NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung

NHỮNG HÌNH ẢNH NGOÀI ĐỜI được kể trong truyện chưởng của Kim Dung
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
Nhạn Môn Quan, Nga Mi, Võ Đang vốn rất quen thuộc với tín đồ tiểu thuyết Kim Dung. Ngoài đời thật, đây là những địa danh nổi tiếng và có nhiều cảnh quan đẹp như trang vẽ.
      Nhập mô                                                          tả cho ảnh
1. Nga Mi
Núi Nga Mi còn gọi là “Đại quang Minh sơn” nằm ở Trung Nam tỉnh Tứ Xuyên, thuộc miền Tây Trung Quốc. Đỉnh cao nhất của Nga Mi sơn là Vạn Phật, nằm trên ngọn núi chính Kim Đỉnh với độ cao 3.099 m.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nga Mi cũng là ngọn núi có nhiều chùa miếu và là một trong Tứ đại
Phật giáo danh sơn của Trung Hoa, bên cạnh núi Ngũ Đài, núi Cửu
Hoa và núi Phổ Đà.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhắc đến Nga Mi, bạn sẽ nhớ ngay đến những nhân vật nổi tiếng trong
bộ truyện Ỷ thiên Đồ long ký của nhà văn Kim Dung là Chu Chỉ Nhược,
Diệt Tuyệt sư thái…Cũng theo bộ tiểu thuyết võ hiệp này, võ lâm Trung
Nguyên có ba phái lớn là Thiếu Lâm, Võ Đang và Nga Mi. Sư tổ sáng
lập ra võ phái Nga Mi là Quách Tương, con gái của Quách Tĩnh và Hoàng
Dung, 2 nhân vật trong bộ Anh hùng xạ điêu đã được ông sáng tác trước
đó khá lâu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Vạn Niên trên núi Nga Mi có kiến trúc mang đậm dấu ấn của Đạo 
giáo.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong chùa có bức tượng Phổ Hiền Bồ Tát cao 7,35 m, nặng 62 tấn,
được xem là bức tượng Phật cao nhất thế giới, được đúc bằng đồng
mạ 20 kg vàng bên ngoài và là điểm thăm viếng không thể bỏ qua khi
đến Nga Mi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh

Kim Đính hay còn gọi là Vạn Phật Đính, một trong những ngọn núi nổi
tiếng của Nga Mi. Điểm độc đáo khi đến đây là du khách có thể nhìn
thấy được 4 kì quan nổi tiếng của Nga Mi Sơn, gồm Nhật xuất (mặt
trời mọc), Vân hải (biển mây), Phật quang (hào quang của Phật) và
Thánh đăng (đèn Thánh).
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Trong đó Thánh đăng, hay còn gọi là Phật đăng, là hiện tượng kì bí nhất:
vào mỗi đêm tối không trăng, dưới địa danh “Xã thân nhai” thường xuất
hiện hàng vạn chấm tròn sáng màu xanh lục nhấp nháy như những chòm
sao dày đặc. Có nhiều lời giải thích khác nhau cho nguyên nhân dẫn đến
hiện tượng này: do lửa lân tinh, hoặc do một loại nấm phát sáng mọc dày
đặc trên các thân cây …
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Núi Nga Mi còn là nơi tập trung nhiều chủng loại sinh vật phong phú cùng hệ thảm thực vật Á nhiệt đới.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện nay Núi Nga Mi có 242 loài thực vật cấp cao, 3.200 loài cây,
trong đó có hơn 100 loài đặc thù chỉ có ở núi Nga Mi và hơn 2.300
loài động vật quý hiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Chùa Báo Quốc nằm ở chân núi Nga Mi, trên lối vào Nga Mi sơn, đồng
thời cũng là nơi diễn ra các hoạt động Phật giáo chính. Chùa này được
xây dựng vào thời nhà Minh (cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17) còn có tên
gọi là “Hội Tông đường”. Đến thời vua Khang Hi nhà Thanh đổi tên
thành“chùa Báo quốc”. Chùa tọa trên diện tích 40.00 m2, bao gồm Sơn
môn, điện thờ Di Lặc, điện Đại Hùng, điện thờ Thất Phật, điện thờ Phổ
Hiền và lầu chứa kinh văn nhà Phật.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, khi đến thăm Nga Mi, du khách cũng nên đến thăm viếng
Bức tượng Đại Phật Lạc Sơn tạc trên vách núi lớn nhất thế giới, nằm
ở ngọn Thế Loan, đối mặt với Nga Mi sơn. Đại Phật Lạc Sơn cao 71m
và được chế tác trong 90 năm, kéo dài gần cả thế k. Thân tượng Phật
cao 59,98m, đầu cao 14,6m. Đỉnh đầu có 1.021 búi tóc và độc đáo nhất
là phần móng tay của bức tượng, dù là bộ phận nhỏ nhất cũng đủ cho
một người ngồi. Đại Phật Lạc Sơn cùng với Nga Mi Sơn đã được UNESCO
công nhận là Di sản thế giới năm 1996.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
2. Nhạn môn quan
Dưới ngòi bút của Kim Dung, Nhạn Môn quan trong bộ tiểu thuyết
kiếm hiệp Thiên Long Bát Bộ đã trở thành vùng đất huyền thoại. Đây
chính là nơi nhân vật Kiều Phong, một đại anh hùng võ công trác tuyệt,
dùng chính sinh mạng của mình để đổi lấy sự bình yên cho nhân dân
2 nước Tống – Liêu.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đây cũng là nơi mà độc giả Thiên long Bát bộ đã phải nức nở trước
tình yêu trắc trở của Kiều Phong, cũng như ám ảnh với cái kết buồn
cho số phận của A Tử, một trong những nhân vật nữ được Kim Dung
xây dựng rất thành công trong bộ tiểu thuyết này.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhạn Môn Quan nằm trên một thung lũng ở huyện Đại, cách thành
phố Hân Châu, tỉnh Sơn Tây 20 km về phía Bắc và là cửa ải trọng yếu của Trường thành thời xưa.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Do nằm lọt thỏm giữa hai bờ vách núi dựng đứng với địa thế cực kỳ
hiểm trở, mà vùng đất này được đặt tên là Nhạn Môn Quan, hàm ý
chỉ có những con chim nhạn, chim én mới bay vượt qua được cửa ải
hùng vĩ này.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Vào thời xưa, có rất nhiều cuộc chiến khốc liệt đã diễn ra ở Nhạn Môn
Quan. Vì vậy, ngày nay khi đến với điểm du lịch này, du khách không
chỉ thăm thú các danh lam thắng cảnh trong khu vực, mà còn được dịp
tìm hiểu về lịch sử thăng trầm rất thú vị của vùng biên ải.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Hiện tại, cả 3 cửa ải của Nhạn Môn Quan vẫn được bảo tồn tốt và địa
danh này đã trở thành một di tích quân sự cổ quan trọng của tỉnh Sơn Tây.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đồng thời, Nhạn Môn Quan cũng là một phần quan trọng của di sản
văn hóa thế giới và còn được biết đến với tên gọi “Trung Hoa đệ nhất
quan”.
 
3. Võ Đang
Trong Ỷ Thiên Đồ Long Ký, sư tổ sáng lập ra phái võ Đang nằm trên
ngọn núi cùng tên, là Trương Tam Phong hay còn gọi là Trương Quân
Bảo. Nhân vật này cũng là người sáng tạo Thái Cực quyền và Thái
Cực kiếm.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Tại đây, giữa vòng vây của các cao thủ võ lâm, Trương Tam Phong đã truyền thụ bí quyết Thái Cực quyền và Thái Cực kiếm cho Trương Vô Kỵ.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài ra, tín đồ tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung cũng đã rất quen thuộc với phái Võ Đang, vì đây là 1 trong 3 môn phái lớn rất hay xuất hiện trong tiểu thuyết của ông, ngay từ bộ Anh hùng xạ điêu và Thần điêu hiệp lữ. Ngôi Cổ mộ của Tiểu Long Nữ cũng được Kim Dung mô tả có vị trí gần sát núi Võ Đang.
 Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Ngoài đời thật, núi Võ Đang hay còn gọi là núi Thái Hòa, là một dãy
núi nằm ở phía Nam thành phố Thập Yển, Tây Bắc của tỉnh Hồ Bắc
với ngọn núi chính là Hải Bạt cao 1612 m.
 

Phong cảnh nơi đây rất hùng vĩ nên thơ, là đất thánh của võ thuật Đạo giáo với phái Thái Cực quyền và Bát Quái chưởng được phát triển từ thế kỷ 13.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Đoạn đường dài 70 km từ chân núi đến đỉnh núi Võ Đang có đến 32
đền thờ Đạo Giáo chủ yếu được xây dựng theo lối kiến trúc thời nhà
Nguyên, Minh, Thanh. Đạo Giáo ở Võ Đang thịnh vượng nhất vào thời
Minh. Ngọn núi xinh đẹp này cũng được công nhận là Di sản thế giới
vào năm 1994.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Một kiến trúc độc đáo không thể bỏ qua khi đến thăm núi Võ Đang, đó là tòa Trúc Kim Điện làm bằng đồng mạ vàng nặng đến 405 tấn, được xây dựng từ năm 1416 trên đỉnh núi.
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với không gian hùng vĩ, u tịnh, Võ Đang thu hút du khách gần xa đến để không chỉ thưởng ngoạn mà còn là được đắm mình vào thiên nhiên trong lành, không gợn chút bụi trần.
 
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Nhập mô                                                          tả cho ảnh
Với những ai say mê thế giới thần tiên của tiểu thuyết kiếm hiệp Kim Dung, tìm về Võ Đang là cuộc hành trình trải nghiệm lại thế giới nhân vật mà mình yêu thích qua hàng loạt bộ tiểu thuyết nổi tiếng có đề cập đến địa danh này như Ỷ thiên Đồ long ký, Anh hùng xạ điêu, Thần điêu hiệp lữ

Houston

Houston

  image

 Mỗi năm cứ vào độ tháng tư tôi lại bùi ngùi nhớ về quê cũ, những ngày bỏ nước ra đi. Nước mắt cũng đã chảy ra nhiều, những giấc mơ hãi hùng vẫn chợt đến chợt đi, tỉnh dậy ngơ ngác một lúc mới nhớ ra mình đang nằm trên giường, chăn ấm nệm êm trên đất Hoa Kỳ tự do và thịnh vượng. Vùng đất ngọt ngào luôn nâng đỡ, che chở, nuôi dưỡng tôi như một người mẹ hiền.  Ôi mừng hết lớn! Khi nghĩ đến quê hương vẫn là Việt Nam. Có ai đó, lạ mặt, hỏi tôi, bạn người nước nào? Từ đâu đến? câu trả lời vẫn là Việt Nam. Ôi cái nước Viêt Nam trong trí nhớ già nua của tôi, đọa đầy khốn khổ, chạy gạo ăn từng bữa, cả một mái nhà để chui ra chui vào cũng không có, bom đạn nổ ầm ỹ từng giờ, sống nay chết mai, anh em ly tán; Con cái, cha mẹ mong chờ biền biệt tháng ngày. Có lẽ đến đời cháu tôi, may ra chúng mới có thể tự nhiên trả lời “tôi là người Mỹ, đến từ Houston, Dallas,  LA, NY”

image

Ở đây, chẳng bao giờ tôi phải nghĩ đến cái ăn, cái mặc, phương tiện di chuyển, tối nay ngủ đâu, có gì ăn không nhỉ? Cả đến việc nhỏ nhặt tầm thường nhất, xin lỗi quý vị, như chạy quanh chạy quẩn đi tìm một chỗ làm công tác vệ sinh, tôi cũng chẳng phải lo. Nhưng tôi vẫn là người Việt Nam da vàng mũi tẹt, nói tiếng Việt rành hơn tiếng Mỹ, chỉ biết lịch sử Viêt Nam còn lich sử Mỹ thì mù tịt. Chính trường Mỹ thì càng không quan tâm tới. Vẫn nôn nao coi giải Túc Cầu Thế Giới, hơn là những môn thể thao của người Mỹ như foot ball, base ball, basket ball. Có ai trong sở hỏi: “Bạn cá ai sẽ thắng trong giải Super Bowl này?” -Super Bowl gì?. Hay người nào đó phang một câu “Anh chàng Yao Ming bị thương hoài chẳng làm nên trò trống gì!” – Yao Ming nào?, mặc xác hắn chứ!

image
Tại sao tôi chưa hội nhập được vào xã hội Hiệp Chủng Quốc này. Tôi vẫn chưa tan ra, hòa lẫn với các giống dân khác trong chiếc “The Melting Pot” vĩ đại này nhỉ?

Tôi đã sống hơn nửa đời người trong thành phố này, nhưng biết rất ít về nó. Một ngày nọ, người bạn thân từ hồi còn trai trẻ, lâu ngày không gặp, ca bản “Houston có gì lạ không em?” cho tôi nghe. Tôi chẳng thấy gì lạ cả, vẫn những cao ốc nhìn mỏi cổ, vẫn những xa lộ đầy ắp xe cộ chạy lên chạy xuống cả ngày lẫn đêm. Hình như thiên hạ chẳng biết làm gì cho hết giờ nên cứ lái xe ra xa lộ tiêu khiển, đốt săng chơi. Vẫn những ngày hè nóng nực chẳng khác gì Saigon, với những cơn mưa hạ xầm xập kéo đến rổi vội vã ra đi để lại bao nỗi tang thương trên hè phố! Mùa thu vẫn đến âm thầm nhẹ nhàng như cơn gió thổi sau vườn, lúc ra đi cũng chẳng hẹn trước, nhưng không quyên mang theo đám lá vàng xào xạc, chừa lại những hàng cây cao  trơ trọi khẳng khiu chào đón gió Đông Phong. Tuyết ư? Hơn 30 năm tôi chỉ thoáng thấy mặt nàng một đôi lần, nàng e lệ đến gõ cửa một buổi sớm mai, hỏi thăm dăm ba câu rồi bye bye ra đi biền biệt! Vâng Houston của tôi chỉ có thế. À, còn nữa chứ, ai đó hay ca bản Mãi Mãi Bên Em của nhạc sỹ Từ Công Phụng:

“Đôi khi có nhng mùa giông bão qua đây,

Em thy đi là nhng hư hao”

Vâng đôi khi cũng có bão tố như Cali có động đất nhưng không sao, ông Trời chỉ dọa hoảng vậy thôi, đâu có hư hao gì nhiều, nắm tay nhau, nhìn vào mắt nhau là thành phố lại hoàn toàn như cũ.

Hãy giả như một du khách nhìn từ ngoài vào, may ra có thể trả lời bạn tôi câu hỏi:

 *Houston có gì lạ không em?

Cứ vậy đi, bạn già, hãy nói về Houston của tôi:

Houston là thành phố lớn thứ tư nước Mỹ và là thành phố lớn nhất của Texas với dân số khoảng 2 triệu sống trên một diện tích 1500 km2. Đất rộng người thưa nhân công Mễ đầy rẫy, cho nên nhà cửa rẻ rề, hai ba chục ngàn, bạn có thể mua được một chung cư đầy đủ tiện nghi, chỗ đậu xe rộng rãi. Nếu bạn muốn upgrade lên một chút, một hai trăm ngàn bạn có thể mua một gia cư hoành tráng, chẳng phải chung đụng với ai. Đánh lộn trong nhà hàng xóm cũng không ai biết. Nếu bạn muốn chơi sang, bỏ chừng vài trăm ngàn bạn có thể tậu một lâu đài có cả hồ tắm đàng hoàng của một ông hoàng Ả rập nào đó đang hồi xuống dốc (vì mấy vụ biểu tình, xuống đường), tha hồ hưởng nhàn.

Người Mễ chiếm tỷ lệ khá cao trong các sắc dân thiểu số, họ làm việc rất chịu khó. Những việc nặng nhọc như làm đường, xây cất cầu cống nhà cửa, toàn là nhân công Mễ, chẳng thấy người da màu hay Á châu nào làm cả, bởi vậy giá sinh hoạt rất thấp. Bạn cần sửa chữa nhà cửa hay chỉnh đốn vườn tược, chẳng khó khăn gì dể tìm kiếm một ông thợ người Mễ giúp cho một tay.

image

Houston được mệnh danh là “Thủ Đô của năng lượng trên toàn thế giới” bởi  vì hầu hết các hãng xưởng kinh doanh liên quan đến dầu hỏa đều tập trung ở đây, gồm có kỹ nghệ khoan mỏ dầu, tìm kiếm mỏ dầu, chế tạo dụng cụ khoan dầu, xưởng lọc dầu, phó sản dầu hỏa, chuyên chở dầu bằng hệ thống đường ống dẫn dầu và khí đốt khắp hang cùng ngõ hẻm, còn có những hãng chuyên môn thiết lập các bồn dầu khổng lồ để đầu cơ tích trữ và buôn bán dầu trên thị trường chứng khoán vậy mà chẳng có con ma nào bị đưa ra pháp trường cát như thời ông Kỳ làm Thủ Tướng!.  Người Việt mình làm nghề hàn và tiện cho các hãng xưởng đó lương rất cao.  Kỹ sư dầu hỏa, hóa học, điện tử, điện toán, luyện kim, cơ khí tha hồ múa may quay cuồng!  Ban đêm đi trên cầu cao bắc ngang Houston Ship Channel bạn nhìn về phía đông, sẽ ngạc nhiên thấy hai bên đèn điện sáng rực, còn hơn kinh đô ánh sáng Paris, đó là tụ điểm của những nhà máy lọc dầu hay chế biến phó sản của dầu hỏa .

image

 Houston có một trung tâm Y Tế (Texas Medical Center) lớn nhất thế giới rất nổi tiếng về giải phẫu Tim và tri bệnh Ung Thư. Các Ông Hoàng bà Chúa Ả Rập hay về đây để chữa trị. Bác sỹ, Y tá, chuyên viên Y Tế người Việt làm trong các nhà thương đó cũng nhiều.  Houston còn có Johnson Space Center, nơi điều khiển Phi Thuyền Con Thoi, Trạm Không Gian (Space Station), cũng như huấn luyện Phi Hành đoàn. Thập niên 80, khi chương trình phi thuyền Con Thoi đang phát triển mạnh, rất nhiều kỹ sư, chuyên gia gốc Việt đã đóng góp một phần đáng kể cho trung tâm này, lại có cả một ông Tiến Sỹ Phi Hành Gia người Việt nữa chứ làm tôi hãnh diện quá đi mất. Đi đâu cũng vỗ ngực “Tôi là người VietNam”.

Hải cảng Houston vẫn đứng đầu về số lượng hàng hóa vận chuyển bằng đường biển và thứ nhì về tổng số hàng chuyên chở trên đất và trên biển.

image


Houston cũng đứng hàng thứ nhì chỉ sau New York về số hãng được xếp vào bảng danh sách 500 hãng hàng đầu (Fortune 500) trong nước Mỹ. Tổng sản lượng của Quốc Gia Houston và vùng phụ cận lên đến 440 tỷ Mỹ kim, xếp hàng thứ 22 trên thế giới trong các nước kỹ nghệ gồm Mỹ, Nhật, Đức, Anh, Pháp…. Thành phố được xếp hạng nhất về ba tiêu chuẩn: Tiềm năng kinh tế, khả năng kiếm việc, và giá sinh hoạt.  Lợi tức trung bình cho (gia đình) là $40,443. Cho nên mặc dầu nền kinh tế Mỹ đang gặp khó khăn nhưng tỷ lệ thất nghiệp tại Houston cũng thấp so với toàn quốc. Mới đây tờ báo nổi tiếng về kinh tế Forbes đưa ra danh sách “The best cities for jobs” theo thứ tự như sau:

Austin

New Orleans

Houston

San Antonio

Dallas

Trong 5 thành phố kể trên, Texas chiếm đến 4, Houston vẫn đứng hàng thứ 3 mấy năm liền.

Một điều đáng lưu ý, có lẽ phần đông cư dân Houston cũng không biết, Trung tâm thành phố có một hệ thống đường hầm, cỡ đường hầm Củ Chi, nối liền các cao ốc với nhau, dài khoảng 11 km, như một thành phố chìm sâu trong lòng đất.  Bạn sẽ tìm thấy rất nhiều quán ăn trong đó chẳng thiếu thứ gì, có cả quán ăn Việt bán phở và bún thịt nướng, ngoài ra còn có các tiệm tạp hóa, văn phòng Bác Sĩ, Nha Sĩ, tiệm hớt tóc,  làm móng tay, nhà băng, kể ra không hết.

Giống như hầu hết các thành phố khác, Houston có một số lượng trường Đại Học đáng kể, thu hút rất nhiều sinh viên ngoại quốc, kể cả Việt Nam, vì giá sinh hoạt rẻ, lệ phí không cao lắm.

image

 Nếu quý vị đến Houston để du lịch, tôi xin đề nghị, ngoài khu thương mại Viêt Nam vòng quanh Đại Lộ Bellaire, Beechnut, nên thăm Trung Tâm Không Gian ở Clear Lake, khu giải trí kemah bên bờ vịnh Gaveston, Downtown Houston và Tunnel, Downtown aquadrium, Woodland Waterway, Houston museum of Fine Art, Houston Zoo. Leo lên xe điện, chạy một vòng qua Texas Medical Center.

 *Houston sử lược

Thành phố này được đặt tên Houston để vinh danh vị Tổng Thống đầu tiên của Nước Công Hòa Texas. Tôi hỏng có nói lộn đâu nhé, nhắc lại, Tổng Thống đàng hoàng đó.

Tướng Sam Houston đã lãnh đạo thành công cuộc chiến giành độc lập của nước Cộng Hòa Texas khỏi bàn tay thống trị độc tài của Tổng Thống và Tướng Antonio López de Santa Anna xứ Mễ Tây Cơ, người đã tự ví mình như Napoleon của Pháp Quốc. Ông quyên rằng Hoàng Đế Napoleon cũng từng bị đánh bại và chết tủi nhục trong nhà tù! Khi ra trận Santa Anna ra lệnh tất cả tù binh đều phải xử tử lập tức, dù là hàng binh. Như vậy, dân quân nổi dậy tự hiểu rằng sẽ không có tù binh chiến tranh! Chỉ có tử chiến mà thôi!

Cuộc cách mạng giành độc lập của Texas

image

Trong những năm đầu sau khi nước Mễ Tây Cơ giành được độc lập từ người Tây Ban Nha, dân Hoa Kỳ đến lập nghiệp tại Texas  rất nhiều. Tướng Santa Anna lên nắm quyền xứ Mễ, ông hủy bỏ hiến pháp dân chủ, giải tán quốc hội và chính quyền các tiểu bang, trở nên một Tổng Thống độc tài của xứ Mễ Tây Cơ. Quân đội và hành pháp đều do một mình ông nắm giữ. Khoảng đầu năm 1835 vùng đất Texas vẫn còn nằm trong vòng cai trị của chính quyền Mễ Tây Cơ. Cuộc cách mạng giành độc lập thật sự khởi đầu chỉ vài tháng sau đó. Trong vòng mấy tháng ngắn ngủi, Toàn quân Mễ trên đất Texas đã bị tiêu giệt hoặc đẩy lui về bên kia biên giới. Quân Texas chỉ là một đám quân ô hợp, vũ khí thô sơ, chưa có thống nhất chỉ huy và tiếp liệu. Chính quyền tạm thời vẫn chưa thành hình. Có một điều chúng ta phải cúi thấp đầu bái phục đó là lòng quyết chiến cho tới chết của đoàn quân Texas, tuyệt đối trung thành và vâng lời thượng cấp, không tranh giành địa vị hay quyền lợi, không tàn sát lẫn nhau, chỉ một lòng chống kẻ thù chung. Họ là những nông dân tự trang bị cho mình đạn dược, súng ống, lương thực, quần áo. Đó là truyền thống của cao bồi Texas còn lưu đến bây giờ. Chính quyền có thể cấm bài bạc, đĩ điếm nhưng cỡi ngựa mang súng là quyền tự do cá nhân đó.

Chuẩn bị phòng thủ

image

Alamo

 Đầu tiên, quân kháng chiến biến khu truyền giáo Alamo, hiện thời là vùng đất thuộc thành phố San Antonio,  thành một pháo đài rộng khoảng 3 mẫu (3 acres) với 1320 feet (400 m) chu vi phòng thủ. Tường bao bọc dầy khoảng 2.75 feet, cao khỏang 9 -12 feet. Thành này vốn lập ra chỉ để phòng ngừa quân da đỏ với vũ khí là cung tên và búa rìu mà thôi, không phải để phòng thủ chống lại đội quân có đại bác như quân của Tướng Santa Anna.

Dân quân đặt 19 khẩu đại bác (tịch thu được trước đây của quân Mễ ) vòng theo bờ thành phòng thủ. Họ tin rằng có thể chống cự với một lực lượng đông gấp 10 lần. Lực lượng phòng thủ sơ khởi khoảng gần 100 người, lương thực chỉ đủ cung cấp cho 4 ngày, James C. Neill, vị chỉ huy tạm thời của thành, viết thư kêu cứu với chánh quyền lâm thời, nhưng chẳng ai giúp được gì. Neill bèn tiếp xúc với Sam Houston, một trong bốn vị tổng chỉ huy nghĩa quân để xin tiếp liệu, quần áo, và đạn dược. Tướng Houston tiên liệu rằng không thể nào giữ nổi thành nếu bi đại quân Mễ tấn công nên phái James Bowie dẫn  theo 30 dân quân để  phá hủy thành Alamo và di chuyển tất cả các khẩu đại bác đi. Không thể tìm được phương tiện chuyên chở đại bác, Neil và  Bowie viết thơ thuyết phục chính quyền lâm thời rằng Alamo là cứ điểm quan trọng, đó là tiền đồn để ngăn ngừa quân Mễ. Tương lai của Texas đều phụ thuộc vào vùng đất này. Cuối thơ ông viết một câu rất hào hùng “Chúng tôi long trọng thề rằng thà chết ở chiến hào này chứ không giao thành cho địch!”  Hai ông cũng xin cung cấp thêm người, tiền bạc, súng ống, đạn dược. Alamo được cung cấp thêm 30 người và một sỹ quan kỵ binh William B. Travis. Vài ngày sau, một số quân nhỏ tình nguyện cũng nhập bọn.  Ngày 11 tháng 2 năm 1836 Neil dời thành để đi vận động nhân lực và tiếp liệu, giao quyền chỉ huy cho Travis và Bowie.

Tử chiến thành Alamo

image

 Trong khi thành Alamo, gặp đủ thứ khó khăn về nhân lực và tiếp liệu thì đại quân Mễ đang tiến về hướng Alamo bằng đường bộ. Sáng sớm ngày 23 tháng 2 năm 1836  Santa Anna chỉ còn cách thị trấn 1.5 dặm. Thành Alamo được báo động, Dân chúng di tản khỏi thi trấn, nhưng gia đình của dân quân thì dời vào trong thành.  Quân Mễ có khoảng 1500 người sẵn sàng tham chiến, Tướng Santa Anna ra lệnh đặt đại pháo phía đông và nam và cách thành khoảng 1000 feet (300 m), đồng thời kéo cao ngọn “cờ máu”, đó là hiệu lệnh tàn sát không tha.  Alamo trả lời bằng một viên đạn đại bác lớn nhất trong thành!

Mỗi đêm, quân mễ đều quấy rối bằng đại bác mục đích làm mệt mỏi đối phương. Trong tuần lễ đầu tiên vây hãm hơn 200 đạn rơi trong thành. Lúc đầu quân tử thủ cũng bắn trả lại, hầu hết dùng ngay trái đạn của địch quân để bắn trả, nhưng những ngày sau Travis ra lệnh không bắn trả để tiết kiệm thuốc súng.

Ngày 24 tháng 2 Bowie bị bệnh nặng nằm liệt giường, Travis nắm toàn quyền chỉ huy phòng thủ.

image

 Sáng hôm sau, khoảng 300 quân Mễ, lội qua sông ẩn trong những túp lều gần chân thành để tấn công. Quân trong thành phái người ra thiêu hủy những túp lều đó đồng thời bắn trả lại rất gắt. Sau 2 giờ tấn công, quân Mễ bi thiệt hại nhẹ và rút lui.

Ngày 3 tháng 3 quân Mễ được bổ xung thêm 1000 ngươì nữa. Ngày 4 tháng 3 một số nhỏ dân quân tăng viện phá vòng vây từ ngoài lọt vào trong thành.

Ngày 5 tháng 3, Travis tập họp quân thủ thành một lần cuối, thông báo cho toàn quân, sự thật là thành sẽ không thể nào giữ nổi vì lực lượng đôi bên quá chênh lệch, lại thiếu súng ống đạn dược, ngay cả lương thực, nếu ai muốn bỏ thành thì ông cho phép rời ngay, vẫn còn kịp. Mọi người đều đòng lòng tử thủ, chỉ trừ một người xin được ra đi.

10 giờ đêm ngày 5 tháng 3, đại pháo của quân Mễ ngưng bắn hoàn toàn. Tướng Santa Anna tiên đoán quân đồn trú sẽ rơi vào giấc ngủ say sau bao nhiêu đêm mệt mỏi vì tiếng đại bác. Nửa đêm quân Mễ lặng lẽ tiến gần về chân thành, 500 kỵ binh Mễ bao chung quanh thành ở vòng ngoài để bắt những lính đào ngũ của cả hai bên.

Khi còn cách chân thành vừa tầm súng, quân Mễ la to “Hoan Hô Santa Anna”. Tiếng la vang dội vào thành đánh thức quân trong thành vào vị trí chiến  đấu, gia đình vợ con lính được đưa vào trong Nguyện Đường của thành để được an toàn hơn. Travis động viên dân quân bằng khẩu hiệu “Hỡi các chiến hữu, tụi Mễ đang tấn công chúng ta, Hãy tống chúng nó vào Địa Ngục, quyết không đầu hàng”

image

 Quân trong thành không có đủ đạn đại pháo nên tọng bất cứ mảnh sắt nào vào trong họng súng kể cả bản lề cửa, đinh, móng ngựa, những phát đại bác bắn ra như một phát đạn shotgun khổng lồ, vung vãi miểng ra khắp nơi làm thiệt hại không ít quân Mễ.

Travis bị tử trận ngay trong đợt tấn công đầu tiên. Mặc dầu không có người chỉ huy, quân Mễ vẫn không tiến vào được. Trong vòng 15 phút quân Mễ đã tấn công 3 đợt, mỗi đợt tấn công không lên được thành lại kéo ra để sắp xếp chuẩn bị cho đợt kế tiếp. Đợt tấn công cuối cùng quân Mễ dồn về phía bắc thành, nơi đó tường phòng thủ rất mỏng manh, dễ bị chọc thủng, Phía bắc rồi lần lượt phía nam và đông đều bị thất thủ. Quân Mễ tràn vào thành như nước vỡ bờ. Quân trong thành rút về Nguyện Đường và những căn nhà gạch trong thành, từ đó chĩa súng bắn ra ngoài. Một số nhỏ dân quân không rút kịp bèn ẩn nấp trong giao thông hào giữa tường thành và sông San Antonio River, từ nơi đây có thể bắn trả quân kỵ binh Mễ lội qua sông để tấn công mặt phía tây. Với quân số gần 500 kỵ binh tràn qua, tất cả đám dân quân dưới giao thông hào đều tử trận. Một số nhỏ dân quân khác thoát ra ngoài thành về phía đồng cỏ phía đông nhưng bị kỵ binh Mễ đuổi theo giết sạch. Nhóm dân quân cuối cùng rút vào cố thủ trong các căn nhà gạch và Nguyện Đường. Quân Mễ bắn đại bác phá xập tường rồi tràn vào bên trong. Bowie bị giết trên giường bịnh. Những người khác đều chiến đấu đến giọt máu cuối cùng. 6:30 sáng, quân Mễ hoàn toàn làm chủ thành ALAMO, kiểm soát từng tử thi, ai còn cử động đều bị đâm chết.

 

image

 

Trong những dân quân tử trận ngoài hai thủ lãnh như Travis và Bowie, Davy Crockett thủ lãnh một đám nhỏ dân quân tình nguyện là nổi tiếng hơn cả. Ông là dân biểu liên bang đại diện của tiểu bang Tennessee, vì bất đồng chính kiến với Tổng Thống Andrew Jackson nên đầu quân vào Texas để phòng thủ thành ALAMO. Ông đã giết chết it nhất 16 lính Mễ bằng dao găm trước khi bị đâm chết, trong khi con dao của chính ông còn cắm sâu trong một xác lính Mễ.

 

image

Davy Crockett

Hollywood đã làm rất nhiều phim về Davy Crockett như một người hùng, người khai phá của Hoa Kỳ.

Các sử gia ước lượng khoảng 400 – 600 quân Mễ tử thương và dân quân bị giết khoảng 182-257 người.

Những người không phải là dân quân đều được thả cho đi, trong đó có cả một nô lệ da đen của thủ lãnh Travis và rất nhiều thân nhân của nghĩa quân. Santa Anna cho mỗi phụ nữ một tấm mền và 2 đồng tiền Mễ bằng bạc (silver pesos) làm lộ phí, đồng thời nhắn tin rằng không ai có thể đánh bại đoàn quân viễn chinh của ông!

TEXAS tuyên bố độc lập

Trong khi thành ALAMO bị vây ngặt, các dân biểu họp đại hội và đồng thanh tuyên bố thành lập nước CỘNG HÒA TEXAS và chỉ định Sam Houston làm Tổng Tư Lệnh đoàn nghĩa quân khoảng 400 người! Còn đang chờ đợi để tới giải cứu thành Alamo, họ vẫn chưa biết rằng thành Alamo đã thất thủ. Chỉ vài giờ sau những người được thả ra từ Alamo đến báo tin, Tướng Sam Houston quyết định tất cả dân chúng, quân đội và chính phủ mới thành lập rút chạy về hướng đông. Mặc dầu thiệt hại nặng khi tấn công thành Alamo, quân Mễ vẫn đông hơn quân Texas gấp 6 lần!

Santa Anna nghĩ rằng, sự tàn sát thành Alamo sẽ làm khiếp đảm đám quân ô hợp và nhỏ bé của Sam Houston và trước sau gì cũng tan rã. Nhưng ông đã lầm vì quá tự tin và kiêu ngạo.

Thành Alamo bị tàn sát làm nổi lên hào khí khắp nơi, thanh niên ào ạt đầu quân dưới quyền Sam Houston. Nếu Santa Anna không quá độc ác, chưa chắc Sam Houston đã có một số quân đông và lòng quyết chiến như vậy.

Trận chiến cuối cùng

image

 

 Buổi chiều ngày 21 tháng 4 năm 1836, Sam Houston ra lệnh tấn công quân Mễ bên bờ sông San Jacinto, nằm ở phía đông của thành phố Houston bây giờ. Trận chiến chỉ kéo dài 18 phút ngắn ngủi, dân quân luôn hô to khẩu hiệu “trả thù cho thành Alamo!”. Quân Mễ thiệt hại khoảng 630 người và hơn 700 bị bắt làm tù binh, trong khi chỉ có 9 dân quân Texas bị tử trận.

 

image

 

Cuối cùng  Santa Anna bỏ chạy và bị bắt làm tù binh ngày hôm sau đó. Sam Houston tha mạng cho ông tướng kiêm Tổng Thống Mễ Tây Cơ và buộc ông ta ký hòa ước trả độc lập cho nước Cộng Hòa Texas. Sam Houston được bầu làm Tổng Thống đầu tiên.  Sau khi Texas xin sát nhập vào hiệp chủng quốc Mỹ Châu (USA), Sam Houston được bầu làm Thượng Nghị sỹ, rồi Governor của TEXAS.

Cuộc đời của Sam Houston

image

 

Đó là một cuộc đời ngoại hạng, một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo. Ông sinh ra ở tiểu bang Virginia nhưng lớn lên ở tiểu bang Tennessee. Sống ở nông trại và chơi rất thân với đám người da đỏ Cherokee. Khi cuộc chiến giữa Hoa kỳ và Anh Quốc lần thứ nhì bắt đàu, ông đầu quân làm binh nhì. Leo dần đến chức Trung Úy rồi giải ngũ đi học luật và hành nghề luật sư. Đắc cử dân biểu liên bang 2 lần đại diện cho tiểu bang Tennessee, sau đó đắc cử Thống Đốc Tennessee. Chưa hết nhiệm kỳ ông xin từ chức về sống với bộ lạc da đỏ Cherokee sau đó dọn về Texas cùng với một số bạn bè thân thiết.  Được cử làm đại diện cho vùng Nacogdoches trong đại hội bàu chính phủ lâm thời của nước Cộng Hòa Texas.

Trong cuộc nội chiến Nam Bắc Mỹ ông rất chống đối việc rút Texas ra khỏi liên bang Hoa Kỳ, nhưng phải chiều theo đa số. Trong cuộc nội chiến Bắc – Nam, chính phủ phía Bắc yêu cầu ông gia nhập Bắc quân nhưng ông từ chối vì không muốn bàn tay mình nhuốm máu người miền nam. Cuối cùng ông về hưu và chết ở Huntsville, đó là một thành phố nhỏ phía bắc của Houston bây giờ.

 

image

 

Quý vị nào lái xe từ Dallas về Houston cũng nhìn thấy tượng một ông già chống gậy màu trắng khổng lồ bên xa lộ I-45, đó đích thực là ông. Cuộc đời của ông cho chúng ta rất nhiều bài học. Ông là người sãn sàng chiến đấu cho quyền lợi chung của dân tộc, hy sinh quyền lợi riêng tư của mình vì đại cuộc, không tham quyền cố vị, không hãm hại người không đồng chí hướng với mình, biết rút lui khỏi quyền lực đúng lúc. Hãy nhìn lại bao nhiêu lãnh tụ trên thế giới, lấy danh nghĩa vì quốc gia, vì dân tộc, tranh giành quyền lực và mãi mãi bám lấy nó cho đến chết hay bi kẻ khác lật đổ. Thế gian này được mấy người như Ông Houston, nhất là vào thời mà sự tôn thờ chủ nghĩa cá nhân còn đang thịnh hành trên địa cầu! Tôi xin ngả nón nghiêng đầu kính phục và thắp một nén hương lòng cho ngài.

Những ngày gần đây, bao nhiêu cuộc cách mạng đã sảy ra trên thế giới nào là cách mạng Nhung, cách mạng Hoa Hồng, cách mạng Hoa Tulip, Tất cả cùng chung một mục đích lật đổ chế độ độc tài hại dân hại nước. Những kẻ cầm quyền đó chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng tư của chính họ mà thôi! Bao giờ đến cách mạng Hoa Nhài hay Hoa Sen nhỉ?

 Minh-Đạo & Nguyễn Thạch-Hãn

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

Chủ tịch Việt Nam đáp trả tuyên bố của ông Tập Cận Bình

VOA

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang phát biểu tại Hội châu Á ở New York hôm 28/9.

NEW YORK—Ông Trương Tấn Sang hôm nay, 28/9, đã lần đầu tiên phản hồi bình luận của Chủ tịch Tập Cận Bình rằng Trường Sa “thuộc về Trung Quốc từ thời xa xưa”.

Khi được VOA Việt Ngữ hỏi về phản ứng đối với tuyên bố của nhà lãnh đạo Trung Quốc, ông Sang nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa “thực sự thuộc về tổ quốc Việt Nam của chúng tôi”.

Nguyên thủ Việt Nam nói tiếp: “Người Trung Quốc, trong những lần gặp gỡ Việt Nam, cũng thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc, không gì tranh cãi. Thì người Việt Nam chúng tôi cũng nói lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam, không gì tranh cãi. Chắc các câu này các bạn đã nghe suốt”.

Ông Sang nói thêm: “Vấn đề đặt ra là chúng tôi mong muốn rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế và con đường duy nhất dẫn đến chỗ đó thôi, chứ không thể nói mãi như thế này được. Một anh đứng ở bên đây sông thì nói là của tôi, và một anh đứng ở bên kia sông thì nói là của anh. Như tôi đã nói với các bạn vừa nãy, trong lúc quá độ, hai bên đều thống nhất 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo các vấn đề trên biển”.

Tuyên bố của ông Sang được đưa ra tại Hội châu Á ở New York, ít ngày sau khi Chủ tịch Trung Quốc trả lời tờ The Wall Street Journal rằng Trường Sa, mà Trung Quốc gọi là Nam Sa, là lãnh thổ của Trung Quốc từ thời xa xưa.

Ông Tập nói hôm 22/9 rằng hoạt động mà Trung Quốc “thực hiện trên một số những hòn đảo và bãi cạn ở quần đảo Nam Sa không ảnh hưởng hoặc nhắm tới bất kỳ quốc gia nào khác”, và “việc này không nên bị diễn giải quá đáng”.

Trong bài phát biểu tại Hội Á châu, ông Sang cũng đề cập tới 6 nguyên tắc cơ bản mà Việt Nam đồng ý với Trung Quốc để giải quyết vấn đề biển Đông trong tình thế hiện thời.

Ông cho biết: “Chúng tôi hết sức chủ động bàn với Trung Quốc rằng trong khi tìm một giải pháp lâu dài, cơ bản mà hai bên có thể chấp nhận được, thì phải kiểm soát tình hình, kiểm soát hoạt động, không thể để cho xung đột xảy ra. Ý tưởng này đã dẫn tới thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản, chỉ đạo các vấn đề trên biển đã được ký cách đây mấy năm”.

“Rất tiếc rằng trong quá trình diễn ra trên thực tế ở trên biển diễn ra không đúng như mong muốn của cả hai bên bằng thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản”, ông Sang nói. Chủ tịch Việt Nam không nói rõ điều đáng tiếc này là gì.

‘Trước sau như một’

Về các nguyên tắc trên, Chủ tịch Việt Nam cũng cho biết là chính quyền Manila cũng quan tâm.

Ông nói thêm: “Nội dung đó, khi tôi gặp các bạn Philippines, họ cũng thắc mắc và lo lắng không biết Việt Nam thỏa thuận gì với Trung Quốc. Tôi có nói rằng vấn đề song phương thì Việt Nam và Trung Quốc bàn với nhau. Còn vấn đề đa phương, chẳng hạn như Trường Sa thì liên quan tới 5-6 bên, thì rất khoát phải có hành vi liên quan để cùng với các bạn giải quyết với Trung Quốc vấn đề tranh chấp trên biển”.

Chủ tịch Việt Nam nói tiếp: “Ngài Tập Cận Bình khẳng định Nam Sa từ lâu là của Trung Quốc thì chúng tôi cũng nói lại rằng đối với chúng tôi, lập trường trước sau như một không thay đổi. Chúng tôi gọi đó là Trường Sa và Hoàng Sa, trước sau như một thuộc về Việt Nam chúng tôi. Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về lịch sử và thực tiễn pháp lý để xác định chủ quyền của Việt Nam”.

Ông Trương Tấn Sang tới New York để tham dự các cuộc họp cấp cao của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc từ ngày 24 – 28/9.

Hôm 25/9, ông đã đưa vấn đề biển Đông vào bài phát biểu tập trung vào mục tiêu phát triển bền vững của Liên Hiệp Quốc.

Hôm nay, Chủ tịch Việt Nam sẽ rời Hoa Kỳ để đi thăm chính thức quốc gia cộng sản Cuba.

Trong một diễn biến mới nhất liên quan tới biển Đông, hôm nay, phát biểu tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Barack Obama một lần nữa nhấn mạnh tới quyền lợi quốc gia của Mỹ đối với việc duy trì các nguyên tắc cơ bản về tự do hàng hải và dòng chảy thương mại.

Người đứng đầu Nhà Trắng cũng nói tới quyền lợi của Washington trong việc “giải quyết tranh chấp thông qua luật pháp quốc tế, chứ không phải đe dọa vũ lực”.

“Chúng tôi sẽ bảo vệ các nguyên tắc đó, trong khi khuyến khích Trung Quốc và các nước tuyên bố chủ quyền khác giải quyết các khác biệt một cách hòa bình”, ông Obama nói.

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Có Đi Có Lại – Mới Toại Lòng Nhau

Bài Ghi Ngắn của Đoàn Thanh Liêm

*     *     *

Tại nông thôn của ta từ xa xưa, thì bà con sống đùm bọc gắn bó với nhau thật là chặt chẽ. Vì thế mà có sự liên đới tương trợ, gia đình này giúp đỡ gia đình khác một cách rất hồn nhiên, thỏai mái trong mọi trường hợp. Bà con trao đổi miếng ăn thường ngày với nhau hoặc chuyên giúp đỡ nhau trong các vụ hiếu hỷ như đám tang đám giỗ hay lễ cưới lễ hỏi v.v…

Chuyện bà con chia sẻ với nhau như vậy, thì trong tiếng Mỹ người ta cũng thường nói: “To live is to share” (Sống là Chia sẻ với nhau). Dân gian ta từ lâu cũng hay nói: “bánh ít gửi đi, bánh quy gửi lại” để diễn tả cái mối quan hệ trao đổi hai chiều giữa con người với nhau (two-way communication).

Ngày nay, với tình trạng đô thị hóa càng mở rộng, thì người dân sống tại các thành phố không còn giữ được cái khung cảnh nền nếp thân thương chan hòa giữa các gia đình với nhau như xua nữa. Đó là cái mặt trái không sao tránh khỏi do sự phát triển kỹ nghệ trong xã hội đem lại.

Để chấn chỉnh tình hình suy thóai như thế trong nếp sống tình cảm nơi các đô thị, nhiều tổ chức do các tôn giáo cũng như các nhóm chuyên họat động về văn hóa xã hội đã có sáng kiến phát động những chương trình cải thiện nếp sống cộng đồng tại các khu phố nghèo nàn chật hẹp – mà thường gọi là “khu ổ chuột” (slums).

Đồng thời họ cũng gây áp lực đòi hỏi cơ quan nhà nước phải đầu tư nhiều hơn nữa trong việc cung cấp những dịch vụ xã hội thiết yếu cho tầng lớp người dân lao động như nhà giữ trẻ, trường học, bệnh viện, viện mồ côi, nhà chăm sóc người già v.v…

Từ đó, mà chính sách “An ninh Xã hội” (Social Security) lần hồi được hình thành và với thời gian chính sách này đã đạt tới mức độ hòan thiện như ta thấy tại nhiều quốc gia văn minh tiến bộ ngày nay trên thế giới. Qua hệ thống An ninh Xã hội như vậy, những viên chức trong cơ quan chính quyền nhà nước hiện đang thực hiện đúng cái vai trò của người “đày tớ phục vụ quần chúng nhân dân” – mà trong tiếng Anh người ta gọi đích danh là “public servants”.

Rõ ràng nhân dân là những người “đóng thuế” cho nhà nước (taxpayers), thì đổi lại họ có quyền đòi hỏi phải được viên chức chính quyền phục vụ một cách thật là trân trọng tương xứng. Như thế, mói đích thực là “Có Đi, Có Lại – Mới Tọai Lòng Nhau” vậy./

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Lừa tiền cơm, cậu bé ăn xin bị giữ lại, 20 năm sau…

Đôi khi, một câu nói có thể làm thay đổi cuộc đời của một con người. Đôi khi, chỉ có lòng tốt và sự hiền lành thôi thì chưa đủ. Đôi khi, cuộc sống sẽ cho mỗi người một cơ hội nữa…

Một ngày, sau khi hết tiết giảng và trở về văn phòng, bảo vệ đưa đến cho tôi một số tiền cùng hóa đơn thanh toán. Cả chục triệu đồng tiền nợ… Tôi thấy rất kỳ lạ, không nhớ nổi là đã cho ai mượn số tiền này. Nhìn vào cột người gửi, tôi thấy viết “Cậu bé ăn xin của 20 năm trước“… mọi kỷ niệm chợt ùa về. Tôi tự hỏi, chẳng lẽ là cậu bé đó sao?

20 năm trước, hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh ở cổng trường học. Bà thấy nhiều đứa trẻ rất khổ và đáng thương nên luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán với giá rẻ. Vì thế học sinh đến mua cơm rất đông.

Hồi đó mẹ tôi còn làm nghề bán hàng cơm cho học sinh

Tôi vừa tốt nghiệp đại học, đang chờ được phân công tác, nên đã ra phụ mẹ bán cơm. Trong một lần bận rộn phục vụ những em học sinh vừa tan học, tôi bỗng nhiên cảm thấy ai đó đi qua quệt phải lưng mình. Đó là một cậu bé chừng 10 tuổi, mặc một bộ quần áo mỏng, rách tả tơi, trong khi trời đã bắt đầu vào đông.

Khi đó, như đã rất quen thuộc, mẹ tôi liền mỉm cười rồi đưa cho cậu bé một hộp cơm. Không đợi tôi cầm hộ, cậu bé vội giật lấy cơm, ném tiền vào hộp rồi chạy mất. Một học sinh bên cạnh tức giận nói: “Thằng ăn mày này toàn lừa tiền cơm, rất nhiều lần đều như vậy, nếu lần sau còn thế thì phải dạy cho nó một trận!” Tôi ngạc nhiên kiểm tra lại hộp tiền, thì thấy quả thực là cậu bé chỉ đưa có 1 tờ 200 đồng.

Khi tôi trách mẹ quá sơ ý, bà nói: “Mẹ biết mỗi lần thằng bé chỉ bỏ vào đó 1 tờ 200 đồng. Chỉ có điều ta cũng nên giữ đạo nghĩa. Đứa trẻ này đã mất cả cha lẫn mẹ, rất đáng thương, mẹ cũng chỉ có thể giúp nó đến như vậy.

Mẹ tôi luôn làm những hộp cơm ngon hơn mà chỉ bán cho những đứa trẻ với giá rẻ bèo (Ảnh: Extraordinary Amazonaws)

Tôi không đồng ý nói: “Mẹ thật quá hồ đồ, đây mà là giúp cậu ta sao?” Nhưng tôi chưa kịp nói xong thì đã bị mẹ la mắng. Tôi biết rõ là dù có nói gì cũng vô dụng, mẹ suốt ngày niệm Phật, chỉ một lòng muốn giúp người khác, nhưng lại không nghĩ sâu hơn. Thế là tôi đột nhiên muốn xử lý thật tốt chuyện này.

Ngày hôm sau, cậu bé ăn xin lại tới. Cậu ta vẫn giành lấy cơm như những lần trước, ra vẻ rất vội vàng và chuẩn bị ném tiền vào hộp. Lúc đó tôi thình lình nắm lấy tay cậu… tờ tiền ít ỏi rơi ra ngoài. Mọi người đều quay lại nhìn, làm cậu bé rất bối rối, xấu hổ, và chực khóc. Lúc đó tôi cười nói: “Mua như vậy thì không đủ ăn đâu! Em cứ lấy cơm đi, phần còn thiếu sau này hãy trả.” Nói xong tôi thả tay cậu ra.

Cậu bé sợ hãi cầm hộp cơm, ánh mắt tràn đầy nghi hoặc. Tôi lại bảo: “Đi đi, anh biết rõ em nhất định sẽ trả! Nhớ nhé! Sau này phải trả cả vốn lẫn lãi!” Cậu bé suy nghĩ mất một lúc, rồi sau đó im lặng quay người, đi thẳng từng bước một, chứ không còn chạy như trước kia nữa.

Kể từ đó, cậu vẫn thường đến ăn, và trả 200 đồng…

Đang suy nghĩ miên man thì anh Trương lại vội vã quay lại nói với tôi: “Tôi quên! Còn một phong thư nữa!

Nhận lấy phong thư, tôi vội vàng mở ra đọc. Trong thư viết:

“Tôi cuối cùng đã tìm được địa chỉ của anh. Suốt bao năm tìm kiếm, tôi mới có thể đem tiền trả lại, mới có thể hoàn lại ân tình 20 năm về trước. Lúc đó tôi đã lang thang khắp nơi, thường xuyên chịu đói rét. Một lần tôi tới cổng trường học giả vờ mua một hộp cơm. Tôi ném thử tờ 200 đồng vào hộp rồi nói xin mua cơm. Lúc đó tôi nghĩ, dù có bị phát hiện đi nữa thì dì bán cơm cũng rất hiền lành, sẽ không trừng phạt tôi. Nhưng dì cũng không phát hiện ra, tủm tỉm cười rồi đưa tôi một hộp.

Sau đó tôi bắt đầu dựa vào thủ đoạn và mánh khóe để có được bữa ăn. Tôi cảm thấy người tốt trong xã hội rất dễ bị lừa. Tôi thường xuyên nói dối, và trộm đồ trong hành lang, còn định trộm cả trong cửa hàng nữa. Lần đó khi bị anh tóm lấy, tôi đã nghĩ mình vậy là xong rồi, bị đánh rồi. Nhưng tôi đã không phải chịu trận đòn nào, mà lại còn được anh thả đi. Những lời nói của anh đã bảo vệ danh dự cho tôi, khơi dậy trong tôi mong muốn làm người tốt thực sự. Trong những năm sau này, mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu. Và dù phải tìm kiếm khắp nơi, dù phải đi bao xa, mất bao nhiêu thời gian, tôi vẫn muốn hoàn thành lời hẹn ước cũ.”

Mỗi khi nhớ đến ánh mắt của anh, tôi lại có thể tránh xa những điều xấu ở những đứa trẻ ăn xin khác…

Và sự thành thật của cậu bé ăn xin cuối cùng đã được đền đáp…

“Một ngày nọ, khi nhìn thấy tôi ngồi co ro vì giá rét, một phụ nữ đã trở về nhà mang cho tôi mấy chiếc áo. Sau đó tôi phát hiện trong túi áo có rất nhiều tiền. Lúc đó tôi rất đói, rất muốn giữ lại số tiền này, nhưng ánh mắt của anh lại hiện lên làm tôi thay đổi ý nghĩ. Tôi phải mất cả ngày mới tìm được nhà người phụ nữ nọ. Hai vợ chồng họ đã rất ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi tới trả lại tiền. Họ khóc nức nở ôm tôi vào lòng, rồi liên tục nói tôi là đứa trẻ tốt. Khi đó con gái hai vợ chồng vừa bị bệnh mà qua đời, tôi may mắn trở thành con nuôi của họ. Cuộc sống từ đó trở nên tốt hơn, tôi được cha mẹ nuôi thương yêu hết mực, được đi học. Giờ tôi đã trở thành giáo viên…”

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc! (Ảnh: Nature World News)

Đúng là cậu ta! Quả là một niềm vui ấm áp. Tôi thầm cảm thấy may mắn vì đã không vô tình hủy hoại một con người. Cậu bé ăn xin học được đức tính thành thật ngay thẳng, vì vậy mà đã gặp một gia đình tốt.

Giờ đây đứng trên bục giảng, chắc chắn cậu bé ăn xin năm xưa sẽ nói với học sinh của mình rằng: “Chỉ có thành thật mới mang lại hạnh phúc!

Khúc ruột ngoài da

Khúc ruột ngoài da

Tạp ghi Huy Phương


Theo định nghĩa chữ “kiều” là “ở nhờ, đi ở nhờ làng khác hay nước khác” nên những người này thường được gọi là kiều cư, kiều dân. Chế độ Cộng Sản ở trong nước dùng chữ Việt kiều hay kiều bào để chỉ chung những người Việt hiện đang sống ở hải ngoại. Đây không phải là kiểu dốt chữ nhưng họ có thâm ý “nhận vơ” cho rằng những người Việt này là công dân của nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đang sinh sống, làm ăn ở nước ngoài.

Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh ở Hà Nội, cơ quan phụ trách ra vào Việt Nam
của “Việt Kiều.” (Hình: Hoang Dinh Nam/AFP/Getty Images)

Do sự “nhận vơ” đó mà ông Trương Tấn Sang trong dịp được Tổng Thống Mỹ Barack Obama tiếp kiến ở Tòa Bạch Ốc hồi Tháng Bảy, 2013, đã cám ơn chính phủ Mỹ đã chăm lo cho các người Việt ở Hoa Kỳ. Đây là lời cám ơn vô duyên, khá trơ trẽn, có lẽ trong thâm tâm hay cố tình, ông Sang cho tất cả những người Việt ở Mỹ đều là con dân của chế độ Cộng Sản Việt Nam, trong khi thực chất Việt kiều của ông chỉ là những người Việt du học tạm thời, nhân viên ngoại giao, mang thông hành Việt Nam đang ở Mỹ.

Trong một bài viết về Học Viện Quân Sự West Point của Hoa Kỳ bằng tiếng Việt, một tác gỉa trong nước đã hạ bút rằng: “Sinh viên người Việt ở West Point khá đông, nhưng đều là Việt kiều…” thật tình tôi không hiểu hết ý của tác giả, và đây là một câu khá ngớ ngẩn.

Tại Trung Quốc, khái niệm “Hoa Kiều” mang tính cách đứng đắn hơn, vì “Hoa Kiều” chỉ để nói đến những người còn mang quốc tịch Trung Quốc đang “ở nhờ” bên ngoài đất nước của họ. Còn nếu như muốn nói đến tất cả mọi người gốc Hoa tại nước ngoài, không kể họ đang tạm trú hay là thường trú nhân, có quốc tịch hay không có quốc tịch, thì các cơ quan truyền thông nước này dùng danh từ “Hải Ngoại Hoa Nhân” (người Hoa ở hải ngoại). Chúng ta, nhất là những người trong nước, phải dùng danh từ “người Việt hải ngoại” để gọi những người Việt đang sinh sống ở nước ngoài mà không thể cá mè một lứa, hễ cứ người Việt ở ngoại quốc, ai cũng là… “Việt Kiều.”

Những ai đã sống dưới thời Đệ Nhất Cộng Hòa hẳn đã không quên “Hoa Kiều” tập trung ở Chợ Lớn, họ di cư sang Việt Nam từ mấy đời trước, làm ăn buôn bán, sinh con đẻ cái, nhưng không chịu vào quốc tịch Việt Nam. Chính phủ Ngô Đình Diệm, không những đã ra sắc luật cấm ngoại kiều, bất cứ Chà Và hay Tàu Chợ Lớn, đang sinh sống tại Việt Nam làm tám nghề chính liên quan đến huyết mạch kinh tế, mà còn bắt buộc những người cư trú lâu đời phải nhập tịch Việt Nam, từ đó, họ không còn là “ngoại kiều” nữa, mà trở thành “người Việt gốc Hoa” tồn tại cho đến ngày nay. Vậy thì ngày nay chúng ta nhận là “người Mỹ gốc Việt” hay “người Úc gốc Việt” là chính danh.

Vậy thì chính phủ Cộng Sản cũng đừng bao giờ nhận vơ những Dương Nguyệt Ánh, Lương Xuân Việt, Alan Phan là Việt Kiều. Có điều lạ là chỉ thị số 45-CT/TW ngày 19 Tháng Năm của Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam “về công tác người Việt Nam ở nước ngoài trong tình hình mới” có 2,199 chữ, nhưng không hề có một chữ “Việt kiều” nào. Tuy vậy trong Bách Khoa Toàn Thư tiếng Việt, người ta vẫn còn dùng chữ một cách lơ lửng: “Việt kiều hay người Việt hải ngoại…”

Nói chung toàn bộ người Việt hiện nay ở ngoại quốc, có khoảng 4 triệu người Việt sinh sống trên hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có gần 2 triệu người ở Mỹ là những người Việt ở hải ngoại, phần lớn là người tị nạn, không mang quốc tịch Việt Nam (khi ra đi đã bị “cắt” hộ khẩu) không thể gọi đây là Việt kiều!

Nếu nhắm vào các sinh hoạt của người Việt ở ngoại quốc, chúng ta sẽ khẳng định ai là Việt kiều, ai là không. Việt kiều là những người mang cờ đỏ sao vàng, thường tụ tập tại các sứ quán Việt Nam Cộng Sản trong các dịp lễ, Tết, sắp hàng đón tiếp các quan chức Cộng Sản sang thăm nước họ đang sinh sống hoặc “hồ hởi” về nước tham gia các buổi hội nghị hay đón tiếp để được mang thêm hai chữ “yêu nước!”

Nghĩa tốt xấu của mỗi Việt kiều tùy theo hoàn cảnh, được báo chí trong nước loan tin.

Nếu một Việt Kiều Mỹ hay Úc về nước lường gạt thì đó là một người Việt tha phương cầu thực đang sinh sống ở nước ngoài, nhưng nếu là một Việt kiều tiếng tăm, thành công vượt bực thì đó chính là một người gốc gác Việt Nam, khúc ruột ngàn dặm thương yêu trìu mến của chúng ta.

Cộng Sản là bậc thầy của chuyện đổi giọng và đổi trắng thay đen, cho nên Việt Kiều nguyên xưa kia, chỉ là “những kẻ chạy theo bơ thừa sữa cặn của Đế Quốc Mỹ” nay đã hóa thân thành “khúc ruột ngàn dặm, một thành phần không thể thiếu của tổ quốc.” Và chúng lên mặt kẻ cả dạy dỗ: “Ủng hộ và khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tôn trọng pháp luật và hội nhập vào xã hội nước sở tại, nơi bà con sinh sống,” cũng như sẽ “phối hợp chặt chẽ với các nước có người Việt Nam sinh sống nhằm hỗ trợ bà con có địa vị pháp lý vững chắc, bảo đảm cuộc sống lâu dài ở nơi cư trú.”

Trước kia những nhà đại trí thức như Nguyễn Khắc Viện, Trần Đức Thảo, Nguyễn Mạnh Tường cũng nghĩ lầm là Việt Cộng yêu nước mà trở về, mới sống trong tai ương, chết trong vùi dập. Ngày nay, bài học của những Việt Kiều cỡ lớn như Nguyễn Trung Trực (Úc), Trịnh Vĩnh Bình, (Hòa Lan), Nguyễn Gia Thiều (Pháp), Nguyễn An Trung (Nhật), Nguyễn Đình Hoan (Mỹ)… đến Việt kiều “tép” như Trần Trường đã cho chúng ta hiểu rõ hơn thế nào là Cộng Sản.

Gần đây việc một “Việt Kiều” tên Bùi Văn Tánh, nguyên dân Nha Trang, năm 1980 vượt biển đến Mỹ, định cư tại Mỹ đã 25 năm, trở về cố quốc bị công an bắt giữ về tội vượt biên trước đây. Tị nạn ở hải ngoại hiện nay có bao nhiêu người mang tội vượt biển, vượt biên trái phép, trốn trại, cướp tàu, trốn thuế, hối lộ chính quyền địa phương, mua bãi, “sở hữu hai bao cao su đã dùng rồi,” tội còn sờ sờ ra đó!

Chúng ta “được gọi” là “khúc ruột ngàn dặm” nhưng 40 năm qua chúng ta đã chịu bao cảnh “ruột héo, gan bầm,” đoạn trường (đứt ruột!) khi phải bỏ nước ra đi.

Tiền Baht và Tiền Bác

Tiền Baht và Tiền Bác

S.T.T.D Tưởng Năng Tiến

Lão bà nghỉ chợ bần thần
Đem tiền[Cụ Hồ] ra đếm mấy lần chửa xong
Xếp riêng rồi lại xếp chung
Miệng thời lẩm bẩm mà … (không rõ nhời) !

Lão Nông

Tôi dừng chân ở Bangkok (lần đầu) vào một buổi chiều Hè, năm 1980. Đây cũng là thời điểm tôi mới làm quen với cuộc sống tha hương nên đã ghi lại vài chục câu thơ (hơi) ướt át:

Chiều về trên xứ lạ
Cười nụ cười Anglais
Buồn qua hơi thuốc Thái
Thèm một phin cà phê

Chiều về trên xứ lạ
Xe ngược xuôi trăm đường
Trăm ngàn khuôn

Chiều về trên xứ lạ
Excuses me
I’m sorry nói mãi
Thương một câu chửi thề

Chiều về trên xứ lạ
Thoáng thấy mình trong gương
Tôi nhìn tôi bối rối mặt lạ
Mong một người đồng hương
Sao trông mình thảm thương

Chiều về trên xứ lạ
Ngỡ ngàng Chinatown.
Ðây rượu nồng thịt béo
Mà bạn bè nơi nao

Dừng chân nơi quán lạ
Thèm cơm chiều hương quê
Mẹ cha ơi đừng đợi
Chiều nay con không về
(Chị ơi thôi đừng đợi
Chiều nay em chưa về)

Thì cũng nói cho nó bảnh, và nghe cho có vần điệu (chơi) vậy thôi chớ tiền đâu ra mà … “dừng chân nơi quán lạ” – hả Trời? Tui “chuồn” ra Bangkok, từ một trại tị nạn chuyển tiếp, và trong túi chỉ có vỏn vẹn mỗi một đồng đô.

Vào thời điểm này, một Mỹ Kim tương đương với 24 đồng tiền baht. Xe bus lượt đi lượt về đã mất hết 4 baht rồi, tô mì xe giá 5 baht, chai Coca Cola 3 baht nữa. Tiền còn lại chỉ đủ mua (lẻ) vài điếu thuốc lá Samit nữa thôi.

Không lẽ “dừng chân nơi quán lạ” uống (đại) dăm chai bia Singha rồi bỏ chạy sao? Mà chạy đi đâu giữa kinh đô Vọng Các xa hoa, và xa lạ này?  Đ… mẹ, tui chỉ (thường) say thôi chớ có điên hồi nào đâu – mấy cha?

Tiền Baht. Ảnh: fotolibra.com

Ba mươi lăm năm sau, tôi trở lại chốn xưa (vào mùa Hè năm 2015) với cả … đống U.S.A dollar trong túi. Tiền đã nhiều mà một Mỹ Kim hôm nay còn đổi được tới 35 đồng baht lận. Tuy vậy, mãi lực của tiền Thái không còn được như xưa nữa.

Giá xe bus đã lên hơn gấp bốn, tới 9 baht. Và đó là loại xe không máy lạnh, dành cho người nghèo. Nghe nói nay có loại xe điện mới, rất tân kỳ (lạnh ngắt và sạch bóng) đi lại trong thành phố rất tiện nhưng tôi chưa có dịp thử nên không biết giá cả ra sao.

Tô mì hôm nay đã giá gấp 7 rồi, 35 baht. Chai Coca Cola cũng vậy, 10 baht chớ không còn 3 baht như hồi năm cũ  nữa. Lương bổng, lợi tức của người dân Thái – tất nhiên – cũng tăng, và chắc là tăng kịp với đà lạm phát nên không nghe thiên hạ ca cẩm gì nhiều về nạn vật giá leo thang, như ở Việt Nam. Mọi người, xem ra, có vẻ hài lòng với cuộc sống tương đối an lành và phú túc mà họ đang được hưởng.

Khác với những quốc gia láng giềng, dường như, không có cái khoảng cách hay sự tương phản nào (rõ nét) giữa mức sống giữa nông thôn và thành thị ở Thái Lan. Những người chạy taxi, và ngay cả xe tuck tuck, hay xe ôm nữa –  nơi xứ sở này – trông cũng tự tin và thoải mái hơn đồng nghiệp của họ ở Cambodia, hay Lào.

E là mình chủ quan nên tôi viết thư hỏi một anh bạn, người đã sống ở Thái Lan từ năm 1992, hiện là một trong những thông tín viên thường trực của RFA ở Bangkok. Qua ngày sau, tôi nhận được hồi âm:

Anh Tư mến,

Em đọc thư anh viết từ hôm qua, song bận quá giờ mới viết trả lời anh được.

Đợt vừa rồi tìm hiểu để viết về cuộc sống của những người Việt tỵ nạn ở Thái lan, đặc biệt là những người Thượng Tây nguyên thì vượt quá sức tưởng tượng của em.

Họ khổ quá, thương họ quá dù rằng mình cũng hiểu phần nào song không hình dung trên thực tế thì nó là như thế.

Chuyện lương của cháu K. 300$/tháng (9,000 baht) là mức lương tối thiểu của một lao động phổ thông người Thái theo quy định của nhà nước. Mức lương đó mà dành cho 03 người thì khá vất vả, vì riêng tiền thuê nhà ở Bangkok một phòng 12-14 m2 có nhà vệ sinh tồi nhất cũng phải mất 2-2,500 baht. Số tiền còn lại còn trăm thứ phải tiêu: diện, nước, internet và ăn uống tiêu dùng.

– Lương của một Hạ sỹ quan CS Thái lan khoảng 18,000 baht

– Lương của một Sỹ quan CS Thái lan mới ra trường khoảng 20,000 baht.

– Lương cho giáo viên thì rất cao, bằng khoảng 130% của lương viên chức khác.

– Lương của một viên chức trung bình khoảng 23,000 baht.

Nhìn chung lương viên chức ở Thái lan thì thấp, song họ có các chế độ đãi ngộ khác kèm theo khá tốt như các vấn để an sinh xã hội dành cho người nhà của viên chức như bố, mẹ, vợ con v.v…

Mặt khác ở Thái lan có chế độ giáo dục miễn phí 12 năm, chữa trị y tế hoàn toàn free 100%, có trợ cấp cho người già, người tàn tật. Vì vậy với mức lương trung bình 23,000 baht/tháng cũng đủ sống không phải kiếm thêm. Hầu như không thấy hiện tượng viên chức người Thái phải làm thêm. Hầu như đối tượng này có nhà riêng và xe hơi.

Những người có khả năng thì họ đi làm cho các công ty tư nhân, lương cao hơn khoảng 140% so với lương viên chức.

Vật giá ở Thái lan khá rẻ. Thức ăn bán sẵn cho 03 người một bữa có 03 món thịt, cá và canh khoảng 100 baht là tạm ổn, cơm thì nấu ở nhà.

Lái xe taxi cũng là một nghề tự do kiếm tiền khá, song nếu phải thuê xe thì một ngày cũng phải trả tiền thuê khoảng 7-800 baht/ngày nên cũng chẳng thừa được bao nhiêu. Còn lại khoảng 7-800 baht/ngày sau khi trừ tiền mua gaz.

Có xe riêng thì được nhiều. Chạy xe ôm là việc dễ làm, chỉ cần có moto và trả phí hàng ngày chừng 50-60 baht cho chủ bến (Cảnh sát) thì mỗi ngày chịu khó cũng kiến được khoảng 1,000 baht.

Lạm phát ở nước Thái thì ít so với VN, em ở bên này 23 năm thì thấy vật giá mới tăng khoảng 150%, thế cũng là phù hợp với tốc độ suy thoái kinh tế toàn cầu. Tất nhiên cũng phải kể đến nguyên nhân chính là việc nâng mức lương tối thiểu của lao động phổ thong từ 6,000 baht/ tháng lên 9,000 baht/tháng.

Em viết vội cho anh như vậy, có gì cần biết anh cứ bảo em nhé.

Chúc anh khỏe.

Ở VN thì đơn vị tiền tệ không phải là tiền baht mà là tiền Bác. Đồng tiền này được lưu hành trên toàn quốc từ ngày 23 tháng 9 năm 1975. Sự kiện này được báo Sài Gòn Giải Phóng (số ra ngày 27 tháng 9 cùng năm) ghi lại thế này đây:

Nhiệm vụ của đồng bạc Sài Gòn (là) giữ vai trò trung gian cho Diệm xuất cảng sức lao động của đồng bào ta ở miền Nam cho Mỹ… Làm trung gian để tiêu thụ xương máu nhân dân miền Nam, làm trung gian để tiêu thụ thân xác của vô số thiếu nữ miền Nam, làm trung gian cho bọn tham nhũng, thối nát, làm kẻ phục vụ đắc lực cho chiến tranh, làm sụp đổ mọi giá trị tinh thần, đạo đức của tuổi trẻ miền Nam, làm lụn bại cả phẩm chất một số người lớn tuổi… Nó sống 30 năm dơ bẩn, tủi nhục như các tên chủ của nó, và nay nó đã chết cũng tủi nhục như thế. Đó là một lẽ tất nhiên, và đó là lịch sử… Cái chết của nó đem lại phấn khởi, hồ hởi cho nhân dân ta.”

Tiền Bác. Ảnh: facebook

Ba mươi tám năm sau, nhà báo Huy Đức mới có lời bàn thêm, và bàn ra, nghe như một tiếng thở dài: “Không biết ‘tủi nhục’ đã mất đi bao nhiêu … nhưng rất nhiều tiền bạc của người dân miền Nam đã trở thành giấy lộn.”  (Bên Thắng Cuộc, tập I. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Thảo nào mà trong dân gian không thiếu những câu thơ (nghe) hơi thừa cay  đắng:

Máu rợn mùi tanh, cuộc đổi đời

Ba lần cướp trắng lúc lên ngôi

Miền Nam “ruột thịt” âm thầm hiểu: 

Cách mạng là đây: bọn giết người !

Mà đắng cay là phải vì hiện nay Việt Nam đã trở thành một trong mười quốc gia có đồng tiền trị giá thấp nhất thế giới, , theo như ghi nhận của dondwest.hubpages.com/hub/Worthless-Fiat-Currency:

1. Somalia
2. VIETNAM
3. São Tomé and Príncipe
4. Iran
5. Indonesia
6. Laos
7. Guinea
8. Zambia
9. Paraguay
10. Sierra Leone

Theo thời giá thì 100 baht, nếu tiện tặn, có thể đủ tiền chợ nguyên ngày cho một gia đình ba người. Còn 1.000 ngàn đồng tiền Bác thì ngay cả đến giới ăn xin cũng không muốn nhận – như tường thuật của nhà báo Bạch Nga, trên Vietnamnet:

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

‘Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho ‘tử tế’ nhá!’

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc…

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: ‘Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé.”

Ảnh: vtc

Lý do khiến đồng Bác bị nhân dân, cũng như nhân loại, rẻ rúng được nhà báo Nguyễn Vũ Bình lý giải như sau:

“Nhà nước VN, từ khi thành lập tới nay, đều giữ bí mật về lượng tiền in ra, phát hành. Ngoài mấy lần đổi tiền, làm người dân vô cùng điêu đứng, thì khi bước vào chuyển đổi cơ chế kinh tế, chuyển sang kinh tế thị trường cũng liên tục vi phạm nguyên lý về mối tương quan giữa lượng tiền phát hành và năng lực của sản xuất của nền kinh tế.

Việc in tiền không căn cứ và không có giới hạn khiến cho giá cả hàng hóa năm nào cũng tăng ít nhất từ 20-50%/năm (trong khi các nền kinh tế thị trường chỉ từ 5-7%). Đồng tiền mất giá đã bóp méo toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh cũng như giảm mức sống mà người dân đáng ra phải được hưởng…”

Những cái “người dân đáng ra phải được hưởng” – xem chừng – mỗi lúc một xa khỏi tầm tay, và càng ngày thì cuộc sống càng thêm “điêu đứng.”  Đã đến lúc mà vấn đề được đặt ra theo một chiều hướng khác, thách thức thấy rõ:

“Liên tiếp trong một thời gian ngắn, xăng và điện tăng giá, một số thành phố sẽ thu phí đường bộ đối với xe máy từ ngày 1-7 tới… Tiền điện tăng 100%, giá xăng dầu được dự báo vẫn theo chiều hướng tăng vọt dù giá nhập giảm tới… 40%, nồi cơm của nhiều gia đình chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng bởi thu nhập không tăng kịp theo tương xứng. Nhiều bà nội trợ chắc chắn sẽ chật vật vì phải cắt khoản chi tiêu này, giảm khoản kia để tổ ấm của mình tồn tại…

Ảnh: Pháp Luật

Trong cuộc sống sự nhẫn nại là một đức tính tốt nhưng vấn đề là nhẫn nại của chúng ta có giới hạn không?” (Benjamin Ngô. “Sự Nhẫn Nại Của Chúng Ta.” Báo Pháp Luật, số ra ngày 28 tháng 6 năm 2015).

Tôi may mắn không “phải” sống ở Việt Nam nên không dám lạm bàn chi về mức độ “giới hạn nhẫn nại” của đồng bào mình. Lêu bêu ở xứ người, đôi lúc, tôi chỉ trộm nghĩ rằng giá mà đừng có Bác (và mấy đồng bạc của Người) thì thiệt là đỡ khổ cho dân Việt biết chừng nào!

Tông du của ĐGH Francis ‘rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo’

Tông du của ĐGH Francis ‘rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo’

Đỗ Dzũng/Người Việt

PHILADELPHIA, Pennsylvania (NV) – “Chuyến thăm Hoa Kỳ của Đức Thánh Cha đã rất thành công về mặt chính trị và tôn giáo.”

Đó là nhận xét của Linh Mục Nguyễn Khắc Hy, giáo sư Thần Học tại Đại Học Công Giáo Hoa Kỳ, Washington, DC, khi trả lời phỏng vấn của nhật báo Người Việt qua điện thoại.

Đức Giáo Hoàng Francis (giữa) tặng sách Phúc Âm Thánh Luca cho hai người
trong một gia đình Việt Nam. (Hình: Carl Court/Getty Images)

Linh mục cũng là thông dịch viên chính thức cho cộng đồng Công Giáo Việt Nam tại Đại Hội Gia Đình Thế Giới được tổ chức ở Philadelphia trong mấy ngày qua.

Linh mục giải thích thêm: “Về mặt chính trị, ba bài diễn văn của ngài tại Tòa Bạch Ốc, Quốc Hội Mỹ, và Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc đã đánh động chính sách của Hoa Kỳ, nhất là trong hai đề tài di dân và môi trường. Tất nhiên, chúng ta chưa biết các chính trị gia Mỹ sẽ làm gì trong những ngày tới, nhưng kết quả cụ thể chúng ta có thể thấy là sự từ chức của Chủ Tịch Hạ Viện John Boehner.”

“Về mặt tôn giáo, tôi nhận thấy người Công Giáo rất vui mừng, và họ nhận thức được thông điệp của Đức Giáo Hoàng, đó là ‘Sống Tin Mừng trong gia đình’ có nghĩa là ‘Sống Tin Mừng bằng đời sống hôn nhân và gia đình.’ Đây là sứ điệp được mọi người đón nhận rất nồng nhiệt,” vị linh mục nói thêm.

Giáo dân Việt Nam tham dự Thánh Lễ

Nói về Thánh Lễ tại Philadelphia, do Đức Giáo Hoàng Francis chủ tế, trong ngày cuối cùng của ngài ở Hoa Kỳ, Linh Mục Hy nhận xét: “Tôi thấy có rất nhiều người Việt Nam. Có hàng chục người trong ca đoàn, có hát tiếng Việt, có hát Đáp Ca bằng tiếng Việt, có đọc Thánh Thư bằng tiếng Việt, có Đức Hồng Y Nguyễn Văn Nhơn, tổng giám mục Tổng Giáo Phận Hà Nội, sang tham dự, rồi có Giám Mục Nguyễn Văn Hiếu, giám mục phụ tá Tổng Giáo Phận Toronto, Canada,… và rất nhiều linh mục Việt Nam.”

“Năm nay là ‘Năm Lòng Thương Xót’ của Vatican. Trong số năm gia đình đại diện năm châu mà Đức Giáo Hoàng chọn ra để trao Phúc Âm Thánh Luca, có một gia đình từ Việt Nam sang, đại diện cho Châu Á. Nói chung, người Việt Nam chúng ta đóng một vai trò quan trọng trong giáo hội tại Hoa Kỳ,” Linh Mục Nguyễn Khắc Hy nói tiếp.

Được biết, người hát Đáp Ca trong Thánh Lễ là anh Võ Sinh, thuộc ca đoàn giáo xứ Thánh Helena ở Philadephia.

Còn người đọc bài Thánh Thư thứ hai là Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế, giám đốc chương trình gia đình, thuộc Tổng Giáo Phận Sài Gòn.

Được biết, Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế có mang đến Hoa Kỳ một bức tranh Đức Mẹ Maria làm bằng những hột gạo để tặng Đức Giáo Hoàng Francis.

Soeur Mary Nguyễn Hồng Quế đọc bài Thánh Thư thứ hai tại Thánh Lễ.
(Hình chụp qua TV)

Kỹ sư Đỗ Ngọc Dũng, một giáo dân Công Giáo ở Brooklyn Park, Minnesota, cùng gia đình đến tham dự Thánh Lễ nói rằng lòng tin của ông được vững mạnh hơn sau khi trông thấy Đức Giáo Hoàng Francis.

“Đức Giáo Hoàng là người thay mặt Chúa. Khi đến gần ngài, tôi cảm thấy gần gũi hơn là nhìn qua truyền hình, cảm thấy niềm tin của mình đầy đủ hơn. Mặc dù Chúa nói rằng ‘Phúc cho những ai không thấy mà tin,’ nhưng với tôi, được thấy thì vẫn tốt hơn,” ông vừa cười vừa nói với nhật báo Người Việt qua điện thoại.

Ông nói thêm về Thánh Lễ do Đức Giáo Hoàng Francis chủ tế: “Có đến đây mới thấy đức tin của người Công Giáo rất lớn. Họ đến từ khắp nơi trên thế giới, không ai biết ai, nhưng đều hiểu nhau. Khi Đức Giáo Hoàng Francis làm lễ, lúc thì bằng tiếng Anh, lúc bằng tiếng Tây Ban Nha, nhưng tôi có cảm giác mọi người đều hiểu rất rõ và cảm thấy đức tin dâng cao.”

Bà Hoài Phạm, cư dân Buffalo, New York, có nhận xét như sau: “Trước khi đi cảm thấy mình tội lỗi vô cùng, nhưng bây giờ thì cảm thấy khá hơn, vì được nghe những lời giảng về gia đình, về thăng tiến hôn nhân, rất tốt.”

“Trong Thánh Lễ, tôi chỉ lo cho sinh mạng của Đức Thánh Cha. Lúc ngài bước ra khỏi xe để lên bàn thờ, tôi cứ cầu nguyện, sợ đứa nào nó bắn ngài. Tôi thấy mọi người dự Thánh Lễ rất sốt sắng,” bà nói thêm.

Bà cho biết, đây là lần đầu tiên được thấy Đức Giáo Hoàng, rất là vui, nhưng chưa bao giờ đến Vatican.

“Sau chuyến này về, tôi sẽ thúc chồng tôi đi Vatican một chuyến. Tôi muốn gặp ngài lần nữa,” bà quả quyết.

Nhà báo Trần Đông Đức, chủ nhiệm tuần báo Người Việt Đông Bắc, có mặt tại Thánh Lễ từ đầu đến cuối và cảm thấy tự hào.

“Tôi không phải là người theo Công Giáo, nhưng cảm thấy rất tự hào, vì thấy có nhiều người Việt Nam tham dự Thánh Lễ, và có cả tiếng Việt được đọc nữa. Tôi thấy người Việt là một lực lượng ‘chủ lực’ ở đây. Họ có tinh thần hiệp thông cao, tin vào Thiên Chúa, có sự bình đẳng, bác ái, không phân biệt đẳng cấp,” nhà báo Trần Đông Đức nhận xét.

Ông nói thêm: “Nói thật, tôi chỉ đến tham dự vì hiếu kỳ, nhưng thấy nghi thức rất trang trọng, tôn nghiêm, và đúng là một sự kiện lịch sử tại Philadelphia. Và một lần nữa, có tới dự Thánh Lễ mới chứng kiến là người Việt Nam mình rất mạnh. Tôi rất hãnh diện.”

Gặp nạn nhân lạm dụng tình dục

Trước khi cử hành Thánh Lễ, Đức Giáo Hoàng đã gặp một số nạn nhân tình dục và nói “Chúa đã khóc” cho họ, theo CNN.

Đức Giáo Hoàng gặp năm nạn nhân, ba phụ nữ và ba đàn ông, theo thông cáo báo chí của Vatican.

Tất cả năm người này đều bị các linh mục, thành viên gia đình, hoặc thầy giáo, lạm dụng tình dục khi còn là thiếu niên.

Đức Giáo Hoàng Francis đã nghe họ kể chuyện, nói với họ, từng cá nhân cũng như cả nhóm, và sau đó cầu nguyện cùng với họ.

Nơi đức giáo hoàng gặp các nạn nhân là nhà dòng St. Charles Borromeo, một nơi thuộc Tổng Giáo Phận Philadelphia, từng có hai vụ lạm dụng tình dục được đại bồi thẩm đoàn đề cập năm 2005 và năm 2011, trong đó, những người đứng đầu tổng giáo phận bị tố cáo không có biện pháp thích đáng để ngăn chặn tình trạng linh mục lạm dụng tình dục trẻ em.

Sau đó, trong cuộc họp với các giám mục, Đức Giáo Hoàng Francis hứa sẽ “xem xét cẩn thận” để bảo đảm trẻ em được bảo vệ và nói rằng những người lạm dụng phải chịu trách nhiệm.

“Những người chịu trách nhiệm chăm sóc trẻ em lại vi phạm lòng tin và làm họ đau đớn,” vị giáo chủ đứng đầu Vatican được CNN trích lời nói. “Những ai chịu đựng sự lạm dụng này đã trở thành những sứ giả của lòng thương xót. Chúng ta biết ơn họ, bởi vì họ bị lạm dụng một cách đau khổ, lạm dụng tình dục trẻ em.”

Tại Vatican năm 2014, Đức Giáo Hoàng Francis từng gặp nạn nhân lạm dụng tình dục. Trong một Thánh Lễ riêng tư với sáu nạn nhân, vị giáo hoàng đã xin lỗi và xin họ tha tội.

Gặp tù nhân trong nhà tù

Cũng trong ngày Chủ Nhật, Đức Giáo Hoàng Francis đã gặp một số tù nhân và cai tù trong nhà tù Curran-Fromhold, lớn nhất ở Philadelphia.

Đức Giáo Hoàng đã ngồi trên một chiếc ghế, do các tù nhân làm đặc biệt cho ngài, nói chuyện với một số tù nhân, và bài nói chuyện của ngài được loa phóng thanh truyền đi khắp nhà tù, theo NBC.

Đức Giáo Hoàng Francis nói với các tù nhân rằng họ không cô đơn, và không nên cảm thấy bị ruồng bỏ trong thời gian ở tù.

“Tôi đến đây như là một linh mục, nhưng trên hết là một người anh, để chia sẻ tình trạng của các bạn, và cảm nhận của tôi,” Đức Giáo Hoàng được trích lời nói. “Bất cứ xã hội nào, gia đình nào, mà không thể chia sẻ hoặc cảm nhận một cách nghiêm túc sự đau đớn của con cái, và coi đây là chuyện bình thường, hoặc là điều tất nhiên, thì đó là một xã hội đáng bị chê trách là tự trói mình.”

Đức Giáo Hoàng ban phép cho một tù nhân trong nhà tù Curran-Fromhold,
Philadelphia. (Hình: Todd Heisler-Pool/Getty Images)

Đức giáo hoàng cũng nói lòng tin sẽ giúp các tù nhân trong thời gian “hồi phục” bởi vì không ai là hoàn hảo.

“Tất cả chúng ta có một điều gì đó cần phải tẩy rửa, hoặc làm cho tinh khiết. Cầu mong những hiểu biết về chuyện này làm cho chúng ta sống trong sự liên kết, hỗ trợ lẫn nhau, và tìm thấy cái tốt nhất trong mỗi con người,” Đức Giáo Hoàng Francis nói.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới

Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ 8 diễn ra từ ngày 22 đến ngày 25 Tháng Chín tại Trung Tâm Hội Nghị Philadelphia, với chủ đề “Tình yêu là sứ mệnh của chúng ta: Để gia đình được sống dồi dào,” với cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng Francis trong hai ngày 26 và 27 Tháng Chín, và kết thúc bằng Thánh Lễ do ngài chủ tế tại Benjanmin Franklin Parkway, có khoảng hơn 1 triệu người tham dự.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới năm nay là đông nhất, với 18,000 người ghi danh tham dự, mà theo Đức Ông Trịnh Minh Trí, chủ tịch Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam tại Hoa Kỳ, kiêm chánh xứ giáo xứ Thánh Helena, có tới hơn 1,100 người Việt Nam.

Đại Hội Gia Đình Thế Giới được tổ chức ba năm một lần, qua sáng kiến của Đức Giáo Hoàng John Paul II, với lần thứ nhất ở Rome, Ý, năm 1994. Sau đó, đại hội được tổ chức ở Rio de Janeiro, Brazil (1997), Rome, Ý (2000), Manila, Philippines (2003), Valencia, Tây Ban Nha (2006), Mexico City, Mexico (2009), và Milan, Ý (2012).

Đại Hội Gia Đình Thế Giới lần thứ 8 ở Philadelphia năm nay là đại hội đầu tiên được tổ chức tại Mỹ.

Giã từ nước Mỹ

Sau sáu ngày thăm Hoa Kỳ, qua ba thành phố lớn, đọc 18 bài diễn văn, gặp gỡ hàng triệu người, Đức Giáo Hoàng Francis kết thúc chuyến viếng thăm đầu tiên của ngài đến Mỹ.

Tại bất cứ nơi đâu Đức Giáo Hoàng Francis cũng được mọi người hoan nghênh, dù là người Công Giáo hay không.

Trước khi đến Hoa Kỳ, Đức Giáo Hoàng Francis đã thăm Cuba trong bốn ngày, gặp cả hai anh em ông Fidel và ông Raul Castro, chủ tế Thánh Lễ, thăm người nghèo… Ngài là vị giáo hoàng thứ ba thăm đảo quốc này.

Đức Giáo Hoàng Francis bước lên cầu thang máy bay, chuẩn bị bay về Rome, Ý.
(Hình: AP Photo/Susan Walsh)

Tại phi trường Atlantic Aviation, Philadelphia, lúc 6 giờ chiều Chủ Nhật, Đức Giáo Hoàng Francis, đứng cạnh Hồng Y Charles J. Chaput, tổng giám mục Tổng Giáo Phận Philadelphia, đã ngỏ lời cảm ơn ban tổ chức, thiện nguyện viên, và các nhà bảo trợ Đại Hội Gia Đình Thế Giới.

Lúc 7 giờ 30 phút tối, Phó Tổng Thống Joe Biden có mặt tại phi trường để tiễn Đức Giáo Hoàng Francis bước lên chiếc máy bay của hãng American Airlines, cất cánh lúc 7 giờ 40 phút để bay về Rome, Ý, kết thúc chuyến thăm lịch sử nước Mỹ.

Liên lạc tác giả: dodzung@nguoi-viet.com

Đại hội Gia đình Công giáo Thế giới 2015

Đại hội Gia đình Công giáo Thế giới 2015

Chân Như, phóng viên RFA
2015-09-27

dhcg-2-622.jpg

Đại hội Gia đình Công giáo Thế giới 2015 hôm 26 tháng 9 tại Philadelphia, Hoa Kỳ.

RFA
Thành phố Philadelphia tiểu bang Pennsylvania, nơi đang diễn ra đại hội gia đình thế giới lần thứ 8, Do tổng giáo phận Philadelphia phụ trách tổ chức với sự phối hợp của hội đồng tòa thánh về gia đình. Đặc biệt hơn năm nay cũng là năm đầu tiên đại hội được diễn ra tại Hoa Kỳ.

Tín hữu công giáo từ 100 quốc gia

Hàng trăm ngàn tín hữu công giáo từ khắp nơi đến từ 100 quốc gia trong đó có VN đã tụ tập về thành phố Philadelphia tiểu bang Pennsylvania trong 6 ngày để tham dự Đại hội Gia đình Công giáo Thế giới 2015 diễn ra từ ngày 22 đến ngày 27 tháng 9, năm nay với chủ đề “Tình yêu là sứ mệnh của chúng ta, để gia đình đưộc sống dồi dào”. Được chọn để nhấn mạnh đến từng cá nhân trong việc ý thức xây dựng và vun đắp tình cảm gia đình bền chặt, cũng như nhằm tăng cường mối liên kết giữa các gia đình và khẳng định sự tối quan trọng của hôn nhân và gia đình đối với mọi người trong xã hội.

Nhận xét về Đại hội gia đình thế giới lần 8 này, linh muc Giuse Đinh Quang Lộc, Chánh xứ Vĩnh Long, đến từ VN cho chúng tôi biết:

“Tôi chưa đi đại hội nào, nhưng mà thật sự đây là đại hội thứ nhất mà tôi tham dự, tôi thấy tổ chức rất là tốt đẹp từ về phía Đức ông Trí của nhà thờ saint Helen để tiếp đón chúng tôi. Thứ hai là cách người ta mời gọi chúng tôi vào trong những nơi để mà cho chúng tôi những bài diễn thuyết, rồi những bài thảo luận. Những bài chia sẻ thấy rất hay có ý nghĩa, nói đến đời sống con người, đời sống của gia đình đời sống xã hội con người phải mở ra như một Thiên Chúa mở ra để đón nhận con người và như một Thiên Chúa chữa lành con người trong sự đau khổ của ngài. Cho nên mình cũng sẽ chấp nhận sự đau khổ của mình để mà giúp đỡ anh chị em và giúp cho anh chị em giúp đỡ nhau như vậy thì gia đình của Thiên Chúa sẽ tràn đầy sự yêu thương.”

Linh Mục Quốc Đăng Tôn, giáo phận Mỹ Tho cũng cho biết cảm nhận của ngài về những chủ đề mà Đại hội đưa ra:

“Theo tôi thì trong các cuộc hội thảo, những nhà diễn giả  tập trung về đời sống gia đình rất nhiều, cho thấy rằng giáo hội rất quan tâm đến đời sống gia đình, vì trong hoàn cảnh xã hội ngày nay, gia đình bị đe dọa rất nhiều bởi những yếu tố bên ngoài. Cho nên giáo hội Công Giáo muốn nêu lên một số những vấn đề để giúp cho các gia đình được sống tốt, mà nếu gia đình sống tốt thì xã hội sẽ tốt.”

Với trên 200 linh mục và 8 giám mục cùng trên 1 ngàn giáo dân công giáo, chưa kể những giáo dân công giáo người Việt sinh sống rải rác tại 50 tiểu bang Hoa Kỳ và Canada, cũng như tại Nhật. Đã giúp cho con số người Việt Nam tham dự đông thứ 3 trong những sắc dân về tham dự.  Ông Đinh Quang Anh, trưởng nhóm trong ban tổ chức chương trình thăng tiến hôn nhân gia đình, đã phấn khởi chia sẻ với chúng tôi về số lượng khá đông này và những ưu đãi Đại hội dành cho người Việt Nam:

“Cái túc số của người Việt mình bây giờ là ngoài nước Mỹ ra mình đứng thứ ba, nước đông người tham gia nhất trong đại hội này. Ra đó anh thấy trong tất cả các tài liệu của đại hội chúng ta đều có tiếng Việt và trong các bài giảng của các Đức Hồng Y chúng ta đều có thông dịch viên bằng tiếng Việt, đó là một ưu đãi, niềm hãnh diện cho người Việt của mình. Chúng tôi rất vui mừng phấn khởi được tham dự đại hội này.”

dhcg-400.jpg
Đại hội Gia đình Công giáo Thế giới 2015 hôm 26 tháng 9 tại Philadelphia, Hoa Kỳ. RFA PHOTO.

Trong suốt 6 ngày đại hội đã diễn ra nhiều các buổi hội thảo, hội học với nhiều chủ đề liên quan đến gia đình và tình yêu thương của thiên chuá, với nhiều diễn giả của các Đức Hồng Y, đức Giám Mục, giáo sư, tiến sĩ và ngay cả những giáo dân có chuyên môn về lãnh vực gia đình hôn nhân.

Anh Nguyễn Hữu Trứ, đến từ Atlanta, trong ban điều hành thăng tiến hôn nhân chia sẻ về những điều mà anh đã học hỏi được qua các buổi hội thảo:

“Tụi em đến đây để học hỏi, về đại hội gia đình thế giới có rất nhiều cái hay cần phải học hỏi. Tại vì theo tụi em nghĩ thì gia đình hiện giờ nó trên bờ vực đổ vỡ rất nhiều, khoảng hơn 50 %, nên đó là điều tụi em rất quan tâm học hỏi để lấy kiến thức của mình về để có thể áp dụng cho gia đình, rồi sau đó áp dụng với bạn bè, các anh em, cho cuộc sống gia đình của mình, nếu mình có được một cái basic một cái foundation tốt thì con cái mình sau này sẽ có một gia đình tốt hơn.”

Trong khi đó một tín hữu công giáo đến từ VN, cũng chia sẻ với chúng tôi về những gì ông đã lãnh nhận được qua các cuộc học hỏi:

“Suốt một tuần nay tôi được tham dự tất cả các Thánh Lễ và các khóa học suốt cả ngày mà sức khỏe của tôi không được cho phép, nhưng mà tôi thấy chương trình rất hữu ích. Tôi cảm nghiệm rằng bây giờ cái thế hệ này càng ngày càng đi xuống, gia đình càng ngày ly tán từ những chỗ ly hôn vợ chồng bỏ nhau, những cuộc phá thai, coi như gia đình rất là xuống dốc nhất là ở Việt Nam, đó là cái kinh nghiệm mà tôi có thể về và truyền lại cho con cháu và tất cả mọi người trong giáo xứ.”

Với đại hội lần thứ 8 này, ngoài điểm chính là về gia đình và hôn nhân, đại hội cũng nhằm để mọi người có thể mở rộng trái tim đón nhận nhau, nâng đỡ nhau, đồng hành với nhau trong tình yêu thiên chuá dành cho mỗi người, mỗi gia đình và gia đình nhân loại.

Đại hội gia đình thế giới đã được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1994, và cứ 3 năm tiếp theo đại hội đã dừng chân đến nhiều nơi trên thế giới như Rio De Janeiro, Manila, Valencia, Mexico City và Milano. Và đây là năm thứ 8 cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại Hoa Kỳ. Sự ra đời của Đại hội Gia Đình Thế giới này, Giáo Hội Công Giáo không chỉ muốn là sự kiện long trọng của toàn thể cộng đồng Tín hữu khắp năm châu mà còn mong đây sẽ là một diễn đàn mở cho những nhà hoạt động xã hội thiện chí đang ngày đêm tích cực cổ động mọi người quan tâm và yêu thương đến nhau nhiều hơn, giảm bớt bạo lực, kêu gọi hòa bình ngay từ trong mỗi gia đình.

Chân Như tường trình từ Philadelphia.

Muốn bắt ai thì bắt?

Muốn bắt ai thì bắt?

Gia Minh, biên tập viên RFA, Bangkok
2015-09-23

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng phát biểu khai mạc kỳ họp mùa hè của Quốc hội tại Hà Nội, tháng 5, năm 2015.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng (ảnh minh hoạ) Vào ngày 14/9 ông phát biểu tại phiên thảo luận về Bộ luật hình sự (sửa đổi) của Ủy ban Thường vụ Quốc hội là: “không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung, muốn bắt ai thì bắt”.

AFP

Một số nhà hoạt động và cựu tù chính trị tại Việt Nam bị cơ quan an ninh và công an bắt giữ với cớ để điều tra.

Trường hợp của họ ra sao?

Trường hợp gần nhất và lâu nhất

Vụ việc bắt giữ gần nhất là đối với cựu tù nhân chính trị, cựu trung tá Trần Anh Kim, xảy ra vào sáng ngày 21 tháng 9 vừa qua. Bà Nguyễn Thị Thơm, vợ ông này cho biết cơ quan chức năng đến nơi làm việc rồi đưa bà ra trụ sở Công an Thành phố Thái Bình. Bà bị giữ tại đó từ khi bị đưa đi vào buổi sáng cho đến khoảng 4:30 chiều mới được đưa về nhà. Theo bà khi về đến nhà bà mới được giao lệnh nói chồng bà bị bắt đi vì trong máy tính của ông ta có ‘tuyên bố’ gì đó.

Sau hơn 24 tiếng đồng hồ, bà vợ cựu tù chính trị Trần Anh Kim, ra Sở Công an Thành phố Thái Bình để hỏi thăm về người chồng bị bắt đưa đi. Sau hơn 48 tiếng đồng hồ, bà này cho biết:

“ Chiều hôm qua lúc 4 giờ tôi ra Công an Thái Bình hỏi; đến chỗ cổng nói với người trực cho tôi gặp Phòng Điều tra An ninh. Họ bảo có chuyện gì, tôi nói hôm qua họ bắt ông Kim và nay giam ở đâu cho tôi biết để đi thăm nuôi. Chú trực cổng gọi lên phòng Điều tra An ninh và tôi được phó phòng trả lời đang giam ông Kim ở Trại Tạm giữ- Tạm giam ở Thái Bình. Đó là trại lần đầu ông Kim bị bắt cũng giam ở đó. Tôi đến Trại Tạm giam thì họ nói về đi, thứ năm đi tiếp tế. Có thông tin gì thì vài ba ngày nữa sẽ báo cho tôi. Tôi muốn gặp cán bộ để hỏi nhưng không có ai, còn nhân viên thì họ không dám trả lời. Còn từ hôm qua đến nay tôi chưa được họ báo gì về thông tin ông Kim cả.”

Một người bị bắt giam hơn một năm nay là ông Nguyễn Hữu Vinh, người chủ xướng trang blog Anh Ba Sàm. Ông này cùng người cộng sự Nguyễn thị Minh Thúy vào ngày 5 tháng 5 năm 2014.

Luật sư Hà Huy Sơn, người tham gia bào chữa trong vụ việc Anh Ba Sàm Nguyễn Hữu Vinh vào sáng ngày 23 tháng 9 cho biết:

Tôi hiện là người bào chữa (ông Nguyễn Hữu Vinh bị bắt giam hơn một năm nay) nhưng chưa được thông báo vụ án đang do cơ quan nào giải quyết cả

Luật sư Hà Huy Sơn

“ Văn bản mới nhất mà tôi nhận được là ngày 17 tháng 8; đó là kết luận điều tra bổ sung. Và từ đó cho đến nay tôi chưa nhận được thông báo của cơ quan nào cả; nên hôm nay tôi đang làm văn bản yêu cầu các cơ quan trả lời.

Tôi hiện là người bào chữa nhưng chưa được thông báo vụ án đang do cơ quan nào giải quyết cả.”

Ngoài những trường hợp vừa nêu, trong tháng 9 này có hai người bị bắt đi đến nay vẫn chưa được thả và thông tin về họ cũng rất ít, chỉ được một số nhà hoạt động quan tâm đưa lên mạng. Đó là trường hợp của ông Lê Vũ Đài và Nguyễn Hữu An. Cả hai bị bắt từ ngày 2 tháng 9 vừa qua.

Mực sư Nguyễn Trung Tôn, người biết về ông Lê Vũ Đài cho biết một số thông tin về ông này như sau:

“ Anh Lê Vũ Đài là người Tiền Hải, Thái Bình, sinh năm 1989. Trước đây anh cùng bà con Tiền Hải, Thái Bình đi khiếu kiện nhiều nơi. Trong tay anh có một số bằng chứng về việc cán bộ tham nhũng rồi này kia… Trong một giai đoạn anh tham gia khiếu kiện đông người, nhưng sau này do áp lực nào đó anh đi vào Thanh Hóa theo một công ty giấy và làm kỹ thuật.”

Từ ‘gây rối trật tự’ đến ‘chính trị’

Một trường hợp khác bị bắt từ ngày 12 tháng 4 năm nay ở Hà Nội khi tham gia tuần hành kêu gọi bảo vệ cây xanh ở thủ đô; đó là anh Nguyễn Viết Dũng.

Gia đình anh này cho biết mãi 20 ngày sau khi bắt giam, cơ quan chức năng mới thông báo cho gia đình biết việc bắt giữ anh này để điều tra. Ông Nguyễn Viết Hùng, cha của anh Nguyễn Viết Dũng, vào trưa ngày 23 tháng 9, từ nhà riêng ở Xóm Trần Phú, xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, cho biết:

“ Gia hạn thêm 2 tháng điều tra vì theo thông tin thì họ không điều tra được gì nên tự gia hạn thêm 2 tháng. Gia đình cũng chỉ biết thế qua luật sư Trần Thu Nam chứ ngoài ra có được biết gì đâu.

Nói tóm lại từ khi bị bắt đến nay là hơn 5 tháng rồi. Khi được 3 tháng thì họ nói với bên luật sư gia hạn thêm hai tháng. Từ hôm đến giờ, tôi đi thăm cháu được 4 lần, nhưng chỉ gửi quà thôi chứ không được gặp mặt. Gửi quà qua quản giáo của công an quận.”

Luật sư Trần Thu Nam, người tham gia bào chữa cho anh Nguyễn Viết Dũng, cũng chia sẽ một số thông tin về anh này sau vài lần tiếp xúc với anh trong tù:

Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được.

chủ tịch quốc hội Nguyễn Sinh Hùng

“ Sức khỏe thì tốt thôi, không sao cả. Dũng mắt kém, bị cận mà ăn uống trong trại giam không như bên ngoài, nên sức khỏe không được tốt bằng ở ngoài. Thiếu chất nên mắt kém đi, tay chân không được linh hoạt nữa. Theo tin mới nhất từ luật sư Lê Văn Luân, cũng bào chữa trong vụ án này, mới trong buổi sáng ngày hôm nay thì có trao đổi sức khỏe của Dũng bình thường, có lên cân; nhưng do mất vệ sinh nên bị ghẻ ngoài da một chút, bệnh ngoài da.

Đó là về sức khỏe, còn về nội dung thì anh có khai tham gia đi dự buổi tuần hành cây xanh cùng các bạn trẻ khác, và anh có cầm những cái áo in hình logo của Quân lực Việt Nam Cộng hòa ngày xưa. Đó là sự ngưỡng mộ của anh ta, và là ý kiến cá nhân.”

Bị kết án theo những điều luật mơ hồ

Ông Nguyễn Viết Hùng cho biết con ông khi bị bắt đang mặc áo quần theo quân phục trước đây của một binh chủng Việt Nam Cộng Hòa. Ông cho rằng việc làm đó không có gì sai trái vì đó là sở thích cá nhân. Cũng như trước đây con trai ông là Nguyễn Viết Dũng từng một lần treo cờ vàng ba sọc đỏ trên nhà. Lần đó cơ quan chức năng xã đã đến bắt gỡ cờ xuống và đưa anh Nguyễn Viết Dũng lên trụ sở. Tại đó Nguyễn Viết Dũng tranh luận với các bộ xã và họ phải để Dũng về.

Trường hợp của những người bị giam giữ lâu như blogger Anh Basam Nguyễn Hữu Vinh hay của những người mới bị bắt gần đây đều được nhiều người biết rõ việc làm của họ cho là không có gì vi phạm Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Tuy nhiên, cũng như một số người từng bị bắt trước đây thì cuối cùng cơ quan chức năng cũng qui họ vào những điều của Bộ luật Hình sự như điều 88- tuyên truyền chống nhà nước, hay 258- Lợi dụng quyền tự do, dân chủ xâm phạm quyền và lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích của cá nhân, tập thể, hoặc nặng hơn là điều 79- âm mưu hay có hoạt động lật đổ chính quyền.

Những điều luật này lâu nay bị lên án là mơ hồ và được yêu cầu phải sửa đổi. Chính chủ tịch quốc hội Việt Nam, ông Nguyễn Sinh Hùng được truyền thông trong nước trích dẫn phát biểu tại phiên thảo luận về Bộ luật hình sự sửa đổi rằng ‘“Tôi nói thật là ta phát biểu nhiều khi cũng vi phạm, bắt cũng được đấy. Nói như vậy để thấy là không thể để một cái tội chống nhà nước quy định chung chung như vậy, muốn bắt ai thì bắt, đâu có được”.

Sadie Ngô và tấm lòng nhân ái của cô bé 11 tuổi

Sadie Ngô và tấm lòng nhân ái của cô bé 11 tuổi
Nguoi-viet.com

Nhất Anh/ Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Dù chỉ mới 11 tuổi, Sadie Ngô đã làm được một việc mà có lẽ chỉ có người lớn mới làm được. Đó là tự gây quỹ giúp người bệnh nan y.

Trong tâm trí của mọi người, có lẽ tuổi 11 là lưng chừng giữa cái “loi choi, ngây thơ” của con nít và cái “muốn làm người lớn” với nhiều trò tinh nghịch hồn nhiên. Tuổi 11 của các em thường chỉ xoay quanh chuyện ăn, chuyện học, chuyện ngủ, và chuyện chơi. Nhưng đối với cô bé Sadie Ngô, em như được tô thêm điểm sáng của lòng nhân ái và suy nghĩ quên đi bản thân mình vì người khác.

 
Sadie Ngô từ bỏ chuyến đi dã ngoại đến Washington, DC, của mình để làm một việc cao cả hơn giúp đỡ người khác. (Hình: Gia đình cung cấp)

Buổi sáng Thứ Hai, 21 Tháng Chín, tại trường St. Barbara Catholic, Santa Ana, các em học sinh bất ngờ được tập trung ở hội trường thể dục cho một sự kiện đặc biệt.

Sau một lúc chờ đợi, bà Judith Bloom, hiệu trưởng của trường, mời các em đứng lên chào đón hai vị khách đặc biệt từ học viện St. Catherine’s Academy dành cho nam sinh là Đại Tá Barry Bizzell và Đại Úy Angel Ramos.

“Tôi nhận được email từ người chị của mình về câu chuyện cảm động của một em học sinh sẵn sàng bỏ qua lợi ích, niềm vui của mình mà quan tâm đến người khác. Câu chuyện này làm nhiều người cảm động,” Đại Úy Angel Ramos phát biểu. “Và hôm nay, tôi rất tự hào khi được đến nay trao bằng danh dự cho học sinh đó, em Sadie Ngô, vì những gì em làm và truyền cảm hứng cho tất cả mọi người.”

Sadie Ngô không giấu nổi sự ngạc nhiên và niềm sung sướng khi tên mình được xướng lên. Và càng hạnh phúc hơn nữa khi một bên góc hội trường, cả gia đình của em cũng có mặt chia sẻ niềm vui này.

 
Em Sadie Ngô (thứ hai từ trái) chụp hình với các quân nhân Hoa Kỳ. (Hình: Gia đình cung cấp)

Câu chuyện của Sadie Ngô bắt đầu từ dự định gây quỹ cho chuyến đi dã ngoại đến Washington, DC, để học và tìm hiểu thêm về nước Mỹ. Khi bắt đầu thực hiện, Sadie tình cờ nghe câu chuyện của anh Devin Wilhelm, người bạn thân của chị gái mình.

Devin Wilhelm bị tai nạn giao thông bốn năm trước. Trong lúc chữa trị, các bác sĩ phát hiện Devin có một khối u ác tính ở não và cần phải cắt bỏ. Sau một thời gian điều trị, khối u ác tính tiếp tục xuất hiện và tình hình càng trở nên nghiêm trọng hơn. Tuy nhiên, căn bệnh ung thư não không làm anh bỏ cuộc. Anh chưa bao giờ từ bỏ niềm hy vọng và luôn lạc quan, tin tưởng vào ngày mai tốt đẹp. Bên cạnh Devin luôn có sự cổ vũ của gia đình, người thân và bạn bè, đặc biệt là người vợ Shay và đứa con gái Mikayla bé nhỏ.

Và trong số đó có cả Sadie. Câu chuyện của Devin đã thôi thúc Sadie phải làm một cái gì đó, không chỉ cho anh mà còn cho những bệnh nhân khác đang dối diện với căn bệnh ung thư não.

“Người ta cần sự giúp đỡ, và em muốn giúp đỡ họ,” Sadie cho biết.

Thay vì dùng số tiền gây quỹ có được để đi một chuyến về thủ đô Hoa Kỳ, Sadie quyết định quyên góp số tiền mình có được và bắt đầu cuộc gây quỹ khác giúp đỡ cho những bệnh nhân mắc bệnh ung thư não.

“100% số tiền em gây quỹ được gửi cho Hội Ung Bướu Quốc Gia (National Tumor Society) với mong muốn một ngày nào đó sẽ có thuốc trị căn bệnh ung thư não,” Sadie chia sẻ.

 
Sadie Ngô bên chiếc hộp chứa các con rùa mình làm. (Hình: Nhất Anh/Người Việt)

Sadie gây quỹ bằng cách tự mày mò làm ra các con rùa bằng len nhung nhỏ nhỏ xinh xinh với đủ màu sắc khác nhau. Em đặt tên chung cho những con rùa của mình là Kevin.

“Em chọn làm con rùa vì theo người thổ dân Mỹ, con rùa là tượng trưng cho sự khoẻ mạnh và tinh thần thông thái. Kevin chính là người bạn và là người đồng hành cùng mọi người trong mọi hoàn cảnh cuộc sống, đặc biệt là với những người đang phải đấu tranh với bệnh tật,” Sadie giải thích.

Với một cô bé học sinh 11 tuổi, chuyện từ bỏ ước muốn của mình đến Washington,DC, để thực hiện một ước mơ khác cao cả hơn cho những người kém may mắn hơn mình là điều có lẽ không phải ai ở độ tuổi em có thể nghĩ tới và làm được. Có rất nhiều cách để giúp ích cho cộng đồng, nhưng với Sadie, điều đáng quý ở em chính là em biết nghĩ đến người khác.

“Sadie là nữ học sinh đầu tiên được vinh danh ở St. Catherine Academy với danh hiệu ‘Unsung Hero.’ Em không chỉ là tấm gương cho các bạn cùng lứa mà còn là nguồn cảm hứng cho người lớn chúng tôi. Tôi ngưỡng mộ em và tôi chắc rằng mọi người đều như thế,” Đại Tá Barry Bazzel cho biết.

“Tinh thần của em là tinh thần của một người lính xả thân vì người khác,” Đại Úy Angel Ramos nói. “Tôi mong rằng những đứa con của tôi cũng sẽ có tinh thần như Sadie.”

 
Các con rùa Sadie Ngô làm , được mọi người đem về nuôi.(Hình: gia đình cung cấp).

Ngoài ra, Sadie còn nhận được dây chuyền danh dự của trường St. Barbara Catholic, do bà hiệu trưởng trao tặng.

“Tôi hy vọng sau khi các em thấy được việc Sadie làm, các em cũng sẽ có cho riêng mình một bài học về niềm sẻ chia và thương yêu với mọi người,” bà Bloom phát biểu với các em trong hội trường.

Những điều Sadie làm không chỉ là niềm vui của trường mà còn là niềm tự hào của gia đình em. Ngồi một bên góc hội trường, cả gia đình Sadie ai nấy đều cảm thấy hạnh phúc và vui sướng vì em. Đây cũng là dịp để gia đình em quây quần bên nhau, cùng chia sẻ niềm vui với em.

“Là một người mẹ, tôi luôn ủng hộ con cái của mình. Những gì Sadie làm là điều tốt cho cộng đồng và tôi ủng hộ hết mình,” bà Tiffany Nguyễn, mẹ của Sadie, chia sẻ.

Trong cuộc song bề bộn, đôi khi chúng ta vô tình quên mất đi những thứ xung quanh mình cần được quan tâm và chia sẻ. Câu chuyện của Sadie đem lại một thông điệp giúp chúng ta nhận ra rằng hạnh phúc đâu đó chính là sự chia sẻ và quan tâm, và đôi khi một việc làm nhỏ có thể tạo ảnh hưởng lớn.

“Em hy vọng các con rùa có mặt ở mọi nơi và đồng hành với mọi người. Nuôi rùa cũng giống như nuôi một hy vọng về một ngày mai tốt hơn, không còn bệnh tật và đau thương,” Sadie mỉm cười cho biết.

Diễn văn của Đức Phanxicô với các sinh viên trẻ tại Trung Tâm Văn Hóa Félix Varela, Havana

Diễn văn của Đức Phanxicô với các sinh viên trẻ tại Trung Tâm Văn Hóa Félix Varela, Havana
Vũ Van An

Các bạn thân mến,

Tôi rất vui được hiện diện với các bạn tại đây ở Trung Tâm Văn Hóa này, nơi quan trọng xiết bao đối với lịch sử Cuba. Tôi tạ ơn Thiên Chúa vì dịp may này, được gặp mặt rất nhiều bạn trẻ, những người, qua việc làm, việc học hành và huấn luyện của họ, đang mơ về và đang thực sự tạo ra tương lai cho Cuba.

Tôi cám ơn Leonardo vì những lời chào mừng của bạn, và nhất là vì, dù nói tới biết bao nhiêu điều quan trọng và cụ thể như các khó khăn, các mối lo sợ, các niềm hoài nghi của chúng ta, có tính vừa thực chất vừa nhân bản, bạn vẫn đề cập với ta về hy vọng. Bạn ấy đã nói với chúng ta về các giấc mơ và khát vọng từng bén rễ vững chắc trong tâm hồn người trẻ Cuba, vượt lên trên các dị biệt của họ về giáo dục, văn hóa, niềm tin và ý nghĩ. Leonardo thân mến, xin cám ơn bạn, vì khi tôi nhìn tất cả các bạn, điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí tôi cũng là chữ “hy vọng”. Tôi không thể tưởng tượng được việc một người trẻ lại không có sức sống, không có giấc mơ hay lý tưởng, không khát mong một điều gì đó vĩ đại hơn.

Nhưng ở giờ phút lịch sử này, một người trẻ Cuba nên có loại hy vọng nào? Không có gì hơn hay kém niềm hy vọng của bất cứ người trẻ nào tại bất cứ nơi nào trên thế giới. Vì hy vọng nói với ta về một điều gì đó bén rễ sâu trong mọi trái tim con người, độc lập với các hoàn cảnh cụ thể và điều kiện lịch sử của ta. Hy vọng nói với chúng ta về nỗi khát mong, niềm hoài bão, lòng mong mỏi có được một cuộc đời thành toàn, niềm khát vọng hoàn thành những điều cao cả, những điều làm tâm hồn ta ngập tràn và nâng tinh thần ta lên những thực tại cao thượng như chân, thiện, mỹ, công lý và tình yêu. Nhưng nó cũng bao gồm việc chấp nhận rủi ro. Nghĩa là sẵn sàng không để mình bị quyến rũ bởi những lời hứa hẹn hạnh phúc mau qua, giả dối, lạc thú tức khắc và vị kỷ, bởi cuộc sống tầm thường và tự lấy mình làm trung tâm, một cuộc sống chỉ có thể đổ đầy lòng ta bằng buồn bã và đắng đót. Không, hy vọng phải mạnh dạn; nó phải biết nhìn quá bên kia tiện ích bản thân, những an toàn và bù đắp nhỏ mọn chỉ giới hạn chân trời ta; nó phải mở lòng ta cho những lý tưởng lớn lao giúp làm cho đời ta nên tươi đẹp và đáng sống hơn. Tôi muốn hỏi mỗi người trong các bạn: Điều gì lên khuôn đời các bạn? Điều gì đang nằm sâu trong trái tim các bạn? Các hy vọng và khát vọng của các bạn đặt ở đâu? Các bạn có sẵn sàng đặt mình lên tuyến phục vụ một điều gì đó lớn lao hơn không?

Có lẽ các bạn sẽ thưa: “có, thưa cha, con được các lý tưởng đó lôi cuốn mạnh mẽ. Con cảm nhận được lời mời gọi của chúng, vẻ đẹp của chúng, ánh sáng rạng rỡ của chúng trong trái tim con. Nhưng con thấy mình yếu đuối quá, con chưa sẵn sàng quyết định đi theo con đường hy vọng. Mục tiêu thì cao cả đấy nhưng sức con thì yếu quá đi. Tốt nhất là bằng lòng với những điều nhỏ mọn, không cao cả gì nhưng thực tiễn hơn, trong vòng với hơn”. Tôi có thể hiểu được phản ứng này; cảm thấy bị trĩu nặng bởi khó khăn và các điều quá đòi hỏi là chuyện thông thường thôi. Nhưng các bạn hãy ý tứ đừng để mình bị cám dỗ mà nhụt chí là thứ làm tê liệt lý trí và ý chí ta, hay lãnh cảm là hình thức bi quan triệt để trước tương lai. Các thái độ này kết thúc ở chỗ một là trốn chạy khỏi thực tế mà sa vào ảo tưởng vô ích, hai là ích kỷ tự cô lập hóa và hoài nghi bịt tai trước tiếng kêu than đòi công lý, sự thật và tình người đang nổi lên giữa ta và trong chính ta.

Nhưng ta phải làm gì? Làm thế nào tìm thấy các nẻo đường hy vọng ngay trong các hoàn cảnh ta đang sống? Làm thế nào biến các niềm hy vọng thành toàn, chân thực, công lý và chân lý trở thành một thực tại trong cuộc sống bản thân của ta, trong đất nước ta và trong thế giới ta? Tôi nghĩ: có ba ý tưởng có thể giúp duy trì niềm hy vọng của ta luôn sống động:

Hy vọng là một con đường gồm cả ký ức lẫn biện phân. Hy vọng là nhân đức để đi khắp nơi. Nó không đơn thuần là nẻo đường ta theo vì thích nó, nhưng nó có một cùng đích, một mục tiêu rất thực tế và soi dẫn đường ta đi. Hy vọng cũng được nuôi dưỡng bằng ký ức; nó không chỉ nhìn tương lai mà còn nhìn cả dĩ vãng và hiện tại nữa. Để luôn tiến tới trong đời, ngoài việc biết mình muốn đi đâu, ta cũng cần biết ta là ai và ta từ đâu đến. Các cá nhân hay các dân tộc nào không có ký ức và xóa bỏ dĩ vãng của mình đều liều mình đánh mất bản sắc và tiêu diệt tương lai của mình. Thành thử ta cần nhớ ta là ai, và di sản thiêng liêng và luân lý của ta bao gồm những gì. Tôi tin rằng điều này chính là kinh nghiệm và cái nhìn thông sáng của Cha Félix Varela, người Cuba vĩ đại. Biện phân cũng cần thiết, vì điều chủ yếu là cởi mở đối với thực tại và biết giải thích thực tại này mà không sợ thiên kiến. Các giải thích phiến diện và có tính ý thức hệ là điều vô ích; chúng chỉ làm méo mó thực tại bằng cách cố gắng nhét nó vào những khuôn khổ tiên kiến, chỉ tổ gây thất vọng và tuyệt vọng. Ta cần biện phân và ký ức, vì biện phân không mù quáng; nó được xây dựng trên các tiêu chuẩn đạo đức và luân lý vững chắc, giúp ta nhìn thấy điều thiện và điều chính đáng.

Hy vọng là con đường ta cùng người khác tiếp nhận. Một tục ngữ Phi Châu nói rằng: “Muốn đi nhanh, thì đi một mình; muốn đi xa, thì đi với người khác”. Cô lập và sống xa cách không bao giờ phát sinh được hy vọng; nhưng gần gũi và gặp gỡ người khác thì có. Để một mình, ta sẽ không đi tới đâu cả. Mà với loại trừ, ta cũng không thể xây dựng tương lai cho ai được, cho cả ta cũng không. Đường hy vọng đòi phải có nền văn hóa gặp gỡ, đối thoại, một nền văn hóa vốn có khả năng thắng vượt tranh chấp và kình chống khô cằn. Muốn tạo ra nền văn hóa này, điều sinh tử là coi các phương thức suy nghĩ khác nhau không hẳn là nguy cơ mà là phong phú và phát triển. Thế giới cần nền văn hóa gặp gỡ này. Nó cần những người trẻ biết tìm cách biết nhau và yêu nhau, cùng nhau đồng hành trong việc xây dựng xứ sở, một cuộc hành trình mà José Martí từng mơ ước: “với mọi người, và vì lợi ích mọi người”.

Hy vọng là con đường liên đới. Nền văn hóa gặp gỡ tự nhiên sẽ dẫn ta tới nền văn hóa liên đới. Tôi rất thán phục trước điều Leonardo nói lúc đầu, khi bạn ấy đề cập tới tình liên đới, coi nó như nguồn tạo sức mạnh để lướt thắng mọi trở ngại. Không có liên đới, không nước nào có tương lai cả. Vượt lên trên các tính toán và tư lợi khác, ta không những phải quan tâm tới những người có thể là bằng hữu ta, người đồng hành với ta, mà cả những ai suy nghĩ khác với ta, những ai có ý nghĩ riêng nhưng không kém nhân bản và có tính Cuba như ta. Khoan dung không thôi chưa đủ; ta còn phải đi xa hơn thế, từ thái độ nghi ngờ và phòng ngự phải tiến qua thái độ chấp nhận, hợp tác, phục vụ cụ thể và giúp đỡ hữu hiệu. Đừng sợ liên đới, phục vụ và giúp một tay, để không ai bị loại trừ khỏi con đường này.

Con đường sống trên đươc soi sáng bởi một niềm hy vọng cao hơn: đó là niềm hy vọng phát sinh từ đức tin vào Chúa Kitô. Ngưòi tự làm Người trở thành người đồng hành với ta. Không những Người khuyến khích ta, Người còn đồng hành với ta nữa; Người ở bên cạnh ta và giơ bàn tay thân hữu của Người cho ta. Là Con Thiên Chúa, Người muốn trở thành một người như ta, đồng hành với ta trên đường. Niềm tin vào sự hiện diện của Người, vào tình bạn và tình yêu của Người làm sáng lên mọi hy vọng và mọi giấc mơ của ta. Với người cạnh bên, ta học được cách biện phân điều có thực, gặp gỡ và phục vụ người khác, và bước theo con đường liên đới.

Các bạn trẻ Cuba thân mến, nếu chính Thiên Chúa đã bước vào lịch sử ta và trở thành nhục thể nơi Chúa Giêsu, nếu Người đỡ lấy các yếu đuối và tội lỗi của ta, thì các bạn không nên sợ hy vọng, hay tương lai, vì Thiên Chúa ở cạnh bên ta. Người tin tưởng các bạn và Người hy vọng nơi các bạn.

Các bạn thân mến, tôi xin cám ơn các bạn vì cuộc gặp gỡ này. Xin niềm hy vọng nơi Chúa Kitô, người bạn của các bạn, luôn hướng dẫn các bạn trên đường đời của các bạn. Và xin các bạn nhớ cầu nguyện cho tôi. Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả các bạn.