-chỉnh, chứ?

Hoặc, mọi người có biết rằng: ít khi nào ta đi đến cùng đích về mọi chuyện, hoặc rất quyết tâm khi mình đã nói ra miệng, chứ? Hôm trước, tôi có dịp ghé thăm một người bạn. Anh kể cho tôi nghe về tình bạn hỗ-tương anh có với bạn khác là người từng bảo anh, rằng: “Ta cùng nhau đi ăn tối đi!” Khi ấy, bạn tôi bảo: Tôi biết rõ lần đó là lần cuối cùng tôi nghe thế, ngoại trừ khi tôi có sáng-kiến mời anh ta trước. Bởi, anh ta là người luôn nói thế, nhưng chả bao giờ thực-hiện”. (xem Lm Kevin O’Shea, Sống Đời Đạo Đức có Ánh-Sáng Cứu-Chuộc soi rọi, www.giadinhanphong.blogspot.com 05.09.2014)

Nói cho cùng, thì: sống cho đúng chức-năng của mỗi người trong đời, dù đó có là đời đi Đạo hoặc đời thường ở xã-hội, vẫn là sống có nguyên-tắc/chức-năng đúng vị-thế của mỗi người. Còn có nghĩa, là: sống cho phải Đạo, dù là Đạo Chúa hay đạo làm người, ở đời cũng vậy.

Sống cho phải đạo làm người còn phải noi theo những điều được đấng bậc đề nghị như sau:

“Mười điều Chúa không đòi hỏi khi gặp ta:

1.  Chúa sẽ không hỏi ta đang lái xe nhãn-hiệu gì, nhưng Ngài cứ hỏi xem ta đã chở được bao nhiêu người không có phương-tiện di-chuyển.

2.  Chúa sẽ không hỏi xem căn hộ ta sống lớn/nhỏ ra sao, nhưng Ngài sẽ hỏi ta từng đón tiếp bao nhiêu khách mời đến ở với ta.

3.  Chúa sẽ không hỏi ta có bao nhiêu bộ áo quần trong tủ đựng, nhưng Ngài sẽ hỏi ta giúp được bao nhiêu người rách rưới có áo mặc.

4.  Chúa sẽ không hỏi lương tiền ta kiếm cao đến cỡ nào, nhưng Ngài sẽ hỏi ta có mất phẩm-chất để được số tiền đó hay không.

5.  Chúa sẽ không hỏi chức-vụ của ta cao-cả thế nào, nhưng Ngài sẽ hỏi rằng: ta có làm hết sức mình cho công việc không.

6.  Chúa sẽ không hỏi ta có được bao nhiêu người bạn, nhưng Ngài sẽ hỏi ta đã làm bạn được với bao nhiêu người.

7.  Chúa sẽ không hỏi ta đang sống ở khu vực nào giàu/nghèo ra sao, nhưng Ngài sẽ hỏi ta đối xử với hàng xóm có tốt đẹp hay không.

8.  Chúa sẽ không hỏi màu da của ta đậm đặc thế nào, nhưng Ngài sẽ hỏi về tâm-tính của ta khi xử-thế.

9.  Chúa sẽ không hỏi tại sao ta quá chậm chạp khi tìm ơn cứu-chuộc, nhưng Ngài sẽ vui vẻ đem ta về lâu đài tình ái trên Thiên-quốc chứ không dẫn ta đến cửa ngõ hoả ngục.

10. Chúa sẽ không hỏi ta trao những câu này đến được bao nhiêu người, nhưng Ngài sẽ hỏi tại sao ta cứ do dự hoặc xấu hổ khi làm thế. (trích Sean Kealy, Varieties of American Experience, Doctrine and Life, 2006, 40-41)

Lại xin hỏi thêm lần nữa: những sự và những thứ ở trên như thế, có thực là lỗi hoặc tội không? Ta có đưa ngôn-ngữ, ẩn-dụ, huyền-thoại, ý-nghĩa diễn-giải rất đúng về “lỗi/tội” vào các ví-dụ cụ-thể nào như thế không???

Trong cùng một chiều-hướng như đấng-bậc ở Đạo Chúa nói trên, có lẽ cũng nên để ý đến nhận-định của đấng-bậc khác, rất nổi tiếng, tuy khác đạo về mặt lễ-giáo, nhưng lại cùng chung một kiểu cách của “đạo làm người”, với ý-tưởng không khác mấy. Ý-tưởng đây là những ý rất đúng đắn như sau:

“Sức mạnh của trẻ thơ là tiếng khóc. Sức mạnh của đàn bà là phẫn nộ. Sức mạnh của người ăn trộm là vũ khí. Sức mạnh của vua chúa là quyền uy. Sức mạnh của kẻ ngu là áp đảo. Sức mạnh của bậc hiền trí là cảm hóa. Sức mạnh của người đa văn là thẩm sát. Sức mạnh của sa môn là nhẫn nhục.”

Bởi chúng ta không thể thay đổi được thế giới xung quanh, nên chúng ta đành phải sửa đổi chính mình, đối diện với tất cả bằng lòng từ bi và trí huệ”

“Ra đời hai tay trắng. Lìa đời trắng hai tay. Sao mãi nhặt cho đầy. Túi đời như mây bay.”

Thành thật đối diện với mâu thuẫn và khuyết điểm trong tâm mình, đừng lừa dối chính mình”.

“Sự khác biệt giữa con người là do mức tiến hóa khác nhau qua các kiếp sống. Có khi nào ta thù ghét một kẻ kém ta đâu? Suy luận rằng: “vạn vật đồng nhất”, ta sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, vì họ không hiểu biết, không ý thức hành động của mình, vả lại họ và ta nào có khác nhau đâu. Khi ta hiểu rằng: “nhất bổn tám vạn thù”, ta nhìn vạn vật như chính mình, từ loài người qua loài thú, thảo mộc, kim thạch, và ý thức rằng mọi vật đều có sự sống, đều có Thượng đế ngự ở trong, ta sẽ cởi bỏ thành kiến, mở rộng lòng thương đến muôn loài”.

Là con Trời Phật, nếu không nói được những gì Trời Phật nói, hãy im lặng như chánh pháp, đừng nói những lời ác, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống, làm tổn hại kẻ khác, nếu không làm được những gì Phật làm, hãy im lặng và lắng nghe, quán sát, học hỏi những thiện tri thức, đừng vọng động làm những điều thương tổn đến tha nhân”.

“Ác khẩu, mãi mãi đừng để nó thốt ra từ miệng chúng ta, cho dù người ta có xấu bao nhiêu, có ác bao nhiêu. Anh càng nguyền rủa họ, tâm anh càng bị nhiễm ô, anh hãy nghĩ, họ chính là thiện tri thức của anh”.

“Người mà trong tâm chứa đầy cách nghĩ và cách nhìn của mình thì sẽ không bao giờ nghe được tiếng lòng người khác”.

“Khi trong tay anh nắm chặt một vật gì mà không buông xuống, thì anh chỉ có mỗi thứ ấy, nếu anh chịu buông xuống, thì anh mới có cơ hội chọn lựa những thứ khác. Nếu một người luôn khư khư với quan niệm của mình, không chịu buông xuống thì trí huệ chỉ có thể đạt đến ở một mức độ nào đó mà thôi.” (sưu tầm về ý-tưởng của Đức Đạt Lai Lạt Ma)

Vâng. Bậc thày giảng-dạy có hỏi hoặc có dạy thì học trò hay người đọc vẫn cứ nghe và sẽ quyết-tâm làm như thế. Làm thế, tức: sẽ cố gắng sống đúng chức-năng của mỗi người trong đời, hoặc trong nhà Đạo. Có, có thể cũng là ý-nguyện của bạn và của tội, hôm nay và suốt đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Xưa rày vẫn quyết-tâm

Và sẽ còn tâm-huyết

Ra như thế.

Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé

“Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé,”

Linh hồn anh, từ đó ướp trầm hương”.

(Dẫn từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 21: 28-32

Xuân long lanh trong mắt ai đi nữa, vẫn ướp tâm hồn người, mà sao anh không thấy được động-lực thúc đẩy anh ra đi giúp mọi nguời? Nắng nội-tâm nói ở trình-thuật, vẫn gợi ý nơi anh và em nhiều tâm tình Chúa giải-thích, cũng nên nghĩ mà xem.

Trình-thuật hôm nay, thánh-sử Mát-thêu đã giải-thích tâm-trạng của hai người con, rất khác tính. Khác tâm-trạng, khi đặt mình trước mặt người Cha thương-yêu. Trình-thuật, nay còn kể về tình-cảnh hai người con được yêu-cầu làm một việc, nhưng câu đáp-trả của hai người lại vẫn khác. Và, điểm khác biệt còn ở chỗ: người này không làm nhưng vẫn nói. Còn, người kia không nói nhưng vẫn làm.

Kể về dụ-ngôn hôm nay, thánh-Mát-thêu muốn đặt nặng đường-lối huấn-đức, hầu ca-tụng những người nói ít nhưng vẫn chịu làm. Và, thánh-nhân hạ phẩm-chất của những người chỉ dám nói chứ không dám làm. Thời Chúa sống, câu truyện dụ-ngôn vẫn được dùng để gây thiện-cảm với những người con bé nhỏ, thấp hèn, bỏ rơi bị coi như ngang hàng với đám tệ-nạn, cùng đinh, dân thu thuế.

Thời thánh Mát-thêu sống, truyện dụ-ngôn còn được kể là để hỗ-trợ dân thường ngoài Đạo, quyết chống lại kiểu sống đạo hợm-hĩnh, cao ngạo vẫn dẫy đầy nơi người Do-thái. Kiểu sống như thế, lại được người thời nay đưa vào câu truyện kể bằng cách này hay cách khác, cốt đề-cao hoặc chê-trách người nào đó.

Người thời nay, cho thấy: có lúc cùng một người, lại có cả hai tâm-tính đối-chọi nhau. Nghĩa là: cũng nói nhưng không làm; và đôi lúc, cũng làm sau khi nói tiếng “không” chẳng có nghĩa.

Chuyện này làm ta nhớ lại một nhân-vật trong phim tập truyền hình “Vicar of Dibley” qua đó, bao giờ nhân-vật ấy cũng bắt đầu nói: “Không, không và không!” Nhưng sau đó, lại đã kết-thúc bằng hành động mang nghĩa “có, có và có”. Có hợp-tác. Có đồng-thuận. Hệt như thể, trong cuộc sống, ta cũng thấy nhiều người từng nói “, có và có đấy!”, nhưng cuối cùng lại cũng “Không! không! Không làm gì hết”, tức: “có” cả hai thứ, cùng một lúc.

Lại có trường-hợp cũng hơi khác thường, là: trên thực-tế, nhiều lúc lại giống như thể: “không có” hết cả hai. Nghĩa là: ta thấy chuyện ấy không mấy thích-thú để nói được là “có” hay “không”, hoặc: chắc-chắn sẽ làm hoặc sẽ không làm chuyện đó, bao giờ hết. Chuyện được kể, xem ra cũng không mấy liên-quan đến ta, cách gần gũi hoặc quen thuộc.

Hôm trước, có linh-mục nọ kể lại là: sau buổi lễ, ông ra ngoài nhà thờ nói chuyện với giáo-dân và bất chợt bảo một người: “Tuần sau anh/chị vẫn tiếp-tục đi lễ chứ?” Phần đông nghe hỏi, ai cũng trả lời: “Thưa cha, dĩ nhiên là có!” Tuần sau đó, chẳng biết vì sao không ai thấy người ấy đến nhà thờ.

Một số người trong chúng ta nghe hỏi thế, có thể đã phản-ứng trái-nghịch lại, bèn thú thật: “Thưa cha: không! Tuần sau con bận!” Nhưng, sau đó nghĩ lại, anh phấn-đấu một hồi rồi cũng đến. Tuy nhiên, nhiều người thấy linh-mục hỏi thế cũng hơi kỳ. Bởi, ngày nay, không ai muốn đả động đến chuyện ấy, hết.

Nhiều cuộc khảo sát trước đây, cho thấy: thế-hệ trẻ hôm nay có khuynh hướng chọn ngồi hàng ghế cuối, để không bị cha/cố lưu ý hỏi điều gì công-khai trước mặt mọi người. Những người như thế, thường cũng chẳng muốn ai để mắt đến mình. Họ chỉ âm-thầm “rồi đến rồi đi”, đi nhà thờ để “xem lễ” rồi ra về, thế thôi. Nghĩa là, vẫn muốn yên-vị trong tầm riêng tư, chẳng muốn ai động đến mình, hết.

Cách đây nhiều năm, trong Giáo-hội ta cũng thấy có phe/nhóm khác nhau. Người, thì chủ-trương phóng-khoáng. Kẻ, lại theo nhóm phái bảo-thủ, rất cổ-hủ. Ngày nay, ít ra ta còn dám bảo: các phe/nhóm như thế này cũng bớt dần; hoặc: nhiều người, nay không còn thích đưa chuyện chính-trị vào hội-thánh, nữa. Nhiều vị, không còn thích chuyện ly-kỳ mộng-ảo như chuyện về “điềm báo mộng” từ các thánh; hoặc chuyện: quay về với truyền-thống cũ…

Giới trẻ hôm nay, đặc-biệt không còn thích dính-dự vào các trò chơi chính-trị, phe đảng, phân-hoá hàng ngũ, hoặc theo phe/nhóm này khác. Họ nhận ra rằng: thế giới của họ nay không còn những chuyện như thế,nữa. Nơi thế-giới họ sống, tất cả đều rõ ràng, đầy dẫy thông-tin mang nghĩa tuỳ-thuộc, như: cả trong công ăn việc làm mà họ vốn có, họ luôn ở vào vị-thế có trách-nghiệm.

Nói theo cách nào đó, thì: giới trẻ ngày nay, là những người còn biết đến “lẽ thường”. Họ vẫn tự hỏi lòng mình xem: nên ăn làm sao, nói làm sao. Và thực tế, họ đã thôi không còn ăn nói linh-tinh nhiều thứ, nếu ai đó đến hỏi ý-kiến họ về các nhóm người được coi là nhóm tiêu-biểu rất tinh-túy cả ở trong hội-thánh lẫn ngoài chính-trường.

Nếu có linh-mục nào đến hỏi người trẻ, xem: chiều thứ sáu này, có đến dự chầu lượt hoặc nguyện/ngắm “Lòng Chúa Xót Thương” không? Thì: họ cứ lẳng lặng quay về hướng khác, như thể bảo: “Thưa cha, cha nên quay về với thế-giới của riêng cha thì tốt hơn.” Hoặc, không nói cũng không làm, cũng chẳng phản-đối gì hết, chỉ việc tránh sang một bên, rồi đi thẳng. Nhưng, nếu có ai khác đến nhắn nhủ rằng: “Tuần tới, Anh/chị nhớ tham gia biểu-tình chống chính-phủ về vụ cắt-giảm ngân-sách y-tế, giáo-dục, vv.” thì có lẽ, họ sẽ cùng nhìn về một hướng, ở phía trước.

Về với câu Chúa hỏi ở dụ-ngôn: “Các ông nghĩ sao?” (Mt 21: 28). Hỏi thế, không có nghĩa là Ngài yêu-cầu ta bắt chước những người nói nhiều hơn làm, hoặc: làm nhiều hơn là cứ nói. Ngài không tuyên-dương bên nào hết. Ngài cũng chẳng giải-thích tại sao người con trai kia vẫn không làm mà chỉ nói; hoặc: có làm mà không nói, dù có nhắn có hỏi thế nào đi nữa.

Sau khi kể dụ-ngôn, Đức Giêsu cũng chẳng nói tại sao hai người con trai kia không chọn cho mình tư-thế nào, hết. Phải chăng anh ta chọn như thế vì lười biếng? hoặc: anh ta có kế-hoạch khác hoặc đang ở vào hoàn-cảnh khó đoán trước chuyện gì sẽ xảy đến. Có thể, vì anh quên sót hoặc ngu-muội không biết việc mình làm sẽ ra sao. Có khi, anh cũng chẳng biết chuyện ấy có được dân-chúng tôn-trọng hay không. Trong chuyện này, Đức Giêsu chỉ hỏi có mỗi câu: “Các ông nghĩ sao về chuyện ấy?” thôi.

Suy chuyện này, đôi lúc ta cũng nghĩ về tình-thế “Giáo-hội mình đang đi vào thời-kỳ khác với lịch-sử loài người, chăng? Cũng có thể, Giáo-hội ta đang trở-thành một giáo-hội ít hỏi-han giáo-dân mình về cuộc sống và ý-chí tốt-lành của họ, cũng không chừng. Giáo-hội ta như thế, sẽ không đòi thêm nhiều ngoại-lệ ở dân con đạo mình. Giáo-hội như thế, đã biết tôn-trọng giáo-dân về chuyện tư-riêng, bí mật của họ. Và, Giáo-hội nay đã biết phục-vụ con dân mọi người hơn là một tổ-chức này khác chỉ muốn dân con trong Đạo phục-vụ mình, thôi.

Phục vụ dân con trong Đạo mình, có nghĩa là: không tỏ ra thô-bạo với cuộc sống thực-tế rất riêng-tư của họ. Phục vụ dân con Đạo mình còn có nghĩa: biết nhẹ nhàng tôn-trọng phẩm-cách tách-bạch của người đó. Đó là nền-tảng khiến mọi người thực-sự thương-yêu, hiệp-thông với những người sống như thế.

Dân con trong Đạo, là loại người cùng đến để lĩnh-nhận sự hiệp-thông rất thánh trong Tiệc-Thánh mỗi Chúa Nhật. Và, con dân trong Đạo, còn là những người sống khác thường. Sống tốt-đẹp và giùm giúp nhau hơn trong thế-giới rất thực, như kết-quả của sự việc họ tham-gia có mặt ở Tiệc Thánh, cũng đều tốt.

Cuối cùng thì, câu hỏi của Chúa ở dụ-ngôn hôm nay, cũng được gửi đến dân con mọi người trong thánh Hội vẫn cứ hoặc vẫn không tham-dự Tiệc Thánh, ngày của Chúa.

Để chuẩn-bị cho câu trả lời thật đích-đáng, cũng nên ngâm lại lời thơ còn bỏ dở, rằng:

“Nắng xuân nào long lanh trong mắt bé?”

Linh hồn anh, từ đó ướp trầm hương.

Linh hồn anh, từ đó ngạt ngào thơm.

Máu, như nước hoa chan đời lễ lạc.

Máu, như gió lành chảy qua ruộng đồng bát-ngát,

Chở chuyên mùi lúa chín quanh năm”.

(Nguyễn Tất Nhiên – Bài Đầu Năm Tình Yêu)

Bài Đầu Năm Tình Yêu, vẫn có nắng có máu Thánh chan-hoà đời lễ lạc. Có “ruộng đồng bát ngát chuyên chở mùi lúa chín quanh năm”. Đó, là Tình thơm ngát linh-hồn vẫn ướp trầm hương ngạt-ngào, vững mạnh, suốt nhiều thời.

Cuối cùng thì, hãy cứ gần nhau đi dù không nói. Nói làm gì, khi anh đã “thầm hiểu” hãy cứ “lặng cúi đầu” mà suy về dụ-ngôn Chúa kể, để coi đó như bí-kíp sống ở đời. Bí-kíp, dựa nhiều trên chọn-lựa của mỗi người, tùy vào tình thân-thương ta đối xử với nhau, mà thôi.

Lm Kevin O’Shea CSsR

Mai Tá lược dịch.