Tình yêu đó cho em,

“Tình yêu đó cho em,
tháng năm trên từng phím Xuân lay,
đóa môi xinh giòng tóc mây bay”.

(Ngô Thụy Miên – Tình Khúc Mùa Xuân)

(Mc 1: 1-3)

Trần Ngọc Mười Hai

Gọi đó “Mùa Xuân” ư, ngay cả lúc: “Tình” anh cho em chỉ như “Xuân lay” trên từng phím, mà thôi sao? Gọi đó “Tình khúc” ư, đúng vào khi: đoá môi xinh trên giòng tóc… có mây trắng bao bọc, cả đấy chứ? Thôi thì, anh có gọi đó là “Tình Khúc Mùa Xuân” hay “Tình tự mùa…” gì đi nữa, cũng vẫn được. Miễn sao, anh để nghệ sĩ mình hát tiếp những câu sau, rồi sẽ tính:

“Mùa Thu lá heo may gọi về.

Mùa Ðông nắng hanh trên tuổi thề.

Mình đan nắng ru mây ước mơ xa vời.

Một hôm gió Xuân sang,

Mây lang-thang cài tóc em mang.

đến thăm em chiều nắng miên-man.

Rồi Thu đến sao em giận-hờn.

Rồi Ðông đến sao em lạnh-lùng.

Ðường phố vắng thênh-thang ru buồn gót chân”.

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Vâng. Nghệ sĩ nhà mình, hễ nói về mùa Thu là y như rằng: anh hay chị sẽ nói những là: “lá heo may”, “em giận hờn”.

Vâng. Rồi Đông đến, cũng lại có anh hay chị rày sẽ bảo: “Nắng hanh trên tuổi thề”, “Sao em lạnh lùng” rồi lại hát: đường phố thênh thang ru buồn gót chân, thôi.

Là thơ văn nghệ sĩ hay người viết nhạc, thì anh hoặc chị mới viết thế; chứ nếu là nhà Đạo như tôi/như bạn, hẳn ta lại sẽ như mọi người, nói nhiều về … tín-lý, giáo-điều luật-lệ phụng vụ, nghe u sầu, man mác, chốn thiên thu lu bù nhiều buổi.

Vâng. Giả như bạn và tôi có bảo thế, cũng chẳng có gì là quá đáng đâu! Bởi, với nhà Đạo mình, hễ ai nói triết-lý hoặc thần-học, lại sẽ dùng những cụm-từ khá “nho nhã”, cứng cỏi, nhiều biện-chứng, mà thôi. Chứ đâu như đấng bậc Dòng Chúa Cứu Thế ở Úc, từng là Giám-tỉnh một thời, nay lại thích kiểu tự-thuật giòng chảy Tin Mừng rất Mác Cô như sau:

“Tôi nay cũng đã già. Nên, xin bạn bỏ lỗi cho tôi, nếu tôi nói điều gì hơi lan man, mơ hồ, nhiều quên sót! Tôi đây lại cũng ngu dại, nên nếu có ai hỏi tôi điều gì về địa-dư, sử-ký hoặc nhân-văn, cũng đành chịu. Có vị khác lại những cho rằng: tôi hơi bị “đần”! Viết lách, thì chẳng hay ho/khéo léo gì cho lắm. Giảng-giải cũng chẳng được mấy ai nghe. Nhưng, thật tình mà nói, tôi có cố gắng nặn óc/vắt trán cho nhiều, cũng chỉ có thể ghi lại đây đôi ba giòng ký-sự vào những ngày trí nhớ với trí khôn của tôi, chưa cùn lụt.

Nhưng, với Ngài và về Ngài, thì tôi đây chẳng quên sót điều gì hết. Quên sao được, khi Ngài chinh-phục toàn-thể nhân-loại, mãi đến hôm nay! Ngài là niềm đam-mê tôi mến-mộ suốt một đời. Và tiểu sử Ngài, với tôi, vẫn là dấu-ấn thánh-thiêng từng đánh động tôi rất nhiều thời, và có lẽ cả những thời/những buổi sau này nữa.

Ấy chết! Dường như tôi vừa quên bẵng đi mất một điều là đã không tự giới thiệu chính mình với bà con người đọc về con người kém cỏi của tôi đây! Rỏ thật đoảng! Thôi thì, giờ đây, tôi xin làm cái việc ấy ngay tức thời, bây giờ nhé.

Vâng. Tên tôi vỏn-vẹn chỉ mỗi hai chữ: Mác-cô, thôi. Các đấng bậc đạo-hạnh/lành thánh lại cứ gọi tôi là “Máccô Thánh-sử”, nghe thế mới tội làm sao! Là độc-giả, hẳn bạn cũng nhớ ra, là: tôi đây, vốn dĩ được nhiều người biết đến, là do tôi đã cả gan viết lên nhiều trang giấy những Tin rất Mừng về bản chất “Người” của Ngài. Mọi người lại cứ đua nhau gọi đó là Tin-Mừng-theo-thánh-Mác-cô, mới đáng sợ. Vâng, nhìn từ góc cạnh nào đó, tôi cứ bị các vị cho rằng: tôi là tác-giả của Tin Mừng ấy. Nhưng thôi, hãy để tôi kể cho các bạn nghe: tôi đây, từng “đổ mồ hôi sôi nước mắt” mỗi khi nặn từng chữ và từng chữ cho cuốn ấy đó!

Quả là, quí bạn có lòng khoan-dung/độ-lượng lắm mới cho phép tôi khoe-khoang một chút về bản thân mình. Thế nên, nay tôi cũng học cách khoan-dung/lành sạch như thế. Nói cho cùng, tôi là kẻ đi tiên-phong sáng-chế ra lối viết gọi là Phúc âm, tựa như thế. Thế rồi, nhiều vị còn chịu khó tiếp nối công việc viết lách giống như tôi. Các vị ấy, làm cũng được việc lắm. Nhưng riêng tôi, vẫn là người tiên-phong khởi-xướng, công việc này, ngay từ đầu. Sao lại thế, ư?

Vâng. Người thời nay, thường hay chĩa mũi vào đời tư người khác. Nếu bạn đây, muốn biết thêm đôi chút lai-lịch đời tư của riêng tôi, thật cũng khó lòng. Bởi, trí nhớ của tôi nay tàn-tạ cũng nhiều sau bao năm tháng chộn-rộn đến thế, còn gì? Có thể, tôi cũng là người Do thái, La Mã hoặc gia dĩ thuộc giống giòng hào-kiệt xứ Syria, cũng không chừng. Thật tình mà nói, tôi cũng chẳng nhớ gì về mấy chuyện ấy, hết. Tín-hữu thời đầu như tôi, vẫn cứ pha-trộn giống nòi/giòng-tộc như thế. Cộng-đoàn nơi tôi sống, đã bị ảnh-hưởng cũng khá nhiều do truyền-thống của ông Phêrô và Phaolô, từng để lại. Hai vị ấy đều là vĩ-nhân. Và, riêng tôi lại có được cảm-hứng rất nhiều cũng là do từ các tư-tưởng của các ông Phaolô mà các bạn gọi là thánh tông-đồ là thế đấy!

Cộng-đoàn tôi khi ấy, vẫn không là thánh hội như các bạn từng gọi đâu. Có lẽ, bạn nên gọi chúng tôi là “cộng đoàn nhà-thờ” cũng đúng thôi. Bởi, nhóm/hội cộng-đoàn tôi chung sống, phần đông là những người Do-thái ở giai-cấp thấp; và mấy người khác lại cũng là người ngoài đạo như: đám “kinh-doanh”/mậu-dịch, hoặc dân-con chỉ sử-dụng cuốc xẻng, và đám người chuyên hầu hạ kẻ khác, mà thôi. Rất ít người trong chúng tôi là nghệ-nhân hoặc dân có học, hoặc đám người tuyển-chọn trong xã-hội đâu. Thành thử… thành thử… ừ nhỉ!” (xem thêm Lm Michael Gilbert CSsR, Mark my words, The Majellan Family số tháng 10-12 năm 2014, tr. 3-4)

Thế đấy là tự-thuật, lời lẽ của đấng bậc thánh-nhân, có tên tục là Mác-cô. Thế nhưng, xin bạn hãy dừng chân đứng lại đôi ba phút để nghe nghệ-sĩ đời cũng tự-thuật bằng đôi câu hát, vẫn cứ hỏi và hát một đoản-khúc như sau:

“Chiều còn mưa bay,

ướt bước chân mòn lãng du,

ướt áo cho tình thấm sâu.

Ướt đóa môi hồng hững hờ,

Rũ ướt cung đàn,

buồn dâng mây tím giăng ngang,

buồn vương ân ái phai tàn”.

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Vâng. Nghệ-sĩ đời thường hay hát thế. Hát rồi, người lại hỏi:

“Mùa Xuân đến chưa em?
Bước chân ai dìu tiếng mưa đêm,
vắng xa chưa giòng tóc mây bay?
Mùa Thu vẫn chưa nguôi giận hờn,
Mùa Ðông vẫn chưa thôi lạnh lùng,
Giòng lá cuốn em mang – trôi dài mãi trôi”.

(Ngô Thụ Miên – bđd)

Vâng. Lời vàng thánh-nhân khi xưa viết, vẫn như “Giòng lá cuốn em mang, trôi dài mãi trôi”. Lá cuốn trôi nghe còn được. Lời thánh-nhân, mà lại cũng trôi/cũng cuốn khiến “em mang”, e rằng hát thế rất không ổn cho cả người đọc lẫn người nghe. Thế nên, nghệ-sĩ hôm ấy lại đã hát thêm nhiều câu khác, hỏi rằng: “Mùa Xuân đến chưa em?” như sau:

“Mùa Xuân đến chưa em?
Bước chân ai dìu tiếng mưa đêm
Vắng xa chưa giòng tóc mây bay?
Mùa Thu vẫn chưa nguôi giận hờn
Mùa Ðông vẫn chưa thôi lạnh lùng
Giòng lá cuốn em mang – trôi dài mãi trôi.”

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Tự thuật về Ngài theo kiểu gọi-là-của thánh-sử Mác-cô, là nói cũng khá nhiều về đời và Lời của Thày mình, như hậu-duệ thời nay thêm đôi điều như sau đây:

“Những gì tôi viết ngắn gọn ở trong đó, chỉ là đôi giòng kể để người đọc lẫn người nghe có dịp thưởng-thức chuyện đời hoạt-động của Đức Giêsu, mà thôi. Tôi đây, vẫn muốn cổ-vũ mọi người hãy xác-tín và khai-triển niềm tin mình đạt được, từ nơi Ngài. Thời tôi sống, làm gì có lớp Giáo-lý, để kể những câu chuyện thần-thiêng thánh-hoá ra như thế! Câu truyện về Đức Giêsu-thần-tượng của tôi, hầu hết được các vị thừa-tác mang theo đây đó mà phổ-biến dần cho người chưa từng biết đến. Có những điều, được viết thành câu thành cú, có ý-tứ đầy đủ cả. Lại có những đoạn, những câu trong đó văn-vẻ không mấy gẫy gọn. Thế nên, tôi cố nhặt nhạnh/sắp-xếp thành cú-pháp, kẻo nó lạc mất lúc nào cũng không hay. Sắp xếp sao cho dễ hiểu, để bạn bè của tôi nơi cộng-đoàn kẻ tin dựa vào đó mà truyền sang cho người khác, nữa.

Công việc của tôi, không vì thế mà mọi người cứ tưởng là khá dễ. Nhiều lúc, vẫn thấy căng-thẳng, lại cũng khó hiểu vì chính tính-chất rất “người” của Ngài; vì cả lối sống lẫn ý/lời do Ngài mặc-khải ra ngoài. Một số nguồn-mạch tôi thu-thập, cũng chỉ để định ra rằng: Ngài là Đấng Mêsia đã chiến-thắng thu-hồi lại nguồn tài-nguyên nhân-vật-lực. Có chỗ, chỉ để nói lên sự việc Ngài từng làm như “sự lạ ít thấy” cốt mô tả Ngài là Công-nhân vĩ-đại giống như nhân-vật nọ kể ở phim truyện Harry Potter đa năng/đa dạng, thời hôm nay. Tôi nhất-quyết kể hết sự thật về Ngài. Dĩ nhiên, làm được thế, cũng cần có Chúa Thánh Thần gợi hứng/dẫn dắt, và hỗ trợ nhiều. Dù sao đi nữa, tôi vẫn là người chịu trách-nhiệm về lời kể trong các  trình-thuật mà tôi nghe/biết ngõ hầu đúc-kết, bấy lâu nay…” (xem thêm Lm Michael Gilbert, bđd)

Quả là, lời tự-thuật của sử-gia đầu đời về Lời Chúa cũng từa-tựa như thế. Như thế, tức: tác-giả Mác-cô là người “góp nhặt” và “sắp xếp” chuyên ghi chép các động-thái cũng như Lời vàng của Đức Giêsu, mà cộng-đoàn tiên-khởi hằng tin-tưởng bằng niềm tin không lay chuyển.

Công việc do Mác-cô thánh-sử thực-hiện, không đơn-giản như một số các thần-học-gia Kinh-thánh từng chú-giải. Trong số các vị này, cũng nên kể ở đây một số ý-kiến nổi-bật như sau:

“Vào Đại-hội Giới-trẻ Thế-giới năm 2000, thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã tặng cho mỗi người trong số hai triệu người có mặt những hai bản Tin Mừng theo thánh Mác-cô: một để giữ lấy cho mình, cuốn kia để tặng người khác. Trên trang mạng nối-kết toàn-cầu, có đến cả triệu địa-chỉ mạng dành cho thánh Mác-cô. Trong khi đó, thánh Mát-thêu chỉ được có 250 ngàn địa chỉ, và thánh Luca được 150 ngàn địa-chỉ thôi. Riêng Tin Mừng theo thánh Mác-cô là sách được dịch ra số lượng nhiều nhất và dịch ra nhiều ngôn-ngữ nhất thế-giới. Các trình-thuật do thánh Mác-cô ghi, lại cũng được diễn-xuất qua nhiều bản kịch nói nhất; và ngày nay, lại cũng được cho diễn rất nhiều lần, vào những năm tháng gần đây. Cùng một lúc, tác-giả Mác-cô lại chính là người ít được cảm-kích, biết đến. Đồng thời, sứ-điệp mạnh-mẽ và cấp-bách của thánh-nhân lại cũng bị nhiều tín-hữu bỏ qua, chẳng ngó ngàng gì cả.

Mới đây, lại có nhà phê-bình từng bảo: “Về Phúc Âm do thánh Mác-cô viết, có nhiều điều khác với tác-giả Tin Mừng khác. Thánh Mát-thêu thì dẫn-dụ chỉ bảo. Thánh Luca làm hài lòng người đọc lẫn người nghe. Thánh Gioan lại cứ đều đều một giọng điệu khá trầm trầm. Còn thánh Mác-cô ư? Thánh Mác-cô lại khiến mọi người để ý ghi vào tâm-khảm, mà suy nghĩ và thực hiện lời dạy trong đó. Thánh Mác-cô là tác-giả Tin Mừng từng kích-hoạt người đọc đầy kịch-tính nhất trong 4 Tín Mừng cả thảy…” (Loren Rosson)

Có nhà phê-bình Kinh-thánh nọ từng gọi thánh Mác-cô là nhà thần-học của sự mỏng dòn/dễ vỡ, nữa đấy!” (Yves Bourquin) (Xem thêm Lm Kevin O’Shea, Some Recent Insights Into the Gospel, Ausralian Catholic University workshop 02/9/2006, tr.6)

Ở một đoạn khác, diễn-giả trên lại cũng viết tiếp:

“Đọc Tin Mừng theo thánh Mác-cô, người đọc và nghe không hề thấy có chương/đoạn nào viết về thời thơ-ấu của Đức Giêsu hết. Nơi Tin Mừng này, ta gặp gỡ Ngài như bậc Niên-Trưởng tham-gia vào các vấn-đề quan-yếu của cuộc sống. Tác-giả Mác-cô giữ kín lai-lịch của Đức Giêsu. Ngài không thực-hiện các “sự lạ ít thấy” để minh-xác Ngài là Đấng Cao-cả. Ngài chấp-nhận mọi hiểm-nguy và luôn tạo nguy-hiểm cho uy-quyền trần-thế và cả sự sống để mang lại sự giải-thoát rất có tính hiền-lành/tử-tế của sự sống, tức: Vương Quốc Nước Trời cho người khác, dù việc ấy có mang đến cho Ngài nhiều bách-hại và cả đến nỗi chết nữa. Đức Giêsu ở Tin Mừng theo thánh Mác-cô, là Đấng không có uy-quyền nào trên chúng-dân thời đó hết. Ngài có uy-quyền trên hết mọi sức lực bất-nhân vốn dĩ chỉ muốn kiểm-soát con người mà thôi…” (xem thêm Lm Kevin O’Shea CSsR, bđd tr. 14)

Tựu-trung thì, có kể ra hay trích-thuật, cũng chỉ như thánh-nhân là người đầu-tiên từng làm công việc như thế ấy bằng vào lời khẳng-định ở đầu bài, như sau:

“Khởi đầu Tin Mừng Đức Giêsu Kitô,

Con Thiên Chúa:

Trong sách ngôn sứ Isaya có chép rằng:

Này Ta sai sứ-giả của Ta đi trước mặt Con,

người sẽ dọn đường cho Con.

Có tiếng người hô trong hoang địa:

Hãy dọn sẵn con đường của Đức Chúa,

sửa lối cho thẳng để Người đi.”

(Mc 1: 1-3)

Có tự-thuật hoặc ghi chép, kể lể nhiều điều cho chúng-nhân nghe, vào thời buổi này có lẽ cũng như người kể về sự-kiện tràn lan thời khoa-học vi-tính, như lời người mẹ dặn đứa con nào đó, những lời dặn sau đây:

“Con yêu,

Hiện tại, hẳn con rất tự-hào và phấn-kích khi đã trở-thành chủ cái iPhone. Điều này thật tuyệt, phải không con?! Con là cậu bé 13 tuổi tốt bụng và có trách-nhiệm, vì vậy, nhận món quà này là hoàn-toàn xứng-đáng. Nhưng, để sử-dụng nó, con phải tuân theo quy-tắc nhất-định. Hãy đọc kỹ những “luật” sau đây:

Con yêu,

Tất cả mong ước của mẹ là con sẽ trở-thành chàng trai khoẻ mạnh, có thể làm chủ công-nghệ chứ không phải là nô-lệ của nó. Nếu con thấy khó khăn trong việc tuân theo luật-lệ mẹ đưa ra, đồng-nghĩa với việc con mất quyền sở-hữu cái iPhone này!

Mẹ rất yêu con và mong chờ nhiều thật nhiều tin nhắn sắp tới của con từ chiếc iPhone này. Con đừng nặng-nề với những điều-khoản dưới đây! Nó chỉ là những bài học làm “kim chỉ nam” cho con trong cuộc sống.

1. Cái điện-thoại này là của mẹ. Mẹ đã bỏ tiền mua nó. Mẹ chỉ đang cho con mượn thôi. Như vậy là Mẹ quá tốt rồi, phải không?

2. Mẹ luôn biết mật-khẩu (password).

3. Nếu có người gọi đến, con hãy nghe. Hãy nói “Hello!” và luôn có thái-độ đúng mực. Không bao giờ được phớt lờ cuộc gọi đến từ bố mẹ.

4. Trả lại điện-thoại cho bố/mẹvào 7h30 tối hàng ngày và 9h tối vào cuối tuần. Điện-thoại của con sẽ tắt vào ban đêm và chỉ được mở lại vào 7h30 sáng. Hẳn con không thích ai gọi điện cho bạn vào ban đêm lại nghe thấy tiếng bố/mẹ bạn ấy trả lời?! Hãy học cách tôn-trọng khoảng thời-gian riêng của người khác để con cũng được tôn-trọng.

5. Không được mang điện-thoại đến trường. Hãy trò chuyện trực-tiếp với người con định nhắn tin nếu có cơ hội. Giao-tiếp là một kỹ-năng quan-trọng trong cuộc sống. Tin nhắn có thể giúp con kết bạn để duy trì nó, cần nhất sự chân-thành.

6. Nếu điện-thoại rơi vào WC, rơi xuống đất và hư hỏng hay bị mất… con phải chịu trách-nhiệm hoàn-toàn cho việc sử-chữa, đền bù. Vì đó là lỗi của con nên bất kỳ ý-định xin xỏ nào, mẹ cũng tuyệt-đối không chấp-nhận. Con có thể kiếm tiền bằng các vật như: cắt cỏ, trông em, dọn nhà…

7. Không được dùng phone để nói dối hay lừa lọc người khác. Không được nhắn tin hay gửi email có tính khích-bác hay sỉ-nhục ai đó. Gây tổn-thương cho người khác thì một ngày không xa con sẽ phải trả giá đắt.

8. Điện-thoại là để con giữ-gìn và củng-cố mối quan-hệ. Không phải để xem phim “đen” hay vào những trang web “bẩn” học điều xấu. Tất cả nội-dung tìm-kiếm trên web cần phải chia sẻ với bố/mẹ. Bố/mẹ quản-lý con quá chặt? Đừng nghĩ thế, con yêu! Là bố mẹ đang “bảo vệ” con và muốn dành điều tốt nhất cho con.

9. Tắt máy hoặc để mode “im lặng” khi con đang trong nhà hàng, rạp chiếu phim. Đừng để iPhone biến con thành người thô-lỗ!

10. Không được gửi hay nhận hình ảnh “khoe thân” nhạy cảm của con hoặc người khác. Nếu con không nghe lời thì dù thông-minh đến đâu cũng có ngày con bị cám dỗ và làm những việc phải hối-hận cả đời.

11. Không cần thiết phải chụp/quay quá nhiều video, Sự trải-nghiệm, cảm-nhận mọi thứ và bài học/kiến-thức rút ra mới là quan-trọng nhất.

12. Thỉnh thoảng hãy quăng điện-thoại đi mà vui sống. Đừng để điện-thoại ràng buộc, chi phối thời-gian của con. Hãy học cách sống thiếu nó!

13. Đừng chỉ chăm chăm cúi đầu vào điện-thoại khi ngồi cùng bạn bè/người thân. Có những khoảnh-khắc quí-báu mà con sẽ đánh mất đấy! Hãy nhìn ngó xung quanh, con sẽ nhận thấy cuộc sống thật nhiều điều thú vị và tươi đẹp.

14. Nếu không tuân-thủ những “luật lệ” trên, mẹ sẽ đòi lại điện-thoại . Chúng ta sẽ ngồi nói chuyện và bắt đầu lại từ đầu. Mẹ luôn bên con”. (Người trích dịch: Sưu-tầm)

Phải chi có những vị, những người cha/nguời mẹ nói cho con cái hoặc nói cho nhau nghe về cung-cách sống thực Tin Vui An Bình, thời mình. Phải chi, có đấng bậc vị vọng ở nhà Đạo mình từng trích-dẫn Lời thư của vị thánh hiền lành từng dẫn-dụ bà con trong Đạo những lời lẽ như sau:

“Anh chị em biết đấy! khi ở với anh chị em, chúng tôi đã sống thế nào để mưu-ích cho anh chị em. Còn anh chị em, anh chị em đã bắt chước chúng tôi và noi gương Chúa” (1 Th 1: 5)

Đó mới là, cốt lõi của việc sống Đạo trong đời sống. Sống, bằng cách “bắt chước chúng tôi và noi gương Đức Giêsu…”

Sống bắt-chước Chúa, bằng việc “rao báo Tin Vui An Bình nơi Lời Chúa. Chứ không bằng việc khuyến-dụ người ngoài Đạo trở-thành Công-giáo. Mà là: dẫn-dắt họ tìm đến Chúa, qua yêu thương/giùm-giúp những người sống chung quanh mình…” (xem thêm Lm Frank Doyle, Suy Niệm Lời Ngài năm A, Chúa Nhật thứ 30 thường niên năm A, nxb Tôn Giáo 2012 tr. 206)

Đó mới là truyền giáo theo đúng nghĩa. Truyền giáo, không là dụ dỗ người ở ngoài phải hồi-hướng-trở-về mà đi theo Đạo mình. Truyền-giáo, vẫn là và còn là rao báo cho nhau những Tin Vui An Bình mình sống. Mình chỉ sống Tin Vui ấy, nếu vẫn theo lời dạy của Bậc Trên, như một trải-nghiệm về cuộc sống rất An Vui, đầy tin tốt.

Thế đó, là chuyện phiếm đường dài ngày hôm nay, xin được gửi đến bạn và đến tôi, như một cảm-nghiệm trong đời, có cuộc đời đầy vui thú. Vui thú rất nhiều, để rồi bạn và tôi, ta sẽ hiên ngang mà hát lên những lời mà nghệ-sĩ đời từng vẫn hát:  

“Một hôm gió Xuân sang,

Mây lang-thang cài tóc em mang.

đến thăm em chiều nắng miên-man.

Rồi Thu đến sao em giận-hờn.

Rồi Ðông đến sao em lạnh-lùng.

Ðường phố vắng thênh-thang ru buồn gót chân”.

(Ngô Thụy Miên – bđd)

Đường phố hôm nay có “vắng thênh-thang ru buồn gót chân”, lần thần như thế, cũng chỉ vì em nhỏ của tôi/của bạn đã quên đi nhiều lời căn dặn để đời, rất quí giá.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn cứ mong

Cho chính mình sẽ không quên

những lời dặn

có Tin Vui An Bình

vào mọi thời.

Anh viết cho em bài thơ nho nhỏ,

“Anh viết cho em bài thơ nho nhỏ,”

Bài thơ xanh, ánh mắt hẹn tình cờ,

Có những chữ HOA yểu điệu

Không phải đại danh từ.”

(Dẫn từ thơ Đinh Hùng)

Ga 1: 6-8, 19-28

Mai Tá lược dịch

Thơ xanh anh viết, có chữ Hoa yểu điệu. Thờ Yêu Ngài biên, là nguồn tư-liệu Ngài gửi mãi đến cho ta hầu ta dàn trải đến với mọi người. Đây, cũng là ý thơ và ý-từ được thánh-sử ghi chép ở trình-thuật đầy chữ “Yêu”, vào Chúa Nhật hôm nay.

Chúa nhật hôm nay vẫn được gọi là “Chủ nhật Hồng” là vì ý nghĩa của sự vui mừng, trong phụng vụ.

Vào thời kỳ đầu của kỷ nguyên trong Đạo, mùa Vọng được coi như “Mùa Chay đến chậm”. Vào thời ấy, hai mùa Chay và Vọng thường kéo dài đến 5 tuần lễ. Cả hai đều được đánh dấu bằng nhưng phút giây kiêng khem, sám hối. Vào hai mùa sám hối và ăn năn như thế, tín hữu được phép có một Chủ nhật nhẹ nhàng, thư giãn, bớt chay kiêng nhiệm nhặt. Vào mùa Chay, Chúa nhật “Mừng vui lên anh em!” rơi vào tuần thứ ba, của chiều dài 5 tuần lễ.

Riêng Mùa Vọng, đến thế kỷ thứ X, được rút xuống còn 4 tuần, rất vừa đủ. Và vào thế kỷ thứ XII, thánh Giáo hoàng Grêgôriô Cả, lại cho phép giảm nhẹ tính nhiệm nhặt rất căng của Mùa này bằng một vài đổi thay trong việc chay tịnh, hành xác. Tuy nhiên, Chủ nhật Hồng gọi là Chủ Nhật “Mừng vui lên anh em!’ , rất phù hợp với điều mà Hội thánh muốn nhắn nhủ ta hãy nhìn trực diện vào ngày Chúa quang lâm, tái thế.

Để có thể nhìn trực diện vào một ngày như thế, ta thử quan sát nhân vật điển hình được ghi trong Phúc Âm: anh mõ làng. Anh “Mõ” hôm nay quyết hô to nơi hoang địa. Hô to, sứ vụ của Đức Chúa, để toàn thế giới nhận ra Ngài. Anh tên là Gio-an, một người chuyên trách chuyện tẩy rửa.

Qua Phúc Âm, ta nhận ra là: anh thuộc mẫu người đại diện cho lòng khiêm tốn, nhún nhường. Trách vụ của anh, là lo khai quang dọn dẹp mọi ngả đưòng đời để con người được tới với Vương Quốc của Chúa, ở thế trần. Ngày nay, có lẽ ta chẳng còn đánh giá thấp tài nghệ của cái-gọi-là “tài năng trẻ”, được phát hiện.

Phúc Âm hôm nay minh chứng: các chuyên gia này vẫn chọn Gioan Tiền Hô hay còn gọi “Tẩy giả”, để làm quan thày cầu bàu cho mình. Có giai thoại đời thường tương tự như trình thuật được kể hôm nay, đó là truyện: Fleming, nông gia nghèo sống ở Tô cách Lan, hồi thế kỷ thứ 19.

Một hôm, đang làm việc trên đồng ruộng, anh phát giác ra có tiếng khóc ré của em bé sơ sinh nào đó, từ đồng lầy, nước mặn. Fleming bỏ mặc đồ nghề, ù té chạy về phía có tiếng khóc , bèn thấy chú bé con đang nằm dẫy trong nôi, mình mẩy đầy bùn nhơ, đang ngoi ngóp giành lại sự sống quý báu, với tử thần. Chú bé mặt đỏ tiá tai, khóc gào không ngớt, Fleming bèn vực bé em ra khỏi nỗi chết đang rình rập.

Ngày hôm sau, Fleming đi lao động, lại thấy cỗ xe tứ mã tự dưng dừng lại, để hỏi thăm. Một người đàn ông dáng vẻ lịch lãm bước khỏi xe, đến gần chỗ Fleming đừng và tự giới thiệu ông là cha ruột của đứa trẻ mà Fleming đã cứu sống.Hôm nay, ông thân hành tìm đến Fleming để tỏ lòng cảm ơn anh, và muốn hậu tạ người ân nhân đáng quý, là anh.

Vốn nhà nghèo, nhưng Fleming nhất định từ chối. Quyết chẳng nhận tiền bạc của bất cứ một ai, bao giờ. Ngay lúc ấy, cậu con của Fleming xuất hiện ở thềm cửa, giương mắt nhìn và dõi theo câu chuyện đối đáp giữa cha mình và người khách lạ.

Đoán biết cậu này chắc là quý tử của ân nhân gia đình mình, nhà quý tộc đề nghị Fleming cho phép ông được đón cậu con trai anh lên tỉnh ăn học. Mọi chi phí ông sẽ nhận bảo trợ. Hai bên đồng thuận. Thiếu niên lên đường.

Bẵng đi nhiều năm, quý tử của nông gia Fleming đã tốt nghiệp tại trường y khoa nổi tiếng nhất của Anh Quốc, là đại học St Mary ở London. Anh chính là ngài Alexander Fleming, người đầu tiên phát hiện ra kháng sinh Pênixilin.

Ít năm sau đó, con trai của nhà quý tộc gặp hôm trước bị lên cơn viêm phổi, may nhờ có thần dược Pênixilin do Alexander Fleming khám phá ra, nên một lần nữa đã thoát chết. Nay, thế giới nay đã rõ danh tánh của nhà quý tộc nọ chính là ngài Randolph Churchil của Anh. Và người con thoát chết hai lần, lại là cố thủ tướng nước Anh, Winston Churchill.

Thánh Gi-an Thanh Tẩy, hiện thân cho Giáo Ước cũ, cũng đã nhận ra được là Đức Kitô đến với nhân trần, là vì con người. Cho con người. Bởi thế, thánh nhân mới khuyến khích bạn bè và thù địch hãy nhận biết Đức Giêsu chính là Giao Ước Mới. Giao Uớc Vĩnh Cửu mà Thiên Chúa đã ban cho nhân loại.

Tựa nông gia Fleming và ngài Randolph Churchill, thánh Gioan thanh tẩy có lẽ đã không nhận thức được điều mình làm, vào lúc ấy. Giống nhiều người chất phác, quê mùa nào khác, Gioan Tẩy Giả đã nhận chân Đức Kitô đích thực là Tình yêu mặc lấy hình hài rất khiếm khuyết của con người phàm trần.

Qua biệt tài khám-phá ra tài năng và qua hành động tiến cử Đức Giê-su, thánh Gio-an đã giúp cho tín hữu thời của Chúa, biết nhận thức và tin tưởng rằng những gì Đức Chúa hứa với tiền nhân thời Cựu Ước, nay thành hiện thực nơi Đức Kitô. Ngài chính là Giao Ước Mới, rất đích thực.

Thành thử, ta cũng chớ nên ngạc nhiên khi thấy Hội thánh chọn Gio-an Tẩy Giả là nhân vật chủ chốt rất thánh trong Tin Mừng hôm nay, là cốt để ta chiêm ngưỡng, và bắt chước. Đúng như ý nghĩa của Chủ Nhật Hồng “Mừng vui anh em!”, hôm nay.

Ta vui mừng, thật ra chẳng phải vì ơn cứu thoát đã nằm trong tầm tay của Đức Chúa. Mà vì, ta còn được kêu mời khám-phá ra tình yêu thương của Ngài, qua động tác nhân từ, hiền lành ta phải có.

Hôm nay, Hội thánh mời gọi và khuyến khích mỗi người chúng ta hãy ra công thực hiện và tiến cử hành vi nhân hiền mà chắc chắn ta phải và sẽ thực hiện. Thực hiện cho bằng được. Thực hiện, để lấy thiên nhiên vạn vật và ân sủng làm nòng cốt cho mọi công việc còn lại, cho ta.

Đó là ý nghĩa của mầu Hồng. Là, chủ đích của Chủ Nhật Hồng giữa mầu tím ngắt, nơi mùa Vọng. Một mùa, có sám hối, chờ mong. Hồng và tím, đó là niềm vui và hy vọng. Vui, vì Chúa đến. Hy vọng, vì Ngài sẽ lại đến lần nữa. Ngài đến nữa và đến lại, trong vinh quang Phục Sinh. Với mọi người.

Trong tâm-tình cảm-nghiệm điều Chúa nói ở trình-thuật, ta lại sẽ ngâm lên lời thơ trên, những vang vọng mà rằng:

“Chúng ta đi vào là hoa Tình Sử,

Hơi thở em hoà sương khói Đường thi.

Anh đọc cho em những giòng cổ tự

Ai-cập và cổ La-Hy.

Anh viết cho em bài thơ nho nhỏ,

Bài thơ xanh, ánh mắt hẹn tình cờ.

Có những chữ Hoa yểu điệu,

Không phải đại-danh từ.”

(Đinh Hùng – Đường Vào Tình Sử)

Quả rất đúng, đường vào Tình Sử, nhất thứ là thứ Tình của Đức Chúa là con đường đầy chữ Yêu. Chữ Yêu ấy, để ta còn sống thực suốt mọi thời, nơi trần thế, trong đợi chờ ngày Chúa đến với dân gian.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

TÔI ĐÃ ĐỨNG BÊN NGƯỠNG CỬA CỦA CÁI CHẾT

TÔI ĐÃ ĐỨNG BÊN NGƯỠNG CỬA CỦA CÁI CHẾT

Cà Cuống

Số là cách nay trên 10 năm, tôi đã đứng trên ngưỡng cửa của cái Chết.

Dr. Monsour rất có uy tín ở Houston, Texas, đã đích thân điều trị cho tôi, cuối cùng cũng phải tuyên bố bó tay (give up) trước căn bệnh viêm gan C mãn tính của tôi, ông còn lưu ý tôi là đừng mất công chạy chữa nữa, vì ông mà phải đầu hàng và cũng không còn thuốc nào trị nổi, thì không còn bác sỹ nào có thể giúp cứu mạng tôi được, dĩ nhiên tôi tin lời ông, vì tôi biết rõ khả năng và kinh nghiệm chuyên môn của ông, nhưng có lẽ vì cái máu tếu trong người tôi quá nhiều, nên tôi vẫn tủm tỉm cười.

Ông rất ngạc nhiên và hỏi tôi là không sợ chết sao mà còn cười được. Tôi bật cười thành tiếng, và trả lời ông rằng, nếu bác sỹ bảo tôi sợ mà thoát chết, thì tôi xin sợ ngay, còn nếu đàng nào cũng chết thì tại sao lại sợ.

Thực tế cho thấy là có những vua chúa giầu sang, quyền uy tột bực, với cả đàn ngự y tài giỏi, mà cũng vẫn chết, thì tôi là cái thá gì mà không chết, và khi đã biết là sớm muộn gì cũng phải chết, thì sợ cũng chết, vậy ngu gì mà sợ, cứ “enjoy to the fullest” những ngày còn lại, và “ready” để đáp chuyến tàu định mệnh đi đoàn tụ với vợ con tôi đã ra đi trước tôi.

Cũng xin nói thêm là trước khi phát giác ra bị lây nhiễm Viêm Gan C, vì vô máu quá nhiều trong một ca đại phẫu thuật trước đó khoảng mười năm, chết lên chết xuống, phải nằm bệnh viện tới cả hai tháng rưỡi.

Vào thời điểm đó y khoa chưa tiến bộ tới mức có thể “scan” để khám phá ra trong máu người hiến có virus gì hay không, nên tôi mới bị lãnh đủ.

Ông bác sĩ cũng cười theo, đồng ý với tôi, nhưng còn vớt vát rằng, đúng vậy, nhưng lần đầu tiên ông nghe một bệnh nhân chết đến nơi, mà vẫn dám lý luận ngang tàng như thế.

Ông hỏi tôi là tuy không bác sỹ nào có thể cứu mạng tôi được nữa, nhưng chính bản thân tôi có thể tự cứu mình được,  có muốn ông chỉ cho không.

Tôi đáp là tuy không sợ chết, nhưng nếu có cách gì kéo dài mạng sống để “enjoy” cuộc đời, thì dĩ nhiên là muốn chứ.

Ông tâm tình với tôi rằng, ông cũng đã chỉ cho nhiều người, nhưng chưa thấy ai có đủ ý chí mạnh mẽ và kiên nhẫn mà áp dụng được, vì nói ra thì tưởng dễ, nhưng làm được không dễ, nhưng ông cho là tôi có đủ ý chí qua sự đối đáp với ông, nên ông nghĩ là chắc tôi làm được, và nếu làm được, thì có thể sống khỏe mạnh thêm hai ba chục năm nữa, còn không thì chỉ trong thời gian ngắn, bệnh sẽ phát triển sang ung thư và hậu quả ra sao thì ai cũng biết rồi khỏi cần nói nữa.

Ông còn lưu ý tôi là nếu làm được và thấy có hiệu quả tốt thì nên phổ biến rộng rãi tới mọi người, coi như làm chuyện phúc đức vậy.

Bí quyết của ông là:

1/ Phải empty hoàn toàn cái đầu, không được để cái gì lảng vảng trong đầu. Khi có chuyện cần giải quyết, thì ngồi xuống lấy giấy bút ra mà “brainstorm”, rồi ghi ngay xuống giấy, sau đó phải “clear” liền cái “mind”, chỉ khi nào tới lúc phải giải quyết thì lấy cái “note” đó ra mà áp dụng như cái máy thôi. Nói thì tưởng là dễ, nhưng ai mà không có “bill” nọ  “bill” kia, lại còn bị những người chung quanh làm phiền tới mình, nhưng cần quyết tâm mà làm cho bằng được, vì đó là sự lựa chọn giữa lằn ranh sống và chết.

2/ Phải ráng cười thật nhiều, cười từ khi mở mắt buổi sáng tới khi lên giường ngủ buổi tối. Nếu tự mình không cười được, thì phải nghĩ cách chọc sao cho thiên hạ cười để có thể cười theo.

3/ Nếu có hoàn cảnh, có điều kiện thì nên đi du lịch thật nhiều, ngoại cảnh sẽ giúp cho hào hứng, quên đi căn bệnh chết người của mình.

Cà Cuống tui đã cân nhắc giữa tiền bạc và mạng sống, cuối cùng chọn lựa “retire” non vào tuổi 62, để có thể hoàn toàn nghỉ ngơi, và đi du lịch, đi “cruise” khắp nơi khắp chốn, đồng thời kiên trì luyện tập, vậy mà cũng phải mất trên 6 tháng mới có thể giữ cho cái đầu rỗng bông được.

Bây giờ thì không còn tham, sân, si, không còn thù hận, ghen ghét, đố kỵ ai, cho nên khi nhìn ngược vào cái đầu mình, thì chỉ còn thấy trống rỗng mà thôi.

Trong quá trình luyện tập, một hình thức như thiền vậy, đôi khi bị phân tâm, là thấy phía dưới xương sườn bên tay mặt như bị kiến cắn, hiểu ngay là “virus C” thừa cơ ra ăn lá gan, lại phải lập tức “clear” liền mọi sự cho cái đầu trống rỗng ra ngay.

Ai ghét bỏ, hay kiếm chuyện mắng chửi, cũng chỉ đáp lại bằng nụ cười tha thứ, và còn cầu xin ơn trên ban phước lành xuống cho họ nữa, không còn như hồi xưa, ăn miếng trả miếng theo kiểu “oeil pour oeil, dent pour dent” ngay.

Để có thể chọc cười mọi người, Cà Cuống tôi sưu tầm đầy một bụng tiếu lâm, để hoạt náo trên xe cho bà con vui cười trong những chặng đường dài, hầu quên đi mệt mỏi.

Và kể như đã thành công, cả hai căn bệnh chết người là viêm gan C mãn tính, gan đã bị xơ cứng tới 3/4, và tiểu đường nữa, nhưng nhờ bí quyết của ông bác sỹ tài ba chỉ dạy, mà cả hai căn bệnh hiểm nghèo đều vẫn còn “under control”.

“Empty” cái “mind” là chính yếu, còn cười và du lịch là hai cái phụ, nhằm hỗ trợ cho cái đầu mà thôi.

Kinh nghiệm bản thân là trên mười năm trước, ai biết tôi, kể cả bà vợ, cũng không tin là tôi có thể sống sót được, vì qua hai thời kỳ hóa trị (chemotherapy), mỗi kỳ sáu tháng, cộng chung là đúng một năm, tôi chỉ còn như cái xác chết biết đi.

Trước đó, tôi cân nặng 170 lbs, nhưng sau thời gian điều trị, bệnh đã không thuyên giảm, mà còn sụt xuống chỉ còn 110 lbs, không thể tự ngồi lên được, mà bà nhà tôi phải vực dậy, tóc rụng đầy gối, ăn không được, ngủ không được. Nhất là bộ mặt của tôi mới thực thảm thê, nó bị choắt lại nhăn dúm như trái ô mai khô, nhưng mầu sắc thì xám xịt lại như da người chết. Ai quen biết, và ngay cả bà nhà tôi, cũng tin chắc là tôi không thể nào qua khỏi.

Tôi rất biết ơn Dr. Monsour đã động viên tinh thần tôi, ổng nói là tin tưởng tôi có ý chí mạnh, nhất định sẽ làm được.

Và quả thiệt tôi đã làm được, trước sự ngạc nhiên của mọi người quen biết, trọng lượng đã leo dần từ 110 lên 142 lbs, ăn ngon ngủ khỏe, năm ngoái khi trở lại Sapa, vẫn còn có thể leo lên tận cổng trời với sự trợ giúp của cây gậy kỷ niệm, vật bất ly thân.

Tôi vẫn tiếp tục đi du lịch đều đều trên khắp 5 châu 4 biển. Riêng tại quê hương tôi, thì không còn xó xỉnh nào là không có dấu chân tôi, có nơi đi đi lại lại cả năm sáu lần, mà vẫn cảm thấy thích thú như thường.

Theo Dr Monsour, thì nếu áp dụng được bí quyết của ông, thì ngay cả ung thư cũng có cơ may thoát hiểm.

Tôi kể lại kinh nghiệm sống thực tế của tôi, theo lời dặn dò của ông bác sỹ tài ba và giầu tình người, để nếu ai chẳng may rơi vào hoàn cảnh như tôi, thì có thể vững niềm tin mà tự cứu lấy minh.

Đặc biệt là đừng bận tâm tới chuyện chết chóc, vì đó là quy luật tự nhiên của Trời Đất, có sinh là phải có tử, không ai có thể tránh né được, thì cứ hoan hỉ mà chấp nhận thôi. Do đó, tôi rất tin vào thuyết định mệnh, và luật Nhân Quả.

Mến chúc tất cả mọi người thật nhiều may mắn và luôn vui cười, như bản thân tôi đã từ cõi chết trở về, chỉ nhờ vào bí quyết trong đó có cười, đó cũng là lý do thúc đẩy Cà Cuống tôi khai sinh ra Câu Lạc Bộ Cười, hầu mang lại cho bà con bằng hữu những tiếng cười thật sảng khoái, cho cuộc đời lên hương, và trẻ mãi không già.

ĐTC: khiêm tốn để biết Chúa, quỳ gối để làm thần học

ĐTC: khiêm tốn để biết Chúa, quỳ gối để làm thần học

Chuacuuthe.com

1

VRNs (03.12.2014) – Sài Gòn- theo news.va- Những ai muốn học biết những mầu nhiệm nơi Thiên Chúa thì cần phải quỳ gối, vì Thiên Chúa chỉ mặc khải cho những tâm hồn khiêm nhường. Đó là những lời của Đức Thánh Cha trong bài giảng Thánh lễ sáng thứ Ba, 02.12 tại nguyện đường Santa Martha.

ĐTC nói rằng: Nơi đôi mắt người nghèo có khả năng nhìn ra Chúa Kitô và qua Ngài, họ nhìn thấy khuôn mặt của Thiên Chúa. Còn những người khác muốn hiểu mầu nhiệm nơi Thiên Chúa ngoài trí thông minh ra họ cần phải “quỳ gối” để học trong một thái độ khiêm nhường, nếu không “họ sẽ không hiểu được gì cả.”

Bài giảng của Đức Thánh Cha dựa trên đoạn Tin Mừng trong ngày theo Thánh Luca (x. Lc 10, 21-24) nói về mối liên hệ của Chúa Kitô trong việc Ngài ca ngợi và tạ ơn Cha.

Chúa Giê-su cho chúng ta biết về Chúa Cha, nói cho ta biết về mối hiệp thông sâu xa bên trong Thiên Chúa. Và những ai sẽ được Chúa Cha mặc khải cho? “Lạy Cha là Chúa Tể trời đất, con xin ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu kín không cho bậc khôn ngoan thông thái biết những điều này, nhưng lại mặc khải cho những người bé mọn”. Chỉ có những ai có tâm hồn bé mọn mới có khả năng đón nhận được mặc khải này. Đó là những tâm hồn khiêm nhường trong lòng, hiền lành, những người cảm thấy cần phải cầu nguyện, để mở lòng cho Thiên Chúa, những người muốn trở nên nghèo trước Chúa; chỉ những ai muốn sống các mối phúc thật: một tinh thần nghèo khó”.

Do đó, nghèo chính là ân huệ sẽ mở ra cánh cửa đến với mầu nhiệm Thiên Chúa. Ân huệ này đôi khi nơi những nhà nghiên cứu thần học có thể bị thiếu.

“Nhiều nhà thần học có khả năng nghiêu cứu rất tốt, rất chuyên chăm! Nhưng nếu họ làm thần học mà không biết quỳ gối, bằng một thái độ khiêm nhường như trẻ thơ, họ sẽ không hiểu bất cứ điều gì. Việc nghiên cứu sẽ cho họ nhiều điều, nhưng họ sẽ không hiểu bất cứ điều gì về mầu nhiệm Thiên Chúa. Chỉ với ai có tinh thần nghèo khó thì mới có khả năng đón nhận sự mặc khải của Chúa Cha qua Chúa Giêsu. Chúa Giêsu không như một viên đội trưởng, một vị tướng quân đội, một kẻ cai trị quyền lực. Không! Ngài giống như một chồi lộc. Như chúng ta nghe trong bài đọc I:. “Một chồi non sẽ từ gốc tổ Jesse mọc lên”. Ngài là một chồi nụ khiêm tốn, nhẹ nhàng, và hiền lành, để mang lại ơn cứu độ cho người bệnh tật, kẻ nghèo hèn, người bị áp bức.”

ĐTC cũng nói rằng mầu nhiệm nơi Chúa Giêsu là mầu nhiệm của sự khiêm nhường. Đó là mầu nhiệm mang đến “ơn cứu độ cho những người nghèo, mang lại sự an ủi vui mừng cho ngượi đau yếu, kẻ tội lỗi và những ai hoạn nạn.”

Trong Mùa Vọng này, chúng ta hãy nài xin Chúa đem chúng ta đến gần hơn với mầu nhiệm của Ngài và để làm được điều đó chúng ta hãy sống cách khiêm tốn, hiền lành, khó nghèo, cảm nhận mình là kẻ tội lỗi. Vì vậy Thiên Chúa sẽ đến và cứu chúng ta, giải thoát chúng ta. Xin Chúa ban cho chúng ta ân sủng này.

Hoàng Minh

Mạng lưới Xã hội Dân sự VN gởi thông điệp nhân ngày Nhân quyền Quốc tế

Mạng lưới Xã hội Dân sự VN gởi thông điệp nhân ngày Nhân quyền Quốc tế

RFA

Ngày Nhân quyền Quốc tế 10-12-2014

Ngày Nhân quyền Quốc tế 10-12-2014

Nhân Ngày Quốc Tế Nhân Quyền mùng 10 tháng Mười Hai, 24 tổ chức Xã Hội Dân Sự Việt Nam đã đứng chung trong bản thông điệp gửi toàn thế giới, phản đối mọi hành vi xâm phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trên luật pháp cũng như trong hành xử. Ngay sau khi bản thông diệp được công bố, Hải Ninh của Ban Việt Ngữ Đài Á Châu Tự Do đã có một cuộc trao đổi với Cô Nguyễn Hoàng Vy, người đại diện cho Mạng Lưới Blogger Việt Nam ký tên trong thông điệp nhân quyền 2014.

Hải Ninh: Được biết là những tổ chức xã hội dân sự ở Việt Nam vừa đưa ra một thông điệp nhân ngày nhân quyền thế giới, chị có thể tóm tắt nội dung của thông điệp này hay không?

Hoàng Vy: Nội dung của thông điệp mà tổ chức xã hội nhân sự đưa ra dịp kỉ niệm ngày quốc tế nhân quyền gồm có 5 nội dung chính.

Thứ nhất là phản đối hành vi xâm phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trên pháp luật cũng như trên hành xử. Thứ hai, yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam sửa lại Hiến pháp và luật lệ theo đúng tinh thần của bản tuyên ngôn luật pháp nhân quyền. Thứ ba, yêu cầu nhà cầm quyền trả tự do ngay tức khắc và vô điều kiện cho tất cả các tù nhân lương tâm. Thứ tư, yêu cầu nhà cầm quyền chấm dứt việc sử dụng bạo lực để chống lại các nhà hoạt động cho nhân quyền. Thứ năm, yêu cầu nhà cầm quyền phải tôn trọng những quyền tự do căn bản của con người.

” Thứ nhất là phản đối hành vi xâm phạm nhân quyền của nhà cầm quyền cộng sản Việt Nam trên pháp luật cũng như trên hành xử. Thứ hai, yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam sửa lại Hiến pháp và luật lệ theo đúng tinh thần của bản tuyên ngôn luật pháp nhân quyền…

Hoàng Vy”

Hải Ninh: Theo chị trong 5 điểm đó thì điểm nào chính phủ Việt Nam làm được ngay?

Hoàng Vy: Trong 5 điểm đó nếu thực tâm muốn thay đổi thì thay đổi được lập tức cả 5 điểm đó ngay bây giờ, nhưng mà để giữ được sự độc tài lãnh đạo của họ thì họ không muốn thay đổi. Chỉ có những điều họ có thể thay đổi để trao đổi với thế giới là trả tự do cho các tù nhân lương tâm để mà đổi lấy những vấn đề ngoại giao của họ.

Hải Ninh: Mình có nói là sửa lại Hiến Pháp mới theo luật nhân quyền thế giới, vậy sửa đổi hiến pháp như thế nào?

Hoàng Vy: Tức là sửa lại những điều trong hiến pháp và các luật lệ mà nó có các điều vi phạm vào các quyền tự do căn bản của người dân như là điều 4 trong hiến pháp hay là điều 88, điều 258, điều 79 những điều luật có thể bắt bớ hoặc cầm tù những người bất đồng chính kiến.

Hải Ninh: Chị mong đợi gì ở cộng đồng quốc tế khi đưa ra thông điệp này?

Hoàng Vy: Mình hi vọng là thứ nhất Việt Nam đã gia nhập và là thành viên của hội đồng nhân quyền của Liên Hợp Quốc thì với vai trò đó thì các nước trên thế giới họ giám sát chặt chẽ hơn việc thực thi dân quyền ở Việt Nam. Với uy thế ngoại giao của họ, họ sẽ áp lực lên chính phủ Việt Nam, buộc chính quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền.

Hải Ninh: Mạng dân sự việt Nam và mạng lưới blogger Việt Nam mà do chị đại diện sẽ làm gì để buộc nhà nước Việt Nam tuân thủ các vấn đề về nhân quyền?

Hoàng Vy: Cái khuynh hướng hoạt động của mạng lưới blogger Việt Nam như chúng ta đã thấy thì các blogger có các việc làm rất cụ thể để mà thúc đẩy nhân quyền ở Việt Nam từ dã ngoại nhân quyền đến chiến dịch 0258, rồi phong trào không bán nước, và mới đây là chiến dịch chúng tôi muốn biết. Khuynh hướng hoạt động của các blogger là không phát động một chiến dịch hay lựa chọn một công việc đòi hỏi những người tham gia là những người giỏi nhất can đảm nhất mới làm được. Chúng tôi muốn lựa chọn những mục tiêu cụ thể để đặt nhà cầm quyền vào thế tiến thoái lưỡng nan.

” Việt Nam đã gia nhập và là thành viên của hội đồng nhân quyền của LHQ thì với vai trò đó thì các nước trên thế giới họ giám sát chặt chẽ hơn việc thực thi dân quyền ở Việt Nam. Với uy thế ngoại giao của họ, họ sẽ áp lực lên chính phủ Việt Nam, buộc chính quyền Việt Nam phải tôn trọng nhân quyền

Hoàng Vy”

Và quan trọng nhất là phải lựa chọn những công việc đơn giản để cho tất cả mọi người ai cũng có thể tham gia, cũng có thể làm được. Mình tin rằng với hành động nhỏ bé của hàng ngàn người thì mới có thể làm nên cuộc thay đổi lớn và đó là tiêu chí là khuynh hướng hoạt động của mạng lưới blogger Việt Nam mà thúc đẩy vấn đề nhân quyền ở Việt Nam.

Hải Ninh: Khi mà chị nói đến vấn đề mà đặt nhà cầm quyền vào thế tiến thoái lưỡng nan, ý chị là thế nào?

Hoàng Vy: Tức là những việc làm của chúng tôi hoàn toàn là trên tinh thần là ôn hòa đặt nhà cầm quyền Việt Nam không thể nào có thể bắt bỏ tù những người tham gia những chiến dịch của chúng tôi như là dã ngoại nhân quyền, hoặc là ai cũng có quyền tham gia buổi dã ngoại nhân quyền, ai cũng có thể phát tuyên ngôn quốc tế nhân quyền hoặc là tham gia thảo luận về quyền con người trong các buổi cafe nhân quyền hay tham gia chiến dịch 0258, đi trao tuyên bố 0258 cho các đại sứ quán cũng như các cơ quan phi chính phủ, các cơ quan của liên hợp quốc. Ai cũng có thể tham gia vào phong trào không bán nước với những hoàng động rất cụ thể rất là nhỏ,rất đơn giản và tham gia được hết mà những điều đó không vi phạm vào bất cứ điều gì, nhà cầm quyền không thể dập họ vào bất cứ điều gì để bỏ tù họ được.

Hải Ninh: Ngoài những vấn đề vừa đề cập chị còn gì để bổ sung không?

Hoàng Vy: Chúng tôi hy vọng rằng thông điệp của chúng tôi sẽ được Liên Hợp Quốc và các nước, các cơ quan ngoại giao của các nước trên thế giới chuyển tới nhà cầm quyền, gây áp lực lên nhà cầm quyền phải thay đổi và tôn trọng nhân quyền tại Việt Nam. Bên cạnh đó thì chúng tôi cũng cam kết thực hiện việc phổ biến những kiến thức tổng quát về nhân quyền đến nhiều người dân hơn nữa để họ biết và họ quan tâm hơn nữa về vấn đề nhân quyền và cùng sát cánh với chúng tôi trong việc bảo vệ nhân quyền.

Thời Mạt Vận Của CS

Thời Mạt Vận Của CS

Vietbao.com

Gió đã đổi chiều đưa hai chế độ CS ở Trung Quốc và VN vào thời kỳ mạt vận. Đất lành chim đến, đất dữ chi đi. Dân Sàigòn là dân của thủ đô kinh tế của CSVN, một chế độ CS còn sót lại lớn hàng thứ hai, lại là 1 trong 5 thành phố trên thế giới người dân đem vốn qua Mỹ đầu tư theo qui chế đầu tư EB5 để được nhập cư ở lại như thường trú nhân, đông nhất trong năm 2014. Và Trung Cộng là chế độ CS lớn nhứt Á châu nhưng người dân đầu tư ra ngoại quốc nhiều nhứt.

Một, liên quan đến dân Saigon, tin của truyền hình IBC-TV, trích dẫn từ Hiệp hội Đầu tư Hoa Kỳ, theo một phúc trình của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, cho biết Sàigòn, cựu thủ đô của VN Cộng Hoà, hiện là thủ đô kinh tế của VNCS được xếp hàng thứ 4 trong 5 thành phố trên thế giới có người được cấp visa nhập cảnh đầu tư EB5 vào Mỹ đông nhứt. Ba thành phố dẫn đầu gồm Quảng Châu của Trung Quốc; Seoul của Nam Hàn, và Đài Bắc của Đài Loan. Thành phố Quảng Châu của Trung Quốc chiếm hàng đầu với 8.237 trường hợp được cấp visa vào Hoa Kỳ theo diện đầu tư nhập cư. Seoul có 149 trường hợp; Đài Bắc 97 trường hợp và Sài Gòn, Việt Nam với 92 trường hợp. Hạng thứ 5 là thành phố Abu Dhabi của Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất với 78 trường hợp.

Điều đáng lưu ý là Việt Nam và Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống Nhất qua mặt Nhật Bản và Mexico để lọt vào danh sách 5 thành phố hàng đầu của thế giới có nhiều thương nhân đầu tư vào Hoa Kỳ. Phúc trình này cũng tiên đoán rằng, các nhà đầu tư Trung Quốc ghi danh nhập cảnh Hoa Kỳ theo diện EB5 sẽ dẫn đầu danh sách này trong năm 2015.

Hai, dân ở Trung Cộng ra ngoại quốc đầu tư, hiện nay số vốn người TQ đầu tư ở hải ngoại lớn hơn số của các nước ngoài đầu tư vào TQ. Đầu tư của TQ ra ngoại quốc tăng lên 18% trong mười tháng đầu năm 2014. Đây là một cuộc đảo lộn của phong rào ngoại quốc đầu tư vào TQ vì nhân công rẻ. Bên cạnh những lý do tâm lý, chánh trị, TC đang bài Nhựt, cạnh tranh với Mỹ, bành trướng đụng chạm với nhiều nước Á châu Thái bình dương, còn có lý do kinh tế. Tiền lương của TQ tăng nên ngoại quốc không đưa việc làm vào TQ nữa.

Phong trào xuất ngoại đầu tư kinh doanh sản xuất này đa dạng và đa diện, khác hơn giai đoạn Đảng Nhà Nước TC mua các công ty ngoại quốc ở các nước để có đủ nguồn cung nguyên liệu quặng mỏ, lúa gạo nhập cảng vào TQ, nhứt là dầu lửa nên kinh tế TC cần đầu tư như con người cần hơi thở. Bây giờ người dân TQ lẫn các công ty của nhà nước bung ra mua lại các công ty ngoại quốc trong đủ mọi lãnh vực, từ thực phẩm đến kỹ nghệ cơ khí, và các công nghệ tiên tiến hàng đầu. Tổng số tiền TQ đầu tư ở các nước năm 2013 là 625 tỉ đô la. Con số thống kê chính thức của Nhà Nước TC cho thấy, trong vòng 10 năm, số đầu tư Trung Quốc ra ngoại quốc đã tăng gấp 30 lần.

TQ trở thành nhà đầu tư lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau Hoa Kỳ và Nhật Bản. Mỹ và Úc là hai nước được TQ đầu tư nhiều nhất. Nhưng đầu tư của TQ ở ngoại quốc cũng có nhiều bất trắc, không phải do ngoại quốc mà do trong nước nhà, Đảng Nhà Nước kiểm soát tài chánh, đòi hỏi điều kiện đầu tư quá nhiều. Thí dụ như điều kiện đưa nhiều công nhân và chuyên viên qua, các công trường, công ty của TC có lối sống đễ gây bất mãn cho người địa phương. Nên khoảng 80% đầu tư của TQ vào các mỏ ở nước ngoài đều thất bại.

Ba và sau cùng, Mỹ là đất lành cho người Việt nhập cư và quốc gia để người ngoại quốc vào đầu tư an toàn và lợi lộc bền vững nhứt. Tiêu biểu như 39 năm người Việt của VNCH ở Miền Nam đến Mỹ định cư trong cuộc hành trình đầy gian khổ, chết chóc nhưng cuộc định cư đầy thành đạt làm vẻ vang dân Việt. Một dân tộc VN yêu tự do, dân chủ, xây dựng nhân quyền đã rõ rệt trưởng thành trong lòng văn minh Tây Phương, trải dài từ Tây Âu, sang Bắc Mỹ, xuống Úc Châu. Một VN Hải Ngoại (Việt Nam D’Outre Mer) đã thành hình, như một nước Pháp Hải Ngoại (France d’ Outre- Mer) trong thời Đức Quốc Xã tạm chiếm nước Pháp, đã đấu tranh đem lại tự do, dân chủ cho nước nhà. Mà Mỹ là trung tâm điểm vì có gần hai triệu người, hơn phân nửa số người tỵ nạn CS trên thế giới. Tại Mỹ là trung tâm chuyển ánh sáng tự do, dân chủ, nhân quyển về VN, có Little Saigon người Việt hải ngoại thân thương gọi là thủ đô tinh thần của người Việt tỵ nạn CS. Little Saigon là nơi phát khởi phong trào Cờ Vàng Ba Sọc Đỏ của VNCH được hàng chục tiểu bang, hàng trăm quận hạt, thành phố của hơn phân nửa dân số Mỹ thừa nhận là biểu tượng của người Việt Nam tự do.

Về chánh trị, thế quốc tế của VN Hải Ngoại mạnh hơn của chế độ CS Hà nội vì CS Hà Nội chiếm được lãnh thổ, cướp được chánh quyền, mà không lãnh đạo được nhân dân, không thống nhứt được non sông mà đoàn kết được dân tộc. Quốc Hội Liên Âu, Mỹ, Úc, trái tim của nhân dân và chánh quyền tiến bộ các nước tự do, dân chủ trên thế giới đứng về phía chánh nghĩa đấu tranh cho tự do, dân chủ của người Việt Hải Ngoại, trong thời đại kinh tế toàn cầu và dân chủ hóa hoàn vũ được văn minh Tin Học yểm trợ. Người Việt tại nhiều nước trên thế giới, nhứt là tại Mỹ đã đi vào dòng chánh chánh trị, chánh quyền, quân đội. khoa học kỹ thuật, thể dục thể thao, nghệ thuật thứ bảy, truyền thông của Tây Phương.

Về kinh tế, VN hải ngoại, người Việt đã vượt qua thời kỳ chân ướt chân ráo nơi quê hương mới, một cách thần kỳ. Tự do, dân chủ rõ rệt là điều kiện tiên quyết của phát triển kinh tế. Mỗi năm người Việt Hải Ngoại chỉ gởi cho không để giúp bà con cô bác, bạn bè – chơi chơi thôi – con số đã trên mấy tỷ Đô la. Theo thông lệ số tiền gởi cho của những người định cư ở Mỹ như dân Hispanics, Phi luật Tân, Trung Đông, số tiền cho chỉ chiếm dưới 5%, số tiền kiếm được. Lợi tức đồng niên hải ngoại tính trên đầu người nhiều hơn cả trăm lần trong nước. Theo Ngân Hàng Thế giới trung bình một người Việt trong nước chưa đến 450 Đô/năm

Về văn hóa xã hội, tại Mỹ cũng như tại Tây Âu, Úc Châu, tuy chưa có số thống kê khoa học, con số ước lượng người Việt Hải Ngoại tốt nghiệp đại học 4 năm trên 25% dân số hải ngoại. Nói gọn cứ 4 người Việt Hải Ngoại thì có 1 người tốt nghiệp đại học 4 năm tại các trường đại học trình độ giảng huấn văn hóa, khoa học, kỹ thuật tân tiến nhứt hoàn cầu. “Chất xám” của người Việt Hải Ngoại là cái CS Hà nội thèm muốn nhứt, nhưng dù khan cổ gọi mời, trí thức VN Hải Ngoại đi VN thăm quê hương, thăm người thân thì có, ở lại với CS thì không.

Tiếng Việt hải ngoại đã tiến triễn theo đà tiến hóa của ngôn ngữ, tiếp nối dòng ngôn ngữ Việt của người Việt Quốc Gia trong bao thời kỳ độc lập VN, Ngô, Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn, Đệ nhứt, Đệ Nhị Cộng Hòa, và vẫn trường tồn và phát triển sau 3 lần Bắc Thuộc, 1 lần Pháp Thuộc, và CS đọa đày. Những “từ CS” như “hồ hỡi, phấn khởi, sô vanh, ưu việt, đồng tình”, thành tử ngữ (langue morte). Ở hải ngoại người Việt còn phát huy thêm những chữ nghĩa liên quan đến chánh trị tự do, dân chủ và khoa học kỹ thuật là những chữ VN còn thiếu vì hoàn cảnh lịch sử và chiến tranh của nước nhà trước năm 1975. Báo chí, truyền thông sách vở hải ngoại phát triễn ngoài sức tưởng tượng. Điều đó cho thấy quyền lực mềm của tự do, dân chủ đã làm gió đổi chiều đưa đẩy CS vào thời kỳ mạt vận./.(Vi Anh)

Thôi cũng đành một kiếp trăm năm,

“Thôi cũng đành một kiếp trăm năm,

đời người sẽ qua.”
“Cũng đành một thoáng chiêm bao,tình người cũng xa.
Cũng phôi pha,những điêu ngoa theo vết môi cười tàn tạ.

(Từ Công Phụng – Chiếc Que Diêm)

(Lc 19-29-31/1Cr 12: 13)

Trần Ngọc Mười Hai

“Một kiếp trăm năm” ư? Ối chao, mọi sự rồi cũng xong và “đời người rồi (cũng) sẽ qua”. “Một thoáng chiêm bao” sao? Ối chà! Quả thật “tình người cũng xa”, “vết môi cười (rồi cũng) tàn tạ”, mà thôi.

Vâng. Đúng là như thế! Đời người và tình người, nào khác xa những thứ và những sự như tình của người đời, giống truyện kể để mào đầu cho chuyện thần-học, khô lông lốc. Trước hết, ta hãy nghe câu truyện kể cũng ngắn gọn, ở bên dưới:

“Truyện rằng:

Có chàng trai nọ, đi đây đó rất nhiều ngày trong đời mình. Ấy thế mà, anh vẫn không cẩn trọng, để đến nỗi gẫy mất ống quyển ở chân trái, đành phải bó bột cũng khá lâu. Thoạt vào lúc tháo băng, bác sĩ có xem xét rồi dặn dò anh đừng nên đi cầu thang nữa, kẻo bị lại như lần trước. 4 tháng sau, anh trở lại phòng mạch bác sĩ nói trên để tái khám, đã vội hỏi:

-Thưa bác sĩ, nay tôi đi cầu thang được chưa?

-Được thì vẫn được! Nhưng, anh vẫn phải thật cẩn thận đó, kẻo nguy to.

Nghe vậy, anh bèn thở phào nhẹ nhõm rồi tuyên bố với phân trần, rằng:

-Đỡ quá chừng chừng. Mấy tháng nay, làm thằng bé cứ phải trẻo qua cửa sổ rồi tuột theo đường ống nước, đến là cực!”

“Đến là cực”, còn là trải-nghiệm vẫn nhận thấy đằng sau câu hát của ai đó, hay của người nghệ-sĩ vẫn hát những câu sau đây:

“Thôi cũng đành một kiếp phong ba, lệ tình cũng xa.
Xuống đời ta những nguôi ngoai, rồi người cũng xa.
Cũng xa ta, cũng xa ta theo dòng nghiệt ngã mù lòa.
Vì lời em sớm muộn gì cũng một lần gian dối.
Tình anh sớm muộn gì cũng đưa vào tăm tối.
Đời anh sớm muộn gì…
Đời em sớm muộn gì…
Tình ta sớm muộn gì… cũng hấp hối!…
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau,
những men nồng tình sâu rã rời.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Những câu như thế, hát hoài hát mãi vẫn không chán. Nhưng, sao nghệ sĩ nhà mình lại cứ thêm những câu chưa quen tai, như thể để ví von đời mình, như:

“Thôi cũng đành như chiếc que diêm một lần lóe lên.
thắp đời em sáng lung linh, buồn một cõi riêng.
Những đêm sâu, những canh thâu,
nghe nước mắt nặng giọt sầu.
Thôi cũng đành như kiếp rong rêu, một lần hóa thân.
cuốn về phong kín tim ta một đời chói chang.
Những đam mê, những ngô nghê.
với tình người nhỡ lời thề,
Thôi cũng đành như tấm gương tan, mờ phai vết xưa.
Xót giùm cho tấm thân ta ngựa bầy đã xa.
Những đêm mơ thấy tan hoang.
Hương tình vừa chớm muộn màng.

(Từ Công Phụng – bđd)

Ấy đấy! Đời người và đời mình đẹp như thế, mà sao người xưa vẫn cứ hát hò và so sánh với que diêm hay que củi, đến là tàn tạ.

Vốn là nghệ sĩ, thôi thì anh có ví-von so-sánh với đời người thế nào cũng được. Đằng này, đường đường một đấng anh-hào, ở nhà đạo, mà anh lại cứ “nhi nhô” dăm ba câu tuyên bố với giảng giải những điều mà mọi người đều nghe từ thời đức thày Alexandre de Rhodes, thế mới chết không.

Vâng. Nhắc đến cố đạo thời cổ, bần đạo lại nhớ đến sự-kiện xảy đến vào năm 2012 khi ghé viếng thủ-phủ mang tên Esfahan ở Iran, bất chợt gặp được mộ-phần của vị cố đạo vinh-quang một thời làm thừa sai tiên-phong ở miền đất rất A-na-mít, nhưng lại lìa trần chốn lặng thinh lặng ở miền đất, rất đạo Hồi. Cố đạo Alexandre De Rhodes (1591-1660), mà tiếng Việt mình lại phiên-âm là: A-Lịch-Sơn Đắc-Lộ nghe chẳng khác nào A-lịch-Sơn Đại Đế, đến là thế.

Phải công nhận, là: cố đạo A-Lịch-Sơn rất Đắc Lộ từng có công-đầu đậm-sâu với nền ngôn-ngữ La-Bồ-Việt một thời. Nhưng, về thần-học, đức thày lại chuyên-chở mãi hình-thức sống đạo rất ư “buồn tình” mà người đời nay cứ diễn tả bằng những “câu chuyện đời” đầy ý-nghĩa của chuyện anh đã hứa, như thứ văn hoá của những hứa hẹn như sau:

“Hứa và hẹn rằng:

“Anh sẽ nhận em làm vợ, và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em. Khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, lúc ốm đau hay khi khỏe mạnh, lúc hoạn nạn hay khi bình an, anh hứa sẽ yêu thương và tôn trọng em mỗi ngày, suốt đời anh.”

Đám cưới diễn ra một cách tốt đẹp. Cô đồng ý lấy anh, một nhân viên IT khô khan và ít lãng mạn. Còn cô là giáo viên dạy vũ đạo, duyên dáng và xinh đẹp, các chàng trai theo đuổi cô không ít. Và, cũng không ai lọt vào mắt xanh của cô. Nhưng khi anh đến, anh yêu cô bằng tình yêu chân-thành và hoàn-toàn lấy lòng gia đình cô, bạn bè cô cũng ủng-hộ anh. Anh làm việc lương không cao, cũng không đẹp trai, thậm chí anh không phải là mẫu người cô thích, thế mà cô lại lấy anh. Đôi lúc, cô cũng không hiểu vì sao cô lại đồng ý lấy anh.

Sau đám cưới, anh và cô ra riêng, cuộc sống của hai người dù ít tiếng cười nhưng chưa bao giờ có chuyện cãi cọ, buồn phiền; và, cô thấy anh cũng không đến nỗi khô-khan như cô nghĩ, những ngày lễ như valentine, 8/3…. Cô đều có hoa quà từ nơi anh. Có thể nói, anh là người chồng rất tốt. Hàng ngày anh chở cô đến chổ dạy, rồi mới đến công-ty làm việc. Cuối tuần, anh chở cô về bên ngoại, hoặc gặp-gỡ bạn-bè. Và, anh luôn cố gắng làm cho cô hạnh-phúc.

Nhưng rồi cuộc sống đã không cho họ hạnh-phúc được lâu dài, lại phải đối mặt với cuộc sống mới, một cuộc sống thật khó chấp nhận… Một hôm, đang làm việc, anh nhận được điện-thoại của cô, nhưng không phải là cô mà là giọng nói khác:

-Xin lỗi, anh có phải là chồng của chị Diễm không ạ?

-Ai đang dùng điện thoại của vợ tôi vậy.

-Em cùng làm với Diễm, anh…anh vào bệnh viện ngay đi, Diễm mới bị tai nạn, đang cấp cứu ở bệnh viện Chợ Rẫy.

-Sao…Sao vậy, có chuyện gì với Diễm vậy, giọng anh như lạc đi, nghẹn ngào, anh không tin vào chuyện đang xảy ra.

-Anh vào bệnh viện nhanh đi.

Nói rồi người đó cúp máy mà không giải thích gì thêm. Anh lo lắng, hoảng hốt chạy vào bệnh viện, một lúc sau ba mẹ anh và ba mẹ cô ấy cũng đến, mọi người đều không hiểu chuyện gì đang xảy ra. Sáng nay, anh và cô đang vui vẻ ăn sáng với nhau, thế mà….

Sáu tiếng phẩu thuật là sáu tiếng anh đứng ngồi không yên, lòng như lửa đốt. Thấy vị bác sĩ trọng tuổi bước ra khỏi phòng phẫu-thuật, anh hỏi:

-Vợ tôi sao rồi, bác sĩ?.

-Tạm thời cô ấy đã qua cơn nguy kịch, còn phải ở lại bệnh-viện để kiểm tra thêm- ông thở dài- nhưng có lẽ cô ấy khó mà đi lại được. Thông báo của bác sĩ làm anh chết lặng, cô là giáo viên vũ đạo, nếu không đi lại được thì chắc cô chết mất, anh đến bên cô, nhưng không biết nên nói gì. Lúc đó anh ao-ước, giá như anh chịu đựng được những gì cô đang gánh chịu… Nhưng đó là điều không thể xảy ra.

Sau ba tuần ở bệnh viện, cô về nhà trên chiếc xe lăn, khuôn mặt phờ phạc, cả ngôi nhà như u-ám hẳn đi. Từ khi cô biết cô không thể đi lại được nữa, thì mọi thứ xung quanh cô dường như đã chết. Cô không thể nhảy múa được nữa, nghĩa là không thể làm những gì cô yêu thích; với cô, như thế chẳng khác nào chết nửa cuộc đời..

Và cũng từ đó, anh cố gắng để thấy cô cười, bây giờ, mọi việc trong nhà đều do anh một tay sắp xếp, từ giặt dũ đến nấu ăn. Cô thì vẫn thế, lúc nào cũng u buồn.

Mỗi buổi sáng, anh cố gắng dậy sớm, dọn điểm tâm cho cô ăn, anh luôn gọi cô dậy sau khi mọi thứ đã chuẩn bị xong.

-Bà xã!, dậy ăn sáng đi, anh chuẩn bị xong hết rồi- anh vừa nói vừa lay cô dậy

-Anh để em yên. Em không thích ăn gì hết, để em yên- cô gắt lên.

Anh để chiếc xe lăn bên cạnh giường và chuẩn bị đi làm, chính anh cũng không biết nên làm gì để cô thoát khỏi hoàn-cảnh hiện-tại. Bây giờ gánh nặng gia-đình đặt cả lên vai anh, tai nạn của cô cũng đã tiêu-tốn hết số tiền mà hai vợ chồng dành-dụm được, giờ anh phải làm việc thật cật-lực, để có tiền lo cho cô, nhưng anh chưa bao giờ bỏ cuộc hay gục ngã, ngoài công việc ở công-ty anh còn nhận thêm các công việc khác như: thiết-kế trang “web”, lập-trình phần mềm, bất cứ việc gì có thể làm ra tiền anh đều làm, đêm nào anh cũng thức đến nửa đêm. Và, anh vẫn luôn yêu cô như ngày nào. Và, cô nhờ anh cũng dần dà lấy lại được niềm tin trong cuộc sống.

Anh cố gắng tiết-kiệm để mua thêm cho cô một cái “laptop” để cô tiện nói chuyện với bạn bè, khỏi lạc lõng những lúc vắng anh. Mỗi chiều đi làm về, anh đều đưa cô dạo quanh khu phố, để cô tìm được chút niềm vui. Anh nấu những món ăn cô thích, ở đâu có bác sĩ giỏi anh đều sắp-xếp thời-gian đưa cô đi chữa bệnh. Anh chưa bao giờ từ bỏ, luôn động-viên cô phải cố-gắng, nỗ lực. Công việc chăm-sóc của anh làm cho cô thấy ấm lòng, cô không còn tự-ti vì đôi chân tàn-tật nữa, cô bắt đầu học cách chấp-nhận nó. Nhưng đôi khi, vì sự chăm sóc của anh khiến cô thấy tủi thân, cô thấy mình mắc nợ anh nhiều quá

Một hôm, đang giặt quần áo thì nghe tiếng xoong chảo leng keng trong nhà bếp, anh chạy vào thì thấy cô đang cố gắng để nấu món gì đó

– Em đang làm gì vậy?

– Hì, em định nấu bữa tối- cô nhoẻn miệng cười.

– Thôi, em nghỉ ngơi đi, mấy chuyện này để anh lo.

– Nhưng mà em muốn nấu- cô phụng phịu

– Cái bếp cao vậy sao em nấu được, cứ để đó cho anh, em không thấy là anh phải lo đủ chuyện rồi sao, đừng làm anh lo lắng thêm nữa…

Cô lặng lẽ đẩy xe vào phòng, mắt nhòe đi. Cô thấy mình thật vô dụng, những việc tầm-thường của đàn bà con gái mà cũng không giúp được anh. Mấy ngày sau cô vẫn buồn vì chuyện đó.

Anh càng chăm sóc cô, cô càng thấy mình vô dụng, đôi lúc ý-định tự-sát chợt lóe lên trong đầu cô, nhưng cô đã không làm thế, vì cô rất yêu anh. Mỗi đêm, anh ôm cô và thì thầm: “Ngủ ngon em nhé, mọi chuyện rồi sẽ ổn thôi”. Nhưng cô chưa kịp say giấc thì anh lại trở dậy, lại lọc cọc/lạch cạch với máy tính khô-khan, tự nhiên lòng cô quạnh thắt, rồi những suy-nghĩ mong-lung cứ chập chờn trong đầu cô: “Nếu không vì mình, anh đâu phải khổ-cực như vậy, tất cả là tại mình, giờ mình nên làm gì đây. Một ý nghĩ lóe lên trong đầu cô: LY HÔN.

Chiều hôm sau, khi anh vừa đi làm về, trên bàn đã có sẵn tờ giấy, anh cầm lên đọc, nét mặt sa sầm lại, đó là đơn ly-hôn, cô đã viết và đã ký.

– Cái này là sao đây- anh chìa tờ giấy ra trước mặt cô

– Em không muốn làm khổ anh nữa, anh ký đi

Anh suy nghĩ một lúc rồi hỏi lại cô: “em thực sự muốn anh ký thật chứ?”. Cô nhìn anh gật đầu. Anh im lặng, đi chuẩn bị bữa tối, ăn xong thì anh đi đâu mất. Tối đó, cô ở một mình, rất lâu rồi cô mới ở một mình trong đêm tối, tự nhiên cô thấy lạc lõng, nỗi cô đơn như đang gặm nhấm dần trái tim cô.

Đã nửa đêm, anh vẫn chưa về, “anh đi đâu?” Cô bắt đầu lo lắng và không biết nên làm gì ngoài việc khóc, cô thấy nhớ anh vô cùng, rồi cô ngủ thiếp đi. Khi thức giấc đã là 9h sáng, anh vẫn chưa về, cô trở mình, phải khó khăn lắm cô mới lên được chiếc xe lăn, cô đẩy xe đi một vòng quanh nhà, sao mà cảm giác u-ám quá, cô muốn ăn cái gì đó, nhưng chẳng ai giúp được cô lúc này. Đành vậy, cô quay về phòng, chẳng biết làm gì, đầu óc trống rỗng.

Khoảng 11h thì anh về, tay cầm ít rau củ, để nấu bữa trưa. Sau một lúc thì xong, anh đẩy cô ra bàn ăn. Cô chẳng nói gì, chỉ lặng lẽ ăn, cũng không dám nhìn anh. Đang ăn thì anh nhìn quanh và nói:

– Anh mới vắng nhà có một đêm, sao mà bừa bộn quá vậy, chén bát chẳng ai rửa, quần áo cũng chẳng ai giặt, nhà cửa cũng chẳng ai lau, nói rồi anh thở dài…

Tự nhiên cô thấy miếng cơm trong miệng chát đắng, cô biết anh đang trách móc cô, nhưng biết làm gì hơn. Rồi anh nói tiếp:

– Còn em nữa, chân em như vậy, bộ muốn anh ký vào tờ giấy đó thật hả?

– Dạ…em trả tự do cho anh, em không muốn anh phải khổ vì em nhiều nữa

– Thế anh ký rồi em sẽ ra sao, em suy nghĩ kỹ chưa?

– Rồi anh à

– Không hối hận chứ? anh ngừng đũa hỏi.

– Thì em đã ký rồi, giờ chỉ còn anh quyết định thôi.

Anh rời bàn ăn, một lúc sau anh quay trở lại, trên tay anh cầm một con lật đật bằng gỗ, ngày xưa anh tặng cô, anh để con lật đật xuống bàn rồi đẩy nó ngã xuống, nó lại đứng bật dậy như chưa từng ngã, anh nói:

– Cuộc sống có đôi lúc làm chúng ta gục ngã, nhưng chúng ta phải biết cách đứng dậy em à, em tàn tật thì sao chứ, không đi được thì sao chứ, hãy để anh làm đôi chân cho em nhé, đừng có tự-ti nữa.

Mắt cô bắt đầu nhòe đi vì những lời anh nói.

– Nhưng em….

– Không có nhưng nhị gì hết, em có nhớ những gì anh đã nói trong hôn lễ không, anh hứa sẽ yêu thương và tôn trọng em suốt đời anh, dù có chuyện gì xảy ra- anh nắm lấy tay cô- hãy để anh thực-hiện điều đó em nhé, Anh Yêu Em!!!.

Cô òa khóc như một đứa trẻ, những giọt nước mắt hạnh-phúc lăn dài trên má cô

– Em xin lỗi, em không bao giờ để anh phải buồn nữa đâu, em cũng yêu anh.

Anh đưa tay gạt đi những giọt nước mắt trên má cô:” Đừng khóc nữa, nước mắt hòa với cơm mặn lắm đó, em biết không hả?” (Truyện kể do tác già “St” sưu-tầm và phổ-biến)

Đọc đến đây, hẳn sẽ có ai đó nhạt-nhoà nước mắt? Nghe truyện kể do nhứng người từng sống trong đời kể về đời người, nhà Đạo mình hẳn sẽ tưởng tượng tình-huống ấy, như những thứ mà cố đạo xưa lại gọi đó là “luyện ngục” hoặc tệ hơn, là: “hoả ngục cuộc đời”, tức: toàn những ngục và ngục, thôi.

Những là, ngục-thất, ngục-tù hoặc ngục … ngã đểu chỉ về nơi chốn con người chôn-chặt con người bằng hận-thù, tức: một hình-ảnh nào đó hiểu theo nghĩa bóng, chứ làm gì có thật.

Thế nhưng, nghe “cố đạo” thời nay giảng-giải ở nhà thờ hoặc trên báo/đài cổ-lỗ-xĩ, hẳn người đọc và người nghe tưởng chừng “cố đạo” A-Lịch-Sơn Đắc-lộ vẫn còn sống ở đâu đó, xứ Ba Tư lừ-đừ Iran/Iraq, đến sợ. Quả thật, không gì sợ bằng, mãi đến hôm nay, mà đức thày John Flader ở Tuần Báo Công Giáo Sydney, vẫn “sát khí đằng đằng” một lời kể, như sau:

“Khi có ai lại ngờ-vực về một khía-cạnh của niềm tin qua đó ta không tìm ra chứng cớ nhãn tiền về chuyện đó, thì cũng khó mà thuyết-phục được họ, dù cho ta có sử-dụng bao nhiêu là luận cứ hoặc “bằng chứng”, cũng đành thôi.

Chắc bà con mình còn nhớ dụ ngôn Chúa kể để tả về người giàu có nọ và ông Lazarô trong đó người giàu có ấy nay đang ở hoả-ngục, cố nài-nỉ Abraham gửi Lazarô về lại nhà cha mình như sau:

Lạy tổ phụ, vậy thì con xin tổ phụ sai anh Ladarô đến nhà cha con, vì con hiện còn năm người anh em nữa. Xin sai anh đến cảnh cáo họ, kẻo họ lại cũng sa vào chốn cực hình này!” Ông Ápraham đáp: “Chúng đã có Môsê và các Ngôn Sứ, thì chúng cứ nghe lời các vị đó”.  Ông nhà giàu nói: “Thưa tổ phụ Ápraham, họ không chịu nghe đâu, nhưng nếu có người từ cõi chết đến với họ, thì họ sẽ ăn năn sám hối”. Ông Ápraham đáp: “Môsê và các Ngôn Sứ mà họ còn chẳng chịu nghe, thì người chết có sống lại, họ cũng chẳng chịu tin”. (Lc 16: 29-31)

Vì thế nên, ta không thể trông mong những người đa-nghi ấy lại có thể tin vào là có hoả-ngục cho dù ta có bảo họ là: đã có nhiều người từng thấy cảnh hoả-ngục. Quả thật, trên đời này vẫn còn những người như thế…” (xem Lm John Flader, Is there a hell? You can sadly bet on it, The Catholic Weekly 23/11/2014 tr. 26)

Nếu bạn và tôi, ta gọi những-người-không-tin là hoả-ngục-có-thật một nơi chốn, họ đều là những người đa-nghi cứ nghi-kỵ, nghi-ngờ hoặc nghi-vấn nhiều thứ, thì ngày nay con số những người như thế chừng như lên đến gần 6 hoặc 7 tỷ rồi, phi trừ trường-phái tin và hiểu theo kiểu đức thày nhà đạo tên John họ là Flader ở Sydney, thôi.

Thôi thì, đức thày nay đã già lại cứ chuyên chăm chuyện giảng dạy giáo-lý/sách phần của “thời cổ” thì một ngày rất gần đây, đức ngài cũng sẽ “diện kiến” ngục thất đầy những lửa mà chữ nho hoặc tiếng nôm ta gọi cách nho-nhã là “hoả-ngục”, cũng chẳng sao.

Vấn-đề là: ngày nay, làm sao thuyết-phục được giới-trẻ đến nhà thờ để nghe “cố đạo” thời-đại vẫn níu kéo nền thần-học cổ-lỗ đến chết được. Chết nhiều hơn và nhiều nhất, vẫn là câu kết của đức thày ở bài viết trên, có câu “thòng” rất ư là chắc nịch, như sau:

“Vậy thì, có hoả-ngục thật đấy. Chúng ta hãy cầu nguyện cho những ai mà ta nghĩ là đang sống xa vời Chúa để họ ăn-năn hối cải và đừng tới nơi đó. Có thể lời cầu của ta sẽ cứu họ.” (xem Lm John Flader, bđd)

Thôi thì, cãi vã tranh luận mà làm gì, khi ngôn-từ và ý-niệm khô-khan, trừu-tượng của thần-học cổ-lỗ mà lắm khi bạn và tôi, ta cứ tưởng đó là lối học về thần rất chính-mạch có chính-đáng chăng?

Tốt hơn hết, có lẽ ta nên sống thực lời dạy theo đúng ý tác-giả Tin Mừng viết và sống những 40 hoặc 70 năm sau thời đại Đức Giêsu từng sống. Các tác-giả Tin Mừng từng đặt vào miệng Thày Giêsu mình những câu khuyên/lời dạy chỉ mang tính văn-hoá của người xưa, rất Do-thái, mà thôi.

Thôi thì, ta cũng nên đi vào lời khuyên/dạy đầy hưng-phấn của các đấng bậc rất thánh trong Đạo từng đúc-kết ý-nghĩa Lời Thày dạy, bằng câu nói để đời nhưu sau:

“Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn,

mai sau tôi sẽ được biết hết,

như Thiên Chúa biết tôi.

Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến,

cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến.”

(1Cr 13: 13)

Với người đời, chí ít là người ngoài đạo, thì sống “đức mến cao trọng hơn cả”, là sống bằng những tư-tưởng rất đúng đạo-làm-người, như truyện kể làm kết-luận ở bên dưới:

“Tại vùng trang trại xa xôi, có người nông-dân nọ, năm nào cũng trồng được những cây ngô rất tốt. Năm nào ông cũng mang ngô tới hội-chợ liên-bang và năm nào ngô của ông cũng đạt giải nhất. Ai cũng cho rằng ông có những bí-quyết riêng độc-đáo. Có lần, một phóng-viên đến phỏng-vấn ông phát-hiện ra rằng: nông-dân này luôn san-sẻ những hạt giống ngô tốt nhất của mình với hàng xóm ở trang trại xung quanh.

Ông bèn hỏi:

– Tại sao bác lại chia những hạt giống tốt nhất đi, trong khi năm nào họ cũng đem sản-phẩm đến cùng một hội chợ liên-bang để cạnh-tranh với sản-phẩm của bác vậy?
– Anh không biết ư, gió luôn thổi phấn hoa và cuốn chúng từ trang trại này sang trang trại khác, từ cánh-đồng này sang cánh-đồng khác. Nếu những người hàng xóm quanh tôi chỉ trồng được những cây ngô xấu thì việc thụ phấn do gió rõ ràng sẽ làm giảm chất-lượng ngô của chính trang-trại của tôi. Tức là, nếu tôi muốn trồng được ngô tốt, tôi cũng phải giúp những người xung quanh trồng được ngô tốt đã!

Cuộc sống cũng như vậy. Những người muốn được hạnh-phúc phải giúp những người sống quanh mình hạnh-phúc. Những người muốn thành-công phải giúp những người quanh mình thành-công. Giá trị cuộc sống của bạn được đo bằng những cuộc sống mà bạn “chạm” tới. (trích truyện kể do một vị ký tên là “St” từng sưu-tầm, mới vừa gửi lên mạng).

Nghe kể thế rồi, thiết tưởng bạn cũng như tôi, ta cứ âm-thầm cất lên lời ca tiếng hát rất vang vọng một nhắn-nhủ, bảo rằng:

“Tình ta sớm muộn gì… cũng hấp hối!…
Rót cho đầy hồn nhau, đắp cho đầy đời nhau,
những men nồng tình sâu rã rời.”

(Từ Công Phụng – bđd)

Vâng. Hãy “rót cho đầy hồn nhau”, “những men nồng tình sâu”, rồi ra cuộc sống của bạn và của tôi, cũng sẽ đong đầy nhiều ý-nghĩa. Những ý và nghĩa của thứ tình thương-yêu rất đẹp trong đời. Dành cho hết mọi người.

Trần Ngọc Mười Hai

Vẫn không tin hoả ngục

như nơi chốn

nhưng còn tin vào thiên-đàng

như tình-huống đàng hoàng

Có kềm hãm giữ mình khi giận tức,

“Có kềm hãm giữ mình khi giận tức,”

Có thứ tha những kẻ nghịch ghét ghen.

Thì tâm hồn mình sẽ mạnh thêm lên.

Sớm nhận thức đâu là phần thưởng thật.”

(Dẫn từ thơ Nguyên Đỗ)

Mc 1: 1-18

Mai Tá lược dịch

Kềm giữ với hãm mình, còn gì bằng vào lúc mình đang thèm khát. Thèm và khát, không chỉ bây giờ hoặc mai sau, nhưng cả vào mọi tuổi, mọi thời như tâm-tình của chú bé Đanien, kể bên dưới.

Mùa vọng năm ấy, chú bé Đanien tự dưng chạy đến ôm hôm người mẹ hiền, đề nghị một yêu cầu rất nhỏ: “Quà Giáng Sinh năm nay, mẹ nhớ mua cho con một chiếc xe, mẹ nhé.” Nghe lời xin, người mẹ giựt mình, nhưng vẫn từ tốn đáp lại: “Con ạ, nhà mình còn nghèo, mẹ không đủ sức mua xe cho con đạp chơi đâu. Hay là, con chạy đến xin Chúa Hài đồng, xem sao!”

Bé Đanien bèn chạy vào bàn, viết ngay một lá thư ngắn đại ý nói:

Chúa dấu yêu, con biết mình phải thật là ngoan mới được Chúa cho quà. Con nay đã ngoan từ hồi khuya sớm. Vậy, con xin Chúa cho con một chiếc xe đạp nho nhỏ thôi. Chúa nhớ gửi xuống cho con nhé.

Ký tên Đanien.

Viết xong, đọc lại thấy không ổn. Đanien nghĩ lại, mình đâu có ngoan gì cho lắm, mà dám xin món quà lớn lao như thế. Nghĩ vậy, bé xé thư đi rồi viết lại:

“Chúa dấu yêu ơi. Để con kể Chúa nghe nhe. Suốt năm rồi, con là đưa bé khá ngoan. Con muốn xin Chúa một chiếc xe đạp, chạy chơi. Chúa đồng ý cho con nhé.

Ký tên: Đanien của Chúa.”

Viết xong, bé Đanien lại nghĩ: Viết thế này, cũng chưa được đúng cho lắm, lại xé thư, viết lần nữa:

“Chúa Giêsu bé nhỏ của con ơi, lâu nay con vẫn nghĩ con là đưa bé ngoan và giỏi. Có thể nào Chúa cho con một chiếc xe đạp được không?

Ký tên, Đanien.”

Cuối cùng, bé nghĩ: “vẫn không xong. Phải làm thế này, mới chắc ăn”. Đanien chạy một mạch đến nhà thờ. Bưng đại bức tượng nhỏ nơi máng cỏ mang vể cất dưới gầm giường để mẹ mình khỏi la mắng, rồi viết một thứ khác, đầy doạ nạt:

“Chúa mên yêu, con vừa trót dại phạm một điều răn, là: làm bẹp mất búp bê của nhỏ em con, và nhiều chuyện khác khủng khiếp hơn. Con ôm tượng Mẹ Maria về nhà con rồi. Chúa có muốn nhìn lại Mẹ của Chúa dịp Giáng sinh này, thì phải tặng cho con chiếc xe đạp mới. Chúa biết mình phải làm gì rồi, phải không?”

Lời lẽ trong thư Đanien viết cho Chúa Hài Đồng, giống hệt thư tống tiền của băng đảng ngoài đời. Trong đời thường, chuyện của Đanien cũng na ná đôi chút chuyện của nhiều người chúng ta. Nhiều lúc, ta vẫn nghĩ là mình có thể cù cưa/mặc cả với Chúa, rất nhiều điều, để đạt ý mình mong ước. Tuy nhiên, các vụ kèo nài/mặc cả như thế thường không xứng với niềm tin của người tín hữu Đức Kitô, nhất thứ trong khung cảnh mùa Vọng.

Tình huống kèo/trả giá là yếu tố xưa cũ vẫn còn lưu lại nơi đầu của tác giả lịch sử thánh khi ngài viết bài đọc, như: sấm của tiên tri Isaya, như thánh vịnh 84, thư của thánh Phaolô và cả đến Phúc Âm thánh Mác-cô nữa, nhất nhất bộc lộ tâm trạng kèo nài/hạch sách, thế nào đó.

Các bài đọc hôm nay, nhắc nhớ ta một điểm: Đức Chúa vẫn yêu thương loài người. Ngài chẳng bao giờ giữ lại điều gì riêng cho Ngài. Và, khi chấp nhận thân-phận bọt bèo của người phàm có da có thịt, thì Ngài vẫn làm tất cả để ta nhận ra được tình thương yêu cứu-độ, Ngài tặng không. Ngài đã trưng-dẫn tình thương yêu của Ngài bằng chính cuộc sống, để ta theo đó mà làm.

Thành thử, ta phải sống cuộc đời Ngài tặng ban, ăn ở cho công-minh chính-trực và biết thương-yêu ở mức cao độ. Từ đó và qua đó, ta mới thay-đổi được thế-giới đời thường ta đang sống; hầu biến cải thế-giới nên tốt đẹp hơn.

Các tình-huống cuộc đời trong đó ta cứ kèo nài/trả giá với Chúa, vẫn thấy dẫy đầy trong thần-học, cũng như kinh-nguyện/phụng-vụ. Tệ hơn nữa, có nhiều tình-huống ta cứ ngụp lặn trong các thói tật giống như thế, từ thế-hệ này sang thế-hệ khác. Thậm chí, có người còn cả gan trả giá với Chúa bằng nhiều hình thức, rất cầu xin. Thương thảo. Tỉ như câu:

“Lạy Chúa, nếu Chúa giúp sức cho con qua được đại hạn kỳ này,

nghĩa là: ăn như cũ, ngủ như xưa, nhất định con sẽ ăn ở tử tế hơn..”

Có bạn trẻ, chẳng ngại-ngần đánh bạc cả với Chúa. Nghĩa là, có lời lẽ như:

“Lạy Chúa, con xin hứa: con sẽ quay về đi lễ trở lại như lúc trước,

nếu như Chúa cho con thi đỗ khoa này..”;

hoặc:

“Con hứa sẽ cho cháu nhỏ rửa tội và theo Đạo,

nếu như Ngài cho con làm đám cưới/hỏi cho suông sẻ, trót lọt.

Nhất định con sẽ làm như thế..”

Tệ hơn, có người còn thưa với Chúa, như sau:

“Chúa cho con trúng số đi,

con sẽ cúng dâng nhờ một nửa số tiền con lãnh được, để giúp người nghèo…”

Kèo nài/trả giá, thật chẳng hợp với lẽ Đạo, chút nào. Tuy nhiên, Hội thánh cũng chẳng nên trách móc một ai. Tốt hơn, Hội thánh cứ tự nhận trách nhiệm, rồi sẽ sửa đổi não trạng ù lì/chai sạn của dân đi Đạo.

Vào thời đầu, Kinh thánh đã đưa ta về với những lời khuyên nhắn của thánh Gio-an Tẩy Giả, về: sự sống, nỗi chết và sự Phục sinh quang vinh của Chúa. Cả về việc Chúa Thánh Linh vẫn tiếp tục hoạt động trong ta. Ở đây. Bây giờ.

Kinh thánh cũng dạy ta, rằng: ta thật có phước được Chúa cam chịu mọi hiểm nguy, rủi ro của một bội phản, để ta hiểu rõ thế nào là sống chung với thế giới. Sống trong hiện tại, và cho mai ngày. Chúng ta vẫn ôm trọn vào mình cả một mùa Vọng hôm nay, lẫn các mùa lễ khác trong niên lịch phụng vụ. Nơi đó, chứa đựng mọi chân lý ngàn đời.

Từ đó, ta được dặn là hãy loan truyền Tình thương yêu của Đức Chúa. Ngài gỡ bỏ mọi quyền năng mà Ngài có, để đến với loài người qua thân phận hài nhi bé bỏng. Đấy không phải là hành vi của người chỉ kèo nài, trả giá. Đấy, là diện mạo Đức Chúa, Đấng rất mực thương yêu.

Mùa Vọng năm nay, ta đừng để mình trở thành người con bé nhỏ chỉ biết kèo nài/trả giá với các tay độc quyền đòi thiện chí. Cũng chỉ nên nguyện Chúa Nhân Hiền xin Ngài gửi đến với ta, những gì thật cần thiết, đáng ban ân.

Nguyện cầu để cùng hiệp thông, với nhau. Cầu và nguyện, nhưng vẫn tin rằng Đức Chúa đã nghe tiếng ta khẩn cầu. Chính vì Ngài đã nghe tiếng ta cầu nài, nên Ngài mới cho ta Tình yêu đích thực hiển hiện nới Đức Kitô, Con của Ngài.

Trong tinh-thần hiệp-thông cùng nhau nguyện-cầu, ta lại ngâm vang lời thơ trên rằng:

“Có can-đảm, cả khi mình nhút-nhát,

Có khôn-ngoan trong lúc rất hoang-mang.

Có hiên-ngang cả những lúc đầu hàng,

Mới cảm được cõi hồn cao muôn trượng.”

(Nguyên Đỗ – Mỗi Kinh Nghiệm, Một Bài Học)

Can-đảm cả khi nhút nhát, còn là đức-tính và kinh-nghiệm để đạt “cõi hồn cao muôn trượng”. Cõi hồn ấy, mai ngày sẽ không còn giận tức, ghét ghen hay nhút nhát, nhưng vẫn cứ tỏ-bày thương-yêu, tha thứ với mọi người, rất ở đời.

Lm Richard Leonard sj

Mai Tá lược dịch

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Bài 2: Về Đặc trưng thứ Hai và Đặc trưng thứ Ba

Trần Quí Cao

Tiếp theo bài 1 đánh giá các thành quả Việt Nam đã đạt được sau 39 năm xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, xét theo các tiêu chí của đặc trưng 1, bài này đánh giá theo các tiêu chí của đặc trưng 2 và đặc trưng 3 (1).

Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ

Chúng ta đã minh định trong bài 1 rằng nước ta không Dân Chủ. Nay ta phân tích chi tiết hơn trong mục này.

Hiểu theo nghĩa thông dụng, Dân Chủ là Nhân dân là chủ của xã hội, của quốc gia. Khái niệm người chủ bao hàm ý: có các quyền tự do đương nhiên của người chủ.

Hiểu theo khía cạnh học thuyết chính trị thì:

Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận Nhân Dân là nguồn gốc của quyền lực, thông qua một hệ thống bầu cử tự do. Có hai nguyên tắc mà bất kỳ một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào. Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng và thứ hai, tất cả mọi thành viên đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi (2).

Như vậy, hiểu theo cách thông dụng hay theo khía cạnh học thuyết chính trị, Dân Chủ luôn gắn liền với Tự Do. Không có các quyền Tự Do căn bản, Dân Chúng không thể thực hiện quyền, chức năng làm chủ của mình. Nói cách khác: nếu Dân Chúng không được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi trên thế giới thì quốc gia không có Dân Chủ. Các quyền Tự Do Ngôn Luận, Tự Do Báo Chí, Tự Do Ứng và Bầu Cử, Tự Do Lập Hội, Lập Đảng là các quyền Tự Do chính yếu trong một nền Dân Chủ.

Trên thực tế, dân Việt Nam không có bất kỳ một quyền nào trong các quyền kể trên.

Ngoài ra, các nhà chính trị học còn nêu lên một thuộc tính của thể chế Dân Chủ là Tam Quyền Phân Lập. Đây là một đặc điểm chính yếu của chính thể Dân Chủ, đặc điểm này phân biệt chính thể Dân Chủ xứng danh với chính thể Dân Chủ mạo danh.

Nhà cầm quyền Việt Nam luôn khẳng định không có Tam Quyền Phân Lập. Như vậy, rõ ràng là, cùng với các quyền tự do căn bản mà người dân không được hưởng, nước Việt Nam không có Dân Chủ, không do Nhân Dân Làm Chủ.

Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Đặc trưng này nói về nền kinh tế với 2 tiêu chí: lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

Nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại.

Hãy so sánh với các nước có trình độ phát triển kinh tế xấp xỉ Việt Nam vài thập niên trước.

Chúng ta đã so sánh với Hàn Quốc bên trên. Trong các tập đoàn lớn nhất của Hàn Quốc (SamSung, Hyundai, LG…) tập đoàn nào cũng có sản phẩm được sản xuất bởi công nghệ hiện đại, cạnh tranh ngang tay với các tập đoàn lừng danh của Nhật và Âu Mỹ… Các tập đoàn này là đối tác kinh doanh toàn cầu được nể trọng của các tập đoàn có truyền thống hùng mạnh của thế giới như General Electric (Mỹ), General Motor (Mỹ), DuPont (Mỹ), Exxon Mobile (Mỹ), BASF (Đức), Siemens (Đức), Total (Pháp)… Khi SamSung triển khai chương trình đầu tư vào Việt Nam, SamSung dành ưu tiên cho các ngành công nghiệp phụ trợ của Việt Nam cung cấp cho họ 170 sản phẩm chưa phải là cao cấp, thì Việt Nam không thể cung cấp được một sản phẩm nào!

Hãy so sánh thêm với Thái Lan, một nước có nền kinh tế phát triển chưa cao lắm. Năm 2012, ngành công nghiệp xe hơi của họ đứng thứ 9 trên thế giới, một năm sản xuất khoảng 1 triệu rưỡi chiếc xe trong khi Việt Nam sản xuất khoảng 50,00 chiếc, chỉ khoảng ba bốn phần trăm của họ (3). Với Mã Lai, một nước có nền công nghiệp phụ trợ điện tử được ưa chuộng trong khu vực, với Đài Loan, vùng lãnh thổ kinh tế có vị trí thứ tư trên thế giới về nền công nghiệp phụ trợ cung cấp linh kiện cơ khí cho thế giới… So với các nước đó, thì vị trí Việt Nam chúng ta nằm ở đâu?

Trong các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, chúng ta xuất khẩu ở dạng thô chứ không ở dạng tinh chế. Chúng ta xuất ở vị trí thấp, thậm chí rất thấp, chứ không ở vị trí cao trên chuỗi giá trị gia tăng. Theo những đánh giá về công nghệ cao, phần đóng góp của công nghệ cao vào nền sản xuất của Việt Nam là rất nhỏ, vài phần trăm.

Việt Nam đã có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại chưa?

Nền kinh tế phát triển cao dực trên chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu

Trên lý thuyết, Việt Nam có chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Quả thật, các Tổng Công ty, các Tập đoàn Kinh tế nhà nước bao trùm mọi mặt kinh tế đất nước.

Tuy nhiên, trên thực tế, lợi nhuận từ các tổng công ty, tập đoàn đó rơi vào túi một thiểu số cá nhân quyền lực mà người ta thường gọi là  “nhóm lợi ích”. Điều quan trọng là lợi nhuận tìm được bởi các biện pháp độc quyền (thí dụ trong các ngành Điện, Nước, Xăng Dầu, Than, Khoáng Sản…), bằng các biện pháp hành chánh ưu tiên hay cưỡng bức (thí dụ trong ngành Lúa Gạo), bằng các biện pháp tham nhũng, hối lộ (thí dụ được thấy rõ trong các vụ án Vinashin, Vinalines…) chứ không phải bằng cạnh tranh bình đẳng. Lợi thì vô túi riêng của nhóm lợi ích, Lỗ thì dân gánh chịu.

Có phải những sự việc kể trên chỉ là khuyết điểm của phân bổ không công bình, không quan hệ gì với tính công hữu? Thực ra thì mục tiêu của công hữu là nhằm lo cho số đông dân chúng, nếu công hữu chỉ để một thiểu số vơ vét tài sản của số đông thì chế độ công hữu đó chỉ là chiếc áo thầy tu khoác lên mình tướng cướp. Chế độ công hữu vận hành phối hợp với chế độ độc tài sẽ gây tai hại khủng khiếp cho số đông, người dân làm ra đồng nào sẽ bị gỡ tay lấy hết đồng đó.

Hiện nay, chính sách tư nhân hóa, cổ phần hóa các công ty nhà nước đang được đầy mạnh. Trong hoàn cảnh người dân không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, không được tiếp cận quyền lực, rất nhiều người lo ngại rằng một phần lớn “tư liệu sản xuất chủ yếu” trước đây thuộc “công hữu” và đã được tận dụng tạo “giá trị thặng dư” cho “nhóm lợi ích”, nay sẽ được “tư hữu hóa” để cho “các nhóm lợi ích” chia chác thêm nữa tài sản quốc gia.

Và, như vậy, mục tiêu của công hữu nhằm, như lý thuyết nói, ngăn cản, hạn chế sự bất công, lại có tác dụng đẩy bất công và bóc lột lên một mức cao chưa từng thấy.

Xét trên khía cạnh này, Việt Nam hoàn toàn không có chế độ công hữu xứng danh, nghĩa là không có sự công hữu được thực hiện và quản lý theo những chuẩn mực xã hội văn minh hiện đại.

Tóm lại:

Nước Việt Nam không đạt tiêu chí duy nhất trong đặc trưng thứ hai là do nhân dân làm chủ. Và cũng không đạt hai tiêu chí của đặc trưng thứ ba là có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

Trần Quí Cao

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Hữu Nghĩa. “Những đặc trưng thể hiện yính ưu việt của Chủ nghĩa Xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng”, Tham luận tại tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.

2. Wikipedia. Dân chủ http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

3. Wikipedia. Automotive Industry In Thailand. http://en.wikipedia.org/wiki/Automotive_industry_in_Thailand

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

ĐÁNH GIÁ THÀNH QUẢ ĐẠT ĐƯỢC SAU 39 NĂM XÂY DỰNG XÃ HỘI XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM

Bài 1: Về đặc trưng thứ nhất và đặc trưng thứ hai

Trần Quí Cao

Ông Trần Quí Cao hứa với chúng tôi sẽ tập trung công sức viết một hệ thống gồm 4 bài xoay quanh chủ đề “đánh giá lại một cách tổng thể thành quả đạt được sau 39 năm Việt Nam xây dựng cái gọi là Chủ nghĩa Xã hội”. Nay cả 4 bài đã hoàn tất, ông gửi đến trang BVN. Xin được lần lượt đăng lên, mỗi ngày một bài, để bạn đọc rộng rãi tham khảo.

Bauxite Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam hạ quyết tâm tiến hành việc xây dựng xã hội Xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam dù phải trả bất cứ giá nào và dù chưa một lần trưng cầu dân ý để biết lòng dân có thuận hay không. Ngày 14/1/2011 ông Lê Hữu Nghĩa, Ủy viên Trung ương Đảng, Giám đốc Học viện Chính trị-Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, có bài tham luận cho rằng (1):

a. Xã hội Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được xây dựng dựa trên thành quả của đổi mới nhận thức lý luận về Chủ nghĩa xã hội, trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Marx-Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

b. Xã hội đó có 8 đặc trưng thể hiện tính ưu việt của nó. Tám đặc trưng đó là:

1. Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

2. Đặc trưng thứ hai: do nhân dân làm chủ.

3. Đặc trưng thứ ba: có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu.

4. Đặc trưng thứ tư: có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

5. Đặc trưng thứ năm: con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện.

6. Đặc trưng thứ sáu: các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển.

7. Đặc trưng thứ bảy: có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo.

8. Đặc trưng thứ tám: có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.

Từ sau năm 1975, khi toàn thể đất nước thu về một mối và toàn dân tộc Việt Nam nằm dưới sự lãnh đạo của đảng duy nhất của nước Việt Nam là Đảng Cộng sản Việt Nam (thực ra trước khi khối Cộng sản Đông Âu sụp đổ, Việt Nam cũng có 2 đảng làm kiểng là Đảng Dân chủ và Đảng Xã hội, tuy nhiên quyền lãnh đạo cũng hoàn toàn trong tay Đảng Cộng sản), cho đến nay đã hơn 39 năm, chúng ta hãy cùng nhau nhìn lại xem Việt Nam đã đạt được những thành quả nào trong tám đặc trưng nói trên. Trong bài này chúng ta sẽ xét đặc trưng thứ nhất, và chỉ đánh giá thành quả chứ chưa thảo luận nguyên nhân của các thành quả đó.

Đặc trưng thứ nhất: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Dân giàu:

Năm 2012, tính trong các nước ASEAN, GDP/đầu người của Việt Nam nằm ở vị trí thứ 7 theo thứ tự như sau (2):

Brunei, Singapore, Mã Lai, Thái Lan, Indonexia, Philippines, Việt Nam, Myanmar, Lào, Campuchia.

Trong đó, GDP/đầu người của Việt Nam xấp xỉ bằng 1/7 của Mã Lai, bằng 1/4 của Thái Lan, bằng 1/2,5 Indonesia, bằng 1/15 của Hàn Quốc, và 1/30 của Nhật.

Vậy, Việt Nam có giàu không?

Nước mạnh:

Bàn về nước Mạnh hay Yếu, ta cần xét trên hai mặt:

1. Thứ nhất, mạnh là bảo vệ được chủ quyền, được tính tự chủ của quốc gia đối với kẻ đang muốn xâm chiếm đất nước. Luxembourg không có nguy cơ bị xâm lấn nên Luxembourg không cần mạnh. Với Luxembourg, chỉ cần giàu là mạnh. Với Việt Nam thì khác, mạnh có nghĩa là Trung Hoa không dám lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam dù đó là đất liền hay hải đảo.

2. Thứ hai, mạnh ở đây nên hiểu theo nghĩa tổng hợp, nghĩa là mạnh trên nhiều mặt: quân sự, ngoại giao, kinh tế, chính trị, nội trị… Sức mạnh tổng hợp của các mặt đủ khiến kẻ có dã tâm không dám lấn chiếm hay can thiệp vào chủ quyền của ta.

Ngoại giao: Việt Nam giao thiệp rộng, nhưng yếu vì không có bạn sống chết, nghĩa là không có đồng minh chí cốt, không là Đối tác chiến lược, không có Hiệp ước Phòng thủ chung với một đại cường quốc nào. Khi Trung Hoa tiến công lãnh thổ đất liền Việt Nam, không một quốc gia nào đứng cạnh Việt Nam. Khi Trung Hoa tiến chiếm biển đảo Việt Nam, không một quốc gia nào đứng cạnh Việt Nam. Chỉ khi Trung Hoa lộ rõ ý đồ độc chiếm biển Đông thì thế giới mới phản đối, nhưng để bảo vệ tự do hàng hải, chứ không phải vì Việt Nam là đồng minh chí cốt của họ. Về mặt này, so sánh Việt Nam với Nhật hay với Philippines, Hàn Quốc, ta thấy rõ rằng Việt Nam rất yếu ớt vì cô đơn ngoại giao.

Kinh tế: Việt Nam nằm ở vị trí thấp về thứ bậc kinh tế tính theo tổng hợp (composite) hay tính theo từng tiêu chí khác nhau. Hệ số ICOR là một trong các ví dụ rõ nét. Nợ xấu của hệ thống ngân hàng và độ lớn của nợ công là những thí dụ khác. Nền kinh tế của VN càng yếu ớt hơn vì tính mất cân bằng và, do đó, tính lệ thuộc của nó. Sự lệ thuộc này, tai hại thay, lại là lệ thuộc Trung Hoa, nước ngàn năm nay luôn muốn chiếm nước ta, và hiện đang bộc lộ rõ ý đồ không chế Việt Nam!

Chính trị: Sự đoàn kết toàn dân làm nên sức mạnh của quốc gia, nhất là một quốc gia bên cạnh Trung Quốc to lớn và luôn mang ý đồ bành trướng. Chính thể độc tài và toàn trị đã phá hỏng nền tảng sức mạnh này của Việt Nam vì nó liên tục khiến lòng dân bất an và bất mãn. Do đó, nội trị tất phải dựa trên công an trị. Dưới bề mặt có vẻ như ổn định, xung đột sâu sắc giữa giới cầm quyền và dân chúng luôn trong trạng thái âm ỉ và có nguy cơ bùng phát. Sinh lực của dân tộc thay vì dành cho phát triển và bảo vệ tự chủ của quốc gia, lại bị dốc vào đàn áp và trấn áp. Sự hao tổn sinh lực này có thể so sánh với một cuộc nội chiến giới hạn cho dù chưa xảy ra chiến tranh giữa các thành phần dân tộc.

Một đất nước có nền ngoại giao cô đơn, kinh tế lệ thuộc, chính trị không phù hợp, nội trị bất an và tiềm ẩn nội loạn, thì vũ khí hiện đại nào có thể giúp chống ngoại xâm và giữ chủ quyền? Huống chi, sức mạnh kho vũ khí ta đang có cũng rất giới hạn so với kho vũ khí của nước đang uy hiếp chúng ta! Vậy thì, đối diện với Trung Hoa, nước duy nhất trên thế giới có ý đồ và khả năng xâm lược Việt Nam, Việt Nam chẳng những không mạnh mà còn rất YẾU so với họ.

Dân chủ: Một nước mà người dân không có quyền tự do ứng cử, bầu cử, không có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, không có quyền tự do lập hội, lập đảng, một nước chỉ có một đảng độc tài và toàn trị, không có Tam quyền phân Lập, nước đó có làm gì có Dân Chủ!

Bình đẳng: Một nước chỉ có một đảng độc tài và toàn trị, và danh sách ứng cử viên vào Quốc hội phải được đưa ra bởi đảng độc tài đó, người dân trong nước có bình đẳng trong việc tiếp cận quyền lực không? Một nước mà, trong thực tế, người đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam không thể bị đưa ra tòa án (ngoại trừ khi đảng viên đó đã bị khai trừ khỏi đảng), thì dân chúng có bình đẳng trước pháp luật không?

Công bằng: Chính thể độc tài và toàn trị khiến quốc gia suy thoái mọi mặt, tầng lớp cầm quyền tham nhũng “không thứ gì không ăn” tạo thành một “bầy sâu tham nhũng lúc nhúc”, họ nắm hàng tỉ đô la trong một đất nước mà mức thu nhập trung bình trên đầu người khoảng hai ngàn đô la/năm. Đất nước có công bằng không? Một nước mà các cơ quan chính quyền cấp bộ nắm các tổng công ty hay công ty rất lớn, hoạt động kinh doanh trong nhiều lãnh vực kinh tế không liên quan hay liên quan rất ít với các lãnh vực then chốt về an ninh, quốc phòng… dân chúng trong nước có được tiếp cận nguồn lực phát triển của Tổ quốc một cách công bằng không?

Một nước không giàu mạnh, không dân chủ, không bình đẳng, không công bằng, nước đó không thể gọi là văn minh!?

Tóm lại:

Nước Việt Nam không đạt một tiêu chí nào trong 5 tiêu chí của đặc trưng thứ nhất là dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

T.Q.C.

(còn tiếp)

Tài liệu tham khảo

1. Lê Hữu Nghĩa. “Những đặc trưng thể hiện tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội mà nhân dân ta đang xây dựng”, tham luận tại phiên họp sáng 14/1 Đại hội XI của Đảng. (TTXVN/VIETNAM+) LÚC : 14/01/11 16:52.

2. Wikipedia. List of ASEAN countries by GDP (nominal). http://en.wikipedia.org/wiki/List_of_ASEAN_countries_by_GDP_(nominal)

3. Wikipedia. Dân chủ. http://vi.wikipedia.org/wiki/D%C3%A2n_ch%E1%BB%A7

Nguồn: https://anhbasam.wordpress.com/2014/11/26/3124-danh-gia-thanh-qua-dat-duoc-sau-39-nam-xay-dung-xa-hoi-xa-hoi-chu-nghia-o-viet-nam-bai-1-va-bai-2/

Thiên nhiên đã nổi giận?

Thiên nhiên đã nổi giận?

RFA

Đất lở, đá chuồi, lũ quét, động đất, mưa đá, bão tố quăng quật… Hàng loạt thiên tai xuất hiện dày đặc và cuồng bạo ở khắp ba miền đất nước trong vài năm trở lại đây đã làm cho đời sống vốn nghèo khổ của đa phần người dân lại càng thêm khó khăn, ngột ngạt.

Thú rừng xuất hiện ngày càng nhiều ở đồng bằng sau mỗi trận lụt, và con người sau cái đói của ngày mưa tháng lũ lại hè nhau đi tìm thú để săn lùng, không có ngóc ngách nào là con người bỏ qua, từ đào đất tìm hang cho đến đặt bẫy, săn bắn, châm điện, ném thuốc nổ… Không có thủ đoạn nào là con người không dùng đến.

Khi con người càng điên cuồng với thiên nhiên, cái giá phải trả là thiên nhiên nổi cơn thịnh nộ bằng thiên tai, dịch hoạ, hiện tượng lạ bất lợi cho đời sống con người và hàng loạt những tai ương như một ẩn số luôn phục kích loài người.

Một tháng nay, hầu như cả miền Trung náo động vì chuyện rắn lục đuôi đỏ xuất hiện ngày thêm nhiều và số người bị loài rắn này cắn ngày càng gia tăng. Báo chí trong nước đã đồng loạt đưa tin về chuyện này. Có nhiều cách đặt vấn đề khác nhau, trong đó có người nghi ngại “nước lạ“ đã lén lút thả loài rắn này để cắn người Việt Nam, cũng có nhiều người lại nghiêng về giả thuyết thiên nhiên đã nổi giận.

Ở hướng giả thuyết thiên nhiên nổi giận, người ta nói về sự mất cân bằng sinh thái, sự mất đi số lượng quá lớn của cầy, cáo, chuột… Đã làm ảnh hưởng nặng nề đến nguồn thức ăn cũng như loài khắc tinh của rắn lục đôi đỏ, khiến nó trở nên hung dữ và tìm xuống đồng bằng để tìm thức ăn…

Nhưng trong giả thuyết này không đặt câu hỏi: Loài rắn này vốn dĩ không quen với môi trường đồng bằng, chủ yếu sống trên các dãy núi, trong đó phần lớn sống trong dãy Trường Sơn, làm thế nào nó đã thiên di hàng trăm cây số xuống đồng bằng để sinh sống? Và tại sao nó chỉ xuất hiện ở miền Trung? Và đáng sợ hơn cả là loài rắn vốn không sống trong môi trường nước này hiện tại có khả năng di chuyển trong nước rất nhanh, có thể sống trong môi trường nước một cách bình thường.

Phải chăng chỉ có miền Trung thường xuyên xãy ra lũ lụt, đặc biệt trong vài năm trở lại đây, sau những trận lụt lớn, ở đồng bằng xuất hiện nhiều thú rừng, rắn lục đuôi đỏ cũng là một trong những loài bò sát đã thiên di theo dòng nước nhưng con người chưa phát hiện, chưa săn bắt vì loài này có trọng lượng không lớn, sống kín đáo trong các lùm cây?!

Và những công trình thuỷ điện, hồ chứa mọc lên khắp miền Trung nhấn chìm hàng triệu mét vuông rừng tự nhiên vào lòng hồ cũng đã nhấn chìm hàng ngàn loài thú rừng xuống nước. Để thich nghi và tồn tại, loài rắn này tập làm quen với môi trường nước. Chính dòng nước lũ đã đưa chúng về đồng bằng?

Ở đồng bằng hiếm hoi chồn,cầy rừng, chỉ có chó nhà nhưng chó nhà không dám ra đường vì sợ bọn người đập trộm, chính vì thế, điều kiện sinh tồn của nó rấn đuôi đỏ rất cao. Đặc biệt năm nay tuy có mưa, độ ẩm cao nhưng thuỷ điện không xả đập, không có lụt, loài rắn này tha hồ sinh sôi nay nở vì gặp thời tiết thuận lợi… Thật là đáng sợ khi nghĩ đến chuyện môt ngày nào đó thuỷ điện xả lũ, nước tràn về bất ngờ, mọi thứ giao thông tê liệt, loài rắn này bò lỏm ngỏm trong dòng nước… Lúc đó, tai hoạ khó mà lường được!

Nhưng có phải vì thế mà tìm cách giết sạch loài rắn này? Câu hỏi này rất quan trọng đối với người Việt Nam. Với thói quen chỉ nhìn thấy trước mắt, đa phần nông nổi, thiếu tầm nhìn chiến lược, đã có hàng ngàn bài học trả giá bằng máu và nước mắt kể từ khi “thống nhất đất nước” đến nay nhưng người ta vẫn cứ để tái diễn bởi lòng tham và sự nông cạn.

Ngay ở trung tâm thành phố Sài Gòn và Hà Nội, nơi được xem là trung tâm kinh tế, văn hoá của hai đầu đất nước, người ta có thể ngang nhiên chặt bỏ hàng trăm cây gỗ lớn thuộc vào hàng cổ thụ trăm năm. Trong khi đó, để có một cổ thụ, phải tốn rất nhiều năm, thậm chí vài trăm năm, vài mươi thế hệ để trồng, chăm sóc và giữ gìn.

Nhưng để xây dựng bất kì công trình nào cho dù vĩ đại, tầm cỡ quốc tế, lịch sử gi gì đó, người ta cũng không tốn quá mười năm.  Điều đó cho thấy người ta đã mang cái hàng trăm, hàng ngàn năm ra đổi lấy cái vài năm. Cách làm này, con người tiến bộ và biết suy nghĩ không bao giờ chọn, bởi nó không chỉ mang tính lich sử, nhân văn mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh mệnh của con người.

Một cây gỗ rừng phải tốn đến cả vài trăm năm, thậm chí những cây gỗ lớn, thuộc hàng danh mộc có thể sống cả ngàn năm nơi rừng thiêng, nhưng, với con người, đó là món hời để ốp trần nhà, ốp tường, thậm chí lót sàn để thể hiện “đẳng cấp”. Không ai dám trả lời ngôi nhà tồn tại được bao lâu, khi nào người ta sẽ đập phá để xây dựng cái mới nhưng cái cây thì chắc chắn mất đi vĩnh viễn!

Cũng như để ngồi nhậu với nhau vài giờ đồng hồ, người ta sẵn sang bỏ ra hàng đống tiền để giết chết một con vật đã tồn tại và giúp con người cân bằng sinh thái mấy mươi năm. Không ai trả lời được là bữa nhậu giúp ích được gì và sự ích lợi này kéo dài được mấy năm.

Chung qui, để thoả mãn sự ham thích, lòng tham ngắn ngủi, con người đã bất chấp đánh đổi những gì vốn dĩ tồn tại lâu năm, có quan hệ mật thiết với đời sống của đồng loại cũng như đời sống của hành tinh này. Nhưng, ai đã đánh đổi?

Một người nghèo có đủ khả năng ốp trần nhà, ốp tường nhà, lót sàn nhà bằng gỗ quí, gỗ lâu năm? Một phó thường dân có đủ khả năng chi trả một bữa nhậu thịt rừng quí hiếm trong nhà hàng sang trọng? Không, chỉ có những quan chức, những triệu phú, tư bản đỏ mới đủ khả năng làm chuyện này!

Đến đây, không cần nói gì thêm, ngay cả bài học thời niên thiếu dưới mái trường Cộng sản xã hội chủ nghĩa về một đất nước “rừng vàng biển bạc…” cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng đất nước khô kiệt tài nguyên, thú hoang tan loạn chạy và đụng chạm với con người như hiện tại.

Thiên nhiên đã nổi giận. Nhưng nổi giận với ai? Và ai đang hưởng thụ, ai đang trả giá cho việc hưởng thụ ngu xuẩn đó. Đã đến lúc cần phải trả lời rốt ráo và giải quyết triệt để câu hỏi này!

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Lịch sử Ngày Lễ Tạ ơn

Vietsciences-Võ Thị Diệu Hằng  

  • 1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa
  • 2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower
  • 3/ Nơi đến không định trước
  • 4/ Khó khăn lúc đầu
  • 5/ Định ngày lễ Tạ Ơn
  • a) Lễ Tạ Ơn tại Mỹ
  • b/ Lễ tạ ơn tại Canada
  • 6/ Các món ăn
  • 7/ Tem cho lễ Thanksgiving
  • 7/Hình ảnh của Mayflower

1/ Lễ Tạ Ơn thời xa xưa

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  do  những  nguyên do khác  nhau như ăn mừng thắng trận, mừng mùa gặt hái thành công lớn hay mừng vua vừa được làm bịnh… Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

Có tám quốc gia trên thế giới chính thức tổ chức lễ Tạ ơn: Argentina, Brazil, Canada, Nhật, Đại Hàn, Liberia, Thụy Sĩ và Hoa Kỳ

Truyền thống lấy một ngày hay một mùa để cảm tạ ơn trên đã có từ thời xa xưa mà tổ tiên chúng ta muốn chứng tỏ lòng biết ơn  của họ , để làm các vị thần bớt nóng giận.  Từ đó nghi lễ cứ tiếp tục..

Tại Hy lạp thời cổ đại, hàng  năm có tổ chức  lễ hội để cúng dường Demeter,  nữ thần chăm nom mùa bắp, làm tiệc tùng và nhiều hội để cùng vui với nhau.

Mỗi năm, người La Mã tổ chức một kỳ lễ hội cho mùa gặt lớn, tên là Cerelia để thờ lạy Ceres với những trò chơi, diễn hành và  lễ lạc

Lễ gặt hái Sukkoth vào mùa Thu của người  Do Thái vẫn còn tồn  tại từ ba ngàn năm đến nay

Nhà  thám hiÃm Martin Frobisher

Một trong những biểu tượng của sự tạ ơn, là cái sừng dê biểu hiệu sự phồn thịnh. Cái sừng tượng trưng  múa màng tốt, là do chuyện thần thoại Hy Lạp: Zeus tặng cho Amalthea cái tù và bằng sừng dê như một cử chi biết ơn bà đã nuôi ông  bằng sữa dê lúc ông còn nhỏ, rằng sừng này sẽ mang  lại sự phồn thịnh cho những ai bà  muốn ban phước.

Trong nhiều thế kỷ, lễ tạ ơn bên Âu châu  có  những  lý do khác  nhau như thắng trận, mùa gặt hái thành công lớn, vua vừa được làm bịnh…

Nghi lễ Thanksgiving  được tổ chức lần đầu tại miền Bắc nước  Mỹ, năm 1578, khi  nhà  thám hiểm Martin Frobisher đến tân Thế giới. Ông đã tổ chức  lễ này để tạ ơn Trời đã bảo vệ ông và các thủy thủ trong cuộc hành trình nguy hiểm trên biển cả.

2/ Nguyên nhân cuộc du hành sang châu Mỹ – Tàu Mayflower

Cho đến nửa thế kỷ sau, ngày 26/11/1620, khi một nhóm người di dân Pilgrims từ Âu châu sang Hoa kỳ bằng tàu Mayflower. Họ gồm102 thực dân người Anh trong số đó có một người đàn bà có mang, một số thủy thủ khoảng 25-30 người và 35 người  rất sùng  đạo Tin lành đã bị  vua Jacques đệ nhất đuổi ra khỏi xứ . Họ đặt tên là nhóm Các Cha hành hương Pilgrim (Pilgrim Fathers hay Pères Pèlerins) .  Đầu tiên , họ thử đến Leyde, Hòa Lan nhưng nhà nước Âu châu làm họ thất vọng.  Tại Anh, có những  cuộc nổi loạn tôn giáo làm lộ ra sự xuống dốc của nền quân chủ và chế độ độc tài Cromwell. Anh quốc bị nạn chiến tranh 30 năm. Bên Pháp, cũng  không hơn gì với sự nhiếp chính của Marie de Médicis sau khi vua Henri IV bị ám sát… Do đó nhóm người này quyết định sáng tạo một “Jérusalem mới” ở Mỹ. Lúc đó nữ hoàng  Elizabeth đệ nhất khuyến khích cho dân đến  vùng Virginia (tên của nữ hoàng), do người Anh đô hộ.

3/ Nơi đến không định trước

Các Pilgrims  lên tàu vào tháng  9 năm 1620 , trên chiếc Mayflower, một thuyền buồm trọng tải 180 tấn. Cuộc hành trình náo động, lạnh và nguy hiểm. Nước đá lạnh tràn vô tàu khiến mọi người sợ hãi, rồi nơi sàn tàu bằng gỗ xảy ra  tai nạn về lửa nên  người ta phải ăn thức  ăn  lạnh. Nhiều hành khác  đau bịnh.  Trong khi còn trên biển, bà Elizabeth Hopkins sinh một con trai mà bà đặt tên là Oceanus. Và sau khi tàu cập bến tại hải cảng Provincetown, thì Susanna White cũng cho ra đời một bé trai, đặt tên là Peregrine (nghĩa là “người đã làm một chuyến du hành”). Chỉ một thủy thủ và một hành khách chết. Sau  65 ngày trên biển lạnh, , vào ngày 21 tháng 11 năm 1620 (theo lịch Julien là ngày 11/11, lúc đó Anh quốc  đang dùng) tàu đến Cape Cod, sau cuộc hành trình dài 2750 hải lý (1 mile = 1,852 km). Cap Cod là một bờ biển chưa ai đặt chân tới (sau này là Massachusetts. Tuy  biết là đã đi sai đường, nhưng họ phải xuống tàu, và ký ngay ngày hôm đó một hiệp ước  sống  hòa hợp với dân bản xứ. Đó là Maryflower Compact Act, trong đó ghi những gì phải làm khi định cư. Họ lập một nền dân chủ địa phương hữu hiệu để sau này sẽ mở ra một đại hội, lấy tên là General Court, để bầu những tổng đốc, những  viên chức  hành chánh, lập ra luật lệ, điều hành thuế má và thành lập các tòa án. Từ năm 1639, thuộc địa càng  ngày càng rộng  lớn  ra, không thể mời tất cả các  trại chủ hội họp, nên họ phải bầu người đại diện đi họp thay họ.

4/ Khó khăn lúc đầu

Le premier repas de Thanksgiving (novembre 1621)

Họ tới Plymouth Rock ngày 11 tháng 12 năm 1620.  Vừa xuống tàu là họ ký bản hiệp ước  hòa bình với người dân da đỏ khi vực  láng giềng  (Narranganset và  Wampanoag) . Có nhiều cuộc chạm trán nho nhỏ, nhưng  không  quan trọng  lắm. Họ phải đi tìm chỗ ở khá hơn bởi vì lúc đó là mùa đông đầu tiên của họ, một mùa đông quá lạnh và đầy giông bão .

Sau 6 tháng lên đất liền, thời tiết khắc khe và thiếu thốn, cùng với bệnh dịch  đã làm cho 46 người trong số 102 người tới nơi chết trước mùa Xuân, trong đó có 14 người vợ (trong số  18 người cả thảy), 13 người chồng (trong số 24 người) . Những người sống sót nhờ ăn thịt gà tây hoang và bắp do người dân da đỏ cung cấp.   May mắn thay mùa gặt năm 1621  thành công giúp những  người di dân sống sót nên họ quyết định làm lễ  Tạ Ơn Trời. William Bradford đã tổ chức  lễ Thansgiving đấu tiên, tháng 11 năm 1621. Họ mời 91 người Mỹ bản xứ (thổ dân da đỏ) đã giúp họ sống còn cho năm đầu tiên của họ trên đất Mỹ vì đã cung cấp lương thực và dạy họ trồng bắp và săn thú rừng.

Vài tuần sau, người Da đỏ bắt đầu lo lắng vì biết là người da trắng sẽ ở lại đó, nên  họ cho một nhóm 50 binh sĩ mang  một nắm mũi tên gắn với nhau bằng da rắn để tỏ lòng hiếu khách. Bradford đáp lại thịnh tình đó bằng cách gởi đến người Da đỏ một da rắn dồn thuốc súng  và đạn. Và hoà bình thành lập giữa hai cộng đồng.

5/ Định ngày lễ Tạ Ơn

a) L ễTạ Ơn tại Mỹ

Truyền thống kể rằng nhà cầm quyền Massachussets William Bradford đã định ngày lễ này lần đầu tiên vào năm 1621, khi làm bữa tiệc chung chia giữa những di dân Mỹ và những người thổ dân da đỏ khi họ giúp những thực dân sống sót vào những ngày đầu Ðông
Lễ Tạ Ơn đã được cử hành trên khắp nước Mỹ, nhưng mỗi nơi mỗi khác, tùy phong tục của những người di dân nên  ngày lễ không đồng nhất. Nhưng khi các di dân Mỹ bắt đầu đứng lên chống lại đế quốc Anh để giành độc  lập và khi George Washington thoát khỏi cuộc bao vây ở  Valley Forge, ông đã  tuyên bố ngày lễ quốc gia Thanksgiving đầu tiên vào ngày 26 tháng 11 năm 1789.

 

 

Đến năm 1830 dân tộc bắt đầu chia rẽ, các tiểu bang miền Bắc  thành lập ngày lễ Tạ Ơn  và sau đó bà Sarah Josepha  Hale đi cổ động trên khắp nước Mỹ để có được một ngày lễ Tạ Ơn đồng nhất cho tất cả các tiểu bang.

Đến khi  Nam Bắc nước Mỹ phân tranh, các tiểu bang miền Nam đòi ly khai, tổng thống Abraham Lincoln lấy ngày lễ Thanksgiving để nhắc đến công ơn của các di dân Pilgrims đầu tiên đã dựng nên nước Mỹ. Ông làm tăng thêm ý nghĩa của lễ năm 1863 và định ngày cho lễ này hàng năm vào thứ Năm cuối cùng của tháng 11

Trong nhiệm kỳ của tổng thống Franklin Delano Roosevelt, vào những năm 1940, là thời kỳ Đệ Nhị Thế Chiến,  Quốc Hội Mỹ đang trong thời kỳ chiến tranh, đã biểu quyết ngày lễ Tạ Ơn là ngày quốc lễ của toàn thể liên bang để tưởng nhớ tới những công  lao những người đã hy sinh và ông Franklin Delano Roosevelt quy định lấy ngày thứ Năm của tuần lễ thứ 4 của tháng 11.

b/ Lễ tạ ơn tại Canada:

Thứ Hai của tuần lễ thứ 2 của tháng  10

Lễ thanksgiving của Canada đầu tiên khoảng 43 năm trước khi những người Pilgrim tới Plymouth Rock năm 1620. Khoảng 1576, một nhà hàng hải người Anh Martin Frobisher cập bến tại Baffin Island và tính định cư tại đó. Ông làm lễ tạ ơn tại một nơi mà ngày nay có tên là Newfoundland vì đã  sống sót sau chuyến hành trình dài trên đại dương. Sau đó những người định cư khác đến và những  buổi lễ cho những người tới nơi bình yên tại đây cũng được tổ chức  tại Âu Châu trong mùa gặt hái. Về chuyện  mùa gặt làm lễ tạ ơn thì bên Âu châu đã có từ hai ngàn năm trước

6/ Các món ăn:

Ngày xưa, lễ Tạ ơn kéo dài ba ngày. Tuy nhiên họ không  thực sự chỉ ăn gà tây (turkey, dindon) bởi vì chữ “turkey” lúc  bấy giờ dùng để chỉ gà tây, gà, chim cút, chim trĩ … Chắc chắn là họ không làm bánh nướng  nhân bí ngô bởi vì họ không có bột và đường; và phần đông  không  ăn  khoai tây vì họ cho khoai tây độc (khoai tây khi nẩy mầm rất độc , đó là khả năng tự vệ của khoai tây chống  lại các côn trùng, nên  đừng ăn phần khoai ở chỗ mầm đang nhú).

Ngày nay, trong dịp lễ này gia đình đoàn tụ. Khách có thể mang theo món ăn cho lễ nhưng nhất là không có quà cáp

Gà tây: Cho dù những người hành hương có ăn gà tây hay không cho lễ Thanksgiving đầu tiên, thịt gà tây  luôn luôn được gắn liền với lễ này

Bí đỏ: Là loại rau đã cứu sống  những người hành hương trong mùa lạnh kinh khủng đầu tiên ấy, đã trở thành món ăn quan trọng gần như thịt gà tây.

7/ Tem cho lễ Thanksgiving

Năm 2000  được tuyên bố là năm quốc tế cho lễ Thanksgiving, và ngày đầu năm này, 01/01/2000, ba văn phòng của Liên Hiệp Quốc ngụ tại Gabrielle Loire (Pháp) và Rorie Katz (Hoa Kỳ)

8/ Hình ảnh của Mayflower

Sau khi rời Plymouth, những  ngày đầu tiên, gió tốt yên lành. Nhưng sau đó mây đen ùn ùn kéo tới từ phía Bắc..  Cơn giông bão bắt đầu. Một trong những hành khách tên William Bradford bị ngọn khổng  lồ sóng quét ra khỏi khoang tàu và được cứu như một phép lạ. Ông  là người thứ 13 ký tờ  Mayflower Compact Act và cũng có mặt trong buổi lễ Tạ Ơn  lần đầu. Ông sinh 10 con  và  82 cháu. Tưởng tượng  nếu như ông  buông tay và không được cứu sống thì sẽ không có hai ông tổng thống Bush và Roosevelt và Humphrey Bogart bởi vì các vị này là cháu chắt của John Howland và Elizabeth Tilley

http://www.mikehaywoodart.co.uk

Dr Mike Haywood họa sĩ chuyên vẽ tranh và chân dung về biển

Bài đọc thêm:

George Washington

Abraham Lincoln

Franklin Delano Roosevelt

Anh chị Thụ Mai gởi