TÔI ĐÃ ĐỨNG BÊN NGƯỠNG CỬA CỦA CÁI CHẾT

TÔI ĐÃ ĐỨNG BÊN NGƯỠNG CỬA CỦA CÁI CHẾT

Cà Cuống

Số là cách nay trên 10 năm, tôi đã đứng trên ngưỡng cửa của cái Chết.

Dr. Monsour rất có uy tín ở Houston, Texas, đã đích thân điều trị cho tôi, cuối cùng cũng phải tuyên bố bó tay (give up) trước căn bệnh viêm gan C mãn tính của tôi, ông còn lưu ý tôi là đừng mất công chạy chữa nữa, vì ông mà phải đầu hàng và cũng không còn thuốc nào trị nổi, thì không còn bác sỹ nào có thể giúp cứu mạng tôi được, dĩ nhiên tôi tin lời ông, vì tôi biết rõ khả năng và kinh nghiệm chuyên môn của ông, nhưng có lẽ vì cái máu tếu trong người tôi quá nhiều, nên tôi vẫn tủm tỉm cười.

Ông rất ngạc nhiên và hỏi tôi là không sợ chết sao mà còn cười được. Tôi bật cười thành tiếng, và trả lời ông rằng, nếu bác sỹ bảo tôi sợ mà thoát chết, thì tôi xin sợ ngay, còn nếu đàng nào cũng chết thì tại sao lại sợ.

Thực tế cho thấy là có những vua chúa giầu sang, quyền uy tột bực, với cả đàn ngự y tài giỏi, mà cũng vẫn chết, thì tôi là cái thá gì mà không chết, và khi đã biết là sớm muộn gì cũng phải chết, thì sợ cũng chết, vậy ngu gì mà sợ, cứ “enjoy to the fullest” những ngày còn lại, và “ready” để đáp chuyến tàu định mệnh đi đoàn tụ với vợ con tôi đã ra đi trước tôi.

Cũng xin nói thêm là trước khi phát giác ra bị lây nhiễm Viêm Gan C, vì vô máu quá nhiều trong một ca đại phẫu thuật trước đó khoảng mười năm, chết lên chết xuống, phải nằm bệnh viện tới cả hai tháng rưỡi.

Vào thời điểm đó y khoa chưa tiến bộ tới mức có thể “scan” để khám phá ra trong máu người hiến có virus gì hay không, nên tôi mới bị lãnh đủ.

Ông bác sĩ cũng cười theo, đồng ý với tôi, nhưng còn vớt vát rằng, đúng vậy, nhưng lần đầu tiên ông nghe một bệnh nhân chết đến nơi, mà vẫn dám lý luận ngang tàng như thế.

Ông hỏi tôi là tuy không bác sỹ nào có thể cứu mạng tôi được nữa, nhưng chính bản thân tôi có thể tự cứu mình được,  có muốn ông chỉ cho không.

Tôi đáp là tuy không sợ chết, nhưng nếu có cách gì kéo dài mạng sống để “enjoy” cuộc đời, thì dĩ nhiên là muốn chứ.

Ông tâm tình với tôi rằng, ông cũng đã chỉ cho nhiều người, nhưng chưa thấy ai có đủ ý chí mạnh mẽ và kiên nhẫn mà áp dụng được, vì nói ra thì tưởng dễ, nhưng làm được không dễ, nhưng ông cho là tôi có đủ ý chí qua sự đối đáp với ông, nên ông nghĩ là chắc tôi làm được, và nếu làm được, thì có thể sống khỏe mạnh thêm hai ba chục năm nữa, còn không thì chỉ trong thời gian ngắn, bệnh sẽ phát triển sang ung thư và hậu quả ra sao thì ai cũng biết rồi khỏi cần nói nữa.

Ông còn lưu ý tôi là nếu làm được và thấy có hiệu quả tốt thì nên phổ biến rộng rãi tới mọi người, coi như làm chuyện phúc đức vậy.

Bí quyết của ông là:

1/ Phải empty hoàn toàn cái đầu, không được để cái gì lảng vảng trong đầu. Khi có chuyện cần giải quyết, thì ngồi xuống lấy giấy bút ra mà “brainstorm”, rồi ghi ngay xuống giấy, sau đó phải “clear” liền cái “mind”, chỉ khi nào tới lúc phải giải quyết thì lấy cái “note” đó ra mà áp dụng như cái máy thôi. Nói thì tưởng là dễ, nhưng ai mà không có “bill” nọ  “bill” kia, lại còn bị những người chung quanh làm phiền tới mình, nhưng cần quyết tâm mà làm cho bằng được, vì đó là sự lựa chọn giữa lằn ranh sống và chết.

2/ Phải ráng cười thật nhiều, cười từ khi mở mắt buổi sáng tới khi lên giường ngủ buổi tối. Nếu tự mình không cười được, thì phải nghĩ cách chọc sao cho thiên hạ cười để có thể cười theo.

3/ Nếu có hoàn cảnh, có điều kiện thì nên đi du lịch thật nhiều, ngoại cảnh sẽ giúp cho hào hứng, quên đi căn bệnh chết người của mình.

Cà Cuống tui đã cân nhắc giữa tiền bạc và mạng sống, cuối cùng chọn lựa “retire” non vào tuổi 62, để có thể hoàn toàn nghỉ ngơi, và đi du lịch, đi “cruise” khắp nơi khắp chốn, đồng thời kiên trì luyện tập, vậy mà cũng phải mất trên 6 tháng mới có thể giữ cho cái đầu rỗng bông được.

Bây giờ thì không còn tham, sân, si, không còn thù hận, ghen ghét, đố kỵ ai, cho nên khi nhìn ngược vào cái đầu mình, thì chỉ còn thấy trống rỗng mà thôi.

Trong quá trình luyện tập, một hình thức như thiền vậy, đôi khi bị phân tâm, là thấy phía dưới xương sườn bên tay mặt như bị kiến cắn, hiểu ngay là “virus C” thừa cơ ra ăn lá gan, lại phải lập tức “clear” liền mọi sự cho cái đầu trống rỗng ra ngay.

Ai ghét bỏ, hay kiếm chuyện mắng chửi, cũng chỉ đáp lại bằng nụ cười tha thứ, và còn cầu xin ơn trên ban phước lành xuống cho họ nữa, không còn như hồi xưa, ăn miếng trả miếng theo kiểu “oeil pour oeil, dent pour dent” ngay.

Để có thể chọc cười mọi người, Cà Cuống tôi sưu tầm đầy một bụng tiếu lâm, để hoạt náo trên xe cho bà con vui cười trong những chặng đường dài, hầu quên đi mệt mỏi.

Và kể như đã thành công, cả hai căn bệnh chết người là viêm gan C mãn tính, gan đã bị xơ cứng tới 3/4, và tiểu đường nữa, nhưng nhờ bí quyết của ông bác sỹ tài ba chỉ dạy, mà cả hai căn bệnh hiểm nghèo đều vẫn còn “under control”.

“Empty” cái “mind” là chính yếu, còn cười và du lịch là hai cái phụ, nhằm hỗ trợ cho cái đầu mà thôi.

Kinh nghiệm bản thân là trên mười năm trước, ai biết tôi, kể cả bà vợ, cũng không tin là tôi có thể sống sót được, vì qua hai thời kỳ hóa trị (chemotherapy), mỗi kỳ sáu tháng, cộng chung là đúng một năm, tôi chỉ còn như cái xác chết biết đi.

Trước đó, tôi cân nặng 170 lbs, nhưng sau thời gian điều trị, bệnh đã không thuyên giảm, mà còn sụt xuống chỉ còn 110 lbs, không thể tự ngồi lên được, mà bà nhà tôi phải vực dậy, tóc rụng đầy gối, ăn không được, ngủ không được. Nhất là bộ mặt của tôi mới thực thảm thê, nó bị choắt lại nhăn dúm như trái ô mai khô, nhưng mầu sắc thì xám xịt lại như da người chết. Ai quen biết, và ngay cả bà nhà tôi, cũng tin chắc là tôi không thể nào qua khỏi.

Tôi rất biết ơn Dr. Monsour đã động viên tinh thần tôi, ổng nói là tin tưởng tôi có ý chí mạnh, nhất định sẽ làm được.

Và quả thiệt tôi đã làm được, trước sự ngạc nhiên của mọi người quen biết, trọng lượng đã leo dần từ 110 lên 142 lbs, ăn ngon ngủ khỏe, năm ngoái khi trở lại Sapa, vẫn còn có thể leo lên tận cổng trời với sự trợ giúp của cây gậy kỷ niệm, vật bất ly thân.

Tôi vẫn tiếp tục đi du lịch đều đều trên khắp 5 châu 4 biển. Riêng tại quê hương tôi, thì không còn xó xỉnh nào là không có dấu chân tôi, có nơi đi đi lại lại cả năm sáu lần, mà vẫn cảm thấy thích thú như thường.

Theo Dr Monsour, thì nếu áp dụng được bí quyết của ông, thì ngay cả ung thư cũng có cơ may thoát hiểm.

Tôi kể lại kinh nghiệm sống thực tế của tôi, theo lời dặn dò của ông bác sỹ tài ba và giầu tình người, để nếu ai chẳng may rơi vào hoàn cảnh như tôi, thì có thể vững niềm tin mà tự cứu lấy minh.

Đặc biệt là đừng bận tâm tới chuyện chết chóc, vì đó là quy luật tự nhiên của Trời Đất, có sinh là phải có tử, không ai có thể tránh né được, thì cứ hoan hỉ mà chấp nhận thôi. Do đó, tôi rất tin vào thuyết định mệnh, và luật Nhân Quả.

Mến chúc tất cả mọi người thật nhiều may mắn và luôn vui cười, như bản thân tôi đã từ cõi chết trở về, chỉ nhờ vào bí quyết trong đó có cười, đó cũng là lý do thúc đẩy Cà Cuống tôi khai sinh ra Câu Lạc Bộ Cười, hầu mang lại cho bà con bằng hữu những tiếng cười thật sảng khoái, cho cuộc đời lên hương, và trẻ mãi không già.

CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG

CHỨNG NHÂN CỦA ÁNH SÁNG

Thánh Gioan Baotixita, tranh của Bartolomeo Veneto thế kỷ 16
tiên tri, thuyết giảng, tử đạo

Trên đời có nhiều thứ ánh sáng: ánh sáng vật lý, ánh sáng văn hoá, ánh sáng khoa học, ánh sáng tâm linh.  Để nhìn ra ánh sáng, cần có một khả năng nào đó.  Để thấy ánh sáng vật lý, chỉ cần có đôi mắt bình thường.  Nhưng để nhìn thấy ánh sáng khoa học, phải có một số vốn kiến thức cần thiết.  Để thấy ánh sáng văn hoá, cần được khai tâm mở trí.  Và để thấy được ánh sáng tâm linh, cần có các chứng nhân chiếu dọi.  Thánh Gioan Baotixita là chứng nhân của Đức Kitô ánh sáng.  Ngài làm chứng cho Đức Kitô bằng chính cuộc đời trong sáng của ngài.  Nhìn vào cuộc đời ngài, ta thấy toả ra các làn ánh sáng sau đây:

Làn ánh sáng thứ nhất mà ta thấy nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự khiêm nhường.  Ngài khước từ mọi vinh quang người ta phủ quanh ngài.  Ngài thành thực nhận mình không phải là Đấng Cứu Thế toàn dân mong chờ, không phải là Êlia vĩ đại, cũng không phải là một tiên tri cao cả.  Ngài tự nhận mình chỉ là một “tiếng kêu trong sa mạc.”  Ngài khiêm nhường nói rằng ngài không xứng đáng xách giày cho Đấng Cứu Thế.  Thật là khiêm nhường tự hạ.  Đức khiêm nhường ấy chiếu lên dung mạo ngài một làn ánh sáng.  Ánh sáng ấy khiến cho lời chứng của ngài càng có sức thuyết phục.  Ánh sáng ấy phản chiếu dung mạo đích thực của Đấng Cứu Thế, Đấng tuyệt đối khiêm nhường.

Làn ánh sáng thứ hai ta thấy nơi cuộc đời của thánh nhân là làn ánh sáng của sự khổ hạnh. Phần lớn đời ngài ẩn dật trong sa mạc.  Sống trong sa mạc đồng nghĩa với sống khổ hạnh.  Ngoài sự khắc nghiệt của thời tiết, sự hoang vu cô tịch, sự đe dọa của thú dữ, thánh Gioan Baotixita còn tự nguyện sống khó nghèo, đơn sơ, đạm bạc.  Y phục của ngài chỉ là mảnh da thú quấn quanh thân thể. Thức ăn của ngài là châu chấu và mật ong rừng.  Sự khổ hạnh không chỉ lóe sáng lên một ý chí mạnh mẽ biết vượt thắng chính bản thân mình, mà còn chiếu ánh sáng hy vọng vào tương lai.  Người lệ thuộc vào vật chất là người bị trói buộc trong hiện tại.  Người khổ hạnh là người đặt niềm hy vọng ở tương lai.  Niềm hy vọng ấy chiếu sáng vào cuộc đời hiện tại vì làm cho cuộc sống có một ý nghĩa cao đẹp và sâu xa.  Tương lai tươi sáng mà thánh Gioan Baotixita chờ đón chính là Đức Giêsu Kitô mà ngài loan báo.

Làn ánh sáng thứ ba nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự trung thực.  Trung thực trong những lời nói về chính mình, nên ngài không dám nhận những vinh quang người đời tưởng lầm Ngài có.  Ngài chỉ nhận những sự thực rất khiêm nhường, rất bé nhỏ của mình.  Trung thực với lòng mình, nên ngài sống một cuộc sống khổ hạnh, không phô trương, không giả dối.  Trung thực trong những phán đoán về người khác, nên ngài đã thẳng thắn khuyên vua Hê-rô-đê không được phép lấy chị dâu.  Chính sự trung thực này đã phải trả giá bằng cái chết chẳng toàn thây.  Nhưng sự trung thực ấy đã làm sáng lên cuộc đời chứng nhân.  Làn ánh sáng ấy cho ta thoáng thấy ánh sáng đích thực của Đấng là Sự Thật, là chính Đức Giêsu Kitô.

Làn ánh sáng thứ tư nơi cuộc đời thánh nhân là làn ánh sáng của sự quên mình.  Biết mình chỉ là người đưa tin, thánh nhân luôn xoá mình đi, để cho Đấng là chính Tin Mừng được nổi bật.  Biết mình chỉ là người mở đường, thánh nhân luôn tự hạ để cho Đấng là Đường được mọi người nhận biết.  Làm chứng cho sự thật, thánh nhân đã tự nguyện hy sinh để cho Đấng là Sự Thật được trân trọng.  Khi mọi người tuốn đến với Ngài, Ngài đã không giữ lại cho mình, nhưng đã giới thiệu họ đến với Đức Giêsu, nên ngài nói: “Người đến sau tôi, nhưng tôi không đáng cởi dây giầy cho Người” (Ga 1, 27).  Nhiều môn đệ đã theo Ngài, nhưng Ngài giới thiệu để họ theo làm môn đệ Đức Giêsu.  Khi thấy đám đông đã bỏ ngài để đi theo Đức Giêsu, ngài hài lòng vì thấy nhiệm vụ đã hoàn tất, nên ngài nói: “Chúa phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi” (Ga 3, 30).

Thánh Gioan Baotixita thật là một chứng nhân tuyệt hảo.  Ngài đã biết tự hạ mình xuống để Chúa được nổi bật lên.  Ngài đã biết ẩn mình trong bóng tối để Chúa được xuất hiện trong ánh sáng.  Ngài đã biết tự hủy mình đi để Chúa được nhận biết.  Ngài đúng là người đi mở đường cho Chúa.  Ngài thực là chứng nhân của ánh sáng.

Mùa Vọng này, mọi người đang chờ đón Chúa đến.  Chúa muốn tôi hãy đi mở đường cho Chúa. Chúa muốn tôi làm chứng cho Chúa.  Chúa muốn tôi giới thiệu Chúa cho anh em.  Nhưng rất nhiều khi, thay vì mở đường cho Chúa, tôi chỉ lo mở đường cho tôi.  Rất nhiều khi thay vì làm chứng cho Chúa, tôi chỉ lo làm chứng cho tôi.  Rất nhiều khi thay vì giới thiệu Chúa, tôi chỉ giới thiệu bản thân mình.

Hôm nay, Chúa mời gọi tôi hãy soi mình vào tấm gương của thánh Gioan Baotixita để biết cách dọn đường cho Chúa ngự đến.

Xin thánh Gioan Baotixita giúp chúng con sống trong sáng để trở nên chứng nhân của ánh sáng.

ĐTGM Giuse Ngô Quang Kiệt

suyniemhangngay1 & Anh chị Thụ Mai gởi

 

Những cái ‘nhất’ kinh dị của Việt Nam so với thế giới

Những cái ‘nhất’ kinh dị của Việt Nam so với thế giới

Nguoi-viet.com

HÀ NỘI ( NV) – Báo Giáo Dục Việt Nam hôm 10 tháng 12 vừa có một bài viết liệt kê ra những cái “nhất” của Việt Nam so với thế giới. Song, những “thành tích kinh dị” này nghe qua sẽ không khỏi rùng mình…

Dân Việt Nam uống bia thuộc hàng nhất thế giới. (Hình: Gettty Images)

Theo báo này, “Trước tiên về bất động sản. Có thể nói giá nhà đất ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới, lớn hơn gấp 5 lần so với các nước phát triển và gấp 10 lần so với nước chậm phát triển. Chúng tăng lên hơn 100 lần trong vòng 20 năm, cao hơn 25 lần so với thu nhập bình quân hàng năm của người lao động.”

Còn về đường sá, Việt Nam có những đoạn đường đắt nhất hành tinh. Một km đường Kim Liên-Ô Chợ Dừa giá $45 triệu, tương đương gần 100,000 lượng vàng thời điểm đó. Trong khi đó, tổng số phương tiện trên đầu người cũng cao nhất thế giới, đặc biệt là xe máy, kéo theo tai nạn giao thông lên top đầu, trung bình có 31 người chết/ngày vì tai nạn.

Để an toàn hơn, người giàu xài xe hơi phải trả giá đắt nhất thế giới, gấp hơn 2 lần so với các nước phát triển và khoảng 1.5 lần so với các nước trong khu vực.

Vẫn theo bài báo, “Việt Nam đứng top 10 không khí bẩn nhất thế giới. Về ảnh hưởng của phẩm chất không khí, Việt Nam đứng thứ 123 trong bảng xếp hạng, chỉ xếp trên 9 nước khác. Về tổng thể môi trường, Việt Nam đứng vị trí 79. Yếu tố thứ ba, chất lượng nước ảnh hưởng đến sức khỏe, Việt Nam được xếp hạng 80. Lượng khói bụi và mức độ ô nhiễm tại Hà Nội gấp nhiều lần cho phép.”

Về công nghệ thông tin, có thể thấy người Việt Nam tìm chữ “3G” đứng đầu danh sách những nước tìm kiếm. Và thử với chữ “iPhone” thì Việt Nam đứng số 1.

Đặc biệt, Việt Nam đứng top đầu thế giới về vi phạm bản quyền phần mềm, với tỉ lệ vi phạm bản quyền đứng thứ 16 trong năm 2010, tổng giá trị thương mại của phần mềm bất hợp pháp ước đạt khoảng $412 triệu.

Chưa hết, Việt Nam cũng là nước đứng đầu thế giới về nạn gian lận click chuột trong quảng cáo (Click Fraud), tính theo số lượng các cú click chuột để trả tiền, chiếm tới 48.3% trong tổng lượng nhấp chuột, theo khảo sát năm 2009, bỏ xa Canada với 27.7%, Hoa Kỳ với 25.6%.

Về hàng tiêu dùng, Việt Nam là 1 trong 2 nước xuất khẩu cảng nhiều nhất thế giới, nhưng giá gạo lại rẻ nhất trong số 5 nước xuất cảng gạo nhiều nhất thế giới là Thái Lan, Ấn Độ, Việt Nam, Mỹ và Pakistan.

Giá bán lẻ sữa ở Việt Nam đang ở mức cao nhất thế giới, cao gấp đôi Malaysia và gấp 1.5 lần so với Thái Lan, với giá bán lẻ trung bình là $1.4 /lít, trong khi Trung Quốc là $1.1, Ấn Độ: $0.5, các nước Âu-Mỹ từ $0.5-0.9/lít.

Giá thuốc trị bệnh tại Việt Nam thuộc hàng đắt nhất thế giới. Theo khảo sát năm 2010 của Tổ Chức Y Tế Thế Giới Với Nhóm Thuốc Thông Dụng (trong đó có kháng sinh) cho thấy, giá thuốc tại Việt Nam cao gấp từ 5 đến 40 lần so với thế giới.

Vẫn theo lời bài báo liệt kê, thì “Việt Nam được đánh giá là thị trường tiêu thụ sừng tê giác lớn nhất thế giới. Ước tính hơn 100 chiếc sừng tê giác vào Việt Nam mỗi năm. Giá 1kg sừng tê giác dạng bột ở Việt Nam là $60,000. Chính lợi nhuận kếch xù này khiến số lượng tê giác ở Việt Nam gần như tuyệt chủng. Sừng tê giác chưa được chứng minh có bất kỳ tác dụng chữa bệnh nào.”

Trong khi đó thì với mức tiêu thụ 2.7 tỷ lít bia trong năm 2010, khoảng 24 lít trên/đầu người/năm, bằng 1/10 so với Châu Âu, Việt Nam đã trở thành nước thứ ba có sản lượng tiêu thụ bia cao nhất Châu Á, sau Nhật và Trung Quốc. Trong đó 4 thành phố Hà Nội, Sài Gòn, Cần Thơ, Đà Nẵng năm nay dự báo tiêu thụ 300 triệu lít với tổng trị giá 7 ngàn 250 tỷ đồng.

Việt Nam cũng là nơi có giá thuốc lá rẻ nhất và là nơi có thể mua thuốc lá dễ nhất thế giới. Hiện giá bán tối thiểu đối với mỗi bao thuốc lá điếu bao cứng là 4,050 đồng và bao mềm là 3,450 đồng. Tỉ lệ nam giới hút thuốc ở Việt Nam thuộc hàng cao nhất thế giới với 47.8%. Việt Nam có hơn 40,000 người tử vong mỗi năm do thuốc lá. (Tr.N)

Thượng Viện Canada mở hội nghị về ‘Dùng hòa ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông’

Thượng Viện Canada mở hội nghị về ‘Dùng hòa ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông’

Chuacuuthe.com

VRNs (11.12.2014) – Việt Báo, CANADA – Lần đầu tiên trong lịch sử Việt Nam Cộng Hoà, sắp qua năm thứ 40 ngày Việt Nam Cộng Hoà bị CS Bắc Viết đánh chiếm, Canada, một trong mưới mây nước kỳ Hoà Ước Paris 1973, Thượng Viện Canada mở hội nghị về một giải pháp dùng Hoà Ước Paris 1973 giải quyết tranh chấp Biển Đông, trả lại công bằng cho VNCH, cho dân VN dược quyền tự quyết trong cuộc bầu cử tự do có Liên hi6ẹp Quốc giám sát, đúng tinh thần pháp chế quốc tế và tinh thần cam kết trong hoà ước.

Sư kiện lịch sử này là do cuộc vận động kiên nhẫn và và điều họp khéo léo của Thượng Nghị sĩ Ngô thanh Hải, một người Việt tỵ nạn CS ở Canada được công cử làm Thượng Nghị sĩ của Canada. Hội nghị này được Thượng Viện Canada bão trợ, họp ngay trong toà nhà Thượng Viện của Quốc Hội Lưỡng Viện Canada, khu Parliament Hill, Center Block, Room 160-S, suốt ngày Thứ Năm 5 tháng 12, năm 2014.

Về phía Thượng Viện Canada có TNS Ngô thanh Hải, TNS Lang, Chủ Tich Uỷ ban Quốc Phòng và An Ninh, TNS White Chủ Tịch UB Nội Qui, Thủ Tục và Năng Quyền Quốc Hội, TNS Andeychuk, Chủ Tịch UB Ngoại vụ và Ngoại Thương, Ngài Tim Uppal, Bộ Trưởng Bộ Đa Văn hoá của chánh quyển liên bang Canada, Ngài Deepak Obhrai, Bộ Trưởng Ngoại Vụ và Nhân quyền, Ngài David W. Kilgour, Cựu Chủ Tich Viện Dân biểu và Bộ Trưởng đặc trách Á châu và Thái bình dương của chánh quyển Canada.

Phía Việt Nam Cộng hoà có phái đoàn quân dân cán chính VNCH đến từ các cộng đồng người Canada gốc Việt trong nước Canada, các miền lớn Montreal, Toronto, Ottawa trên 20 người, trong đó có chủ tich cộng động, nhân sĩ trí thức, chuyên gia sáu bảy luật sư đang hành nghề và luật gia Canada chánh tông và Canada gốc Việt, tiêu biểu như Luật sư Lâm chấn Thọ, Ls Trịnh quốc Toàn, luật gia Benoit Bénéteau, David Lamenti, Tiến sĩ Bá ngọc Đào và Ts Nguyễn thế Bình.

Phái đoàn quân dân, cán chính Việt Nam Cộng Hoà đến từ Mỹ có 8 người Giáo sư Nguyễn ngoc Bích, Ts Binh thế Nguyễn đến từ Miển Đông Mỹ, nhà báo Vi Anh, Cựu dân biểu VNCH, Nhạc sĩ Hồ văn Sinh, thường vụ của VNCF Foundation dến từ Miền Tây Mỹ.

Chương trình làm việc, sau phần nghi thức, giới thiệu bắt đầu hội nghi với phát biểu của TNS Ngô thanh Hải của Thương Viện Canada. Hình thức làm việc có tính liên họp giữa điều trần và chất vấn. Phái đoàn VNCH Người Việt hải ngoại điều trần, đề nghị quí vị nghị sĩ và viên chức chất vấn và giải thích liên quan đến viêc dùng Hoà Ước Paris để đem lại công bằng, chân lý cho VNCH bị TC đánh lấy đảo năm 1974 và CS Bắc Việt dành lấy VNCH ở Miển Nam và giải quyết những tranh chấp biển đảo đang xảy ra ở Á châu Thái bình dương. Trường hợp này đã có tiền lệ, thành viên Hoà Ước Paris 1973 đã triệu tập lại lên án CS Bắc Việt đã đánh chiếm Campuchia, bị các nước ký hiệp ươc này trừng phạt cấm vận và buộc phải rút quân về VN.

Những diễn giả chánh có Gs Nguyễn ngọc Bích, Ls Lâm chấn Thọ, Nữ Ts Bình thế Nguyễn đọc bức thư của Ô Lê trọng Quát, Cựu Bộ Trưởng VNCH, Cưu Chủ Tich Uỷ ban Nội vụ và Quốc Phòng Hạ Viện, VNCH. Trong điều trần, chất vấn và hội luận có hai vấn đề chánh bàn luận rất gay go, sâu sác nhưng đa số quí vị thượng nghi sĩ chuyên trách về ngoại giao Canada, qui vị luật gia và luật sư gốc Việt có mặt có chung nhận định đều về những điểm cốt lõi sau. Chiếu hiến chương Liên hiệp Quốc, VNCH còn tồn tại trên phương diện pháp lý. Hiệp ước Paris 1973 vẫn còn giá trị, chưa có nước nào chánh thức rút ra. Các nước đã ký hãy còn trách nhiệm vói chánh quyền và nhân dân VNCH. TC và CS Bắc Việt tiền thân của chế dộ CSVN bây giờ đã vi phạm thô bạo hiễp ước Hoà Bình Paris 1973: TC đánh chiếm Hoàng sa của VNCH năm 1974, CS Bắc Việt đánh chiếm VNCH năm 1975.

Nhà báo Vi Anh, Cựu Dân biểu VNCH đúc kết, nói suốt gần hai một buổi thảo luận nhưng vị có thẫm quyền của Canada và những viên chức VNCH và đại diện cộng đồng, đoàn thế dân chính, chánh đảng và nhân sĩ, trí thức có mặt đã trình bày: rõ ràng TC, CS Bắc Việt đã vi phạm Hiệp ước và Đinh Ước Hoà Đàm 1973, dùng lực lương võ trang đánh chiếm lấy Hoàng sa của VNCH, chiếm lãnh thổ VNCH một cách thô bạo. Canada là một nước có ký trong hiệp ước. Vì tinh thần thượng tôn quốc tế công pháp, vì trách nhiệm và nghĩa vụ cam kết ngoại giao, vì công lý cho nhân dân VN, vì chủ quyền chánh đáng của quốc gia dân tộc VN, xin chủ toạ đoàn cho biểu quyết. Để có một văn kiện quan trọng, và long trọng trên phương diện luật pháp và thực tế để tạo một tiến trình. Hầu chánh quyển Canada có chứng cớ đặt vấn đề với các nước đã ký trong hiệp ước năm 1973. Và để người Việt hải ngoại chứng lý tiếp tục vận động các nước khác đã ký trong Hiệp ước.

TNS Hải chủ toạ cho ngưng thảo luận và biểu quyết đồng ý hay không đồng ý trên nguyên tắc dự thảo Nghị Quyết do Ls Thọ và một số luật gia của Canada đúc kết nguyện vọng của hội nghi đã trình bày. Cả trăm vị trong chánh quyền Canada, VNCH, và quí vị có mặt trong hội nghị đồng ý chấp thuận dự thảo trên nguiyên tắc, với đa số tuyệt tuyệt đối. Chủ Toạ TNS Hải còn thận trọng cho biểu quyết ngược lại, ai không đồng ý xin giơ tay: không ai giơ tay cả. Coi như tuyệt đối đồng thuận thông qua dự thảo Nghị Quyết.

Càng thận trong hơn, TNS Hải đề nghị hội trường cử ra 5 vị nhuận sách bản văn dự thảo. Hội nghi đề cử TNS Hải, Gs Bích, Ls Thọ, DB Vi Anh, Nữ Ts Bình nhuận sắc dư thảo Nghị Quyết của hội nghị để TNS Hải với tư cách là một người Việt hải ngoại và thương nghị sĩ của Canada trình bày với Thương Viện, chuyển trình Hạ Viên và những chức trách liên quan trong chánh quyền Canada- càng sớm càng tốt.

Sau đây là dự thảo đã dược 100% hội nghị biểu quyết thông qua, bản gốc bằng tiếng Anh, xin tạm dịch ra tiếng Việt như sau: “Nên những thành phần tham dự yêu cầu và kêu gọi chánh quyền Canada, thông qua Bộ Trưởng Ngoại Giao, tham khảo với các nước đã ký Định ước của Hoà Ước Paris để tìm một giải pháp để nhân dân Việt Nam Cộng hoà ở Miền Nam VN có thể thực hiện quyền tự quyết qua bầu cử tự do dưới sự giám sát của Liên hiệp Quốc; hay một giải pháp khác mà chánh quyền các nước đã ký xem là cần thiết, để triệu tập một hội nghị quốc tế về VN trong đó có mặt của các đại diện của các nước đã ký Đinh Ước, thể theo Điều VII (b) của Định Ước, để giải quyết nhưng tranh chấp Biển Nam Trung Hoa, bằng cách mời thêm một số nước có liên quan tham dư hội nghị này.”

Ngày làm việc được chấm dứt bằng một cuộc viếng thăm Quốc Hội lưỡng viện của Canada, do các phu tá và công cán uỷ viên của văn phòng TNS Ngô thanh Hải hướng dẫn. Và khoảng 8 giờ tất cả tế tựu dến Việt Nam Restaurant của Ottawa dự bữa cơm thân mật do TNS Hải khoản đãi. Còn bữa ăn trưa làm việc khi hôi nghị do Thượng Viện mời. Và đêm trước phái đoàn VN từ các công dổng Việt ở Canada và Mỹ đến thì Tiến sĩ Lê duy Cấn của Cộng đồng Ottawa khoản đãi và một số văn nghệ sĩ giúp vui chào mừng VNCH và đồng bào các nơi đến lo việc nước, chuyện dân VNCH.

VI ANH

Nguồn: http://vietbao.com/

Hành nghề luật sư tại Việt Nam dưới cái bóng của đảng

Hành nghề luật sư tại Việt Nam dưới cái bóng của đảng

Kính Hòa, phóng viên RFA
2014-12-11

12112014-vn-law-in-shdw-of-cmunis.mp3

Luật sư Võ An Đôn (áo sơ-mi trắng) cùng chị (phải) và vợ (trái) nạn nhân Ngô Thanh Kiều tại tòa

Luật sư Võ An Đôn (áo sơ-mi trắng) cùng chị (phải) và vợ (trái) của nạn nhân Ngô Thanh Kiều tại phiên xử tại tòa trước đây.

File photo

Vụ án Ngô Thanh Kiều đã từng được chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu xử lại các nhân viên công an lạm dụng quyền lực gây chết người, công luận chưa hết vui mừng cảm ơn người luật sư can đảm góp phần đưa thủ phạm ra ánh sáng là ông Võ An Đôn, thì ông Đôn lại bị cơ quan công quyền của tỉnh Phú yên đòi truất quyền luật sư của ông. Sau đây là ý kiến của một số luật sư và nhà quan sát xã hội Việt Nam về câu chuyện hành nghề luật sư tại Việt nam.

Hàng ngàn cách “chụp mũ”

“Theo cảm nhận của tôi và thực tế xã hội thì người ta có thể làm mọi thứ để đạt được mục đích, có thể qui chụp, có thể tạo cớ để mà bắt giam… họ có hằng ngàn cớ, hàng ngàn cách nhưng riêng tôi không sợ vì mình làm đúng. Còn việc xảy ra trong tương lai đối với tôi thì (họ) có hằng ngàn cách mà tôi không thể biết được.”

“Theo cảm nhận của tôi và thực tế xã hội thì người ta có thể làm mọi thứ để đạt được mục đích, có thể qui chụp, có thể tạo cớ để mà bắt giam… họ có hằng ngàn cớ, hàng ngàn cách nhưng riêng tôi không sợ vì mình làm đúng.
-Luật sư Võ An Đôn”

Đó là phát biểu của Luật sư Võ An Đôn cuối buổi trao đổi giữa ông và Đài Á châu tự do về việc ông bị đe dọa tước giấy phép hành nghề luật sư. Buổi trao đổi này diễn ra sau khi có bản kiến nghị liên ngành của Công an, Viện kiểm soát, và Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên gửi đoàn luật sư tỉnh này yêu cầu tước chứng chỉ hành nghề của Luật sư Đôn.

Nhận xét về sự việc này, Luật sư Trần Thu Nam từ Hà Nội cho biết rằng nghề luật sư hiện nay ở Việt Nam là một nghề rất nhiều rùi ro:

Đối với nghề luật sư ở Việt Nam thì có nhiều rủi ro, nhiều nguy hiểm rình rập xung quanh nghề đó. Các tai nạn nghề nghiệp có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Đối với một đất nước có pháp luật, một đất nước pháp quyền, một đất nước dân chủ thì nghề luật sư được coi trọng. Nhưng đối với Việt Nam thì nghề luật sư chưa được coi trọng và có rất nhiều nguy hiểm xung quanh nó.”

Một nhà quan sát chính trị xã hội trong nước là Tiến sĩ Hà Sĩ Phu cũng nhận xét rằng hiện nay ở Việt nam có hai giới chịu sức ép nhiều nhất từ phía chính quyền là giới blogger và luật sư. Giới blogger thì mong muốn quyền tự do ngôn luận, còn giới luật sư thì đang phải làm việc trong một môi trường tư pháp bị nhiều ràng buộc. Luật sư Đôn cho biết là theo kinh nghiệm của ông thì văn bản liên ngành đòi tước việc hành nghề luật sư của ông phải có sự chỉ đạo của đảng bộ địa phương, chứ các cơ quan khác như Tòa án, hay Viện kiểm soát… không thể tự ý ra một văn bản như vậy.

Trong môi trường tư pháp như vậy, người ta cho rằng người luật sư dễ bị đòn thù, như trường hợp của ông Võ An Đôn. Ông Trần Thu Nam nói:

ntk-250

Một trong năm người công an đánh chết người vẫn cười trước tòa (ảnh bên trái) và gia đình nạn nhân khóc tức tưởi cũng tại tòa hôm 27/3/2014 (ảnh bên phải).

Trong việc của luật sư Đôn thì tôi cho rằng cái bản kiến nghị của các cơ quan kiểm sát, tố tụng của tỉnh Phú Yên là để trả thù luật sư. Tôi khẳng định là có vấn đề trả thù luật sư.”

Cũng có ý kiến cho rằng các vụ việc như lạm dụng quyền lực, xem thường pháp luật như vậy dễ xảy ra ở những địa phương xa xôi như tỉnh Phú Yên hơn là tại các trung tâm lớn như Hà Nội hay Sài Gòn. Tiến sĩ Hà Sĩ Phu không hoàn toàn đồng ý điều này:

Tất nhiên là ở những vùng sâu vùng xa, chổ mà không có nhỉ mục quang chiêm thì tình hình nó tồi tệ hơn, nhưng mà tất cả nằm trong cái bình diện chung lớn hơn là trong tình hình pháp luật mang tính rừng rú, không có nền pháp trị thì giới luật sư bị o ép nhiều từ phía chính quyền mà không phát huy tác dụng được.”

Đảng lãnh đạo tuyệt đối

Trở lại chuyện chỉ đạo của đảng mà luật sư Đôn đề cập đến trong bài trao đổi với chúng tôi, Luật sư Hà Huy Sơn cho rằng việc đó là phạm pháp:

Nếu thật sự có sự chỉ đạo của đảng bộ thì đây cũng là sai pháp luật vì trong Hiến pháp 2013 thì tất cả các cơ quan đảng phải tuân thủ theo pháp luật.”

Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu, người nhiều năm nghiên cứu về chủ nghĩa cộng sản tại Việt Nam nói rằng thực ra người cộng sản chỉ coi pháp luật là một công cụ tạm thời của họ mà thôi:

“Thực tế là người cộng sản họ muốn mình chỉ đạo tuyệt đối. Đó là mâu thuẫn cơ bản đối với dân chủ. Tức là quyền ở đảng còn dân chủ là quyền ở dân mà đảng chỉ là một bộ phận và tạm thời. Đó là mâu thuẫn rất căn bản.
-Tiến Sĩ Hà Sĩ Phu”

Thực tế là người cộng sản họ muốn mình chỉ đạo tuyệt đối. Đó là mâu thuẫn cơ bản đối với dân chủ. Tức là quyền ở đảng còn dân chủ là quyền ở dân mà đảng chỉ là một bộ phận và tạm thời. Đó là mâu thuẫn rất căn bản. Người cộng sản nghĩ rằng là xã hội tiến bộ thì phải do họ lãnh đạo tuyệt đối, đảng chỉ huy hết. Bây giờ do va chạm với xã hội văn minh nên các ông ấy đã sửa rất nhiều rồi đấy. Chứ còn cái suy nghĩ nguyên thủy của người cộng sản là xuất phát từ cái lý thuyết đó. Cái câu của ông Phạm Văn Đồng là cái câu điển hình nhất. Khi ông Nguyễn Mạnh Tường nói rằng Thủ tướng đứng đầu ngành hành pháp thì việc làm chính yếu là phải nghĩ đến việc xã hội phải có một bộ luật cho thật văn minh, thì ông Phạm Văn Đồng trả lời rằng luật để làm gì, luật để mình tự trói tay mình lại à!”

Trong nỗi lo sợ bị trói tay đó, sau mấy mươi năm chấm dứt chiến tranh ý thức luật pháp của các cơ quan chấp pháp tại Việt Nam vẫn gây ngạc nhiên cho nhiều người. Vụ việc gần đây nhất là trong vụ án Hồ Duy Hải, các cơ quan điều tra và tố tụng điềm nhiên mua dao ngoài chợ về để làm tang vật.

Cũng trong nỗi sợ đó mà chủ tịch luật sư đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh là ông Nguyễn Đăng Trừng đã bị khai trừ ra khỏi đảng cộng sản với lý do chính thức là ông đã cản trở sự lãnh đạo của đảng.

Và từ khi Việt Nam bắt đầu có va chạm với thế giới dân chủ, sửa đổi nhiều chuyện luật lệ, cho phép nghề luật hồi sinh thay vì bồi thẩm đoàn nhân dân như trước kia, nhiều luật sư lại bị bắt bỏ tù, tước chứng chỉ hành nghề, hoặc thậm chí phải đi lưu vong. Có thể kể ra một danh sách dài như Lê Công Định, Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân, Cù Huy Hà Vũ, Lê Trần Luật, Nguyễn Đăng Trừng… Liên quan tới họ là những vụ án có tính chính trị khi bảo vệ những người bất đồng chính kiến, nhưng cũng có khi chỉ là xung đột đất đai giữa dân chúng và chính quyền như vụ Đoàn Văn Vươn, hay Thái Hà. Và Luật sư Võ An Đôn có vẻ cũng đang vào tầm ngắm của đảng ủy tỉnh Phú Yên sau vụ án chống ại sự lạm dụng quyền lực của công an làm chết người.

Khi chúng tôi hoàn thành bài viết này thì một nhóm dân sự Việt Nam đưa ra một bản kiến nghị, thu thập chữ ký để bảo vệ luật sư Võ An Đôn, và đã thu thập được 127 chữ ký. Các luật sư như Hà Huy Sơn, Trần Thu Nam mà chúng tôi tiếp xúc đều nói là họ rất ủng hộ bản kiến nghị này.

Bài giảng của Lm. Giuse Nguyễn Văn Toản.DCCT

Kính chào ông bà và anh chị em, cách riêng, kính chào ông bà và anh chị em không phải là người Công Giáo đang tham dự Thánh Lễ cầu nguyện cho Công Lý và Hòa Bình hôm nay.

Đoạn Tin Mừng theo Thánh Máccô chúng ta vừa nghe đọc trong Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, có tới 5 cụm từ “phải tỉnh thức”, “phải canh thức” được lặp đi lặp lại trong lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Và đó cũng là cụm từ chìa khóa cho bài Tin Mừng hôm nay. Đó là sứ điệp chính mà Chúa Giêsu gửi tới, không chỉ cho các môn đệ của Ngài, không chỉ cho mỗi người chúng ta, nhưng còn cho mọi người, như chính lời Chúa Giêsu nói: “Điều Thầy nói với anh em đây, Thầy cũng nói với hết thảy mọi người là ‘phải canh thức’.”

Phải canh thức! Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em. Đức Giêsu nhắc nhở mọi người phải canh thức, bởi vì: Anh em không biết giờ Con Người đến. Anh em phải canh thức, vì anh em không biết thời tận cùng của thế giới thụ tạo này. Anh em phải canh thức, phải tỉnh thức vì anh em không biết thời tận cùng của đời anh em – ngày anh em sẽ trút hơi thở cuối cùng, bỏ lại mọi thứ để ra đi với hai bàn tay trắng. Do đó, anh em phải canh thức! Anh em phải tỉnh thức!

Linh mục Giuse Nguyễn Văn Toản, Dòng Chúa Cứu Thế

Đức Giêsu đang nhắc nhở mọi người về thực tại của thế giới thụ tạo này, trong đó, thân phận con người cũng như thế giới này thật hữu hạn. Thế giới này, trong đó có con người chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định. Chỉ có Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa, Ngài mới là vĩnh cửu và chỉ có Ngài mới là chủ của vạn vật lịch sử. Con người chỉ là phàm nhân trước mặt Thiên Chúa, như lời tác giả sách Thánh Vịnh thưa lên:

“Nào phàm nhân sống mãi được sao?

Mà chẳng phải đến ngày tận số?

Kìa họ lấy tên mình mà đặt cho miền này xứ nọ,

Nhưng ba tấc đất mới thật là nhà,

Nơi họ ở muôn đời muôn kiếp” (Tv 49).
Vâng, kính thưa ông bà và anh chị em, những lời ấy cho ta cảm tưởng, tác giả sách Thánh Vịnh đang quá bi quan về thân phận con người. Nhưng không! Hôm nay, Đức Giêsu Ngài đã nhắc nhở và cho ta biết về thân phận thật của thụ tạo, của mỗi người chúng ta: Con người, như người đầy tớ chờ đợi ông chủ trở về. Ông chủ ấy chính là Thiên Chúa. Thiên Chúa, Ngài sẽ đến gặp chúng ta trong ngày tận cùng của thế giới này, trong ngày tận cùng của đời ta. Con người, bất kể họ là ai, họ sẽ phải đối diện với cái chết. Khi ấy là lúc mà ông chủ là Thiên Chúa trở về – lúc ấy, ngày ấy thật bất ngờ, không ai biết trước được. Do đó, chúng ta được mời gọi: Hãy canh thức! Hãy tỉnh thức!

Canh thức, tỉnh thức thế nào đây. Có nghĩa là đừng có ngủ, đừng có ngủ mê! Nhưng chắc chắn Đức Giêsu không nói tới cái thức, cái ngủ về thể lý. Vậy, Đức Giêsu nhắc nhở phải canh thức điều gì, phải tỉnh thức ra sao? Thưa ông bà và anh chị em!

Đoạn Tin Mừng chúng ta vừa nghe đọc hôm nay, nằm trong trình thuật Đức Giêsu đang ở thành Giêrusalem và Ngài nói về ngày sụp đổ của thành, cũng như Ngài nói về ngày tận thế – ngày tận cùng của thế giới này.

Khi nhắc mọi người phải canh thức, phải tỉnh thức, trước đó, Đức Giêsu đã nhắc: “Anh em hãy coi chừng kẻo bị người ta lừa gạt. Sẽ có nhiều kẻ mạo danh Thầy đến nói rằng: “Chính Ta đây! và họ sẽ lừa gạt được nhiều người.” Sau đó, Ngài cảnh báo: “Trước khi ngày tận cùng đến, người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn, anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Ngài nói tiếp: “Anh em đừng sợ, đừng lo phải nói gì”. Cũng trong trình thuật này, Tin Mừng thánh Luca còn viết thêm: khi điều đó xảy đến, “Anh em hãy ngẩng đầu và đứng vững”.

Vâng, kính thưa cộng đoàn, thái độ canh thức, tỉnh thức trước tiên mà Chúa Giêsu mời gọi mọi người là: “hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt”. Chúa Giêsu cho biết: Ngài là đường, là sự thật và là sự sống. Ngài nói với tổng trấn Philatô, Ngài đến để làm chứng cho sự thật: “Chính vì lẽ này mà tôi đã sinh ra, và chính vì lẽ này mà tôi đã đến trong thế gian: ấy là để làm chứng cho sự thật. Phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng tôi”. Do đó, phủ nhận sự thật, bóp méo sự thật để đi trong sự giả trá, để lừa gạt là chống lại Thiên Chúa, chống lại Đấng Tạo Hóa.

Trong môi trường chúng ta đang sống, trong xã hội của chúng ta đã và sẽ có những người, những nhóm người nhân danh Tin Mừng để lừa gạt người khác. Đã và đang có nhóm người dùng mọi chiêu bài để bóp méo lịch sử, lừa gạt người dân, lừa gạt nhiều thế hệ, kéo cả một dân tộc đi vào con đường sai lầm.

Chúng ta đang sống trong một xã hội lấy chủ thuyết cộng sản – chủ thuyết đặt trên nền tảng của gian dối, lừa gạt:

Sau một thời gian đã biết thế nào là xã hội chủ nghĩa, thế nào là cộng sản: Mikhail Gorbachyov, nguyên Tổng bí thư Đảng cộng sản Liên Bang Sô Viết nói: “Tôi đã bỏ một lửa cuộc đời cho lý tưởng cộng sản. Hôm nay tôi đau buồn mà nói rằng, đảng cộng sản chỉ biết tuyên truyền và dối trá”.

Đã có kinh nghiệm sống trong xã hội cộng sản Đông Đức, Thủ tướng Đức đương thời, bà Angela Merkel nói: “Cộng Sản đã làm cho người dân trở thành gian dối”.

Tổng Thống Nga đương nhiệm, ông Putin nói: “Ai tin Cộng Sản, là không có cái đầu. Ai làm theo lời của Cộng Sản, là không có trái tim.”

Kính thưa ông bà và anh chị em, những con người sống trong xã hội được coi là khai sinh ra chủ nghĩa cộng sản, họ đã phải tuyên bố về nó như thế. Dân tộc của họ đã từ bỏ chủ nghĩa Cộng Sản, cho nó vào quá khứ để đi con đường văn minh, chân thật hơn.

VIỆT NAM

Tại Việt Nam, chủ nghĩa cộng sản đã thống trị hơn một nửa thế kỷ tại Miền Bắc và gần 40 năm tại Miền Nam này. Người dân đã và vẫn đang bị lừa gạt, bao thế hệ đã và đang sống trong sự dối trá.

Vâng, nếu tôi và bao bao bạn trẻ, tôi tin rằng, có nhiều nhiều bạn đang ngồi trong ngôi nhà thờ này không được tiếp xúc với sự thật lịch sử từ các trang mạng internet; nếu thế hệ trẻ không được đọc những tác phẩm như: Đêm Giữa Ban Ngày của Vũ Thư Hiên, Nhật Kỳ một Thằng Hèn của nhạc sĩ Tô Hải; Bên Thắng Cuộc của nhà báo Huy Đức, Đèn Cù của Trần Đĩnh; Và nếu thế hệ trẻ ngày nay không được các thế hệ cha ông mình kể lại, không lắng nghe những người trong cuộc nói cho biết, thì bản thân tôi, bao người trẻ đã và vẫn còn bị lừa gạt nhiều điều.

Chúng tôi bị lừa gạt về cái gọi là thắng lợi 30-4-1975. Nếu không biết đâu là sự thật thì người ta vẫn tin rằng: Đồng bào Miền Nam đói khổ, bị chính quyền bù nhìn câu kết với Đế Quốc Mỹ đàn áp, bóc lột người dân tới tận xương tủy. Đồng bào Miền Bắc hãy làm cuộc giải phóng cho đồng bào Miền Nam…

Nếu người dân không được tiếp xúc với những nguồn tin lề trái, mà chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ nhìn những gì đảng cho đọc, đảng cho nghe, đảng cho thấy thì cứ tưởng rằng, Hoàng Sa, Trường Sa vẫn nguyên vẹn thuộc quyền sử dụng của Việt Nam. Sự thật là người ta đã để cho Trung Cộng chiếm gần hết. Người ta cứ tin rằng, Đất nước ta từ Ải Nam Quan đến Mũi Cà Mau. Sự thật là Ải Nam Quan nay không còn. Hàng km đất biên giới phía Bắc đã cho Trung Cộng thuê với thời hạn cả 50 năm trở lên.

Và nếu ta không chịu tìm hiểu, không phóng tầm mắt ra các nước xung quanh, các nước Phương Tây, nhiều người vẫn còn bị lừa gạt rằng: Chủ nghĩa Tư Bản đang giãy chết. Chủ nghĩa Tư bản độc ác. Các ông chủ Tư bản bóc lột người lao động như vắt chanh bỏ vỏ; còn chủ nghĩa xã hội là đỉnh cao trí tuệ của loài người… Chủ nghĩa xã hội là khoa học, là tiến bộ…

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Có thể tôi và nhiều anh chị em chúng ta ngồi đây, đã biết, đã không bị lừa gạt bởi những gì chủ nghĩa cộng sản tuyên truyền. Có thể tôi và anh chị em không là nạn nhân, nhưng rất, rất có thể chúng ta lại trở thành người đã để cho sự giả dối, lừa gạt đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình. Sống trong một xã hội lấy chủ nghĩa giả dối, lừa gạt làm nền tảng thì có thể chúng ta đã bị ảnh hưởng bởi điều đó. Chúng ta thấy tình trạng học giả lấy bằng thật, làm giả lấy công thật, làm hàng giả, bán hàng giả… trong lãnh vực nào cũng có cái giả.

Một xã hội đặt trên nền tảng của sự lừa lọc, giả dối để rồi cả xã hội ấy người người làm giả, nói dối. Nói như nhạc sĩ Tô Hải viết trong cuốn Nhật Ký Thằng Hèn của ông: “tao, mày, nó, chúng tôi, các anh, chúng nó… đều làm dối, nói dối, khen nhau dối, và từ trên xuống dưới đều dối nhau là “Đừng có nói… đó là… nói dối!” Hay như đại tá, nhà văn Nguyễn Khải thú nhận trong tùy bút “Đi tìm cái tôi đã mất”: “Người Cộng Sản nói dối lem lém, nói dối lì lợm. Nói dối không hề biết xấu hổ, không hề run sợ. Người dân vì muốn sống còn cũng phải nói dối theo.”

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Chúa Giêsu Ngài là sự thật, Ngài đến làm chứng cho sự thật và phàm ai thuộc về sự thật, thì nghe được tiếng Ngài”. Hôm nay, Chúa Giêsu cảnh báo mọi người: “Anh em hãy coi chừng, kẻo bị người ta lừa gạt.”

Đừng để cho người ta lừa gạt để rồi phải sống trong sự giả dối. Đừng để sự giả dối đi vào trong suy nghĩ, hành động của mình mà trở thành kẻ lừa gạt người khác. Đó là thái độ sống tỉnh thức trước tiên Chúa Giêsu mời gọi chúng ta hôm nay.

Thái độ sống tỉnh thức kế tiếp Chúa Giêsu mời gọi ta, đó là: “Đừng sợ!”

Đức Giêsu cảnh báo: “Phần anh em, anh em hãy coi chừng! Người ta sẽ nộp anh em cho các hội đồng; tại các hội đường, anh em sẽ bị đánh đòn; anh em sẽ phải ra trước mặt vua chúa quan quyền vì Thầy, để làm chứng cho họ được biết”. Nhưng “anh em đừng sợ đừng lo phải nói gì”.

Có nhiều nỗi sợ hãi trong cuộc đời ta, nhưng có nỗi sợ đến từ sự đe dọa, bắt bở, đàn áp, bỏ tù của những kẻ mạnh, của những người có chức có quyền, có vũ lực trong tay.

Một trong cách thức mà chế độ Cộng Sản ở đâu cũng áp dụng, đó là làm cho người dân luôn sống trong nỗi sợ hãi. Nhà cầm quyền đã dùng người dân để theo dõi nhau, người này theo dõi người kia, nhà này theo dõi nhà nọ. Dẫn đến mất niềm tin, nghi ngờ nhau, mang đến nỗi sợ hãi để rồi chỉ còn làm cách lén lút, dù điều đó là điều tốt.

Chính quyền dùng bạo lực, dùng nhà tù để tạo nên nỗi sợ hãi cho người dân. Để rồi người dân chỉ còn biết nghe theo, làm theo; dù lương tâm cho biết, đó là điều trái với đạo lý, trái đức tin của mình.

Điều này không chỉ xảy ra trong xã hội chúng ta trước đây, mà ngày nay, hiện tại vẫn đang xảy ra: Nhà cầm quyền dùng người dân theo dõi người dân. Dùng những người ăn không ngồi rồi, theo dõi người bất đồng chính kiến… Dùng nhiều cách thức khác nhau để mang đến nỗi sợ hãi: triệt hạ kinh tế, sách nhiễu gia đình, khủng bố tinh thần, thể xác; giả dạng côn đồ đánh đập, bắt bớ bỏ tù… Tạo ra nỗi sợ hãi cho những người bất đồng chính kiến, những người bằng đường lối ôn hòa, muốn dấn thân thúc đẩy tự do, dân chủ, công bằng, đa nguyên đa đảng cho Việt Nam.

Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi có người không dám nói tới hai từ “chính trị”, không dám bàn tới chính trị. Những cụm từ: dân chủ, quyền con người, đa nguyên đa đảng… trở thành những cụm từ kỵ. Kỵ không phải vì điều gì khác mà kỵ vì quá sợ, vì sợ hãi.

Sợ hãi trước sự thật đang xảy ra cho dân tộc, sợ hãi không còn dám liên đới, lên tiếng cho những con người nghèo khổ đang bị gạt ra bên lề xã hội, đang chịu bao cảnh nỗi oan khiên. Điển hình là những vụ việc xảy ra được nêu lên trước thánh lễ mà Cha Thoại đã nêu lên: vụ việc của nhà báo Trương Minh Đức, giảng viên Phạm Minh Hoàng, người ta hành hung, đe dọa; đến cả ông Tổng lãnh sự Pháp người ta còn kẹp cổ ông… nhằm đe dọa ông.

Vụ án nhiều mờ ám của anh Hồ Duy Hải, và phiên tòa sắp tới ngày 12.12 xử bà Bùi Minh Hằng, hay việc lên tiếng cho tình trạng bị tù oan sai của anh Đặng Xuân Diệu, Hồ Đức Hòa, của luật sư Lê Quốc Quân, chị Tạ Phong Tần, ông Trần Huỳnh Duy Thức… và nhiều vụ việc khác nữa.

Vâng, nhiều người dân biết đó, biết họ chỉ lên tiếng những vấn đề của đất nước, lên tiếng cách ôn hòa nhằm thúc đẩy tự do, dân chủ, nhân quyền, thúc đẩy những điều tốt đẹp cho Việt Nam nhưng đã bị nhà cầm quyền xử cả chục năm tù giam. Biết đó, nhưng sợ! Sợ nhà cầm quyền. Nhà cầm quyền làm cho người dân sợ hãi đến nỗi không dám lên tiếng, không dám nói tiếng nói của lương tâm,  của lương tri, không dám lên tiếng, không dám liên đới với anh chị em của mình.

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Trong ngày Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, Chúa Giêsu trấn an ta: “Anh em đừng sợ những kẻ giết thân xác mà không giết được linh hồn. Đúng hơn, anh em hãy sợ Đấng có thể tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong hỏa ngục.” Và Ngài cũng nói với chúng ta, nói cho những ai thành tâm thiện chí: “Phúc cho những ai chịu bách hại vì sống công chính, vì Nước Trời là của họ”.

Chúng ta cám ơn Chúa, vì đã và đang ngày càng có nhiều người vượt qua nỗi sợ hãi để có thể bày tỏ chính kiến, quan điểm của mình cách công khai về các vấn đề trong xã hội Việt Nam. Họ đã và sẵn sàng chịu sự sách nhiễu, hành hung, trấn áp, ngồi tù bởi nhà cầm quyền, để có thể nói điều lương tâm, lương tri mách bảo.

Cám ơn Chúa, vì đã có bao thế hệ cha ông chúng ta là các thánh tử đạo Việt Nam đã trung kiên với đức tin mình lãnh nhận, dù các ngài có gặp gian nan khốn khó; dù các ngài có bị bắt bở, chịu bỏ tù, dù có phải hy sinh mạng sống mình, các ngài đã vượt lên nỗi sợ hãi để sống đức tin, làm chứng cho đức tin – đức tin chân thật mà các ngài đã lãnh nhận.

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Hôm nay là ngày cuối cùng trong tháng mà Hội thánh mời gọi con cái mình nhớ tới các bậc tiền nhân đã qua đời, để cầu nguyện cho các ngài. Lúc này đây, tôi nhớ tới hình ảnh của cha Giuse Vũ Ngọc Bích và thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn trong Nhà Dòng chúng tôi. Năm 1954, khi người dân Miền Bắc ồ ạt chạy vào Nam để trốn chế độ cộng sản, thì cha Giuse Vũ Ngọc Bích và Thầy Marcel Văn đã can đảm tình nguyện từ Nam trở ra Bắc.

Cha Giuse Vũ Ngọc Bích đã âm thầm, chịu bao đau khổ để giữ đền Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, cơ sở của DCCT, nhờ vậy mà DCCT còn có cơ sở tại Hà Nội như ngày hôm nay.

Đối với thầy Marcel Nguyễn Tấn Văn. Sau khi vừa ra Hà Nội, trong một lần ra ngoài phố, tình cờ thầy nghe vài người đang nói những điều sai sự thật về xã hội Miền Nam. Thầy Văn đã tiến lại nói với họ: Điều các ông vừa nói không đúng sự thật. Tôi sống trong đó, mới từ trong đó ra nên tôi biết rõ Miền Nam. Thầy Marcel Văn không phải không biết sự nguy hiểm khi nói những điều ấy, nhưng thầy đã vượt qua nỗi sợ hãi để làm chứng cho sự thật. Thầy Macen Văn đã bị bắt đem đi và chết trong nhà lao Yên Bình thuộc tỉnh Yên Bái vào năm 1959.

Kính thưa ông bà và anh chị em,

Chúa Nhật thứ nhất Mùa Vọng hôm nay, ngày chúng ta cầu nguyện cho Công Lý Hòa Bình trên quê hương đất nước chúng ta, Lời Chúa nhắc nhở mọi người: Phải canh thức, phải tỉnh thức! Phải canh thức, tỉnh thức bởi sự hữu hạn của thế giới thụ tạo; bởi mỗi người chúng ta sẽ có ngày gặp lại ông chủ của mình là Thiên Chúa.

Và thái độ canh thức, tỉnh thức mà hôm nay Chúa Giêsu mời gọi đó chính là hãy cẩn thận, đừng để bị lừa gạt: đừng để rơi vào tình trạng biến cái xấu thành tốt, cái giả thành thật, cái sai thành đúng! Thiên Chúa, Ngài là Đấng chân thật và Ngài mời gọi ta đi trong đường lối chân thật.

Ta được mời gọi “đừng sợ”. Đừng sợ những kẻ chỉ giết được thân xác mà không giết được linh hồn ta. Hãy đứng vững và ngẩng đầu lên, bởi sự sống, sự chết của chúng ta nằm trong tay Thiên Chúa. Thiên Chúa mới là người xét xử ta. Hãy can đảm sống Đức Tin, sống những giá trị của Tin Mừng. Đừng để cho nỗi sợ biến chúng ta thành những người thờ ơ trước nỗi đau khổ của anh chị em mình, trước vận mạng của dân tộc. Đừng để nỗi sợ hãi biến chúng ta thành những người đánh mất lương tri mà Thiên Chúa – Đấng Tạo Hóa đã ban cho chúng ta.

Nguyện xin Chúa Giêsu, Đấng đã nhắc nhở ta phải canh thức, phải tỉnh thức; xin Ngài ban cho ta ơn khôn ngoan, lòng can đảm, vượt qua nỗi sợ hãi để ta có thể sống trong sự thật và biết làm chứng cho sự thật giữa xã hội mà ta đang sống hôm nay. Amen!

Lm. Giuse Nguyễn Văn Toản.DCCT

Xem Thánh Lễ Công Lý & Hòa Bình DCCT Sài Gòn – 30.11.2014

httpv://www.youtube.com/watch?v=VkerMhD0gqs


8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI NHẤT TRÊN THẾ GIỚI .

8 CÂU NÓI TUYỆT VỜI NHẤT TRÊN THẾ GIỚI .

1. “Đừng bao giờ đùa giỡn với cảm xúc của người khác, bởi vì bạn có thể giành chiến thắng, nhưng hậu quả là bạn chắc chắn sẽ mất đi người đó trong suốt cuộc đời của bạn.” – (Shakespeare).

2. “Thế giới phải chìm đắm trong đau khổ không phải vì tội ác của những kẻ xấu, mà là vì sự im lặng của những người tốt”. – (Napoleon).

3. “Tôi rất biết ơn tất cả những người đã nói KHÔNG với tôi. Nhờ vậy mà tôi biết cách tự mình giải quyết sự việc.” – (Einstein).

4. “Nếu tình bạn là điểm yếu lớn nhất của bạn, thì bạn chính là người mạnh mẽ nhất trên thế giới.” – (Abraham Lincoln).

5. “Một người tươi cười không có nghĩa là họ không có nỗi buồn. Điều đó có nghĩa là họ có khả năng đối phó với nỗi buồn đó.” – (Shakespeare).

6. “Cơ hội giống như bình minh, nếu bạn chờ đợi quá lâu, bạn có thể bỏ lỡ nó”. – (William Arthur).

7. “Khi bạn ở ngoài sáng, tất cả mọi thứ đều theo bạn, nhưng khi bạn bước vào bóng tối, ngay cả cái bóng của bạn cũng không đi theo bạn nữa.” – (Hitler).

8. “Đồng tiền luôn phát ra âm thanh. Nhưng tờ tiền thì luôn im lặng. Vì vậy, khi giá trị của bạn tăng lên, thì hãy luôn luôn giữ yên lặng.” – (Shakespeare)

Posted by Việt Anh

Đi tìm hạnh phúc trong thời kỳ khủng hoảng

Đi tìm hạnh phúc trong thời kỳ khủng hoảng

Thanh Vân

Vào thời kỳ mà kinh tế trì trệ, thất nghiệp gia tăng, thâm thủng ngân sách quốc gia là vấn nạn khó giải quyết ở các xứ từ Hoa Kỳ đến các quốc gia Âu Châu (ngoại trừ  Đức) : Tây Ban Nha, Ý, Pháp đến đổi như Hy Lạp, chính phủ gần như phá sản, phải đưa ra những biện pháp thất nhân tâm, như giảm lương, giảm tiền hưu trí  để cố gắng một cách vô vọng  cứu vãn cán cân tài chính. Thêm vào đó bịnh dịch Ebola đáng sợ ở Phi Châu có nguy cơ lan sang Hoa Kỳ, Tây Ban Nha, Pháp… Rồi  sự nổi dậy của nhóm Quốc Gia Hồi Giáo ở Irak, Syrie với những hình ảnh giết người mạn rợ; rồi  bão lụt, động đất thỉnh thoảng diễn ra nơi này nơi kia trên quả địa cầu…

Tất cả  những sự kiện đó ở đầu thế kỹ thứ 21 nầy làm cho con người , không ít hay nhiều, cảm thấy buồn chán , thất vọng, và nhìn tương lai qua gọng kính không được tươi sáng lắm.

Nhưng với bản tính sinh tồn trời ban, con người hơn bao giờ hết, đi tìm niềm vui, hy vọng và hạnh phúc ở một khía cạnh khác đơn giản hơn. Trước đó, vào thời kỳ kinh tế hưng thịnh, tiền bạc thâu kiếm dễ dàng, công việc làm ăn không thiếu, những hạnh phúc và niềm vui đơn giản đó bị xem như thứ yếu, không đáng quan tâm, hay có thể nói, được đánh giá là thấp kém.

Những thứ hạnh phúc đó là gì, mà hiện nay trong thời kỳ khủng hoảng, người ta lại quí trọng, lại muốn đi tìm?

Người ta đã định nghĩa như thế nầy về hạnh phúc: hạnh phúc giống như hiện tượng đi xe đạp, trước hết phải học mới biết xử dụng chiếc xe, phải tập để đừng bị ngả, và khi biết đi xe đạp rồi thì phải nhuần nhuyễn đi thường thì mới thực hiện môn thề thao nầy một cách hòan hảo.

Nghĩa là:

–      Hạnh phúc không phải là món quà trời ban mà muốn có hạnh phúc phải tự mình tìm tòi, và phải dầy công tập luyện.

Nhìn chung, có cái gì không ổn khi ngày nay chúng ta được chăm sóc sức khỏe kỹ lưỡng, được sống trong ngôi nhà đầy đủ tiện nghi. Để giải trí có máy truyền hình, để mở mang kiến thức và học hỏi ta có đầy đủ sách vở các loại, để chống lại bịnh tật có thuốc ngừa. Thế mà theo nghiên cứu, trên thế giới nầy ở mọi nơi trên quả địa cầu con người đều cho là số phận mình chưa được tốt đẹp lắm và muốn có một tương lai rạng rỡ hơn. Nghĩa là hạnh phúc còn là cái gì xa vời. Đó là hiện tượng mà người ta gọi “sự nghịch lý của những người Nhật Bản” ( le paradoxe japonais ). Thực vậy, cách đây 45 năm, người dân Nhật Bản có rất ít tiện nghi, không có điện thoại, không có hệ thống sưởi trong nhà, không có trò chơi điện tử, nhưng lúc đó, theo dò hỏi và thống kê, họ là dân tộc hạnh phúc nhất địa cầu. Vậy mà ngày nay, họ tiến bộ vượt bực, có tất cả mọi tiện nghi tân tiến, nhưng họ lại mắc bịnh trầm cảm, buồn chán khá đông. Tỷ lệ tự tử rất cao, đạt kỷ lục: trong số 1000 người có 25 người Nhật tự kết liễu cuộc đời. Mỗi năm, chính phủ Nhật đã hao hụt đi trong ngân sách 25 tỉ euros vì những ngưởi tự tử và bị bịnh trầm cảm bỏ việc làm (Le Monde 8/9/2010). Như vậy, tiện nghi vật chất không làm cho con người hạnh phúc và sung sướng.

Trường hợp những người sống trong nhung lụa nhưng không thấy vui và hạnh phúc không thiếu, như cô Christina, con gái nhà tỷ phú Aristote Onassis, như nhà tạo mẩu thời trang Pháp Yves Saint-Laurent, như cô ca sĩ trẻ người Anh Amy Winehouse có giọng ca khàn khàn tuyệt vời đã từ trần vào năm 2011 vì uống rượu quá độ để giải sầu.

Theo thống kê mỗi 4 năm của cơ quan World Values Survey, trong 46  quốc gia được thăm dò, khi hỏi về điều kiện để có hạnh phúc, đa số người dân cho là:

–      Lãnh lương cao không làm cho con người hạnh phúc, có vừa đủ để tiêu xài và chi trả mọi thứ đã đủ, nghĩa là khoảng 1200 euros mỗi tháng (trong các nước tân tiến) cho mỗi cá nhân.

Quan trọng nhất để có hạnh phúc, theo thứ tự là :

1) có một cuộc sống lứa đôi bền vững, lâu dài, đầm ấm.

2) có một việc làm đều đặn.

3) có sư ổn định nơi chính phủ của quốc gia mình.

4) có một nhóm bạn thân cùng chung lý tưởng để chia xẻ và tâm tình.

5) có tôn giáo để tin tưởng và thực hành niềm tin của mình.

6) và chót hết, chỉ nên xem truyển hình vừa đủ không quá độ.

(nghĩa là xem truyền hình nhiều làm giảm hạnh phúc !)

Cũng theo các nhà nghiên cứu, họ khuyên ta trao dồi hạnh phúc bằng 4 điều cần thực hiện như sau:

–         Đi bộ mỗi ngày ít nhất 10 phút, trong khi đi những vấn đề trong đầu óc sẽ tự nhiên có đáp số, và ta sẽ thấy thư giản tinh thần.

–         Sống và tận hưởng phút giây hiện tại. Chẳng hạn ta đang đọc sách, hãy đọc những trang sách đó một cách bình thản, đừng để bị chia trí như nghĩ đến việc… phải đi đóng cửa sổ, phải đem rác ra bỏ ngoài đường mỗi chiều…Ta còn thì giờ để làm việc đó sau khi đọc sách xong.

–         Biết cám ơn những người đã đem lại ích lợi cho ta, vì như vậy là đắc nhân tâm, sẽ làm cho ta có cuộc sống an bình.

–         Thường nở nụ cười trên môi. Khi cười khuôn mặt ta dễ thương hơn, và như vậy ta dễ chinh phục người chung quanh để mọi việc làm đều tốt đẹp. Cũng chính vì vậy, ta nên kết bạn với những người vui vẻ hay cười để cùng trao đổi với nhau trong không khí cởi mở, vui tươi?

Ngoài ra, chúng ta đang sống vào thời đại mà sự tiêu xài, mua sắm là một hiện tượng xã hội. Chúng ta phải tiêu xài , mua sắm đôi khi một cách xa hoa để thỏa mản sự đòi hỏi  trong tâm thức, để được hảnh diện đối với những người chung quanh, chứ không phải để giải đáp những nhu cầu thiết yếu trong đời sống. Hay nói một cách khác là để khoa trương. Chẳng hạn, bạn đã có chiếc xe hơi còn chạy tốt, bạn lại muốn đổi xe mới tân thời hơi; hay các nguời phụ nữ mua thêm cái ví xách tay thời trang vì thấy quảng cáo trên báo chí; hay các bà các cô cứ muốn đi giải phẩu thẩm mỹ vì nghĩ rằng mình sẽ đẹp và quyến rủ hơn, nhưng đôi khi là… ngược lại. Người viết có cô bạn người Việt lớn lên ở Cambodge, đã đi sửa ngực 3 lần vì cứ thấy chưa vừa ý. Kết quả là vợ chồng cô “hục hặc”, cãi vã và đi đến ly dị. Cô trách chồng (một người gốc Tàu ở Cambodge, sang Pháp cùng cô vào những năm 60 và họ thành công lớn trong lãnh vực đầu tư) lúc nào cũng nhìn những cô gái có ngực to, nên cô đi sửa ngực, nhưng chồng cô bảo “Tôi nhìn, vì họ đưa trước mắt, chứ tôi có thích đâu. Tôi thích cái gì tự nhiên. Như em sơn móng tay đủ cách, tôi cũng không thích, mà em cứ làm theo ý, tôi không nói được”. Hiện giờ, cô bạn đang bị bịnh trầm cảm dù cô có tiền để đi mua sắm hay du lịch đó đây. Cô tâm sự là cuộc đời cô không còn ý nghĩa!

Thực vậy, khởi đầu ta nghĩ những sự tiêu xài, mua sắm sẽ đem lại cho ta sự thỏa mản, vui sướng trong tâm hồn. Nhưng trái lại nó chỉ đưa ta vào cái vòng lẫn quẫn, không lối thoát của sự tiêu xài hoang phí, vì chạy theo cái hiện tượng xã hội rất thịnh hành hôm nay là: tiêu thụ bừa bãi không tính toán.

Chính vì hiểu thấu điều nầy có nhiều nhóm người chủ trương, để sống hạnh phúc phải sống đơn giản không phụ thuộc vào xã hội tiêu thụ. Những người nầy từ bỏ một số tiện nghi vật chất mà họ cho là không cần thiết. Họ xin nghỉ việc ở những cơ quan dù lương cao nhưng thời gian làm việc không giờ giấc, đi sớm về khuya, làm cho đầu óc căng thẳng, dễ đưa đến tổn thương tim, nảo. Như về sống ở đồng quê yên tỉnh thay vì sống ở thành thị náo nhiệt. Như chỉ tiêu thụ rau cải, trái cây hay tất cả những gì cần thiết, do chính họ tự trồng trọt, tự chế tạo lấy (theo kiểu “do it your self” rất thịnh hành hiện nay như tự mình may cái áo, tự làm cái bánh sinh nhật, tự sơn sửa cái tủ trong nhà hay tự mình dựng cái garage trong sân nhà…). Như từ bỏ cách sống vội vả, lúc nào cũng chạy đua với thời gian, để sống an nhiên tự tại, hưởng thụ từ giây từ phút cho bản thân và cho những người thân yêu. Như thay đổi cách ăn uống: ăn rau quả, đậu bắp nhiều hơn ăn thịt cá…

Càng lúc, số người chủ trương sống hài hòa với thiên nhiên và đi tìm cái hạnh phúc đơn giản, bình dị càng đông. Dù sống rất đơn sơ họ cho là họ hết sức hạnh phúc và không hề hối tiếc đã chọn lựa nếp sống bình dị nầy. Trong số những người đó, trước kia có người đã từng giử những chức vụ lớn hay những ‘golden boy ‘đã thành công trên đỉnh cao của xã hội, nhưng nay từ bỏ lối sống xa hoa để chọn nếp sống đơn giàn.

Khi quan sát họ, những người có vẻ ‘lập dị ‘này, ta sẽ thấy nét rạng rỡ, vui tươi hiện ra trên khuôn mặt họ. Những người nầy không bị bịnh mất ngủ, không bị bịnh tâm thần hay trầm cảm, trái lại, họ là những người ăn ngon ngủ yên, sức khỏe tốt. Nếu có bịnh thì họ lành bịnh nhanh chóng, và có tuổi thọ cao hơn nhiều người khác. Đó là những người sung sướng đã tìm được cái hạnh phúc thực sự của đời mình.

Chúng ta nghĩ gì về cái hạnh phúc đó ?

Hay chỉ kết luận là đi tìm hạnh phúc ngày nay trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và xã hội, có thể tóm gọn trong câu nói của thánh hiền đông phương ngày xưa:

Tri túc, tiện túc hà thời túc (Biết đủ thì đã là đủ) hay của nhà triết học Hy Lạp Aristote đã nói từ 300 năm trước Thiên Chúa : Hạnh phúc tùy thuộc do chính chúng ta thôi. (Le bonheur dépend de nous seul).

Thanh Vân

Paris, 22/10/2014

Người Việt đầu tiên được bầu làm chủ tịch điều hành nghiệp đoàn độc lập ở Úc

Người Việt đầu tiên được bầu làm chủ tịch điều hành nghiệp đoàn độc lập ở Úc

Thanh Trúc, phóng viên RFA
2014-12-07

RFA

12072014-vn-elct-austr.mp3

Khu chợ Bến Thành được người Việt xây dựng ở Úc tấp nập người mua bán trong ngày Lễ (ảnh minh họa)

Khu chợ Bến Thành được người Việt xây dựng ở Úc tấp nập người mua bán trong ngày Lễ (ảnh minh họa)

Files photos

Thứ Năm 4 tháng 12 vừa qua, một người Úc gốc Việt là ông Nguyễn Đình Hùng chính thức trở thành chủ tịch Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép của tiểu bang New South Wales, trở thành người Việt đầu tiên được bầu vào chức vụ điều hành nghiệp đoàn độc lập của một tiểu bang.

Qua bài trao đổi với Thanh Trúc, ông Nguyễn Đình Hùng cho biết ngoài quá trình hơn 20 năm làm việc trong nghiệp đoàn Úc, ông còn là phó chủ tịch tổ chức Lao Động Việt chuyên bênh vực quyền lợi công nhân trong cũng như ngoài nước:

Chức chủ tịch của Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi, Giày Dép của tiểu bang New South Wales được bầu bởi những thanh viên trong nghiệp đoàn cho một nhiệm kỳ 4 năm .

Tôi cũng làm việc trong nghiệp đoàn này được hơn 20 năm, cũng quen việc và được tín nhiệm để điều hành một nghiệp đoàn theo những chính sách được chính phủ qui định, bảo đảm tài chánh của nghiệp đoàn được sử dụng theo đúng quyền lợi của thành viên. Theo tôi được biết thì cũng có một số người Việt Nam làm việc trong nghiệp đoàn nhưng có lẽ tôi là người đầu tiên được bầu làm chủ tịch Ban Điều Hành của một Nghiệp Đoàn tại Úc.

Thanh Trúc: Xin ông cho biết thể thức bầu cử người chủ tịch Ban Điều Hành của một Nghiệp Đoàn ở tiểu bang như thế nào?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Theo hệ thống của nghiệp đoàn ở đây là phải có một liên danh và liên danh đó ra ứng cử theo đúng luật của nước Úc vì ứng cử và bầu cử phải có sự giám sát của chính phủ. Tôn chỉ của liên danh chúng tôi là bảo đảm sự điều hành của nghiệp đoàn là sự quản trị đúng đắn theo đúng điều luật chính phủ Úc cũng như những điều lệ của nghiệp đoàn, bảo đảm tài chánh phải được thực hiện đúng luật, đem lại những dịch vụ giúp đỡ và tranh đấu cho những quyền lợi của công nhân trong ngành May Mặc, Giày Dép Và Tơ Sợi.

Thanh Trúc: Thưa ông phải chăng nghề may mặc đã từng và đang là một nghề quen thuộc đối với người Việt đến định cư tại Australia nói chung cũng như New South Wales nói riêng

Ông Nguyễn Đình Hùng: Ngành may mặc ở nước Úc này rất quan trọng đặc biệt đối với người Việt chúng ta. Hầu hết đồng hương đến Úc, đa số là phụ nữ, chưa rành tiếng Anh và hoàn cảnh con nhỏ hay vì phương tiện đi lại không được nhiều. Ngành may mặc lại rất dễ làm, dễ vào, dễ thực hiện bằng cách lấy hàng về nhà may, nó đáp ứng đúng nhu cầu là thời gian du di nếu làm được nhiều. Vì vậy rất đông phụ nữ Việt Nam làm trong ngành may này.

Và ngành may này nói chung không phải chỉ cộng đồng Việt Nam mà các cộng đồng di dân khác có công an việc làm khi mới đến.

” Tôn chỉ của liên danh chúng tôi là bảo đảm sự điều hành của nghiệp đoàn là sự quản trị đúng đắn theo đúng điều luật chính phủ Úc cũng như những điều lệ của nghiệp đoàn, bảo đảm tài chánh phải được thực hiện đúng luật, đem lại những dịch vụ giúp đỡ và tranh đấu cho những quyền lợi của công nhân trong ngành May Mặc, Giày Dép Và Tơ Sợi

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Thế thì với quá trình hơn 20 năm phục vụ trong Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép ở Bang New South Wales cho tới khi được bàu làm chủ tịch nghiệp đoàn này, ông đã làm được những gì để giúp đồng hương Việt Nam?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Trong thời gian năm 1980 lúc đó luật lệ cho những người may mặc tại nhà chưa được rõ ràng lắm, họ không được hưởng quyền lợi theo đúng luật của công nhân may trong hãng. Rất nhiều người may tại nhà đã bị quỵt tiền bởi vì chủ nhân không liên lạc không cho biết hãng của họ là ở đâu, và những người khi bị giựt tiền như vậy thì không biết đi đâu để để đòi lại.

Nhiều người may tại nhà thì cũng rất sợ lên tiếng vì sợ mất công ăn việc làm. Lúc đó, bắt đầu thời gian 1994, tôi được vào Nghiệp Đoàn để bắt đầu chiến dịch tranh đấu cho những người may tại nhà, tranh đấu cho chính phủ Úc thay đổi những đạo luật để giúp đỡ, để bảo đàm cho những người may tại nhà được hưởng những quyền lợi giống như công nhân may tại hãng, đồng thời khuyến khích, đặc biệt là đồng hương Việt Nam may tại nhà, có tiếng nói cũng như mạnh dạn đứng lên đòi hỏi quyền lợi của mình.

Cho đến giờ thì những người may tại nhà đã có những quyền lợi rõ ràng và được qui định như người trong hãng. Thí dụ may bao nhiêu phải được lãnh lương bằng ngang với người trong hãng, được qui chế nghĩ phép thường niên, thâm niên . Khi bị thương tật thì cũng được chủ hãng mua bảo hiểm cho họ. Người may tại nhà không những phụ nữ Việt Nam không mà cộng đồng sắc tộc khác cũng rất mạnh dạn, thường xuyên lên tiếng đòi hỏi chính phủ phải ra những đạo luật để quyền lợi của họ càng ngày càng được cải thiện hơn.

” Bắt đầu thời gian 1994, tôi được vào Nghiệp Đoàn để bắt đầu chiến dịch tranh đấu cho những người may tại nhà, tranh đấu cho chính phủ Úc thay đổi những đạo luật để giúp đỡ, để bảo đàm cho những người may tại nhà được hưởng những quyền lợi giống như công nhân may tại hãng

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Xin phép được hỏi thêm cho rõ là khi đề cập đến những người Việt chuyên lãnh hàng may mặc về gia công tại nhà thì họ có phải là công nhân trực tiếp của một hãng xưởng hay không, họ lãnh tiền mặt hay ngân phiếu và nhất là họ có đóng thuế hay không để gọi là được bảo vệ quyền lợi lao động như ông vừa trình bày?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Theo luật trong ngành may hiện thời, chủ hãng muốn đưa hàng cho công nhân may tại nhà thì phải đăng ký một danh sách những người may tại nhà như là công nhân trong hãng, phải gởi danh sách đó lên cho nghiệp đoàn, đồng thời phải gởi lên Ủy Ban Lao Động. Đạo luật thứ hai là phải ghi tên những người công nhân may tại nhà đó vào sổ lương và phải đăng ký lấy số thuê cho người công nhân đó.

Nếu chủ nhân không làm những việc đó là họ vi phạm luật lao động của nước Úc. Người công nhân may tại nhà đồng thời cũng có bổn phận phải khai thuế lợi tức hàng năm của mình. Đó là trách nhiệm của người công nhân may tại nhà. Nếu không làm như vậy mà tiếp tục lãnh hàng về, lấy tiền mặt và không khai thuế thì chủ nhân phải có trách nhiệm.

Thanh Trúc: Ông cũng là một nhà hoạt động trong tổ chức Lao Động Việt chuyên bảo vệ quyền lợi cho công nhân ở trong nước và lao động Việt đi sang nước ngoài. Ông nghĩ Việt Nam cần thiết phải có những nghiệp đoàn hay công đoàn độc lập như Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép mà ông đang điều hành ở New South Wales này không?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Nghiệp đoàn của Úc và nghiệp đoàn của Việt Nam hoàn toàn khác nhau. Nghiệp đoàn bên Úc là nghiệp đoàn độc lập do công nhân bầu ra và điều hành, đem lại những dịch vụ bảo vệ cho công nhân trong ngành. Nghiệp đoàn ở Việt Nam thì không độc lập mà do sự chỉ định của nhà nước, không đứng về phía công nhân.

Trong thời gian qua có một thuận lợi tôi cũng là phó chủ tịch của Lao Động Việt cho nên trong thời gian qua chúng tôi tranh đấu cho Việt Nam có một nghiệp đoàn độc lập. Hiện Lao Động Việt đang tranh đấu sự ủng hộ của Nghiệp Đoàn Quốc Tế để đòi hỏi Việt Nam, nếu muốn vào TPP, thì phải công nhận quyền thành lập nghiệp đoàn độc lập. Nếu không có nghiệp đoàn độc lập tại Việt Nam thì công nhân hoàn toàn không có sự bảo vệ, không có tiếng nói cho những quyền lợi của mình.

” Nghiệp đoàn của Úc và nghiệp đoàn của Việt Nam hoàn toàn khác nhau. Nghiệp đoàn bên Úc là nghiệp đoàn độc lập do công nhân bầu ra và điều hành, đem lại những dịch vụ bảo vệ cho công nhân trong ngành. Nghiệp đoàn ở Việt Nam thì không độc lập mà do sự chỉ định của nhà nước, không đứng về phía công nhân

Ông Nguyễn Đình Hùng”

Thanh Trúc: Việt Nam cũng đã xuất khẩu lao động sang các nước, Lao Động Việt ở Australia đã làm gì để giúp đỡ cũng như bảo vệ quyền lợi cho họ khi họ chẳng may gặp trường hợp bị chủ sử dụng bản xứ ngược đãi hoặc bóc lột chẳng hạn?

Ông Nguyễn Đình Hùng: Một thí dụ cụ thể là năm 2008 có sự cầu cứu của công nhân may quần áo thể thao hiệu Nike bên Malaysia. Khi Lao Động Việt qua bên đó cùng với phóng viên đài truyền hình số 7 của Úc đã quay và phòng vấn những công nhân ở đó thì mới biết cả 400 công nhân ăn ở trong một nơi gọi là kho hàng, phải nằm trên đất vì không có giường. Bốn trăm người đều chung như vậy hết.

Chúng tôi đưa vấn đề lên công ty Nike bên Mỹ, sau đó đài truyền hình số 7 cũng đưa lên, thì họ phải buộc chủ nhân bên Malaysia thay đổi bằng cách đưa hết 400 người đó vào những căn hộ với điều kiện ăn ở căn bản, đồng thời trả lại cho họ 2.000 đô la đã lấy của họ từ Việt Nam trước khi đi qua lao động tại Malaysia. Thứ ba nữa là trả lương theo mức lương qui định cũng như có những bảo hiểm sức khỏe đàng hoàng cho hơn hai ngàn công nhân làm việc cho hãng Nike tại Malaysia.

Đồng thời, nhiều ngàn công nhân đình công tại Việt Nam thì Lao Động Việt đã có người đến giúp đỡ cho họ, cũng như can thiệp với những công ty chính ở nước ngoài hợp đồng sản xuất tại Việt Nam. Những trường hợp như vậy thì Lao Động Việt cũng giúp rất nhiều.

Xin cảm ơn ông Nguyễn Đình Hùng, một lần nữa xin chúc mừng ông trong chức vụ tân chủ tịch Nghiệp Đoàn May Mặc, Tơ Sợi Và Giày Dép của tiểu bang New South Wales, Australia.

Chuyện từ Đất lên Trời 100

Chuyện từ Đất lên Trời 100

Điều quan trọng chẳng phải là tuổi tác, mà là sức sống trong con người bạn, là sự can đảm chấp nhận thử thách, dám dấn thân vào những chuyến phiêu lưu trong hành trình vô tận của cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là cuộc sống của bạn luôn luôn bằng phẳng, rằng bạn chưa bao giờ phải nếm trải nỗi đau, mà chính là tinh thần bất khuất, là con tim ngoan cường không chịu đầu hàng nghịch cảnh của bạn. Liệu bạn sẽ đối mặt với những khó khăn, thử thách của mình như thế nào? Liệu bạn có dám dấn thân, thử sức mình thêm một lần sau khi thất bại, hay lại run rẩy, thu mình lại vì sợ sẽ lại bị tổn thương? Điều đó hoàn toàn phụ thuộc vào bạn, vào bản lĩnh của bạn, và đó mới chính là điều quan trọng của cuộc sống.

Điều quan trọng không phải là bạn đặt ra cho mình bao nhiêu quy tắc sống, cũng không phải bạn đã tuân theo chúng nghiêm chỉnh như thế nào? Mà chính là thái độ của bạn với cuộc sống. Liệu bạn có dám yêu hết lòng, có dám thể hiện cảm xúc một cách tự nhiên thay vì kìm nén chúng vì những chuẩn mực nào đó mà mình đã đặt ra?

Điều quan trọng không phải bạn là người cứng rắn đến thế nào? Cũng không phải việc bạn chưa từng để người khác thấy những giọt nước mắt yếu đuối của mình, mà chính là khả năng vững vàng khi bị mọi người buộc tội chỉ vì đã dám sống thật với lòng mình và chính là sự tự tin ngay cả khi không ai trao niềm tin nơi bạn.

Điều quan trọng không phải bạn là người xinh đẹp ra sao? Không phải bạn sở hữu một làn da trắng ngần, một vóc dáng đáng mơ ước, mà chính là tâm hồn của bạn có thật sự nhạy cảm với nỗi đau đồng loại, có nhận ra vẻ đẹp cuộc sống, có biết tận hưởng từng ngày mà mình đang may mắn có được.

Điều quan trọng không phải là số của cải bạn đang sở hữu, cũng không nằm ở ngôi nhà lộng lẫy, chiếc xe sang trọng… mà chính là việc những vật chất đó có thực sự làm cho bạn hạnh phúc, có là phương tiện giúp bạn đạt đến mục đích cao đẹp của mình, hay là ông chủ mà suốt đời bạn phụ thuộc, tôn thờ?

Điều quan trọng không nằm ở việc bạn bè của bạn có quyền cao chức trọng không? Mà chính là tình cảm họ dành cho bạn, là lòng sẵn sàng sát cánh cùng bạn trong hoàn cảnh khó khăn.

Điều quan trọng không phải là bạn có bao nhiêu tấm bằng danh giá trong tay, không phải bạn đã học được những gì, với ai và ở nơi đâu, mà chính là cách bạn vận dụng chúng trong cuộc sống này, và ở việc chúng có thể giúp bạn vững vàng hơn, trưởng thành hơn hay không?
(Trích Hạt giống Tâm hồn)
httpv://www.youtube.com/watch?v=JBEt6l4aW7E&list=UU8Z8xvp0-Qwkhlsfcll6Zqg

VƯỢT QUA HẬN THÙ: TRƯỜNG HỢP CỦA NƯỚC PHÁP VÀ ĐỨC (SAU THẾ CHIẾN THỨ HAI)

VƯỢT QUA HẬN THÙ: TRƯỜNG HỢP CỦA NƯỚC PHÁP VÀ ĐỨC (SAU THẾ CHIẾN THỨ HAI)

Image result for Irène Laure (1898 – 1987)

Irène Laure (1898 – 1987).

Bài viết của  :   Đoàn Thanh Liêm

Trich Bán Nguyệt San Giáo Sĩ Việt Nam số 237

Giữa hai dân tộc nước Pháp và nước Đức đã từng có một sự hận thù nặng nề ghê gớm kéo dài trong nhiều thế hệ, phát sinh từ ba cuộc chiến tranh liên tục, bắt đầu từ năm 1870 với cuộc chiến tranh Pháp – Phổ (franco-prussian war), rồi đến đệ nhất thế chiến 1914 – 1918, và sau cùng là đệ nhị thế chiến 1939 – 1945. Nhưng kể từ giữa thập niên 1950, hai nước này đã vượt qua được sự thù hận ân oán lâu đời đó, để mà cùng hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm góp phần cực kỳ quan trọng vào việc xây dựng được một khối thị trường chung Âu châu (European Common Market). Và rồi tiến tới thêm một bước kỳ diệu nữa, đó là thiết lập được một thực thể chính trị kinh tế quan trọng bậc nhất trong thế giới hiện đại, tức là tổ chức Liên Hiệp Âu châu (European Union EU), mà hiện gồm có 27 quốc gia thành viên, với dân số tổng cộng là 500 triệu người, với đơn vị tiền tệ chung gọi là đồng euro, và tổng sản lượng quốc gia GDP lên đến 20 ngàn tỷ dollar (20 trillion).

Sự hòa giải và hợp tác giữa hai quốc gia cựu thù này có thể được coi là một sự kiện nổi bật nhất trong lịch sử của Âu châu nói riêng, cũng như của cả thế giới nói chung, trong thời cận đại kể từ khi thế chiến thứ hai chấm dứt vào năm 1945, cho đến đầu thế kỷ XXI của chúng ta ngày nay. Cái thành tựu vĩ đại và ngoạn mục như thế là do sự đóng góp về cả trí tuệ và về cả tâm hồn của biết bao nhiêu nhân vật xuất chúng từ phía cả hai dân tộc Pháp và Đức. Và bài viết này xin được ghi lại cái quá trình phục hồi và xây dựng hết sức tích cực của một số nhân vật kiệt xuất đó.

Để bạn đọc dễ dàng theo dõi câu chuyện, người viết xin trình bày sơ lược về bối cảnh lịch sử tại khu vực Tây Âu, trước khi mô tả chi tiết về tiến trình hòa giải và hợp tác của hai nước Pháp và Đức trong nửa sau của thế kỷ XX.

I – Bối cảnh lịch sử cận đại tại Tây Âu.

Như ta đã biết vào năm 1870, nước Pháp do Napoleon III lãnh đạo đã bị thất trận nhục nhã trước đội quân tinh nhuệ của nước Phổ (Prussia) dưới thời cầm đầu của thủ tướng Bismarck. Việc thất trận này đưa đến sự thóai vị của Hòang Đế Napoleon III và sự giải thể của nền Đệ nhị Đế chế ( the Second Empire) và sự ra đời cùa nền Đệ Tam Cộng Hòa ( the Third Republic) của nước Pháp. Nhưng nước Pháp lại còn mất cả vùng đất Alsace-Lorraine ở phía đông bị chuyển vào tay người Đức – (do nước Phổ sáp nhập hợp thành nước Đức thống nhất vào đầu thập niên 1870)-. Đây là cả một nỗi cay đắng hận thù sâu đậm của dân Pháp đối với người Đức. Chỉ cần đọc bài viết “ Buổi học cuối cùng” (La derniere classe) của nhà văn Alphonse Daudet, ta cũng đủ thấm thía cái nỗi niềm tủi nhục uất hận của người dân Pháp trong vùng đất bị tước đọat này.

Tiếp theo vào năm 1914 – 18, lại xảy ra cuộc thế chiến thứ nhất giữa phe Đức – Áo và phe Đồng Minh do Pháp – Anh đứng đầu. Cuộc chiến tranh này gây thiệt hại rất nặng cho cả hai nước Đức và Pháp. Vì Đức cuối cùng bị thua trận, nên vùng đất Alsace-Lorraine lại trở về với Pháp. Nhưng vì nước Đức bại trận bị đối xử quá khắc nghiệt, nên người Đức thật bất mãn, hận thù phe Đồng Minh, đặc biệt đối với dân tộc láng giềng là Pháp.

Cho nên, đến năm 1939 lại xảy ra thế chiến thứ hai rất tàn bạo khủng khiếp, mà bắt đầu vào năm 1940 nước Pháp thua trận và bị quân đội Đức quốc xã của Hitler chiếm đóng với sự đàn áp hết sức tàn bạo khốc liệt. Vì thế mà mối hận thù giữa hai dân tộc Pháp-Đức lại càng thêm nặng nề bi đát. Rốt cuộc, năm 1945 nước Đức lại thua trận nữa, và cả Âu châu bị tàn phá kiệt quệ với hàng chục triệu nhân mạng bị tiêu vong.

Như vậy là chỉ trong vòng 70 năm từ năm 1870 đến năm 1940, giữa hai dân tộc Pháp và Đức đã xảy ra 3 cuộc chiến tranh đẫm máu với bao nhiêu triệu người bị giết và tàn phế, bao nhiêu tài sản bị hủy họai, và nhất là sự căm thù giận ghét mỗi ngày lại càng thêm chồng chất tích lũy giữa hai bên.

II – Quá trình Hòa giải và Hợp tác Pháp – Đức sau năm 1945.

Sau khi cuộc chiến tàn bạo dã man kết thúc, người dân hai nước bàng hòang trước sự đổ nát hoang tàn và kiệt quệ về mọi mặt. Rồi tiếp liền theo là cuộc chiến tranh lạnh gay go căng thẳng giữa hai phe cộng sản do Liên Xô lãnh đạo và phe tư bản do Mỹ dẫn đầu. Nhằm lôi kéo khu vực Tây Âu về phía mình, kể từ năm 1948 nước Mỹ đã hào phóng viện trợ đến trên 13 tỉ dollar cho các quốc gia đồng minh tại đây thông qua một chương trình tái thiết Âu châu, mà thường được gọi là kế hoạch Marshall.

Nhưng vai trò chủ yếu trong công cuộc phục hồi, tái thiết và hòa giải ở Tây Âu là do các nhà lãnh đạo chính trị có tầm vóc đặc biệt lớn lao, điển hình như thủ tướng Konrad Adenauer của Tây Đức, ngọai trưởng Robert Schuman của Pháp, và đặc biệt là kế hoạch gia đại tài với viễn kiến sâu sắc Jean Monnet người Pháp. Đã có quá nhiều sách báo viết về sự đóng góp đồ sộ làm nền móng vững chắc cho sự tiến bộ của Âu châu từ trên 65 năm nay của những nhân vật chính trị kiệt xuất này, cho nên tôi thấy không cần phải trình bày dài dòng chi tiết thêm nữa về họ.

Mà đúng theo với nhan đề của bài này, tôi muốn viết về một nhân vật tiêu biểu của Xã hội Dân sự ở Âu châu, mà có sự đóng góp thật vĩ đại vào tiến trình hòa giải của hai dân tộc Pháp và Đức trong mấy thập niên gần đây. Nhân vật lỗi lạc đó chính là bà Irène Laure người Pháp, mà tôi xin dành được đề cập đến với nhiều chi tiết hơn trong phần tiếp theo liền sau đây.

III – Câu chuyện của Irène Laure ( 1898 – 1987).

Irene Laure xuất thân là một cán sự điều dưỡng và đã từng giữ nhiệm vụ quản lý bệnh viện.  Victor người chồng của bà là một thủy thủ và là môn đệ của nhà lãnh đạo cộng sản Pháp Marcel Cachin. Trong thế chiến thứ hai, Irène tranh đấu trong hàng ngũ kháng chiến tại vùng hải cảng Marseille chống lại quân Đức quốc xã. Bà có người con trai bị mật vụ Gestapo tra tấn tàn bạo, nên đã có sự căm thù tột cùng đến độ mong cho mọi người dân Đức phải chết hết, và “ quốc gia này phải bị xóa bỏ khỏi bản đồ của Âu châu”. Sau khi chiến tranh kết thúc, Irène được bầu vào Quốc hội Lập hiến và làm Tổng thư ký của tổ chức “Phụ nữ Xã hội Pháp” với số đòan viên lên tới 3 triệu người.

Tháng chín năm 1947, Irène đến tham dự một hội nghị quốc tế tại thành phố Caux Thụy sĩ, cùng với nhiều đại biểu từ các nước Âu châu. Hội nghị này là do tổ chức Moral Re-Armament MRA (Tái Võ trang Tinh thần) đảm trách, nhằm quy tụ nhiều nhân vật văn hóa xã hội, tôn giáo để cùng nhau trao đổi về vấn đề tái thiết Âu châu. Sẵn có sự căm thù đối với người Đức, Irène đã chuẩn bị rời bỏ Hội nghị khi được biết là có một số người dân Đức cũng tham dự cuôc gặp mặt này. Nhưng bà đã ngưng chuyện bỏ về, khi được một người trong Ban Tổ chức nói với Irène rằng : “ Bà là một người theo khuynh hướng quốc tế xã hội, làm sao mà bà lại có thể tái thiết được Âu châu, nếu bà loại trừ cả một dân tộc Đức?”

Dẫu vậy, khi được mời ăn bữa trưa với một phụ nữ Đức, thì Irène đã bị “xốc rất nặng”, đến nỗi phải nằm lì trong phòng suốt hai ngày đêm liền, không ăn không ngủ. Bà bị dằn vặt trăn trở với lửa hận thù còn ngùn ngụt nóng chảy trong tâm can, và cầu xin ơn trên hướng dẫn soi sáng cho mình. Sau cuộc tranh đấu nội tâm gay go căng thẳng này, Irène đã lấy lại được sự bình tĩnh và chấp nhận đến gặp người phụ nữ Đức như đã được giới thiệu cách đó mấy bữa.

Trong bữa ăn này, Irene không hề động đến món nào, mà lại xổ ra tất cả những gì đã chất chứa trong mình sau khi đã trải qua bao nhiêu sự tàn bạo của quân đội Đức quốc xã. Rồi bà nói với người đối diện : “ Tôi phải nói ra tất cả chuyện này, vì tôi muốn được giải thoát khỏi nỗi giận ghét này “ (I want to be free of this hate).

Một sự im lặng kéo dài. Thế rôi người phụ nữ Đức mới lên tiếng, chia sẻ với Irène về những gì bản thân mình đã trải qua trong thời chiến tranh. Bà này tên là Clarita von Trott có chồng tên là Adam vốn là một người chủ chốt trong vụ âm mưu ám sát Hitler vào ngày 20 tháng Bảy năm 1944. Âm mưu thất bại và Adam bị tử hình, để cho một mình Clarita phải nuôi nấng hai đứa con. Clarita tâm sự với Irène : “Người Đức chúng tôi đã không chống đối đủ, đã không chống lại chế độ quốc xã sớm hơn và với quy mô đủ lớn, và chúng tôi đã đem lại cho chị và cho chính mình và cho cả thế giới những đau khổ đầy đọa dằn vặt không sao kể cho xiết được. Tôi muốn nói lời xin lỗi với chị “ (I want to say I am sorry).

Sau bữa ăn này, hai bà phụ nữ cùng các thông dịch viên đã yên lặng ngồi trên gác thượng nhìn xuống hồ Geneva. Rồi Irène lên tiếng nói vời người bạn mới người Đức rằng bà tin tưởng là nếu cả hai người cùng cầu nguyện, thì Thiên chúa sẽ giúp họ. Irène cầu kinh trước, xin cho mình được giải thoát khỏi lòng hận thù để có thể còn xây dựng được tương lai. Và rồi đến lượt Clarita cầu nguyện bằng tiếng Pháp. Irène bất giác đặt tay trên đầu gối của kẻ thù địch trước đây của mình. Sau này, Irène tâm sự : “Từ lúc đó, cây cầu bác ngang qua sông Rhin đã được xây dựng, và cây cầu đó đã đứng vững mãi, không bao giờ gẫy đổ được.” (And that bridge always held, never broke)- (Ghi chú : Sông Rhin là biên giới giữa hai nước Pháp và Đức).

Cuối cùng Irène đã phát biểu trong một phiên họp khoáng đại của Hội nghị trước sự hiện diện của 600 tham dự viên. Bà nói : “ Tôi đã ghét nước Đức đến độ muốn thấy nước này bị xóa bỏ khỏi bản đồ châu Âu. Nhưng tại đây, tôi thấy sự hận thù của mình là điều sai lầm. Tôi xin lỗi và tôi mong được xin tất cả các bạn người Đức có mặt nơi đây tha thứ cho tôi…” Liền sau đó, một phụ nữ Đức bước lên và nắm tay bà Irène. Sau này Irène thuật lại : “ Lúc đó, tôi biết rằng tôi sẽ dành hết cuộc đời còn lại của mình để đem cái thông điệp của sự tha thứ và hòa giải này đến khắp thế giới.”

Và quả thật vào năm sau 1948, Irène cùng chồng là Victor đã qua bên nước Đức suốt 3 tháng , đi khắp nơi để tham dự 200 phiên họp và phát biểu tại Quốc hội của 10 tỉnh bang của xứ này. Ở đâu, bà cũng nói lời xin lỗi của mình. Và đổi lại, thì cũng có rất nhiều vị tướng lãnh và sĩ quan, cùng các chính khách người Đức cũng đều lên tiếng xin lỗi với bà.

Và đó là bước khởi đầu cho cả một quá trình lâu dài của sự hòa giải và hàn gắn giữa hai dân tộc Pháp và Đức, ngay từ hạ tầng cơ sở của quảng đại quần chúng nhân dân tại hai nước. Có thể nói là cái “phong trào quần chúng tự phát này” đã có tác động mãnh liệt thúc đảy cho tầng lớp lãnh đạo chính trị tại hai quốc gia này thực hiện mau chóng sự Hòa giải và Hợp tác Hội nhập giữa hai dân tộc và góp phần chủ yếu vào công cuộc xây dựng thành công cho Liên Hiệp Âu châu như ta thấy ngày nay ở thế kỷ XXI vậy./

California, Tháng Hai 2011

Đoàn Thanh Liêm

Ân nghĩa hay nợ nần?

Ân nghĩa hay nợ nần?

Nguoi-viet.com

Tạp ghi Huy Phương

Ngày Lễ Tạ Ơn rồi cũng đã qua đi trong bình lặng, nhưng những chùm đèn trang trí vẫn lấp lánh qua mùa Giáng Sinh và còn sáng trong đêm qua năm mới. Tôi không biết trong những ngày qua, nhân mùa Thanksgiving ở Hoa Kỳ, bình tâm mà nói, không biết chúng ta đã nhớ đến ai, nghĩ đến ai hay đã đền được ơn ai chưa?
Image result for picture of thank you

Những người Anh đến Tân Thế Giới (Châu Mỹ) những ngày đầu tiên, trên một con thuyền tên là Mayflower, sau này thường được gọi là “Người Hành Hương” (Pilgrims). đến Thuộc Địa Plymouth thuộc vùng Tân Anh (New England) khi mùa Đông đang đến, vì đói và lạnh, một nửa trong số họ đã qua đời vì không chịu nổi mùa Đông khắc nghiệt. Vào đầu mùa xuân, họ may mắn gặp được những thổ dân da đỏ tốt bụng giúp đỡ lương thực, dạy họ cách sinh tồn bằng cách trồng hoa màu, săn bắt để có lương thực. Về sau khi cuộc sống đã ổn định, người Pilgrims đã tổ chức một buổi tiệc để tạ ơn Chúa Trời cũng như những người thổ dân vì đã giúp cho họ có thể sống còn đến ngày hôm nay, bằng những bữa tiệc, mà sau này đã trở thành những buổi Lễ Tạ Ơn (Thanksgiving) rất có ý nghĩa.

Nói chuyện mang ơn thì dễ nhưng trả ơn thì khó. Cuối cùng những thế kỷ sau, những kẻ ra ơn là những người Da Đỏ bị tập trung vào những khu dành riêng cho họ gọi là khu tập trung, và dùng nhiều phương cách để đồng hóa họ như buộc phải bỏ y phục dân tộc, cắt tóc ngắn, tập ăn muỗng nĩa, đặt tên lại theo cách của người da trắng, “văn minh hóa” bằng cách cưỡng ép trẻ Da Đỏ vào các trường nội trú, học tiếng Anh và Kinh Thánh, để cuối cùng hôm nay chúng ta thấy người Da Đỏ gần như bị diệt chủng.

Cách cư xử của 950 tù nhân nam nữ Anh quốc đi trên 11 chiếc thuyền buồm, đặt chân lên nước Úc, đã đối xử với thổ dân Úc là những người chủ nhà, cũng không khác gì hơn. Một chính sách đồng hóa và tiêu diệt thổ dân khốc liệt đã được thi hành. Từ năm 1930 đến 1970, 100,000 nghìn trẻ em thổ dân đã bị tách khỏi gia đình khi còn rất nhỏ từ tay cha mẹ, có người chỉ mới mười tháng tuổi, và đem nuôi tại khoảng 500 cô nhi viện, nhà thờ hay các gia đình trên khắp nước Úc để xóa bỏ tên tuổi, văn hóa, cội nguồn của chúng. Đó là sự kiện cố gắng diệt chủng thổ dân Úc hay là câu chuyện “những thế hệ bị đánh cắp” như lời xin lỗi được Thủ Tướng Kevin Rudd năm 2008.
thank you photo: thank-you thank-you.jpg

Khi người ta không muốn cho mình là kẻ chịu ơn, hay không muốn trả ơn thì cho chuyện người ta đã giúp đỡ mình là vì họ nợ mình, từ những kiếp trước hay ngay nhãn tiền. Bởi vậy, thay vì ta nói, “Anh mang ơn Em!” thì chúng ta lại nói, “Anh còn nợ Em!” Trả hết nợ là xong, chẳng có ơn mà cũng không còn nghĩa!

Khi nước Mỹ mở rộng vòng tay đón người vượt biên tị  nạn hay bỏ công của để điều đình với những kẻ thắng trận, cho những người tù chính trị được sang định cư tại Hoa Kỳ, thì đã có nhiều người cho rằng vì người Mỹ trước đây đã can thiệp vào chiến tranh Việt Nam, nên ngày nay phải có trách nhiệm đón người tị  nạn Việt Nam vào đất Mỹ. Nói chung là Mỹ nợ người Việt Nam nên phải trả, thế thôi!

Nghĩa là sòng phẳng, chẳng ai phải mang ơn ai.

Đọc lịch sử Hoa Kỳ, mới thấy quả là người Mỹ nợ nần quá nhiều, những món nợ không trả bằng tiền bạc mà trả bằng xương máu của thanh niên nước Mỹ. Chỉ nói đến các cuộc chiến tranh lớn, trong Thế Chiến Thứ I (1914-1918) người Mỹ đã nợ gì phe Anh, Pháp, Nga, Ý để phải hy sinh 35,516 người, không kể đến số mất tích và bị thương; Đệ II Thế Chiến (1941-1945) có 405,399 binh sĩ tử trận vì chung lưng với Đồng Minh (Nga- Anh- Pháp) để chống phe Trục (Đức- Nhật- Ý); Chiến Tranh Triều Tiên (1950-1953) Mỹ hy sinh 116,516 người, đã tiến đến sông Áp Lục để ngăn chặn làn sóng đỏ Trung Cộng; trong Chiến Tranh Việt Nam 58,209 thanh niên Mỹ hy sinh cho miền Nam trước hiểm họa Cộng Sản Bắc Việt với sự tiếp tay của Liên Xô-Trung Cộng.

Trong chúng ta, những người Việt trên đất Mỹ, đã mang ơn nước Mỹ, nhưng gần như hầu hết chúng ta đã quên hay không còn nghĩ đến.

Nếu nước Mỹ không văn minh, đạo đức, tự do và nhân đạo thì gia đình chúng ta đã không đến đây. Không nghe gia đình nào vượt biên giới phía Bắc để qua Vân Nam, Quảng Đông, cũng không nghe con tàu vượt biển nào được tàu Liên Xô vớt để đem về Mạc Tư Khoa.

Nhưng có những người mang ơn không muốn nói ra một lời cám ơn, đừng nói chi tổ chức được một ngày để tạ ơn nước Mỹ đã cho chúng ta đến đây, cơm no áo ấm, sống một cuộc đời có tự do, nhân phẩm và là nơi cho thế hệ con em chúng ta có cơ hội thăng tiến, trở thành con người hữu dụng.

Tôi không dám ngỏ một lời với tất cả người Việt hôm nay trên đất Mỹ, tôi chỉ dám hỏi số nhỏ bạn bè của tôi, những người bạn tù ngày trước, và cả cho tôi, đã có cơ hội nghìn vàng đến đây. Chúng ta còn nhớ ai đã lái chiếc xe đón gia đình trong ngày chúng ta đến phi trường John Wayne, hay một phi trường nào đó trên đất Mỹ? Ai đã đi thuê cho gia đình chúng ta cái apartment, là nơi chúng ta về trú ngụ trong những tháng năm đầu tiên ở đây? Ai là người mang chúng ta đến ngôi chợ, mua giúp cho chúng ta những món ăn để sửa soạn cho bữa ăn tự túc đầu tiên? Ai là người dẫn chúng ta đi lo những thủ tục nhập cư mà tất cả đối với chúng ta là những điều hoàn toàn lạ lẫm?

Ai là người ngồi bên cạnh chúng ta trong những ngày tập lái xe, với những bảng hiệu giao thông hãy còn lạ mắt?

Có bao nhiêu câu hỏi, nhưng chỉ có hai câu trả lời đơn giản: Có hay không!

Chúng ta đã đi qua bao nhiêu thành phố, đã trú ngụ trong bao nhiêu căn nhà, làm bao nhiêu nghề sinh sống, thay đổi bao nhiêu chiếc xe đi, gặp gỡ bao nhiêu bạn bè quen biết, nhưng tựu trung, chúng ta còn nhớ được những gì và những gì nay đã mờ nhạt trong trí nhớ.

Ngày Lễ Tạ Ơn qua đã lâu rồi, như nó đã từng đến và qua đi trong hơn hai mươi năm nay, từ ngày chúng ta đặt chân đến đây, và cùng với gia đình ăn bữa tối sum họp vào buổi chiều ngày Thứ Năm tuần thứ tư trên đất Mỹ.

Chúng ta đã từng nợ nần ai và đã từng đưa bàn tay ra cho ai vịn, giúp đỡ cho ai được một vài chuyện cần thiết? Câu chuyện không có gì là lớn lao, nhưng đôi khi chúng ta không muốn làm hay chưa làm được, vì vẫn thường nghĩ rằng nó là quá nhỏ!