Ai cần ai giải phóng?

Ai cần ai giải phóng?
October 05, 2014

Nguoiviet.com

Tạp ghi Huy Phương

“Chuyến tôi đi xe đò đứt thắng,
Ð. mẹ đời, đ. má tương lai”
(Ca Dao, 30 tháng 4)

* Chương ba mươi tám “Ðèn Cù”

Tôi cho rằng chương sách đáng đọc nhất của tác phẩm “Ðèn Cù” là chương 38, chương sách nói về ngày 30 tháng 4 năm 1975. Nếu độc giả không có thời giờ hay ít quan tâm, đọc một chương sách này cũng đã đủ.

Xe tăng của quân đội Bắc Việt tiếp tục đổ vào miền Nam Việt Nam vào ngày 12 tháng 5, 1975, để ngỡ ngàng trước đời sống sung túc của người dân miền Nam. (Hình: AFP/Getty Images)

Cũng như “Bên Thắng Cuộc” của Huy Ðức viết về ngày Sài Gòn thất thủ, khi mà cờ xí, biểu ngữ ngợp trời, loa phóng thanh ầm ĩ loan tin ngày đại thắng, Trần Ðĩnh cảm nhận được cái thất vọng, hụt hẫng, đau đớn của một người đã bao nhiêu năm, bỏ hết tuổi thanh xuân đi theo kháng chiến để chống Tây diệt Mỹ, tàn sát anh em để thống nhất đất nước! Những gì Huy Ðức suy nghĩ trước đây hẳn không khác hơn Trần Ðĩnh, Dương Thu Hương hay tất những người Việt Nam:

“…Ngày 30 tháng 4, 1975, ngày nhiều người tin là miền Bắc đã giải phóng miền Nam. Nhiều người thận trọng nhìn lại suốt hơn ba mươi năm, giật mình với cảm giác bên được giải phóng hóa ra lại là miền Bắc.” (Lời Nói Ðầu – Bên Thắng Cuộc.)

Hạ màn! Câu nói nửa chừng của Trần Ðĩnh “Chả lẽ trời đất quỷ thần lại phù hộ…” cho chúng ta hiểu là kẻ xấu, bọn tà đã… thắng! Trời quả là không có mắt như câu nói ngày xưa của nhân gian!

Trên báo Nhân Dân, sau ngày 30 tháng 4 tại Hà Nội, Trần Ðĩnh bất mãn vì chi tiết trong bài báo của Bùi Tín nói đến thực đơn của tổng thống “Ngụy” (trưa hôm đó có hai món chính là gân bò hầm sâm và cá thu kho mía,) mà theo Trần Ðĩnh, “Kiểm kê sự ăn uống của tư sản, địa chủ vốn nằm quen thuộc trong cẩm nang phát động quần chúng căm thù bọn bóc lột.” Theo tôi, thêm vào đó là sự thèm khát miếng ăn, để xem bọn “ngụy” nó ăn gì? Chi tiết đó có thể làm kẻ chiến thắng hả hê nhưng sự thật có đáng hiện diện trong một bài báo của một tổng biên tập lớn của một tờ báo lớn, trong một ngày máu xương chất đống hay không?

Một ông cụ thổi kèn Tây trong ban nhạc của triều đình Huế thời Bảo Ðại, tập kết ra Bắc, sau ngày “chiến thắng” chỉ còn độc một đôi dép râu, không có cả…bít tất. Ông cụ nói như lời trăng trối:

“Cảm ơn ông, đoàn với ai, tụ với ai? Vợ con chưa biết hiện ở đâu, đi theo nhà khác mất rồi có khi. Họ hàng thì chết trong Tết Mậu Thân… Tôi về đó vẫn lại trơ làm thằng tập kết đợt hai trơ trọi một mình… Ra đi để thống nhất đất nước, bây giờ ai thống nhất với thân già tôi?”

Trần Ðĩnh cũng như triệu triệu người miền Bắc ngây ngô, mơ màng thằng dân trong này bị bóc lột tận xương tủy, không có nổi cái chén mà ăn cơm, trong hành lý vào Nam của Trần Ðĩnh có năm bảy thứ cứu đói vào, trong đó có cả một cái thùng nhựa đựng nước kẻo sợ trong Nam không có được cái miểng sành chăng?

Người ngoài Bắc nô nức đi Nam xem chúng nó bị bóc lột đến cỡ nào, không ngờ “trong kia dân nó ối chà giàu ơi là giàu. Vàng chỉ năm chục đồng một cây. Tủ lạnh vài chục đồng một chiếc. Lạnh cứ là liên lu liền lù suốt năm. Bảo cho tay vào lâu là hóa ra đá!” hay “buồng nào cũng máy lạnh. Xin lỗi anh, tôi thấy sướng nhất là đi toa lét!”

Dân miền Nam quả là không đợi không chờ ai vào giải phóng. Câu chuyện của Minh Trường, phóng viên nhiếp ảnh TTX (1971) kể lại cái hí hửng của kẻ “giải phóng” khi vào Sài Gòn đã bị một thau nước lạnh dội vào mặt. Bà mẹ ra mở cửa, thấy mặt anh thì vội vàng chấp tay lạy:

“Anh còn sống thì tôi mừng nhưng anh về thì tất cả các đứa con bao lâu nay sống với tôi, chăm sóc phụng dưỡng tôi đều đã bị các anh lôi đi tù hết mất rồi. Anh về thì nhà này tan nát, thì tôi trơ trọi. Thôi, tôi xin anh, anh đi với đồng chí của anh đi cho mẹ con tôi yên!”

Thân phụ Trần Ðĩnh di cư vào Nam từ năm 1954 đã sụt mất 17 kg từ ngày “giải phóng,” thấy con khốn khổ vì đảng thì mừng, và ngay những ngày đầu tiên đã có nhận xét:

“Chưa có thời nào mà bắt người thua trận bị tù hàng chục vạn như thời Cộng Sản. Các tay này không biết lòng dân là thế nào sao?… Cái khó chịu nhất là dân trong này thấy mình bị khinh miệt.”

“Bố đi bộ về đến đầu phố thì bị một anh bộ đội cầm súng gác giữ lại hỏi đi đâu mà nhanh thế. Bố nói tôi già nên muốn mau về nhà nằm. Không được, đứng nghiêm năm phút! Bố lại ngỡ như thuở bé đi học đứng nghiêm là quay mặt vào tường nên quay vào tường thì anh ấy lại vặn sao quay mặt đi? Trốn giáo dục à? Lại quay lại nhìn thiên hạ qua lại nhìn mình. Ðứng đã ngán lại phải nghe loa ca ngợi chiến thắng, phân tích chiến thắng…”

Dân Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh sau ngày được “giải phóng,” đua nhau vào Sài Gòn mua bán ve chai, như Trần Ðĩnh đã viết:

“Gặp ve chai đồng nát đạp xe tơi tới ở Sài Gòn, tôi chợt thấy mình thường hay hỏi: ‘Thanh hay Nghệ đấy?’ Ðâu chỉ hai căn cứ địa lớn này của Ðói. Khắp mọi nơi! Từ Nam chí Bắc…”

“Nhìn mặt bà ve chai này tôi bỗng nhớ câu ‘chiến thắng mang gương mặt khổ đau cùng cực’ của Olga Bergolzt, nhà thơ nữ Nga bị đày ải hết đời. Bà ta nói thay cho tất cả những ai sống với Cộng Sản. Cộng Sản lúc đầu hấp dẫn nhờ đưa ra các hứa hẹn thỏa mãn toàn bộ các nhu cầu của con người. Nhưng phiệu hết. Chỉ còn bành trướng quyền lực của cộng là nhu cầu duy nhất phải thỏa mãn. Vỡ mộng, dân bèn có nhu cầu trừng phạt cái tội lừa dân. Và cậy đến bất cứ thứ gì không phải cộng.”

Người phụ nữ quê ở Nga Sơn, Thanh Hóa, mua ve chai này, đã đi thanh niên xung phong – bất mãn, thất vọng trước thời thế, cho rằng:

“Bây giờ đấy, đứa ăn chẳng có mà đứa thì sướng quá vua. Biết trước là ra một trời một vực thế này thì chả đi hy sinh làm gì. Hai cụ không nghe thấy dân đã có câu ca đấy ư?… Áo lính chưa ráo máu đào, Mà xe vợ tướng đã vào tới nơi.” Ðẹp… Nhưng cháu chỉ muốn Mỹ nó lại thả bom cho tan hết…”

Cộng Sản vào Nam, một năm sau khi Trung Cộng dùng vũ lực chiến Hoàng Sa, báo Sài Gòn Giải Phóng đã ca tụng và đoan chắc:

“Trung Quốc vĩ đại không chỉ là người đồng chí, mà còn là ông thầy tín cẩn, đã cưu mang chúng ta nhiệt tình để chúng ta có được ngày hôm nay, thì chủ quyền Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hay thuộc ta cũng vậy thôi. Khi nào chúng ta muốn nhận lại, Trung Quốc sẽ sẵn sàng giao lại.”

Và cái chính sách nhân đạo khoan hồng của Cộng Sản Bắc Việt kiểu Phạm Văn Ðồng:

“Ðế quốc Mỹ và tay sai đã biến chúng từ con người thành ra dã thú. Cách mạng phải cải tạo chúng từ thú trở lại thành người. Phải giam chúng lại để chúng không làm hại nhân dân được nữa. Ðồng thời phải cải tạo chúng để chúng cải tà quy chính.”

Mấy năm sau, Cộng Sản lộ nguyên hình là một lũ cướp ngày, từ chuyện lùa dân đi kinh tế mới, đánh tư sản, đổi tiền, tổ chức thu vàng cho vượt biển “bán chính thức,” dân chủ vạn lần hơn tư bản đâu không thấy, nhưng tham ô, lừa đảo khốn nạn hơn cả trăm lần xã hội miền Nam trước đây.

Giải phóng! Bọn cháu Trần Ðĩnh năm đứa cả trai lẫn gái, đứa lớn chưa đầy 17 tuổi kéo nhau xuống tàu vượt biển để thấy ông bác bao nhiêu năm đi theo Cách Mạng là không cần thiết, chỉ làm khổ đồng bào, bà con ruột thịt, tốn máu xương của nhân dân mà thôi!

Có một điều, cần phải nói ra đây, tác giả Trần Ðĩnh vì thói quen chữ nghĩa, trong chương ba mươi tám đã viết rằng, “Gia đình tôi mất liên hệ với nhau đã lâu” (ý nói cha con cách biệt). Thật ra không nghe nói chuyện cha con ông từ bỏ nhau, mà chỉ vì hoàn cảnh Bắc Nam không “liên lạc” được với nhau mà thôi!

Chiều nay ngồi viết riêng cho em,

“Chiều nay ngồi viết riêng cho em,”
Cho em bài hát êm đềm, trôi theo từng tiếng tơ mềm
Nhờ mây gửi đến riêng cho em
Cho em ngàn lời yêu thương, trôi trên nụ cười phong kín.”

(Từ Công Phụng – Bài Cho Em)

(1Cor 15: 1-2)

Trần Ngọc Mười Hai

Viết riêng cho em hay cho anh/cho chị lẫn mọi người, về một kinh-nghiệm để đời, thì ai ai cũng muốn viết. Bần đạo đây nhiều lúc cũng thế, nghĩa là rất muốn viết những điều như sau:

Hôm ấy, một ngày đẹp trời ở Úc, bần đạo “đến hẹn lại lên”, cứ lên và lên mãi đến tận Đại Học Công giáo ở Strathfield, Sydney để nghe cha giáo Kevin O’shea dạy tiếp về đề-tài “Đức Kitô lịch-sử ở Phúc Âm”. Trong lúc đợi giờ, bần đạo bèn đánh bạo đến hỏi thày thêm về chủ-đề “Tái Phúc-Âm-hoá Đời Sống” mà Đức Phanxicô đưa ra là có ý gì, thì được thày chỉ dạy bằng trao-đổi ngắn như sau:

Tái Phúc-Âm-hoá đời sống ư? Thì, cũng giống công việc lâu nay anh đang làm, đây thôi.

-Dạ, lâu nay con có làm được việc gì cho nên chuyện đâu, thưa cha!

-Đúng! Việc anh đang làm tuy chưa nên chuyện và thành chuyện thực sự, nhưng cũng là những cố-gắng dịch và viết về Phúc Âm/Tin Mừng theo ý-định của người viết, đó cũng là “Tái Phúc-Âm-hoá” một số người, đấy chứ!…

-Dạ, cho đến hôm nay con chỉ mới dịch một số đề-tài do cha đưa ra, mà thôi…

-À ra thế. Tôi có nghe anh em đây nói là: anh làm được khối việc cho nhiều người. Hãy tiếp tục làm những điều mình thấy là cần thiết, bởi lẽ công việc anh đang làm tuy chưa nhiều nhưng rồi ra, cũng sẽ giúp anh hiểu được ý-nghĩa và mục-đích do Đức Giáo-Hoàng Phanxicô chủ-xướng”.

Thú thật với bầu bạn và với tôi, đôi điều là: nghe bậc thày dạy giảng-giải, bần đạo đây thấy đầu óc mình càng mù tối thêm. Thành thử, suy đi nghĩ lại, cũng thấy ngại. Ngại, như ý/lời người nghệ sĩ khi xưa hàm-ẩn một tình-huống cũng tương-tự:

“Chiều nay ngồi viết riêng cho em,

Cho em bài hát êm đềm,

trôi theo từng tiếng tơ mềm.

Nhờ mây gửi đến riêng cho em,

Cho em ngàn lời yêu thương,

trôi trên nụ cười phong kín.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Lại cũng thú thật thêm nữa, là: mỗi lần đưa ra vấn-đề thần-học nào về Kinh thánh, bần đạo đây vẫn có thói quen hơi bị kém là cứ tìm đến với thi-ca/âm nhạc để thêm hứng-thú. Nhưng âm-nhạc và thơ văn vẫn cứ chuyển-tải những ý-tứ cũng rất buồn như chuồn-chuồn-gẫy-cánh mùa thu lá rụng, nên mới cảm-thông câu ca tiếng hát của nghệ-sĩ:

“Mùa Thu chợt đến trong cô đơn,

Buồn bay lên mờ lấp khung trời chiều lạnh lùng.

Trời còn gọi tiếng mưa đêm nay,

Mưa ơi! Đừng làm buồn mắt em thơ ngây.

(Từ Công Phụng – bđd)

Buồn như “mưa đêm nay”, “buồn bay lên mờ lấp khung trời chiều lạnh lùng”, nên hôm nay lại xin trần-tình rất chân-tình cùng bạn đọc và bạn đạo, rằng: đôi lúc ngồi cắn bút nghĩ chuyện mình làm bấy lâu nay, lại cứ tưởng đó là chuyện “ruồi bu”, vô bổ, chẳng bõ biền gì, nên cũng ngại. Nhiều đêm nằm suy nghĩ, thấy dự-án này/khác cứ trào tuôn, muốn thực-hiện ngay tức thời, nhưng nghĩ lại thấy khá ngại, đành thôi.

Nay, ngoài chất kích-tác từ bậc thày ban phát, bần đạo đây lại thấy có người khác cũng cảm-kích cho đó là chuyện nên làm, và cần làm. Chẳng hạn như, vừa qua, bần đạo lại đã nhận được điện-thư của một bạn đồng-môn lớp dưới viết những giòng thân thương ngắn gọn, nhưng nhiều ủi an, như sau:

“Anh Tá ơi,

Cám ơn những bài viết của anh.

Em đọc mãi mà không hết.

Em thích nhất đoạn tóm tắt câu chuyện “Mười điều Chúa không hỏi, khi gặp ta…”

là đã thấm rồi.

Chắc có lẽ, em sẽ đọc đi đọc lại ít nhất thêm 2 lần nữa,

mới hiểu kỹ những gì anh viết.

Chúc anh cứ thế mà cứu thế bằng ngòi viết nhé.

-eLam”

(trích thư điện nhiều phấn-kích của cựu đệ-tử Cứu Thế Nguyễn Duy Lâm gửi hôm 07/9/14)

Đọc thư người em đồng-môn gửi, thấy mình như đang ngâm nga lời ca, lại những hát:

“Ô hay! Mùa Thu đến bao giờ?

Mưa bay buồn giăng mắc khung trời.

Người về từ trên đó để nhìn làn môi thắm.

Cớ sao em còn buồn, để mùa Thu đến rồi đi.”

(Từ Công Phụng ­- bđd)

Vâng. Vấn-đề đặt ra hôm nay, không phải để ngâm nga thấm thía các lời thơ hoặc lời thư, từ đâu đó hay nhạc-bản hoặc điện-thư mà là ý-từ của đấng bậc trên cao tít đã chủ-xướng đề-tài  để ta học-hỏi, nghiên cứu. Nghiên cứu Lời Chúa, có những ý chủ chứ không chỉ những lời lẽ trong trình-thuật truyện kể đầy nghĩa đen tuyền, vật vờ, khúc-mắc.

Nghĩ thế rồi, bần đạo bèn mạnh-dạn tiến vào nguồn thơ cũng là nguồn của những thư và thơ từ một bậc thày khác đã đề-nghị học trò và độc-giả của ông nghiên cứu Phúc-Âm cách bài-bản như sau:

“Buổi hội thảo mùa Xuân USCC hôm ấy ở New Orleans chừng độ tháng 6/2014 Tổng Giám Mục Joseph Tobin, CSsR chủ-quản bang Indianapolis Hoa Kỳ, có nói về đường-lối mà Đức Phanxicô đang theo đuổi, cho thấy một cung-cách cũng rất khác về tác-vụ thừa-sai rao-giảng Tin Mừng. Và từ đó, thách thức ta đừng làm nản lòng mọi người về hình-ảnh riêng-biệt của các vị lãnh-đạo mục-vụ thiết-lập ở Hoa Kỳ…” (Lm Kevin O’Shea CSsR, Giáo án giảng-dạy thần-học “A Colloqyu on Collegiality”, tổ-chức ở Sydney hôm 23/8/2014 tr. 46)

Được kích-thích bằng một cảm-hứng cũng khá lạ, bần đạo lại tìm đến một bậc thày khác cũng có nhiều kinh-nghiệm từng-trải ở bục giảng tại một số đại-học Công giáo ở Hoa Kỳ, lại có nhiều nhận-định rất nền-tảng, mà ông dùng làm lời tựa cho cuốn sách nổi tiếng của ông, có liên-quan đến công-trình nghiên-cứu về diện-mạo đa-dạng của Đức Giêsu.

Nhưng, để làm nhẹ bầu khí khô-khan, rất căng-dãn cũng nên chạy về với truyện kể để thư giãn, như sau:

“Truyện rằng:

Trong một vụ cướp ngân-hàng ở xứ miền đặc sệt tính-chất toàn-trị, tên cướp nọ hét lên:

-Tất cả hãy đứng im. Nên nhớ rằng, tiền bạc đây thuộc về Nhà Nước, còn mạng sống thuộc bọn người.

Mọi người nghe xong bèn lẳng lặng nằm ụp xuống nghĩ ngợi: Điều này được gọi là “Cách thức Khai-tâm để thay đổi lề-lối suy nghĩ cũng đã mòn”. Lúc ấy, có cô nhân-viên nằm trên bàn theo tư-thế gợi cảm để làm lạc hướng ý-đồ của các tay cướp. Tên cướp khác, thấy thế bèn hét lên:

-Cô kia làm ơn cư xử cho văn-minh một chút, bọn tôi là các tay cướp chứ không phải là những kẻ hiếp dâm, đâu!

Điều này, được các vị điều-nghiên đặt thành văn-vẻ, gọi là: Hành xử chuyên nghiệp – Tập-trung vào công việc mà mọi người được huấn-nghiệp!

Khi tên cướp quay lại, có tên cướp trẻ khác từng tốt-nghiệp với bằng chuyên-nghiệp Cao-học Quản-trị Kinh-doanh nói với tay cướp trọng tuổi hơn mới chỉ tốt-nghiệp trường phổ-thông, rằng:

-Đại ca à. Có cần đếm xem ta cướp được bao nhiêu không? Tên cướp già kia gằn giọng:

-Mày ngu lắm. Tiền nhiều thế, đếm thế chó nào được! Đợi đấy, tối nay báo/đài sẽ cho biết ta cướp được bao nhiêu, rồi sẽ rõ!

Điều này, cũng lại được gọi là: “Thực-chất của Kinh-nghiệm – Ngày nay kinh-nghiệm quan-trọng hơn giấy tờ, sách vở.

Khi băng cướp rời khỏi hiệntrường xảy ra, viên giám-đốc chi-nhánh ngân-hàng định gọi điện-thoại báo cho cảnh-sát biết, thì viên Kế-toán-trưởng đã vội vã chạy đến thì thầm vào tai ông  mà bảo rằng:

-Đợi đã sếp. Hãy bỏ 5 triệu hôm trước ta rút ra làm chuyện khác, coi như tổng-số bị băng đảng cướp mất.

Điều này được gọi là: Phương-sách Bơi theo Giòng nước – Chuyển đổi Tình-huống Bất-lợi Trở-thành Thuận-lợi.

Viên Giám-đốc tự nhủ:

-Tuyệt! Nếu mỗi tháng ta lại có một vụ cướp thì hay biết mấy!

Điều này gọi là: Loại bỏ những điều khó chịu – Hạnh-phúc là chuyện quan-trọng nhất!

Hôm sau, báo/đài truyền hình loan tin: bọn cướp đã lấy đi 100 triệu đô khỏi ngân-hàng. Các tay cướp nghe tin bèn thực-tế đếm chỉ thấy mỗi 20 triệu, bèn giận dữ nói:

-Chúng ta mạo-hiểm mạng sống mình chỉ để lấy 20 triệu, bọn lãnh-đạo kia chúng ngồi chơi xơi nước thế mà cũng cướp được của công đến 80 triệu. Đúng là học-hành có bằng-cấp, chúng mới được ngồi ghế ấy, chúng cướp tiền một cách siêu-đẳng hơn ta.

Điều này, theo sách vở được gọi là: Kiến-thức có giá-trị như vàng ròng…”

(truyện kể trích từ mạng toàn-cầu tuy mang tính hư-cấu, nhưng nhiều ý-nghĩa để ta suy)

Vâng. Theo người kể, thì: mỗi sự việc con người làm đều có ý-nghĩa sao đó. Ý-nghĩa tùy vào nghiên-cứu lẫn nhận-định của mỗi nhóm, mỗi người, cũng khác nhau.

Vâng. Đúng thế. Áp-dụng vào việc nghiên-cứu/học hỏi đứng-đắn có chất-lượng, lại cũng thấy nhiều đấng bậc, nhiều vị từng nghiên-cứu/học-hỏi có bài-bản, rất vững chắc. Trong công-cuộc điều-nghiên/học hỏi về sự việc gọi là “Tái Phúc-Âm-hoá đời sống gia-đình”, lại cũng thấy có vị, từng đề-nghị một phương-án cũng bài-bản.

Nhưng, do bởi tính-cách bài-bản của việc nghiên-cứu, đề nghị bạn và tôi ta lại hát:

“Giòng sông nào vắng xa chưa em

Ru lên hồn tuổi thơ này, thêm một lần chuốc u buồn

Hồn lên ngàn phím tơ vương êm

Ru em bằng lời ca đêm, ru lên tuổi buồn em mang.

Giòng sông rồi vắng xa thôi em

Đời trôi theo ngày tháng, mang nhiều kỷ niệm buồn

Tuổi thơ còn có mơ không em

Hay trôi miệt mài ngày tháng trong cô liêu.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Những mong rằng, bạn và tôi, ta có nghiên-cứu/học-hỏi nhiều về “Tái Phúc-âm-hoá đời sống” cũng đừng “miệt mài ngày tháng trong cô-liêu”. Đừng “ru em bằng lời ca đêm”, “ru lên tuổi buồn em mang”. Có như thế, ta mới hăng-say nghiên-cứu, học-hỏi những điều khá khó, như sau:

“Học hỏi/nghiên cứu về Đức Giêsu qua Phúc-Âm, tôi đề-nghị ta nên xem xét Tân-Ước không chỉ như văn-bản riêng-biệt/độc-lập xuất-hiện ở bên ngoài thế-giới Do-thái, nhưng nên nhìn đó bằng lăng-kính của văn-minh Do-thái cùng thời, tức: cội-nguồn của Giáo-Hội thời nguyên-thủy.

Dĩ nhiên, ý-nghĩ sử-dụng các văn-bản của Do-thái vốn có đi từ Kinh thánh (tức niên biểu khoảng từ 1000 đến 200 năm trước Công Nguyên) ngang qua văn-chương liên-ước (vốn có niên-biểu từ 200 đến 100 năm trước Công nguyên) tức là: từ thời Mishna cho đến thời-kỳ ra sách luật Talmud của các rabbi (tức: niên-đại 200 sau Công-nguyên). Khi ấy, việc diễn-giảng Phúc Âm cũng không là công-tác mới mẻ gì, nhưng vào thời ấy cũng đã thấy nhiều vị thức-giả đã sử-dụng Tân-Ước như công-cụ học-hỏi tính uyên-bác, độc-đáo của Kinh thánh suốt 3 thế-kỷ đầu, và đặc biệt hơn nữa, là các thế kỷ mới về sau.

Tuy nhiên, phần lớn các học-giả đều đã tiếp-cận chủ-đề xảy ra với hầu hết các đấng bậc của Giáo-Hội, thì: một cách minh-nhiên hay mặc-nhiên đi nữa, các vị ấy đã đưa dẫn vào việc phân-biệt phẩm-chất có khác biệt giữa Tân-Ước và các văn-bản ngoài Kinh-thánh ở người Do thái. Đối với các vị ấy, văn-chương Do-thái đã tạo được nền-tảng, qua đó các học-giả uyên-bác ở thời trước đã lập ra Tân-Ước lại vượt lên trên nhiều văn-bản khác nhờ tính cao-siêu của Bản-văn Kinh-thánh này. Nói cách khác, các học-giả thời ấy vẫn coi Phúc Âm như bậc cha ông, còn các sách hoặc văn bản “ngoài luồng” khác của người Do thái không phải là Tân-Ước, chỉ được coi như bậc tôi đòi, phụ-lệ nếu có nhắc đến, thì cũng chỉ là khi được Truyền-thống cho phép, thôi.

Ngày nay, có nghiên-cứu học-hỏi, ta cũng nên sử-dụng phương-án nào dân-chủ hơn, tức: hãy để mỗi bên có quyền ăn nói đồng-đều. Tôi đây vốn là sử-gia, nên vẫn coi Đức Giêsu, coi Giáo-Hội tiên-khởi và Tân-Ước như thành-phần và một phần của Do-thái-giáo ở thế-kỷ đầu đời, hầu tìm cách đọc văn-bản ấy theo tư-thế “tự-thân”, hơn là qua cặp mắt của một thần-học-gia vẫn luôn đặt-để trong điều-kiện nào đó; rồi từ đó, lại sẽ bị ảnh-hưởng nhiều suốt hai thiên-niên kỷ vừa rồi, với niềm tin Kitô-giáo có sự chỉ-đạo của Giáo-hội.

Nói khác đi, khi ta đạt được cung-cách khám-phá ra ý-nghĩa của ý và lời trong ngôn-ngữ gốc mà người thời đó vẫn nói, tức là: để xem người nghe vào thời đó hiểu/biết sự việc như thế nào, thôi. Ngôn-ngữ do Đức Giêsu và đồ-đệ Ngài vốn là người Galilê sử-dụng thời ấy, lại là tiếng Aram, một ngôn-ngữ của người Do-thái na ná giống như tiếng Hip-ri, vốn được phần đông người Do-thái gốc Palestin vẫn sử-dụng cách rộng-rãi. Trên thực-tế, Đức Giêsu huấn-dụ mọi người và biện-bạch với bạn bè hoặc những người kình-chống Ngài, lại chỉ là tiếng Aram thôi. Và, hình-thức đích-thực về nguyên-ngữ nơi giáo-huấn của Đức Giêsu, ngoại trừ độ hơn chục lời Ngài nói bằng tiếng Aram, là được giữ lại trong Phúc-Âm thôi, còn lại đều đã nhanh chóng biến mất.

Giả như ai đó có được bản-văn Phúc Âm viết bằng tiếng Aram, thì việc ấy cũng không tồn-tại lâu dài, và chắc chắn ngày nay ta không còn giữ được thế. Cùng vào thời ấy, Giáo hội tiên-khởi đã thành-công trong việc giao-dịch với thế-giới ngoài đạo (tức: không phải là người Do-thái) bằng tiếng Hy-Lạp, thế nên toàn-bộ thông-điệp do các tông-đồ chuyển tải, như Phúc-Âm hoặc các thư luân-lưu và tài-liệu nào khác được ghi bằng tiếng Hy-Lạp, tức là hình-thức sớm-sủa nhất của Tân-Ước ta vốn có.

Nhưng, Tân Uớc viết bằng tiếng Hy-Lạp lại chỉ là “bản dịch” tư-tưởng chân-phương cũng như ý-kiến của Đức Giêsu và đồ-đệ Ngài suy-nghĩ hoặc nói ra bằng tiếng Aram, tức: bản dịch không là toàn-bộ ngôn-ngữ cũng rất khác, mà là bản tháp-ghép hệ tư-tưởng của Phúc Âm được đưa vào môi-trường văn-hoá và đạo-giáo rất xa lạ với thế-giới La-Hy bên ngoài Đạo. Thành thử ra, công việc của nhà nghiên-cứu, diễn-giải trước nhất, là: phải kiếm-tìm cung-cách trở về với Đức Giêsu-Do thái đã từng nói cho những người Do-thái dõi theo chân Ngài qua tương-quan/trao-đổi bằng tiếng nói quen-thuộc với người Do-thái. Từ đó, người học-hỏi nghiên cứu còn phải biết xem xét lời lẽ nào được gán cho là do Đức Giêsu nói ra, và giáo-huấn về Đức Giêsu trong Tân Ước viết bằng tiếng Hy Lạp ngõ hầu xem có gì đổi-thay hoặc triển-khai ý-nghĩa hoặc ngay cả hiện-tượng ngầm bóp méo từng nổi lên từ động-thái đề ra tư-tưởng bằng mạch văn mang tính văn-hoá Hy-Lạp…” (xem Geza Vermes, The Changing Faces of Jesus, Penguin Compass 2002, tr. 2-3)

Chỉ bấy nhiêu lập-trường đề ra cho người nghiên-cứu việc Phúc-Âm-hoá đời sống thôi, thì bần đạo đây thấy cũng khá ngại. Ngại, không vì thấy đó là chuyện rắc-rối đòi nhiều thời-gian và công-sức hơn nữa. Nhưng, ngại ở chỗ: ý-thức về sự cần-thiết của động-thái “Phúc-Âm-hoá đời sống” theo cách nào đó, cho nhẹ nhàng/dễ chịu, thôi.

Như thường lệ, mỗi khi làm thế, bần-đạo vẫn có thói quen không được tốt cho lắm, là: hay chạy về với thơ văn/âm-nhạc hoặc truyện kể để lấy hứng, rồi học tiếp. Thi-ca và âm-nhạc hôm nay vốn được trích-dẫn, chỉ quanh-quẩn những ý/tình cũng hơi bị “chênh” hoặc “trệch” khỏi chủ-đề mình bàn. Thôi thì, để gợi hứng, nên ta cũng nên hài lòng với những gì mình có thể hoặc không thể làm được, mà thôi.

Có thể và không thể, là chuyện hôm nay bần-đạo tìm ra được nguồn hứng có những câu ca, đã vừa hát lại vừa để coi xem có ai phản-đối, hay không. Không thấy gì, nên lại đề nghị bà con ta trở về với ca-từ nhè nhẹ, sau đây:

“Chiều nay ngồi viết riêng cho em,

Cho em bài hát êm đềm,

trôi theo từng tiếng tơ mềm.

Nhờ mây gửi đến riêng cho em,

Cho em ngàn lời yêu thương,

trôi trên nụ cười phong kín.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Cũng có thể, là: bạn bè/người thân của bần đạo không mấy hài lòng về giải-pháp bất chợt và tạm thời cho qua ngày. Thế nên, bần đạo lại nhớ đến lời thánh-nhân hiền lành, từng nói nhiều lời khích-lệ cũng dễ nể, để bạn và tôi, ta theo đó mà sống và hành-động cho đúng phép. Như thế, phải chăng gọi đó là: “tái Phúc Âm-hoá cuộc sống” của riêng ta? Phúc-Âm-hoá đời sống của chính mình, là: về mà nghe lại những lời-lẽ mình từng nghe/từng biết vào thời trước, rất như sau:

“Thưa anh em,

tôi xin nhắc lại cho anh em

Tin Mừng tôi đã loan báo

và anh em đã lãnh nhận cùng đang nắm vững.

Nhờ Tin Mừng đó,

anh em được cứu độ,

nếu anh em giữ đúng như tôi đã loan báo,

bằng không thì anh em có tin cũng vô ích.”

(1Cor 15: 1-2)

Nhắc nhớ và nhắc nhở thế rồi, lại sẽ hy-vọng rằng: bậc thày dạy sẽ không đòi-hỏi nhiều hơn nữa, để ta sống. Bởi, nhắc nhớ và nhắc nhở, là: nhắc mãi rằng: “Nhờ Tin Mừng” ta được cứu-độ, ta mới “giữ đúng (lời thánh hiền) loan báo”; bằng không thì, ta “có tin cũng vô ích”, thôi.

Vâng. Rất đúng. Nhắc nhớ và nhắc nhở bằng lời nói hay truyện kể vẫn là cung-cách của dân con trong Đạo sống ở đời có quá nhiều việc và chuyện làm ta sao lãng hoặc quên đi việc “Phúc-Âm-hoá đời sống” của riêng ta. Nhắc nhớ và nhắc nhở, còn nhắc bằng lời khuyên-răn của bậc thày khác, từng có nhận-định về tình-hình nghiên-cứu về Đức Giêsu lịch-sử như sau:

“Rất có thể, là: các vấn-nạn khúc-mắc được đề cập rất nhiều, lại đã tìm ra cơ-ngơi nơi thế-giới của đại-học-đường, bỏ rời thế-giới chính-thức của Giáo-hội bằng thứ ngôn-ngữ tư-riêng và khác-biệt như một sưu-tập đầy những vấn-nạn. Cái khó của sứ-vụ thừa sai nay cho thấy là: càng ngày càng có nhiều người học-thức hơn xưa và cũng có rất nhiều người nay suy-tư theo ngôn-ngữ và/hoặc cung-cách “đại-học” cả khi họ phân-tách câu nói hoặc tạo tiết-tấu một cách khác mọi người.” (x. Lm Kevin O’Shea CSsR, Focus on Historical Jesus Studies with Special Reference to ‘Jesus of Nazareth’ by Joseph Ratzinger/Pope Benedict XVI, August 2007, tr. 65)

Trên thực tế, rất có thể là như thế. Càng có thể hơn, lại cũng nhắc nhở và nhắc nhớ chính mình và mọi người về công-tác “Tái Phúc-Âm-hoá đời sống”, nghĩa là sống địch-thực cuộc sống luôn thực-thi lời dạy từ Tin Mừng trong nguyện cầu.

Vào với ví-dụ cụ-thể thì: khi lần chuỗi Mân Côi, cũng nên suy về lời nguyện/chúc như: “Nguyện Danh Cha cả sáng, nước Cha trị đến, ý Cha thể-hiện dưới đất, cũng như trên trời”. Và, ở kinh Kính Mừng, ta lại có lời nguyện/chúc khác, như câu: “Đức Chúa Trời ở cùng Bà”, tức: ở cùng chúng ta, để rồi lại cũng kết thúc bằng một lời tụng/chúc, như sau: Sáng Danh Đức Chúa Cha, và Đừc Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần…” và lời xưng cuối là tiếng “Amen” tức: những ước và mong cho mọi sự xảy ra, sẽ tốt đẹp như vậy.

Cụ thể của mong ước, là ước mong sao tinh thần và quyết tâm “tái Phúc-Âm-hoá đời sống” của mình và của người, sẽ thành hiện-thực. Thêm nữa, nhắc nhở và nhắc nhớ chính ta và mọi người về chủ trương “Tái Phúc-Âm-hoá đời sống” chính mình và mọi người, vào mọi lúc. Chứ không chỉ trong vòng một năm thánh, mà thôi.

Nhắc nhớ và nhắc nhở, như thể vào lần tấn-phong linh-mục cho các phó-tế, Giám mục chủ-quản hoặc chủ-trì buổi lễ vẫn nhắc nhớ và nhắc nhở các tân-chức cách riêng, và mọi người nói chung, là: “Hãy nhớ mà sống điều mình giảng rao, chứ đừng rao giảng những điều mình từng sống!” Nếu dân con nhà Chúa, ở đây và bây giờ đều làm thế, thì công cuộc “tái Phúc-Âm-hoá đời sống” Kitô-hữu, cũng sẽ đạt.

Để minh hoạ cho quyết-tâm “tái Phúc-Âm-hoá đời sống” của mình, theo đề-nghị của thánh-hội năm 2014 này, dưới đây là truyện-kể có thể coi đó như lời khuyên khi ai đó quyết-tâm “tái Phúc-Âm-hoá cuộc sống”. Truyện kể, cũng nhè nhẹ như vẫn diễn ra ở nhiều nơi/nhiều chốn, nhất là ở khung trời nào đó bên phương Đông, phương Đoài như sau:

Trước nhất là lời khuyên-răn:

“Nếu bạn muốn buông xuôi một vài thứ, không còn quyết-tâm đeo đuổi như lúc đầu còn hăng-say, thì bạn nên đọc 2 câu chuyện dưới đây. Hy vọng, nó sẽ giúp ích được cho bạn điều gì đó.

Sau đến là truyện kể, nối tiếp những hai lần, rằng:

“Có cô gái nọ tìm đến một nhà sư, để rồi hỏi:

– Thưa thầy, con muốn buông một vài thứ mà không thể, con mệt mỏi quá.

Nhà sư đưa cho cô gái 1 cốc nước và bảo cô cầm lấy, đoạn ông liên tục rót nước sôi nóng vào cốc, nước chảy tràn ra cả tay, làm cô bị phỏng, cô buông tay làm vỡ cốc.

Lúc này nhà sư từ-tốn nói:

– Đau rồi tự khắc sẽ buông!

Và tiếp theo đó, là lời bàn của người kể, rất như sau:  “Vấn đề là, tại sao phải đợi cho tổn thương thật sâu, rồi mới buông?” Câu truyện tiếp theo cũng kể về việc nắm và buông, như sau:

“Có một chàng trai đến tìm nhà sư, và anh hỏi:

-Thưa thầy con muốn buông xuôi vài thứ nhưng con do-dự quá, con mệt-mỏi vô cùng.
Nhà sư đưa anh ta 1 cái tách và bảo anh cầm, đoạn ông rót đầy tách trà nóng vừa mới pha xong.
Chàng trai cảm thấy nóng quá nhưng vẫn không buông tay, mà chuyển từ tay này sang tay kia, cho đến khi nó nguội đi rồi uống và nhận thấy rất ngon. Lúc này nhà sư mới từ-tốn nói:

– Nếu cứ đau là buông, thì con đã bỏ lỡ những thứ tốt đẹp sau đó rồi!

Và, người kể lại cũng có lời sau đây: “Vấn đề là tại sao cứ đau là phải buông trong khi còn có thể làm cho nó tốt đẹp lên.

Và rồi, người nghe cũng có thêm lời bàn khác theo kiểu “Mao Tôn Cương” như sau: “Bài học rút ra là thế này: Trong cuộc đời vốn dĩ phức tạp này, chỉ ta mới biết lúc nào nên cầm lên và lúc nào thì bỏ xuống các sự việc của chính mình.” (Truyện kể sưu tầm trên mạng, mới đây thôi).

Sưu tầm truyện kể, cũng chỉ để minh-hoạ những gì mà bạn và tôi, ta muốn nói và muốn nghe, khi quyết-tâm. Như, quyết-định để tâm thực-hiện chủ-trương do Đức Giáo Hoàng đề xướng và coi đó như tôn-chỉ để dân con trong Đạo thực-hiện vào năm 2014 này.

Kể thế rồi, nay ta lại cứ hiên ngang đầu cao mắt sáng hát lên lời ca tuy hơi buồn, nhưng trong đó vẫn có chút gì vui vui, nếu người người vẫn cứ quyết tâm “viết riêng cho em” những điều sau đây:

“Chiều nay ngồi viết riêng cho em,

Cho em bài hát êm đềm,

trôi theo từng tiếng tơ mềm.

Nhờ mây gửi đến riêng cho em,

Cho em ngàn lời yêu thương,

trôi trên nụ cười phong kín.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Viết riêng cho em hay cho ai đó, cũng cứ nên viết “ngàn lời yêu thương”. Để rồi lời ấy sẽ cứ gọi là “trôi trên nụ cười phong kín”, rất thực-thà.

Thế đó là ý-nghĩa của lời ca và cũng là đôi điều tâm niệm xin mạn phép gửi đến bạn và đến tôi, trong ngày này. Và, những ngày sắp tới, suốt cõi đời.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn muốn gửi đến tất cả

Những lời viết riêng

Rất yêu thương

Trong cõi đời này.

Ném nhân-cách vào ngàn sâu ký-ức

“Ném nhân-cách vào ngàn sâu ký-ức,”

Trát bùn tanh lên mặt đã bao năm”.

(dần từ thơ Nguyễn Tất Nhiên)

Mt 22: 15-21

Mai Tá diễn dịch

Ném sao được nhân-cách của mọi người, như nhà thơ từng cảnh-báo. Nhân-cách và nhân-vị của con người chỉ có thể trao-trả cho con người, dù người ấy ở nơi cao tít chốn cầm-quyền cai trị muôn dân. Nhân-cách và nhân-vị của con người vẫn là ý-tưởng chỉ-đạo mà khi xưa bậc thánh-hiền đã ghi lại nơi trình thuật, để cảnh-giác người nghe biết Tin-Mừngh CHúa bảo ban.

Trình thuật Tin Mừng hôm nay, thánh-nhân hiền-từ lại cũng ghi chép lời bảo-ban mà các nhà hiền-triết khi xưa tóm gọn bằng một triết-thuyết rất “con người” qua nhận định: “Sống trước đã, triết lý sau”. Triết lý sống và sống triết lý, hoặc chính trị-tà trị vẫn là cách thế, để sống. Sống đúng đường lối, hợp với đạo làm người.

Chính vì thế, nên: dân thường ở huyện, nay dù vẫn còn ở trong hay đã ra khỏi cộng-đoàn kẻ tin vào Đức Chúa, lại vẫn nghĩ: Ngài chẳng khi nào uỷ thác cho Giáo hội trọng trách kinh-bang tế-thế, hoặc chính-trị nào hết, để hỗ-trợ cho lập-trường của mình, dù nhiều người cứ viện-dẫn đoạn trình-thuật Tin Mừng hôm nay, để làm bằng.

Nhận thức ý-nghĩa cũng như bối-cảnh của đoạn Tin mừng nay viết lên, chắc hẳn chẳng ai muốn cho Giáo hội cứ “ru rú” ngồi trong “góc khuất” xa khỏi cửa để suy-tư, dẫn dụ nhau về những thực-tại của chân-lý vĩnh-cửu. Và, cũng chẳng thấy ai reo hát lời thánh vịnh cũng rất xưa, nhưng chỉ lưu tâm để ý đến thánh ca hợp thời đại, thôi.

Thời Chúa sống, ta hẳn cũng rõ biết nhiều lãnh đạo hội đoàn vẫn tự hào cho rằng mình thuộc giống giòng đạo hạnh, siêng chăm như nhóm Biệt Phái, rất nhiệt thành. Biệt Phái hay Nhiệt thành, là đám người mộ đạo quá mức bình thường, được tổ chức rất qui củ, lớp lang vào cuối thời kỳ người La Mã còn đô hộ Do thái.

Một trong những cố gắng mà nhóm Nhiệt thành cổ vũ đến cùng là duy trì việc nộp thuế cho đám dân quân đô hộ. Lúc ấy, chắc cũng có một số người dám nghi ngờ Đức Kitô thuộc nhóm này nên mới tìm đến gạn hỏi, đặt bẫy. Nhưng, Ngài luôn chứng tỏ là Ngài đứng về phía những người nghèo hèn, ốm đau bệnh tật,  những nữ phụ tai tiếng và cả đám người sống bên lề xã hội nữa.

Tin Mừng cho thấy Đức Kitô luôn công kích các tay đầu nậu tôn giáo đương thời. Ngài cũng đã nhiều lần khuấy động, thức tỉnh bọn người còn ngủ vùi tại những nơi Ngài đặt chân đến. Ngài chống đối mọi hình thức bạo động, khủng bố; luôn khuyên dạy các đồ đệ dõi theo bước chân dài truyền giáo, biết quên mình đi mà yêu thương và nguyện cầu cho những kẻ hãm hại chính mình. Các tay ma đầu, tác oai tác quái luôn rình rập sơ hở để báo cáo lấy điểm với phe nắm quyền.

Đức Kitô còn muốn mọi người phải tỏ ra công minh chính trực như Đức Chúa vẫn trông chờ nơi thế giới phàm trần. Đã nhiều lần, Ngài hằng minh định rằng không nên dựa vào vũ khí hoặc sự khiếp sợ, trả thù, mà chỉ có tình thương mới có thể biến đổi được tâm can những người làm chính trị, nắm giữ quyền hành.

Chính trị của Đức Chúa chính là tình yêu ngự trị chứ không phải thứ tà trị hay tà ma, ác thần đang còn ngự trị nơi lòng dạ của kẻ xấu. Dứt khoát không thể nghi ngờ được là Ngài thuộc nhóm “Nhiệt thành” bợ đỡ đám quỷ ma thống trị.

Tin Mừng hôm nay diễn tả, Đức Kitô, thay vì xoáy mòn, đảo lộn uy quyền của người trần thế, ngược lại, Ngài vẫn nâng đỡ và yểm trợ họ. Ngài không chỉ làm có thế, mà còn làm hơn thế nữa. Ngài không chỉ nói “Những gì của Xêda, hãy trả lại cho Xê-da” mà còn thêm: “và đem về với Đức Chúa những gì thuộc về Đức Chúa”. Chân lý thực tiễn này gồm tóm mọi vua quan, tiến chức nơi trần thế.

Mọi quyền năng, đất nước, mọi giới chức nắm giữ quyền hành, xuất tự Đức Chúa, phải được đưa về với Đức Chúa. Điều này có nghĩa: với tư cách là con dân của Đức Chúa, chúng ta chẳng thể nào đem nghĩa vụ ta có đối với trần thế để rồi thu về một mối, trao tất cả cho mình Đức Chúa mà thôi. Làm như thế là sai lầm và còn nguy hiểm nữa.

Cứ liên tưởng đến những chương sử đen tối của thế kỷ vừa qua, sẽ thấy nhiều chuyện trái khoáy đã xảy ra với cả những người công chính chuyên đi lễ hằng tuần mà vẫn chẳng biết kết hợp hài hòa giữa thói quen giữ đạo ngày của Chúa với trách nhiệm ngoài đời vào ngày trong tuần.

Trách nhiệm ở ngoài đời tức là thứ chính trị rất chính đáng để ta có thể mãi mãi ngự trị trong tình yêu của Đức Chúa. Có lẽ vì thiếu kết hợp hài hòa mà sự dữ, quái ác vẫn cứ ngang nhiên tồn tại.

Các bậc trưởng thượng trong Giáo hội lâu nay phụ trách việc công bố Tin Mừng cho người trần thế vẫn có bổn phận dùng mọi cơ cấu chính trị, hoặc diễn đàn thế giới để làm công tác mà Bề Trên giao phó. Đó là công tác phối hợp hài hoà sao cho Tình yêu của Đức Chúa với con người được thể hiện với toàn thể tạo vật và người đời. Đời cũng như Đạo. Bên trong cũng như bên ngoài dân được chọn.

Bài đọc thứ nhất, ngôn sứ Ysaya đã sử dụng cùng một thông điệp tương tự để nhắc nhở chúng ta về Tình yêu của Đức Chúa khi Ngài gọi chúng ta bằng tên riêng của mình. Đôi lúc, có thể có người trong chúng ta sẽ không đồng ý với các bậc trưởng thượng trong Giáo hội và e ngại rằng các đấng không nắm được thông tin chính xác, nên đôi lúc có thể đã dẫm chân lên nhau, vượt phạm vi, giới hạn của quyền bính.

Nếu quả có thế, chúng ta cũng nên nói cho các vị ấy biết. Đồng thời cũng phải nâng đỡ, hỗ trợ để các đấng có được một lập trường thông thoáng, biết uyển-chuyển khả năng suy xét, phán đoán của mình.

Tuy nhiên, cũng đừng bao giờ nhẹ dạ nghe theo lời dụ dỗ của những kẻ phóng đãng chỉ muốn Hội thánh xa rời truyền thống chân chính của Đạo. Những người này chỉ cù cưa biện luận, muốn đưa ra một định hướng phóng túng khiến ta dễ nghe theo, bằng những bánh vẽ đủ mầu sắc đa dạng hoặc còn tô điểm thêm bằng những ưu tiên hấp dẫn, vẫn ban phát cho cộng đồng nhân loại.

Nếu Hội thánh tỏ dấu không muốn tham dự tích cực vào những chuyện chuyển đổi xu hướng xấu xa, thì việc Đức Kitô đã sống, chết đi và sống lại từ cõi chết cho con người sẽ trở nên hư luống, vô bổ. Điều chắc chắn là: chúng ta vẫn phải đem đến cho đời (tức Xê-da) những gì người đời có quyền được hưởng nhân danh mọi tốt lành, của chung.

Nói cách khác, mọi người vẫn phải tỏ ra trung thành với Đức Chúa, là Đấng đã kêu mời tất cả các Xê-da trên trần thế, hãy cứ trông chờ vào những gì mình đã thực hiện hoặc chưa kịp đưa vào hiện thực.

Bởi vì, lúc ấy có thể chúng ta sẽ được yêu cầu giải thích lý do tại sao vẫn để cho một số người rời bỏ cộng đoàn. Vẫn còn có những người bỏ cuộc, thiếu kiên nhẫn trông chờ quà tặng của Đức Chúa, ngay từ đầu.

Cuối cùng, dù ta có tự hào mình thuộc thành phần đứng đắn hoặc chính quy, thì việc ra đi hoặc phân tán cộng đoàn đều là dấu hiệu không tốt; đều là thứ chính trị trái với kỳ vọng của mọi người. Chí ít, đối nghịch với lời truyền của Đức Chúa.

Vì thế, chính trị chẳng bao giờ chống đối ý định của Đức Chúa. Chí ít, là của Đạo. Đó chỉ là tà trị.

Trong cảm-nghiệm những gì Chúa tỏ-bày, tưởng cũng nên ngâm lại lời thơ ở trên, rằng:

“Ném nhân-cách vào ngàn sâu ký-ức,

Trát bùn tanh lên mặt đã bao năm.

Mới ngoài hai mươi mà trầm-trọng chứng đau lưng,

Bởi luồn cúi mỗi ngày dăm bẩy bận”.

(Nguyễn Tất Nhiên – Lần Cuối)

Nhà thơ, luôn ghi nhớ sự việc thiếu nhân-cách nơi đám người “nhiệt-thành”/“báng bổ” chỉ biết luồn cúi, nịnh-bợ giới cầm quyền, mất nhân-cách. Thứ nhân-cách đầy tính-chất đạo-hạnh của bậc hiền-nhân quân-tử đà biến dạng cả chốn thiền-môn, rất Đạo.

Trình-thuật, nay còn là lời cảnh-tỉnh gửi mọi giới, ở khắp nơi, để người người lo chỉnh-đốn sống đích-thực thứ triết-lý nhân-hiền nhà Đạo, rất chính-mạch còn tồn-tại. Và, đó còn là lời nhắn-nhủ “cứ trả về cho Thiên-Chúa, những gì là nhân-lành/hạnh-đạo của Thiên-Chúa, để người người nhờ đó sống yên vui, suốt đời mình.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá diễn dịch

Hầu hết người Việt, người Hoa đều muốn theo tư bản

Hầu hết người Việt, người Hoa đều muốn theo tư bản
October 09, 2014

Nguoi-viet.com


WASHINGTON DC (NV) .-
Lòng ham muốn của người dân có thị trường tự do ở những nước cộng sản như Việt Nam và Trung Quốc cao hơn những nước tư bản truyền thống như Mỹ, Anh quốc, theo tổ chức Pew nghiên cứu.

Một phụ nữ và một ông bước vào một khu thương xá ở Bắc Kinh. Lòng ham muốn thị trường tự do rất cao ở Việt Nam và Trung Quốc so với các nước khác. (Hình: AP Photo/Ng Han Guan)

Có đến 95% các người dân ở Việt Nam được phỏng vấn nói rằng hầu hết mọi người sẽ khá hơn nếu sống trong nền kinh tế thị trường. Trong khi đó, có 76% người Trung Quốc cũng nghĩ như thế, theo cuộc khảo cứu dư luận toàn cầu của tổ chức Pew thực hiện với các cuộc phỏng vấn gần 49,000 người trên khắp thế giới.

Kết quả như thế chắc chắn làm giới lãnh đạo các chế độ độc tài đảng trị tại Việt Nam cũng như tại Trung Quốc khó chịu dù họ thừa biết nhân dân chẳng ưa gì guồng máy thống trị.

Tại Việt Nam, nhà cầm quyền cố gắn cái đuôi “Xã hội chủ nghĩa” vào chủ trương theo đuổi kinh tế thị trường khi chen chân vào chuỗi sản xuất và tiêu thụ toàn cầu.

Chỉ vì cái chủ trương đầu ngô mình sổ ấy mà nền kinh tế Việt Nam ngày càng tụt hậu so với các nước khu vực, khoảng cách giầu nghèo giữa tầng lớp cai trị và tham nhũng bắt tay với đám “tư bản thân hữu” so với đại đa số quần chúng thì càng ngày càng cách biệt lớn lao.

Pew là một tổ chức nghiên cứu xã hội trụ sở ở thủ đô Hoa Thịnh Đốn do tổ chức Pew Charitable Trusts tài trợ thực hiện các dự án nghiên cứu khác nhau, trong đó có dự án nghiên cứu thái độ sống của người ta trên thế giới (Global attitudes project).

Sự mở rộng giao thương giữa các nước đã kích thích sản xuất và tiêu thụ toàn cầu, giúp tăng trưởng kinh tế nhanh ở một số nước trong đó có Việt Nam và Trung Quốc vốn là những nước nông nghiệp và thiếu ăn. Nhờ vậy, nhiều người dân đã thoát cảnh thiếu đói thường xuyên. Một số người trở thành tầng lớp trung lưu trong xã hội, thậm chí giầu có nổi bật trong xã hội.

Trong khi đó, nền kinh tế tại những nước tư bản cố cựu như Hoa Kỳ và Anh quốc thì tăng trưởng rất thấp hoặc có những giai đoạn đối phó với suy thoái kinh tế rất khó khăn. Nạn thấp nghiệp cao và lương bổng thì cũng không tăng.

Những kinh nghiệm sống ở những nước đang phát triển, muốn thoát ra khỏi tình trạng chậm tiến và tại những nước vốn có nền kỹ nghệ tiên tiến và mức sống khá cao, có thái độ khác nhau về thị trường tự do hiện nay cũng như tương lai.

Đến 65% những người ở các nước kỹ nghệ tiên tiến nói rằng con cháu của họ sẽ nghèo khổ hơn cha mẹ của chúng. Nhưng trái lại, tại những quốc gia lương bổng thấp hay trung bình, ít nhất là phân nửa những người được phỏng vấn cho rằng con cái của họ sẽ khá hơn cha mẹ.

Sự lạc quan về tương lai cao nhất là tại Việt nam khi có đến 94% người ta cho rằng đời con họ tốt đẹp hơn, trong khi tỉ lệ lạc quan 85% tại Trung Quốc. Trong khi đó, chỉ có 30% người ở Hoa Kỳ, 23% người Anh Quốc, 15% người ở nước Ý, 14% người Nhật, và 13% người Pháp tiên đoán tương lai sẽ tốt đẹp hơn cho đám trẻ con của họ hiện giờ.

Trên toàn thế giới, đến 60% người được phỏng vấn nói rằng khoảng cách giữa giàu và nghèo là “vấn đề rất lớn” ở nước của họ. Thiếu công ăn việc làm được coi là vấn đề nghiêm trọng hơn. Nói chung, có đến 66% người trên thế giới cho là người ta sẽ khá hơn dưới chế độ tư sản cho dù có khoảng cách giữa giàu và nghèo với một số người.

“Người ta sẵn sàng chấp nhận một mức độ bất cân bằng nào đó để có thị trường tự do”. Bà Katie Simmons, một chuyên viên nghiên cứu cấp cao của tổ chức Pew phát biểu.

Quan ngại về sự bất cân bằng (khoảng cách giàu nghèo) lên cao nhất ở Hi Lạp và Lebanon. Đến 84% người được phỏng vấn ở hai nước này coi đó là vấn đề lớn trong khi tại Nhật Bản chỉ có 28%.

Dù xếp hạng sau Việt Nam và Trung Quốc về ưa chuộng thị trường tự do, người Mỹ vẫn tin tưởng vững chắc rằng mọi cá nhân chịu trách nhiệm cho chính số phận của mình. Tại Hoa Kỳ, 57% người ta (chỉ đứng sau Venezuela với 62%) từ chối ý tưởng cho là “sự thành công trong đời sống được quyết định bởi các lực lượng bên ngoài sự kiểm soát của chúng ta”.

Người Mỹ cũng nhiều phần (73%) tin tưởng hơn các người ở những quốc gia khác nói rằng nỗ lực làm việc rất quan trọng để khá hơn trong đời sống.

Được biết, Pew phỏng vấn khảo sát với 48,643 người lớn tại 44 nước trên thế giới bằng cả hai phương pháp là qua điện thoại và phỏng vấn trực tiếp từ Tháng Ba đến Tháng Sáu.(TN)

Bàn Thờ Cho Người Nô Lệ

Bàn Thờ Cho Người Nô Lệ

Du khách đến viếng thăm nước Tanzania bên Phi-Châu không thể không dừng chân trước Nhà Thờ chính tòa Anh-Giáo tại Zanzibar.

Bước vào nhà thờ, người ta có thể đọc ngay lời chào đón được viết trên tường như sau: “Bạn đang ở trong nhà thờ chính tòa của Ðức Kitô.  Nơi đây đã từng là chợ buôn người nô lệ”.

Ngôi thánh đường này đã được xây ngay trên chính khu đất mà ngày xưa người da trắng đã tập trung không biết bao nhiêu người Phi-Châu để buôn bán đổi chác như những con thú.

Ðặc biệt nhất là bàn thờ của ngôi thánh đường:  đây là nơi mà trước khi được bán, người nô lệ phải chịu đánh đòn.  Sở dĩ người ta phải dùng roi để quất vào người nô lệ là để xem người ấy còn khỏe mạnh không.

Cột trụ ở ngay lối vào nhà thờ là một cây thánh giá gỗ có mang tên của nhà giải phóng Livingstone, một nhà thám hiểm người Anh, đã hô hào chống lại cuộc buôn bán vô nhân đạo này.  Cây thánh giá mang tên ông đã được chạm trổ từ gốc cây nơi ông thường đứng để hô hào cuộc chiến bãi bỏ việc buôn bán người nô lệ.

Mãi đến ngày 06 tháng 6 năm 1873, việc buôn bán người nô lệ mới chính thức bị cấm chỉ bằng một đạo luật.  Kể từ đó, phẩm giá đích thực của người da đen mới được nhìn nhận.

Cũng như một Đan-viện dòng kín đã được dựng lên ngay bên cạnh trại tập trung Auschwitz bên Ba Lan để âm thầm nhắc nhở về những độc ác dã man mà con người đã có thể làm cho người khác, thì nhà thờ chính tòa Anh-Giáo tại Zanzibar cũng là một nhắc nhở về một quá khứ vô cùng đau thương và đen tối của cả nhân loại, khi con người chỉ xem những giống người khác như thú vật để đổi chác.

Nhưng một tưởng niệm không chỉ dừng lại ở khía cạnh kết án, nó còn là một mời gọi để cam kết sống đích thực hơn.

Ðối lại với chà đạp dã man phải là sự tôn trọng yêu thương mà con người phải có đối với tha nhân.

Cuộc sống của người Kitô chúng ta được xây dựng trên một tưởng niệm vô cùng cao cả: đó là cái chết của Ðức Kitô được thực hiện trong Thánh Lễ.

Thánh lễ vừa là một nhắc nhở về cái chết vô cùng dã man mà Ðức Kitô đã trải qua, vừa là một tưởng niệm về Tình Yêu vô bờ của Thiên Chúa đối với con người, vừa là một mời gọi sống yêu thương, yêu thương đến nỗi có thể chết thay cho người khác…

Chúng ta không thể tưởng niệm cái chết của Chúa Giêsu mà vẫn tiếp tục cưu mang hận thù, mà vẫn nuôi dưỡng sự khinh rẻ đối với tha nhân.

Đức Ông Phêrô Nguyễn Văn Tài

Chị Nguyễn Kim Bằng gởi

Lá thư quá hay !!!

Lá thư quá hay !!!

Bạn thân mến,
Lâu lắm rồi giới trẻ chúng tôi mới nhận được một bài viết nói lên sự thật ở đất nước tôi, dù sự thật ấy làm chúng tôi hết sức đau buồn.
Xin cám ơn bạn. Ở đất nước tôi có câu
“sự thật mất lòng” nhưng cũng có câu “thương cho roi cho vọt”, “thuốc đắng dả tật”.
Bức thư của bạn đã làm thức dậy trong tôi niềm tự ái dân tộc lâu nay được ru ngủ bởi những bài học giáo điều từ nhà trường như “Chúng ta tự hào là một nước nhỏ đã đánh thắng hai cường quốc Pháp và Mỹ”.

Bạn đã nói đúng: “Tôi đang nhìn thấy một thế hệ, họ không còn biết phải tin vào điều gì, thậm chí còn không dám tin vào chính mình. Là một người Việt, khó lắm. Thật vậy sao?”
Bạn biết đặt câu hỏi như thế là bạn đã có câu trả lời rồi. Những gì tôi viết sau đây chỉ là những lời tâm tình của một người trẻ thiếu niềm tin, với một người bạn đến từ một đất nước vững tin vào dân tộc mình, vào chính bản thân mình.
Bạn nói đúng. So với nước Nhật, nước Việt chúng tôi đẹp lắm. Đối với tôi không có tấm bản đồ của nước nào đẹp như tấm bản đồ của nước tôi. Tấm bản đồ ấy thon thả đánh một đường cong tuyệt đẹp bên bờ Thái Bình Dương ấm áp. Trên đất nước tôi không thiếu một thứ gì cho sự trù phú của một dân tộc. Nhưng chúng tôi thiếu một thứ. Đó là Tự Do, Dân Chủ.

Lịch sử của chúng tôi là lịch sử của một dân tộc buồn.
Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn. Người đã từng nhận được đỉa vàng tại đất nước Nhật của các bạn năm 1970 (bán được trên 2 triệu bản) với bài hát “Ngủ Đi Con” đã từng khóc cho đất nước mình như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giạc Tàu
Một trăm năm nô lệ giạc Tây
Hai mươi Năm nội chiến từng gày
Gia tài của mẹ để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt buồn”.

Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong “hai mươi Năm nội chiến từng ngày” ông sống tại miền nam Việt Nam nên nỗi đau của ông còn nh hơn nỗi đau của người miền Bắc chúng tôi. Ông còn có hạnh phúc được tự do sáng tác, tự do gào khóc cho một đất nước bị chiến tranh xâu xé, được “đi trên đồi hoang hát trên những xác người” được mô tả người mẹ điên vì đứa con “chết hai lần thịt xương nát tan”.
Nếu ông sống ở miền Bắc ông đã bị cấm sáng tác những bài hát như thế hoặc nếu âm thầm sáng tác ông sẽ viết như sau:

“Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu
Một trăm năm nô lệ giặc Tây
Bảy mươi năm Cộng Sản đọa đày
Gia tài của mẹ, để lại cho con
Gia tài của mẹ là nước Việt Buồn”

Bị đô hộ bởi một nước Tàu tự coi mình là bá chủ ở phương Bắc, bị một trăm năm Pháp thuộc. Một ít thời gian không bị ngoại bang đô hộ chúng tôi không có minh quân như Minh Trị Thiên Hoàng ở nước bạn. Huống gì thay vào đó chúng tôi bị cái xui là một trong những nước hiếm họi bị thống trị bởi một chế độ bị coi là quái vật của thế kỷ.

Tại sao người Việt tham vặt.

Vì họ đã từng đói kinh khủng.Trong cuộc chiến tranh gọi là chống Mỹ chống Pháp người dân miền Bắc chúng tôi đã đói đến độ mất cả tình ngườiVì một ký đường, một cái lốp xe đạp, vài lạng thịt người ta tố cáo nhau, chơi xấu nhau dù trước đó họ là người trí thức. Cho nên ăn cắp là chuyện bình thường.
Tôi cũng xin nhắc cho bạn, năm 1945 hàng triệu người Việt miền Bắc đã chết đói vì một lý do có liên quan đến người Nhật các bạn đấy. Xin bạn tìm hiểu phần này trong lịch sử quân Phiệt Nhật ở Việt Nam.

Tất nhiên người Việt vẫn nhớ câu “nghèo cho sạch, rách cho thơm” nhưng “thượng bất chính , hạ tắc loạn”.
Khi chấm dứt chiến tranh. Người Việt biết họ phải tự cứu đói mình chứ không ai khác. Kẻ có quyền hành tranh dành nhau rừng vàng biển bac, kẻ nghèo xúm lại hôi của những xe chở hàng bị lật nhào .

Thật là nhục nhã, thật là đau lòng.

Bạn bảo rằng ở nước bạn người dân giữ gìn vệ sinh công cộng rất tốt. Còn ở Việt Nam cái gì dơ bẩn đem đổ ra đường.
Đúng vậy. Nhưng Tự Do, Dân Chủ đã ăn vào máu của các bạn để các bạn ý thức rõ đây là đất nước của mình.

Còn chúng tôi? Chúng tôi chưa thấy nước Việt thực sự là của mình.
Ngày trước Nước Việt là của Vua, Có khi nước Việt thuộc Tàu, rồi nước Việt thuộc Pháp, rồi nước Việt là của Đảng Cộng Sản.

Rung của cha ông để li đã từng trở thành của của hợp tác xã, rồi ruộng là của nhà nước chỉ cho dân mượn trong một thời gian nhất định. Đất là của nhà nước nếu bị quy hoạch người dân phải lìa bỏ ngôi nhà bao năm yêu dấu của mình để ra đi.

Cái gì không phải là của mình thì người dân không cảm thấy cần phải gìn giử.
Nhưng sự mất mát đau lòng nhất trên đất nước chúng tôi là mất văn hóa và không còn nhuệ khí. Biết làm sao được khi chúng tôi
được dạy để trở thành công cụ chứ không được dạy để làm người.

Tiếc thay bản chất thông minh còn sót lại đã cho chúng tôi nhận ra chúng tôi đang bị dối gạt. Nhất là trong những giờ học về lịch sử, văn chương.
Lớp trẻ chúng tôi đã mất niềm tin và tìm vui trong những trò rẻ tiền trên TV trên đường phố.
Nhớ năm nào nước của bạn cất công đem hoa anh đào qua Hà Nội cho người Hà Nội chúng tôi thưởng ngoạn. Và thanh niên Hà Nội đã nhào vô chụp giựt, bẻ nát cả hoa lẩn cành, chà đạp lên chính một nơi gọi là “ngàn năm Thăng Long văn hiến”.
Nhục thật bạn ạ. Nhưng lớp trẻ chúng tôi
hầu như đang lạc lốithiếu người dẫn đường thật sự chân thành thương yêu chúng tôi, thương yêu đất nước ngàn năm tang thương, đau khổ.
Thật buồn khi hàng ngày đọc trên báo bạn thấy giới trẻ nước tôi hầu như chỉ biết chạy theo một tương lai hạnh phúc dựa trên sắc đẹp và hàng hiệu. Họ không biết rằng nước Hàn có những hot girls, hot boys mà họ say mê còn là một quốc gia cực kỳ kỷ luật trong học hành, lao động.
Bạn nói đúng. Ngay cả bố mẹ chúng tôi thay vì nói với chúng tôi “con hãy chọn nghề nào làm cuộc sống con hạnh phúc nhất” thì họ chỉ muốn chúng tôi làm những công việc, ngồi vào những cái ghế có thể thu lợi tối đa dù là bất chính.
Chính cha mẹ đã chi tiền để con mình được làm tiếp viên hàng không, nhân viên hải quan, công an giao thông… với hy vọng tiền thu được dù bất minh sẽ nhiều hơn bội phần.
Một số người trẻ đã quên rằng bên cạnh các ca sĩ cập với đại gia có nhà trăm tỉ, đi xe mười tỉ còn có bà mẹ cột hai con cùng nhảy sông tự tử vì nghèo đói. Mới đây mẹ 44 tuổi và con 24 tuổi cùng nhảy cầu tự tử vì không có tiền đóng viện phí cho con. Và ngày càng có nhiều bà mê tự sát vì cùng quẩn sau khi đất nước thái bình gần 40 năm.
Bạn ơi.
Một ngày nào chúng tôi thực sự có tự do, dân chủ chúng ta sẽ sòng phẳng nói chuyện cùng nhau. Còn bây giờ thì :

“Trải qua một cuộc bể dâu
Những đều trông thấy mà đau đớn lòng”.

Dù sao cũng biết ơn bạn đã dám nói ra những sự thật dù có mất lòng.
Và chính bạn đã giúp tôi mạnh dạn nói ra những sự thật mà lâu nay tôi không biết tỏ cùng ai.

Thân ái.
Tiểu My

Chống tham nhũng có giới hạn thì có chống được không?

Chống tham nhũng có giới hạn thì có chống được không?

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2014-10-08

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng chống tham nhũng thì phải như đánh chuột đừng để vỡ bình

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho rằng chống tham nhũng thì phải như đánh chuột nhưng đừng để vỡ bình

nguyenphutrong.net

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa qua  khi tiếp xúc cử tri Hà Nội lại có phát biểu về công tác chống tham nhũng tại Việt Nam. Ý kiến mới đưa ra đó tiếp tục gây nhiều phản ứng trong dân chúng về vấn nạn bị cho là ‘chưa có thuốc chữa’ này.

Theo Tổ chức Minh bạch Quốc tế công bố năm 2013, thì Việt Nam xếp hạng 116/177 quốc gia và bị coi là quốc gia có tình trạng tham nhũng cao.

“Chữa ung thư bằng thuốc nhức đầu”

Đánh giá về thực trạng tham nhũng ở VN,  TS. Đinh Văn Minh Phó Viện trưởng Viện Khoa học Thanh tra – Thanh tra Chính phủ thấy rằng ở VN tham nhũng là tình trạng phổ biến ở mọi ngành, mọi cấp, mọi lĩnh vực. Tuy vậy theo ông Đảng và nhà nước VN đã hết sức coi trọng và có nhiều biện pháp cụ thể để xử lý vấn nạn này.

Từ Hà nội, TS. Đinh Văn Minh nói:

“Ở VN tham nhũng có rất nhiều, đã gây ra sự bức xúc cho người dân, bởi vì tham nhũng nhỏ đa số ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của người dân trong việc liên hệ với các cơ quan công quyền. Cái đó làm cho hình ảnh cơ quan hành chính công bị méo mó và người dân thiếu sự tin tưởng, thậm chí là họ rất khó chịu. Nguyên nhân không phải do nhà nước không quan tâm đến cái đó đâu, mà vấn đề là thiếu giải pháp đồng bộ”  TS. Nguyễn Quang A .

” Ông TBT có nhầm một chút khi coi đó là cái bình quý, nhưng tôi và người dân nghĩ đấy là cái bình vôi. Mà trong cái bình vôi ấy đầy rẫy lũ ma quỷ và chính cái lũ ma quỷ do cái bình vôi ấy sinh ra nó đã hoành hành, không chỉ tham nhũng mà chúng nó còn làm đủ các điều tác oai tác quái khác

TS. Nguyễn Quang A”

Nói về những hạn chế của công tác phòng chống tham nhũng, ngày 6.10.2014, khi tiếp xúc với cử tri Hà Nội TBT Nguyễn Phú Trọng nói rằng: “Chống tham nhũng đòi hỏi khôn ngoan, cần có con mắt chiến lược. Bác Hồ dạy rồi, cha ông ta dạy rồi, đánh con chuột đừng để vỡ bình, làm sao diệt được chuột mà bảo vệ được bình hoa. Không phải xới tung lên tất cả, gây mất niềm tin, nghi kỵ lẫn nhau, rối loạn sẽ rất nguy hiểm.”

Đánh giá về phát biểu của TBT Nguyễn Phú Trọng, TS. Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện phản biện IDS thấy rằng đây là việc đáng mừng, theo ông đó là việc thú nhận sự thất bại hoàn toàn của việc chống tham nhũng từ người đứng đầu Đảng CSVN.

Từ Hà nội, TS. Nguyễn Quang A nói:

“Ở đây ông TBT có nhầm một chút khi coi đó là cái bình quý, nhưng tôi và người dân nghĩ đấy là cái bình vôi. Mà trong cái bình vôi ấy đầy rẫy lũ ma quỷ và chính cái lũ ma quỷ do cái bình vôi ấy sinh ra nó đã hoành hành , không chỉ tham nhũng mà chúng nó còn làm đủ các điều tác oai tác quái khác. Cho nên theo tôi nên tìm cách vứt cái bình vôi đó đi là cách hay nhất. Rất đáng tiếc là ông TBT tuy đã chân thành thừa nhận sự thất bại của cuộc đấu tranh chống tham nhũng, nhưng ông ấy vẫn cố bám vào cái bình vôi ấy thì vô phương cứu chữa”.

Khi được hỏi về những nguyên nhân khiến cho việc chống tham nhũng ở VN không có hiệu quả, tình trạng tham nhũng ngày càng tăng, không có dấu hiệu suy giảm.

” Có vị đại biểu tâm sự mỗi lần ra họp Quốc hội là lãnh đạo địa phương căn dặn rất kỹ: phát biểu gì cũng được, trừ tham nhũng, vì nếu còn cơ chế xin cho thì mình xin ai cho. Càng không nên phát biểu tham nhũng ở địa phương vì dại gì vạch áo cho người xem lưng

ông Lê Như Tiến”

TS. Đinh Văn Minh thấy rằng đây là vấn đề nhạy cảm vì có liên quan đến tiền bạc và quyền lực. Theo ông người tham nhũng hầu hết là người có chức vụ, có quyền lực và cả một hệ thống nên không dễ có thể làm được. Song theo ông quan trọng là nhà nước chưa có các biện pháp xử lý thích đáng.

TS. Đinh Văn Minh nói:

“Chúng tôi dưới góc độ nghiên cứu trong quá trình cải cách thể chế và tình hình thực tế diễn ra thì có một nhận xét là hiện nay chúng ta chống tham nhũng nhưng tham nhũng “chay”nhiều quá. Tham nhũng thực chất là hành vi hướng tới chiếm đoạt tiền và tài sản, cho nên chống tham nhũng là chúng ta phải hướng tới việc đòi lại hay giành lại những cái tài sản mà những kẻ tham nhũng lấy lại của nhầ nước và nhân dân. Mục đích của nó phải là như vậy và điều đó phải được nhấn mạnh, nhưng tiếc rằng do các thiết chế từ trước tới nay của chúng ta chưa được quan tâm đến một cách đúng mức và thỏa đáng cho nên kết quả hết sức hạn chế.”

Không thể chống tham nhũng trong chế độ độc đảng

Theo báo Tuổi trẻ, ông Lê Như Tiến, Phó Chủ nhiệm UB Văn hóa , giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng cho biết: “Có vị đại biểu tâm sự mỗi lần ra họp Quốc hội là lãnh đạo địa phương căn dặn rất kỹ: phát biểu gì cũng được, trừ tham nhũng, vì nếu còn cơ chế xin cho thì mình xin ai cho. Càng không nên phát biểu tham nhũng ở địa phương vì dại gì vạch áo cho người xem lưng. Vậy là cuộc chiến chống tham nhũng có nguy cơ triệt tiêu trên diễn đàn Quốc hội”.

” Muốn chống tham nhũng thì phải có tự do ngôn luận, phải có sự kiềm chế quyền lực từ bên ngoài hoặc là giữa các bên ở bên trong, như các bên trong nội bộ của Đảng. Nhưng kiềm chế thì phải cương quyết, chứ không phải là sợ vỡ cái bình vôi. Và những người ấy phải được lựa chọn theo tài năng và đức độ

TS. Nguyễn Quang A”

TS. Nguyễn Quang A cho rằng trong chế độ độc đảng cai trị như ở VN, thì một khi bản thân thể chế chính trị đã tạo điều kiện sinh ra và khuyến khích tham nhũng thì không bao giờ có thể chống tham nhũng được.

TS. Nguyễn Quang A nhận định:

“Muốn chống tham nhũng thì phải có tự do ngôn luận, phải có sự kiềm chế quyền lực từ bên ngoài hoặc là giữa các bên ở bên trong, như các bên trong nội bộ của Đảng. Nhưng kiềm chế thì phải cương quyết, chứ không phải là sợ vỡ cái bình vôi. Và những người ấy phải được lựa chọn theo tài năng và đức độ chứ không phải theo tiêu chuẩn vừa Hồng vừa Chuyên. Các điều kiện như thế đã không có ở chính quyền hiện nay ở VN thì làm sao mà chống tham nhũng được? Do vậy những hô hào chống tham nhũng từ trước đến nay chỉ là mị dân mà thôi.”

Nói về giải pháp nhằm diệt trừ vấn nạn tham nhũng ở VN, TS. Nguyễn Quang A thấy rằng, ở một thể chế chính trị tương đối độc đoán như Singapore ngay từ đầu họ đã đào tạo và lựa chọn một đội ngũ quan chức có trình độ, tài năng, có trách nhiệm, liêm khiết và coi việc được phục vụ nhân dân là một vinh dự. Còn ở VN với thể chế như hiện nay thì vô phương.

TS. Nguyễn Quang A nói:

“60 năm vừa qua Đảng CSVN không có một sự lựa chọn con người như thế, những kẻ leo lên đỉnh chót của quyền lực không phải là người tinh hoa thì làm sao có thể. Trừ khi có một người thực sự có tài năng và uy quyền, nhưng khả năng ấy chỉ có thể khi người ta bắt đầu xây dựng một chính quyền. Chứ còn ở một chính quyền đã tồn tại 60 năm nay và ngày càng thối nát ra thì tôi nghĩ là vô phương cứu chữa. Chính vì vậy tôi nói Đảng CSVN không còn tương lai ở đất nước này nữa ”.

Ở VN hiện nay, Đảng CSVN cho rằng tham nhũng là một nguy cơ đe dọa sự tồn vong của chế độ. Tuy vậy, điều đó chỉ là sự biện hộ cho sự không trong sáng của chính quyền hiện tại trong thể chế chính trị độc đoán và độc đảng lãnh đao. Không thể chống tham nhũng nếu không có các thiết chế cần thiết để tăng cường sự kiểm soát sự công khai và minh bạch của một nhà nước pháp quyền.

‘Bộ não’ điều khiển biểu tình ở Hồng Kông, qua lời người trong cuộc

‘Bộ não’ điều khiển biểu tình ở Hồng Kông, qua lời người trong cuộc
October 07,  2014

Nguoiviet.com

Hà Giang/Người Việt

WESTMINSTER, Calif (NV) – Cho đến giờ, chưa ai biết kết quả cuộc biểu tình đòi phổ thông đầu phiếu cho người dân Hồng Kông vào năm 2017 tới đây có đưa đến kết quả mong muốn không, nhưng cách hành xử của các sinh viên biểu tình trong vòng mười ngày qua đã để lại trong lòng mọi người những ấn tượng rất đẹp.

Nhiều hình ảnh tiêu biểu cho cuộc biểu tình được cho là “tuyệt vời” của các em, được giới truyền thông cả chuyên nghiệp lẫn tự do đưa lên làm tràn ngập các trang mạng xã hội, gồm: cảnh các sinh viên học sinh ngồi ở ngoài đường giúp nhau làm bài tập, dùng bình điện dự trữ charge phones và tablets cho người tham dự, làm thông dịch cho giới truyền thông, phát thức ăn nước uống cho nhau, và thức đến khuya để đi nhặt từng cọng rác nơi giới biểu tình  “chiếm đóng.” Thậm chí trong lúc trời đổ mưa tầm tã, sinh viên biểu tình còn cầm dù che cho người cảnh sát đứng đối diện, qua hàng rào cản.

Một sinh viên biểu tình cố thủ tại khu vực Mong Kok, đợi chờ kết quả cuộc thảo luận giữa sinh viên và chính phủ vào ngày thứ Sáu, 10 tháng Mười, 2014. (Hình: XauMe Olleros/Getty Images)

Nhưng chen lẫn giữa những lời khen, những cái lắc đầu khâm phục, là câu hỏi ai cũng phải đặt ra là làm sao sinh viên Hồng Kông lại nhất loạt có cách cư xử lịch sự, đầy tình người như vậy, và làm thế nào mà những nhà lãnh đạo trẻ như Joshua Wong, 17 tuổi, và Alex Chao, 24 tuổi, có thể nhịp nhàng điều động đoàn biểu tình, có lúc lên đến hàng trăm ngàn người như thế, mà không để cho sự đáng tiếc nào xẩy ra?

* Bất Tuân Dân Sự, qua lời người trong cuộc

Phần nào giải đáp thắc mắc này, một số báo chí, như tờ South China Morning Post, trang báo mạng Asia News, đề cập đến một tài liệu có tên “Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự” (Manual of Disobedience) được viết bằng hai thứ tiếng Anh và Trung Hoa, do tổ chức Occupy Central soạn, và phân phối vài ngày trước khi chiến dịch biểu tình được phát động.

Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự dài 8 trang, là một tài liệu hướng dẫn người tham dự từng bước phải làm gì trước và trong khi biểu tình, phải làm gì khi đối diện với cảnh sát và khi bị bắt, nhưng quan trọng hơn, là để họ thấu hiểu triết lý và chiến lược chính yếu của cuộc đấu tranh bất bạo động, mà họ tự nguyện tham dự.

“Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự” (Manual of Disobedience) do tổ chức Occupy Central soạn, và phân phối vài ngày trước khi chiến dịch biểu tình được phát động. (Hình: Người Việt)

Tình cờ, qua một trang mạng xã hội, phóng viên nhật báo Người Việt liên lạc được với cô Hellen Phạm, một thành viên của Occupy Central, và được cô kể lại những yếu tố đã giúp cho sinh viên Hồng Kông thực hiện được cuộc biểu tình quy mô mà hết sức ôn hòa, trật tự và ngăn nắp vừa qua.

Hellen Phạm (tên đã được đổi theo yêu cầu), năm nay 22 tuổi, cho biết cô sinh ra và lớn lên ở Hồng Kông, có cha mẹ từ Việt Nam đến đây tị nạn vào giữa thập niên 1980s, cho biết bạn trai của cô là một thành viên của tổ chức Occupy Central with Love and Peace.

“Em muốn đi theo anh ấy (bạn trai) tham dự biểu tình, phần vì ủng hộ dân chủ, phần cũng vì tò mò muốn coi họ làm việc ra sao, sau khi thấy họ có cuộc biểu tình vĩ đại với hơn 500,000 người tham dự vào ngày 1 tháng Bảy vừa qua.” Hellen tâm sự.

Hellen cho biết những điều thấy được khiến cô vỡ lẽ ra bạn trai mình và bạn bè của anh không chỉ là những người trẻ có lý tưởng, mà “là những người hiểu rất rõ bí quyết của đấu tranh bất bạo động.”

Nói về vai trò quan trọng của “Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự,” Hellen kể: “Khi em nói với bạn là muốn tham gia phòng trào, anh ấy đưa cho em tập cẩm nang, bảo về đọc kỹ đi trước khi quyết định dấn thân, vì phải hiểu là khi chấp nhận dấn thân thì có thể bị nguy hiểm đến bản thân, và bị dính dáng tới pháp luật.”

“Càng đọc em càng thấy mê Occupy Central.” Hellen nói.

Có nhiều thứ để mê, Hellen dẫn chứng, chẳng hạn như trong phần triết lý, cẩm nang viết:

“Dùng bạo lực để chống bạo lực không chỉ làm tăng thêm sự sợ hãi, mà cho nhà cầm quyền có lý do để đàn áp, và củng cố địa vị của kẻ độc tài. Bất tuân dân sự là phương pháp dùng thương yêu để thắng hận thù. Người tham gia sẽ phải đối mặt với đau khổ bằng một thái độ cao quý, để thu phục lương tâm của kẻ đàn áp, và giảm thiểu sự thù hận do hành vi tàn bạo gây ra. Quan trọng hơn cả, bất bạo động sẽ thu hút được sự cảm thương của những người bàng quan (công luận), và làm nổi bật sự thiếu chính nghĩa của việc đàn áp có hệ thống của người (chính quyền) sử dụng bạo lực. Sự hy sinh của người đấu tranh là cách hay nhất để làm công chúng thức tỉnh.”

Và: “Chúng ta đấu tranh để chống lại một hệ thống bất công, chứ không chống lại cá nhân. Chúng ta không tiêu diệt hay làm bẽ mặt các nhân viên công lực, thay vào đó, chúng ta phải chiếm được lòng tôn trọng và sự cảm thông của họ. Chúng ta không chỉ cần phải tránh dùng bạo lực để đối đầu, mà còn cần phải tránh để cho lòng thù hận có thể nẩy mầm trong trái tim.”

Hellen cho biết là một sinh viên luật, cô không chỉ “mê” triết lý của phong trào, mà còn  để ý đến cách tổ chức Occupy Central.

Cô kể tiếp: ‘Khi em nói là đã hiểu và chấp nhận sự nguy hiểm thì anh ấy bảo em lên trang mạng của Occupy Central để download một đơn có tên là “Letter of Intent” để điền vào.”

‘Letter of Intent’ là một đơn rất ngắn, đòi hỏi người muốn tham gia phải cam kết ba điều: a) đồng ý rằng việc phổ thông đầu phiếu là có lợi cho Hồng Kông, b) thủ tục phổ thông đầu phiếu bầu cử phải được đa số người dân Hồng Kông có ý kiến và đồng ý, và c) hoàn toàn tuân theo quy tắc đấu tranh bất bạo động mà phong trào đề ra.

Cũng qua Letter of Intent, người làm đơn có thể chọn một trong ba cách tham gia:

1. Hỗ trợ vòng ngoài cho những người đi biểu tình, như phân phối thức ăn, làm những việc hậu cần, nhưng không biểu tình, hoặc
2. Tham dự biểu tình, nhưng không tự nguyện bị bắt, và không khức từ quyền có luật sư bào chữa nếu bị bắt, hoặc
3. Tham dự biểu tình, và tự nguyện bị bắt, và khước từ quyền có luật sư bào chữa.

Thật ra thì Occupy Central không phải là phong trào duy nhất có cuốn cẩm nang bất tuân dân sự. Cái hay của phong trào, theo Hellen, nằm ở chỗ ban lãnh đạo rất biết cách “dưỡng quân” và “điều quân.”

Cả đối với những đơn mà người tham dự chọn đi biểu tình, ban tổ chức cũng xét kỹ xem họ có từng bị bắt vì một trong bốn tội như làm tắc nghẽn nơi công cộng, tụ họp không có giấy phép, tụ họp bất hợp pháp, hay gây rối nơi công cộng chưa, vì thường thì vi phạm những tội này lần đầu chỉ bị nộp phạt rồi được thả về, chứ không bị đi vào hồ sơ. Nhưng nếu tái phạm thì có thể sẽ bị tù, vì thế những ai đã từng bị cảnh cáo (vì những tội này) thường được giao trách nhiệm “tình nguyện viên” chuyên lo thực phẩm, dán bích chương, hay làm vệ sinh, v.v… thay vì biểu tình.

“Làm như thế để giảm thiểu tối đa sự nguy hại cho thành viên!” Hellen giải thích.

Hay hơn thế nữa, vẫn theo lời Hellen, người tham gia được khuyến khích sinh hoạt trong những nhóm nhỏ, và rủ thêm từ một đến hai người bạn khác vào phong trào, rồi khi cần biểu tình thì không rủ nhau đi hết, mà cần phải thay phiên nhau biểu tình để phong trào có thể kéo dài.

Trả lời câu hỏi làm sao phong trào có thể điều động được những người bất chợt đến tham gia biểu tình, Hellen nói “thường thì ở mỗi địa điểm, nhờ sinh hoạt với nhau trong nhóm nhỏ, đều có người nhận diện người mới và phát cẩm nang tại chỗ.”

Một đoạn trong cẩm nang đưa ra những lời khuyên chi tiết như trước khi tham dự biểu tình thì viết sẵn một text message trong phôn, ghi rõ tên tuổi địa chỉ, và khi bị bắt thì gửi ngay cho Occupy Central để họ cử luật sư giúp đỡ. Hay khi sắp bị cảnh sát giải tán thì nắm tay nhau nằm hàng loạt xuống đường để bày tỏ sự phản đối, và làm cho việc bắt bớ khó hơn, nhưng nếu có bị còng tay thì “nhũn người ra” để làm giảm thiểu sự đau đớn.

Một đoạn viết: “Trước khi bắt, cảnh sát đầu tiên sẽ hỏi người đó có tự nguyện lên xe cảnh sát không. Nếu người biểu tình tự nguyện, cảnh sát sẽ không dùng vũ lực; nếu người biểu tình không tự nguyện lên xe, cảnh sát sẽ bắt bằng một nhóm bốn người nắm lấy 2 chân và 2 tay người biểu tình bỏ lên xe.”

Đoạn khác giải thích về luật tạm giam, cho biết trước những gì sẽ xẩy ra khi bị đưa về bót, và dặn dò người tham dự nên nói gì và không nên nói gì khi bị đưa về bót cảnh sát.

Ngoài cuốn Cẩm Nang Bất Tuân Dân Sự, cuộc biểu tình của sinh viên Hồng Kông vừa qua xem ra còn được sự hỗ trợ tối đa của những người lớn có địa vị trong xã hội.

Chẳng hạn, Hellen cho biết, nhóm lãnh đạo của phong trào được các vị trong giới lập pháp danh cho một số phòng ngay tại tòa nhà của Hội Đồng Lập Pháp (Legislative Council, gọi tắt là Legco), nơi ba nhóm chính của phong trào liên đới với nhau một cách chặt chẽ.

Nhóm Hong Kong Federation of Students, do Alex Chao, 24 tuổi lãnh đạo, chuyên lo việc giao tiếp với chính quyền, và theo tin của tờ South China Morning Post, hiện đang chuẩn bị để hội đàm vào thứ Sáu tuần này.

Nhóm Scholarism, do sinh viên Joshua Wong 17 tuổi lãnh đạo, giữ nhiệm vụ huy động đám đông với một đội ngũ giỏi về các phương tiện truyền thông xã hội, làm việc gần như 24 giờ một ngày. Nhóm Scholarism cũng có trách nhiệm liên lạc và kêu gọi sự hỗ trợ của các nhóm lợi ích khác, như cựu sinh viên, để “củng cố hàng ngũ.”

Trên nguyên tắc, nhóm Occupy Central, mà thành viên đa số là những người lớn, do ông Benny Tai, giáo sư luật tại University of Hong Kong lãnh đạo, tuy là một tổ chức hỗ trợ, và theo lời một phát ngôn viên của tổ chức, thì “phong trào đòi dân chủ khởi đầu từ các sinh viên,” nhưng cuốn Cẩm Nang Bất Bạo Động, và cách làm việc của họ, cho thấy vai trò của Occupy Central không nhỏ.

Liên lạc tác giả: Hagiang@nguoi-viet.com

Trẻ em vào đời và cạm bẫy xã hội

Trẻ em vào đời và cạm bẫy xã hội

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2014-10-07

RFA

tre-em-622.jpg

Hai đứa trẻ đi bán vé số ở khu công nghiệp Sóng Thần II – Bình Dương.

RFA PHOTO

Trẻ em sớm vào đời, học hành dang dở và luôn phải đối mặt với nhiều cạm bẫy xã hội luôn là vấn đề nan giải hiện nay tại Việt Nam. Một phần do nghèo đói, phần khác do cha mẹ không ý thức được trách nhiệm làm cha làm mẹ cũng như không thấy được giá trị của việc học tập bởi bản thân họ cũng chưa bao giờ được học tập cho đàng hoàng. Có hàng trăm nguyên nhân dẫn đến trẻ em sớm bỏ học vào đời. Nhưng có hai nguyên nhân chi phối nhiều nhất, đó là sự nghèo khổ, bất công xã hội cũng như sự tăm tối của một bộ phận dân cư bị đẩy xuống tầng đáy xã hội.

Các thành phần trẻ em vào đời

Một nhà giáo gốc Quảng Nam, tên Trung, hiện đang dạy môn toán ở quận Tân Bình, Sài Gòn, chia sẻ:

” Rõ ràng bỏ học sớm và vào đời sớm là hoàn toàn không tốt rồi. Vấn đề đó mang tính xã hội nhiều, vấn đề học ở trong nhà trường và giáo dục không tạo được cơ hội cho các em học.
-Một nhà giáo”

“Bây giờ, rõ ràng bỏ học sớm và vào đời sớm là hoàn toàn không tốt rồi. Vấn đề đó mang tính xã hội nhiều, vấn đề học ở trong nhà trường và giáo dục không tạo được cơ hội cho các em học. Vì việc đẩy thành tích như hiện nay, như các em học bình thường mà được lên hai lớp, rồi càng lên thì các em càng không thể học, rồi chán học, đâm ra mất hứng thú, bỏ học. Thứ hai là tác động ngoài xã hội, các em chưa đủ khôn ngoan nên dẫn đến ham chơi, bỏ học.”

Theo thầy giáo Trung, nói về vấn đề bỏ học và sớm vào đời của trẻ em, cần phải chia thành hai nhóm, nhóm con nhà giàu, nhà quan chức và nhóm con nhà nghèo. Nếu như nhóm con nhà giàu, nhà quan chức bỏ học để chơi bời lêu lổng ở các quán, các tựu điểm và gây ra nhiều tai ương cho xã hội thì nhóm con nhà nghèo bỏ học sớm sẽ đi làm thuê rày đây mai đó, bữa được bữa mất, đi bán vé số, đi lượm ve chai, thậm chí đi xin.

Giữa hai nhóm bỏ học sớm gồm con nhà nghèo và con nhà giàu có một điểm chung là nguy cơ cướp giật, con đường đồi trụy và tương lai mịt mùng đang chờ đón chúng. Và nếu như nhóm con nhà giàu bỏ học sớm một thời gian quay về phá gia bằng cách trộm cắp tiền của cha mẹ thì nhóm con nhà nghèo sẽ mang tiền về phụ giúp cha mẹ bằng nhiều cách. Nhưng có một điểm chung là cả hai nhóm này có thể kết hợp trở thành nhóm trộm cướp, đầu lĩnh sẽ thuộc về nhóm con nhà giàu và tham mưu cho đầu lĩnh sẽ thuộc về nhóm con nhà nghèo.

tre-em-400.jpg

Trẻ em đi bán vé số ở Lái Thiêu. RFA PHOTO.

Và còn một vấn đề khác là có thể nói rằng tỉ lệ 100% các học sinh, trẻ em bỏ học sớm đều có gia đình không được ổn định, nếu không phải là thiếu ổn định về kinh tế thì tính ổn định về văn hóa của gia đình đó cũng có vấn đề trầm trọng. Ví dụ như con nhà nghèo quá, kinh tế có vấn đề trầm trọng, buộc lòng cha mẹ phải cắn răng cho con nghỉ học để lao động phụ giúp họ. Ngược lại, những gia đình có kinh tế khá giả nhưng bản thân cha mẹ lại có vấn đề,  nếu không có người ngoại tình thì bản thân họ cũng là những hàng cha mẹ vô ý thức, không quan tâm đến tương lai con cái mà định giá cuộc đời này bằng tiền bạc, mãi mê lao đầu kiếm tiền, để con hư hỏng.

Nói đến đây, vị thầy giáo này lắc đầu chua chát, đưa ra kết luận là hầu như Việt Nam thuộc vào diện có trẻ em mù chữ đứng đầu khu vực, và không dừng ở đó, mọi cạm bẫy xã hội luôn nhắm vào trẻ em. Điều này cho thấy tương lai đất nước sẽ rất tăm tối khi mà hàng hàng lớp lớp thanh niên tử tế phải sống bên cạnh hàng hàng lớp lớp thanh niên kém ý thức, vô văn hóa và quen với cuộc sống đầu đường xó chợ, lấy đường phố làm nhà, lấy trộm cắp, cướp bóc và buôn bán ma túy làm kế sinh nhai.

Những cạm bẫy xã hội

Một người mẹ có con bỏ học sớm, lêu lổng và theo băng nhóm, yêu cầu giấu tên, buồn rầu chia sẻ:

“Kinh tế đóng vai trò quyết định, do kinh tế gia đình nên nó không coi trọng việc học, do bản thân nó không thấy hứng khởi khi học, xã hội, bạn bè đưa đẩy, đàn đùm, bản thân nó không quý sự học mà muốn có tiền.”

” Kinh tế đóng vai trò quyết định, do kinh tế gia đình nên nó không coi trọng việc học, do bản thân nó không thấy hứng khởi khi học, xã hội, bạn bè đưa đẩy.
-Một người Mẹ”

Theo người mẹ này, cái sự nghèo đôi khi đưa đẩy con người vào chỗ không lối thoát, như con trai của bà chẳng hạn, từ lớp vỡ lòng cho đến lớp sáu, cháu là một học sinh ngoan, hiền và có thành tích học tập luôn giỏi. Thế nhưng khi bước vào lớp bảy, do yêu cầu phải đi học thêm nhiều môn nhưng gia đình bà không có đủ tiền cho cháu đi học, đến lớp, cháu thường bị gọi lên dò bài đầu tiên và bị hỏi những câu rất lạ, rất khó, kết cục là học kỳ một của lớp bảy, cháu tuột hạng từ học sinh giỏi xuống còn học sinh trung bình khá. Và rồi mọi bất bình, hư hỏng manh nha.

Ban đầu cháu chỉ giấu bà chuyện tranh thủ đi bán vé số, về sau, cháu cúp tiết để đi bán vé số vì nghĩ rằng giờ học chính không quan trọng mà làm thế nào để có tiền học thêm. Khi người mẹ phát hiện con mình đi bán vé số cũng là lúc đã quá muộn màng, gần hai tuần bươn chải với gió sương cuộc đời, tâm tính và nhân cách của đứa bé đã hoàn toàn thay đổi.

Từ một đứa bé ngoan hiền, dễ thương, con của bà trở nên khó tính, hung hăng và cáu gắt. Tìm hiểu ra bà mới biết là trong quá trình đi lang thang bán vé số, đứa bé đã va chạm quá nhiều, hai lần bị du đãng hù dọa lấy mất vé số, một lần đánh nhau với một đứa bán vé số khác. Chính cuộc sống quay cuồng và khốc liệt nơi đầu đường xó chợ trong những ngày cúp học đã đẩy con bà đến chỗ hung hãn và phản kháng.

Khi bà biết chuyện thì mọi việc đã quá muộn màng. Đứa con ngoan và chăm học đã hoàn toàn thay đổi, chẳng còn ham học, không những chán học mà nó luôn coi trọng đồng tiền và nghĩ rằng chỉ có tiền mới giải quyết được mọi thứ trong cuộc sống. Bà rất buồn phiền vì chuyện này nhưng chưa biết tính làm sao với con mình. Chung qui, mọi chuyện cũng do cái nghèo và sự nhạy cảm của con bà mà ra. Chứ nếu con bà kém thông minh một chút, không sớm bị mặc cảm vì nghèo thì câu chuyện đã hoàn toàn khác. Bà buồn bã đưa ra kết luận.

Hiện nay, vấn đề trẻ em sớm bỏ học để bươn chải với cuộc sống và có nguy cơ sa vào những cạm bẫy cuộc sống đang là vấn đề có chiều hướng nảy nở tại Việt Nam, đặc biệt là tại một số khu vực dân nghèo, vùng sâu vùng xa Việt Nam.

Nhóm phóng viên tường trình từ Việt Nam.

TÁC HẠI CỦA THIỀN YOGA -phần một

TÁC HẠI CỦA THIỀN YOGA – phần một

Tác giả: Phan sinh Trần

Tuần trước ngày 17 tháng 9 năm 2014,  trong nhóm chia sẻ lởi Chúa, Houston Texas,  Chị Oanh có lên làm chứng và cho biết có một chị quen đến xin cầu nguyện vì khi di tập thiền được vài lần  thì bị một sự lạ, mối khi chị hát kinh Vinh Danh Chúa trong Thánh Lễ Misa  ở nhà thờ thì hai chân bủn rủn và muốn té khụy, không tài nào giữ thăng bằng, tâm hồn bất an và luôn lo âu sợ hãi. Chị  muốn tìm Cha  để được cầu nguyện xin Chúa giải thoát .

Chị Oanh nói , vì chưa có thể gặp Cha ngay nên chị cần hết lòng tuyên danh Chúa và tôn thờ Ngài duy nhất , xin Chúa chữa lành là sẽ được bình an và nếu may mắn thì sẽ có thể hết.

Chị bị ám đã làm như lời Chị Oanh . Cám ơn Chúa, cho đến nay, người bị ám đã lành được hơn 90%.

Cũng may đây là con quỉ xoàng không mạnh mẽ lắm  và Chị này vốn rất sốt sắng đạo đức nên lực lượng tối tăm chưa thể chiếm hữu Chị hoàn toàn.

Thiền Yoga là phương cách làm cho tâm trí trống rỗng và chú tâm vào giây phút mình đang hiện hữu bỏ qua tất cả các ý thức khác (Thiền Minh Sát, Vipassana), bỏ qua mọi hiện hữu chung quanh ta. Trong khi thiền , đọc câu niệm bằng tiếng Phạn hoăc Hindu để tập trung, ý nghĩa của câu niệm có thể là: hư vô, Phật, Thượng Đế, Thần Govinda,Yêu thương,  …

Khi Thiền đã trở thành chủ quan, nghĩa là khi tâm trí của người Thiền mở rộng vô hạn đến nỗi không ý thức cá nhân nào còn tồn tại, đó là lúc đã đạt được Đồng Nhất Vũ Trụ, đồng hoá vào Ý Thức Duy Nhất mênh mang trong vũ trụ …

–  Giáo hội Công Giáo , Thanh Bộ Giáo Lý Đức Tin có giáo huần về thiền tháng 10, năm 1989, ký bỏi Đức Hồng Y Ratzinger , sau này là Đức Thánh Cha Benedict XVI:

Tôi đã tìm thấy rằng  kỹ thuật Yoga không hữu dụng và có tiềm năng làm tổn hại tinh thần lớn lao, đáng kể. Bất kỳ là ai , một khi đã dâng đời mình cho Chúa Giê Su Ki tô và có tương quan gần gũi với Chúa trong Chúa Thánh Thần thì không cần những kỹ thuật có nguồn gốc từ các tôn giáo không phải là Ki tô.

https://forums.catholic.com/attachment.php?attachmentid=15565&d=1354124166

– – Đức Thánh Cha John Paul II trong “Bước Qua Ngưỡng Cửa Hi Vọng” năm 1994, khi nhận định về thiền tập  tiếp tục nhấn mạnh vể sự dậy dỗ của Thánh bộ Giáo Lý Đức Tin đã nêu ở trên.

Các lời chứng khác của Ki tô hữu vốn là bệnh nhân Thiền , do Soeur Jean Berchmans Minh Nguyệt sưu tầm được  ở Pháp nơi mà Thiền rất phổ biến từ những năm 1970, đáng kể có lời chứng của Linh mục Robert Thorn :

http://niemhyvong.net/forum/archive/index.php?t-7486.html

– Tôi (Cha Robert Thorn) có một người bạn thân, một người luôn rất điềm đạm và an hoà và tôi hỏi anh làm thế nào mà được như thế. Anh ta đáp: ‘À, tôi tập Siêu Nghiệm Thiền.’ Tôi biết một chút ít nhờ anh chỉ dạy, và quyết định tập thử. Từ khi khởi sự, tôi cảm thấy một sự an bình tràn ngập thân tôi. Tôi thực sự cảm thấy một sự bình an lớn lao lạ thường…

Cuối cùng, tôi trở thành huấn luyện viên môn Siêu Nghiệm Thiền….
… Tôi vẫn còn tập thiền và cảm thấy bị phụ nữ cuốn hút không cưỡng. Lúc đó, tôi vẫn còn đang sống trong tội. Tôi trở lại Mễ du (trên đường đến chỗ hẹn hò với một phụ nữ Thổ Nhĩ Kỳ để làm một cuộc chạy trốn đầy lãng mạn ở Istanbul).
…Vào một tối nọ, tôi được một cảm nghiệm khi tham dự nghi thức chữa lành ở trong nhà thờ ngay sau thánh lễ. Tôi đang quỳ gối, tưởng tượng như Máu Đức Kitô đang đổ tràn trên tôi. Tôi nhắm mắt lại và bất thình lình tôi nhìn thấy một con vật đen thui xấu xí, một thứ gì đó giữa cua càng và ong, đi qua lại trước con mắt tâm trí tôi.
Tôi nói theo bản năng: ‘Đó là một thần khí xấu. Tôi cần thoát khỏi nó’.

… Khi một linh mục nghe tôi xưng tội về chuyện đó, ngài nói: ‘Á à, nghe hấp dẫn chứ nhỉ. Kể tôi nghe anh có ăn chay không?’ Tôi đáp: ‘Dạ, có’ và vị linh mục nói tiếp: ‘Tốt, vì quyền năng của Chúa Thánh Thần sẽ mạnh hơn khi anh có ăn chay.’

Vị linh mục đó trừ  quỷ cho tôi,  qua một đêm dài sốt sắng cầu nguyện, chúng tôi tuyên bố từ bỏ mọi gắn bó với những thần khí xấu ở bên trong tôi nhân danh Chúa Giêsu Kitô. Tôi cảm thấy đau đớn lạ thường ở trong ruột (chú thích: như trường hợp của anh Chánh học Yoga và thiền theo phái “Con đường chân phúc (Ananda Marga)”. Nó bắt đầu thoát khỏi cổ họng tôi giống như bị ợ chua liên tục, có lúc tôi thực sự nhìn thấy một luồng khí thoát ra ngay khỏi miệng tôi ! Tôi bị lê trên sàn nhà trong khi vị linh mục rảy nước phép trên người tôi, ngài đặt tượng chịu nạn trên bụng tôi và tôi đau đớn kinh khủng…

Lời chứng của chị Sylvie:

…Một buổi tối, người bạn gái hỏi con có muốn dự buổi thực tập ngồi thiền không. Cô bạn giải thích: “Đây là lối suy niệm siêu hình, hay đúng hơn, là kiểu ngồi thiền tìm kiếm hư vô”. Con tự nhủ: “Mình cứ thử xem sao. Biết đâu sẽ gặp được Thiên Chúa, thay vì đi đến nhà thờ!” Nghĩ thế nên con theo bạn dự buổi ngồi thiền. Người hướng dẫn buổi ngồi thiền là một phụ nữ. Bà nói với chúng con: “Suy niệm kiểu này sẽ mang đến cho con người sự điềm-tĩnh, sự tự-chủ, niềm bình-an, trở về với nguồn cội của tư tưởng và đạt được những sức mạnh phi thường, kể cả các bí thuật thần thiêng!” Lời giải thích nghe thật êm tai, đưa hồn giới trẻ chúng con vào cõi mộng .. Nếu chỉ ngồi thiền trong một thời gian không lâu mà đạt được những điều vừa nói, thì quả thật là quá hay và quá dễ! Chúng con phải ngồi thiền mỗi ngày hai lần và mỗi lần 20 phút. Trong vòng 20 phút đồng hồ, con phải ngồi yên và chỉ lập đi lập lại hai tiếng duy nhất là “hư-vô”. Ban đầu, con cảm thấy mình hạnh phúc và hớn hở với ý nghĩ: “Chắc hẳn rồi đây mình sẽ khám phá nhiều điều lạ lùng. Và biết đâu, mình chẳng khám phá được Thiên Chúa?” Nhưng rồi, thời gian qua đi cùng với việc thực hiện phương pháp ngồi thiền, con không hề khám phá ra ánh sáng. Trái lại, con cứ càng ngày càng chìm sâu trong bóng tối đen dày đặc! Thật là hãi hùng kinh khiếp. Cứ mỗi lần con ngồi yên nhắm mắt là đầu óc con quay cuồng giữa hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng, rồi, hư-vô tư-tưởng! Sau 20 phút ngồi thiền, thể xác con có phần nghỉ ngơi chút ít, nhưng linh hồn con lại rơi vào lo âu sầu khổ và tràn đầy tuyệt vọng. Tâm trí con cứ bị ám ảnh bởi hai tiếng hư-vô .. hư-vô .. hư-vô! Và vì chỉ lập lại hai tiếng hư-vô nên con không còn cầu nguyện cùng Chúa GIÊSU và Đức Mẹ MARIA nữa. Trong khi đó hai tiếng hư-vô làm con khiếp sợ và chỉ muốn tìm cách trốn thoát.

Trong cơn khốn cùng, Mẹ MARIA đã giơ tay cứu vớt con. Trong phòng con có Bức Tượng Đức Mẹ nhỏ. Con thưa với Đức Mẹ: “Xin Mẹ đến giúp con!” Con chỉ nói với Đức Mẹ có thế thôi…

Rồi con gặp một vị Linh Mục. Ngài giúp con lãnh nhận bí tích Hòa Giải và trao ban ơn tha thứ của Thiên Chúa cho con. Thật là cuộc giải phóng tuyệt diệu! Con được tái sinh trong ơn thánh và tìm được hai vị Chủ Chăn dấu ái của cuộc đời con. Đó là Chúa GIÊSU KITÔ và Đức Mẹ MARIA. Con thay thế hai tiếng hư-vô bằng lời Kinh dấu ái: Kính Mừng MARIA Đầy Ơn Phước. Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và GIÊSU Con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh MARIA Đức Mẹ Chúa Trời. Cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.

http://www.binhcang.com/yoga.html

Chúng tôi xin phép tường trình và mong được các Anh Chị Em Công Giáo đang tìm kiếm và thực tập thiền định quan tâm đến sự nguy hiểm của Thiền.

Tuy nhiên, thiết nghĩ cũng cần phân biệt giữa Thiển Yoga có hại cho tâm hồn, hại cho tinh thần  vốn khác với  thể dục Yoga vốn là phương pháp tập thở, tập các cử động,  thì không có hại nhưng có lợi cho thân thể.

TÁC HẠI CỦA THIỀN YOGA – phần hai.

TÁC HẠI CỦA THIỀN YOGA – phần hai.

Tác giả: Phan Sinh Trần

“Thiền”vốn là từ gọi chung cho một phương pháp , cách thế trong đó con người định tâm dồn hết tâm trí hướng về một nguồn chân lý nào đó. Cũng giống như thể thao vốn bao gồm rất nhiều bộ môn, thiền cũng vậy, ngày nay ta có thiền của đạo Ấn độ giáo, Phật giáo, Lão giáo, Do Thái giáo, đạo Thời mới, Sikh, rồi đến thiền Yoga, thiền Đại thừa, thiền Nguyên Thủy , thiền Mật tông, …

Theo tự điển Bách Khoa Toàn Thư trên mạng Wikipedia, hầu như các tôn giáo  đều có pháp thiền.

Thiền của Phật Giáo bắt nguồn từ thế kỷ thứ nhất, thực hành tập trung tâm trí vào thời khắc hiện tại của thế giới bên trong (nội tại) từ bỏ hẳn thế giới bên ngoài và liên tiếp lập lại một lời niệm, từ đó làm chuyển đổi hạnh kiểm, thái độ sống của mình .

Thiền của Hồi Giáo, thực hành lần chuỗi và lập lại 99 tên của Chúa,  bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ tám hay thứ chín.

Thiền của Đạo Ba hải bao gồm cầu nguyện và kiểm điểm bản thân qua Lời của Thượng Đế, …

Thiền của Thiên Chúa Giáo, phương tây, tiến triển từ thế kỷ thứ sáu, bằng cách thực hành  Lectio Divina, bao gồm việc đọc và suy niệm Kinh Thánh, bởi các tu sĩ dòng Biển Đức ,

Điều quan trọng là tìm ra sự khác biệt của Thiền Ki tô giáo và các môn Thiền khác.

–          Thiền Ki tô giáo hướng về chủ thể của vũ trụ là Thiên Chúa độc nhất và duy nhất.

–          Thiền Ki tô giáo không bao giờ cho phép linh hồn mình loại bỏ Thiên Chúa và trở nên trống rỗng vì khi không có Chúa ngự trị ở đó thì sẽ có các Tà Thần len lỏi vào. Kinh Thánh nói rất rõ về điều này:

Khi thần ô uế xuất khỏi một con người, thì rảo qua những nơi khô cháy, tìm chốn nghỉ ngơi, mà không ra. Bấy giờ nó nói: “Ta sẽ về lại nhà ta, nơi ta đã bỏ đi”. Ðến nơi, nó thấy nhà đó để trống và đã quét tước, và trang trí hẳn hoi. Bấy giờ nó đi, và đem theo nó bảy thần khác dữ dằn hơn nó; chúng vào mà lập cư ở đó. Và tình cảnh cuối cùng người ấy lại tệ hơn trước. Cũng sẽ xảy ra như vậy cho thế hệ xấu xa này!” ( Mát Thêu 12:43-45)

Ni cô Thích nữ Diệu Tuyết, tu tại Chùa Phổ Hiền, kể rằng, trong một lần đi tụng kinh cho người chết cô đã bị quỉ nhập, tâm thần hoang dại, không còn tỉnh táo, nó làm cô không thiết ăn uống, tắm rửa trong một năm rưỡi trời, rồi cô được Chúa cứu qua sự giới thiệu và cầu nguyện của một Bà Dì theo đạo Chúa đến thăm cô tại nhà. Sau đó, khỏi bênh rồi thì đức tin lung lay, cô lại về Chùa, lại tiếp tục tụng niệm và lần này, tâm hồn trống rỗng cô bị mấy con Quỉ dữ dằn, hung ác hơn rất nhiều nhập vào nhà linh hồn của Cô, chúng miệt thị và nguyền rủa ngày đêm “ Mày chết đi “ làm cô hoàn toàn mất tự chủ và tự tử đến 4 lần trong vòng một tuần lễ. Sau những ngày đó, vào lần cuối cùng, cô mua bốn lưỡi lam, nghiền nhỏ và nuốt vào bụng, Bác sĩ không biết giải phẫu cách nào để cứu vì từ ruột bao tử , ở đâu cũng có mảnh lưỡi lam, chỉ cần cử động hay nuốt nước bọt thì cũng làm cô đau đớn lắm. Lần này thì cô chỉ biết hoàn toàn nhờ cậy duy nhất một mình Chúa Giê su, đấng duy nhất có quyền năng trên Ma Quỉ, đấng duy nhất có thể chữa lành và cô hy vọng Chúa sẽ đến cứu mình. Kết quả là Chúa lại ra tay thêm một lần nữa  làm phép lạ cho cô khỏi cả bịnh thể xác lẫn bệnh tâm linh. Cô bắt đầu một đời sống mới, dâng hiến cho Chúa, cầu nguyện, đọc Kinh Thánh và kết hiệp nên một với Chúa kính yêu của cô và hòa đồng vói các bệnh nhân phong cùi bị người đời từ bỏ. Như vậy, ta có thể thấy rằng, “Cầu nguyện, suy niệm bằng Kinh Thánh”  chính là cách Thiền mới của cô.

–          Thiền Ki tô giáo nhấn mạnh và đòi hỏi sự thực hành Lời Chúa trong cuộc sống để việc Thiền định thực sự mang lại hoa trái tốt lành. Nếu chỉ có thiền mà ta không đi vào trần đời và thực hành Lời Chúa thì không có kết quả nào hết. Cái khác biệt về cơ cấu ở đây, là yếu tố Thiền nhập thế và Thiền hành sự của Ki tô giáo.

–          Tột đỉnh của Thiền Ki tô giáo là sự kết hiệp trở nên một với Chúa. Đó là tình trạng mà “ Linh hồn Con ở trong Chúa và Chúa Ba Ngôi ở trong con”, Đức Chúa Giê Su có lời hứa nguyện sau đây cho những ai hết lòng tìm kiếm và thực hành Lời Ngài:

Phần Con, Con đã ban cho chúng vinh quang Cha đã ban cho Con để chúng nên một như Chúng Ta là một:

Con trong chúng và Cha trong Con, để chúng được hoàn toàn nên một,…(Gioan 17:22-23)

Xin đơn cử một thí dụ điển hình về Thiền dẫn đến kết hợp với Chúa qua trường hợp của Thánh nữ Faustina, được ghi lại trong nhật ký của Ngài,  bắt đầu bằng giai đoạn thiền ” đi tìm Chúa ” của mình :

–          Sự thinh lặng sâu thẳm bao phủ linh hồn tôi. Không có một áng mây nào che khuất mặt trời khỏi tôi. Tôi tắm mình trong áng sáng mặt trời để tình yêu Thiên Chúa có thể thực hiện việc biến đổi tôi hoàn toàn. Tôi muốn ra khỏi tuần tĩnh tâm này như một vị thánh, bất chấp tất cả; nghĩa là bất chấp tình trạng xấu xa của bản thân, tôi vẫn mong muốn trở thành một vị thánh, và tin vào Lòng Thương Xót Chúa có thể tác thành từ một kẻ khốn cùng như tôi, …

–          Con muốn sống và chết như một linh hồn thánh thiện, với ánh mắt luôn cắm chặt vào Chúa, lạy Chúa Giêsu chịu treo trên thập giá, mẫu gương các hành động của con. Con thường nhìn quanh để kiếm tìm các tấm gương, nhưng không tìm được gì thỏa đáng, và con nhận ra sự thánh thiện của con dường như chao đảo. Nhưng từ nay về sau, mắt con sẽ cắm chặt vào Chúa, lạy Chúa Kitô, Đấng hướng đạo toàn thiện của con. Con tin tưởng Chúa sẽ chúc lành cho các nỗ lực của con (NK 1333).

Rồi khi đã gặp được Chúa , ta hãy lắng nghe xem Chúa nói gì với Thánh nữ qua thiền chiêm niệm Lòng thương xót Chúa :

Hỡi con nhỏ của Cha, con đừng nản chí. Cha biết niềm tín thác vô hạn con trao đặt nơi cha; Cha biết con ý thức về lòng nhân lành và tình thương xót của Cha. Vậy Cha con mình hãy hàn huyên cho hết những gì đang đè nặng trái tim con.

Linh Hồn: Có đủ thứ đủ chuyện nên con không biết phải nói điều nào và phải trình bày như thế nào.

Chúa Giêsu: Con hãy nói cho thật đơn giản như chỗ bạn bè với nhau. Hỡi con, bây giờ con hãy kể cho Cha biết điều gì cản trở con tiến bước trên đường trọn lành?

Linh Hồn: Sức khỏe yếu nhược đã kiềm hãm con trên đường trọn lành. Con không thể chu toàn các phận sự. Con vô dụng như một bánh xe thừa thãi trên một cỗ xe. Con không ham mình và giữ chay được đến mức các thánh đã làm. Lại nữa, không ai tin là con bệnh tật, thành ra nỗi đau tinh thần làm trầm thống thêm nỗi đau thể xác, và con thường xuyên phải chịu nhục nhã. Lạy Chúa Giêsu, làm sao ai lại có thể nên thánh trong những hoàn cảnh như thế?

Chúa Giêsu: Con nhỏ của Cha ơi, đúng thế, tất cả điều ấy đều là đau khổ. Nhưng đâu còn con đường nào khác dẫn lên trời ngoài con đường thánh giá. Cha là người thứ nhất đã đi con đường ấy. Con phải biết đó là con dường ngắn nhất và bảo đảm nhất…

…Ái nữ của Cha ơi, nếu Cha muốn qua con mà đòi mọi người tôn sùng Lòng Thương Xót của Cha, thì con phải là người trước tiên trổi vượt trong niềm tin tưởng vào lòng thương xót ấy. Cha đòi hỏi con những hành vi nhân ái được thực hiện và yêu mến Cha. Ở mọi nơi trong mọi lúc, con hãy tỏ lòng nhân ái với người lân cận. Con không được thoái thác, kiếm cớ chữa mình hay tự miễn cho mình điều ấy.

Cha ban cho con ba phương thế để sống nhân ái với người chung quanh: thứ nhất – bằng hành vi, thứ hai – bằng ngôn từ, thứ ba – bằng cầu nguyện. trong ba cấp độ này hàm chứa lòng nhân ái sung mãn và bằng chứng không thể nghi ngờ về tình yêu dành cho Cha. Bằng cách này, một linh hồn sẽ tôn vinh và sùng kính Lòng Thương Xot Cha (NK 742).

“Hỡi ái nữ của Cha, con hãy cho cha các linh hồn. Con hãy biết sứ mạng của con là cho Cha các linh hồn bằng lời cầu nguyện và hy sinh. Khuyến giục họ tín thác vào Lòng Thương Xót của Cha (NK 1690).

Chúng ta có một vị thần quyền năng trên hết các Thần, vị Thần đó hoàn toàn có thể thông cảm và có thể gặp gỡ khi ta biết tìm đọc và  suy tư Lời Chúa đến mức Lời trở thành hơi thở của đời sống ta, đến mức Lời trở thành hành động cụ thể ta dâng hiến cho Anh Em mình. Khi đó ta sẽ có kinh nghiệm rất sống động và xác thực về một vị Chúa lưu ngụ trong đời sống của ta. Trong cuộc đời , tôi đã gặp nhiều cao thủ Thiền Lòng thương xót Chúa với kết quả cụ thể không những cho đời sống đơn sơ, vui tươi, đầy ánh sáng của họ mà còn có hiệu lưc trên  nhiều người mà họ cầu nguyện cho.

Chúc bạn qua kinh nghiệm của việc Thiền “Lòng thương xót Chúa” , lúc ba giờ chiều mỗi ngày trong đời , rồi ra , bạn có cơ hội thốt lên từ những trải nghiệm rằng:

Chúa kính yêu ơi ,

Ngài ngọt ngào và tuyệt hảo dường bao !

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CỦA ĐỨC MARIA

HÀNH TRÌNH ĐỨC TIN CỦA ĐỨC MARIA

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Khi nhìn ngắm các tượng ảnh Đức Mẹ, ta dễ có cảm tưởng rằng Đức Mẹ đã sống một đời bình an thư thái.  Vì các nghệ nhân thường tạo ra những hình ảnh về Đức Mẹ đẹp đẽ, hiền từ, dường như siêu thoát mọi cảnh khổ đau ở trần gian.  Khi ngợi ca Đức Mẹ là tuyệt mỹ, đầy ơn phúc, vô nhiễm nguyên tội, ta thường nghĩ rằng: Đức Mẹ đã được tạo dựng đặc biệt, hoàn hảo ngay từ đầu, thánh thiện từ khi sinh ra và mãi mãi là như thế, không tiến, không lùi, đẹp như một pho tượng đúc sẵn.

Nhưng nếu đọc Phúc Âm kỹ lưỡng, ta sẽ thấy hành trình đức tin của Mẹ không phải luôn luôn bằng phẳng, êm xuôi, dễ dàng.  Vì yêu thương, Thiên Chúa đã thanh luyện Mẹ, uốn nắn Mẹ.  Và vì thế đã để Mẹ trải qua những kinh nghiệm đớn đau khi tin nhận và bước theo Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ nhất: Thiên Chúa mời gọi Mẹ bỏ chương trình riêng để sống theo chương trình của Thiên Chúa.  Maria, một thôn nữ bình dị sống thầm lặng trong một làng quê nhỏ bé.  Cô muốn cuộc đời mãi mãi bình thản êm xuôi như thế.  Nhưng Thiên Chúa đã đến khuấy động đời cô.  Khi đề nghị Maria làm mẹ, Thiên Chúa đã mở ra trước mặt cô một lý tưởng cao đẹp, nhưng cũng đầy gian khổ chông gai.  Maria đã ngoan ngoãn thưa “Xin vâng.”  Lời thưa “xin vâng” của Maria làm ta nhớ đến tổ phụ Abraham.  Như Abraham đã từ bỏ quê hương, gia đình đi vào một tương lai bấp bênh theo tiếng Chúa mời gọi, Maria cũng đã từ bỏ chương trình riêng trong nếp sống bình dị, để đi vào chương trình của Thiên Chúa trong một tương lai bất ổn, hoàn toàn phó thác vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ hai: Thiên Chúa gửi đến cho Đức Mẹ nhiều đau khổ.  Vì nhận lời làm Mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria phải gánh chịu nhiều đau khổ.

Đau khổ thứ nhất là bị Giuse nghi ngờ.  Làm sao giải thích cho Giuse hiểu.  Làm sao tránh được búa rìu dư luận.  Không những bị nghi ngờ, mà còn nguy hiểm đến tính mạng nữa.  Thời ấy, những cô gái chửa hoang sẽ bị ném đá cho đến chết.  Nhưng vững tin vào Thiên Chúa, Đức Maria đã để mặc Thiên Chúa lo liệu dàn xếp mọi chuyện.  Ngài chỉ biết cúi đầu, thinh lặng vâng phục và phó thác.

Đau khổ thứ hai là Đức Maria đã sinh hạ Chúa Giêsu trong cảnh cơ bần: không nhà cửa, không giường chiếu, không mùng mền.  Thiếu thốn mọi phương tiện.  Chung số phận với súc vật.

Đau khổ thứ ba là bị vua Hêrôđê tìm giết nên phải trốn sang Ai Cập.  Con trẻ sơ sinh yếu ớt.  Sản phụ chưa được nghỉ ngơi lại sức đã phải đi lên đường trốn chạy.  Tuy nhiên, nỗi cực nhọc phần xác không sánh được với nỗi đau đớn trong tâm hồn: Tại sao lại mang lấy thân phận tội đồ?  Tại sao lại bị người đời thù ghét, săn đuổi?

Đối diện với những đau đớn ấy, chắc chắn niềm tin của Đức Maria phải lung lay, nghi hoặc:  Con Thiên Chúa mà phải chịu nghèo khổ, khốn cùng đến thế sao?  Tuy có chao đảo, nhưng Đức Maria vẫn phó thác và tin tưởng vào Thiên Chúa.

Cuộc thanh luyện thứ ba: Đức Maria bị dứt lìa khỏi Chúa Giêsu.  Niềm vui và hạnh phúc của người mẹ là đứa con, nhất là con một.  Con là tất cả của mẹ.  Con quý giá hơn chính mạng sống của mẹ.  Tách con ra khỏi mẹ khác nào lấy gươm đâm vào tim mẹ.  Thế mà Chúa Giêsu đã tách lìa Đức Maria rất sớm.  Phúc Âm ghi lại hai lần Chúa Giêsu từ chối Đức Mẹ.

Lần thứ nhất: Khi Chúa Giêsu lên 12 tuổi, cả nhà đi lên Giêrusalem dự lễ.  Tan lễ, Chúa Giêsu đã tự tiện ở lại, để thánh Giuse và Đức Maria đi tìm mất ba ngày.  Trong ba ngày đó, Đức Maria đã trải qua biết bao lo âu, sợ hãi, đau đớn, cực nhọc.  Vậy mà khi gặp cha mẹ, Chúa Giêsu đã nói: “Cha mẹ tìm con làm gì.  Cha mẹ không biết con phải lo việc cho Cha con ư?”  Lời này khiến cho Đức Maria buồn phiền không ít vì thấy đứa con từ nay thoát khỏi vòng tay của Mẹ.

Lần thứ hai: Khi Chúa Giêsu đi rao giảng, Đức Maria và mấy người bà con đến tìm Chúa Giêsu. Nhưng Chúa Giêsu không ra tiếp, lại còn nói những lời như chối từ liên hệ huyết thống:

“Kẻ nghe lời Cha ta và thực hành, người ấy là anh chị em và là Mẹ ta”.

Những lời nói và thái độ của Chúa Giêsu như thế chắc chắn khiến cho Đức Maria buồn phiền. Nhưng những lời nói và thái độ ấy cũng giúp thanh luyện Đức Maria khỏi những tình cảm riêng tư, những liên hệ sinh học tự nhiên để bước vào tình yêu rộng lớn của Thiên Chúa và tạo lập những dây liên hệ siêu nhiên với Ngài.

Cuộc thanh luyện cuối cùng: Đức Maria phải chứng kiến cái chết nhục nhã của Chúa Giêsu trên thập giá.  Còn gì buồn hơn khi mẹ mất con.  Còn gì đau đớn hơn khi mẹ thấy con chết đau đớn, tủi nhục giữa tuổi thanh xuân.  Ở đây ta cũng nhớ lại tổ phụ Abraham.  Để thử thách ông, Thiên Chúa đã truyền cho ông sát tế Isaác, đứa con trai duy nhất.  Đức Maria cũng được mời gọi hy sinh người con duy nhất của mình.  Đau đớn hơn tổ phụ Abraham vì Đức Maria phải chứng kiến hy lễ đó hoàn tất.  Khi mọi người trốn chạy, chối bỏ Chúa Giêsu, Đức Maria vẫn ở lại dưới chân cây thập giá đau nỗi đau của Chúa Giêsu, nhục nỗi nhục của Chúa Giêsu.  Và khi Chúa Giêsu trút hơi thở cuối cùng thì Đức Maria như bị mất tất cả, bị tước đoạt tất cả những gì yêu quý nhất.  Đứng dưới chân thánh giá, Đức Maria trở nên một người nghèo nhất.  Mẹ chẳng còn gì cho riêng mình.  Chẳng còn điểm tựa nào để bám víu, Mẹ chỉ còn biết phó thác trông cậy vào Thiên Chúa.

Như vậy Thiên Chúa đã dẫn đưa Đức Maria từ bỏ chương trình riêng tư, từ bỏ chính mình, từ bỏ những gì thân thiết nhất của mình, để đi vào chương trình của Thiên Chúa, để trọn vẹn phó thác cho Thiên Chúa.

Ngày nay khi lần chuỗi Mân Côi là ta ôn lại hành trình đức tin của Mẹ.  Hành trình đầy thử thách gian khổ nhưng cũng đầy chiến thắng vinh quang.

Xưa kia lễ Mân Côi được mừng để kỷ niệm cuộc thắng trận ở Lepante.  Ngày nay, khi mừng lễ Mân Côi ta mừng Đức Mẹ Maria đã chiến thắng chính bản thân, đã vượt qua hết những thử thách và đạt tới đích điểm của hành trình đức tin.

Lạy Mẹ Maria, xin cho con biết noi gương Mẹ, biết từ bỏ ý riêng mình để thực hiện ý Thiên Chúa. Xin giúp con can đảm vượt qua mọi thử thách và giữ vững niềm tin tưởng phó thác trong tay Chúa.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

Anh chi Thụ Mai gởi